Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
50 Cách Phòng Ngừa Và Xử Lý Stress

BS. LAN PHƯƠNG

50 CÁCH PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ STRESS

NXB PHỤ NỮ

LỜI DẪN

Stress là gì?

Stress là cảm xúc tiêu cực liên quan đến biến đổi

sinh học tạo sự thích nghi cho cơ thể. Ví dụ, để

đáp ứng lại với stress, tuyến thượng thận tiết ra

hormon gây stress làm tăng tốc cơ thể: Nhịp tim

tăng lên, và đường huyết tăng để glucose đi vào

trong cơ để thoát khỏi tình huống nguy hiểm. Những

thay đổi này gọi là đáp ứng đánh hay chạy. Hormon

gây stress, có tên là catecholamine, bao gồm

epinephrine (adrenaline) và norepinephrine.

Trong thế kỷ 21, hầu hết stress phát sinh từ quan

1

hệ giữa người và người với nhau chứ không phải do

động vật ăn thịt tấn công con người. Thỉnh thoảng

stress phát sinh do khi ta phải trốn chạy một tên

cướp hay một tên trấn lột, nhưng thường thì stress

xảy đến do công việc và con cái gây nên. Từ đó dẫn

đến hậu quả là hormon gây stress tạo nên sự căng

thẳng cho cơ thể và làm giảm sức đề kháng đối với

bệnh tật. Thoạt đầu, hormon gây stress kích thích

hệ miễn dịch, nhưng sau khi sự kiện gây căng thẳng

trôi qua, nó có thể ức chế hệ miễn dịch, dẫn đến sự

phát sinh nhiều bệnh tật.

Hans Seyle, một chuyên gia về stress, cho rằng

stress làm tổn thương cơ thể, buộc cơ thể tận dụng

hết nguồn lực của mình, làm phát sinh một số bệnh

lý như:

2

Dị ứng, suyễn. Đau lưng.

Bệnh tim mạch.

Bệnh lý răng miệng. Trầm cảm.

Bùng nổ cảm xúc (thịnh nộ, giận dữ, khóc, cáu

kỉnh).Mệt mỏi.

Bệnh lý dạ dày ruột (rối loạn tiêu hóa, vấn đề đi

tiêu, v.v…).

Nhức đầu.

Mụn giộp tái phát (nhất là ở nữ).

Tăng huyết áp. Tăng cholesterol.

Suy giảm miễn dịch (làm cơ thể dễ bị nhiễm trùng

mắc các bệnh tự miễn, ung thư).

Mất ngủ.

Chán ăn và sụt cân. Đau nhức cơ.

Già trước tuổi.

3

Rối loạn về hoạt động tình dục.

Bệnh lý về da.

Như vậy, stress là nguyên nhân quan trọng của sức

khỏe kém và bệnh tật. Nghiện và lạm dụng thuốc làm

những rối loạn này trầm trọng hơn khi ta cố giảm

bớt triệu chứng hoặc tự điều trị. Theo thống kê

hiện tại, 43% người trưởng thành có vấn đề về sức

khỏe do stress gây nên, 70-90% bệnh nhân đến khám ở

tuyến y tế cơ sở có bệnh tật hay rối loạn liên

quan stress. Chỉ riêng nơi làm việc, rất nhiều

người hàng ngày báo nghỉ bệnh do stress. Nghiên cứu

cho thấy khoảng 50% công nhân Bắc Mỹ bị kiệt sức ở

trạng thái kiệt quệ tinh thần và mệt mỏi do stress

và 40% trường hợp luân chuyển nhân viên có nguyên

nhân liên quan trực tiếp đến stress.

4

Tổn thất tài chính do stress trong các ngành công

nghiệp Bắc Mỹ gánh chịu lên đến khoảng 300 tỉ đô la

hàng năm. Con số này bao gồm phí tổn do công nhân

nghỉ làm, năng suất giảm, thay thế công nhân, chi

phí y tế, luật pháp, và phí bảo hiểm. Chỉ riêng ở

tiểu bang California, các ông chủ xí nghiệp đã chi

khoảng 1 tỉ đô la tiền thuốc men chăm sóc và án phí

do stress. 90% kiện tụng stress ở nơi làm việc đều

thắng, và án phí phải nộp cao hơn 4 lần tiền phạt

của kiện tụng bồi thường do những tổn thương khác.

Trong khi đó, chi phí cho chương trình phòng chống

stress của các tập đoàn tăng từ 9.4 tỉ đô la năm

1995 lên 11.3 tỉ đô la năm 1999.

Hậu quả của stress còn nghiêm trọng hơn hậu quả do

tổn hại tài chính. 60-80% trường hợp tai nạn công

5

nghiệp kinh khủng như tràn dầu hay tai nạn ở lò

phản ứng hạt nhân là do công nhân quá căng thẳng.

Các cụm từ “cơn thịnh nộ ở văn phòng” hay “cơn

thịnh nộ tại bàn làm việc” ngày càng phổ biến, cũng

như sự bạo hành nơi làm việc đang ngày càng tăng

nhanh. Một số chi tiết nhỏ nhưng rất thuyết phục là

năm 1997, từ karoshi, tiếng Nhật nghĩa là đột tử

do làm việc quá nhiều, bắt đầu xuất hiện trong từ

điển tiếng Anh.

Các loại stress

Khống chế stress không dễ dàng, nhất là vì có

những loại stress khác nhau: stress cấp tính và

stress mãn tính. Stress cấp tính nảy sinh từ tình

huống cấp thời, như sự kiện tiêu cực bất ngờ, không

mong đợi hay nhiệm vụ khó khăn như tổ chức đám

6

cưới hay hoạch định hội nghị. Khi sự kiện qua đi

hay nhiệm vụ kết thúc, stress cũng biến mất. Stress

cấp tính có vô số triệu chứng: giận dữ hay cáu

kỉnh, lo lắng, suy nhược, nhức đầu căng thẳng hay

đau nửa đầu, đau lưng, đau hàm, căng cơ, rối loạn

tiêu hóa, bệnh lý tim mạch, và chóng mặt.

Stress cấp tính có thể là nhiều đợt, tức các sự

kiện căng thẳng nối tiếp nhau, tạo nên stress cấp

tính liên tục. Luôn phải đảm nhận quá nhiều dự án

cùng lúc sẽ gây stress cấp tính nhiều đợt, không

phải stress cấp tính đơn thuần. Người say mê làm

việc và người có tính cách loại A (theo chủ nghĩa

cầu toàn) thường gặp stress cấp tính nhiều đợt.

Stress cấp tính là stress tốt. Thông thường, kiểu

stress này có kết quả tốt đẹp, dù trước mắt thấy

7

căng thẳng hay tồi tệ. Stress cấp tính buộc phải

vượt qua khả năng bản thân, làm kịp thời hạn cuối

cùng, và có giải pháp sáng tạo cho các vấn đề. Sau

đây là một số ví dụ về stress tích cực:

Dự án có tính thách thức.

Sự kiện thay đổi cuộc sống có tính tích cực

(chuyển nhà, thay đổi công việc, hoặc chấm dứt quan

hệ không lành mạnh).

Đối mặt với sợ hãi, bệnh tật, hoặc người gây cảm

giác khó chịu.

Những tình huống này có thể khó chịu đựng, nhưng

lâu dài kết quả lại tốt.

Mỗi khi sự kiện căng thẳng dẫn đến sự phát triển

cảm xúc, trí tuệ, hay tinh thần, thì đó là stress

tốt. Thường không phải là sự kiện mà chính phản ứng

8

của bạn với sự kiện đó quyết định stress tốt hay

xấu. Thậm chí cái chết của người thân cũng dẫn đến

sự phát triển cá nhân vì ta hiểu được điều gì đó về

bản thân mình trước giờ không biết, chẳng hạn tính

kiên cường. Trong trường hợp này, đau lòng về cái

chết có thể là stress tốt, mặc dù trước mắt làm cho

ta buồn bã.

Stress xấu là stress mãn tính. Stress mãn tính

phát sinh từ chán nản và trì trệ, cũng như hoàn

cảnh tiêu cực kéo dài. Mỗi khi sự kiện căng thẳng

không đem lại sự phát triển, thì đó là stress xấu.

Khi sự kiện tiêu cực dường như không đem lại điều

gì tích cực về lâu dài, thì stress làm phát sinh

những bệnh lý mãn tính và làm người yếu đi. Một số

ví dụ stress xấu là công việc hay quan hệ trì trệ,

9

tàn phế do tai nạn hay bệnh tật khủng khiếp, hoặc

tình trạng thất nghiệp kéo dài, nghèo đói triền

miên, không cho cơ hội đổi đời. Những loại tình

huống kiểu này có thể dẫn đến trầm cảm, tự kỷ ám

thị, và nhiều chứng bệnh thực thể khác.Ngoài cách

phân biệt stress cấp tính và mãn tính, stress còn

được định nghĩa như sau:

Stress thể xác (do cơ thể gắng sức).

Stress do hóa chất (tiếp xúc chất độc trong môi

trường, kể cả độc tố do lạm dụng thuốc).

Stress tinh thần (đảm nhận quá nhiều trách nhiệm

và lo lắng về công việc phải làm).

Stress cảm xúc (do xúc cảm như giận dữ, sợ hãi, vỡ

mộng, buồn bã, phản bội, hay mất người thân).

Stress dinh dưỡng (do thiếu một số vitamin hay

10

dưỡng chất, ăn quá nhiều chất béo hay đạm, hoặc dị

ứng thức ăn).

Stress chấn thương (do tổn thương thân thể như

nhiễm trùng, thương tích, phỏng, phẫu thuật, nhiệt

độ quá lạnh hay nóng).

Stress tâm thần kinh (do khó chịu trong quan hệ cá

nhân hay hệ thống tín ngưỡng, mục tiêu cuộc sống

cá nhân, v.v... nói chung là những nhân tố xác định

hạnh phúc).

Vấn đề mấu chốt là stress có thể phát sinh bệnh.

Tập sách này sẽ giúp xác định việc cần làm ngay để

giảm stress mãn tính và kết hợp một số chiến lược

điều trị mới giúp chống stress cấp tính. Tìm cách

giảm nhịp cuộc sống (Mục 1-10) kết hợp với chữa trị

dùng tay (Mục 11-20), thảo dược và dưỡng chất (Mục

11

21-30), tập luyện cường độ cao trong và ngoài (Mục

31-40), và tự chăm sóc (Mục 41-50) theo thông lệ

sinh hoạt hàng ngày có thể giảm đáng kể stress.

KHUYẾN CÁO:

Các loại thuốc, liều lượng… đề cập trong sách chỉ

là đề nghị. Bạn phải theo chỉ định của bác sĩ trực

tiếp điều trị.

12

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát