Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
(Phần 1) Ngoảnh Lại Hóa Tro Tàn

Tân Di Ổ

Ngoảnh lại hóa tro tàn (Phần 1)

Lê Sông dịch

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

Chương 1

Bí mật đảo Qua Âm

Đảo Qua Âm trong ấn tượng của Phương Đăng giống

như một miếng gấm Tô Hàng cũ kỹ, đẹp đấy, nhưng bị

bao phủ bởi một lớp bụi thời gian. Bạn cảm thấy thứ

ấy chắc rất tuyệt vời, nhưng lại không chịu để tâm

xem kỹ. Có lẽ miếng gấm đã bị ướt, bốc mùi khó

chịu, nhưng dẫu sao vẫn là thứ mùi mốc man mát là

lạ mà không phải ở đâu cũng có. Một tuần trước

Phương Đăng chỉ dám nghĩ về đảo Qua Âm trong đầu

như vậy. Nó sinh ra ở khu vực phía Nam tỉnh lị,

1

mười lăm năm sống trên đời chưa từng đặt chân tới

hòn đảo ấy, nơi mà cha ông nó đã từng vật lộn với

cuộc mưu sinh. Cũng giống như gấm Tô Châu, con bé

chỉ được biết qua những miêu tả của cô Chu Nhan

mỗi khi thần trí minh mẫn.

Tám tháng trước, cô khuất núi, chỉ còn lại hai bố

con Phương Đăng. Bởi nợ nần, bị đám chủ nợ truy

đuổi gắt gao quá, cha nó cùng đường bí lối, đành

mang theo con gái trở về nơi đây. Về chuyện món nợ

là của ai, của cô hay của cha, Phương Đăng không

biết và cũng không hỏi. Con bé đã quen với việc

chuyển từ căn nhà mái bằng này tới gian phòng lợp

gỗ tạm khác. Lần này, chỉ duy một điều khác lạ,

rằng đây là đảo Qua Âm, một chốn nó hoàn toàn lạ

lẫm nhưng lại đọc ra được tên của biết bao ngõ hẻm.

2

Đâm đầu tới một vùng đất mới, lại không phải “ra

đi”, mà là “trở lại”. Phương Đăng phát hiện, mình

không hề ghét cảm giác kỳ thú này.

Trước lúc chuyển tới, Phương Đăng vừa hoàn thành

xong học kỳ một lớp Mười. Bởi cha Phương Đăng ngại

thủ tục chuyển trường lằng nhằng, ông định không

cho con bé đi học nữa. Dù vẫn có thể miễn cưỡng chi

trả được khoản tiền học phí khiêm tốn, nhưng ông

thấy có học thêm chữ nghĩa cũng vô dụng, thà để

chút tiền ấy mua rượu cho xong. Phương Đăng cũng

chẳng tranh biện gì. Cho dù xét về thời gian, sức

lực bỏ ra trước đó, cộng thêm thành tích học tập

không xoàng, nó cũng chưa từng nghĩ phải học hành

chăm chỉ để mai sau trở thành ông nọ bà kia. Cuối

cùng may nhờ tổ dân phố và trường trung học cử

3

người đến với những lý do nào là “Đất nước có chủ

trương động viên các em gái học lên cao”, “Dù sao

cũng học được nửa kỳ rồi, phải giành lấy tấm bằng

tốt nghiệp mới khỏi phí”… hết lời khuyên nhủ, cha

nó mới gật đầu. Chỉ khi rượu vào hay trước mặt con

gái mới thấy người đàn ông này lộ vẻ ngang tàng,

còn với đa số mọi người, ông ta chỉ vâng vâng dạ

dạ. Đặc biệt đã dính dáng đến “Nhà nước” hay “Quốc

gia”, ông quyết không dám thốt nửa câu từ chối.

Phương Đăng trông bố mình khom lưng tiễn những

người kia đi, chỉ thấy ngộ nghĩnh làm sao. Chiều

hôm ấy nó đội mưa đến trường làm một lèo xong xuôi

thủ tục nhập học.

Đảo Qua Âm chỉ có một trường trung học, bao gồm cả

cấp Hai lẫn cấp Ba. Quá nửa số học sinh theo học

4

trường là con em dân trên đảo, thầy trò tất cả cộng

lại không quá ba trăm con người. Tiền thân của

ngôi trường này là trụ sở giáo hội, sau giải thể

trở thành trường học. Đến nay vẫn còn vài “chị em”

già cả phục vụ trong căng tin hay thư viện của

trường. Những người già ấy như các tiêu bản sống,

cùng với loạt kiến trúc đổ nát đây đó chính là

lời tuyên ngôn ngầm về quá khứ của hòn đảo nhỏ.

Nửa thế kỷ trước, Qua Âm chỉ là một trong những

hòn đảo vô danh bên rìa thành phố, vì trên đảo

trồng nhiều dưa mà lấy tên Qua Âm. Người thời ấy

gần biển mưu sinh nhờ biển, đa phần làm ngư nghiệp.

Gặp lúc chiến loạn, kiếm sống khó khăn, nơi đây

lại là cửa biển, không biết bao người sa vào cảnh

“Trư tử”, bị nửa lừa nửa bán sang nước lạ lao

5

dịch. Một bộ phận nhỏ khác không chịu nổi cảnh khốn

cùng, dong buồm vượt biển tới trời Nam. Những kẻ

phiêu dạt ấy nhiều người lưu vong đất khách, tiệt

đường trở về, nhưng không ít người liều mạng

thoát chết, phát tài to. Người ở đây tinh khôn,

chịu khó, lại nặng tình với quê cũ, cho dù ra ngoài

làm ăn ghê gớm đến mấy, đều mong lúc già lá rụng

về cội. Bởi thế các vị tai to mặt lớn khi đã vinh

quy bái tổ, thường tu bổ xây mới các công trình

công cộng to đẹp, vừa tạo điều kiện cho cư dân ở

quê nhà an cư lạc nghiệp, vừa dọn sẵn nơi khi tuổi

già về an dưỡng. Bạc tây trắng lóa cứ thế ùn ùn đổ

về hòn đảo trồng dưa nghèo nàn. Dần dà, những

ruộng dưa bị thay thế bởi tường trắng ngói đỏ,

những con đường mòn dọc ngang qua ruộng được lát đá

6

xanh, quanh co dẫn về tô điểm cho nhà cao cửa rộng

giữa rừng cây hoa lá muôn tía ngàn hồng. Từ lúc

ấy, đảo Qua Âm bắt đầu nức tiếng với kiều bào,

những người có tiền trong thành phố cũng thích thú

với phong cảnh nơi đây mà tới xây biệt thự. Chớp

mắt hòn đảo nhỏ thành nơi tập trung đám quý tộc,

thương gia giàu có, tiếng ca múa phồn hoa ngày ngày

làm bạn với gió biển mờ sương…

Dù sao, đây chỉ là chuyện của rất lâu rất lâu về

trước. Trải qua trăm năm có lẻ, vật đổi sao dời,

đầu tiên là quân Nhật giày xéo thời kháng chiến,

sau đến biến loạn “Cách mạng Văn hóa”, con cháu

những phú gia xưa kia hầu hết đã lưu vong hải

ngoại, lác đác vài người còn trụ lại thì quá nửa

đã thất thế. Những ngôi biệt thự kiểu tây xa hoa kỳ

7

vĩ dần rơi vào cảnh hoang phế… Quá trình công

nghiệp hóa sau giải phóng mang đến cho hòn đảo một

lượng lớn cư dân mới, chính thế hệ cha Phương Đăng

đã di cư tới vào thời điểm này. Họ lấy cái danh

giai cấp làm chủ mới của chế độ xã hội chủ nghĩa để

bước vào những đình đài lầu tạ mà người bình

thường chỉ dám ước mơ. Nào vườn hoa, hành lang uốn

khúc, tiểu lầu, đại viện… bị cắt thành vô số các

gian phòng chật hẹp. Giữa cây bạch ngọc lan phảng

phất hương và gốc đa cổ thụ um tùm thấy phất phơ

cái váy ngủ đem phơi. Nét phồn hoa tinh tế vừa mơ

hồ vừa xa vắng bị cái ồn ào thô tục đè bẹp, chỉ còn

chiếc đèn đường bằng đồng vẫn hay bị thửa mất phụ

kiện với mấy viên đá đại lý ngả màu loang lổ có tay

cầm chạm hoa là còn khăng khăng kể câu chuyện quá

8

vãng...

Phương Đăng nào giờ chẳng có duyên với cảnh xa hoa

lộng lẫy. Con bé cảm nhận được mỗi góc nhỏ trong

căn biệt thự bỏ hoang, mỗi khe nứt trên các viên đá

xanh tàn tạ đều như trào ra bầu không khí của

những tháng năm xưa cũ. Chúng cách biệt hẳn với

cuộc sống của nó, dù thật khó nói rõ điểm sai

khác nằm ở đâu. Tuy mới mười lăm tuổi, con bé cũng

lờ mờ hiểu rằng, cho dù cảnh hưng thịnh trên đảo

Qua Âm không thể tái diễn, nhưng những phồn hoa đã

tạ từ ấy chẳng khác nào một nền văn minh tàn lụi.

Chúng mang hơi thở mê hoặc khó tả, vượt xa cảnh

vật hoang tàn cằn cỗi trước mắt. Không những thế,

nơi này còn được trời cao ban ân, khắp đảo phủ rợp

bóng xanh, gió biển ẩm mát dội vào mang theo cái

9

hương quê ngọt ngào mà nó lẫn cha đều yêu đến sâu

nặng. Con bé chẳng hiểu sao ngày trước họ lại nỡ

lòng rời đi?

Đúng vào mùa mưa, hàng tuần nay trời đất

ngập trong tiếng rả rích không thôi. Trên

đường từ trường trở về, Phương Đăng bỗng

nghĩ, biết đâu ấn tượng về đảo Qua Âm luôn

mịt mờ âm u của mình không phải đến từ những

mảng hồi ức mà cô Chu Nhan vui miệng kể,

cũng không phải đến từ vẻ u sầu trên khuôn

mặt đờ đẫn của cô lúc thốt nhiên câm lặng.

Có lẽ, nơi này vốn dĩ đã là cái đất khó

trông rõ bầu trời, không mưa xuống thì sương

lên, cái buồn tự nhiên ngấm vào tận xương

tủy con người ta lúc nào không rõ.

10

Đến căn nhà giữa ngõ, Phương Đăng cụp ô lại,

bước vào một lối nhỏ vừa tối vừa hẹp.

Tiếng ông chủ trước cửa hàng tạp hóa vọng

ra cùng với mùi nước tiểu khai nồng cứ bảng

lảng không tan.

“Con bé nhà họ Phương, không mời ta sang uống

rượu với ‘Huyết Nùng’ à?”

Phương Đăng không đáp, vẩy vẩy cái ô cũ cho

róc nước, cứ thế bước lên tầng. Nơi trú chân

mới nhất của nó và cha nằm trong con ngõ

thuộc trung tâm hòn đảo. Nói một cách chính

xác, đó là căn nhà xây trộm, chen giữa giáo

đường Thiên chúa đã bỏ hoang và cô nhi viện

Thánh Ân cũ kỹ - hai tòa kiến trúc lụ khụ như

mấy chiếc răng lung lay trong miệng bà lão

11

tám mươi. Dưới tầng là cửa tiệm tạp hóa duy

nhất trên đảo, ngay đối diện chính là Phó gia

viện lừng danh, khu biệt thự nằm ở vị trí

được xem là thắng địa trời cho. Ông chủ tiệm

tạp hóa dùng gạch đỏ, đắp nên căn nhà hai

tầng rưỡi xiêu xiêu vẹo vẹo, trên nóc lợp

ngói a-mi-ăng, tầng trệt để bán hàng và ở,

tầng trên ngăn thành vài cái “chuồng bồ câu”

đem cho thuê. Phương Đăng và cha ở căn gác xép

nhô ra trên tầng hai rưỡi. Mỗi lần mưa lớn,

dường như những viên ngói a-mi-ăng sát trên

đầu cũng muốn sụt sùi nhỏ lệ.

Phương Đăng bước vào căn gác hai gian ngăn bằng

mành vải. Quả đúng như nó dự liệu, ông

Phương Học Nông cha nó đang nằm gà gật trên

12

cái giường trúc ở mé cửa. Chiếc xô nhựa nhỏ

trước khi ra ngoài Phương Đăng để hứng nước

mưa giờ đã đầy tràn, nước từ mép xô tràn ra

liên tục, vậy mà ông Phương Học Nông vẫn say

giấc, chẳng hay biết gì.

Phương Đăng lẳng lặng xách xô ra cửa sổ,

mạnh tay hất xuống. Có lẽ vách cửa bị bắn

nước, có tiếng ông chủ tiệm tạp hóa chửi

ra. Đúng vào lúc ấy, Phương Đăng trông thấy

căn phòng nhỏ nhìn ra đường nằm trên gác hai

mé đông Phó gia viện lay động. Có lẽ người

trong phòng bị tiếng đổ nước ào ào của nó

làm kinh động, một bàn tay khẽ vén góc rèm

cửa sổ lên làm lộ ra một nửa gương mặt

người. Trước khi tấm rèm khép lại như cũ,

13

cái cửa chớp vốn đang mở đã nhẹ nhàng sập

xuống.

Đây là lần đầu kể từ khi chuyển tới Phương

Đăng trông thấy động tĩnh từ phía đối diện.

Vài ngày trước đến giờ, mấy tấm cửa chớp

ấy luôn luôn sập kín, bao bọc tấm màn nhung

màu đỏ tươi bên trong. Thế giới trong khung

cửa thần bí y như cơ ngơi từng cực thịnh nay

đã thành truyền thuyết, bị thời gian làm cho

hoang phế của nhà họ Phó. Chỉ cách nhau có

hai ba chục mét, nhưng nơi ấy so với căn nhà

hai tầng rưỡi như một trời một vực: Bên này sinh

động, huyên náo tiếng người, tràn trề không

khí mà tục thế nên có, ấy là cái không khí

đục ngầu, thô kệch, không khí tươi non của

14

sự sống.

Không sai, so với bên này, Phó gia viện phía

đối diện im ắng như đã chết. Nếu không có

trận mưa đánh vào gốc đa cao vút ngoài sân

thành tiếng ào ào, cơn gió vi vút phóng qua

những hành lang trống vắng, thi thoảng ngớt

mưa lại thêm tiếng cánh những con chim con vỗ

phải lá của cây kê huyết đằng chằng chịt

bám trên tường, thì cơ ngơi ấy y hệt chiếc

quan tài thạch anh khổng lồ đang bị thời gian

ngưng kết. Hoặc giả, nó giống như bức tranh

cổ ma mị trong câu chuyện liêu trai: Tịch

mịch, buốt giá, dường như không có gió sương

mưa tuyết nào mảy may xâm phạm nổi.

Đây mới chính là đảo Qua Âm mà cô Chu Nhan

15

đã kể. Những âm hồn co cụm, lánh thân nơi

phế tích các khu đình viện xa hoa trên đảo

này vốn chẳng có chút quan hệ gì với Phương

Đăng, với cha cô ông Phương Học Nông, với gia

đình lão bán tạp hóa tầng trệt hay đại đa

số dân đảo bây giờ. Nếu sau tấm rèm kia có

một người ngồi đó, thì chắc người ấy cũng

giống cô Chu Nhan, một người đàn bà đẹp đã quá

thì, da thịt cằn khô nhưng vẫn toát lên vẻ mê

hoặc khiến người ta say đắm. Người đàn bà

ấy ngồi trước đèn, phàm thế chỉ có thể

đứng từ xa nhìn lại, mơ hồ đoán ước ánh

hào quang quá vãng của bà.

Dù sao, đây đều là tưởng tượng của Phương

Đăng mà thôi, nếu chịu khó nghĩ thêm chút

16

nữa, nó sẽ phát hiện suy tưởng của mình

thật khiên cưỡng. Nhà họ Phó hiển hách một

thời, hiện nay dù không bì kịp năm xưa nhưng

chưa đến nỗi suy tàn. Số tiền để duy trì cô

nhi viện Thánh Ân thời điểm này một phần là

do họ quyên góp. Người nhà giàu ăn ở thế

nào, Phương Đăng làm sao nói rõ, chỉ biết

chắc không thể giống như lời bà cô Chu Nhan

nói, phải dựa vào nghề “đó đó” để kiếm

cái ăn. Cô và cha nó cùng một mẹ sinh ra, đời

trước đều xuất thân bần hàn, nào đã hưởng

sung sướng bao giờ. Những việc này Phương Đăng

có nhận định riêng, chỉ nghi hoặc một chút

rằng tại sao có người nói…

“Có đứng rầu rĩ thế rầu rĩ nữa, cái

17

phòng này cũng không tự dưng mọc hoa được

đâu.”Ông Phương Học Nông trở mình một cái,

khàn giọng lầu bầu làm mấy suy nghĩ vẩn vơ

của Phương Đăng bị đứt đoạn hết.

Phương Đăng lịch bịch xách xô nhựa đặt vào

chỗ cũ, nhanh nhảu vặc lại: “Con cần gì phải

rầu, người bố chẳng đã mọc đầy rêu đấy

thôi.”Ông Phương Học Nông hầm hừ hai tiếng,

hình như đang cười. Hiếm có một buổi chiều

nào không đi làm mà ông không say. Lên đảo vài

ngày, Phương Đăng cảm nhận sâu sắc rằng cha

nó không thẹn là người từ đảo ra đi. Dân đảo

đa số đều biết mặt đặt tên ông, dĩ nhiên,

quá nửa bọn họ chỉ nhớ cái biệt danh không

mấy dễ nghe: “Phương Huyết Nùng”. Mấy khuôn

18

mặt tươi cười của họ trông cứ khinh khỉnh thế

nào đó.

Không thể trách người ta được, chính Phương

Đăng cũng hiểu cha mình là người bạc nhược.

Hồi còn trẻ ông không có công việc đàng

hoàng, chỉ chuyên làm những thứ chẳng ai muốn

rớ để kiếm cái ăn. Ví dụ nhà nào có trẻ

con bạo bệnh chết non thường gọi ông đến,

chỉ cần cho vài đồng, hoặc ít gạo hay mỳ

cũng được, ông sẽ mang đứa bé đi chôn hộ.

Hoặc trên đảo có việc ma chay, nào tắm rửa

tử thi, nào khênh áo quan, nào rắc giấy tiền…

việc gì ông cũng thạo. Lúc không có mấy

việc như vậy thì dọn bồn xí, hốt rác cũng

được, chỉ cần đổi lấy đủ tiền sống qua

19

ngày ông đều nhận làm. Phương Học Nông chẳng

phải người to gan, càng không biết giận dữ,

gặp ai ác ý giễu cợt ông chỉ biết cười hì

hì. Ngày thường ông chẳng bao giờ thèm chỉnh

trang vẻ ngoài, dư ít tiền nào là mua rượu

bằng sạch, bà con đều lấy đó trêu chọc. Chẳng

nhớ ai đầu têu mà mọi người đều gọi ông

bằng “Phương Huyết Nùng”, ấy thế mà ông cũng

thưa.

Đưa theo cô em gái cùng mẹ khác cha Chu Nhan ra

khỏi đảo vài năm, Phương Học Nông mới đầu

chỉ làm các công việc vớ vẩn. Ông nghiện

rượu, không làm nổi những việc đòi hỏi sức

khỏe thuần túy, chính vì vậy mà thời bé Phương

Đăng luôn bữa no bữa đói. Sau rồi có một

20

ngày, cô Chu Nhan căng tấm rèm vải cũ ngay

trong căn nhà gỗ, Phương Học Nông lôi bé Phương

Đăng ra ngoài cửa ngồi đúng một buổi chiều,

cho dù con gái có hỏi thế nào, ông cũng

không hé răng. Nhá nhem tối, Phương Đăng thấy

cô đi ra dúi vào tay cha mấy tờ giấy bạc. Nó

nhớ rất rõ, lúc ấy mặt trời vừa khuất

núi, thiên không u ám dần, đầu tóc cô Chu Nhan

rối bời, nhưng khuôn mặt chẳng hề có cảm

xúc gì. Phương Học Nông cầm được tiền là

bật khóc, đêm ấy đi uống rượu đập tan cả

bình, say sưa đến tận hoàng hôn ngày hôm sau.

Dần dà, ông thường dắt nhiều người đàn ông

khác nhau về phòng cô Chu Nhan, rồi ngồi bên

ngoài uống rượu. Những đồng bạc dù đanh mới

21

hay cũ nát từ tay cô Chu Nhan cũng đã trở

thành tiền mua cái ăn cho cả ba người. Cô Chu

Nhan chết rồi, Phương Học Nông chẳng sống nổi

ở bên ngoài, liền dắt con gái quay về đảo

Qua Âm định làm lại nghề cũ. Ông thường nhìn

chằm chằm nụ cười của con gái nói một

cách vô liêm sỉ rằng, thêm vài năm nữa là con

gái đủ khả năng kiếm tiền dưỡng già cho

bố.

Bình tâm mà nói, Phương Học Nông đối xử với

Phương Đăng không quá tệ. Bản thân ông thấp

hèn đến tận cùng, nhưng đã nuôi lớn được

đứa con gái độc nhất, dù no bữa nay đói bữa

mai. Ông chẳng ngược đãi gì con, cùng lắm say

khướt rồi mang nó ra trút giận, dọa đem đi

22

bán một lát rồi thôi. Có điều vài năm nay

Phương Đăng chẳng còn sợ ông nữa. Bán nó

rồi, ông chẳng có cơm mà ăn, say chết không ai

biết. Không lâu trước đây có một lần ông

uống nhiều, vô lý hò hét sai cái này cái

nọ, Phương Đăng đang làm bài tập, chẳng thèm

để ý. Lửa giận bốc lên, ông túm tóc con

định du vào tường. Vùng vẫy một hồi, Phương

Đăng thấy da đầu đau buốt nóng ran, mãi vẫn

chưa thoát ra được, hoảng quá đạp vào bụng

ông một cái. Ấy thế mà Phương Học Nông dừng

tay, ngồi bệt xuống góc tường hồi lâu không

đứng dậy nổi. Ngày hôm sau tỉnh rượu, ông

chỉ dám xoa bụng lầu bầu, tuyệt không nhắc

đến chuyện hôm trước.

23

Đôi khi Phương Đăng thấy khó hiểu, sao trên

đời lại có người phụ nữ ngốc đến độ sinh

con cho cha mình. Nhưng giả dụ người phụ nữ

ấy không tồn tại, vậy nó ở đâu mà ra? Hay nó

là con nuôi? Phương Học Nông nuôi bản thân còn

khó, làm gì vĩ đại đến mức chịu đùm bọc

một đứa bé chẳng có máu mủ gì với mình?

Có một thời gian khoảng sau khi tốt nghiệp

tiểu học, Phương Đăng nghi ngờ mình là con

của cô Chu Nhan với một người khác. Thậm chí

con bé dám gọi “mẹ”, còn cô Chu Nhan chẳng

bao giờ trả lời. Thấy Phương Đăng gọi nhiều

quá, bà bực mình cứ thấy mặt là đuổi đi

chỗ khác.

Đến giờ Phương Đăng vẫn chưa làm rõ được

24

gốc gác của bản thân, nhưng đã học được cách

lờ đi. Là nhặt trên đường cũng được, là con

đẻ Phương Học Nông cũng được, do cô Chu Nhan

sinh cũng xong, đâu có gì khác biệt. Dù thế

nào nó đã là thiếu nữ mười lăm, vài năm nữa

là sống độc lập được rồi.

Như thường lệ, Phương Đăng ngồi trước cửa sổ

nhặt rau cho bữa sáng, cứ một chốc không kìm

được lại liếc cánh cửa sổ bên kia một cái.

Gương mặt thoáng qua sau tấm rèm ban nãy đã

làm dấy lên trí tò mò tận nơi sâu nhất trong

tim con bé. Vậy mà tới lúc nhặt xong rau

của trưa hôm sau, bên kia vẫn chẳng có chút

động tĩnh. Tấm rèm nhung đỏ tươi quen thuộc

hoàn toàn bất động sau lớp cửa chớp kín

25

bưng, nói gì đến người phía sau cửa.

Phương Đăng dù gì cũng là trẻ con, ngây ra

một hồi, đến khi tò mò quá không chịu được

liền hỏi người nằm trên giường một câu: “Bố,

ai cũng bảo cả nhà họ Phó đều ra nước

ngoài rồi, thế sao trong nhà vẫn còn người

ở? Có ai ở trong ấy nhỉ?”

“Quan tâm làm gì?”, mãi Phương Học Nông mới

trả lời.

“Con tiện miệng hỏi thôi. Nghe nói chính phủ

trả nhà lại cho họ Phó rồi mà? Họ lắm

tiền, sao lại để hoang nhà của tổ tiên như

thế?”“Tao biết đâu được, mà có liên quan gì

đến mày? Cũng có liên quan chó gì đến tao?”

Phương Học Nông bật dậy, chiếc giường vốn đã

26

lung lay phát ra một tràng tiếng kẽo kẹt ghê

tai.

Phương Đăng không ngốc, nó đã sớm nhìn ra cha

mình dù lớn tiếng nói nhà đối diện chẳng

liên quan gì, nhưng mỗi lần nó vô tình hay cố

ý nhắc chữ “Phó”, cha đều trở nên cáu bẳn

lạ lùng. Ông vốn là người dễ bị thao túng

lừa gạt, vậy mà mấy hôm nay uống rượu xong

đều vô thức ngoảnh nhìn bên ấy. Có điều

không như Phương Đăng, cái nhìn của ông tràn

đầy vẻ nanh nọc của kẻ thấp hèn. Điều này

rất hợp lý với mối ngờ vực lớn nhất trong

lòng Phương Đăng. Con bé đã hiểu nhiều lẽ

đời, nghe được vài lời bên ngoài truyền tới,

cộng thêm những manh mối ngày trước cô Chu

27

Nhan vô tình tiết lộ, tất cả bện thành một

sợi dây vô hình. Một đầu sợi dây là nó, cha

và cô Chu Nhan, đầu kia như con rắn, dần trườn

mình tới cánh cửa sổ vừa gần trong gang

tấc, vừa xa không thể đếm đo kia. Nghĩ tới

đây, con bé dằn lòng không đặng, buột miệng:

“Trước đây cô Chu Nhan từng sinh con, đứa bé

đó giờ ở Phó gia viện phải không bố?”

Ông Phương Học Nông lặng đi một lúc, mặt đỏ

rần, cứ như mìn sắp nổ tung, lắp ba lắp

bắp: “Vớ… vớ vẩn! Mày nghe ở đâu ra… cô mày

làm sao… nó với đứa trẻ con ngoài giá thú

bên kia chẳng… chẳng có liên quan gì!”

“Bố định lừa ai? Cô chẳng giấu con chuyện gì.

Bố đi hỏi xem, trên đảo có ai không biết?”

28

Phương Đăng không nói dối, cô nó trước đây

từng lấy chồng, nghe nói họ Phó. Cô đích

thực từng kể, ngày xưa mình có đứa con lớn

hơn Phương Đăng hai tuổi. Thêm nữa, Phương Đăng

và cha dọn vào mới ngày thứ hai, ông bà chủ

tiệm tạp hóa dưới nhà đã châm chọc: “Ơ

này, mày là cháu gái Chu Nhan cơ mà! Sao

không dọn vào ở nhà cao cửa đẹp bên kia? Dù

gì chẳng người một nhà.”

Những quá khứ ẩn giấu đằng sau câu đùa cợt

cùng lời đồn nhảm nhí kia, có lẽ chính là

nguyên do cô Chu Nhan rời đảo Qua Âm, cũng là

đề tài ông Phương Học Nông nhất quyết tránh

né. Mười mấy năm trôi qua, ở đảo Qua Âm điều

ấy chẳng còn là bí mật.

29

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát