Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Ám Ảnh Từ Kiếp Trước

ÁM ẢNH TỪ KIẾP TRƯỚC

Nhà xuất bản Lao động

175 Giảng Võ - Đống Đa - HN Tel: (04) 3851 5380

Fax: (04) 3851 5381

Website: www. nxblaodong.com.vn

Công ty Cổ phần Sách Thái Hà

119 C5 Tô Hiệu - Cầu Giấy - HN Tel: (04) 3793 0480

Fax: (04) 6287 3238

Website: www.thaihabooks.com

Chịu trách nhiệm xuất bản: Võ Thị Kim Thanh

Biên tập viên NXB: Lê Nguyệt Hằng Biên tập: Phương

Dung

Trình bày: Tuấn Minh

Thiết kế bìa: Cẩm Châu

Sửa bản in: Thanh Minh

1

Many Lives, Many Masters: The True Story of a

Prominent Psychiatrist, His Young Patient, and the

Past-Life Therapy That Changed Both Their Lives

Copyright © 1988, Brian L. Weiss, M.D

Bản quyền tiếng Việt © 2014, Công ty CP Sách Thái

HàCuốn sách được xuất bản theo hợp đồng chuyển

nhượng bản quyền giữa Công ty CP Sách Thái Hà và

Weiss Family Limited Partnership 1, LLC thông qua

Tuttle-Mori ThaiLand.

Không phần nào trong cuốn sách này được sao chép

hoặc chuyển sang bất cứ dạng thức hoặc phương tiện

nào, dù là điện tử, in ấn, ghi âm hay bất cứ hệ

thống phục hồi và lưu trữ thông tin nào nếu không

có sự cho phép bằng văn bản của Công ty Cổ phần

Sách Thái Hà.

2

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia

Việt Nam

Weiss, Brian L.

Ám ảnh từ kiếp trước: Bí mật của sự sống và cái

chết / Brian L. Weiss ; Trần Trung Hải dịch. - H. :

Lao động ; Công ty Sách Thái Hà,

2014. - 300 tr. ; 21 cm

Tên sách tiếng Anh: Many lives, many masters

. Tâm linh 2. Sự sống 3. Chết

133.9013 - dc23

LDK0043p-CIP

In 2.000 cuốn, khổ 13 x 20.5 cm tại Công ty CP in

và TM Prima. Số đăng ký KHXB:

1776-2014/CXB/24-149/LĐ. Quyết định xuất bản số:

559/QDDLK-LĐ. In xong và nộp lưu chiểu Quý

3

III/2014.Tặng Carole, vợ của anh,

Tình yêu của em đã nuôi dưỡng và nâng đỡ anh dài

lâu biết bao.

Chúng ta sẽ bên nhau cho đến răng long đầu bạc.

Xin gửi lòng biết ơn và tình yêu đến các con,

Jordan và Amy, vì đã tha thứ dù bố đã đánh cắp quá

nhiều thời gian của các con để viết cuốn sách này.

Tôi cũng cám ơn Nicole Paskow đã ghi lại những

cuốn băng ghi âm các phiên trị liệu.

Xin được cảm ơn những gợi ý giá trị nhất của Julie

Rubin sau khi đọc bản nháp đầu tiên của cuốn sách.

Chân thành cám ơn Barbara Gess - biên tập viên của

tôi ở Simon & Schuster vì tính chuyên nghiệp và

lòng can đảm của cô.

Xin gửi lòng biết ơn sâu sắc của tôi đến tất cả

4

những người khác, dù ở đâu, đã giúp cuốn sách này

trở thành hiện thực. 8 9

Lời nói đầu 10

Tô i biết rằng mọi chuyện đều có lý do. Có lẽ tại

thời điểm một sự kiện nào đó xảy ra, chúng

Tta chưa có được sự thấu hiểu cũng như khả năng

nhìn xa trông rộng để hiểu hết lý do đó, nhưng theo

thời gian và lòng kiên nhẫn, mọi chuyện sẽ trở nên

sáng rõ.

Đó là trường hợp của Catherine. Tôi gặp cô ấy lần

đầu tiên vào năm 1980 khi cô 27 tuổi. Cô đến văn

phòng của tôi để chữa trị chứng hồi hộp, những cơn

hoảng hốt và chứng khiếp sợ. Dù những triệu chứng

này cô đã có từ nhỏ nhưng gần đây chúng trở nên tệ

hại hơn hẳn. Mỗi ngày cô càng cảm thấy tê liệt hơn

5

và khó khăn hơn về cảm xúc. Cô bị khủng hoảng và

trầm cảm rõ rệt.

Trái ngược với sự hỗn độn đã xảy ra trong đời cô

ấy vào lúc đó, cuộc đời tôi trôi qua êm đềm. Tôi có

một cuộc hôn nhân tốt đẹp và bền vững, có hai con

nhỏ và một sự nghiệp đang trên đà thăng tiến.

Từ lúc khởi đầu, cuộc đời tôi dường như luôn thuận

buồm xuôi gió. Tôi sinh trưởng trong một gia đình

tràn đầy tình yêu thương. Thành công về họcthuật

đến dễ dàng và vào năm thứ hai đại học, tôi quyết

định trở thành bác sỹ tâm thần.

Tôi tốt nghiệp hạng ưu, là thành viên của Phi Beta

Kappa1, trường đại học Columbia, New York vào năm

1966. Sau đó tôi đã vào trường y khoa của đại học

Yale và nhận bằng tiến sỹ y khoa vào năm

6

1970. Tham dự chương trình nội trú tại Trung tâm Y

khoa Bellevue, đại học New York, tôi quay lại Yale

để hoàn tất chương trình nội trú ngành tâm thần

học của mình. Hoàn thành chương trình, tôi được

nhận vào đội ngũ giảng viên của đại học Pittsburgh.

Hai năm sau, tôi gia nhập đội ngũ giảng viên đại

học Miami, lãnh đạo khoa Dược học tâm thần

(Psychopharmacology). Ở đó tôi đã gặt hái những

thành quả mang tầm vóc quốc gia trong các lĩnh vực

tâm thần sinh học và lạm dụng chất gây nghiện. Sau

bốn năm ở đại học này, tôi được thăng tiến vào vị

trí trợ lý giáo sư tâm thần học của trường y và

được bổ nhiệm làm lãnh đạo khoa tâm thần tại một

bệnh viện lớn thuộc trường đại học ở Miami. Vào lúc

đó, tôi đã xuất bản được 37 công trình khoa học và

7

các

chương sách trong lĩnh vực của mình.

Nhiều năm nghiên cứu nghiêm ngặt đã rèn luyện cho

trí óc của tôi suy nghĩ như một nhà khoa học và bác

sỹ trị liệu, hun đúc tôi theo những quỹ đạo hẹp

của chủ nghĩa bảo thủ trong nghề nghiệp của mình.

Tôi ngờ vực bất kỳ thứ gì không thể chứng minh được

bằng những phương pháp khoa học truyền thống. Tôi

có biết một vài nghiên cứu trong lĩnh vực cận tâm

lý đang được thực hiện tại những trường đại học lớn

trên khắp cả nước (Mỹ) nhưng chúng chẳng làm tôi

quan tâm. Với tôi, chúng có vẻ gì đó rất khó tin.

Rồi tôi gặp Catherine. Trong 18 tháng, tôi đã dùng

những biện pháp trị liệu truyền thống để giúp cô

khắc phục các triệu chứng của mình. Khi mọi thứ

8

dường như không có tác dụng, tôi đã thử thôi miên.

Trong một loạt những trạng thái xuất thần sâu,

Catherine nhớ lại những ký ức “kiếp trước” được

chứng tỏ là nhân tố gây ra những triệu chứng của cô

ấy. Cô còn có thể đảm nhận vai trò là kênh truyền

thông tin từ “những bản thể tâm linh” đã tiến hóa

cao và qua họ, cô ấy tiết lộ nhiều bí mật của sự

sống và cái chết.

Chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, những triệu chứng

của cô biến mất và cô tìm lại được cuộc sống của

mình, hạnh phúc hơn và an lành chưa từng có.

Nền tảng tri thức của tôi hoàn toàn không được

chuẩn bị gì cho điều này. Tôi vô cùng sửng sốt khi

những sự kiện này hiển lộ.Tôi không có được bất kỳ

sự giải thích khoa học nào cho những gì đã xảy ra.

9

Có quá nhiều điều về trí óc con người vượt xa sự

hiểu biết của chúng ta. Có lẽ, khi bị thôi miên,

Catherine có khả năng tập trung vào phần tiềm thức

lưu trữ những ký ức thật sự của kiếp trước, hay có

thể cô ấy kết nối được tới cái mà nhà phân tâm học

Carl Jung gọi bằng thuật ngữ “vô thức tập thể” -

nguồn năng lượng bao quanh chúng ta và chứa đựng ký

ức của toàn bộ loài người.

Các nhà khoa học đang tìm kiếm những câu trả lời.

Chúng ta, trong vị thế của một xã hội, sẽ hưởng lợi

rất nhiều nhờ những nghiên cứu về những bí ẩn của

trí não, tâm hồn, sự tiếp diễn của sự sống sau khi

chết và ảnh hưởng của những trải nghiệm trong kiếp

trước lên hành vi trong cuộc đời hiện tại. Rõ ràng,

sự phân nhánh là vô hạn, đặc biệt là trong lĩnh

10

vực y khoa, tâm thần, thần học và triết học.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu nghiêm ngặt về mặt khoa

học trong lĩnh vực này vẫn còn ở giai đoạn non

trẻ. Chúng ta đang đạt được những tiến triển trong

việc khám phá thông tin, nhưng tiến bộ chậm chạp và

vấp phải nhiều sự chống đối của các nhà khoa học

và những người thiếu chuyên môn.

Lịch sử cho thấy con người từng chống lại sự thay

đổi cũng như chấp nhận những ý tưởng mới. Toàn bộ

tri thức và truyền thuyết lịch sử đầy rẫynhững dẫn

chứng điển hình. Khi Galileo khám phá ra những mặt

trăng của sao Mộc, các nhà thiên văn thời đó đã

không chấp nhận hay thậm chí còn không nhìn vào

những vệ tinh này vì sự tồn tại của chúng mâu thuẫn

với tín điều mà họ tin tưởng. Và giờ đây, điều đó

11

lại xảy ra với những nhà tâm thần học và bác sỹ trị

liệu khác, họ từ chối xem xét và đánh giá những

chứng cứ rõ ràng đang được thu thập về những trường

hợp sống lại sau khi thể xác chết đi và những ký

ức về kiếp trước. Đôi mắt họ vẫn nhắm tịt.

Cuốn sách này là đóng góp nhỏ nhoi của tôi vào

những nghiên cứu vẫn đang được tiến hành trong lĩnh

vực cận tâm lý, đặc biệt là ngành liên quan đến

những trải nghiệm của chúng ta trước khi sinh và

sau khi chết. Từng từ mà bạn sẽ đọc là sự thật. Tôi

không thêm vào bất kỳ điều gì và chỉ xóa đi những

phần bị trùng lặp. Tôi cũng đã thay đổi phần nào

danh tính của Catherine để bảo vệ sự riêng tư của

cô.

Tôi mất bốn năm để viết về những gì đã xảy ra, bốn

12

năm thu góp lòng can đảm để có thể đối mặt với

nguy cơ nghề nghiệp khi tiết lộ thông tin không

chính thống này.

Thình lình một đêm nọ trong khi đang tắm, tôi cảm

thấy một nỗi bức bách phải viết những trải nghiệm

này ra giấy. Tôi cảm nhận sâu sắc rằng đây là thời

điểm thích hợp và tôi không thể giữ kín thông tin

này lâu hơn nữa. Tri thức đã truyền qua Catherine

và giờ là truyền qua tôi. Tôi biết rằng việc không

chia sẻ tri thức mà mình đã nhận được về sự bất tử

và ý nghĩa thật sự của cuộc sống có tầm mức hủy

hoại lớn hơn bất cứ hậu quả nào bản thân có thể

phải đối mặt.

Tôi vội vàng tắm xong và ngồi vào bàn làm việc với

chồng băng ghi âm đã thực hiện trong những phiên

13

trị liệu với Catherine. Trong những giờ phút tinh

mơ buổi sáng hôm đó, tôi nghĩ đến người ông gốc

Hung già nua đã mất khi tôi vẫn còn niên thiếu. Bất

cứ lúc nào tôi nói với ông rằng mình sợ phải mạo

hiểm, ông cũng trìu mến khích lệ tôi bằng cách nhắc

lại thành ngữ tiếng Anh yêu thích của mình: “Sợ

quái rì chứ”1, ừ ông sẽ nói, “sợ quái rì chứ”.

1 “Vat the hell”, do ông của tác giả là người Hung

nên phát âm

“What the hell” theo giọng Hung như vậy. 17

Chương 1 18

lầ n đầu tôi nhìn thấy Catherine là khi cô mặc bộ

váy đỏ thắm và đang nôn nóng lật một cuốn

Ltạp chí trong phòng chờ của tôi. Cô ấy đang thở

gấp. Trước đó 20 phút, cô đã đi lại ngoài hành lang

14

văn phòng khoa Tâm thần, cố thuyết phục mình không

hủy cuộc hẹn với tôi và bỏ chạy.

Tôi đi ra phòng đợi chào cô và chúng tôi bắt tay

nhau. Tôi nhận thấy tay cô ấy lạnh và ẩm ướt, thể

hiện sự hồi hộp. Thực sự, cô đã mất hai tháng để

lấy can đảm cho cuộc hẹn gặp tôi, ngay cả khi hai

bác sỹ trong bệnh viện mà cô tin tưởng ra sức

khuyên cô ấy nhờ tôi giúp. Cuối cùng thì cô cũng đã

ở đây.

Catherine là một phụ nữ cực kỳ hấp dẫn với mái tóc

vàng ngang vai và đôi mắt nâu. Vào lúc đó, cô là

kỹ thuật viên phòng thí nghiệm của bệnh viện mà tôi

là trưởng khoa Tâm thần và cô kiếm thêm thu nhập

bằng việc trình diễn áo tắm.

Tôi dẫn cô ấy vào văn phòng của mình, đi ngang qua

15

chiếc sô pha để đến chiếc ghế bành da lớn. Chúng

tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn hình bán

nguyệt của tôi. Catherine ngã người trên ghế ủa

mình, im lặng và không biết bắt đầu từ đâu. Tôi chờ

đợi, mong cô ấy chọn được cách mở đầu, nhưng sau

vài phút, tôi đành bắt đầu hỏi về quá khứ của cô

ấy. Trong cuộc gặp đầu tiên đó, chúng tôi bắt đầu

tìm hiểu cô ấy là ai và tại sao cô lại đến gặp tôi.

Để trả lời những câu hỏi của tôi, Catherine đã kể

chuyện của mình. Cô là con giữa, lớn lên trong một

gia đình Công giáo bảo thủ tại một thành phố nhỏ

của Massachusetts. Anh của cô - sinh trước cô ba

năm - rất mạnh mẽ và vui thích với sự tự do mà cô

không bao giờ được phép. Em cô ấy là con cưng của

16

bố mẹ.

Khi chúng tôi bắt đầu nói về những triệu chứng của

cô thì cô ấy hồi hộp và căng thẳng hơn thấy rõ. Cô

nói nhanh, nghiêng người về phía trước và chống

hai cùi chỏ lên bàn. Cuộc sống của cô luôn trĩu

nặng những nỗi sợ hãi. Cô sợ nước, sợ ngạt đến mức

không thể nuốt các viên thuốc, sợ máy bay, sợ bóng

tối và khiếp hãi cái chết. Trong thời gian gần đây,

nỗi sợ của cô trở nên tồi tệ hơn. Để tạo cảm giác

an toàn, cô thường ngủ trong phòng chứa đồ của nhà

mình. Cô bị trằn trọc khoảng hai đến ba giờ đồng hồ

mới ngủ được. Giấc ngủ của cô nông, chập chờn và

thường thức giấc. Ác mộng và tình trạng mộng du

từng hủy hoại tuổi thơ của cô đang trở lại. Khi

những triệu chứng đó và nỗi sợ ngày càng đè nặng,

17

cô càng trở nên trầm cảm.

Khi Catherine tiếp tục nói, tôi có thể cảm nhận

được cô ấy đã phải chịu đựng nhiều như thế nào.

Trong nhiều năm, tôi đã từng giúp nhiều bệnh nhân

như Catherine vượt qua nỗi thống khổ của sự sợ hãi

và tôi cảm thấy tự tin rằng mình cũng có thể giúp

cô ấy. Tôi quyết định là chúng tôi sẽ đi sâu tìm

hiểu tuổi thơ, xác định nguồn gốc những vấn đề của

cô. Thường thì sự thấu hiểu như thế có thể giúp

giải tỏa sự kích động. Trong trường hợp cần thiết,

nếu cô ấy có thể uống thuốc viên được, tôi sẽ kê

một vài loại thuốc chống kích động loại nhẹ giúp cô

dễ chịu hơn. Đây là biện pháp chữa trị thông

thường theo giáo khoa cho những triệu chứng của

Catherine, tôi cũng chưa bao giờ ngần ngại phải

18

dùng thuốc an thần hay thậm chí thuốc chống trầm

cảm để chữa trị chứng sợ hãi, hồi hộp trầm trọng

mãn tính. Hiện thời tôi dùng những toa thuốc này

một cách hết sức hạn chế và mang tính tạm thời nếu

cần. Không có loại thuốc nào có thể chữa được tận

gốc những triệu chứng này. Kinh nghiệm của tôi với

Catherine và những người khác giống cô đã chứng tỏ

điều đó. Giờ đây tôi biết rằng có những cách chữa

trị chứ không chỉ là ngăn chặn hay che đậy các

triệu chứng như thế.

Trong buổi chữa trị đầu tiên, tôi thử nhẹ nhàng

đưa cô trở lại thời thơ ấu. Vì Catherine nhớ được

rất ít sự kiện trong những năm đó nên tôi đã ghi

chú ề khả năng sử dụng biện pháp thôi miên để khắc

phục tình trạng khó khăn này. Cô ấy không thể nhớ

19

được bất kỳ sự kiện gây chấn thương đặc biệt nào

trong tuổi thơ có thể giải thích được nỗi sợ hãi

lan tràn này.

Khi cô cố gắng và căng óc để nhớ thì những mảnh ký

ức rời rạc xuất hiện. Lúc khoảng năm tuổi, cô đã

sợ đến đờ người khi có ai đó xô cô khỏi cầu nhảy

xuống hồ bơi. Tuy nhiên, cô nói rằng ngay cả trước

tai nạn này thì mình cũng chưa bao giờ cảm thấy

thoải mái khi ở dưới nước. Lúc Catherine được bảy

tuổi, mẹ cô bị trầm cảm rất nặng. Sự xa cách lạ

lùng của bà mẹ với gia đình nghiêm trọng đến mức

phải nhờ đến bác sỹ tâm lý và những liệu pháp trị

liệu bằng sốc điện. Những đợt trị liệu này đã làm

mẹ cô khó nhớ được mọi chuyện. Trải nghiệm của mẹ

làm Catherine khiếp sợ nhưng khi tình trạng của bà

20

khá lên và trở lại là “chính mình” thì Catherine

cho biết là nỗi sợ của cô cũng dần biến mất. Cha cô

có tiền sử nghiện rượu và thỉnh thoảng anh cô phải

đến quán rượu để đưa ông về nhà. Cha cô ngày càng

uống nhiều hơn và càng thường xuyên gây gổ với mẹ

cô nên sau đó bà trở nên thất thường và khép kín.

Tuy nhiên, Catherine coi đây là kiểu mẫu gia đình

có thể chấp nhận được.

Mọi chuyện bên ngoài gia đình lại tốt đẹp hơn. Cô

bắt đầu hẹn hò khi học trung học và dễ dàng òa đồng

với bạn bè của mình - những người hầu hết cô đã

quen biết trong nhiều năm. Tuy nhiên, cô thấy khó

tin tưởng người khác, nhất là những người không

thuộc nhóm bạn thân cận của mình.

Tín ngưỡng của cô đơn giản và không có gì đáng

21

ngờ. Cô được nuôi dạy để tin vào tập tục và tín

điều công giáo, cô cũng chưa bao giờ mảy may nghi

ngờ tính đúng đắn và hợp lý trong niềm tin của

mình. Cô tin rằng nếu là một giáo dân tốt và sống

hợp đạo bằng cách giữ đức tin và nghi lễ thì sẽ

được tưởng thưởng bằng việc được lên thiên đàng;

nếu không sẽ bị vào luyện ngục hay địa ngục. Đức

Chúa cha và con sẽ phán xét sau cùng. Sau này tôi

biết được rằng Catherine không tin vào tái sinh;

thực tế, cô biết rất ít về khái niệm này dù cô có

đọc một chút về Ấn Độ giáo. Tái sinh là ý tưởng

trái ngược với niềm tin và hiểu biết của cô. Cô

chưa từng đọc tác phẩm nào về siêu hình học hay

huyền bí và cũng không có hứng thú với chúng. Cô an

ổn trong đức tin của mình.

22

Sau khi tốt nghiệp trung học, Catherine hoàn tất

chương trình hai năm về kỹ thuật và trở thành kỹ

thuật viên phòng thí nghiệm. Có nghề nghiệp và được

anh trai khuyến khích chuyển đến Tampa, Catherine

tìm được công việc tại Miami trong một bệnh viện có

phối hợp đào tạo với trường Y của đại học Miami.

Cô chuyển đến Miami mùa xuân năm 1974 lúc 21 tuổi.

Cuộc sống ở thành phố nhỏ của Catherine dễ chịu

hơn cuộc sống ở Miami nhưng cô vui mừng vì đã thoát

khỏi những vấn đề của gia đình mình.

Trong năm đầu tiên ở Miami, Catherine gặp Stuart.

Theo đạo Do Thái, đã kết hôn và có hai con, anh ta

khác hẳn những người đàn ông cô từng hẹn hò. Anh là

một bác sỹ thành đạt, mạnh mẽ và tham vọng. Giữa

họ có sự thu hút không thể cưỡng lại được nhưng

23

cuộc tình cũng đầy trắc trở và nhiều cung bậc cảm

xúc. Anh có một số điểm khiến cô đam mê và như thể

bị bỏ bùa. Thời gian Catherine bắt đầu trị liệu,

cuộc tình của cô với Stuart đã ở vào năm thứ sáu và

hết sức nồng nàn, nếu không muốn nói là tuyệt vời.

Catherine không thể cưỡng lại Stuart dù anh ta đối

xử tệ với cô còn cô cũng từng giận dữ vì sự dối

trá, thất hứa và thiếu thành thật của anh ta.

Một vài tháng trước cuộc hẹn với tôi, Catherine đã

được yêu cầu phẫu thuật thanh quản vì u lành tính.

Cô đã hồi hộp trước cuộc giải phẫu và trở nên hoàn

toàn khiếp sợ khi tỉnh lại trong phòng mổ. Nhân

viên điều dưỡng phải mất hàng giờ để giúp cô bình

tĩnh trở lại. Sau cuộc giải phẫu ở bệnh viện, cô đã

tìm bằng được bác sỹ Edward Poole. Ed là một bác

24

sỹ nhi khoa tốt bụng mà Catherine đã gặp khi làm ở

bệnh viện. Cả hai đều cảm thấy gắn bó ngay lập tức

và đã phát triển một tình bạn mật thiết. Catherine

trò chuyện thoải mái với Ed, kể cho anh ghe về nỗi

sợ hãi, mối quan hệ với Stuart và cảm giác đang

đánh mất khả năng kiểm soát cuộc đời mình. Anh ấy

khẩn thiết yêu cầu cô xin một cuộc hẹn với tôi và

chỉ với tôi chứ không phải với bất kỳ bác sỹ tâm lý

nào khác trợ lý cho tôi. Khi Ed gọi để báo cho tôi

đề nghị của mình, anh giải thích rằng vì một vài

lý do nào đó anh nghĩ chỉ có tôi mới có thể thực sự

hiểu Catherine, dù rằng những bác sỹ tâm lý khác

cũng có kỹ năng và chuyên môn xuất sắc. Tuy nhiên,

Catherine đã không gọi cho tôi.

Tám tuần trôi qua. Ngập trong những công việc bận

25

rộn của trưởng khoa Tâm thần, tôi quên mất cuộc gọi

của Ed. Sự sợ hãi và chứng hoảng loạn vô cớ của

Catherine ngày càng tệ hơn. Bác sỹ Frank Acker -

trưởng bộ môn giải phẫu - đã quen biết Catherine

nhiều năm và thường trêu đùa thân thiện mỗi khi ông

đến thăm phòng thí nghiệm mà cô làm việc. Ông ấy

cũng nhận thấy tình trạng không vui và cảm nhận

được sự căng thẳng của cô trong thời gian gần đây.

Vài lần ông định nói với cô nhưng ngại ngần nên

thôi. Một chiều nọ, Frank lái xe đến một bệnh viện

nhỏ xa thành phố để giảng bài. Trên đường đi, ông

trông thấy Catherine đang lái xe về nhà cũng ở gần

bệnh viện đó và bất ngờ vẫy cô tấp vào vệ đường.

Ông đã hét qua cửa xe “Tôi muốn cô đến gặp bác sỹ

Weiss ngay”, “Không chậm trễ”. Mặc dù các bác sỹ

26

giải phẫu thường hành động nhanh hẹn nhưng Frank

cũng cảm thấy ngạc nghiên về sự mạnh bạo quá mức

của mình.

Những cơn hoảng hốt và lo lắng của Catherine ngày

càng tăng cả về tần suất lẫn thời gian. Cô bắt đầu

gặp đi gặp lại hai cơn ác mộng. Trong một cơn ác

mộng, chiếc cầu sụp đổ khi cô lái xe ngang qua đó.

Chiếc xe đâm xuống nước, cô bị kẹt trong đó và chết

đuối. Trong ác mộng thứ hai, cô bị kẹt trong một

căn phòng tối đen, vấp té lên đồ vật và không thể

tìm được đường thoát ra ngoài. Cuối cùng, cô đến

gặp tôi.

Vào thời điểm buổi trị liệu đầu tiên của tôi với

Catherine bắt đầu, tôi không bao giờ nghĩ rằng đời

mình rồi sẽ thay đổi hoàn toàn mà chất xúc tác là

27

người phụ nữ sợ sệt, bối rối ngồi đối diện với mình

qua chiếc bàn này và tôi sẽ không bao giờ trở lại

như trước đây được nữa. 27

28

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát