Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Châm cứu học ( thay cuốn khác)

Chương 1

(Biên khảo về Châm cứu của T.T Thích Tâm Ấn)

  Nguồn gốc và lịch sử khoa châm cứu Căn

cứ theo sách y học Trung Hoa (Nội kinh tố vấn luận)

và tài liệu của Thừa đạm am một  Châm cứu gia trứ

danh Trung quốc thì khoa châm cứu là một phương

pháp chữa bịnh thời tối cổ của nước này cách đây 

hơn 5.000 năm.   Người thượng cổ vì sự sống quá

thô sơ nên phần nhiều bị ngoại tà xâm nhập làm

thịt nhức, gân co. Khi có bệnh chỉ biết dùng lửa để

hơ và dùng đá nhọn để châm chích (thạch khí thời

đại). Cách trị liệu này dần dần đúc kết thành khoa

châm cứu ngày nay.   Do kinh nghiệm sống thời

thượng cổ, Thánh nhân đã dạy rằng: vì cuộc sống đơn

giãn của loài người thuở ấy nên việc trị bệnh cũng

1

đơn giãn, có khi chỉ lấy tay ấn vào huyệt, xoa

mạnh vào vùng kinh lạc tập trung, hay hơ ấm những

nơi đó cũng lành bệnh được. Nên phương pháp trị

bịnh thuở ấy rất giãn dị như án ma, suy nả, quất

thử, huân úy, tẩm dục, đồ hoán, phu triêm, xuy

thông, điều nhập , đạo dẫn, châm cứu, chà bóp

(massage) sửa lận xương gân , cạo gió, bắt gió xông

giác (fumigation, inhalation, révulasion) tắm

(bain médicamenteuse) thoa rưới (Badigeonage

friction) đặt dán (catalasme, emplâtre) thổi thụt

(insufflation) nhét hậu môn (suppositoire), thông

khoan bằng thuốc hay các chất giúp cho thông đại

tiện (gymnastique), châm đốt vào các kinh lạc của

các kinh huyệt (acupunture). Tất cả các phương

pháp trên chỉ có châm cứu là quan hệ nhất. Các

2

phương pháp khác chỉ có tính cách phụ trợ, giải

quyết tạm thời chứ không thể lành bệnh hẳn được.

Từ khi có văn tự, sự ghi chép và kinh nghiệm về

khoa châm cứu được hệ thống hoá có qui củ. Trái qua

ngàn năm với các kinh nghiệm được thêm thắt lần

hồi làm cho khoa châm cứu trở nên cực kỳ tinh vi

thần diệu. Khoa này thịnh hành nhất từ năm 1277 đến

năm 1628 ở Trung Hoa, Cao Ly, nhật Bản và Việt

Nam.   Từ đó ngoài những châm cứu gia, các Đông

y sư cũng dùng châm cứu để làm trợ liệu cho thang

dược, thâu thập rất nhiều kết quả khả quan ngoài

sức tưởng tượng.   Đến thế kỷ thứ 17 nhân có

một số khoa học gia Đông Tây bắt đầu nghiên cứu về

khoa này với những quan niệm ôn cố nhi tri tâm làm

cho khoa châm cứu đươc phát triển rộng ra. Phong

3

trào nầy đã đưa khoa châm cứu tiến thêm một bước

khá dài. Đông y cho đó là cơ hội âu phong đông

tiệm.   Hiện nay khoa châm cứu đã được thế giới

chú ý, cả Tây y cũng đặt thành vấn đề nghiên cứu

phối hợp trị liệu cho các bệnh nhân hàng ngày. Ở

Pháp , Đức, Nhựt, Đại Hàn, Trung Hoa, vv… đều có

thành lập các viện châm cứu, các y viện chuyên trị

bệnh bằng khoa này, thu thập hằng ngàn luận án để

tổng kết phổ biến kinh nghiệm và 3 năm có họp một

lần, một tạp chí ra hàng tháng (R.I.A) được phát

hành rộng rãi.   Ở Việt Nam khoa châm cứu chưa

được phát triển rộng rãi và chỉ có một số đông y sư

áp dụng châm cứu với tính cách phụ trợ cho thang

dược mà thôi. Y sư Nguyễn Văn Quan sau bao năm

nghiên cứu ở Nhựt, trở về nước mở phòng trị bệnh

4

nhưng thời bấy giờ ít ai hiểu được sự công hiệu của

khoa này nên ông lại trở qua Nhật chuyên khảo cứu

và xuất bản nhiều quyển sách rất có giá trị. Từ

1949 đến 1950 , sau khi dự Hội nghị châm cứu Quốc

tế về, Bác sĩ Nguyễn Văn Ba đã chuyển hướng chữa

bệnh bằng khoa châm cứu. Bác sĩ Nguyễn văn Ba,

nghiên cứu nhiều về Đông y và châm cứu, trong việc

trị bệnh hằng ngày Bác sĩ Ba thường trị bằng châm

cứu và thuốc Tàu.   Bác sĩ Hoàng Mộng Lương tuy

chuyên về Tây y nhưng cũng áp dụng phương pháp trị

liệu về khoa châm cứu.   Đông ý sư có công

nghiên cứu về châm cứu và có nhiều kinh nghiệm về

thuật nầy hiện nay rất ít. Ở Nam Việt có cụ Lê Chí

Thuần, một Lão y sư có tên tuổi.   Ở Huế có Lão

y sư Trần Tiển Hy, Thái Y Nguyễn Văn Ái cũng là

5

bậc Lão Y, Lão Nho, nghiên cứu và áp dụng lâu năm

khoa nầy và đã có rất nhiều kinh nghiệm. Hiện nay

một số Đông y sĩ trẻ tuổi và sinh viên Y khoa đang

cố công nghiên cứu áp dụng khoa châm cứu.  

II. KHOA CHÂM CỨU VỚI CÁC LOẠI BỊNH   Khoa châm

cứu là thuật trị bịnh rất khoa học, dựa vào kinh

lạc, cơ điểm của từng tạng phủ, từng hệ thống một

của thần kinh của mỗi bộ phận trong người, đúng với

nguyên tắc cấu tạo của cơ thể học (cơ thể học:

Anatomie) Nói đến châm cứu đa số còn quan niệm là

nó chỉ trị được một số bệnh như đau lưng, nhức

đầu, đau bụng, tê bại, thủng trướng hay trúng

phong, kinh giản v.v. . .  Sự thật, những bậc tiền

bối của chúng ta từ rước cũng như các châm y hiện

đại của Pháp, Đức, Nhựt, Trung Hoa đều đã dùng châm

6

cứu đối phó với vô số bịnh tật. Chúng ta đọc Châm

cứu Đại thành hay tạp chí của Hội Châm cứu Quốc tế

(Revue international d acupuncture) sẽ thấy, trừ

những bịnh về ngoại thương, cơ hồ không có mấy

chứng bịnh mà người ta không thể trị bằng khoa châm

cứu được. Cổ nhân có nói “vạn bệnh nhất châm”, tuy

hơi quá đáng những cũng có bằng cớ vậy.  

Trước đây người phương tây (Âu châu) có quan niệm

chỉ dùng riêng cho bịnh thuộc về nhiều loại quan

năng (Troubles fontionelles) gây ra. Sau này nhờ

sự gia công nghiên cứu của các châm gia nhất là ở

Nhật (Thời Minh Trị có nhiều Châm y đặt vấn đề khoa

học hoá khoa châm cứu) người ta đã chứng mình rằng

châm cứu khoa còn trị được cả những chứng bịnh có

vi trùng như sốt rét rừng (Paludisme), dịch tả

7

(choléra). Những bịnh về thời khí, kinh niên nội

tạng bị hư hao ít nhiều như dạ dày bị trụt (ptôse

estomac) cả những bịnh sở quan đến tinh thần

(déficience mentale) , si ngốc (idiotie), điên

cuồng (démence, folie) v.v.v .. những bịnh về tâm

lý (đau nhức ở mặt vì lúc nhỏ bị nhiều sợ sệt khổ

tâm) (theo y án của Bác sĩ Kalma trong R.I.A số

tháng 7, 8, năm 1959, đau đầu, ói, mửa vì gặp điều

trái ý hay nổi giận dữ (theo y án của Bác sĩ

Rebuelto trong tạp chí R.I.A tháng Avril 1951) .

Tuy nhiên có những loại bịnh như ung thư, dương mai

thì châm cứu chỉ đóng vai phụ trợ cho thuốc mà

thôi. Nói chung, châm cứu trị cả những chứng bịnh

mà nội tạng bị tổn thương (lésion)). Thực vậy Thái

tử nước Quất bị chứng thi khuyết nhờ biển Thước

8

châm ở huyệt Duy hộ mà khỏi, Ngụy võ Đế bị đau đầu,

phong, nhờ Hoa Đà châm ở huyệt Nảo không mà hết

bịnh. Kết quả trị liệu đều do ở chỗ thủ thuật cao

thấp, huyệt vị có được nắm vững hay không.  

Trải qua mấy trăm năm khoa châm cứu đã được các bậc

tiền bối, nghiên cứu, bồi bổ kinh nghiệm rất nhiều

do đó nó trở thành có lý luận, trị liệu châm cứu

có căn cội, nghĩa là có luận chứng lập phương không

khác nào trị liệu bằng thang dược, đôi khi lại có

phần khó hơn. Một quan niệm khác cho rằng châm

cứu chỉ trị được một số bịnh, còn một số bịnh khác

phải nhờ uống thuốc. Như chúng ta đã biết khí hóa

của Vũ trụ và cơ thể quan hệ đến bệnh tật như thế

nào mà châm cứu là khoa trị bịnh phù hợp với khí

hoá hơn hết.   Như vậy tại sao châm cứu lại chỉ

9

trị được một số bịnh? điều này trong thực tế hàng

ngày đã chứng minh được rất nhiều.   Từ những

loại bệnh do ngoại tà xâm nhập đến những bệnh nội

thương bởi chính khí của cơ thể suy kém, những kỳ

bịnh do biến thể của ra khí, bịnh hiện ngoài da,

bịnh hiện trong xương thịt, bịnh phá hoại máu, làm

tê liệt một phần hệ thống thần kinh v.v.v .. đã

được giải quyết bằng trị liệu châm cứu. Tuy nhiên

,chúng ta vẫn nhận rằng sự hổ trợ giữa châm cứu và

dược tể cũng rất cần. Âm dương suy kém, vinh vệ

không đều, thủy hỏa mất thăng bằng, vận khí không

thuận v.v. . . đó là những căn nguyên làm cho con

người bịnh tật Và châm cứu đã giải quyết được những

căn nguyên của bịnh ở trên. Về trị liệu bằng thang

dược và châm cứu, nếu biết xử dụng đúng phương

10

pháp rất nhiều trường hợp được giải quyết nhanh

chóng hơn.   Ví dụ: một vài trị liệu cho những

bịnh lạ (kỳ bịnh), thời gian dùng thang dược sẽ dài

gấp ba bốn lần so với trị liệu châm cứu. Trong

thực tế dùng khoa châm cứu để trị bịnh , kinh

nghiệm đã cho biết: nhiều bệnh về loại ngoại cảm,

từ sơ phát đến khi nhiễm lý phạm vào từng kinh lạc,

biến thể nhiều tạng chứng khác (nhứt là loại trúng

phong, thương hàn) công năng: tuyến, thông, công,

tán của châm cứu rất nhiều hiệu lực. Ví dụ: tà

phạm nặng vào Túc khuyết âm biến thể của chứng nầy

nếu dùng thang dược trị liệu giải quyết sẽ rất chậm

trong lúc nầy nếu dùng châm cứu thời gian sẽ rút

ngắn rất nhiều. Những bịnh về nội thương, trừ những

cơ thể quá suy nhược mới phải dùng thang dược để

11

trị liệu, ngoài ra thì dùng châm cứu rất kịp thời.

Ví dụ: Tà phạm nặng vào Túc Thiếu âm làm cho kinh

này suy yếu biến thể làm ê đầu thường xuyên, tai

lùng bùng, đêm ngủ mồ hôi dầm dề, suyễn, khạc ra

máu, nếu dùng thang dược để giải quyết tình trạng

động kinh nầy sẽ rất chậm trong lúc cơ thể rất cần

bớt sự hành hạ dày vò. Khoa châm cứu trong trường

hợp này rất cần. Nói chung, châm cứu đối với các

loại bịnh đều giải quyết được nhất là những bịnh

thâm nhiễm lâu ngày thì sức tuyên thông của châm

cứu rất mau. Phần trợ liệu của thang dược đối với

châm cứu cần trong trường hợp cơ thể suy yếu. Ngược

lại phần trợ liệu châm cứu đối với thang dược lại

rất cần cho những trường hợp bịnh trạng quá nguy

kịch loại thuốc mạnh của thang dược vẫn giải quyết

12

rất chậm.   III. NHẬN THỨC GIỮA TÂY Y VÀ ĐÔNG Y

  Đông y là một khoa học cố hữu của đông

phương . Trước thế lực của Tây y tiến bộ đến cực độ

và tràn lan mạnh mẽ nếu đông y không có một cơ sở

lý luận, một kinh nghiệm trị liệu căn bản thực tế

đem lại sức khoẻ cho loài người thì đã bị Tây y chà

nát từ lâu.   Đông y đặt mình trên cơ sở toàn

là khí hoá cho nên dù lập luận theo phương pháp mới

của Tây y, nào giải phẩu, sinh lý chẩn đoán, dược

vật, v.v. . chúng ta cũng gặp toàn là khí hoá.  

Sự thật thì Đông y và Tây y mỗi đàng có một

nguyên lý, học thuyết khác nhau như trời với vực.

Tuy nhiên nếu thực tâm vì mục đích cứu khổ và phục

vụ cho nhân loại, phá bỏ mọi đố kỵ nhỏ nhen thì

Đông y và Tây y có thể phối hợp mỗi bên một phương

13

pháp sẽ giúp cho đời rất nhiều lợi ích. Trước

Thiên Chúa Giáng sinh 460 năm, phái của Hypocrate

cũng chủ trương theo lý thuyết khí hoá của vua

Huỳnh đế Đông phương. Sáu trăm năm sau, phái

Galien (Kỷ nguyên 131 – 210) nổi lên lấy vật thể

giải phẩu học làm căn cứ. Nhìn sự sống qua thể

chất. Hư nghẹt chỗ nào thì cứu chữa bộ phận chỗ ấy.

đó là Khoa y học theo nguyên tắc lý thuyết Vật hoá

(l’altération de substances).   Nhằm theo xác

thịt con người, chữa bịnh bằng lối dùng vật thể

thay cho bộ phận của cơ thể hư, Tây y đã đi đến

tuyệt điểm theo nguyên tắc lý thuyết của họ nhưng

vẫn chưa hoàn toàn thắng bệnh tật. Hiện nay một

số Bác sĩ thông thái đã nhìn thấy y học ở Đông

phương ngành khí hoá học in hệt thuyết Hypocrate

14

nên liền chú tâm nghiên cứu.   Tây y có tham

vọng tìm hiểu kinh nghiệm của Đông y, đông ý có

tham vọng thể dụng cơ giới của Tây y, hai điều đó

hai bên phải đặt mình trên cơ sở chính đáng mới có

cơ hội dung hòa được.   IV. LUẬN VỀ ÂM DƯƠNG

KHÍ HOÁ   Vũ trụ là sự điều hợp của hai khí âm

và dương. Âm là nặng, đục chìm xuống  là đất. Dương

là nhẹ, sáng  trong nổi ở trên. Qua một chuyển

biến về khí hóa, vũ trụ lần lần được trật tự lại.

Tất cả các vật thể trong vụ trụ đều do sự biến

chuyển của khí hóa mà thay đổi. Ví dụ: hơi của nước

xông lên để chuyển thành mưa. Gió thổi có thể di

chuyển đổi dời một hòn núi đất.   Thời gian và

không gian cũng được chia ra theo nguyên tắc khí

hoá. Đông phương lấy sự biến hóa của khí trong

15

không gian làm tiêu chuẩn để phân chia thời tiết,

tháng ngày. Lấy mực độ cao nhất của âm dương tức là

độ thuần âm và độ thuần dương. Thí dụ: khí thuần

âm lên đến thuần dương là 180 ngày có dư và thuần

dương tới thuần âm 180 ngày có dư. Do đó mới định

từ khi khí lên cho đến lúc khí xuống nguyên độ cũ

là một năm hay hơn 300 ngày, 24 khí, 28 tiết, cùng

là 4 mùa. Do chuyển biến khí hoá của vũ trụ nên đã

định ra ước lệ về thời gian. .. Khí trời (dương)

chi phối khí của đất (âm) là thuận và ngược lại là

nghịch. Khí thuận thì muôn vật sinh hoá dễ dàng,

nghịch lại thì muôn vật tiêu hao rồi tàn tạ. Con

người theo luận thuyết đông y là một trong muôn

vật, gặp khí tiết của trời đất thạnh thì khoẻ mạnh

nở nang, khí tiết của trời đất nghịch thì tiêu hao

16

bịnh tật. Trị bịnh cho con người theo phương pháp

của đông ý là điều hòa khí hóa trong cơ thể cho kịp

chiều hướng bất thường của Trời đất.   V. NGỦ

HÀNH SANH KHẮC   Khí hóa của đất có 6 loại: Mộc

khí, Quân hỏa, Tướng hỏa, Thổ khí, Kim khí, Thủy

khí. Khí của trời có 6 loại, người xưa đặt những

tên tượng trưng: Dương minh, Thái dương, Thiếu

dương, Khuyết âm, Thái âm và Thiếu âm. Cả hai khí

của Trời đất phải giao hiệp nhau để thành phong,

hàn thử, thấp, táo, hòa. Sái nghịch là vạn vật tiêu

hao khổ bệnh.   Khí của trời thuận, chi phối

được khí của đất thì sự sinh hóa thuận chiều Kim

sanh thủy, Thủy sanh mộc mộc sanh hoả, hoả

sanh thổ thổ sanh kim. Phong mộc ở mùa xuân

sinh luân hỏa. Huân hòa ở đầu mùa hạ sinh ra

17

tướng hỏa ở cuối hạ Thử hỏa ở chính hạ sinh ra 

thấp thổ Thấp thổ ở đầu thu sinh ra táo kim Táo

kim ở cuối thu sinh ra hàn thủy. Hàn thủy ở mùa

đông rồi sự sinh hóa đi vòng trở lại cứ thế mà sinh

hoá liên tiếp. Theo Đông y luận: nhân thân là

tiểu vũ trụ. Cơ thể con người định thuộc vào khí

trời, khí đất, tạng phủ kinh lạc trong cơ thể con

người cũng phối hợp chuyển hoá với nhau theo sự

chuyển hóa của khí và sự vận hành của trời đất.

Khí trời đất chuyển hóa bất thường thì vũ trụ bịnh

và làm cho vạn vật đều bịnh. Sự chuyển hóa của khí,

sanh ra bịnh nội thương. Sự chuyển hoá bất thường

của trời đất làm ra bịnh ngoại cảm. Lập luận rõ

ràng nguyên tắc khí hóa giữa Trời Đất và con người

để theo đó mà luận bịnh gọi là khoa Khí Hoá Y lý

18

học (altération des humeurs).   Những vì thuộc

chất thể (đối lại khí thể) trong vũ trụ, đông y

liệt về loại ngũ hành (kim mộc, thủy, hỏa, thổ).

Những gì thuộc về khí thể (đối lại chất thể) đều

liệt về loại lục khí. (phong,hàn, thử, thấp, táo,

hỏa)   Theo đông y hình thể con người có hình

trạng song sự đau mạnh của những hình tượng đó

không thể chỉ nhìn vào mà luận được. ví dụ: tim

yếu, thiếu máu, Tây y cho sang máu và làm yên tim.

Đông y cho đó chỉ là trị ngọn. Cách trị của Đông y

là luận rõ căn nguyên của bịnh rồi làm cho tim hoạt

phát trở lại tự nó làm cho đầy máu. Như vậy đông y

làm cho phần khí của tim điều hòa ăn nhịp với các

phần khí của các tạng phủ khác.   Bác sĩ

Sakurafawa sau khi nghiên cứu về y lý Đông phương

19

cũng nhận chân rằng làm cho điều hòa khí huyết

trong cơ thể, hể bên trong tạng phủ đã chỉnh đốn

hoàn toàn thì tà khí không thể xâm nhập nhiễu

nhương nữa (Il faut créer la constitution, le

terrain, le milieu intérieur parfait dans lequel

les facteurs maladifs ne peuvent pénétret ou ne

sont plus actifs theo quyển La principe unique).

Ngũ hành tương khác là: kim khắc mộc, mộc khắc thổ,

thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Khoa

châm cứu phân kinh lạc có âm kinh và dương kinh,

huyệt có ngũ hành (kim, mộc, thủy , hỏa, thổ) tương

sanh tương khắc, mỗi thứ đều có ẩn tàng ý nghĩa

sâu xa. Như những chứng hư thì dùng cách châm bổ

dụng ngũ hành huyệt tương sanh để có tác dụng xúc

tiến cơ năng mạnh mẽ cho bịnh được bình phục. Thí

20

dụ như: tỳ vị thuộc thổ bị hư nhược thì bổ kinh hỏa

huyệt vì hoả sinh thổ. Trái lại những chứng thật

thì dùng cách châm tả dụng ngủ hành huyệt tương

khắc để có tác dụng chế ngự các cơ năng đem lại sự

quân bình cho tạng phủ. Ví như gan, mật thuộc mộc

đau thật chứng thì tả mộc kinh kim huyệt vì kim

khắc mộc.

21

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát