Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
100 Truyện Cổ Tích Thế Giới

TỦ SÁCH THIẾU NHI

TRUYỆN CỔ TÍCH THẾ GIỚI

Ngọc Ánh (Sưu tầm - tuyển chọn)

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN

NÀNG BẠCH TUYẾT VÀ BẢY CHÚ LÙN

Giữa một ngày mùa đông giá rét, tuyết rơi xuống

trắng như bông.

Một bà hoàng hậu ngồi khâu bên cửa sổ khung gỗ

mun. Bà mải nhìn tuyết nên kim đâm phải tay, ba

giọt máu rơi xuống tuyết. Thấy máu đỏ pha lẫn tuyết

trắng thành một màu tuyệt đẹp, bà nghĩ bụng: “Ước

gì ta có một đứa con gái da trắng như tuyết, môi đỏ

như máu và tóc đen như gỗ mun khung cửa này”.

Sau đó ít lâu, bà sinh hạ được một cô gái da trắng

như tuyết, môi đỏ như máu và tóc đen như gỗ mun;

1

vì vậy bà đặt tên con là Bạch Tuyết. Bạch Tuyết vừa

ra đời thì hoàng hậu mất ngay.

Một năm sau, vua lấy vợ khác. Bà này đẹp lắm nhưng

kiêu căng tự phụ, không muốn ai đẹp bằng mình. Bà

có một chiếc gương thần, khi soi, bà hỏi:

Gương kia ngự ở trên tường. Nước ta ai đẹp được

dường như ta?

Thì gương đáp:

- Tâu hoàng hậu, hoàng hậu đẹp nhất nước ạ. Biết

gương nói thật, bà rất sung sướng.

Nhưng Bạch Tuyết càng lớn càng đẹp. Năm lên bảy

tuổi, nàng đẹp như tiên sa, đẹp hơn cả hoàng hậu.

Một hôm hoàng hậu lại hỏi gương:

Gương kia ngự ở trên tường, Nước ta ai đẹp được

dường như ta?

2

Thì gương đáp:

Xưa kia bà đẹp nhất trần,

Ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn.

Hoàng hậu nghe nói giật mình, ghen tức tái mặt đi.

Từ đó mỗi khi thấy Bạch Tuyết, hoàng hậu lại tức

điên lên. Ngày một thêm kiêu ngạo và đố kỵ, bà ta

lúc nào cũng bứt rứt. Một hôm, bà cho gọi một người

thợ săn đến bảo:

- Người hãy đem con bé này vào rừng và giết chết

nó cho ta!

Ngươi thợ săn vâng lệnh, đem cô bé đi. Khi đến

rừng sâu thì cô bé vô tội van khóc:

- Bác ơi, bác đừng giết cháu, cháu xin ở lại trong

rừng, không về nhà nữa.

Bác thợ săn thấy cô bé xinh đẹp quá, thương hại

3

bảo:- Tội nghiệp, thôi cháu đi đi. Bác nghĩ bụng:

“Rồi thú dữ cũng đến ăn thịt nó mất”. Nhưng bác

thấy hình như cất được một gánh nặng trong lòng vì

không phải giết người.

Một mình thui thủi trong rừng rậm. Bạch Tuyết sợ

hãi, nhìn lá cây ngọn cỏ, chẳng biết làm gì. Nàng

cắm đầu chạy, giẫm phải gai và đá nhọn, chảy cả máu

chân.

Thú dữ lượn quanh nàng, nhưng không đụng chạm đến

nàng. Nàng cứ thế chạy mãi, chập tối, thấy một cái

nhà nhỏ, liền vào để nghỉ.

Trong nhà, cái gì cũng bé tí ti, nhưng đẹp và sạch

lắm. Trên bàn trải khăn trắng tinh có bảy cái đĩa

con, mỗi đĩa có một cái thìa con, một cốc con. Sát

tường kê bảy chiếc giường nhỏ phủ khăn trắng như

4

tuyết.

Đang đói và khát, Bạch Tuyết liền ăn ở mỗi đĩa một

ít rau, ít bánh, và uống ở mỗi cốc một hớp rượu

vang, vì nàng không muốn ai phải mất phần. Nàng mệt

quá, muốn đi ngủ, nhưng không giường nào nằm vừa,

cái thì quá dài, cái lại ngắn quá. Nàng thử đến cái

thứ bảy mới thấy vừa, liền nằm đó, ngủ thiếp đi.

Tối mịt, những người chủ của căn nhà mới về: Đó là

bảy chú lùn làm công việc đào mỏ. Họ thắp bảy ngọn

nến lên. Họ cảm thấy có ai đã đến nhà vì thấy mọi

thứ khang khác.

Chú thứ nhất nói: “Ai đã ngồi vào ghế của tôi?”.

Chú thứ hai nói: “Ai đã ăn ở đĩa của tôi?”. Chú thứ

ba nói: “Ai đã ăn ít bánh của tôi?”. Chú thứ tư

nói: “Ai đã ăn ít rau của tôi?”. Chú thứ năm nói:

5

“Ai đã dùng chiếc dĩa của tôi?”. Chú thứ sáu nói:

“Ai đã dùng dao của tôi?”. Chú thứ bảy nói: “Ai đã

uống vào cốc của tôi?”.

Một chú nhìn quanh, rồi đi lại giường mình. Thấy

có chỗ trũng ở đệm, chú bèn nói:

- Ai đã trèo lên giường của tôi?

Những chú khác cũng lại giường mình và nói: “Có ai

đã nằm vào giường của tôi?”. Chú thứ bảy nhìn vào

giường mình thì thấy Bạch Tuyết đang ngủ. Chú gọi

các chú kia đến. Ai nấy đều ngạc nhiên. Họ cầm bảy

ngọn nến soi Bạch Tuyết và reo lên: “Lạy Chúa! Cô

bé này đẹp quá”. Các chú mừng lắm, để yên cho nàng

ngủ.

Suốt đêm, chú lùn thứ bảy nằm nhờ sáu chú kia, mỗi

giường một lúc.

6

Sáng hôm sau, Bạch Tuyết dậy, thấy bảy chú lùn,

nàng hoảng sợ, nhưng họ thân mật hỏi:

- Cô tên là gì? Nàng đáp:

- Em là Bạch Tuyết. Họ lại hỏi:

- Sao cô lại tới đây?

Bạch Tuyết kể cho họ nghe rằng dì ghẻ muốn giết

nàng, người đi săn đã để cho nàng sống, nàng đã

chạy suốt ngày mãi cho đến khi thấy nhà họ.

Các chú lùn bảo:

- Cô có muốn giúp chúng tôi một tay, làm các việc

trong nhà này không? Cô sẽ nấu nướng, dọn giường,

giặt giũ, khâu vá, thêu thùa, quét tước, dọn dẹp. Ở

lại đây với chúng tôi, cô sẽ chẳng thiếu thứ gì.

Bạch Tuyết nói:

- Vâng, em xin đa tạ.

7

Từ đó, Bạch Tuyết ở với các chú lùn và đảm đương

mọi việc trong nhà. Sáng sớm, các chú lùn vào mỏ

lấy quặng, vàng cho đến chiều tối. Bạch Tuyết làm

thức ăn sẵn rồi chờ họ về ăn. Suốt ngày, nàng ở nhà

một mình. Các chú lùn dặn nàng:

- Cẩn thận đề phòng mụ dì ghẻ đấy! Thế nào rồi mụ

cũng biết là cô ở đây. Đừng có cho ai vào nhà đấy!

Hoàng hậu đinh ninh là Bạch Tuyết đã chết rồi, nên

chắc rằng từ nay mình đẹp nhất đời.

Bà lại hỏi gương:

Gương kia ngự ở trên tường, Nước ta ai đẹp được

dường như ta?

Gương đáp:

Xưa kia bà đẹp nhất trần,

Ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn, Nàng ta ở

8

khuất núi non,

Tại nhà của bảy chú lùn xa xa.

Hoàng hậu giật mình vì biết rằng gương không bao

giờ nói sai, người thợ săn đã lừa bà và Bạch Tuyết

còn sống. Bà ta lại nghĩ cách hại Bạch Tuyết. Bà

đứng ngồi không yên vì thấy mình chưa đẹp nhất

nước.

Sau bà tìm ra một kế: Bà bôi mặt và ăn mặc giả làm

một bà lão bán hàng xén, không ai nhận ra được. Bà

cải trang rồi vượt bảy ngọn núi đến nhà bảy chú

lùn kia, gõ cửa nói:

- Lão có hàng đẹp bán đây. Bạch Tuyết nhìn qua cửa

sổ nói:

- Chào bà, bà bán gì đấy?

- Toàn là của đẹp, dây lưng, áo chẽn đủ các màu.

9

Rồi bà ta cho nàng xem một chiếc áo chẽn bằng

xa-tanh ngũ sắc. Bạch Tuyết nghĩ: “Bà cụ này tử tế,

mình cho vào được”, bèn mở cửa cho mụ vào và mua

chiếc áo chẽn.

Mụ già bảo cô:

- Con ơi, con buộc vụng lắm, lại đây bà buộc cho.

Bạch Tuyết không chút e ngại, để mụ buộc hộ.

Mụ buộc thoăn thoắt, thít chặt quá, Bạch Tuyết

không thở được nữa, ngã lăn ra bất tỉnh.

Mụ nói:

- Thế là hết đời đứa đẹp nhất. Rồi mụ vội vã ra

về.Tối đến, bảy chú lùn về nhà, thấy Bạch Tuyết

nằm soài trên mặt đất, không động đậy thì hoảng sợ

lắm. Họ nhấc nàng lên, thấy áo buộc chặt quá, bèn

cắt dây buộc ra. Bạch Tuyết lại khe khẽ thở, rồi

10

dần dần sống lại. Sau khi nghe nàng kể chuyện vừa

xảy ra, các chú lùn bảo nàng:

- Bà già bán hàng đúng là mụ hoàng hậu độc ác. Từ

nay cô phải cẩn thận, chúng tôi vắng nhà thì chớ

cho ai vào nhé.

Về tới nhà, mụ dì ghẻ đến trước gương soi và hỏi:

Gương kia ngự ở trên tường, Nước ta ai đẹp được

dường như ta?

Gương đáp:

Xưa kia bà đẹp nhất trần,

Ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn, Nàng ta ở

khuất núi non,

Tại nhà của bảy chú lùn xa xa.

Nghe nói vậy, hoàng hậu thấy máu sôi lên vì căm

giận, mụ biết là Bạch Tuyết đã được cứu sống. Mụ

11

nói: “Được rồi, thế nào ta cũng lập mưu trừ được

mày”. Rồi mụ phù phép làm một cái lược có thuốc độc

và đóng giả làm một bà lão khác lần trước.

Mụ vượt bảy ngọn núi đi đến nhà bảy chú lùn, gõ

cửa và nói:

- Bà có hàng đẹp bán đây.

Bạch Tuyết ngó qua cửa sổ, nói to:

- Bà đi đi, tôi không được phép cho ai vào đâu. Mụ

già nói:

- Thì ai cấm con xem cơ chứ?

Rồi mụ giơ cho Bạch Tuyết xem cái lược có thuốc

độc.Bạch Tuyết thích cái lược quá, xiêu lòng chạy

ra mở cửa. Đôi bên thoả thuận mua bán xong, mụ già

nói:- Để bà chải cho đẹp nhé.

Bạch Tuyết chẳng ngần ngại gì, để cho mụ chải đầu.

12

Lược mới đụng vào tóc, Bạch Tuyết đã bị ngấm thuốc

độc, ngã lăn ra bất tỉnh.

Hoàng hậu gian ác nói:

- Thế là cái đẹp tuyệt vời đã đi đời nhà ma. Rồi

mụ bỏ đi.

May sao bấy giờ đã muộn. Chẳng mấy chốc, bảy chú

lùn về tới nhà. Thấy Bạch Tuyết nằm như chết ở dưới

đất, họ nghĩ ngay thủ phạm là mụ dì ghẻ. Họ tìm

thấy cái lược độc trên đầu Bạch Tuyết.

Vừa gỡ lược ra thì Bạch Tuyết sống lại ngay, kể

lại sự việc cho các chú lùn nghe.

Các chú lại dặn nàng phải cẩn thận. Bất cứ ai đến

cũng không được mở cửa cho vào.

Hoàng hậu về nhà soi gương, hỏi:

Gương kia ngự ở trên tường, Nước ta ai đẹp được

13

dường như ta?

Gương đáp:

Xưa kia bà đẹp nhất trần,

Ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn, Nàng ta ở

khuất núi non,

Tại nhà của bảy chú lùn xa xa.

Nghe thấy thế, hoàng hậu tức điên lên, nói:

- Con Bạch Tuyết, mày phải chết, dù tao có mất

mạng cũng cam lòng.

Mụ vào một cái phòng rất kín trong lâu đài, nơi

không ai được bước chân tới. Mụ tẩm thuốc độc vào

một quả táo. Quả táo trông rất ngon, nửa đỏ, nửa

trắng, ai thấy cũng muốn ăn, nhưng cắn một miếng là

chết ngay.

Sau khi đã chuẩn bị quả táo, mụ bôi mặt, ăn mặc

14

giả làm một bà nông dân, vượt qua bảy ngọn núi đến

nhà bảy chú lùn. Mụ gõ cửa, Bạch Tuyết thò đầu qua

cửa sổ, nói:

- Tôi không được phép cho ai vào đâu. Bảy chú lùn

đã cấm rồi.

Mụ nông dân kia bảo:

- Thôi cũng được. Tôi có nhiều táo lắm. Để tôi cho

cô một quả.

Bạch Tuyết nói:

- Không, cháu không được phép lấy gì đâu. Mụ già

nói:- Cô sợ ăn phải thuốc độc ư? Trông đây này,

tôi bổ quả táo ra làm đôi, cô ăn nửa đỏ đẹp, tôi ăn

nửa trắng nhé.

Hoàng hậu bỏ thuốc độc vào quả táo rất khéo, chỉ

nửa đỏ có thuốc độc thôi. Bạch Tuyết thèm ăn quả

15

táo quá, thấy mụ ăn táo mà không sao cả, bèn cầm

lấy phần mụ đưa. Cô vừa cắn một miếng thì ngã lăn

ra chết. Mụ gườm gườm nhìn cô, cười khanh khách,

nói:

- Trắng như tuyết, đỏ như máu, đen như mun, lần

này những thằng lùn hết đường cứu sống mày.

Khi về đến cung, hoàng hậu hỏi gương:

Gương kia ngự ở trên tường, Nước ta ai đẹp được

dường như ta?

Gương đáp:

- Tâu hoàng hậu, bà đẹp nhất nước.

Lúc đó, lòng mụ mới được thư thái, sự thư thái của

kẻ đố kỵ. Những chú lùn về nhà thấy Bạch Tuyết đã

tắt thở nằm dài trên mặt đất. Họ nâng nàng dậy, tìm

xem có dấu vết chất độc nào không. Họ nới áo cho

16

nàng, chải đầu cho nàng, lấy nước và rượu tắm rửa

cho nàng, nhưng chẳng ăn thua gì, nàng chết thật

rồi. Họ đặt nàng lên giường, cả bảy người ngồi

quanh thi hài than khóc ròng rã ba ngày. Họ muốn

chôn nàng, nhưng thấy sắc mặt nàng vẫn tươi, má

nàng ửng hồng như người sống, thì nói: “Ai nỡ vùi

xuống đất đen bây giờ”. Họ đặt xác nàng vào một cỗ

quan tài bằng thuỷ tinh, trông rõ mồn một, và khắc

tên nàng bằng chữ vàng, đề rõ nàng là công chúa.

Rồi họ đem quan tài đặt lên trên núi, thay phiên

nhau canh gác. Đến cả loài vật cũng đến viếng

Bạch Tuyết, trước hết là cú, rồi đến quạ, sau cùng

là một con chim bồ câu.

Bạch Tuyết nằm trong quan tài đã lâu mà sắc mặt

vẫn tươi như đang ngủ, da vẫn trắng như tuyết, môi

17

vẫn đỏ như máu, tóc vẫn đen như gỗ mun.

Một hôm, có hoàng tử đi săn về muộn, tới nhà các

chú lùn xin ngủ nhờ. Hoàng tử trông thấy chiếc quan

tài trên núi trong đó có Bạch Tuyết, ngoài đề chữ

vàng. Hoàng tử liền bảo các chú lùn:

- Các chú để cho ta cái quan tài kia, muốn lấy bao

nhiêu ta cũng trả.

- Hoàng tử có trả chúng tôi một núi vàng, một biển

bạc chúng tôi cũng không bán.

Hoàng tử nói:

- Thế thì các chú biếu ta vậy, vì ta mà không được

trông thấy Bạch Tuyết thì ta không thể sống được.

Ta sẽ yêu nàng và chăm sóc nàng, coi nàng là người

yêu của ta.

Nghe thấy hoàng tử nói thế, các chú lùn tốt bụng

18

động lòng thương và bằng lòng. Hoàng tử sai thị vệ

khiêng quan tài đi. Người khiêng vấp phải rễ cây,

làm nẩy người Bạch Tuyết lên. Bạch Tuyết nôn miếng

táo có thuốc độc ra.

Tức thì nàng sống lại, mở mắt, nâng nắp quan tài

lên, ngồi nhỏm dậy, kêu lên:

- Trời ơi, đây là đâu? Hoàng tử mừng rỡ nói:

- Nàng ở với ta đây.

Rồi hoàng tử kể cho Bạch Tuyết nghe đầu đuôi câu

chuyện.Hoàng tử lại nói tiếp:

- Ta yêu nàng nhất đời. Nàng hãy về cung điện vua

cha với ta, nàng sẽ là vợ ta.

Bạch Tuyết vui vẻ theo hoàng tử về cung. Lễ cưới

được cử hành rất long trọng.

Mụ dì ghẻ gian ác cũng được mời đến dự tiệc. Mụ ăn

19

mặc lộng lẫy, đến gương soi và hỏi:

Gương kia ngự ở trên tường, Nước ta ai đẹp được

dường như ta?

Gương đáp:

Tâu bà, bà đẹp tuyệt trần,

Nhưng bà hoàng mới muốn phần đẹp hơn.

Mụ gì ghẻ giận run lên. Mới đầu mụ toan không đi

ăn cưới nữa, nhưng mụ đứng ngồi không yên, sốt ruột

đi xem mặt cô dâu.

Mụ bước vào và nhận ra ngay Bạch Tuyết, sợ quá

đứng thần người ra, không nhúc nhích được, rồi quả

tim độc ác của mụ vỡ tan, mụ lăn ra chết.

CÔ BÉ QUÀNG KHĂN ĐỎ

Ngày xửa ngày xưa, gần khu rừng có gia đình bác

thợ săn sống rất hạnh phúc, vợ chồng bác có cô con

20

gái xinh xắn, thùy mị, ai thấy cũng yêu. Mẹ cô rất

yêu cô, trong một lần sinh nhật, mẹ tặng cô chiếc

khăn quàng bằng lụa đỏ, cô rất thích, đi đâu cô

cũng quàng. Vì vậy mọi người gọi cô là cô bé Khăn

Đỏ.

Bà ngoại cô cũng sống ở khu rừng gần đó, cô thường

hay đến chơi với bà. Một hôm, làm bánh xong, mẹ

bảo cô:

- Khăn Đỏ yêu quí, mấy hôm nay bà bị ốm, con hãy

mang bánh và rượu vang đến biếu bà. Con đi ngay đi,

và đừng có tha thẩn ở trong rừng đấy.

Khăn Đỏ mang làn bánh và rượu, đi khỏi làng độ nửa

giờ thì đến một khu rừng. Rừng cây buổi sớm không

khí trong lành, mát rượi, cô thấy lá cây rì rào như

nói chuyện với cô, tiếng chim hót líu lo như đón

21

chào cô, nhưng cô vẫn mải miết đi.

Khi đó, một con chó sói cũng đang lang thang kiếm

mồi, gặp cô bé, sói chào:

- Chào Khăn Đỏ, cháu đi đâu mà sớm thế?

- Mẹ cháu bảo cháu mang bánh đến cho bà ngoại. Bà

cháu bị ốm.

- Thế bà cháu ở đâu?

- Nhà bà cháu ở dưới gốc cây sồi to, bên cạnh dòng

suối, bác có biết chỗ đó không?

Sói nghĩ bụng: “Cái mồi non này hẳn là ngon hơn

mồi già kia”. Nó tự nhủ phải lập mưu ăn thịt được

cả hai bà cháu. Nó mon men lại gần Khăn Đỏ và bảo:

- Này Khăn Đỏ, cháu hãy nhìn những bông hoa rừng

đẹp thế kia, sao không hái mấy bông mang đến tặng

bà.Khăn Đỏ mở to mắt ra nhìn. Cô bé thấy ánh nắng

22

rập rờn qua cành cây, hoa tươi khoe sắc, cô nghĩ

bụng giá mà mình mang bó hoa tươi đến tặng bà thì

bà sẽ thích lắm. Trời còn sớm thế nào đến chả kịp.

Cô bèn đi hái hoa, hái được một bông, cô lại thấy

bông khác đẹp hơn, cứ thế cô bé tiến sâu mãi vào

rừng. Cô quên bẵng việc mang bánh đến cho bà.

Còn chó sói đi thẳng tới nhà bà cụ, gõ cửa. Trong

nhà vọng ra tiếng hỏi:

- Ai đấy?

Bắt chước giọng cô bé Khăn Đỏ, sói lên tiếng:

- Cháu Khăn Đỏ đây, cháu mang bánh và rượu vang

đến biếu bà đây. Bà mở cửa cho cháu.

- Cháu cứ việc đẩy cửa mà vào. Bà mệt quá không

dậy được.

Sói đẩy then, cửa mở tung. Chẳng nói chẳng rằng,

23

nó xông đến thẳng giường bà, nuốt chửng bà vào

bụng.Rồi nó mặc quần áo, đội mũ của bà, nằm vào

giường bà đắp chăn, kéo rèm che lại.

Khăn Đỏ tha thẩn chạy đi hái hoa. Mãi đến lúc hái

nhiều quá mang không xuể, cô bé mới chợt nhớ đến

bà, vội lên đường đến nhà bà. Cô thấy cửa mở. Cô

vội vào phòng chào bà, nhưng không thấy tiếng đáp.

Cô tiến lại bên giường, kéo rèm ra thì thấy bà nằm,

mũ kéo trùm kín mặt trông lạ quá. Cô hỏi:

- Bà ơi bà! Sao hôm nay tai bà to thế? Sói cố lấy

giọng nhỏ nhẹ:

- Tai bà to để nghe cháu cho rõ hơn.

- Bà ơi bà! Sao hôm nay mắt bà to thế?

- Mắt bà to để nhìn cháu cho rõ hơn.

- Bà ơi bà! Sao hôm nay tay bà to thế?

24

- Tay bà to để bà ôm cháu cho chặt.

- Bà ơi bà! Sao hôm nay mồm bà to thế?

- Mồm bà to để bà ăn thịt cháu nhanh hơn.

Sói nói xong liền nhảy ra khỏi giường nuốt chửng

cô bé Khăn Đỏ đáng thương. Sói no nê lại nằm xuống

ngủ, ngáy o o. Có người thợ săn đi qua nhà, nghĩ

bụng: “Quái! Sao bà lão ngáy to thế, phải vào xem

sao”.

Bác bước vào phòng, đến giường thì thấy chó sói

đang nằm ngủ. Bác ta lẩm nhẩm: “Con chó sói độc ác

này, chắc nó đã ăn thịt bà lão rồi. Tao tìm mày

mãi, nay lại gặp mày ở đây...”.

Bác giơ súng lên định bắn, nhưng chợt nghĩ ra chắc

sói đã ăn thịt bà lão. Bác nghĩ không nên bắn mà

nên lấy kéo rạch bụng con sói đang ngủ ra. Vừa rạch

25

được vài mũi thì thấy cả cô bé Khăn Đỏ và bà lão

còn sống chui ra ngoài.

Ba người đều vui mừng. May mà có bác thợ săn đến

kịp. Bác thợ săn lột da sói mang về nhà. Còn hai bà

cháu ăn bánh, uống rượu vang của Khăn Đỏ mang đến,

họ cảm thấy đã khỏe hơn.

Từ đó, mỗi lần mẹ sai đi đâu, bao giờ Khăn Đỏ cũng

đi đến nơi về đến chốn.

CÔNG CHÚA TÓC VÀNG

Ở đất nước xa xôi kia, có một quốc vương rất giàu

có. Nghe nói công chúa nước láng giềng rất xinh

đẹp, đặc biệt nàng có mái tóc vàng đẹp tuyệt trần,

quốc vương muốn lấy nàng làm vợ. Có rất nhiều chàng

trai trẻ đến cầu hôn, đều bị nàng từ chối. Quốc

vương bèn chọn một sứ giả thông minh hơn người tới

26

cầu thân, cốt để tránh khỏi bị cự tuyệt. Vị sứ giả

này tên là Avềnan. Avềnan là chàng trai giỏi giang

và rất nhân hậu.

Avềnan từ biệt nhà vua đi thực hiện sứ mệnh được

giao phó.

Trên đường đi, Avềnan nhìn thấy một con cá chép có

vảy màu vàng óng, bị mắc cạn trên bãi cát ven biển

sắp chết. Chàng nhẹ nhàng đem thả nó xuống nước,

vừa được xuống nước, con cá quẫy đuôi bơi nhẹ nhàng

rồi vòng lại nhìn Avềnan như cảm ơn anh.

Avềnan tiếp tục đi, bỗng thấy trên bầu trời, một

con chim ưng đang đuổi bắt con quạ đen, chàng liền

giương cung bắn chim ưng, cứu quạ thoát chết. Đang

đi chợt nghe tiếng kêu, tìm thấy con cú mèo đang bị

mắc trong chiếc lưới to, chàng chặt đứt lưới cứu

27

cú mèo, rồi đem thả cho nó về cuộc sống tự do.

Avềnan lại lên đường.

Avềnan đã đến bên ngoài cung điện của vua nước

láng giềng, chàng xin được gặp mặt công chúa. Được

tiếp kiến công chúa, Avềnan tỏ ra một chàng trai

thông minh, hào hoa, lịch sự, nên công chúa rất quí

mến. Nhưng khi nghe thấy chàng ngỏ lời và đến cầu

hôn cho quốc vương của mình, nét mặt tươi cười của

công chúa biến mất. Nàng lạnh lùng nói:

- Ta chỉ bằng lòng lấy ai thực hiện được ba điều

kiện của mình. Một là: tháng trước ta đi dạo chơi

trên thuyền có đánh rơi chiếc nhẫn xuống sống, ai

tìm được và mang về chiếc nhẫn này thì ta sẽ lấy

người đó.

Avềnan từ trong cung bước ra, lòng đầy buồn phiền,

28

đứng thẫn thờ ở trên bờ sông. Bỗng nhiên anh nghe

thấy có tiếng gọi tên mình. Anh chăm chú tìm xem ai

gọi, thì ra đó là một con cá chép vàng đang bơi

dưới nước. Cá nói được tiếng người.

- Tôi là con cá chép bị mắc nạn trên bờ cát dạo nọ

được ngài cứu sống đây. Cha tôi là vua Thủy tề, vì

muốn đền đáp công ơn cứu mạng của ngài nên đã sai

tôi tìm chiếc nhẫn của công chúa ở dưới đáy sông,

xin ngài cầm lấy.

Avềnan sung sướng cảm ơn cá, cầm chiếc nhẫn rồi

vào cung đưa cho công chúa. Nàng liền nói điều kiện

thứ hai:

- Ở Taliphan cách đây không xa, có một người khổng

lồ muốn ta làm vợ hắn, nếu không hắn sẽ tàn phá

đất nước của ta.

29

Cần phải giết được tên khổng lồ đó để trừ họa cho

muôn dân, ai giết được ta sẽ lấy làm chồng.

- Vâng, thưa công chúa!

Avềnan nói xong liền ra khỏi cung, chàng cưỡi

ngựa, đi tới Taliphan nhưng trong lòng rối bời chưa

biết sẽ làm thế nào. Bỗng một con quạ đen bay tới

nói với chàng:

- Ân nhân ơi, tôi sẽ giúp ngài tìm diệt tên khổng

lồ. Tôi là con quạ đã được ngài cứu khỏi nanh vuốt

của chim ưng. Ngài cứ yên lòng gặp hắn.

Quạ bay dẫn đường cho Avềnan, khi người khổng lồ

xuất hiện, quạ lao vút tới mổ mù đôi mắt của hắn.

Thừa cơ Avềnan rút kiếm giết chết tên khổng lồ.

Avềnan trở về cung điện báo tin, sau đó hỏi công

chúa điều kiện còn lại. Công chúa nói điều kiện thứ

30

ba:

- Hãy lấy nước trường sinh trong con suối ở một

hang đá trên vách núi cheo leo kia đem về.

Đây là một việc làm vô cùng khó khăn nguy hiểm.

Avềnan đang suy tính, thì con cú mèo xuất hiện. Cú

mèo nói với anh:

- Chàng trai nhân hậu, đừng lo lắng gì. Tôi là con

cú mèo được anh cứu thoát khỏi lưới bẫy. Tôi sẽ

giúp anh việc này.

Cú mèo liền bay tới hang đá trên vách núi cheo

leo, múc đầy bình nước trường sinh đem về cho

Avềnan. Avềnan sung sướng cảm ơn cú mèo.

Avềnan đem nước trường sinh về đưa cho công chúa.

Cuối cùng, công chúa tóc vàng đành bằng lòng theo

Avềnan về nước. Nhưng người mà công chúa yêu thương

31

là chàng trai tài giỏi và nhân hậu Avềnan chứ

không phải là quốc vương. Biết chuyện, quốc vương

rất tức giận, hạ lệnh bắt Avềnan nhốt vào trong

ngục tối, định dùng thuốc độc để hại chàng.

Quốc vương cho rằng công chúa tóc vàng chê mình

già nua và xấu xí, liền nghĩ tới nước trường sinh

Avềnan mang về và cũng muốn thử công hiệu của nó,

mong nó giúp mình trẻ đẹp trở lại. Nghĩ thế, quốc

vương liền lấy nước trường sinh để uống. Không ngờ,

trong lúc tức giận, ngài đã lấy nhầm phải bình

thuốc độc định dùng hãm hại Avềnan. Thế là quốc

vương tự hại chết mình.

Công chúa tóc vàng tới ngục tối cứu Avềnan. Quần

thần bèn tôn Avềnan lên làm vua thay quốc vương.

Avềnan và công chúa tóc vàng tổ chức lễ đăng quang

32

và lễ cưới cùng một ngày. Triều đình và muôn dân

tưng bừng mở hội chúc mừng đôi trai tài gái sắc.

CÔ BÉ LỌ LEM

Ngày xưa có một người đàn ông giàu có, vợ ông ta

ốm nặng. Khi bà cảm thấy mình sắp gần đất xa trời,

bèn gọi cô con gái duy nhất của mình đến bên giường

dặn dò:

- Con yêu dấu của mẹ ơi, con hãy sống hiền lành

ngoan ngoãn nhé! Mẹ chết đi cũng sẽ luôn luôn ở bên

con để trông nom cho con.

Nói xong bà nhắm mắt và qua đời. Hàng ngày, cô gái

đến khóc lóc bên mộ mẹ. Cô ăn ở hiền lành tử tế

đúng như lời mẹ dặn. Mùa đông đến, tuyết phủ trên

mộ mẹ như một tấm khăn trắng. Đến mùa xuân, khi mặt

trời kéo chiếc khăn tuyết ấy đi thì người bố lấy

33

vợ khác.

Người vợ kế mang theo hai con riêng của mình đến.

Hai đứa này mặt hoa da phấn nhưng bụng dạ lại xấu

xa đen tối. Thế là bắt đầu một thời gian khốn khổ

cho cô bé mồ côi mẹ.

Mẹ ghẻ và hai con bảo:

- Không thể để con ngốc này cứ ngồi lù lù trong

nhà mãi thế được! Muốn ăn thì phải làm. Phải tống

con làm bếp ấy ra khỏi phòng.

Chúng lột quần áo đẹp cô đang mặc, cho cô một

chiếc áo xám cũ kĩ và đôi guốc mộc.

Chúng reo cười: “Trông cô công chúa đài các kìa,

giờ cô ăn mặc lịch sự chưa!” và đưa cô xuống bếp.

Cô phải làm lụng vất vả từ sớm đến tối, tờ mờ sáng

đã dậy lấy nước, nhóm lửa, nấu cơm, giặt giũ. Hai

34

đứa em lại còn hành hạ cô đủ cách, làm cho cô tủi

nhục. Chúng thường đổ hai thứ đậu xuống tro bắt cô

ngồi nhặt riêng ra. Đến tối, làm lụng đã mệt lử

rồi, cô cũng không được nằm giường mà nằm trên đống

tro cạnh bếp mà ngủ. Càng ngày cô càng bẩn thỉu,

người thêm lem luốc. Họ gọi cô là “Lọ Lem”.

Có lần, bố đi chợ phiên, hỏi hai con của vợ kế

muốn xin quà gì. Một cô xin quần áo đẹp, một cô xin

ngọc quí.

Bố lại hỏi:

- Thế còn Lọ Lem, con muốn gì nào?

- Thưa bố, trên đường về, có cành cây nào va vào

mũ bố thì xin bố bẻ cho con.

Bố mua về cho hai con gái vợ kế quần áo đẹp và

ngọc quí. Trên đường về, khi đi qua một bụi cây

35

xanh, có cành cây dẻ va phải ông và lật mũ ông. Ông

bẻ cành cây ấy mang về.

Tới nhà, ông cho hai con vợ kế quà chúng xin và

đưa cành dẻ cho Lọ Lem. Lọ Lem cảm ơn bố, đến mộ mẹ

trồng cành dẻ lên, khóc lóc thảm thiết, nước mắt

rơi xuống tưới ướt hết cành lá. Cành dẻ lớn rất

mau, chẳng mấy chốc đã thành một cái cây xanh tốt.

Mỗi ngày, Lọ Lem đến đó ba lần, lần nào cũng có con

chim trắng tới đậu trên cây. Hễ cô ngỏ ý mong ước

thứ gì thì chim vứt thứ ấy xuống cho cô.

Một hôm, nhà vua mở hội ba ngày liền, mời tất cả

các thiếu nữ xinh đẹp trong nước đến cung vua để

hoàng tử kén vợ.

Hai cô con gái của mẹ kế nghe nói là mình cũng

được đi thì mừng rỡ gọi Lọ Lem đến bảo:

36

- Mày hãy chải đầu đánh giày cho chúng tao, cài

giày cho chắc để chúng tao đi dự hội ở cung vua.

Lọ Lem khóc lóc vâng lời, vì chính cô cũng muốn

được đi cùng để nhảy. Cô xin mẹ kế cho đi. Mẹ kế

bảo:- Đồ Lọ Lem bẩn thỉu nhơ nhuốc mà cũng đòi đến

dự hội à! Mày làm gì có giày, có quần áo mà nhảy?

Cô xin mãi thì mẹ kế bảo:

- Tao đổ một đấu đỗ xuống tro. Cho mày nhặt hai

tiếng đồng hồ, xong thì đi.

Lọ Lem đi cửa sau ra vườn, gọi:

- Hỡi chim câu ngoan ngoãn, hỡi chim gáy, hỡi tất

cả các loài chim trên trời, hãy lại đây nhặt giúp

em, đỗ ngon thì bỏ vào nồi, đỗ xấu bỏ vào cổ họng.

Lập tức có đôi chim bồ câu trắng bay vào qua cửa

sổ nhà bếp, theo sau có chim gáy, rồi đến tất cả

37

các loài chim trên trời rào rào bay tới đậu quanh

đống tro. Chim bồ câu gật gù, bắt đầu mổ lia lịa,

những chú chim khác cũng mổ lia mổ lịa, chim nhặt

hạt ngon bỏ vào nồi, hạt xấu nuốt vào họng. Chỉ độ

non một tiếng đồng hồ, chim đã làm xong xuôi cả và

bay đi. Lọ Lem mang đỗ đến cho dì ghẻ. Cô mừng lắm,

chắc mẩm được đi dự hội. Nhưng dì ghẻ bảo:

- Không đi được đâu, Lọ Lem ạ! Mày không có quần

áo thì không thể nhảy được. Người ta cười cho đấy!

Lọ Lem khóc lóc thì dì ghẻ bảo:

- Nếu trong một tiếng đồng hồ, mày nhặt ra được

khỏi tro hai đấu đỗ thì tao cho đi cùng.

Sau khi dì ghẻ đổ hai đấu đỗ xuống tro, Lọ Lem đi

cửa sau ra vườn gọi:

- Hỡi chim câu ngoan ngoãn, hỡi chim gáy, hỡi tất

38

cả các loài chim trên trời, hãy lại đây nhặt giúp

em, đỗ ngon thì bỏ vào nồi, đỗ xấu bỏ vào cổ họng.

Lập tức có đôi bồ câu trắng bay vào qua cửa sổ nhà

bếp, theo sau có chim gáy, rồi đến tất cả các loài

chim trên trời rào rào bay tới đậu xuống quanh

đống tro. Chim bồ câu gật gù rồi bắt đầu mổ lia

lịa, nhặt đỗ ngon bỏ vào nồi. Chỉ non nửa tiếng

đồng hồ, những chú chim đã làm xong xuôi cả và bay

đi. Cô gái mang đỗ đến cho dì ghẻ, chắc mẩm được đi

dự hội. Nhưng dì ghẻ bảo:

- Toi công thôi, Lọ Lem ạ! Mày không đi cùng được

đâu vì mày làm gì có quần áo mà nhảy? Chẳng nhẽ làm

chúng tao xấu hổ vì quần áo của mày à?

Nói rồi, mụ quay phắt, vội vã cùng hai đứa con gái

đài các ra đi.

39

Ở nhà không còn ai. Lọ Lem ra mộ mẹ, đến gốc cây

dẻ gọi:

- Cây ơi, cây hãy rũ vàng rũ bạc xuống đây cho em.

Chim liền ném xuống cho cô một chiếc áo bằng vàng

bằng bạc và một đôi hài lụa thêu chỉ bạc.

Cô vội mặc quần áo vào rồi đi dự hội. Dì ghẻ và

hai em không nhận ra được cô, tưởng là một nàng

công chúa nào xa lạ vì cô mặc áo bằng vàng bạc

trông càng đẹp lộng lẫy. Chúng không ngờ chút nào

đó là Lọ Lem, đinh ninh là cô vẫn lúi húi nhặt đỗ

trong đống tro. Hoàng tử lại đón cô, cầm tay cô

nhảy. Chàng không muốn nhảy với ai khác nữa, và

không chịu rời tay ra. Có ai đến mời cô nhảy thì

chàng nói:

- Đây là bạn nhảy cùng tôi.

40

Cô nhảy đến tối thì xin về. Hoàng tử ngỏ ý muốn

đưa cô về vì chàng muốn biết cô thiếu nữ xinh đẹp

này là con cái nhà ai. Cô gỡ tay hoàng tử ra và

nhảy vào chuồng bồ câu. Hoàng tử đợi đến khi ông bố

đến liền nói: “Cô gái lạ mặt đã biến mất trong

chuồng bồ câu rồi”.

Ông bố nghĩ: “Phải chăng là Lọ Lem?”.

Ông bắt mang đến cho mình rìu và mai để chẻ tan

chuồng chim bồ câu ra ra. Chẻ xong chẳng thấy có ai

ở trong. Họ về nhà thì thấy Lọ Lem mặc quần áo

nhem nhuốc ngồi trong đống tro, một ngọn đèn dầu tù

mù cháy trên lò sưởi. Thì ra Lọ Lem đã nhảy phắt

ra khỏi chuồng bồ câu, chạy vội đến cây dẻ, cởi

quần áo đẹp ra để trên mộ. Chim xuống cất đi ngay.

Rồi cô lại mặc áo xám sì vào, ngồi trên đống tro

41

trong bếp như cũ.

Hôm sau, hội lại tiếp tục. Bố mẹ và hai em đi

khỏi. Lọ Lem lại đến cây dẻ gọi:

- Cây ơi cây, hãy rũ vàng rũ bạc xuống đây cho em.

Chim lại thả xuống một bộ quần áo lộng lẫy hơn hôm

trước, làm mọi người ngẩn ra. Hoàng tử đã đợi cô,

liền cầm tay cô và chỉ nhảy với cô thôi. Có ai đến

mời cô nhảy thì hoàng tử bảo: “Đây là bạn nhảy của

tôi”.

Đến tối, cô xin về, hoàng tử đi theo xem cô đến

nhà nào. Cô vội gạt hoàng tử ra và chạy vào vườn

sau nhà. Ở đấy có một cây lê to rất đẹp, chi chít

những quả ngon lành. Cô trèo lên nhanh như sóc rồi

đi đâu mất. Hoàng tử đợi đến khi ông bố đến và bảo:

42

- Cô gái lạ mặt đã đánh tháo khỏi tay ta. Có lẽ cô

ấy trèo lên cây lê rồi.

Ông bố nghĩ: “Phải chăng là Lọ Lem?”.

Ông bố cho mang rìu đến, đẵn cây xuống, nhưng

chẳng thấy có ai trên cây.

Cả nhà vào bếp thì thấy Lọ Lem nằm trong đống tro

như không có việc gì xảy ra. Thì ra cô đã nhảy từ

phía bên kia cây xuống, đem trả quần áo đẹp cho

chim trên cây dẻ và mặc quần áo xám sì vào.

Đến ngày thứ ba, bố mẹ và các em đi khỏi. Lọ Lem

lại ra mộ mẹ bảo cây:

- Cây ơi, cây hãy rũ vàng rũ bạc xuống đây cho em.

Chim liền thả xuống một bộ quần áo lộng lẫy chưa

từng thấy và một đôi hài toàn bằng vàng, Khi cô mặc

vào đến dự lễ, mọi người đều ngẩn ngơ nhìn ngắm.

43

Hoàng tử chỉ nhảy với cô, có ai mời cô nhảy thì

chàng nói:

- Đây là bạn nhảy của tôi!

Đến tối, Lọ Lem xin về. Hoàng tử định đưa về,

nhưng cô lẩn nhanh như cắt, hoàng tử theo không

kịp. Hoàng tử đã nghĩ ra một mẹo là cho đổ nhựa

thông lên những bậc cầu thang. Khi cô bỏ chạy thì

chiếc giày bên trái dính lại.

Hoàng tử cầm lên thì thấy chiếc hài xinh đẹp toàn

bằng vàng.

Hôm sau, hoàng tử mang hài đến tìm ông bố bảo: -

Ta chỉ lấy ai chân đi vừa chiếc hài này thôi.

Hai chị em con mẹ kế có đôi chân đẹp nên mừng lắm.

Cô cả mang giày vào buồng thử trước mặt mẹ. Nhưng

cô không đút ngón cái vào được vì hài nhỏ quá. Mẹ

44

thấy vậy thì gọi tiếp cô em vào. Cô em vào buồng

thử hài thì may sao các ngón vừa lọt, nhưng cái gót

chân lại to quá. Hoàng tử thất vọng hỏi ông bố:

- Ông còn cô con gái nào khác không? Ông bố đáp:

- Thưa hoàng tử không ạ. Chỉ còn con Lọ Lem bé tí,

xanh xao là con vợ cả của tôi. Thứ nó thì chả làm

cô dâu được!

Hoàng tử bảo cứ cho gọi ra. Dì ghẻ thưa:

- Thưa hoàng tử, không nên. Nó bẩn thỉu quá, không

thể gặp mặt hoàng tử được.

Hoàng tử nhất định đòi gọi Lọ Lem lên kì được. Cô

rửa mặt mũi chân tay, đến cúi chào hoàng tử. Hoàng

tử đưa cho cô chiếc hài. Cô ngồi xuống ghế, đút

chân vào chiếc hài vừa như in. Cô đứng dậy, hoàng

tử lúc này cũng nhận ra đó chính là cô gái xinh đẹp

45

đã nhảy với mình, bèn phán:

- Nàng chính là người đã nhảy cùng ta!

Rồi chàng bế Lọ Lem lên ngựa đưa về cung. Hôm sau,

lễ cưới của hoàng tử và Lọ Lem được đức vua cho tổ

chức linh đình. Khắp kinh thành treo đèn kết hoa

chức mừng đôi uyên ương. Chàng hoàng tử thông minh

tuấn tú và cô bé Lọ Lem xinh đẹp cười rạng rỡ giữa

muôn vàn tiếng reo hò, chúc tụng của dân chúng, họ

yêu nhau và sống hạnh phúc bên nhau suốt đời.

QUẢ BÍ ĐỎ

Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng người nông dân,

sống cùng nhau mấy chục năm rồi mà chưa có được

một mụn con. Giờ đây, khi đã già, họ hết hi vọng có

một đứa con. Suốt ngày người vợ cầu xin thánh Ala

đoái thương mà ban cho hai vợ chồng một đứa trẻ, dù

46

nó có giống như một quả bí đỏ bà cũng bằng lòng.

Một hôm, khi mặt trời le lói chiếu những tia nắng

đầu tiên, đúng lúc bà mở cửa thì một quả bí đỏ tròn

trĩnh lăn qua bậc cửa vào trong phòng, nó lăn vào

giữa chân bà già, lăn qua lăn lại rồi cất tiếng

khóc oe oe như tiếng trẻ sơ sinh. Tiếng khóc trẻ

thơ làm bà lão bối rối, một niềm sung sướng bất

ngờ, bà liền bồng nó trên tay và đung đưa như mẹ ru

con. Quả bí tròn ọ ẹ nép vào ngực bà, tin cậy, hơi

thở nhè nhẹ, đều đều như thể bé con đã thiu thiu

ngủ.

Bà khe khẽ nựng nó: “Bí Đỏ yêu quý! Con cứ ngủ

đi!”. Bà sung sướng chuẩn bị một chiếc nôi êm cho

Bí Đỏ. Từ đó trở đi, bà chăm sóc nó như con đẻ của

mình. Hàng ngày bà cho nó ra vườn tắm nắng, dỗ dành

47

khi nó khóc, tắm rửa cho nó bằng nước thơm rồi lấy

khăn bông trắng như tuyết lau cho nó. Hai mẹ con

suốt ngày quấn quít bên nhau. Bí Đỏ tỏ ra là một cô

bé nghịch ngợm, hai mẹ con chơi trò đuổi bắt, nó

lăn tròn trên bãi cỏ, có khi lại nhảy vọt sang bên

cạnh như một con thỏ, bà mẹ vui vẻ và gọi to: “Này,

mẹ sẽ tóm được con, con gái yêu ạ!”.

Cứ thế, Bí Đỏ dần lớn lên và đẹp như một bông hoa.

Trên lớp vỏ của nó có những đường vân sọc rất đẹp,

càng ngày nó càng nghịch ngợm tinh quái, bà già

không bảo được nó nữa. Bà nghĩ, phải đưa con bé tới

trường để thầy giáo rèn giũa cho nó vào khuôn khổ.

Trường học nằm cạnh lâu đài của quốc vương. Con

trai quốc vương hay trốn các gia sư trông nom mình

48

để lẻn ra cửa sổ xem trẻ con thường dân vui đùa

trong giờ ra chơi dưới sân trường hay nô nghịch

nhau trên đường phố, cậu thèm được như những đứa

trẻ ấy mà không được.

Một hôm, đang đứng tựa cửa sổ, cậu ngạc nhiên nhận

ra một quả Bí Đỏ xinh xắn nhảy nhót lẫn trong đám

học trò đang cười đùa ầm ĩ. Không tin vào mắt mình,

ngày hôm sau, cậu lại ra cửa sổ để quan sát. Cậu

ngạc nhiên khi thấy lúc qua vườn nho, Bí Đỏ lăn

chậm lại, để bạn bè vượt lên trước. Sau đó, nó dừng

lại, bỗng quả Bí Đỏ tách đôi và một người con gái

đẹp tuyệt trần bước ra. Trước sắc đẹp của nàng,

ngay cả vầng trăng cũng phải thẹn thùng kéo mây che

mặt! Cô gái trèo lên chiếc cọc dùng để chống cành

nho, hái lấy một chùm và ăn ngon lành từng quả nho

49

tươi. Khi ăn hết quả cuối cùng, cô gái tụt xuống

đất, chui vào quả bí đỏ và nhảy nhót lăn xa dần.

Suốt khoảng thời gian còn lại trong ngày, suốt đêm

dài hôm đó, hoàng tử trẻ không thể không nghĩ về

cô gái đẹp ẩn mình trong quả bí đỏ, và bỗng trở nên

tương tư nàng mãnh liệt. Hôm sau, ngay từ sớm,

hoàng tử đã chạy tới vườn nho, trèo lên nóc lều

canh chờ đợi nàng. Chàng hồi hộp và ngập tràn hạnh

phúc khi nhìn thấy người đẹp chui ra khỏi quả bí.

Khi nàng trèo lên chiếc cọc đỡ cây nho thì chàng

nhẹ nhàng luồn ướm vào ngón tay nàng một chiếc nhẫn

có viên ngọc quý. Song vì nhẫn quá rộng so với

ngón tay thon nhỏ của nàng, nên chàng bèn đem ướm

nó vào ngón tay trỏ của người đẹp. Và kì lạ thay,

nhẫn đeo vừa như in. Hoàng tử nhanh chóng tháo

50

nhẫn, nhảy vội xuống đất và chạy về hoàng cung,

chàng tìm gặp hoàng hậu, thổ lộ với mẹ là mình muốn

lấy vợ. Hoàng hậu âu yếm:

- Con trai yêu quý của ta, con đã là một chàng

trai thực sự rồi. Nhưng con muốn lấy cô gái nào?

- Thưa mẫu hậu, con chỉ muốn lấy cô gái đeo vừa

chiếc nhẫn này vào ngón tay trỏ của nàng mà thôi.

Hoàng hậu rất cưng chiều con trai. Bà trao chiếc

nhẫn cho người hầu già tin cẩn nhất của mình và cho

cả một đoàn nữ tì theo bà đi tìm người con gái có

ngón tay trỏ đeo vừa nhẫn của hoàng tử. Đoàn sứ giả

này vào khắp các gia đình có con gái, không kể

giàu nghèo, sang hèn, công nương hay dân thường

trong phạm vi nhiều dặm xung quanh hoàng cung.

Nhiều ngày đã trôi qua, người hầu già và đoàn tùy

51

tùng vẫn chưa phát hiện ra cô gái có ngón tay trỏ

đeo vừa chiếc nhẫn của hoàng tử. Cứ thế, ngày này

qua ngày khác, họ đi xa hoàng cung hơn, cuối cùng

họ đến nhà của bà lão có cô con gái Bí Đỏ ở tận

cuối xóm nhỏ hẻo lánh. Họ gõ cửa và hỏi như đã từng

hỏi trước cửa bao ngôi nhà khác:

- Có cô con gái nào trong nhà này không? Bà lão

nói khi mở cửa:

- Cầu xin thánh Ala sức mạnh vô cùng, ngài biết

mình phải làm gì! Có thể nói nhà lão có con gái mà

cũng có thể không.

Bà hầu già và đoàn tùy tùng ngơ ngác chưa hiểu ý

bà lão. Bà lão liền chỉ cho họ xem cô con gái Bí Đỏ

của mình:

- Đây chính là cô con gái mà lão yêu thương nhất

52

trên đời.

Khi nhìn thấy Bí Đỏ, dù là một quả bí cực kì đẹp

đẽ, song cũng không thể là một con người bình

thường được, mọi người bật cười. Cuối cùng họ nói

cho bà lão biết mục đích của chuyến viếng thăm và

thổ lộ là cho đến nay chưa cô gái nào có ngón tay

trỏ đeo vừa chiếc nhẫn.

Bà hầu già vừa dứt lời. Ô kìa! Ngạc nhiên làm sao,

một bàn tay nhỏ nhắn thò ra khỏi quả Bí Đỏ. Chuyện

lạ làm cả đoàn người sững sờ, bà hầu già trấn tĩnh

trở lại nói: “Đã là bàn tay con gái thì ta phải

ướm thử chiếc nhẫn xem sao!”. Kinh ngạc lên tới tột

đỉnh khi chiếc nhẫn xỏ vào vừa khít ngón trỏ!

Bà hầu già bối rối quay về báo cho hoàng hậu và

hoàng tử về kết quả của chuyến viễn du lạ lùng kia.

53

Hoàng tử sung sướng tột độ, lập tức xin hoàng hậu

ra lệnh cho người đi đón Bí Đỏ đưa về cung ngay.

Hoàng tử nói với Bí Đỏ:

- Bí Đỏ hãy vui lòng làm vợ ta! Ta không muốn chọn

ai khác ngoài nàng.

Vua và hoàng hậu can ngăn thế nào cũng không được.

Hoàng tử đã quyết. Miễn cưỡng, cha mẹ chàng đành

phải chuẩn bị lễ cưới nhưng không loan báo cho ai

biết. Đang giữa cuộc vui, chú rể rút thanh kiếm nạm

vàng sáng loáng ra khỏi vỏ, lướt nhẹ lưỡi kiếm lên

vỏ quả bí và hô to: “Hãy ra khỏi vỏ!”, tức thì quả

bí nứt ra như ngày đầu tiên chàng thấy ở vườn nho,

một thiếu nữ có sắc đẹp rạng rỡ bước ra. Vua và

hoàng hậu kinh ngạc không nói nên lời.

Ngay tối hôm đó, nhà vua cho mời vợ chồng bà lão

54

tới cung điện. Khi họ biết Bí Đỏ đã trở thành vợ

hoàng tử thì hai vợ chồng già không cầm được nước

mắt vì sung sướng và tự hào.

Từ đó, bà lão thường xuyên đến thăm con gái, không

sá gì nỗi nhọc mệt của chặng đường dài. Hai mẹ con

càng yêu quý gần gũi nhau hơn xưa.

Một hôm, bà đang trên đường tới thăm con như

thường lệ thì bỗng một con sư tử từ bụi rậm bên

đường nhảy ra. Nó đang đói bụng nên muốn ăn thịt bà

lão. Đường đi vẫn còn dài, bà lão nói:

- Thưa chúa sơn lâm, xin ngài hãy chọn món ăn khác

có được không? Lão đi thăm con gái độc nhất của

lão vừa đi lấy chồng. Cho phép lão nhìn lại nó một

lần nữa! Chiều tối nay, khi quay lại, thịt lão có

lẽ sẽ ngon hơn vì có thể lão sẽ được ăn nhiều món

55

ngon ở nhà con gái lão.

Nghe bà lão nói vậy, sư tử muốn tỏ ra mình là chúa

tể, nó nghĩ: Đã là vua của muôn loài trong rừng

thì phải tỏ ra cao thượng. Vậy là nó bằng lòng để

cho bà lão đi”.

Bà lão tiếp tục lên đường, chân bước gấp vì đường

còn xa, thì bỗng từ trong bụi rậm, một con sói xám

nhảy xổ ra chắn đường, mắt long lên sòng sọc. Rõ

ràng là nó đang đói, nó tru lên từng hồi qua những

chiếc nanh dài nhọn hoắt, nó đòi bà lão nộp mạng.

Song nghe bà lão nói, nó cũng bằng lòng cho bà lão

khất đến tối.

Bà lão lại bước thấp bước cao tiếp tục đoạn đường.

Thế là bất chấp mọi chuyện xảy ra, rốt cuộc bà lão

vẫn đến được cung điện. Bà ở lại chơi với con gái

56

ba ngày, lúc ra về sự bồn chồn lo lắng của bà không

giấu nổi Bí Đỏ, cô hỏi mẹ:

- Mẹ yêu quý, hãy nói cho con hay điều gì làm mẹ

lo lắng thế?

Bà lão bèn kể chuyện sư tử và chó sói đang đợi bà

trên đường trở về. Giọng bà run rẩy vì khiếp sợ.

- Mẹ yêu quý! Đừng sợ. - Cô con gái reo lên - con

đã có cách giúp mẹ.

Thế là cô chạy đi lấy quả bí đỏ mang lại, nói với

mẹ:- Mẹ hãy ngồi vào chỗ cũ của con, mẹ cứ tự lăn

về đến tận nhà.

Bà lão làm đúng như vậy, quả bí lăn đi. Sói xám

đứng chờ trên đường, hồi lâu thì thấy quả bí lăn

tới, nó chặn lại hỏi:

- Ê này, Bí Đỏ có vân! Trên đường tới đây mày có

57

nhìn thấy mụ già bé nhỏ không?

- Không, không có cái gì giống như vậy cả, quả Bí

Đỏ trả lời. - Ta lấy cốc rượu mà trong đó bộ râu

của đấng thiêng liêng đã nhúng vào và thề trên tất

cả các lớp vỏ lụa củ hành rằng, ta không trông thấy

gì ở trên đường lại có thể giống người, lại càng

không thấy gì giống một bà già cả. Và ta xin ngươi

hãy ném ta nhanh ra xa để ta tiếp tục cuộc hành

trình còn dài!

Bực tức, con sói xám hung ác lấy mõm hất quả Bí Đỏ

biết nói lăn đi, lăn thật nhanh thật xa và lao

thẳng vào chân chúa sơn lâm đang nóng ruột chờ.

Sư tử cũng hỏi như sói xám, và cũng nhận được câu

trả lời tương tự. Chúa sơn lâm đang hi vọng có một

bữa no nê, nay cụt hứng liền nổi cơn thịnh nộ, bờm

58

dựng ngược lên, nó tức giận vì nghĩ đã bị bà lão

lừa. Nó điên lên lấy mõm hất mạnh quả bí lăn xuống

dốc. Quả bí lăn thẳng một mạch về tới nhà bà lão.

Từ đấy, mỗi lần đi thăm con, bà lại chui vào quả

bí để nó tự lăn đến hoàng cung rồi lại đưa bà về.

CÔ BÉ BÁN DIÊM

Hôm đó là ngày cuối cùng của một năm. Màn đêm

buông xuống. Tiết trời lạnh đáng sợ. Mọi người đổ

ra đường đi đón giao thừa, họ đều mặc quần áo mới,

đi những đôi giày lông thật ấm áp, tay cầm những

món quà được gói thật đẹp. Trông họ thật hoan hỉ,

sung sướng.

Tuyết bắt đầu rơi, trên đường có một cô bé bán

diêm. Cô bé mặc một bộ quần áo cũ đầy những mảnh

vá, chân chỉ đi một đôi giày vải cũ, tay xách một

59

cái làn trong đựng đầy những que diêm. Cô vừa đi

vừa rao: “Ai mua diêm không? Ai mua diêm không?”.

Tiếng rao của cô như lọt thỏm giữa niềm hân hoan

của mọi người. Không có ai dừng lại để mua diêm cho

cô.

Người đi trên đường vắng dần, đôi chân cô lạnh

cóng, tê dại gần như mất hết cảm giác. Giờ này mọi

người đã về nhà cả, chẳng còn ai trên đường, thế mà

cô vẫn chưa bán được que diêm nào. Nhìn ngọn lửa

bập bùng trong những ngôi nhà bên đường, cô rất

muốn quay về nhà, nhưng không được.

Cô bé cũng đã từng có một ngôi nhà ấm cúng. Mẹ cô

rất yêu quý cô, nhưng vì bị bệnh nặng nên đã qua

đời. Từ ngày mẹ mất, cha cô buồn rầu rồi trở thành

một kẻ nghiện rượu, ngày nào cũng say khướt, ông ta

60

bắt con gái đi bán diêm, bán không hết thì không

được quay về nhà.

Cô bé đang nghĩ miên man. Đúng lúc đó một cỗ xe

ngựa lao tới. Cô bé giật mình vội chạy sang một bên

nhưng không kịp, cô ngã xoài xuống nền tuyết lạnh,

cái làn đựng diêm bị tung ra bẹp dúm, diêm rơi

khắp mặt đất. Đôi giày vải bị văng đi đằng nào. Bây

giờ cô đành phải đi chân không trên nền tuyết

lạnh.

Những que diêm đã bị rơi hết xuống đất và bị tuyết

làm cho ẩm ướt không thể dùng được nữa. Cô chỉ còn

bó diêm cuối cùng ở trong túi áo. Suốt cả ngày

không có ai mua diêm của cô. Cô không dám về nhà,

cô sợ bị người cha say rượu trừng phạt nặng nề. Cô

bé chụm tay hà hơi cho đỡ lạnh nhưng cũng chẳng ấm

61

lên chút nào.

Cô gái nhỏ đáng thương cứ đi mãi, đi mãi, đến

trước một ngôi nhà lớn, đôi chân trần lạnh cóng

không thể bước đi được nữa, cô đành phải dừng lại.

Trong nhà rèm cửa sổ vẫn vén, ánh đèn từ bên trong

hắt ra, cô ghé mắt nhìn qua cửa sổ, mọi người trong

nhà đang ngồi quây quần quanh một cái bàn. Lửa

trong lò bốc lên cao, cây thông năm mới nhấp nháy

đèn hoa được treo đầy những món đồ chơi nhỏ xinh

xinh. Cô bé trong nhà đang ôm trong lòng một món

quà mới được nhận, một con thỏ ngọc có đôi mắt đỏ

tròn xoe, bộ lông trắng như tuyết, còn cậu bé đang

vui thích ăn chiếc bánh kem thơm lừng mùi vani. Cô

bé bán diêm đứng ngoài cửa sổ, thầm nghĩ: “Bà mình

còn sống thì cũng cho mình đồ chơi, và mình cũng

62

được ăn ngon như thế”.

Một ngọn gió thổi mạnh. Cô co người lại. Cô nhìn

ra xung quanh như muốn xem có cách nào có thể làm

ấm hơn. Cuối cùng cô nghĩ tới bó diêm trong tay. Cô

rút ra một que diêm và quẹt vào tường. Que diêm

bốc cháy, cô vội khum bàn tay hơ vào ngọn lửa. Ngọn

lửa tuy bé tí tẹo nhưng cũng làm cho đôi bàn tay

của cô có cảm giác hơi ấm lên. Cô mơ màng cảm thấy

như mình ngồi bên lò sưởi, lửa cháy rừng rực và ấm

áp biết bao! Cô vừa duỗi chân ra sưởi ấm, ngọn lửa

liền tắt ngay, lò sưởi biến đâu mất. Trong tay chỉ

còn lại một khúc tàn diêm vừa cháy.

Cô cúi đầu nhìn bó diêm trong tay, thầm nghĩ:

“Mình sẽ đốt một que diêm khác, lò sưởi nhất định

sẽ hiện ra”. Cô bé lại quẹt diêm vào tường, que

63

diêm bốc cháy chiếu sáng một vùng. Cô ngắm nhìn

ngọn lửa chờ đợi, cô nhìn thấy một cái bàn thật

lớn, trên bàn có những chiếc đĩa thật đẹp bày đầy

những thức ăn ngon. Cô bé vui mừng đến trước cái

bàn, ngắm nhìn những món ăn bằng ánh mắt thèm

thuồng. “Nhất định là ăn ngon lắm đây”, cô bé nuốt

nước bọt. “Đây chắc là do bà ở trên trời gửi xuống

cho mình”, cô bé giơ tay định cầm lấy chiếc bánh

ngọt, bỗng cả bàn đầy thức ăn ngon lành biến mất

trong nháy mắt giống như cái lò sưởi, que diêm lại

tắt.

Cô lại bật que diêm thứ ba. Ngọn lửa dần sáng lên,

chiếu sáng cả xung quanh, sáng như ban ngày vậy.

Lúc đó, trong ánh sáng hiện ra một cây thông năm

mới rất lớn. “ôi! Đẹp quá!”, cô không dám tin vào

64

mắt mình nữa. Đúng là một cây thông năm mới rồi.

Trên cành thông treo đầy những ngôi sao nhỏ xíu đủ

màu sắc, lại còn bao nhiêu là cây nến đang cháy

sáng. Những ngọn nến cứ cháy mãi, làm cho đêm đông

cũng trở nên ấm áp.

“Ôi! Những ngọn nến mới đẹp làm sao, nó cũng toả

hơi ấm đây, mình phải sưởi tay mới được”. Cô bé giơ

đôi bàn tay lạnh cóng lên. Những ngọn nến trên cây

thông bỗng nhiên chuyển động xếp thành hàng dài

uốn lượn bay đi, phát ra ánh sáng lung linh trông

như một dải lụa. “Đẹp quá, chúng nhất định bay lên

trời rồi!”. Cô bé thẫn thờ nhìn những ngọn nến bay

lên trời biến thành những ngôi sao nhỏ xíu đang

nhìn cô.

“Giá mình cũng biến thành một ngôi sao thì tốt

65

biết bao, mình sẽ bay lên trời tìm bà”. Khi các

ngọn nến bay hết thì cây thông cũng biến mất. Cô bé

đứng trân trân nhìn lên bầu trời, bất động. Bỗng

vụt, một ngôi sao băng từ trên trời rơi xuống một

nơi rất xa. Cô bé lại nhớ đến bà.

Ngày bà còn sống, đêm nào bà cũng kể chuyện cho cô

nghe. bà thường bảo cô nếu trên trái đất này có

một người tốt bụng qua đời thì linh hồn của họ sẽ

được bay lên trời và trên trời sẽ rơi xuống một

ngôi sao băng, ngôi sao băng đó chính là giọt nước

mắt của Thượng đế. Cô bé thầm cầu xin: “Thượng đế

ơi hãy cho con gặp bà đi”. Cô lại rút ra một que

diêm và quẹt vào tường. Que diêm lại bốc cháy, cô

chăm chăm nhìn ngọn lửa chờ đợi. Qua ngọn lửa, cô

nhìn thấy một bóng người chầm chậm đi tới.

66

“Bà ơi!”, cô vui mừng reo lên. Bà mỉm cười giơ tay

về phía cô. Trong vòng tay âu yếm của bà, cô cảm

thấy không có gì ấm áp hơn. Cô vừa khóc vừa kể cho

bà nghe câu chuyện đau lòng của mình. “Bà ơi, cháu

nhớ bà lắm”, bà gật đầu nhìn cô trìu mến. Lúc này,

cô thấy ngọn lửa của que diêm ngày càng yếu dần, cô

sợ lửa tắt thì bà sẽ biến mất.

“Ôi!” cô bé kêu thất thanh. “Bà ơi, cháu không

muốn xa bà. Cháu muốn đi cùng với bà, bà đừng bỏ

cháu ở lại một mình”. Cô bé khóc nức lên, cô nắm

lấy áo bà như muốn giữ bà lại. Nhưng tay bà dần rời

ra và bóng bà cũng mờ dần.

“Nhất định cháu phải giữ bà lại”, cô bé vội vàng

lấy ra tất cả những que diêm còn lại quẹt lên

tường. Cả bó diêm bốc cháy, mọi vật bừng sáng, cô

67

bé lại cảm thấy bà đang ôm mình. Bà mỉm cười. Cô bé

bỗng cảm thấy người mình nhẹ bẫng, cúi đầu nhìn

xuống, thì ra cô đã rời xa mặt đất. Cô ôm chặt lấy

bà, bay mãi, bay mãi, hai bà cháu bay xuyên qua

những đám mây dày và bay lên trời, bay tới một nơi

không có giá rét, đói khát và đau buồn. Họ đã về

với Thượng đế.

CHÚ BÉ TÍ HON

Xưa có một bác nông dân nghèo. Buổi tối, bác

thường ngồi bên bếp lửa, nói với bác gái đang xe

chỉ:- Vợ chồng mình hiếm hoi thật là buồn. Nhà

mình tẻ ngắt, còn các nhà láng giềng thì thật là

vui vẻ nhộn nhịp.

Bác gái thở dài đáp:

- Giá được đứa con dù bé bằng ngón tay cái, tôi

68

cũng thoả lòng, chắc vợ chồng mình sẽ yêu quý nó

lắm nhỉ.

Được ít lâu, người vợ mang thai và bảy tháng sau

sinh được một cậu bé đầy đủ mặt mũi chân tay, nhưng

chỉ vừa bằng ngón tay cái.

Hai vợ chồng nói:

- Thật đúng như lời ước nguyện. Vợ chồng mình sẽ

yêu quý nó lắm nhỉ.

Vì cậu bé chỉ to bằng ngón tay cái nên họ đặt tên

là Tí hon.

Tuy hai vợ chồng cho ăn uống đầy đủ, nhưng Tí hon

vẫn không lớn lên được chút nào, vẫn bé xíu như lúc

mới đẻ ra. Được cái mắt nó sáng, có vẻ thông minh.

Chẳng bao lâu nó đã khôn ngoan khéo léo, làm gì

cũng được.

69

Một hôm, người bố sửa soạn vào rừng đốn củi, miệng

lẩm bẩm: “Giá ta có người đánh xe hộ thì tốt biết

mấy”. Tí hon bèn thưa rằng:

- Bố ạ, con đánh xe được, bố cứ tin ở con, thế nào

xe cũng đến rừng đúng lúc.

Bố cười nói:

- Con đánh xe thế nào được! Con bé quá, không cầm

nổi cương đâu.

- Không sao bố ạ. Nếu mẹ con thắng ngựa cho con,

con sẽ ngồi vào tai nó. Con thét một tiếng là nhất

định nó phải đi.

Bố nói:

- Được, để thử xem.

Mẹ thắng ngựa và đặt Tí hon vào tai ngựa. Nó thét

“Tắc, tắc” cho ngựa chạy. Thế là ngựa chạy như có

70

người đánh xe thật, và xe cứ thế chạy thẳng vào

rừng.Khi xe đến chỗ rẽ. Tí hon thét “Tắc, tắc” thì

có hai người lạ mặt chạy đến.

Một người nói:

- Trời ơi, chỉ nghe thấy tiếng, không thấy người

đánh xe mà xe lại cứ đi. Quái lạ nhỉ!

Người kia nói:

- Ừ, cũng lạ thật, ta thử đi theo xem xe ở chỗ

nào.Xe chạy thẳng một mạch vào rừng rồi dừng lại

đúng chỗ có củi đã đốn.

Tí hon thấy bố thì cất tiếng gọi:

- Bố ơi, bố thấy chưa, con đã đưa xe đến đây, bố

cho con xuống đi.

Bố chạy đến, tay trái nắm cương ngựa, tay phải

nhấc con ra khỏi tai ngựa, rồi đặt con xuống. Tí

71

hon vui vẻ ngồi lên một cọng rơm.

Trông thấy Tí hon, hai người lạ mặt sửng sốt không

nói lên lời.

Một người kéo bạn ra một chỗ và bảo:

- Này, nếu ta đem thằng nhóc này đi làm trò ở tỉnh

to thì phát tài đấy. Ta mua nó đi.

Hai người bèn đến bảo bác nông dân:

- Ông bán cho chúng tôi thằng bé này, chúng tôi sẽ

chăm sóc nó cẩn thận.

Người bố đáp:

- Không, nó là khúc ruột cắt đôi của tôi. Bạc vàng

trên cả thế gian này đối với tôi cũng không bằng

nó.Nghe thấy hai người hỏi mua, Tí hon níu lấy

quần áo bố trèo lên vai nói thầm:

- Bố ơi, bố cứ bán con đi, thế nào rồi con cũng về

72

được.

Ông bố liền bán con lấy một số tiền to. Hai người

kia hỏi Tí hon:

- Mày muốn ngồi đâu?

- Khó gì đâu, cứ để cháu lên vành mũ, cháu sẽ đi

đi lại lại trên ấy xem phong cảnh, cháu không ngã

đâu mà sợ.

Một người đặt nó lên vành mũ.

Sau khi Tí hon chào bố, hai người lạ mặt đem nó

đi, đi mãi. Đến xâm xẩm tối, Tí hon nói:

- Cho cháu xuống đất một lát, cháu cần lắm. Người

mang nó trên mũ nói:

- Cứ việc ở trên ấy, không có gì phiền đâu, chim

thỉnh thoảng vẫn ỉa trên ấy mà!

Nó nói:

73

- Không mà, cháu cũng biết cư xử thế nào cho phải,

ông cho cháu xuống mau đi.

Người ấy nhấc mũ, đặt Tí hon xuống ruộng gần vệ

đường. Nó lẩn ngay vào những cục đất, rúc vào một

cái hang chuột. Rồi nó lên tiếng chế hai người kia:

- Thôi chào hai ông, hai ông về với nhau nhé. Hai

người lấy gậy chọc vào hang chuột để bắt nó, nhưng

mất công toi vì Tí hon bò vào sâu quá.

Trời đã tối hẳn, hai người đành phải bỏ về tay

không.Khi họ đi rồi, Tí hon chui ở hang ra. Nó

nghĩ bụng: “Đêm tối mà cứ chệnh choạng ngoài đồng

thì nguy, vỡ đầu gãy cẳng như chơi”. May sao nó vấp

phải một cái vỏ sên. Nó chui vào và nói:

- Lạy chúa đêm nay con có chỗ ngủ yên rồi.

Vừa chợp mắt, thì nó nghe thấy có tiếng hai người

74

đi qua. Một người nói:

- Làm thế nào mà ăn trộm được vàng bạc của lão cha

xứ giàu sụ nhỉ?

Tí hon nói xen vào: - Để tôi bày mưu cho.

Một tên trộm hốt hoảng nói:

- Cái gì thế? Tao vừa nghe tiếng người nói.

- Các bác cứ đem tôi đi theo, tôi sẽ giúp cho.

- Nhưng mày ở chỗ nào cơ?

- Các ông cứ tìm tôi ở dưới đất, chỗ nào có tiếng

nói ấy.

Bọn kẻ trộm tìm mãi mới thấy Tí hon. Chúng nhấc nó

lên hỏi:

- Mày liệu giúp chúng tao được việc gì hở nhãi?

- Cháu sẽ luồn qua chấn song cửa sổ nhà cha xứ.

Các bác muốn lấy gì cháu chuyển ra cho.

75

- Được. Để xem tài mày ra sao.

Khi kẻ trộm đến nhà cha xứ, Tí hon chui vào buồng,

rồi thản nhiên hỏi rõ to:

- Các bác có muốn khoắng sạch cái buồng này không?

Bọn kẻ trộm sợ hãi bảo nó:

- Nói khẽ chứ, người ta thức dậy bây giờ!

Nhưng Tí hon tảng lờ như không nghe tiếng, lại hỏi

to:

- Các bác muốn lấy gì, khoắng sạch nhé?

Bà cụ làm bếp ngủ ở buồng bên cạnh nghe thấy, ngồi

nhỏm dậy lắng tai nghe.

Bọn kẻ trộm hốt hoảng toan lẩn ra nhưng lại trấn

tĩnh, cho là Tí hon trêu mình thôi. Chúng quay trở

lại khẽ bảo:

- Thôi nào đừng đùa nữa. Có gì thì chuyển ra đi

76

nào. Tí hon lại kêu thật to:

- Cháu chuyển tất cả nhé, giơ tay ra mà đón lấy.

Lần này bà già nghe thấy rõ mồn một, bước xuống

giường lò mò ra cửa. Kẻ trộm vội chạy bán sống bán

chết như ma đuổi. Bà già không thấy gì, bèn đi thắp

nến. Khi bà trở lại, Tí hon đã trốn vào đống cỏ.

Bà lục soát mọi chỗ không thấy gì, tưởng là mình mê

ngủ, lại lên giường nằm.

Tí hon nằm co ro trong đám cỏ khô, định ngủ đến

sáng mai rồi về nhà. Nhưng định thế này lại ra thế

khác. Chà, ở đời thật lắm nỗi gian nan! Trời vừa

tảng sáng, bà già đã dậy cho súc vật ăn. Trước tiên

bà vào kho, lấy một ôm cỏ, đúng ngay chỗ Tí hon

ngủ. Tí hon ngủ say quá, nên mãi đến khi vào mồm bò

rồi mới thức giấc. Nó kêu lên:

77

- Trời ơi! Tôi đã nằm trong cối bác nện dạ rồi!

Nhưng sau đó biết ngay là đã vào mồm bò rồi. Nó cố

tránh cho khỏi bị nghiến, thì bị nuốt trôi vào dạ

dày. Nó nghĩ bụng: “Gian nhà này không có cửa sổ,

chẳng thấy mặt trời, đèn đóm gì cả!”. Ở đây nó thấy

khó chịu lắm, khổ nhất là cỏ cứ tuôn mãi vào, chỗ

ở ngày càng thêm chật hẹp. Nó sợ quá kêu to:

- Đừng tuồn cỏ tươi vào nữa! Đừng tuồn cỏ tươi vào

nữa!

Lúc đó, bà già đang vắt sữa bò, không trông thấy

người mà lại nghe thấy tiếng nói y như tiếng đêm

qua. Bà sợ quá, đang ngồi ghế, ngã lăn ra khiến sữa

đổ lênh láng.

Bà vội đi tìm cha xứ mách:

- Quái lạ, bò nhà biết nói cha ạ. Cha xứ nói:

78

- Bà có nghe nhầm không đấy?

Rồi cha xuống chuồng bò xem thực hư thế nào. Cha

mới bước vào, đã nghe thấy tiếng Tí hon kêu to: -

Đừng tuồn cỏ tươi vào nữa!

Cha xứ cũng đâm hoảng. Cho là bò bị quỷ ám, cha

sai giết bò. Người ta làm thịt bò xong, quẳng ra

đống rác cái dạ dày có chứa Tí hon.

Tí hon loay hoay mãi mới thò được đầu ra, lại gặp

ngay sự chẳng lành: Một con chó sói đói bụng đi qua

đấy, nuốt chửng cả dạ dày lẫn nó. Tí hon vẫn yên

trí nghĩ bụng: “Có lẽ sói này bảo được”. Rồi từ

trong bụng sói, nó nói to:

- Cậu sói ơi, tôi muốn mách cậu một miếng ăn tuyệt

ngon.

Sói nói:

79

- Ở đâu thế?

Tí hon bảo cho sói biết nhà bố mẹ mình ở đâu và

nói:- Cậu cứ chui qua cống vào bếp thì cậu sẽ tha

hồ chén bánh ngọt, mỡ, xúc xích, đủ thứ.

Sói không đợi Tí hon phải nói hai lần. Đêm đến,

sói vội chui qua cống vào bếp chén thả cửa. Sói ăn

no phình bụng rồi, muốn ra không được, vì qua đường

cũ không lọt nữa. Tí hon đã tính trước đến mức đó.

Thế là ở trong bụng sói, Tí hon kêu la inh ỏi lên.

Sói nói:

- Mày có im đi không, người ta thức dậy bây giờ.

Tí hon đáp:

- Úi chà, cậu đã chén no nê rồi, tôi cũng phải

tiêu khiển chứ.

Nói xong nó lại hét ầm lên.

80

Bố mẹ Tí hon nghe tiếng, thức dậy chạy xuống bếp

ngó qua kẽ vách thì thấy sói. ông chạy đi lấy rìu,

bà lấy hái. Lúc vào, chồng bảo vợ:

- Bà đứng sau tôi, nếu tôi choảng một cái mà nó

chưa chết ngay, thì bà đâm vào bụng nó nhé.

Tí hon nghe thấy tiếng bố, reo lên:

- Bố ơi, con ở trong bụng sói đấy. Bố mừng quýnh

nói:

- Lạy Chúa! Đứa con vàng con bạc của tôi đã về đây

rồi.

Rồi bác bảo vợ vứt hái đi để con khỏi bị thương.

Đoạn ông giơ rìu lên, giáng cho sói một nhát chết

tươi. Sau bác lấy dao kéo mổ bụng sói, lôi Tí hon

ra.Bác nói:

- Ở nhà bố mẹ lo cho con quá.

81

- Thưa bố, con đã đi đây đi đó nhiều, may mà nay

con lại được thở không khí trong lành.

- Thế con đã đi những đâu?

- Bố ạ, con đã ở trong hang chuột, trong dạ dày

bò, trong bụng chó sói. Bây giờ con muốn ở nhà với

bố mẹ.

Bố mẹ ôm hôn con mà rằng:

- Từ nay dù được bao nhiêu tiền, bố mẹ cũng chẳng

bán con nữa đâu.

Rồi bố mẹ cho Tí hon ăn uống và may quần áo mới

cho nó, vì quần áo cũ đi nhiều đã rách hết.

CÔNG CHÚA NGỦ TRONG RỪNG

Thuở xưa có một vương quốc hùng mạnh, dân chúng

được sống ấm no, hạnh phúc. Nhưng mọi người vẫn

không vui bởi đức vua anh minh của họ mãi vẫn chưa

82

sinh được mụn con nào.

Đức vua và hoàng hậu đêm ngày cầu xin Thượng đế

ban cho họ một đứa con.

Những lời khẩn cầu của vua và hoàng hậu chắc đã

khiến Thượng đế động lòng, nên một thời gian sau,

hoàng hậu sinh hạ được một nàng công chúa vô cùng

xinh đẹp.

Tin vui bay đi khắp nơi, ngay lập tức có bảy bà

tiên tốt bụng đến hoàng cung chúc mừng.

Đức vua truyền bày một bữa tiệc thịnh soạn để thết

đãi các bà tiên.

Khi mọi người vừa định nâng cốc chúc mừng thì một

làn khói đen ào vào phòng, và một mụ phù thuỷ độc

ác, già nua xuất hiện.

Mụ cất giọng the thé, hằn học nói với đức vua và

83

hoàng hậu:

- Tại sao ngươi không mời ta dự tiệc? Vì lỗi lầm

của cha mẹ mà con gái các ngươi sẽ phải chịu hậu

hoạ!Mặc cho mụ phù thuỷ già tức tối, các bà tiên

bắt đầu ban phép màu cho công chúa.

Sáu bà lần lượt ban cho công chúa sắc đẹp, vẻ

duyên dáng, tài nhảy múa, giọng nói dễ thương và

năng khiếu âm nhạc.

Bà tiên thứ bảy chưa kịp lên tiếng thì mụ phù thuỷ

đã vung cây gậy đầu lâu lên, không cho ai nói thêm

một lời nào.

Rồi mụ cười độc ác và rít lên:

- Còn ta, ta chúc cô bé này sẽ bị một mũi suốt đâm

chết…

Mụ chưa dứt lời thì bà tiên thứ bảy đã giơ cây đũa

84

thần ra.

Bà nói ngay:

- Ta không thể xoá bỏ lời nguyền của mụ phù thuỷ,

nhưng ta có thể thay đổi chút ít. Ta chúc công chúa

dù có bị mũi suốt đâm cũng không chết. Nàng chỉ

ngủ một giấc dài một trăm năm, tới khi có một hoàng

tử đẹp trai, dũng cảm tới đánh thức nàng dậy.

Dù bà tiên thứ bảy đã nói thế, nhưng đức vua vẫn

bị lời nguyền của mụ phù thuỷ ám ảnh. Ngài truyền

cho thần dân trong khắp vương quốc phải đốt hết các

xa quay sợi.

Thời gian thấm thoắt trôi đi, công chúa lớn dần

lên trở thành một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần. Đức

vua và hoàng hậu sung sướng ngắm nhìn con và nghĩ

rằng lời nguyền khủng khiếp của mụ phù thuỷ già đã

85

được hoá giải.

Một hôm, công chúa đang dạo chơi trong hoàng cung,

chợt phát hiện ra một cánh cửa nhỏ, phía sau có

cầu thang dẫn đến một căn phòng bé tí.

Trong căn phòng ấy có một bà già đang ngồi quay

sợi.Công chúa chưa bao giờ được nhìn thấy cái xa

quay sợi, nên nàng thích thú đứng xem.

Rồi nàng tò mò muốn được làm thử xem sao. Bà già

đang quay sợi liền đứng ngay dậy nhường chỗ cho

nàng. Nhưng công chúa vừa quay được mấy vòng, đã bị

một cái suốt nhọn đâm vào tay và nàng lăn ra bất

tỉnh.

Bà già quay sợi nghĩ nàng đã chết, liền hiện

nguyên hình là mụ phù thuỷ già.

Mụ cười mãn nguyện, vừa bỏ đi vừa nói:

86

- Ha ha ha, thế là bây giờ cha mẹ ngươi sẽ phải ân

hận vì đã dám xúc phạm đến ta!

Trong khi ấy, ở hoàng cung, mọi người không thấy

công chúa đâu, vội đâm bổ đi tìm. Họ tìm khắp nơi

mà vẫn không thấy bóng dáng nàng.

Mãi lâu sau, vua cha và hoàng hậu mới tìm thấy

nàng trên căn phòng nhỏ. Đúng lúc đó, bà tiên thứ

bảy hiện ra.

Bà sai đưa công chúa về căn phòng đẹp nhất hoàng

cung. ở đó nàng có thể ngủ yên tĩnh cho tới thời

khắc nàng được tỉnh lại.

Bà tiên muốn sau một trăm năm nữa, công chúa không

bị lẻ loi một mình, nên lại vung chiếc đũa thần,

hoá phép cho mọi người trong lâu đài cùng ngủ như

công chúa. Phải một trăm năm sau, tất cả họ mới

87

cùng nhau tỉnh dậy.

Chỉ trong chốc lát, cả hoàng cung chìm trong yên

lặng.Để bảo vệ toà lâu đài, bà tiên còn hoá phép

tạo thành những bụi cây gai quây kín xung quanh.

Đám cây gai ấy dày đặc đến nỗi không một vật gì có

thể lọt qua được.

Và rồi một trăm năm cũng trôi qua. Một ngày kia,

có chàng hoàng tử trẻ trung, dũng cảm đi săn qua

vùng ấy. Chàng nghe mọi người kể lại chuyện về nàng

công chúa bị phù phép, liền muốn vào thăm toà lâu

đài cổ xem sao.

Chàng vung gươm chặt phá rừng cây gai để lấy lối

đi. Nhưng thật kì lạ, chàng chặt đến đâu, đám cây

kia lại ngay lập tức liền lại như cũ.

Chàng chưa biết làm cách nào phá được đám cây gai

88

kia, thì bà tiên thứ bảy bay tới. Bà tặng hoàng tử

một thanh gươm sáng như ánh chớp. Nhờ có lưỡi gươm

ấy, hoàng tử mới vượt qua được rừng cây gai, tiến

vào lâu đài.

Trong khi đó, từ trên đỉnh một ngọn tháp cao, mụ

phù thuỷ nhìn qua quả cầu phép thuật và biết hết

mọi chuyện.

Mụ tức giận đập quả cầu xuống bàn:

- Tên hoàng tử nhãi nhép kia, mi làm sao mà phá

nổi phép thuật của ta!

Rồi mụ hoá thành một con rồng khổng lồ bay đến

chặn đường hoàng tử.

Con rồng hung dữ lao tới, ào ào phun lửa, hòng đốt

cháy hoàng tử. Chàng vung lưỡi gươm thần quấn tròn

ngọn lửa lại, rồi dùng khiên hất lửa về phía con

89

rồng.Con rồng giận dữ nuốt gọn ngọn lửa và còn

định nuốt luôn cả hoàng tử. Nhưng hoàng tử đã nhanh

nhẹn tránh được lưỡi rồng và lao lưỡi gươm đâm

trúng cổ nó.

Con rồng đau đớn quằn quại, quẫy nát cả một vùng

cây cỏ, rồi hiện nguyên hình mụ phù thuỷ già. Mụ

gắng gượng mở mắt bất lực nhìn chàng hoàng tử dũng

cảm. Giây lát sau, mụ thở hắt ra gục xuống chết.

Bỗng nhiên trời quang mây tạnh. Nắng vàng ấm áp

toả khắp toà lâu đài cổ. Toà lâu đài im lìm hàng

trăm năm qua chợt sống động trở lại.

Cây cối đâm chồi nảy lộc, muôn loài hoa tranh nhau

đua nở khoe sắc hương. Hoàng tử chạy nhanh vào

hoàng cung, chàng đi đến đâu, mọi người, mọi vật

bừng tỉnh đến đấy.

90

Không ai biết rằng họ đã ngủ qua một trăm năm.

Cuối cùng, hoàng tử tìm được đến căn phòng lộng

lẫy, nơi công chúa vẫn đang thiêm thiếp giấc nồng.

Hoàng tử lặng người ngắm nàng công chúa kiều diễm,

rồi từ từ cúi xuống dịu dàng hôn nàng.

Lời nguyền của mụ phù thuỷ ngay lập tức được hoá

giải. Công chúa tỉnh giấc, ngỡ ngàng nhìn chàng

trai lạ.

Hoàng tử mỉm cười đỡ công chúa dậy, kể cho nàng

nghe mọi chuyện. Rồi chàng đưa công chúa tới gặp

vua cha và hoàng hậu. Đức vua hết lời cảm tạ hoàng

tử đã giúp cả vương triều của ngài tỉnh giấc và ngỏ

ý muốn gả công chúa cho chàng.

Hoàng tử sung sướng liền quỳ ngay xuống trước ngai

vàng xin được cầu hôn công chúa.

91

Mấy hôm sau, khắp vương quốc nhộn nhịp không khí

lễ hội. Thần dân vui vẻ chuẩn bị cho lễ thành hôn

của hoàng tử và công chúa.

Vào ngày cưới của họ, các vương quốc láng giềng lũ

lượt kéo sang chúc mừng, tấp nập suốt đêm ngày.

Bảy bà tiên đỡ đầu cho công chúa xưa kia cũng đến

dự. Các bà ban phép màu cho đôi uyên ương, chúc họ

những điều tốt lành nhất.

Chín tháng mười ngày sau, hoàng tử và công chúa

sinh hạ một hoàng tử con.

Hoàng tử con lớn lên, thông minh tuấn tú, dũng cảm

như cha; nhân hậu, tài năng như mẹ.

Toà lâu đài đã từng bị chìm trong giấc ngủ suốt

một trăm năm, giờ đây tràn ngập niềm hạnh phúc.

CON CHIM XANH

92

Ngày xưa, có một ông vua vợ mất sớm, để lại cho

ông một cô con gái xinh đẹp tên là Phlulina.

Ông lấy người vợ kế, bà này cũng có một cô con gái

riêng là Tlutôna, rất được mẹ yêu chiều. Ngày ngày

người vợ kế chỉ chăm lo trang điểm cho con gái

mình, còn để cho Phlulina ăn mặc xấu xí lam lũ. Hai

người con gái đều đã lớn, hoàng hậu đòi gả chồng

trước cho Tlutôna.

Nghe tin hoàng tử Xaman tới cầu thân, hoàng hậu

vội trang điểm cho Tlutôna thật lộng lẫy để ra đón

khách, nhưng hoàng tử không mảy may xúc động. Hoàng

tử hỏi:

- Thưa bà! Bà còn có một cô con gái nữa phải không

ạ!

Hoàng hậu đáp:

93

- Vâng! Một con bé xấu xí ấy mà!

Thấy Phlulina tuy ăn mặc xuềnh xoàng nhưng rất

xinh đẹp và hiền hậu, hoàng tử lập tức yêu cô ngay.

Chàng muốn lấy Phlulina làm vợ. Hoàng hậu giận

lắm, đợi cho hoàng tử ra về, liền đem Phlulina nhốt

vào trong tòa tháp cao. Cô gái đau khổ một mình

nằm trên sàn đất giá lạnh, tưởng nhớ tới hoàng tử

trẻ trung...

Để lấy lòng hoàng tử, hoàng hậu tặng chàng nhiều

đồ vật quý giá và đề nghị chàng cưới Tlutôna. Nhưng

hoàng tử nhất quyết từ chối, vì chàng chỉ yêu một

mình Phlulina mà thôi.

Về phần hoàng tử, khi biết Phlulina bị nhốt trong

toà tháp cao, chàng cho bọn cung nữ nhiều vàng bạc

và nhờ họ dẫn mình vào gặp công chúa Phlulina. Cung

94

nữ mật báo cho hoàng hậu biết, hoàng hậu vội đưa

Tlutôna vào thay chỗ Phlulina.

Một đêm trăng nọ, hoàng tử lén vào trong tháp, đến

bên cửa sổ. Chàng nhìn thấy một cô gái trùm khăn

kín mặt đang đứng đợi.

- Phlulina yêu quý, anh rất yêu em! Hãy cùng anh

trốn khỏi nơi này nhé!...

Chàng trai còn đeo nhẫn vào tay cô gái, cô muốn

Xaman đưa mình tới lâu đài mụ phù thuỷ Xuxiao để

tiến hành lễ cưới. Xaman bằng lòng.

Xaman tới lâu đài mụ phù thuỷ Xuxiao, ngẫu nhiên

nghe thấy cuộc nói chuyện giữa Xuxiao và Tlutôna

mới biết là mình đã bị lừa. Hoàng tử trẻ tức giận

lắm, liền nói với Xuxiao và Tlutôna rằng:

- Công chúa Phlulina ở đâu? Mau trả nàng cho ta!

95

- Có lẽ nào em không phải là công chúa của chàng?

- Tlutôna giơ bàn tay đeo nhẫn ra. - Đây là chiếc

nhẫn mà chàng đã đeo vào tay em, có lẽ nào chàng

không giữ lời hôn ước?

- Trời ơi, ta đã bị lừa! - Xaman kêu to.

- Ta không thể lấy một ả lừa đảo được. Ta phải

lập tức rời khỏi nơi này!

- Điều ấy đâu có dễ! - Mụ phù thuỷ liền giở pháp

thuật, ghìm chặt chàng trên mặt đất. - Bây giờ ta

cho ngươi lựa chọn: Hoặc là cưới Tlutôna, hoặc là

sẽ bị biến thành con chim xanh không được quay lại

đất nước của mình nữa.

- Cho dù có giết chết ta, ta cũng không bao giờ

lấy lũ ma quỷ!

Xuxiao nổi giận, biến hoàng tử thành con chim

96

xanh. Con chim xanh cất lên tiếng kêu bi thảm, vỗ

cánh bay khỏi lâu đài của mụ phù thuỷ Xuxiao.

Chim xanh bay khắp mọi nơi trong rừng để tìm người

yêu, hát lên những khúc ca ai oán kể về những nỗi

bất hạnh mà mình và Phlulina gặp phải. Không nản

lòng, chim lại bay về hoàng cung mong tìm kiếm được

tung tích Phlulina và chim đã tìm thấy công chúa

bị cầm tù ở trên tầng tháp.

Công chúa bị nhốt trong tháp đang cô đơn buồn

thảm, bỗng nghe thấy có tiếng nói:

- Hỡi Phlulina thương yêu, nỗi đau khổ của em cũng

chính là nỗi đau khổ của anh.

Công chúa giật mình kinh sợ, nói:

- Ai đang nói chuyện với tôi đó?

- Là hoàng tử đáng thương của nàng đây! - Chim

97

xanh bay lên bậu cửa sổ lầu tháp, nói. - Ta đã bị

mẹ kế và em gái Tlutôna của nàng lừa gạt, lại bị

phù thuỷ Xuxiao dùng pháp thuật biến thành chim

xanh đó!

Chim xanh thuật lại nỗi đắng cay của mình đã trải

qua, bày tỏ lòng thương yêu quý mến đối với công

chúa Phlulina. Công chúa rất cảm động. Nàng vừa

vuốt ve chim xanh, vừa kể cho chim nghe về nỗi bất

hạnh của mình. Họ trò chuyện cho tới lúc trời sáng

hẳn.

Từ đó, hàng đêm chim xanh và Phlulina lại gặp

nhau. Chim còn đem cả vàng ngọc từ cung vua đến

tặng cô gái yêu quý của mình. Đêm đêm, công chúa ăn

mặc lộng lẫy và đeo vàng ngọc lên cổ; chim xanh

say đắm ngắm nhìn cô. Ban ngày cô giấu đồ trang sức

98

xuống dưới gối.

Hai năm trôi qua, Phlulina càng xinh đẹp hơn và

càng vui vẻ hơn khiến cho hoàng hậu vô cùng tức

tối.Những kẻ thân tín của hoàng hậu đã phát hiện

ra điều bí mật ở trên lầu tháp. Chúng báo cho hoàng

hậu biết, hoàng hậu và Tlutôna lấy hết đồ trang

sức của Phlulina, hoàng hậu còn sai một cô gái luôn

cai quản Phlulina, để cô không gặp được chim xanh.

Một hôm, người hầu gái vì quá mệt nên đã ngủ quên.

Phlulina liền mở cửa sổ gọi chim xanh, lập tức

chim xanh bay đến bên cô. Cứ như thế, Phlulina và

chim xanh gặp nhau thêm vài lần nữa thì lại bị

hoàng hậu phát hiện. Bà ta liền nghĩ ra một kế độc

ác hơn...

Hoàng hậu sai người cắm đầy lưỡi dao nhọn trên

99

cành cây mà chim xanh thường đậu. Quả nhiên, hôm đó

chim xanh bị thương nặng, nó tưởng Phlulina đã hại

mình, về sau được sự giúp đỡ của những bạn bè tốt

bụng, chim đã trở về được vương cung của mình,

nhưng chỉ có thể ở trong lồng để tránh bị mèo và

các loài khác làm hại.

Các bạn bè lại chạy tới lâu đài Xuxiao để van nài

mụ giải thoát cho hoàng tử. Nhưng Xuxiao vẫn bắt

Xaman phải kết hôn với Tlutôna. Bởi vì Xuxiao là mẹ

nuôi của Tlutôna.

Không còn cách nào khác, các bạn đành phải chấp

nhận điều kiện của mụ. Họ đã đón Xuxiao và Tlutôna

tới vương cung. Xuxiao dùng gậy thần gõ ba cái,

Xaman lập tức trở lại thành người.

Ít lâu sau, nhà vua - cha của Phlulina qua đời.

100

Nhân dân bất mãn với sự thống trị bạo ngược của

hoàng hậu, vùng dậy đánh đuổi hoàng hậu độc ác và

cứu được công chúa Phlulina ra khỏi toà tháp cao.

Các đại thần mời Phlulina lên làm nữ hoàng, nhưng

nàng không sao quên được chim xanh. Nàng quyết tâm

đi tìm chim xanh yêu quý.

Một hôm, nàng đi tới bên dòng nước trong xanh thì

gặp một bà lão hiền hậu. Bà lão cho nàng biết Xaman

đã được giải thoát khỏi phép ma và trở lại làm

người, hiện đang ở trong vương cung của mình.

Công chúa không cầm được những giọt nước mắt xúc

động. Nàng kể hết nỗi bất hạnh của mình cho bà lão

nghe. Bà lão rất thương cảm trước cảnh ngộ của

nàng. Thế rồi bỗng nhiên bà lão biến thành một tiên

nữ trẻ trung xinh đẹp. Nàng tiên hiền từ nói:

101

- Đừng buồn! Em có thể sẽ được gặp lại Xaman. Chỉ

cần em tìm cách bước vào căn phòng “Tiếng vang của

vương cung”. Từ nơi đó em hãy kể hết tất cả mọi

điều cho Xaman nghe. Nguyện vọng của em nhất định

sẽ được thực hiện.

Nói rồi tiên nữ tặng cho công chúa một chiếc xe

chim bồ câu bay lái, đưa nàng tới đất nước của

Xaman.Tlutôna đang dạo trên con đường nhỏ ngoài

vương cung, bỗng nhìn thấy chiếc xe thần kì của

Phlulina, liền nói với nàng:

- Này, cô gái nghèo khổ, hãy bán chiếc xe của cô

cho ta, ta sẽ trả cho cô thật nhiều tiền vàng.

Phlulina nhận ra Tlutôna nên nói:

- Nếu bà cho tôi vào ngủ trong phòng “Tiếng vang

của vương cung” một đêm, tôi sẽ biếu bà chiếc xe.

102

- Được, ta chấp thuận.

Tlutôna bằng lòng.

Phòng “Tiếng vang của vương cung” được thiết kế

hết sức tinh xảo. Ai ở bên trong nói khẽ đến đâu,

hoàng tử ngủ ở trong phòng của mình cũng đều nghe

thấy được hết. Đêm hôm đó, sau khi mọi người ở

trong cung đều đã ngủ say, từ trong phòng “Tiếng

vang của vương cung”, Phlulina bèn kể hết nỗi niềm

tâm sự với hoàng tử.

Xaman nghe rõ tiếng nói của Phlulina, nhờ vậy hiểu

ra là mình đã hiểu lầm nàng. Lập tức Xaman từ trên

giường ngủ nhảy xuống đất. Chàng đánh thức người

hầu, đến phòng “Tiếng vang của vương cung” để tìm

Phlulina và quỳ dưới chân Phlulina xin nàng tha

lỗi.

103

Khi trời sáng, hoàng tử tuyên bố với quần thần

rằng mình sẽ lấy Phlulina làm vợ. Xuxiao vội chạy

tới can thiệp, nhưng tiên nữ đến giúp Phlulina liền

xuất hiện. Thì ra, tiên nữ chính là chị gái của

Xuxiao. Xuxiao xấu hổ quá bèn chạy mất.

Tlutôna biết chuyện, ả điên cuồng gào thét. Ả đã

phát hiện ra cô gái nghèo khổ chính là Phlulina,

kinh ngạc quá, ả cứ đứng như trời trồng. Tiên nữ

xinh đẹp niệm câu thần chú, biến ả thành một con

lợn, lạch bạch cái thân béo phệ chạy vào chuồng.

Trải qua bao nhiêu éo le đau khổ, hoàng tử Xaman

và Phlulina đã trở thành vợ chồng. Họ sống với nhau

vô cùng hạnh phúc.

TRÁI TIM DŨNG CẢM

Ngày xửa ngày xưa ở một vùng đất xa xôi, thuộc bờ

104

bên kia đại dương, có một bộ tộc người Anh-điêng mà

chúng ta quen gọi là người Da đỏ, sống bằng nghề

săn bắn.

Trong một túp lều nhỏ ven rừng, có một bà mẹ sống

với hai người con trai chưa đến tuổi trưởng thành.

Cậu anh rất khoẻ được mọi người gọi là Gấu nhỏ, đứa

em chậm chạp hậu đậu nên được gọi là Rùa con lề

mề. Một lần Gấu nhỏ đã dùng giáo đâm chết một con

trăn lớn, cứu sống một bạn săn bị nó quấn, nên được

tộc trưởng tặng cho một chiếc lông chim thiên

đường và phong danh hiệu “dũng cảm”.

Một hôm, Gấu nhỏ dũng cảm và Rùa con lề mề cùng

nhau lên núi tìm bắt đại bàng non. Hai anh em đi

sâu vào rừng, vượt qua một đầm lầy rồi tiến về phía

chân núi.

105

Nửa đường chúng bỗng thấy cây rừng xáo động, như

có một cơn lốc lớn bất ngờ tràn đến. Gấu nhỏ dũng

cảm mới kịp lên tiếng dặn em đề phòng có thể sắp

gặp thú đã thấy một mùi khét xộc đến nồng nặc và

một con cọp lớn lông vàng cháy xuất hiện trước mắt.

Gấu nhỏ dũng cảm lùi lại một bước, ngửa người về

phía sau, giơ cao cây giáo, rồi phóng mạnh vào con

cọp với tiếng thét:

- Mày hãy nhận lấy ngọn giáo của ta đây!

Ngọn giáo bay đi, cắm “phập” vào gốc cây sát bên

cọp. Con cọp gầm lên một tiếng dữ dội, quật đuôi

chồm lên Gấu nhỏ dũng cảm. Gấu nhỏ dũng cảm nhanh

nhẹn nhảy sang một bên, rút búa quần nhau với cọp

dữ.

106

Ngay khi nghe tiếng gầm khủng khiếp, Rùa con lề mề

đã quay đầu bỏ chạy. Nó chạy một mạch về đến túp

lều của mình thì ngã xuống vì kiệt sức.

Bà mẹ đi rừng kiếm củi, về đến cửa lều, thấy Rùa

con lề mề nằm bất tỉnh ở đấy, liền mang nó vào

trong lều cứu chữa.

Rùa con lề mề tỉnh lại, run rẩy kể cho mẹ nghe sự

tình. Bà mẹ giận quá lặng đi. Hồi lâu bà nghiêm

khắc và chậm rãi nói với Rùa con lề mề:

- Không một người thợ săn nào trong bộ tộc của

chúng ta lại bỏ mặc bạn săn của mình một mình đương

đầu với ác thú. Con hãy đi tìm anh con về. Nếu

không, con đừng bao giờ trở lại đây nữa.

Rùa con lề mề giắt dao bên người, cầm lấy ngọn

giáo, lủi thủi cúi đầu, bước theo con đường mình đã

107

đi qua hai lần trong ngày.

Khi tới đầm lầy thì trời sập tối. Rùa con lề mề sợ

hãi nhớ lại những câu chuyện của người già trong

bộ tộc kể về “con ma đầm lầy”. Nó thường biến thành

những cái cây khô trong đầm lầy, bất ngờ túm lấy

những người đi qua gần nó, đùa giỡn cho họ sợ đến

chết khiếp, cuối cùng từ từ dìm họ xuống tận đáy

bùn đen.

Rùa con lề mề đã toan quay lại, song nhớ đến đôi

mắt nghiêm khắc của mẹ, nó đành dùng giáo thăm dò,

rồi bập bõm bước trên những mô đất xám đen dưới ánh

trăng trắng lạnh, đang toả sáng mờ mờ trên mặt bùn

nhão nhoẹt.

Chỉ còn một đoạn ngắn nữa là đến nơi đất cao, cánh

tay Rùa con lề mề bỗng bị túm chặt bởi những cành

108

con xương xẩu. Liền đó những tiếng cười khành khạch

cất lên:

- Nhóc con! Đi đâu mà mò đến đây hả?

Nhìn kĩ, Rùa con lề mề thấy rõ hình người lẳng

khẳng với cái chân độc nhất cắm xuống bùn như một

cái cây khô. Tên Người cây này có cái đầu vuông với

cái mũi như một đoạn cành cụt dài cắm giữa mặt,

cái mồm là một lỗ hổng tối đen lấp ló một cái lưỡi

lân tinh, hai con mắt xanh lè đang trố ra nhìn Rùa

con lề mề.

Tim của Rùa con lề mề như rơi khỏi lồng ngực. Nó

cố giấu sự sợ hãi, lắp bắp nói:

- Thưa... Thưa ngài Ma đầm lầy tài giỏi. Tôi...

Tôi là Rùa con lề mề. Tôi... Tôi đi tìm ngài.

Cái hốc đen nơi đầu con ma đầm lầy mấp máy làm loé

109

lên những ánh lân tinh cùng với một giọng ngạc

nhiên:- Tìm ta? Ngươi tìm ta để làm gì? Rùa con lề

mề đã bình tĩnh trở lại:

- Thưa ngài. Tôi nghe nói ngài nhảy cao nhất trong

muôn loài. Tôi muốn tìm ngài để thi nhảy.

- Thi nhảy với ta. Ngươi không đùa đấy chứ? Thôi

được, ta cho ngươi nhảy trước.

Vừa nói, Ma đầm lầy vừa buông cánh tay đang bị nắm

chặt của Rùa con lề mề ra. Rùa con lề mề lấy sức

nhảy lên, nhưng chẳng cao hơn so với mặt bùn bao

nhiêu. Thấy Rùa con lề mề nhảy như vậy, Ma đầm lầy

cất tiếng cười khành khạch một hồi rồi bảo:

- Nhóc con. Giờ đến lượt ta. Nhìn đây!

Nó nhún cái chân độc nhất xuống bùn, rồi bật lên.

Cả người nó bay vút lên không trung, thoáng cái

110

không còn trông thấy đâu nữa. Lập tức Rùa con lề mề

co cẳng chạy thoát lên gò đất cao.

Khi Ma đầm lầy rơi xuống chỗ cũ thì không thấy Rùa

con lề mề đâu nữa, nó tức tối hét lên:.

- Đâu rồi? Mi đâu rồi? Á à! Mi đánh lừa ta ư. Ta

sẽ chìm. Ta sẽ chìm cho mà xem.

Nói xong cái thân hình lẳng khẳng của nó chìm hút

xuống bùn, loáng cái đã chẳng còn dấu vết gì.

Rùa con lề mề ngồi nghỉ một lúc, rồi tiếp tục đi.

Khi Rùa con lề mề đến nơi hai anh em gặp cọp thì

trời đã sáng.

Rùa con lề mề không thấy Gấu nhỏ dũng cảm và con

cọp đâu, nhưng lần theo dấu vết để lại trên mặt

đất, nó thấy mình phải đi về phía thung lũng đá của

Thần Núi. Chắc hẳn trong lúc cố thoát thân, Gấu

111

nhỏ dũng cảm đã vô tình chạy vào vùng núi mà bình

thường không một người nào trong bộ tộc nó dám bén

mảng tới.

Rùa con lề mề nhớ lại những câu chuyện của người

già trong bộ tộc kể về Thần Núi với cái thung lũng

đá này.

Cả một vùng trũng rộng lớn do Thần Núi cai quản

không hề có một cành cây ngọn cỏ nào, chứ đừng nói

đến một cánh chim hay một con thú. ở đó chỉ có đá

và đá. Đá mẹ đá con, đá xanh đá trắng, đá đứng đá

ngồi. Đâu đâu cũng chỉ thấy đá mà thôi.

Thần Núi thường hiện ra dưới dáng vẻ một cái cột

đá to, đứng lặng bên sườn đèo dẫn vào thung lũng.

Nếu có một người hay một cánh chim hoặc một con thú

nào lạc đến vùng này, thì một cánh tay đá bất

112

thình lình từ cái cột đá sẽ giơ ra và chỉ sau một

cái chạm nhẹ vào người, chim, thú kia là lập tức

mọi thứ đều biến thành đá ngay.

Tuy nhiên, Thần Núi có một nhược điểm là rất thích

nghe kể chuyện. Ngày đêm sống giữa cảnh bốn bề câm

lặng, ai mà chả thích được nghe người khác nói

chuyện với mình. Vì thế nên nhiều người dù đã bị

Thần Núi tóm được, nhưng lợi dụng nhược điểm này,

họ đã kể những câu chuyện hấp dẫn cho Thần Núi

nghe, rồi lợi dụng lúc Thần Núi say sưa gà gật mà

chạy thoát được.

Giờ đây Rùa con lề mề sẽ phải vượt qua một cái

đèo, hai bên sườn núi có những cột đá khổng lồ án

ngữ trông rất đáng ngờ.

Tuy vậy Rùa con lề mề chẳng còn con đường nào

113

khác. Nó lấy hết can đảm, thận trọng tiến lên từng

bước tới một quãng hẹp, bất ngờ một cánh tay đá từ

cái cột đá giơ ra chạm nhẹ vào bàn tay trái của Rùa

con lề mề, lập tức bàn tay này biến thành một khối

đá vuông vức. Khối đá rơi xuống đất và sức nặng

của nó làm Rùa con lề mề không làm sao nhấc tay lên

được. Nó như bị cái cùm đá giữ chặt tại một chỗ.

Một giọng ồm ồm vang lên từ tít trên cao, nơi đầu

cái cột đá mà bây giờ Rùa con lề mề trông đã rõ ra

dáng một hình Người đá khổng lồ:

- Nhóc con! Đi đâu mà mò đến đây hả?

- Thưa Thần Núi khổng lồ. Tôi là Rùa con lề mề.

Tôi đang đi tìm ngài.

- Tìm ta? Ngươi tìm ta để làm gì?

- Thưa, tôi tìm ngài để kể một câu chuyện.

114

Hai mắt Người đá sáng lên:

- Chuyện ư? Ngươi định kể với ta chuyện gì?

- Ngài có thể làm cho bàn tay tôi trở lại như cũ

được không? Nó nặng quá làm tôi khó thở chẳng nói

được.

Cánh tay đá của Thần Núi chạm nhẹ vào khối đá

vuông vức dưới đất, lập tức khối đá trở lại thành

bàn tay của Rùa con lề mề. Rùa con lề mề vừa lấy

bàn tay phải bóp bóp bàn tay trái cho đỡ tê, vừa

bảo Người đá:

- Ngài có thể cúi thấp xuống được không? Ngài cao

quá, làm tôi cứ phải hét lên, khản hết cả giọng.

Người đá khổng lồ liền rùng mình mấy cái. Mỗi lần

rùng mình, Người đá lại lùn xuống. Khi dừng lại thì

cái cột đá cao đã thành một khối đá thấp tròn to,

115

ở giữa là cái đầu đá tròn xoe đã ngang tầm với Rùa

con lề mề rồi. Cái đầu đá tròn xoe lim dim hai mắt

và từ cái mồm hệt như một cái hang, một giọng ồm ồm

thoát ra:

- Nào! Bây giờ ngươi hãy kể chuyện đi!

Rùa con lề mề dốc từ cái túi da hươu giắt ngang

lưng ra một vốc thuốc lá vào bàn tay phải của mình.

Đó chính là thứ mà rất nhiều người trong số chúng

ta bây giờ đang hút, nhưng hồi đó chỉ những người

Anh-điêng mới có.

Nắm chặt vốc thuốc lá trong tay, bất ngờ Rùa con

lề mề ném mạnh vào cái lỗ mũi sâu hun hút của cái

đầu đá.

Thần Núi hắt xì hơi liên tiếp. Sau mỗi lần hắt

hơi, cái thân hình đá béo tròn lùn tịt lại co lại

116

và cao lên mãi.

Trong khi Thần Núi còn bận hắt xì hơi thì Rùa con

lề mề đã chạy vượt qua đèo.

Sang tới bên kia đồi, Rùa con lề mề trông thấy

ngay cách đó không xa là Gấu nhỏ dũng cảm đang đứng

trên một tảng đá lớn sát vách núi, còn con cọp

đang loay hoay dưới chân tảng đá. Tảng đá khá cao,

khiến con cọp không nhảy hẳn lên được. Mỗi lần cọp

chồm lên, bám được hai bàn chân trước vào mép tảng

đá, thì lập tức đã bị Gấu nhỏ dũng cảm dùng dao găm

xỉa cho một nhát vào chân, khiến cọp lại phải nhảy

xuống. Gấu nhỏ dũng cảm cũng không thoát được khỏi

tảng đá, vì phía sau là vách đá cao dựng đứng, còn

phía trước ở dưới là con cọp.

Rùa con lề mề chạy đến, phóng mạnh cây giáo trong

117

tay vào cọp với tiếng thét:

- Mày hãy nhận lấy ngọn giáo của ta đi!

Cọp văng mình quay lại, nhưng ngọn giáo của Rùa

con lề mề cũng đã cắm được vào một bên sườn nó.

Con cọp bị đau, giận dữ chồm về phía Rùa con lề

mề. Rùa con lề mề rút vội dao ra. Gấu nhỏ dũng cảm

cũng nhảy từ trên tảng đá xuống. Hai anh em, kẻ

đằng trước, người phía sau, khiến cọp rất khó xoay

xở. Chẳng mấy chốc, cọp đã nhận được những nhát dao

chí tử của cả Gấu nhỏ dũng cảm và Rùa con lề mề.

Đau quá không chịu được, cọp gầm lên rồi cong đuôi

chạy mất.

Hai anh em Gấu nhỏ dũng cảm và Rùa con lề mề dắt

nhau ra về, đành để lần khác đi tìm bắt đại bàng

non vậy.

118

Khi chui vào túp lều của mình, cả hai anh em đã

ngửi ngay được mùi chè ngô nấu với mật mía thơm

phức, tỏa ra từ cái nồi treo trên bếp lửa bập bùng

giữa nhà. Chúng sà xuống bên bếp. Ánh lửa ấm cúng

nhảy múa trong đôi mắt trìu mến của mẹ, đang nhìn

cả hai anh em.

Hôm sau, trong buổi họp của toàn bộ lạc, người tộc

trưởng già đích thân cắm vào dải khăn buộc tóc của

Rùa con lề mề chiếc lông chim thiên đường và tuyên

bố trao tặng nó danh hiệu “dũng cảm”.

Từ đó, mọi người không còn gọi nó là Rùa con lề mề

nữa mà thay bằng Rùa con dũng cảm.

BẦY CHIM THIÊN NGA

Ởnơi xa, xa đây lắm, nơi chim nhạn bay đến vào mùa

thu, có một nhà vua có mười một con trai và một

119

con gái tên là Lidơ. Mười một con trai trẻ tuổi ấy

đều đeo thánh giá trên ngực và gươm bên mình. Ở

trường, họ viết trên những tấm bảng bằng vàng với

những con dao nhọn bằng kim cương, họ đọc thông và

rất thuộc bài. Họ thật xứng đáng là những hoàng tử.

Cô em út, nàng Lidơ, thường ngồi trên một chiếc

ghế bằng thuỷ tinh, tay cầm một cuốn sách có nhiều

tranh vẽ, riêng cuốn sách ấy cũng đáng giá bằng nửa

giang sơn của bất cứ một vua chúa nào. Họ sống rất

sung sướng. Nhưng chẳng được bao lâu, vua cha goá

vợ. Ngài tục huyền với một bà hoàng hậu độc ác, bà

chẳng yêu những đứa trẻ đáng thương kia chút nào,

ngay từ ngày đầu, lũ trẻ đã cảm thấy như vậy. Hôm

ấy, ở lâu đài mở hội và lũ trẻ được tham dự. Nhưng

thay vì bánh ngọt và táo nấu chín mà các hoàng tử

120

và công chúa thường được ăn, hoàng hậu chỉ cho họ

ăn cát và bảo rằng đối với họ như vậy là tốt lắm

rồi. Một tuần sau đó, mụ sai người dẫn công chúa

Lidơ đến ở trong một gia đình nông dân. Một hôm, mụ

nói với mười một hoàng tử:

- Chúng mày hãy cút khỏi nơi đây, đi khắp thế gian

mà kiếm ăn như những con chim đã đủ lông đủ cánh.

Nhưng mụ không thể làm hại họ như mụ mong ước, vì

họ đã biến thành một bầy thiên nga lộng lẫy, vừa

bay qua vườn thượng uyển và cánh rừng gần đấy vừa

cất lên những tiếng kì quái. Đến sáng, bầy thiên

nga bay qua túp lều, nơi công chúa Lidơ đang ngủ

trên chiếc giường xinh xắn. Bầy thiên nga lượn trên

mái nhà, vươn cổ ra và vỗ cánh ầm lên, nhưng chẳng

ai nhìn thấy và nghe thấy gì cả. Bầy thiên nga

121

tiếp tục bay, bay tít trên cao giữa các tầng mây,

mỗi lúc một xa. Cả bầy bay về phía khu rừng âm u

dọc bờ biển.

Cô bé Lidơ sống trong túp lều tranh. Chẳng có trò

chơi gì khác, cô đành chơi với mấy chiếc lá xanh.

Cô lấy kim chọc vào một chiếc lá và nhìn mặt trời

qua lỗ hổng. Cô tưởng tượng thấy những cặp mắt sáng

ngời của các anh và mỗi lần ánh nắng rọi vào má,

cô tưởng đó là những chiếc hôn nồng cháy của các

anh cô. Những ngày buồn bã lần lượt trôi qua. Khi

gió thổi qua bụi hồng trước nhà, gió hỏi hồng:

- Còn ai đẹp hơn các bạn nữa không. Cả khóm hồng

vừa lắc lư vừa nói:

- Có chứ, có nàng Lidơ!

Chủ nhật, khi bà cụ nông dân ngồi đọc kinh trên

122

ngưỡng cửa, gió đến giở các trang sách và hỏi:

- Còn có ai ngoan đạo hơn sách không?

- Có chứ, có nàng Lidơ!

Quyển sách đáp và hoa hồng cũng bảo là đúng như

thế.Năm mười lăm tuổi, Lidơ được trở về cung vua.

Nhưng hoàng hậu khi thấy nàng đã trở nên muôn phần

xinh đẹp, thì mụ lại không nén nổi sự tức giận. Mụ

muốn biến nàng thành thiên nga, nhưng mụ không dám,

vì đức vua muốn gặp mặt công chúa. Sáng sớm hôm

sau, hoàng hậu vào phòng tắm làm toàn bằng đá hoa,

có nệm êm và thảm rực rỡ phủ khắp phòng. Mụ bắt ba

con cóc, hôn chúng và bảo con thứ nhất:

- Cóc hãy nhảy lên đầu con Lidơ lúc nó vào tắm,

làm cho nó cũng sẽ đần độn như cóc.

Rồi mụ dặn con thứ hai:

123

- Cóc hãy bám vào trán nó, làm cho nó xấu xí như

cóc để cha nó không nhận ra nó nữa.

Sau cùng, mụ nói với con thứ ba:

- Cóc hãy bám vào tim nó, gợi cho nó những ý nghĩ

xấu để cho nó và những kẻ khác phải khổ sở.

Nói rồi mụ thả ba con cóc vào nước làm nước biến

ngay thành màu xanh ngắt, mụ gọi nàng Lidơ vào, cởi

quần áo cho nàng và bắt nàng phải tắm. Khi Lidơ

vừa bước vào bồn nước thì con cóc thứ nhất bám vào

tóc nàng, con thứ hai bám vào trán nàng và con thứ

ba bám vào ngực nàng. Hình như Lidơ không biết gì

cả và khi nàng bước ra khỏi bồn nước thì ba đoá hoa

anh túc nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Nếu cóc không

có nọc độc và mụ phù thuỷ không ôm hôn chúng thì

chúng đã biến thành ba bông hồng. Tuy nhiên, chúng

124

cũng đã biến thành hoa vì chúng đã bám vào đầu và

tim nàng Lidơ.

Vì nàng rất ngoan đạo và tâm hồn rất trong trắng

nên ma thuật không thể làm gì được nàng. Khi hoàng

hậu độc ác thấy thế, mụ bèn lấy nhựa vỏ trái hồ đào

xát vào người Lidơ làm cho nàng đen thui đi, mụ

còn xoa thuốc mỡ thối vào mặt nàng và làm rối bù bộ

tóc dài và đẹp của nàng. Không ai có thể nhận ra

nàng Lidơ xinh đẹp nữa, kể cả đức vua. Lidơ buồn

rầu, đau khổ, khóc lóc trốn khỏi hoàng cung. Nàng

đi mãi, đi mãi. Tới khu rừng già, nàng đi lang

thang trong rừng, đói khát và mệt lả... nàng nằm

xuống đám rêu, gối đầu lên rễ cây mà ngủ.

Tỉnh dậy, nàng thấy bên mình có nhiều trái cây

chín mọng. Nàng ăn những quả rừng ấy và thấy người

125

tỉnh táo khoẻ mạnh. Ngước mắt nhìn lên, nàng thấy

bầy sóc trên cây đang chăm chú nhìn mình một cách

trìu mến.

Nàng hiểu đó chính là chủ nhân của những quả rừng

mình vừa ăn.

Khi hoàng hôn buông xuống, Lidơ thất thểu đi về

phía bờ biển mênh mông, cô quạnh. Nước mắt nàng

chảy dài trên má. Bỗng nàng ngước mặt lên trời cao,

một đàn thiên nga trắng muốt đang bay về phía

nàng. Cứ mỗi con chim chạm đất lại biến thành một

chàng hoàng tử. Cuối cùng, cả mười một con chim đã

biến thành mười một hoàng tử chạy đến quây lấy

Lidơ. Nàng sung sướng kêu lên:

- Ôi! Các anh yêu quý của em!

Mười một người anh quây lấy em gái út, họ sung

126

sướng và ngạc nhiên vì Lidơ lại ở nơi này.

Anh em vui sướng khôn nguôi, họ kể cho nhau nghe

những ngày bất hạnh vừa qua.

Hoá ra ma thuật của mụ dì ghẻ đã biến mười một

hoàng tử thành mười một con thiên nga, nhưng khi

hoàng hôn buông xuống họ lại trở lại thành người.

Rạng sáng hôm sau họ lại biến thành chim...

Anh em Lidơ vui mừng quấn quýt bên nhau, nhưng

cũng xót xa tuyệt vọng cho hoàn cảnh của mình. Sau

nhiều ngày bàn bạc, họ quyết định phải bay qua đại

dương tìm đến một vương quốc xa xôi, nơi họ nghe

thấy có thể giải được ma thuật của những mụ phù

thuỷ.

Lidơ nói với các anh:

- Dù các anh đi đến tận cùng trời cuối đất, em

127

cũng không rời xa các anh nữa đâu!

Các hoàng tử trìu mến nhìn Lidơ:

- Được, các anh nhất định sẽ đưa em cùng đi. Theo

hoàng tử cả bảo thì xứ sở đó nằm ở phía bên kia bờ

biển. Đường tới đó rất xa. Muốn tới nơi phải vượt

biển cả mà giữa đường chỉ có một tảng đá nhỏ để trú

chân. Thế là mười hai anh em thức suốt đêm đan một

chiếc làn thật to bằng cói và cành liễu để đưa em

gái cùng đi.

Ngày hôm sau, khi mặt trời mọc, các anh nàng lại

biến thành thiên nga. Lidơ ngồi vào làn, mười một

con thiên nga cùng gắng sức kéo chiếc làn lên, vượt

qua biển bao la, nhằm hướng bên kia đại dương bay

tới. Một con bay lên cao hơn dang rộng đôi cánh che

cho nàng Lidơ đang ngủ thiếp trong làn.

128

Bầy thiên nga bay suốt ngày không nghỉ. Họ phải

cố bay tới được tảng đá ở giữa biển. Mặt trời lặn,

mười hai anh em vừa kịp đặt chân xuống tảng đá, họ

phải đứng chen chúc, mặc cho sóng đánh qua đầu, sấm

động rền vang, nền trời sáng rực như bốc cháy.

Mười hai anh em phải nắm tay nhau và cùng cất tiếng

hát để tăng thêm lòng dũng cảm.

Mặt trời vừa mọc, bầy chim lại cất cánh bay mải

miết. Cuộc hành trình kéo dài cho tới khi họ đặt

chân đến được đất nước xa lạ bên kia bờ đại dương.

Họ tìm được một hang núi và quyết định để Lidơ ở

lại đây. Ban ngày, đàn chim toả đi bốn phía để tìm

phép tiên, tối đến lại kéo nhau về quây quần bên

Lidơ.

Ngày tháng cứ thế qua đi. Đêm đêm Lidơ cầu xin các

129

đấng thần linh phù hộ.

Nàng thành tâm cầu khấn: “Hỡi thần linh cao cả,

xin hãy nghe lời cầu khẩn của đứa con gái bé nhỏ

này, xin hãy giúp các anh con được trở lại thành

người”.Một đêm, hang núi tự nhiên sáng rực. Một nữ

thần tuyệt đẹp với đôi cánh trắng muốt hiện ra nói

với Lidơ:

- Con hãy lấy sợi những cây tầm ma ở nghĩa địa,

đan thành mười một cái áo, khoác lên mình thiên

nga, các anh con sẽ được trở lại làm người. Nhưng

trong suốt thời gian đan áo, con không được nói.

Chỉ cần thốt ra một lời, các anh con sẽ chết.

Theo lời nữ thần, Lidơ tìm đến nghĩa địa, cắt

những cây tầm ma bóc lấy sợi. Cây tầm ma là một

loại cây đầy gai nhọn, chỉ cần chạm vào là da thịt

130

đã bị gai nhọn đâm thủng làm chảy máu và sẽ vô cùng

đau đớn.

Lidơ quyết tâm đan đủ mười một cái áo bằng sợi tầm

ma để cứu các anh mình.

Cả hai bàn tay Lidơ đều bị gai nhọn đâm chảy máu.

Khi trở lại thành người, các hoàng tử anh hốt hoảng

trước hai bàn tay đầy máu của em gái mình, họ định

vứt những sợi tầm ma và chiếc áo đan dở đi nhưng

Lidơ nhất định giữ lại. Mười một người anh thương

em vô hạn, đành ứa nước mắt đứng nhìn em đan áo.

Lidơ tuyệt đối không nói một lời nào, nàng luôn tay

không một phút ngưng nghỉ, đan hết chiếc áo này

đến chiếc áo khác.

Một hôm, quốc vương trẻ tuổi của xứ sở này đi săn.

Chàng đuổi theo một con thỏ vào trong hang đá, vô

131

tình trông thấy Lidơ. Quốc vương sững sờ khi nhìn

thấy một cô gái xinh đẹp lạ lùng, một mình trong

hang núi ngồi đan những chiếc áo bằng sợi tầm ma.

Chàng khẽ khàng hỏi:

- Nàng là ai? Vì sao lại một mình ở giữa rừng sâu

này?Mặc cho chàng hỏi han, dỗ dành, Lidơ chỉ mỉm

cười im lặng.

Quốc vương nghĩ: Một cô gái tuyệt vời thế này mà

không biết nói. Nhưng ta vẫn quyết lấy nàng làm vợ.

Chàng bế Lidơ lên ngựa, nàng nhất định không chịu,

chỉ khi quốc vương để nàng ôm theo những chiếc áo

và bó sợi tầm ma thì nàng mới chịu theo về cung.

Ngay hôm sau, quốc vương cử hành hôn lễ tưng bừng.

Cả triều đình xôn xao, ngơ ngác. Mọi người lấy làm

khó hiểu việc quốc vương chọn một người vợ câm mà

132

lại không rõ tung tích. Viên tể tướng của triều

đình rất muốn con gái mình trở thành hoàng hậu, nên

phao tin: Người con gái câm là một giống ma quỷ,

nó sẽ làm hại triều đình và cả đất nước. Mọi người

ai nấy đều lo sợ.

Một ngày kia, số sợi tầm ma Lidơ đem từ trong núi

về đã đan hết, mà chỉ mới xong được tám chiếc áo.

Giờ nàng đã là vương hậu, làm sao có thể đến nghĩa

địa lấy sợi tầm ma được đây. Song vì các anh, Lidơ

quyết định đợi đêm tối sẽ một mình làm việc này.

Giữa đêm tối mênh mông, bóng các ngôi mộ sừng

sững, im lìm khiến Lidơ vô cùng sợ hãi. Nàng giữ

chặt chiếc thánh giá đeo ở cổ, trong đầu luôn thì

thầm cầu xin thánh thần phù hộ che chở... và nàng

quỳ xuống bóc lấy bóc để những sợi tầm ma.

133

Nàng Lidơ không ngờ theo sau mình là đích thân tể

tướng và giáo chủ xứ này. Họ lẳng lặng về tâu lại

với quốc vương. Quốc vương bán tín bán nghi trước

hành động kì lạ của vợ mình. Để kiểm tra, hôm sau

quốc vương giấu bớt số sợi mà Lidơ vừa mang về nên

nàng chỉ đan thêm được hai chiếc áo nữa.

Sợi đã hết, đêm ấy, Lidơ lại một mình lẳng lặng đi

về phía nghĩa địa. Quốc vương, tể tướng và giáo

chủ kín đáo theo sau.

Giáo chủ thì thầm nói với quốc vương:

- Quả là không sai, vương hậu do một con quỷ biến

thành. Một người bình thường làm sao dám một mình

đến chốn này.

Quốc vương đau khổ và kinh tởm khi nghĩ đến đêm

đêm mình ôm ấp thương yêu một con quỷ. Lập tức ra

134

lệnh cho viên tể tướng sai quân lính bắt Lidơ đem

nhốt vào ngục tối, đợi ngày lên giàn thiêu theo

luật lệ của xứ này.

Để cứu các anh mình. Lidơ vẫn im lặng chịu đựng.

Một mình trong ngục, nệm trải giường là mười tấm áo

cứng thô bằng sợi tầm ma, còn gối là một bó tầm ma

đầy gai. Trong ngục tối, nàng vẫn miệt mài đan

tiếp chiếc áo cuối cùng. Chỉ còn một đêm nữa nàng

sẽ bị đem đi hành hình. Nàng lo sợ không kịp đan

xong áo. Mấy con chuột nhắt thương tình nhảy tới bó

tầm ma giúp nàng gỡ sợi.

Trong khi đó, quốc vương được cận thần cho biết

đêm qua có mười một chàng trai nài nỉ xin gặp ngài.

Trời vừa sáng, quốc vương bước ra khỏi cung điện,

nhưng chẳng thấy ai cả mà chỉ thấy trên trời một

135

bầy mười một con chim thiên nga đầu đội mũ miện

đang bay lượn, cất tiếng kêu ảo não.

Ngày hành hình đã tới, Lidơ bị dẫn ra giàn thiêu,

trên đường đi, hai tay nàng vẫn không ngừng đan áo.

Dân chúng trong thành đổ ra xem không ngừng la ó,

chửi rủa, ném gạch đá vào nàng... Đúng lúc ấy, mọi

người kinh ngạc thấy từ trên trời mười một con

thiên nga lao xuống lấy mình che cho nàng.

Giáo chủ ghé tai nhà vua:

- Đúng là một mụ phù thuỷ! Mười một con thiên nga

kia chính là pháp thuật của mụ.

Tể tướng lập tức sai lính nổi trống hành hình.

Nàng bị kéo lên giàn thiêu, trong tay vẫn ôm theo

bó áo tầm ma. Lửa đã được châm vào đống củi lớn.

Mười một con thiên nga vẫn bay lượn trên đầu,

136

không chịu xa nàng. Lidơ tung vội những chiếc áo

lên mình các con thiên nga.

Từng chiếc áo tầm ma vừa chạm vào chúng, lập tức

mười một con thiên nga biến thành mười một vị hoàng

tử khôi ngô tuấn tú. Hoàng tử trẻ nhất vẫn còn

mang một cánh chim vì chiếc áo của chàng còn thiếu

một tay.

Mãi lúc này, nàng Lidơ mới cất tiếng nói: - Tôi

không hề có tội.

Rồi nàng ngất đi trong tay các anh.

Mọi người bàng hoàng, sửng sốt. Các hoàng tử bèn

thuật lại những chuyện đã xảy ra. Quốc vương hạ

lệnh cởi trói cho nàng. Những bông hoa nở ra từ

những thanh củi định dùng để thiêu nàng. Nhà vua

ngắt lấy một bông, cài lên ngực nàng Lidơ. Nàng

137

tỉnh dậy, tràn trề hạnh phúc.

Tiếng chuông rộn rã khắp nơi. Từng đàn chim kéo

tới. Chưa bao giờ cung điện lại mở hội lớn đến thế.

Từ đó, nàng Lidơ xinh đẹp sống những tháng ngày

hạnh phúc bên những người nàng yêu quý.

ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ VÀ CON CÁ VÀNG

Ngày xưa, có đôi vợ chồng già không con cái, ở

trong túp lều rách nát bên bờ biển xanh. Ngày ngày,

ông lão đi chài lưới, còn bà lão ở nhà quay sợi,

vá may... Cuộc sống cô đơn cứ thế bình lặng trôi

đi, đôi vợ chồng già nương tựa vào nhau mà sống qua

ngày!

Một hôm, ông lão quăng lưới, vừa làm, ông vừa lẩm

nhẩm: ”Cầu xin biển cả vĩ đại! Cho con có miếng cơm

hôm nay!”. Ông kéo lưới lên, chỉ có những giọt

138

nước từ trong lưới rơi ra. Còn lưới thì trống

không, ông lão không hề buồn bã, lại chậm rãi quăng

lưới xuống lần thứ hai. Lúc kéo lên, trong lưới

chỉ có rong rêu, cỏ rác, chẳng mảy may có con cá,

con tôm nào mắc lưới cả. Không thở dài, không ngừng

nghỉ, ông lão lại chầm chậm quăng lưới lần thứ ba.

Miệng ông vẫn không ngừng lẩm nhẩm cầu xin biển cả

bao la hãy thương lấy vợ chồng ông! Lần thứ ba kéo

lưới lên, trong lưới có một con cá vàng óng, cá

cất tiếng người và nói với ông lão: “Cụ già ơi, xin

cụ thả tôi về với biển, tôi sẽ mang ơn cụ! Cụ cần

gì xin cứ nói, tôi sẽ đáp ứng ngay!”...

Ông lão vô cùng kinh ngạc, trong lòng pha chút sợ

hãi, vì ông làm nghề chài lưới bên bờ biển này đã

hơn ba mươi năm, nhưng chưa bao giờ ông thấy cá

139

biết nói cả. Ông vội vàng thả cá về với biển, và

nói với cá những lời thân thiết nhất:”Chúa sẽ phù

hộ cho mày cá ạ! Ta chẳng cần mày đền ơn gì cả, ta

đã quá già rồi, ta chẳng cần gì nhiều đâu! Thôi hãy

về với biển cả, hãy về chốn tự do của mày cá

nhé!”...

Cá lượn mấy vòng như muốn chia tay rồi từ từ lặn

xuống biển sâu thẳm.

Về đến nhà, ông lão kể mọi chuyện cho bà lão nghe.

Ông nói bằng một giọng vui vẻ, ấm áp như vừa chia

tay một người bạn thân thiết. Cuối cùng ông nói:

”Tôi đã thả cho nó về với biển và bảo nó rằng: Mình

già rồi, chẳng cần đòi hỏi gì nhiều! Con cá đã lưu

luyến chia tay tôi, trước khi bơi đi!”...

Không để cho ông lão nói xong, bà lão nóng nảy

140

ngắt lời:

- Trời ơi! Sao mà ông ngu đần, xuẩn ngốc đến như

vậy kia chứ! Sao lại không đòi cá phải đền ơn? ông

không thấy cái máng gỗ nhà mình đã nứt vỡ sao, sao

không xin cá cho mình một cái máng gỗ mới kia chứ?

- Thế là ông lão đi ra bờ biển, ông thấy mặt biển

lăn tăn gợn sóng. Bỗng cá vàng ngoi lên mặt nước,

bơi lại phía ông và cất tiếng hỏi: ”Chào ông lão!

Ông cần gì ở tôi không?”

Ông lão ngượng nghịu vái cá vàng một vái và lúng

túng nói:

- Cá vàng ơi! Xin cá giúp tôi một việc, bà lão nhà

tôi không để cho tôi được yên. Bà ấy cần một cái

máng gỗ mới, quả thật chiếc máng nhà tôi quá cũ kĩ

và nứt vỡ, không thể dùng được nữa!...

141

Cá vàng nhanh nhẩu nói:

- Có gì là khó đâu, ông hãy về nhà đi, nhà ông sẽ

có một cái máng gỗ mới ngay lập tức!...

Ông lão quay về nhà, quả nhiên ở giữa sân là một

chiếc máng gỗ mới tinh, nằm đúng chỗ chiếc máng cũ

kĩ, sứt mẻ vẫn nằm lăn lóc hàng ngày. Vừa nhìn thấy

ông lão ở đầu ngõ, bà lão đã tru tréo lên:

- Rõ là cái đồ đần độn, chả lẽ ông lại chỉ đòi một

chiếc máng gỗ, cái máng có đáng là bao, mau ra

biển cầu xin cá một chiếc nhà gỗ cho tử tế một

chút!Ông lão lại quay ra biển, lúc này mặt nước

biển lô xô sóng dậy, không còn lăn tăn êm ả như lúc

đầu nữa. Ông lão gọi tên cá. Cá vàng liền nổi lên

và cất tiếng: “Chào ông lão, ông cần cái gì nữa

đây?”.

142

Ông lão vái cá vàng một vái và nói:

- Cá vàng ơi! Xin cá rủ lòng thương, bà lão nhà

tôi kêu gào chẳng để tôi yên. Bà ấy cần một căn nhà

gỗ...

Cá vàng lập tức đáp lời:

- Ông không phải áy náy gì cả! Cầu Chúa phù hộ cho

ông! Ông bà sẽ có nhà mới bằng gỗ! Thôi ông hãy

quay về nhà đi!

Ông lão quay về chỗ nhà cũ, căn nhà rách nát không

còn nữa. Trước mắt ông là căn nhà gỗ khang trang

lợp ngói đỏ rực. Đỉnh nóc nhà nhọn hoắt là chiếc

ống khói màu trắng cao vút. Cửa ra vào và cửa sổ

đều làm bằng gỗ mun đen nhánh...

Bà lão đang ngồi bên cửa sổ, vừa nhìn thấy ông lão

quay về, bà đã chỉ tay vào mặt ông và nói như rít

143

lên:- Thật là đồ ăn hại, đồ ngu xuẩn đần độn, chỉ

đòi một cái nhà gỗ quê mùa này thôi ư? Nên nhớ rằng

ta không muốn là một người đàn bà bình dân nữa. Ta

phải là quý tộc! Một bà quý tộc hiểu chưa?...

Ông lão không kịp hé lời đã phải lủi thủi đi ra

biển, lúc này mặt biển bắt đầu cồn lên. Ông lão

buồn bã cất tiếng gọi cá, cá vàng nổi lên và cất

tiếng hỏi: “Ông cần gì nữa, mau nói nhanh lên!”.

Ông lão vái cá một vái và nói:

- Bà lão nhà tôi bị điên thật rồi, bà ấy không

muốn là người bình thường nữa mà chỉ thích được làm

một bà quý tộc thôi!

Cá vàng trả lời ngay:

- Chẳng có gì phải áy náy cả, ông cứ quay về đi,

Chúa sẽ phù hộ cho ông!...

144

Ông lão lầm lũi bước đi, lòng buồn bã. Lúc đến nhà

vừa ngẩng đầu lên, ông lão vô cùng sửng sốt thấy

bà lão đứng trên bậc thềm cao, trên mình khoác bộ

quần áo màu mè loè loẹt, đầu đội mũ dát bạc thêu

kim tuyến là biểu tượng của giới quý tộc. Trên cổ

và hai tay đeo đầy vàng bạc, đá quý. Dưới chân đi

một đôi hài da nai màu đỏ rực. Bà ta đang quát nạt

gia nhân và đuổi ông xuống ở chuồng ngựa.

Hôm sau, bà lão quý tộc lại giở chứng như những

lần trước. Lần này, bà ta lồng lộn mắng nhiếc ông

lão nặng lời hơn. Đang đêm, bà đi xuống chuồng ngựa

bắt ông lão phải ngồi dậy nghe bà quát mắng, dọa

nạt:

- Bước ngay ra biển, đi ngay bây giờ, nói với cá

vàng ta đã chán làm một mụ quý tộc bị thịt hèn mọn

145

rồi. Ta muốn làm nữ hoàng, tự do ngang dọc, tự do

hành động, sai khiến được hết mọi người!...

Nghe mụ ta nói vậy, ông lão sợ hãi, giật bắn

người, ông khẩn cầu nài nỉ:

- Hỡi bà quý tộc, hỡi bà lão yêu quý của tôi! Bà

bị điên rồi sao? Đến việc đi lại, nói năng bà còn

chưa biết xử sự làm sao cho phải, thì sao bà lại

đòi làm nữ hoàng được, bà định làm trò cười cho bàn

dân thiên hạ hay sao?...

Bà lão “quý tộc” lập tức nổi trận lôi đình, hùng

hổ bạt tai ông lão, khiến ông loạng choạng quay mấy

vòng, hai tai ù lên... Mụ ta rít lên từng tiếng:

- Ngươi dám tranh cãi với ta sao? Đi ra biển ngay,

nếu không ta sẽ cho đám gia nhân lôi đi bây

giờ!...Thế là ông lão chân thấp chân cao bước ra

146

biển. Mặt biển bỗng tối sầm, sóng dữ chồm lên từng

đợt, từng đợt lao vào bờ, dồn dập tung bọt trắng

xoá dưới chân ông lão. Ông nhẫn nhục khe khẽ gọi cá

vàng. Cá vàng nổi lên, bơi đến chỗ ông lão và hỏi:

- Cần việc gì nữa, hở ông lão đánh cá già nua?

Ông lão kể lại mọi chuyện với cá sau khi vái cá

liên tiếp hai ba vái. Ông nói bằng một giọng buồn

bã, xấu hổ như một người mắc trọng tội. Cá an ủi

ông: “Chẳng có gì phải áy náy cả. Chúa sẽ phù hộ

cho ông! Ông hãy về đi, vợ ông sẽ trở thành nữ

hoàng!”... Ông lão quay trở về, trước mặt ông là

đông đảo quân lính nai nịt, mũ mão gươm giáo sáng

loà đứng canh xung quanh cung điện. Bà lão giờ đây

là một nữ hoàng uy nghi, ngự trên ngai sơn son

147

thiếp vàng lộng lẫy. Xung quanh bà là những viên

đại thần đầy uy quyền, kẻ hầu người hạ chạy tới

chạy lui. Tất cả toát lên một không khí trang

nghiêm cung kính. Tất cả rực lên một màu vàng son

choáng ngợp. Bà lão đang được vô số kẻ hầu người hạ

dâng lên những thứ ngon vật lạ, họ cung kính dâng

lễ vật lên ngang tầm tay của bà.

Bà lão giờ đây đã thực sự là một nữ hoàng quyền uy

lừng lẫy. Cảnh gươm giáo sáng loà, vàng son rực

rỡ, binh lính nai nịt rầm rập qua lại với những

tiếng quát tháo thét gọi, những tiếng vâng dạ khép

nép đầy khiếp sợ... đã khiến ông lão kinh hồn, ông

chắp hai tay quỳ xuống và tâu: ”Kính chào nữ hoàng

uy nghiêm, chắc bà giờ đây đã mãn nguyện rồi chứ

ạ!...”.

148

Bà lão liếc mắt nhìn xuống, lập tức đám lính ùa

tới lôi ông lão ra ngoài. Chúng vung gươm đặt ngay

cổ ông lão và quát: “Tha cho tội chết, hãy cút xéo

ra khỏi đây ngay lập tức!”.

Dân chúng từ xa chứng kiến cảnh đó đã cười với

nhau, họ nói: “Thật là một ông già ngốc nghếch, với

thân phận con sâu, cái kiến mà cũng dám bước vào

cái chốn uy nghiêm ấy. Âu đó cũng là bài học cho kẻ

không biết về thân phận mình!”.

Và thời gian cứ thế trôi đi được vài ba tuần lễ.

Một hôm, bà lão lại nổi cơn giận dữ, bà đòi ông

lão lên để truyền lệnh.

Vừa trông thấy ông lão, bà đã quát lớn: “Bước ngay

ra biển, nói với cá vàng rằng ta chán làm một nữ

hoàng trên mảnh đất bẩn thỉu này rồi. Ta muốn làm

149

long vương, như vậy ta sẽ được dọc ngang trên mặt

biển. Chính cá vàng phải đến để thực hiện các mệnh

lệnh của ta!”...

Ông lão thật sự kinh hoàng khi nghe được lệnh ấy;

nhưng ông quá sợ hãi không dám cãi lại, thậm chí

không cất nổi nên lời. Và ông lại quay ra bờ biển.

Mặt biển lúc này đang sục sôi sóng lớn, tất cả là

một màu đen khủng khiếp. Sóng biển gầm gào chồm

lên, cuộn xuống đầy giận dữ. Ông lão khe khẽ gọi cá

vàng, vừa gọi cá, ông vừa khóc nức nở. Cá vàng

hiện lên và hỏi: “ông cần gì nữa đây?”.

Ông lão kể hết sự tình với cá, ông cầu xin cho bà

lão trở thành nữ bá vương của biển cả! Cá vàng

không nói một lời nào, chỉ quẫy đuôi và lập tức lặn

sâu xuống biển lớn đang ầm ào sóng dữ!...

150

Ông lão đợi một lúc lâu mà không thấy hồi âm gì,

đành quay trở về. Đến gần chỗ cung điện, ông lão

ngạc nhiên vì trước mắt ông là túp lều tranh rách

nát năm xưa của mình. Bà lão già nua nhăn nhúm đang

ngồi ủ dột trên bậc cửa. Trước mặt bà lão vẫn là

chiếc máng gỗ vỡ nát cũ kĩ đã dùng từ bao năm nay

rồi!...

ĐỒ BỎ XÓ

Ngày xửa ngày xưa, có một người thợ xay bột nghèo

nhưng lại có một cô con gái xinh đẹp.

Có lần do tình cờ mà bác được nói chuyện với nhà

vua. Để được nhà vua lưu ý, bác tâu:

- Tâu bệ hạ, tôi có một đứa con gái kéo được rơm

thành vàng.

Vua bảo bác thợ xay bột:

151

- Đó là một nghề hiếm người làm được, nghề ấy trẫm

rất quý. Như lời ngươi nói thì quả con ngươi khéo

lắm, mai ngươi dẫn nó vào cung, ta muốn thử tài nó.

Khi cô gái đến, nhà vua đưa cô vào một cái buồng

chất đầy rơm, cho đem guồng và ống lõi lại và bảo:

- Giờ ngươi làm đi, từ giờ cho tới sáng mai mà

ngươi không kéo được hết chỗ rơm này thành vàng thì

người phải tội chết chém.

Rồi chính tay nhà vua đóng cửa buồng, để cô gái

một mình ở trong đó.

Cô con gái bác thợ xay thật tội nghiệp, cô ngồi

bần thần cả người, nhưng không nghĩ ra được kế nào

để thoát chết. Cô đâu biết cách kéo rơm thành vàng.

Sự lo sợ ngày càng tăng, cuối cùng cô òa lên khóc.

152

Bỗng nhiên cửa từ từ mở ra, một người tí hon bước

vào và nói:

- Chào cô gái con bác thợ xay bột, tại sao cô lại

khóc nức nở thế này?

Cô đáp:

- Trời ơi, cháu phải kéo rơm thành vàng, việc đó

cháu đâu biết.

Người tí hon nói:

- Cô sẽ thưởng cho tôi cái gì nếu tôi kéo rơm

thành vàng cho cô?

Cô gái đáp:

- Cháu xin biếu bác chiếc vòng đeo cổ của cháu.

Người tí hon nhận chiếc vòng đeo cổ, rồi ngồi

xuống bên cạnh chiếc guồng sợi và quay, tiếng quay

tít vo vo, chỉ quay ba lần đã đầy ống. Người tí hon

153

lắp ống khác vào. Vo, vo, vo, guồng quay ba lần là

ống thứ hai lại đầy. Cứ như vậy cho đến sáng thì

quay xong tất cả chỗ rơm, tất cả các ống đều đầy

sợi vàng.

Mặt trời vừa ló đằng đông thì nhà vua đã tới. Nhìn

thấy vàng, nhà vua vô cùng ngạc nhiên, nhưng trong

lòng mừng lắm, lòng tham tức khắc nổi lên.

Vua ra lệnh dẫn cô gái sang căn buồng khác lớn

hơn, rơm chất tận nóc và ra lệnh nếu cô muốn sống

thì một đêm phải kéo hết chỗ rơm ấy thành vàng.

Cô gái chẳng biết làm thế nào lại đành ngồi khóc.

Lần này cánh cửa cũng từ từ mở ra, người tí hon

xuất hiện và nói:

- Cô thưởng cho tôi cái gì nếu tôi kéo rơm thành

vàng cho cô?

154

Cô gái đáp:

- Cháu xin biếu bác chiếc nhẫn đeo tay của cháu.

Người tí hon nhận chiếc nhẫn, và bắt đầu quay

guồng, tiếng guồng quay vo vo đều đều, hết đêm tới

sáng thì kéo xong toàn bộ số rơm trong buồng thành

những sợi chỉ vàng óng ánh.

Nhìn đống sợi vàng, vua mừng rỡ không kể xiết,

nhưng lòng tham vàng vẫn chưa dừng lại. Vua cho cô

gái con bác thợ xay bột sang một căn buồng khác lớn

hơn nữa, rơm chất đầy lên tận nóc. Vua ra lệnh:

- Ngươi phải quay guồng nốt đêm nay. Nếu hoàn tất

được, ngươi sẽ là hoàng hậu của ta.

Vua nghĩ bụng: “Tuy đó chỉ là con gái một tên thợ

xay bột, nhưng mình tìm đâu ra một người vợ giàu có

hơn nữa trên thế gian này”.

155

Khi chỉ còn lại một mình cô gái trong buồng, lần

thứ ba người tí hon lại đến và nói:

- Cô thưởng cho tôi cái gì nếu lần này tôi cũng

kéo rơm thành vàng cho cô?

Cô gái đáp:

- Cháu không còn gì để biếu bác cả.

- Vậy cô có đồng ý hứa với tôi, nếu cô thành hoàng

hậu thì cho tôi đứa con đầu lòng của cô nhé.

Cô gái con bác thợ xay bột nghĩ bụng, ai mà biết

trước được chuyện đời sẽ đi đến đâu.

Mà biết làm thế nào được, giờ chẳng còn cách nào

khác. Cô hứa làm theo lời yêu cầu của người tí hon.

Một lần nữa người tí hon lại quay rơm thành sợi

vàng cho cô.

Sáng hôm sau, vua đến thấy mọi chuyện hoàn tất như

156

mình mong muốn nên cưới cô làm vợ; thế là cô gái

con bác thợ xay bột trở thành hoàng hậu.

Một năm sau, hoàng hậu sinh được đứa bé rất kháu

khỉnh và quên bẵng đi chuyện hứa với người tí hon.

Đang lúc vui mừng như vậy thì bỗng nhiên người tí

hon xuất hiện và nói:

- Bây giờ cô hãy đưa cho tôi cái cô đã hứa trước

kia.Hoàng hậu hoảng hốt sợ hãi, xin người tí hon

để lại cho bà đứa con, bà sẵn sàng đổi lại tất cả

của cải châu báu của vương quốc.

Người tí hon đáp:

- Không được, tất cả của cải trên thế gian này đối

với tôi không quý bằng chút động đậy của sự sống.

Không biết làm sao bây giờ, hoàng hậu òa lên khóc

thảm thiết, khóc than đến nỗi người tí hon phải

157

động lòng thương và bảo:

- Thôi, tôi hẹn cho cô ba ngày, tới ngày thứ ba

nếu cô biết được tên tôi thì cô được giữ con trai

lại.Thế là hoàng hậu trằn trọc suốt đêm, cố nhớ

lại những tên mình đã từng nghe thấy, đồng thời cho

sứ giả đi khắp nơi trong nước dò hỏi xem còn những

tên gì nữa trong dân gian.

Ngày đầu tiên người tí hon đến, hoàng hậu kể các

tên mà bà biết: Kátspar (người giữ kho vàng cho

vua), Mênxior (vua ánh sáng), Banxơ (Trời phù

hộ)... bà lần lượt kể hết tên này đến tên khác,

nghe xong mỗi tên người tí hon lại nói:

- Tên tôi không phải như vậy.

Ngày thứ hai hoàng hậu lại cho người đi khắp vùng

lân cận hỏi xem liệu có những tên gì khác nữa

158

không. Rồi bà kể cho người tí hon nghe những tên

hiếm có và kì lạ.

- Phải chăng bác tên là Riphenbiy (gầy giơ xương

sườn), Hatnêlavađơ (bắp vế đùi cừu) hay là Snuyabai

(chân cò hương)...

Nhưng luôn bị người tí hon đáp: - Tên tôi không

phải như vậy.

Ngày thứ ba, sứ giả đi dò hỏi và trở về kể:

- Thần không tìm ra một tên mới nào cả. Nhưng thần

tới một ngọn núi cao phía góc rừng, nơi đây thanh

vắng lắm, thì thần nhìn thấy một căn nhà nhỏ. Trước

nhà là một đống lửa đang bùng cháy, một người tí

hon dáng vẻ nực cười đang nhảy nhót xung quanh đống

lửa, mà lại nhảy lò cò một chân và hát nghêu ngao:

159

Hôm nay nướng bánh, ngày mai nấu bia, Ngày kia đi

đón con vua đem về

Đề huề sung sướng ai hay

Tên “Đồ bỏ xó” gặp may chuyến này.

Các bạn có biết hoàng hậu mừng thế nào khi nghe

thấy cái tên ấy không?

Chỉ một lát sau người tí hon bước vào và hỏi: -

Giờ hoàng hậu biết tên tôi là gì chưa?

Hoàng hậu giả vờ hỏi lại:

- Phải chăng tên bác là Gun (táo bạo)?

- Không phải.

Phải chăng tên bác là Haixơ (hùng cường)?

- Không phải.

- Chắc có lẽ tên bác là Rumpênstinxen (đồ bỏ xó)

phải không?

160

- Chỉ có quỷ nói ngươi mới biết, chỉ có quỷ nói

ngươi mới biết.

Người tí hon tức tối la ầm lên và không ngừng giậm

chân xuống đất, hắn giậm chân mạnh đến nỗi người

hắn lún mãi xuống đất sâu.

BA ĐỒNG XU THỪA KẾ

Có cặp vợ chồng già chỉ sinh hạ được một đứa con

trai duy nhất. Một ngày nọ, ông lão lâm bệnh. Cảm

thấy mình sẽ không còn sống được bao lâu nữa, ông

cho gọi con trai đến và nói:

- Toàn bộ gia sản này sẽ là của con. Con phải biết

quản lí tài sản của mình.

Nói đoạn, ông già đưa cho con trai ba đồng xu.

Người con nhận tiền của cha và lạy tạ cha.

Ông già qua đời, người con trai mai táng cha rất

161

chu tất.

Một bữa nọ, chàng trai sang làng bên cạnh với ba

đồng xu trong túi: “Biết mua gì đây, cai quản tài

sản của cha như thế nào nhỉ?” - Bỗng chàng thấy một

đám người dùng sợi dây kéo một con chó.

- Các ngươi kéo con vật đi đâu thế? Các ngươi định

làm gì nó? - Chàng hỏi.

- Bọn ta kéo nó vào rừng để giết. - Bọn người kia

trả lời. - Con vật già rồi, nó chẳng giúp ích được

gì cho chúng ta nữa.

Chàng động lòng thương xót con chó.

- Đừng giết nó, hãy đưa nó cho ta. Ta sẽ chuộc một

xu.

Chàng dắt con chó về nhà. Người mẹ thấy vậy rất

phiền lòng.

162

- Để nó sống mẹ ạ! Biết đâu nó sẽ giúp ích cho ta

một điều gì đấy. - Chàng đáp.

Ít lâu sau chàng trai lại ra khỏi làng. Chàng thấy

một người lạ đang dùng dây kéo một con mèo cái.

Chàng hỏi người kia kéo con vật đi đâu và hành hạ

nó vì lẽ gì?

- Con mèo này thật vô tích sự, - người kia đáp -

tôi muốn giết quách nó đi.

- Đừng giết, hãy trao nó cho ta. - Chàng nói. Đây,

ngươi hãy cầm lấy một xu.

Chàng đưa cho người kia đồng xu thứ hai và mang

mèo về. Về nhà, người mẹ lại mắng chàng vì chàng

không biết xót tài sản của cha.

- Phải để nó sống mẹ ạ, - người con đáp. - Có lẽ

lúc nào đó sẽ có ích cho ta đấy!

163

Ít lâu sau, chàng trai lại ra khỏi làng. Chàng

bỗng thấy ở trong rừng mọi người dùng gậy đánh một

con rắn.

- Các ngươi làm gì thế? - Chàng trai kêu lên. -

Đừng giết nó, đây, ta sẽ đền cho các ngươi một xu.

Chàng đưa đồng xu cuối cùng để chuộc lấy con rắn.

Khi bọn người kia đi rồi, con rắn nói với chàng:

- Đa tạ chàng đã cứu ta. Ta không thể ở lại với

chàng được lâu đâu. Mời chàng theo ta.

- Nào thì đi, - chàng đáp và đi theo vết rắn bò.

Dọc đường rắn nói với chàng:

- Các chị ta sẽ cảm ơn chàng và có tặng phẩm gửi

chàng. Chàng đừng lấy gì cả, mà chỉ nên xin chiếc

nhẫn.

Khi họ về tới nơi ở của nhà rắn, các chị rắn toan

164

lao vào mổ chàng trai.

- Chớ đụng vào người chàng. - Con rắn lớn nhất đàn

nói. - Chàng đã cứu em chúng ta thoát chết. Đám

người muốn hại em nhưng chàng trai đây đã bảo vệ

em.

- Nếu vậy, chúng ta có nghĩa vụ phải trả ơn chàng.

- Các chị rắn nói. Hỡi chàng trai kia, xin chàng

cho biết chàng cần gì để được sống cả một đời sung

túc?

- Nếu được, xin cho tôi chiếc nhẫn. - Chàng nói.

Lời thỉnh cầu của chàng khiến các chị rắn không

hài lòng lắm, nhưng còn biết làm sao được: Cần phải

giữ lời hứa. Họ trao cho chàng chiếc nhẫn thần và

căn dặn:

165

- Chàng đừng trao chiếc nhẫn cho ai. Lúc nào chàng

cần gì thì cứ xoay nhẫn và nói: “Nhẫn ơi, hãy cho

ta những thứ mà ta cần”. Lời thỉnh cầu của chàng sẽ

được thực hiện vào buổi sáng.

Chiều hôm đó, chàng trai quyết định thử sức mạnh

của chiếc nhẫn thần. Chàng xoay xoay nhẫn và nói:

- Nhẫn ơi, ta muốn có một tòa lâu đài.

Chàng thiếp đi cùng với lời ao ước ấy. Sáng ra,

lúc thức dậy, chàng đã thấy mình đang ở trong một

tòa lâu đài.

Sau đó, chàng trai cưới vợ và sống sung túc. Tất

cả những gì chàng có được là nhờ nhẫn thần. Một

hôm, người vợ trẻ nói với chồng:

- Cho em xem chiếc nhẫn của chàng được không?

Chàng trai quên phắt lời của chị em nhà rắn bèn

166

đưa chiếc nhẫn cho vợ. Đêm đó, người vợ xin nhẫn

thần đưa mình về thăm nhà cha mẹ ở hòn đảo ngoài

biển khơi. Nàng đã cầu được ước thấy.

Buổi sáng khi người chồng thức dậy thì không thấy

vợ đâu nữa. Chàng hiểu ngay đã có chuyện xảy ra.

Chàng vò đầu bứt tai: “Bây giờ thì ta đã không có

nhẫn mà cũng chẳng có vợ”. Biết tin chàng gặp

chuyện chẳng lành, chó và mèo kéo đến an ủi:

- Chàng đừng buồn nữa, chúng tôi sẽ giúp chàng

trong cơn hoạn nạn.

Nói xong chúng bỏ đi. Chúng đi, đi mãi, vượt qua

một chặng đường dài lắm mới tới được biển cả. Chó

đặt mèo ngồi lên lưng mình và bơi đi. Thế rồi chúng

bơi tới được hòn đảo, đến ngay ngôi nhà của người

vợ. Chó đứng canh ở dưới hiên, còn mèo thì vào

167

trong nhà, tìm được chiếc nhẫn mang ra. Chúng chạy

ra bờ biển, mèo lại ngồi lên lưng chó và chó lại

bơi về nhà. Đến giữa biển, chúng sinh sự cãi nhau.

- Tôi là người tìm thấy chiếc nhẫn.

- Không, tôi chứ! - Mèo cãi.

Trong khi chúng cãi nhau thì con mèo làm chiếc

nhẫn rơi tõm xuống nước. Chúng cùng lao xuống nước

tìm nhẫn. Con chó bắt được một con cá, ném lên bờ

và con cá nhả ra chiếc nhẫn. Con mèo chộp ngay lấy

chiếc nhẫn và chạy đi, con chó liền đuổi theo nhưng

không tài nào đuổi kịp. Con mèo chạy về nhà và đưa

chiếc nhẫn cho chủ, còn con chó thì vẫn cứ lẽo đẽo

chạy ở phía sau.

Từ đó, chàng trai có một cuộc sống sung túc với

mẹ, bên cạnh con chó và con mèo rất trung thành,

168

chỉ có điều là giữa những con vật này đã nảy sinh

mối hiềm khích; chó căm ghét mèo vô hạn và thường

đuổi cắn mèo là vì thế.

BÀ CHÚA TUYẾT

Ngày xưa có một con quỷ xấu xí và hung tợn. Quỷ có

một tấm gương rất kì dị. Soi vào đó, cái tốt sẽ

méo mó đi, còn cái xấu xa thì nhân lên gấp bội.

Một hôm, quỷ mang tấm gương bay lên trời định soi

vào Thượng Đế và các thiên thần. Nhưng khi quỷ tới

gần cổng trời, tấm gương đột nhiên vỡ tan thành

muôn vàn mảnh vụn.

Những mảnh vỡ này thật khủng khiếp! Người nào

không may bị nó bắn vào tim hay vào mắt thì sẽ trở

nên lạnh lùng, vô cảm.

Thật bất hạnh! Trong không trung còn vô số những

169

mảnh vỡ ấy đang bay lơ lửng.

Hôm ấy có một đôi bạn rất thân đang ngồi đọc sách

bên cửa sổ. Cậu bé tên là Kay còn cô bé là Giéc-đa.

Giéc-đa có giọng đọc êm ái và du dương nên Kay rất

thích được nghe cô bé đọc sách.

Đang ngồi, Kay bỗng khuỵu ngã và kêu lên:

- Ái, Giéc-đa ơi, sao mình thấy đau nhói ở tim và

mắt thế này!

Thật tội nghiệp! Cậu bé không hề biết rằng mắt và

tim mình đã bị những mảnh gương quỷ bắn vào.

Từ lúc đó, Kay không muốn chơi với ai nữa. Cậu bé

luôn tìm cách xa lánh mọi người, kể cả Giéc-đa.

Rồi một ngày mùa đông tuyết rơi dày đặc, Kay đã

rời nhà đi theo bà Chúa Tuyết trên một cỗ xe lớn

màu trắng.

170

Bà Chúa Tuyết đã hôn lên trán Kay khiến cậu quên

hết tất cả. Rồi bà đưa Kay lên thật cao và thật xa.

Chẳng ai biết cậu bé đi đâu. Người ta đồn rằng Kay

đã ngã xuống sông và bị dòng nước cuốn đi.

Giéc-đa buồn lắm!

Mùa đông lạnh lẽo đã trôi qua và mùa xuân ấm áp đã

quay lại. Cô bé hỏi tia nắng và những đàn chim đi

tránh rét trở về, nhưng không có tin tức gì của

Kay.Giéc-đa đem đôi giày đỏ mà cô bé rất thích ra

bờ sông. Cô bé hỏi dòng sông:

- Sông ơi, có phải sông đã lấy mất Kay yêu quý của

tôi không? Hãy trả bạn ấy cho tôi! Tôi sẽ tặng

sông đôi giày đỏ này.

Giéc-đa thả đôi giày xuống nước. Nhưng sông trả

lại đôi giày cho cô bé vì sông có bắt Kay đâu.

171

Giéc-đa tưởng mình thả giày chưa đúng chỗ nên sông

không nhận. Cô bé liền bước xuống một chiếc xuồng

đang đậu sát bờ để thả giày ra xa hơn. Chiếc xuồng

chòng chành rồi bị tuột dây buộc, từ từ trôi đi,

Giéc-đa sợ hãi oà lên khóc.

Cô bé không biết làm cách nào để đưa được chiếc

xuồng vào bờ, đành cứ mặc cho nó trôi theo dòng

nước. Khi xuồng trôi đến gần một ngôi nhà bên bờ

sông, Giéc-đa vội cất tiếng kêu cứu.

Nghe tiếng kêu, một bà già từ trong nhà chạy ra.

Bà vừa giơ gậy lên, chiếc thuyền đã dạt ngay vào

bến.Bà già đưa cô bé tội nghiệp vào nhà. Bà bày ra

bàn rất nhiều món ăn ngon để cô bé đang lả người

đi vì đói được ăn uống thoả thích.

Đã từ lâu, bà già phải sống cô đơn một mình, bà

172

rất mừng khi được gặp Giéc-đa. Bà muốn giữ cô bé ở

lại, nên tìm đủ mọi cách để cô bé được sống đầy đủ

và vui vẻ.

Một hôm, Giéc-đa dạo chơi trong vườn. Cô bé nhìn

thấy những bông hoa hồng tươi thắm, loài hoa mà cả

Giéc-đa và Kay đều thích.

Những bông hồng ấy nhắc nhở cô bé nhớ đến bạn.

Giéc-đa khẽ hỏi hoa hồng:

- Hoa ơi, hoa có biết Kay đang ở đâu không?

Các bông hồng đều lắc đầu. Giéc-đa buồn lắm. Cô bé

vụt chạy ra khỏi vườn, quyết đi tìm Kay.

Giéc-đa đi mãi, cô bé đã qua bao nhiêu làng mạc,

hỏi thăm bao nhiêu người, nhưng vẫn chưa tìm thấy

Kay.Rồi mùa đông ào tới, tuyết rơi phủ trắng khắp

nơi. Giéc-đa vừa đói, vừa mệt, dừng lại nghỉ bên

173

một cây to đã rụng hết lá. Trên cây có vợ chồng anh

Quạ đỏm dáng cũng đang đứng nghỉ. Quạ hỏi:

- Cô bé ơi, cô đi đâu giữa mùa đông giá lạnh thế

này? Giéc-đa kể cho Quạ nghe chuyện của Kay. Quạ

bảo:

- Tôi biết có một cậu bé giống như Kay của cô. Ta

thử đến đó xem sao.

Vợ chồng anh Quạ bay trước dẫn đường, đưa Giéc-đa

đến một toà cung điện nguy nga. Nơi đó có một căn

phòng sang trọng và ấm áp. Giéc-đa bước vào căn

phòng ấy và gặp một cô bé xinh xắn có mái tóc vàng

óng, cùng một cậu bé giống hệt Kay.

Nhưng họ đều là công chúa và hoàng tử của xứ sở

tươi đẹp mà Giéc-đa vừa đặt chân đến.

Hai người bạn mới đã khóc khi nghe vợ chồng anh

174

Quạ kể về hành trình tìm bạn của Giéc-đa. Họ tặng

ngay cô bé cỗ xe trượt tuyết bằng vàng cùng mọi vật

dụng cần thiết để cô tiếp tục lên đường.

Vì muốn sớm tìm được bạn nên Giéc-đa đi suốt đêm

ngày không nghỉ. Một đêm kia, cỗ xe đang lao vun

vút thì bị một toán cướp xông ra chặn đường.

Lũ cướp loá mắt khi nhìn thấy cỗ xe vàng, chúng

bắt người đánh xe quẳng vào rừng, đem con ngựa xẻ

thịt nướng ăn. Còn Giéc-đa bị chúng lôi khỏi xe,

bắt quỳ trên tuyết lạnh.

Khi mụ tướng cướp vừa kề con dao sáng loáng vào cổ

Giéc-đa, thì con gái mụ chạy đến níu giữ tay mẹ

lại:- Mẹ đừng giết cô bé này! Hãy để cô ta làm bạn

với con.

Rồi con gái mụ tướng cướp kéo tay Giéc-đa lôi xềnh

175

xệch về phòng.

Từ hôm đó, Giéc-đa không được đi đâu, suốt ngày

phải quanh quẩn chơi với con gái mụ tướng cướp.

Thấy Giéc-đa không vui, cô ta gặng hỏi và Giéc-đa

đã đem chuyện của Kay kể cho cô ta nghe.

Bỗng mấy con chim bồ câu đang đậu trong phòng nghe

thấy câu chuyện, cùng kêu lên:

- Cô bé ơi, cách đây ít ngày, chúng tôi có gặp Kay

ngồi trên xe của bà Chúa Tuyết đấy.

- Thế các bạn có biết bà Chúa Tuyết ở đâu không? -

Giéc-đa mừng rỡ hỏi.

- Cô bé cứ hỏi bác Tuần Lộc, bác ấy biết rất rõ

nơi ở của bà Chúa Tuyết - Bầy chim ríu rít trả lời.

Con gái mụ tướng cướp rất xúc động trước tình bạn

176

của Giéc-đa. Cô ta an ủi bạn:

- Cậu đừng lo, sáng mai tớ sẽ sai Tuần Lộc chở cậu

đi.

Hôm sau, hai cô bé dậy rất sớm. Con gái mụ tướng

cướp chuẩn bị cho Giéc-đa đủ mọi thứ, rồi đỡ cô bé

leo lên lưng Tuần Lộc.

Cô còn ghé tai Tuần Lộc dặn dò rất nhiều. Chú ta

gật đầu và chở Giéc-đa lao vút đi.

Tuần Lộc băng qua rừng núi, qua những cánh đồng

mênh mông phủ đầy tuyết trắng. Một ngày kia, Tuần

Lộc ghé vào nhà bà cụ Tốt Bụng. Bà cụ chỉ đường cho

Tuần Lộc đi tiếp và còn viết thư nhờ bà bạn Thông

Thái ở tít trên một đỉnh núi Tuyết giúp đỡ Giéc-đa.

Tuần Lộc và Giéc-đa lại tiếp tục cuộc hành trình.

177

Đường đi mỗi ngày một khó khăn vất vả. Vách núi

Tuyết dựng đứng, Tuần Lộc phải ráng sức nhích từng

tí một. Bão tuyết dữ dội như muốn chôn vùi đôi bạn

trong tuyết lạnh. Phải chật vật lắm, Tuần Lộc mới

đưa Giéc-đa lên được đỉnh núi và tìm đến chỗ bà cụ

Thông Thái.

Bà cụ Thông Thái chỉ đường cho Giéc-đa và Tuần Lộc

đi tiếp. Bà còn ân cần căn dặn:

- Các cháu còn phải vượt qua rất nhiều trở ngại

mới tìm thấy được Kay. Cháu phải tìm cách lấy hết

những mảnh gương quỷ trong người cậu ấy ra thì cậu

ấy mới thoát khỏi bùa độc. Khi nào gặp nguy hiểm,

cháu nhớ đọc kinh cầu nguyện. Chúa nhân từ sẽ giúp

đỡ cháu.

Nghe bà cụ Thông Thái nói xong, Tuần Lộc và

178

Giéc-đa vội vã lên đường ngay. Gần đến nơi bà Chúa

Tuyết ở, họ gặp phải lũ quái vật tuyết khổng lồ.

Chúng chồm lên như muốn nuốt gọn cả Giéc-đa và Tuần

Lộc.

Nhớ lời bà cụ Thông Thái dặn, Giéc-đa thành kính

đọc kinh cầu nguyện. Mỗi tiếng cô bé đọc lên là một

thiên thần xuất hiện. Các thiên thần cầm vũ khí

lao vào tấn công lũ quái vật tuyết. Trong chốc lát,

đám quái vật đã tan tành thành những hạt tuyết li

ti.

Không còn bị đám quái vật chặn đường, Giéc-đa vội

vã giục Tuần Lộc đi nhanh tới toà lâu đài bằng băng

của bà Chúa Tuyết.

Trong toà lâu đài băng giá đó, Kay đang tím tái vì

rét. Cậu bé ngồi bất động trước một đống những

179

mảnh băng vụn và không hề biết Giéc-đa đang đứng

ngay bên cạnh.

Giéc-đa thương Kay quá, nước mắt lăn dài trên má

cô bé rồi nhỏ xuống ngực Kay. Những giọt nước mắt

đầy tình yêu thương ấy thấm vào tận trái tim lạnh

lùng của cậu bé, làm tan biến mảnh gương quỷ. Trái

tim Kay ấm áp trở lại và cậu bé bật khóc. Mảnh

gương quỷ trong mắt cậu bị nước mắt cuốn trôi đi,

và Kay nhận ra Giéc-đa...

Cậu bé như bừng tỉnh cơn mơ, xúc động nói với bạn:

- Ôi Giéc-đa, mình lạnh quá! Mình ước ao nhanh

chóng được trở về ngôi nhà ấm áp và quen thuộc đầy

hương hoa hồng. Mình sẽ lại được ngồi bên cửa sổ

nghe bạn đọc sách!

Khi bà Chúa Tuyết quay về, thấy Giéc-đa và Kay ra

180

khỏi toà lâu đài băng giá. Bà biết rằng tình bạn

của Giéc-đa đã giúp Kay thoát khỏi bùa phép của

quỷ. Bà đành để đôi bạn rời khỏi xứ sở đầy băng

tuyết lạnh lẽo trở về quê hương.

Lúc này mùa đông đã trôi qua, và mùa xuân đã trở

lại.Khắp nơi cây cối đâm chồi nảy lộc xanh tươi

mơn mởn. Trăm hoa đua nở rực rỡ dưới ánh nắng mặt

trời ấm áp. Giéc-đa và Kay như được chắp cánh,

chẳng mấy chốc đôi bạn đã trở về nhà. Cả nhà mừng

rỡ mở tiệc ăn mừng.

Trong bữa tiệc ấy, bạn bè của Kay và Giéc-đa cùng

cất cao tiếng hát ca ngợi tình bạn cao quý và đẹp

đẽ.CON NGỖNG VÀNG

Ngày xửa ngày xưa, hai vợ chồng nhà kia có ba

người con trai, bao nhiêu khôn ngoan dồn cả vào hai

181

người anh, còn chàng út thì dại khờ ngốc nghếch

nhưng lại rất tốt bụng, người ta gọi chàng là chàng

Ngốc. Ngốc thường bị khinh rẻ chế giễu và trong

gia đình việc gì cũng bị gạt ra.

Một hôm, người con cả muốn vào rừng đốn củi. Trước

khi anh đi, người mẹ làm cho anh một chiếc bánh

trứng ngon lành và một chai rượu vang mang theo để

ăn. Vào tới rừng thì anh gặp một ông lão nhỏ bé,

tóc hoa râm, chào anh và nói:

- Cho lão xin miếng bánh ở trong bị anh và một

ngụm rượu vang. Lão vừa đói vừa khát đây.

Anh chàng khôn ngoan đáp:

- Nếu tôi cho lão bánh và rượu thì tôi ăn bằng gì!

Thôi lão xéo đi!

Rồi anh để mặc ông lão ở đấy mà đi.

182

Anh đẵn cây được một nhát thì trượt tay, rìu chém

vào cánh tay, phải về nhà băng bó. Tai nạn ấy chính

là do ông lão bé nhỏ gây ra.

Người con thứ hai phải thay anh cả vào rừng. Người

mẹ cũng làm cho một chiếc bánh trứng và một chai

rượu vang y như đối với con cả. Tới rừng, anh cũng

gặp ông lão nhỏ bé đến xin anh miếng bánh và ngụm

rượu. Người con thứ hai cũng từ chối:

- Không được! Tôi cho lão cái gì là tôi thiệt cái

ấy. Thôi lão xéo đi cho khuất mắt!

Rồi anh để mặc ông lão ở đấy mà đi.

Anh cũng bị trừng phạt ngay, chỉ mới chặt cây được

vài nhát thì rìu đã văng vào chân, phải lê về nhà

băng bó.

Thấv cả hai anh đều bị thương, chàng Ngốc liền

183

nói:- Thưa bố, bố để con đi đốn củi thay hai anh.

Người bố đáp:

- Thôi! Hai anh mày đã bị thương. Mày đốn củi thế

nào được!

Chàng Ngốc xin mãi, cuối cùng ông bố đành bảo: -

Thế thì mày cứ đi đi. Có vấp thì mới sáng mắt ra.

Mẹ cho Ngốc một chiếc bánh luộc ủ tro và một chai

bia chua.

Anh vào rừng cũng gặp ông lão bé nhỏ tóc hoa râm.

Ông lão chào anh rồi bảo:

- Cho lão xin một miếng bánh và một ngụm rượu, lão

vừa đói vừa khát đây.

Chàng Ngốc đáp:

- Cháu chỉ có bánh ủ tro và bia chua thôi. Nếu ông

thấy tạm được, thì ông cháu ta ngồi xuống cùng

184

đánh chén.

Họ ngồi xuống. Chàng Ngốc rút bánh ủ tro ra thì

thấy đó là một chiếc bánh trứng ngon lành; bia chua

đã biến thành rượu vang. Ăn uống xong, ông lão

bảo:- Cháu tốt bụng, sẵn sàng chia phần của mình

cho người khác. Thật đáng khen! Để lão ban phúc

cho. Chỗ kia có một cây cổ thụ, cháu đẵn xuống sẽ

thấy trong đám rễ cây có của quý.

Nói xong, ông lão từ biệt lên đường.

Chàng Ngốc đi đẵn cây theo chỉ dẫn của ông lão.

Trời xế chiều thì cây được hạ xuống, chàng bới

trong đám rễ thấy có một con ngỗng lông bằng vàng

thật. Chàng nhấc ngỗng lên, ẵm vào một quán trọ để

ngủ đêm.

Chủ quán có ba cô con gái. Ba cô thấy ngỗng, tò mò

185

không biết con chim gì mà lạ thế, chỉ muốn lấy một

chiếc lông của nó.

Cô cả nghĩ cách nhổ trộm một chiếc. Khi chàng Ngốc

vừa ra ngoài, cô nắm ngay lấy cánh ngỗng. Nhưng

tay bị dính chặt vào đó, không rút ra được.

Một lát sau, cô thứ hai cũng đến và chăm chăm muốn

lấy một chiếc lông vàng. Cô vừa đụng đến cô chị

thì bị dính ngay vào chị.

Cô thứ ba tới cũng định tâm lấy một cái lông vàng,

hai cô chị thấy em liền kêu lên:

- Ối ối, tránh ra, tránh ra! Đừng lại gần đây.

Cô út chẳng hiểu tại sao lại phải tránh ra, nghĩ

bụng các chị lấy thì mình cũng phải lấy được, liền

nhảy lại. Cô vừa đụng vào hai chị thì bị dính ngay,

cả ba cô suốt đêm phải ở liền với ngỗng.

186

Sáng hôm sau, chàng Ngốc mang ngỗng ra đi, cũng

chẳng để ý đến ba cô gái đã bị dính vào ngỗng. Các

cô lẽo đẽo theo sau, rẽ sang phải sang trái tùy

theo bước chân của anh. Giữa đồng, cha xứ gặp cả

đoàn người bèn nói:

- Đồ gái quạ mổ, không biết xấu hổ à? Cứ bám lấy

giai ra đồng như vậy coi có được không?

Cha liền nắm tay cô út kéo lại. Cha vừa đụng đến

thì chính cha cũng bị dính vào và phải lẽo đẽo đi

theo.Một lúc sau, người giữ đồ thánh thấy cha xứ

lẽo đẽo theo ba cô gái, ngạc nhiên quá hỏi:

- Thưa cha, cha đi đâu mà vội vàng thế? Cha nhớ là

hôm nay còn phải làm lễ rửa tội cho một đứa trẻ

đấy.Ông ta chạy theo nắm tay áo cha thì cũng bị

dính vào.

187

Năm người bước thấp bước cao như vậy thì gặp hai

bác nông dân vác cuốc ở đồng về. Cha xứ gọi họ, nhờ

gỡ hộ mình và người giữ đồ thánh ra. Hai bác nông

dân vừa sờ đến thì bị dính vào nốt. Như vậy cả thảy

bảy người đi theo chàng Ngốc ôm ngỗng.

Anh đi tới kinh thành. Nhà vua có một cô công

chúa, bao nhiêu năm nay không ai làm cho cô cười

được. Vua phán: Ai làm cho cô cười thì được lấy cô.

Chàng Ngốc nghe thấy nói vậy, liền vác ngỗng và cả

bảy người theo đuôi đến trước công chúa. Công chúa

thấy bảy người lếch thếch theo nhau, bật cười

thành tiếng, rồi không kìm lại được nữa, nàng cứ

khanh khách cười mãi.

Chàng Ngốc đòi vua thực hiện lời hứa. Vua không

thích chàng rể này, viện cớ nọ cớ kia chàng phải

188

tìm ra người uống hết một hầm rượu vang thì mới cho

lấy công chúa.

Chàng Ngốc nghĩ đến ông lão nhỏ bé đã giúp mình

hôm trước, liền vào rừng tìm. Tới chỗ cây đẵn, anh

thấy có một người ngồi, mặt buồn rười rượi. Anh hỏi

sao lại buồn bã thế. Người đó đáp:

- Tôi khát quá, uống bao nhiêu cũng không đỡ khát.

Tôi không chịu được nước lã. Quả là tôi đã uống

cạn một thùng rượu, nhưng chẳng qua mới như muối bỏ

bể.

Chàng Ngốc nói:

- Thế để tôi giúp anh. Anh chỉ việc đi với tôi là

tha hồ uống.

Anh dẫn người ấy đến hầm rượu của nhà vua. Người

đó nhảy xổ vào những thùng rượu to, uống mãi, uống

189

mãi đến căng bụng. Chưa hết một ngày, anh ta đã

uống sạch cả hầm rượu.

Chàng Ngốc lại đòi vua thực hiện lời hứa. Vua bực

lắm, không muốn để một tên dớ dẩn mọi người gọi là

Ngốc lấy con gái mình. Nên vua lại ra những điều

kiện mới: Phải tìm được một người ăn hết một núi

bánh. Chàng Ngốc chẳng suy nghĩ lâu la, liền đi

ngay vào rừng, vẫn chỗ đó có một người mặt mũi

thiểu não, thắt chặt bụng bằng dây da và nói:

- Tôi đã ăn cả lò bánh mà chẳng ăn thua gì. Tôi

đói quá. Bụng vẫn lép kẹp, phải thắt chặt lại kẻo

đói lắm.

Chàng Ngốc thấy vậy mừng rỡ lắm, bảo: - Thế thì đi

đi, đi với tôi tha hồ no nê.

Anh dẫn người đó vào triều. Vua cho tập trung bột

190

mì trong cả nước lại rồi sai nướng một núi bánh

khổng lồ. Người đó chỉ ăn một ngày hết sạch.

Lần thứ ba, chàng Ngốc lại đòi lấy công chúa. Vua

tìm cách thoái thác, đòi có một chiếc tàu đi được

cả trên cạn lẫn dưới nước.

Vua nói:

- Nếu tàu ấy cập bến thì lập tức ngươi được lấy

con gái ta.

Chàng Ngốc đi thẳng vào rừng. Ông lão được anh cho

bánh vẫn ngồi đó, ông bảo:

- Chính lão đã uống rượu và ăn hộ bánh cho anh. Để

lão cho anh chiếc tàu. Lão sẽ giúp anh vì anh đã

cư xử tử tế với lão.

Lão bèn lấy rìu đẽo cái cây mà Ngốc đã hạ mấy hôm

trước, biến thành một chiếc tàu. Chiếc tàu này

191

không những đi được cả trên cạn lẫn dưới nước mà

còn có thể bay được cả trên trời. Vua thấy không

còn cách gì từ chối nữa, đành phải tổ chức đám

cưới. Chàng Ngốc hiền lành tốt bụng, biết giúp đỡ

người nghèo đã sống hạnh phúc bên công chúa. Sau

khi vua mất, chàng được lên nối ngôi.

CON CHIM KHÁCH MẦU NHIỆM

Thuở ấy có một vị quan nổi tiếng thanh liêm, chẳng

may ông lâm bệnh nặng mất sớm. Hai con trai của

ông theo gương cha ngày đêm chăm chỉ học hành. Một

hôm được nghỉ học, hai anh em về nhà thăm mẹ. Trên

đường đi, họ gặp một ông già ngồi bên cái lồng nhốt

con chim khách. Họ hỏi ông lão:

- Thưa cụ, con chim đẹp quá! Cụ có bán không ạ?

- Con chim này quý lắm. Ai được ăn một miếng thịt

192

của nó sẽ gặp sự tốt lành, mà phải là người có tài

mới ăn được thịt chim. Ta chẳng bán nó cho ai,

nhưng riêng hai cậu muốn mua thì ta sẽ bán.

Hai chàng trai mua chim rồi mang về giao cho ba

người hầu gái chăm sóc. Hai chàng nói với họ:

- Ta sẽ thưởng cho các ngươi nếu làm tốt mọi việc,

nhưng lỡ để chim chết hoặc bay mất thì nhất định

sẽ trị tội không tha!

Dặn dò cẩn thận rồi, hai anh em quay lại trường,

cách xa nhà một ngày đường, tiếp tục việc học hành.

Ngày ấy, ở xứ sở phương Bắc xa xôi, có người biết

tin ở phương Nam có một con chim mầu nhiệm. Ai ăn

được thịt nó thì sẽ giàu sang phú quý, được cai trị

cả thiên hạ. Ông ta suy tính rồi bán cả gia tài,

đóng thuyền vượt biển, quyết tìm bằng được con chim

193

quý.

Ông ta lần mò dò hỏi mãi mới tìm được đến nơi và

nhờ người mang lụa là gấm vóc, khuyên vàng nhẫn

ngọc đến làm quen với bà chủ. Mưa dầm thấm lâu,

chẳng mấy chốc ông ta đã gắn bó thâm tình với bà

góa. Tuy vậy, ông khách vẫn không bắt nổi chim quý

vì ba người hầu gái thay nhau đêm ngày canh giữ rất

cẩn thận.

Khách sốt ruột tính toán mãi rồi một hôm vờ sửa

soạn thuyền bè ra đi. Bà chủ muốn ông ta ở lại với

mình nên tìm mọi cách dỗ dành níu kéo. Khách làm bộ

do dự rồi nói:

- Nếu được ăn thịt con chim khách của nhà này thì

ta sẽ ở lại đây suốt đời.

Nghe người đàn ông nói vậy, bà chủ ra lệnh cho mấy

194

người hầu gái phải nộp ngay con chim quý.

Mấy hôm trước, ở nơi trọ học, hai anh em đang lo

dùi mài kinh sử, bỗng nhiên ruồi ở đâu kéo đến vây

kín lấy ngọn bút. Hai chàng lo ở nhà có chuyện

chẳng lành, vội xin phép thầy về thăm mẹ.

Hai anh em vừa bước vào cửa, mấy người hầu gái đã

chạy tới, kể hết những chuyện xảy ra ở nhà: chuyện

người lái buôn đi lại không chính đáng với phu

nhân, chuyện họ bị đánh đập bắt nộp con chim quý...

Rồi họ nói trong tiếng nức nở:

- Hai cậu ơi, người ta đã giết con chim, thịt kho

còn để trên bếp chờ người lái buôn đến ăn.

Hai chàng trai vào bếp, ăn hết nồi thịt chim, rồi

thưởng cho ba người hầu gái, dặn họ hãy trốn về

quê đừng để mẹ mình bắt được. Xong xuôi mọi việc,

195

hai chàng cũng rời nhà ra đi.

Họ đi mãi cho đến khi màn đêm buông xuống. Vừa mệt

vừa đói, hai anh em nằm lăn ra bãi cỏ và ngủ thiếp

đi. Đêm hôm đó, có hai vị thần bay qua nơi ấy. Các

thần dừng lại nhìn hai chàng trai khôi ngô tuấn tú

đang nằm ngủ. Thần có tên là thần Thiện cắp người

anh, thần có tên là thần Ác cắp người em, bay đi

hai phương trời khác nhau.

Thần Thiện bay qua một xóm nhỏ và thả người anh

xuống sân ngôi nhà ở giữa xóm. Ông ghé vào tai

người anh vẫn đang thiêm thiếp ngủ nói khẽ: “Chúc

con mọi sự tốt lành!”, rồi bay đi mất

Từ đấy, người anh ở lại làm con nuôi ông cụ chủ

nhà. Chàng khôi ngô tuấn tú, chữ tốt văn hay lại

hay lam hay làm nên được dân làng yêu quý.

196

Năm ấy nạn đói lan tràn khắp nơi, cướp bóc xảy ra

như cơm bữa khiến dân chúng vô cùng cực khổ. Họ tôn

chàng làm thủ lĩnh dẹp hết bọn bất lương.

Chàng còn dẫn dân binh đánh tan cả một đạo quân

giặc ngoại xâm đang quấy phá vùng biên ải. Nhà vua

mến tài đức của chàng đã phong tước hiệu và cho

chàng cai quản cả một vùng rộng lớn.

Còn người em được thần Ác thả xuống một nơi đang

bị nạn mãng xà hoành hành. Con mãng xà khổng lồ

sống lâu đã thành tinh, giết hại không biết bao

nhiêu người.

Nhà vua vô cùng lo lắng, hứa gả công chúa cho

người nào có thể trừ được quái vật. Nhưng vẫn chưa

ai dám bén mảng đến gần con ác thú.

Chàng tỉnh dậy đúng lúc mãng xà đang đi kiếm ăn.

197

Thấy con vật hung tợn, chàng trai rút gươm đánh

trả. Trận đánh diễn ra quyết liệt, đất đá cuộn lên

mù mịt. Suốt từ sáng đến tối, chàng mới chém chết

được mãng xà, rồi ngất lịm đi...

Có một viên quan phi ngựa qua đấy, vội cắt đầu

mãng xà vào triều dâng lên đức vua, nhận mình là

người giết được quái vật. Vua y ước, gả công chúa

cho hắn. Lễ cưới được tổ chức rất linh đình.

Giữa lúc mọi người đang vui vẻ tiệc tùng thì người

em xuất hiện. Chàng xin gặp đức vua để lấy lại mũi

gươm bị gẫy trong đầu mãng xà. Đến lúc ấy viên

quan kia phải cúi đầu nhận tội dối vua và bị trừng

phạt.

Chàng trai được vua phong làm phò mã. Sau đó ít

lâu, vua cha lâm bệnh qua đời, phò mã được mọi

198

người tôn lên ngôi để chăm sóc cho muôn dân.

Mấy năm sau, hai anh em gặp lại nhau, người nào

cũng văn võ song toàn, giàu sang phú qúy. Tài năng,

công đức của họ vẫn được ca tụng ở khắp nơi.

CHÚ LÍNH CHÌ DŨNG CẢM

Ngày xưa có hai mươi lăm chú lính chì, tất cả đều

là anh em vì cùng được đúc từ một chiếc muôi cũ.

Các chú bồng súng, mắt nhìn thẳng phía trước, mặc

đồng phục màu xanh và đỏ, trông tuyệt đẹp.

Những lời đầu tiên các chú được nghe trên đời này,

khi người ta mở nắp hộp đựng các chú ra là:

- Chà! Các chú lính chì nom oách quá!

Ấy là lời một cậu bé vừa vỗ tay vừa reo lên, cậu

vừa được tặng hộp lính chì nhân ngày sinh của cậu.

Cậu xếp các chú lính chì trên bàn, chúng hoàn toàn

199

giống nhau, trừ một chú thiếu một chân, nhưng chú

đứng oai vệ chẳng kém gì các chú lính chì khác có

đủ hai chân, và chính chú lại có những chuyện phiêu

lưu khác được kể lại.

Trên bàn, ngoài các chú lính chì ra, còn có nhiều

đồ chơi khác, nhưng đáng chú ý nhất là một toà lâu

đài mỹ lệ làm bằng bìa cứng. Trước lâu đài là một

lối đi có trồng cây và dẫn đến một cái gương tròn,

tượng trưng cho một cái hồ, trên đó có một đàn

thiên nga bằng sáp đang bơi lượn. Qua các cửa sổ,

người ta nhìn thấy bên trong có những căn phòng

trang trí lộng lẫy. Nhưng đáng chú ý hơn cả những

kì công nghệ thuật ấy là một cô gái xinh đẹp đang

đứng ở phòng ngoài. Cô nàng được làm bằng bìa cứng,

mặc một chiếc áo bằng vải phin mỏng và mịn, quấn

200

một dải lụa xanh biếc quanh cổ, khoác một khăn

choàng màu hồng trên vai và cài trên tóc một bông

hồng tuyệt đẹp làm bằng mảy vàng. Cô đang uốn tay

thành hình vòng, chả là cô nàng là vũ nữ mà! Cô

đang tập một động tác múa, duỗi một chân ra đằng

sau. Chú lính chì lại cứ tưởng cô nàng cũng chỉ có

một chân như chú, và có lẽ điều đó làm cho chú

thích cô nàng nhất. Chú tự nhủ:

- Ta phải lấy người vợ như thế mới xứng! Nhưng

nàng cao quý, sang trọng quá, chắc chẳng ưng lấy ta

đâu. Nhà nàng là cả một toà lâu đài, còn nhà ta

chỉ là một cái hộp gỗ trắng tồi tàn mà tất cả hai

mươi lăm anh em đều chui rúc vào, thật không xứng

đáng với nàng chút nào. Dù sao, ta cũng ước được

làm quen với nàng!

201

Khi cậu bé đặt chú lính chì lên một cái hộp to gần

toà lâu đài, chú mừng rỡ khôn kể xiết. Từ đó, chú

tha hồ ngắm cô nàng xinh đẹp, vẫn can đảm đứng một

chân mà không mất thăng bằng.

Đến tối, khi cất các chú lính chì vào hộp, cậu bé

bỏ quên chú lính chì một chân. Mọi người đều đã đi

ngủ cả. Khoảng nửa đêm, đến lượt các đồ chơi muốn

tiêu khiển tí chút. Con rối máy lưng gù bụng phệ

nhảy nhót một cách điên cuồng. Chú quay tít vù,

chừng như muốn phá phách tất cả. Các chú lính chì

cũng vùng vẫy trong hộp, như muốn nhảy ra ngoài

tham dự cuộc vui, nhưng than ôi! Các chú không mở

nổi nắp hộp! Cái thế giới tí hon ấy làm ồn ào đến

nỗi con chim kim tước phải thức giấc và cất tiếng

hót lên, đến là vui!

202

Riêng có chú lính chì và nàng vũ nữ là không động

đậy. Nàng vẫn đứng kiễng một bên trên đầu ngón

chân, tay vẫn uốn vòng, còn chú lính chì thì vẫn

đứng một chân, mắt không rời cô vũ nữ.

- Kìa! Đồng hồ quả lắc đã điểm mười hai giờ đêm!

Xoạch! Nắp cái hộp to bật lên, và một con quỷ lùn

to tướng nhô ra. Thì ra cái hộp ấy có lắp lò xo bên

trong.

Chú lính chì ta bị hất xuống, nhưng lại rơi chân

xuống trước, nên vẫn đứng được vững để ngắm nàng vũ

nữ như trước.

Con quỷ lùn nói:

- Thằng nhóc con kia, sao lại dám nhìn những con

người ở địa vị cao quý, hơn hẳn địa vị hèn mọn của

mày thế?

203

Chú lính chì vẫn đứng trơ trơ chẳng nói chẳng

rằng.- Được, được, quân trẻ người dại dột kia, đến

mai mày sẽ biết!

Sáng ra, mọi người đều dậy. Chị giúp việc trong

nhà đến dọn dẹp căn buồng và đặt chú lính chì lên

bậc cửa sổ. Vừa đúng lúc ấy có một luồng gió thổi

rất mạnh, có lẽ do con quỷ lùn phù phép tạo ra, làm

cánh cửa sổ ập sập vào rồi bật ra, thế là chú lính

chì ta bị hất ra từ trên gác ba, đầu lao xuống

trước. Thật là kinh khủng! Chú đâm thẳng vào cái kẽ

giữa hai viên gạch lát đường phố, mũ lưỡi trai,

lưỡi lê và cả thân người chú đều biến mất, không

trông thấy nữa, chỉ còn thấy mỗi cái chân của chú

duỗi thẳng lên trời một cách ngạo nghễ.

Chị giúp việc và cậu bé xuống tìm chú.

204

Cậu bé không nom thấy, suýt dẫm phải chú. Chú định

kêu lên: “Có tôi”, nhưng sực nhớ đến điều lệ của

quân đội, cấm nói khi đang bồng súng, chú lại im

bặt.Một trận mưa rào đổ xuống làm trôi phăng bụi

bặm. Mưa tạnh, trời lại nắng. Chợt có hai đứa trẻ

đi qua. Một đứa nói:

- A ha! Bắt được chú lính chì một chân, chắc là cu

cậu đi trận về đây! Cho nó vào chiếc thuyền của

chúng mình nhé!

Hai đứa đã làm chiếc thuyền bằng một tờ báo cũ.

Chúng đặt chú lính chì vào và thả thuyền xuống

rãnh. Dòng nước đưa thuyền đi và hai đứa trẻ vừa

chạy theo vừa vỗ tay reo mừng.

Rãnh mỗi lúc một rộng ra, nước chảy xiết, sóng mới

to làm sao! Chiếc thuyền giấy chòng chành dữ dội,

205

thỉnh thoảng lại chao đi. Một cơn lốc cuốn thuyền

đi, trông như thuyền có thể lật úp đến nơi.

Chú lính chì lo lắng sợ hãi, nhưng chú vẫn điềm

nhiên, vốn dũng cảm, chú bồng súng với một vẻ kiên

cường.Chiếc thuyền chui vào một đoạn cống ngầm tối

đen như mực. Chú ta nghĩ bụng:

- Cũng chẳng tốt gì hơn trong chiếc hộp của ta.

Tương lai mình sẽ ra sao đây? Chính con quỷ lùn gớm

ghiếc ấy đã dùng bùa phép hãm hại mình. Chà! Nếu

có cô nàng xinh đẹp trong lâu đài ở bên ta thì dẫu

có tối đen hơn nữa ta cũng chẳng cần.

Một con chuột cống to tướng, sống trong một lỗ đào

ở thành cống, bỗng nhô ra và hỏi:

- Có giấy thông hành không? Mau mau đưa trình đây!

206

Lính ta im lặng, với địa vị chú, chú muốn tránh

mọi quan hệ với con vật kinh tởm này.

Thuyền lại trôi nhanh. Chuột cống đuổi theo,

nghiến răng và kêu gọi các mảnh gỗ, rơm rạ và rác

rưởi bập bềnh trên dòng nước giữ thuyền lại!

- Dừng lại! Dừng lại! Giữ thuyền lại! Nó không

chịu trình giấy thông hành!

Nhưng dòng nước vẫn cứ cuốn thuyền đi, và sau

cùng, chú lính chì lại được ra chỗ sáng.

Bất thình lình có tiếng động mạnh rất khủng khiếp,

tựa như tiếng sấm. Ai mà thản nhiên được? Các bạn

thử tưởng tượng xem, vừa chui qua đoạn cống ngầm,

nước rãnh đổ ngay vào một con sông đào, tạo thành

một cái thác.

Vèo! Thế là thuyền lao xuống. Nhưng trong giây

207

phút khủng khiếp ấy, chú lính chì vẫn bình tĩnh.

Lao xuống thác, chiếc thuyền chòng chành, xoay tít

bốn vòng, rồi nước tràn vào làm đắm thuyền, chỉ còn

trông thấy cái lưỡi lê và cái đầu chú lính chì.

Ngay lúc ấy, giấy bục tung ra, cả thuyền lẫn chú

lính chì đều chìm xuống đáy sông đào.

Chú lính chì tội nghiệp nghĩ tới nàng vũ nữ xinh

đẹp mà chú sẽ không còn trông thấy nữa, chú sắp sửa

chết mà chẳng tham dự một trận chiến đấu nào,

chẳng nổi danh vì một hành động anh dũng nào. Chú

tự nhủ: cái chết này thật không xứng với một vị anh

hùng!

Chú sắp sửa chìm xuống đáy sông đầy bùn và vĩnh

viễn không còn ở trên đời nữa thì một con cá to,

tưởng chú là cá bống con, đớp lấy chú.

208

Trời, trong bụng con cá măng ấy, sao mà tối thế

(con cá to ấy đúng là một con cá măng). Còn chật

chội hơn trong hộp! Nhưng chú lính chì đã quen đứng

gác, nên cứ bồng súng đứng im.

Cá măng bơi lung tung tứ phía, ngoi lên mặt nước,

đột nhiên cong mình quằn quại, rồi im bặt.

Vài giờ sau, chú lính chì thấy một tia sáng loé

lên như ánh chớp, đó là ánh mặt trời rực rỡ. Có

tiếng reo:

- Chú lính chì!

Thì ra câu chuyện là như thế này: người ta đánh

được cá măng rồi đem ra chợ bán. Một chị đầu bếp đã

mua về, lấy con dao to ra mổ cá. Chị ta thấy chú

lính chì ở trong bụng cá, nhấc chú ra và đem vào

buồng cho lũ trẻ con, cả bọn xúm lại xem cái anh

209

chàng giang hồ đã trải qua nhiều cuộc phiêu lưu và

đã từng sống trong bụng một con cá bây giờ thế nào.

Đối với chú lính, cái việc kì quặc ấy chả lấy gì

làm thích thú, chẳng qua chỉ do một tai hoạ gây nên

và chú là nạn nhân.

Chị bếp đặt chú lên bàn.

Thật là kì lạ! Đôi khi, có những trường hợp ngẫu

nhiên khó mà tưởng tượng được!

Chú lính chì ra lại trở về đúng căn phòng mà chú

đã từ giã ra đi, tiến hành cuộc chu du lớn, ai cũng

nhận ra chú, nhờ cái chân độc nhất của chú.

Chú lại được thấy cái hộp đựng các anh em chú, lại

được thấy cảnh tượng mê hồn của toà lâu đài mỹ lệ

bằng bìa cứng với nàng vũ nữ xinh đẹp vẫn dũng cảm

210

đứng một chân như chú. Chú nghẹn ngào cảm động suýt

khóc, nhưng lại thôi, vì nếu khóc thì nước mắt sẽ

là những giọt chì và như vậy sẽ không nghiêm chỉnh.

Đột nhiên, một cậu bé vồ lấy chú lính chì, ném chú

vào lò sưởi, nhanh đến nỗi không ai ngăn kịp. Về

sau, cậu bé nói rằng cậu muốn thử xem chú lính chì

có chịu được lửa như chú đã chịu được nước hay

không.

Về phần tôi, tôi cho rằng hành động độc ác ấy là

do con quỷ lùn độc địa xúi giục.

Lửa đã làm xấu chú lính chì. Bộ quân phục của chú

mất cả màu sắc đẹp đẽ.

Lúc ấy, chú ngước mắt về phía vũ nữ xem thái độ

nàng ra sao.

211

Nàng vẫn tiếp tục nhìn chú với một vẻ đáng yêu.

Một lát sau, chú cảm thấy chì bắt đầu chảy, nhưng

không vì thế mà chú buông tay súng. Bỗng nhiên,

cơn gió thổi tung cánh cửa và cuốn theo nàng vũ nữ,

đưa nàng bay trong không gian như một tiên nữ và

rơi vào lò sưởi ngay cạnh chú lính chì. Nàng bắt

lửa và tiêu tan, chàng thì tiếp tục chảy đến giọt

chì cuối cùng. Hôm sau, chị giúp việc trong nhà tìm

thấy di hài chú trong đám tro tàn, kết lại thành

một trái tim xinh xắn.

QUẢ TRỨNG VÀNG

Ngày xưa, một người đàn bà goá có hai người con

trai. Cậu cả là một người có ý chí nên bằng lao

động của mình cậu đã nuôi sống cả nhà. Còn em trai

cậu lại là một thằng ngốc đáng thương, suốt ngày

212

chỉ biết trèo lên cây và những tảng đá để bắt chim.

Vào một ngày đẹp trời, cậu bé ngốc nghếch đã mang

về cho mẹ một quả trứng rất đẹp, phía trên có đề

một dòng chữ bí ẩn. Bà mẹ vui mừng đem quả trứng

vào thành phố để bán. Tới một hiệu kim hoàn, bà đưa

quả trứng cho ông chủ xem. Ông ta đọc dòng chữ và

rất kinh ngạc.

- Quả trứng này đẹp quá, tôi sẽ mua nó cho con gái

tôi. - Ông ta nói và cố gắng che đậy sự ngạc nhiên

của mình, rồi đưa trả một đồng vàng cho người đàn

bà.Người đàn bà cảm ơn rồi chuẩn bị ra về. Chủ

hiệu kim hoàn nói tiếp:

- Tôi sẽ trả bà nhiều tiền hơn, nếu như bà bắt

được con chim đẻ ra quả trứng này.

213

- Tôi sẽ bảo với con trai tôi để nó đặt bẫy.

- Nếu bắt được, bà hãy tới đây báo cho tôi biết.

Người đàn bà trở về nhà và sai đứa con trai đặt

bẫy. Cậu bé đặt bẫy và đã bắt được con chim. Bà mẹ

mang tin này báo cho chủ hiệu kim hoàn. Ông ta rất

hài lòng và nói:

- Bà hãy về nhà rán con chim lên. Tôi sẽ cùng với

em trai tôi tới ngay.

Nói xong, ông ta đưa cho người đàn bà một túi tiền

to và hứa:

- Bà sẽ còn nhận được nhiều hơn nữa.

Người đàn bà về nhà làm lông và rán chim trên một

cái chảo. Hai đứa con bà nhìn món chim rán thèm rỏ

rãi. Để an ủi chúng, bà đã cho đứa lớn ăn cái đầu,

đứa bé ăn quả tim. Ăn xong, đứa nào lại về làm việc

214

nấy, thằng lớn 14 tuổi đi chăn bò, thằng bé 12

tuổi lại đi tìm tổ chim.

Người thợ kim hoàn cùng em trai tới nhà người đàn

bà rồi ngồi ngay vào bàn. Bà chủ nhà bưng lên con

chim rán không đầu và không tim. Ông thợ kim hoàn

kêu lên rằng: Ông đã bị lừa dối.

- Lừa dối ư? - Người đàn bà ngạc nhiên hỏi.

- Bà đã làm gì với cái đầu và quả tim của con

chim.

- Như mọi người vẫn làm, tôi cho mèo ăn. - Người

đàn bà trả lời vì không muốn nhắc tới bọn trẻ.

- Thế thì bà cần phải biết trên quả trứng này viết

điều gì: “Người nào ăn đầu con chim đẻ ra quả

trứng này, sẽ trở thành Đức cha thành Rôma. Người

ăn quả tim sẽ trở thành vua!” Còn bây giờ quả tim

215

không còn cho tôi, cái đầu không còn cho em trai

tôi, thì bà hãy trả tiền tôi đây.

- Thưa ông, vì ông đã không nói điều này trước cho

tôi biết. Ông cũng chẳng đưa ra điều kiện gì, cho

nên tôi không thể trả lại tiền ông được mà tôi sẽ

kiện toà, vì ông có ý đồ cướp đi vật sở hữu của tôi

và con trai tôi. Bởi chính nó là người đã lấy được

quả trứng và bắt được con chim.

Người thợ kim hoàn cùng em trai buộc phải cuốn

gói, mà không đòi được đồng xu nào.

Buổi tối, người mẹ kể lại cho hai đứa con nghe

cuộc nói chuyện của mình với người thợ kim hoàn nọ.

Đứa bé chỉ cười; còn đứa lớn thì xin mẹ cho phép

ngày mai được đến học ở trường dòng.

Người con trai cả tỏ ra rất có khả năng học tập,

216

nên tu viện trưởng đã gửi anh ta tới thành Rôma. ít

lâu sau, Đức cha ở Rôma chết nên mọi người đều

nhất trí cử người thanh niên có học vấn uyên thâm

và rất được kính trọng này làm Đức cha. Nhiều năm

trôi qua, đứa em trai ngốc nghếch không biết tin

tức gì của người anh, nên khi được biết anh mình

đang ở Rôma, thì đã xin phép mẹ được tới đó. Cậu ta

đến Rôma đúng ngày Đức cha nhận chức. Chen trong

đám đông, cậu em đến gần Đức cha mới và Ngài đã

nhận ra cậu ngay. Không kìm được, cậu gọi anh trai

thật to. Đức cha dẫn cậu về cung của mình. Qua em

trai, Đức cha biết rằng mẹ của họ đã già. Ngài hỏi

em:

- Vậy em định làm gì?

- Em không có tiền.

217

- Nghe đây: Hãy cầm lấy chiếc ví mà người ta mới

dâng cho anh ngày hôm nay. Mỗi khi cần tiền, em cứ

mở ví ra thì sẽ có ngay số tiền mà em cần, nhưng

đừng bao giờ tự lừa dối mình, và đừng trở thành

thằng thộn.

Cậu em trai rời khỏi Rôma và tới một thủ đô. Ở đó,

cậu mua một toà lâu đài đối diện với cung điện của

nhà vua. Nhà vua này có một cô công chúa rất đẹp

nhưng cũng rất láu cá.

Ngày này sang tháng khác, chàng ngốc không rời cửa

sổ vì mải ngắm nhìn công chúa. Con gái nhà vua

đoán ra tâm trạng của chàng ngốc, nên đã quyết định

lợi dụng cơ hội này. Vào một ngày đẹp trời, công

chúa tới lâu đài của chàng. Anh ta vui sướng mời

công chúa ngồi, và chỉ trong khoảnh khắc nàng đã

218

biết được rằng: Tất cả những của cải này đều từ

trong chiếc ví thần bí mà ra cả. Nàng muốn được xem

chiếc ví và chàng ngốc đã chấp nhận. Khi công chúa

muốn đem chiếc ví về cho vua cha xem thì chàng

ngốc cũng đồng ý ngay. Không cần nói thì ta cũng

biết rằng công chúa ấy không bao giờ xuất hiện nữa,

và sau mấy ngày thì mọi người đều bàn tán về đám

cưới cuả công chúa đang sắp diễn ra.

Khi đã hết tiền, chàng ngốc lại đến Rôma và kể lại

câu chuyện với anh trai. Người anh nói:

- Mày đã là một thằng ngốc và mãi là thằng ngốc

thôi. Anh sẽ không đưa tiền cho mày nữa đâu. Hãy

cầm lấy cái sáo này và nhớ rằng: Nếu thấy có người

chết thì hãy thổi sáo, người chết sẽ sống lại. Ống

sáo này sẽ giúp mày kiếm được nhiều tiền.

219

Và chuyện xảy ra đúng như thế. Khi chàng ngốc tới

kinh đô - nơi có lâu đài của mình, anh ta đã thu

được rất nhiều tiền. Cũng trong thời gian đó, vị

hôn thê của công chúa qua đời. Ở cung điện, người

ta khóc lóc suốt ngày đêm. Khi ấy chàng ngốc nói là

có thể làm người chết sống lại.

Nhà vua cho mời chàng ngốc tới và hứa sẽ trả cho

anh ta rất nhiều của cải. Nàng công chúa biết chàng

ngốc có một ống sáo thần bí, nên lại có ý đồ chiếm

đoạt, nàng giả vờ yêu thương chàng ngốc và đã lấy

được ống sáo dễ dàng. Chàng ngốc buồn rầu trở về

thành Rôma để gặp anh trai.

Lần này, Đức cha đưa cho anh ta một tấm thảm đẹp

và nói:

- Em nên nhớ rằng: Em cũng phải biết tiếc những

220

vật quý mà cô ta đã lấy của em. Hãy cho cô ta xem

tấm thảm này. Khi cô ta bước lên tấm thảm, thì em

hãy tới đứng bên cạnh và nói: “Thảm hãy đưa chúng

tôi tới Rôma”. Khi hai người bay tới đây, anh sẽ

làm phép cưới ngay.

Cậu em hiểu anh trai yêu cầu gì và trở về nhà. Từ

khi vị hôn thê của công chúa sống lại, thì chàng

ngốc đã được tự do ra vào cung cấm và trò chuyện

với nhà vua. Chàng gặp công chúa nhiều lần trong

cung, và vẫn rất yêu nàng. Có một lần, chàng vô

tình tiết lộ với công chúa về tấm thảm tuyệt vời mà

chàng đã mua cách đây không lâu, nàng công chúa

lại muốn ngay lập tức có được tấm thảm ấy. Ngay

ngày hôm đó, nàng đã đến lâu đài của chàng ngốc và

đòi xem bằng được tấm thảm. Chàng ngốc trải tấm

221

thảm trước mặt và mời công chúa bước lên tấm thảm.

Chàng cũng làm như thế và nói:

- Tấm thảm, hãy đưa chúng tôi tới Kôrxica.

Chàng ngốc đã nhầm, đáng lẽ phải nói “tới Rôma”

thì lại nói “tới Kôrxica”. Trong nháy mắt, họ đã có

mặt trên cánh đồng xứ Kôrxica, một nơi hoang dã

chưa từng ai sinh sống. Chàng ngốc leo lên một gò

đất cao nhìn ra xung quanh, còn nàng công chúa thì

đã vội leo lên tấm thảm và nói:

- Tấm thảm hãy đưa tôi về cung điện của tôi.

Và nàng đã biến mất. Trên gò đất bước xuống, chàng

ngốc không nhìn thấy công chúa đâu.

Không biết làm gì, chàng bắt đầu đi lang thang.

Khi đói và mệt, chàng thấy một cây cọ có quả đen

nên đã ăn mấy quả. Lập tức, ở đầu và lưng chàng mọc

222

lên mười cái sừng. Chàng cảm thấy rất khó chịu.

Hoảng sợ, chàng đi tới một cây cọ khác có quả trắng

hái ăn một chùm quả. Mười chiếc sừng biến mất.

Khi đó, chàng hái đầy một túi quả đen và một túi

quả trắng, rồi xuống một cái thuyền trở về kinh đô

của công chúa.

Chàng ngốc cải trang rồi đi tới cung điện nhà vua

để bán những quả cọ đen. Sau mấy giờ thì cả kinh

thành đều biết tin vua, hoàng hậu và công chúa đã

mọc sừng. Người ta phải mời ngay các vị danh y tới

để cắt bỏ sừng, nhưng vì quá đau đớn, nên nhà vua

đã từ chối.

Lúc ấy, khắp kinh đô lại lan truyền tin đồn: Một

thầy thuốc giỏi nổi tiếng từ Ấn Độ tới có thể làm

mất sừng. Tất nhiên ai cũng biết thầy thuốc đó

223

chính là chàng ngốc của chúng ta. Thầy thuốc được

mời tới phòng của nhà vua.

Nhà vua không nhận ra chàng vì chàng đã dán một bộ

ria mép rồi đội một mớ tóc giả. Chàng đã cho nhà

vua ăn quả cọ trắng và nói rằng: Đây là một loại

thuốc đến từ phương Đông. Nhà vua lập tức lành

bệnh.

- Bây giờ thì nhà vua không được rời khỏi phòng

của mình, và không được trò chuyện với ai trong

vòng 8 giờ. - Thầy thuốc tuyên bố.

Chàng ngốc tới phòng của hoàng hậu và cũng làm

đúng như thế. Sau đó, chàng tới phòng của công

chúa. Công chúa vì ăn quá nhiều, nên sừng mọc rất

nhiều nhánh, chẳng khác nào sừng hươu. Chàng ngốc

nhìn thấy tấm thảm của mình ở trên sàn, chiếc ví và

224

ống sáo ở trên bàn. Biết rằng nàng công chúa không

nhận ra mình, nên chàng đã mời công chúa rời khỏi

giường.

- Cái đầu đã quấy rầy tôi. - Nàng nói và nước mắt

giàn giụa.

Chàng ngốc nhẹ nhàng giúp nàng đứng dậy, rồi ngồi

vào ghế và để chân trên tấm thảm. Chàng cũng kín

đáo lấy chiếc ví và ống sáo nhét vào túi rồi hỏi

công chúa:

- Nàng không nhận ra tôi à?

- Em nhận ra chàng qua giọng nói! Nhưng chàng ngốc

đã nói ngay:

- Tấm thảm, hãy đưa chúng tôi tới chỗ anh trai tôi

là Đức cha thành Rôma!

Khi hai người có mặt ở trong phòng của Đức cha thì

225

Ngài không biết họ là ai. Nhưng khi chàng ngốc bỏ

bộ ria và mái tóc giả ra thì Ngài nhận ra ngay.

Đức cha thân ái nói chuyện với công chúa và sau đó

đã thuyết phục được nàng lấy em trai mình, rồi làm

phép cưới cho họ.

Sau phép cưới, công chúa được ăn quả cọ trắng nên

bộ sừng đã biến mất.

Tất cả những chuyện xảy ra đã dạy cho chàng ngốc

của chúng ta sự thông minh và thận trọng. Bà mẹ già

cũng có mặt ở lễ cưới của họ. Tất cả đều cùng sống

bên nhau vui vẻ và hạnh phúc.

226

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát