Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Chẩn Đoán Y Học Đạo

CHẨN ĐOÁN HỌC Y ĐẠO

Nhà xuất bản Lao động

175 Giảng Võ - Đống Đa - Hà Nội

Tel: (04) 3851 5380

Fax: (043) 851 5381

Website: www.nxblaodong.com.vn

Công ty Cổ phần Sách Thái Hà

119 C5 Tô Hiệu - Cầu Giấy - Hà Nội

Tel: (04) 3793 0480

Fax: (04) 6287 3238

Website: www.thaihabooks.com

Chịu trách nhiệm xuất bản: Võ Thị Kim Thanh

Biên tập viên Nhà xuất bản: Võ Mai

Biên tập: Bảo Trân

Trình bày: My My

1

Thiết kế bìa: Phương Thảo

Bản quyền tiếng Việt © Chơn Nguyên

Không phần nào trong cuốn sách này được sao chép

hoặc chuyển sang bất cứ dạng thức hoặc phương tiện

nào, dù là điện tử, in ấn, ghi âm hay bất cứ hệ

thống phục hồi và lưu trữ thông tin nào nếu không

có sự cho phép bằng văn bản của tác giả. In 2.000

cuốn, khổ 14,5x20,5cm. In tại Công ty CP in Khuyến

học phía Nam. Số đăng kí KHXB:

2741-2014/CXB/17-240/LĐ. Quyết định xuất bản số:

1007/QĐLK-LĐ cấp ngày 30/12/2014. In xong nộp lưu

chiểu quý I năm 2015. SỐ ISBN: 978-604-59-2702-1

Tác giả: Chơn Nguyên

MỤC LỤC

QUYỂN THƯỢNG

2

Chẩn đoán học đại quan

Phần thừa tiếp triển khai kỹ thuật của hậu thế

Phụ lục

QUYỂN HẠ

Một án bệnh về triệu chứng cao áp huyết

Bệnh bướu cổ

Bệnh đông ôn (Thuộc loại sốt xuất huyết não)

Bệnh án bán thân bất toại

Một bệnh án sạn thận bên phải

Bệnh cườm mắt phải

Bệnh cườm đá con mắt trái

Bệnh bướu cổ

Án bệnh bướu cổ hậu quả của giải phẫu

Án bệnh bướu ác tính (ung thư)

Án bệnh nhiễm tinh chất thuốc lá (nicotine)

3

Phụ lục vấn đáp

QUYỂN THƯỢNG

CHẨN ĐOÁN HỌC ĐẠI QUAN

I. XÂY DỰNG MỘT CÔNG CỤ KHÁM PHÁ

1. Hai cách dạy và học

Tổng kết toàn bộ nhân loại có hai đường lối để săn

tìm lấy sự nghiệp hiểu biết.

Đường lối thứ nhất: Mọi người đều cảm thấy mình

trống thiếu và lạc lõng, không cần nghĩ đến mớ bòng

bong đang nằm sẵn trong bụng mình, hay sự nghiệp

quá khứ nó có điều động mình hay không; cứ tha hồ

thu nạp những gì thuộc hiểu biết của kẻ khác, của

bên ngoài để bù đắp thêm cho cái Tôi của mình được

càng ngày càng dồi dào sung túc. Để rồi guồng máy

hiểu biết của con người trở thành một mớ bòng bong

4

da lộn, nó chi phối lại con người, hay như một cuộn

băng cứ tiếp tục thâu từng lớp; hoặc như cuốn phim

nhiếp ảnh được chụp chồng lên mãi mãi không biết

bao nhiêu lần. Để rồi trong mỗi một con người là cả

một tập đoàn chúng sanh vĩ đại, nhiều loại khác

nhau, quần tụ lại thành vô số mâu thuẫn. Đó là hậu

quả của cách dạy và cách học lẫn nhau theo kiểu đầu

tư kiến thức, để rồi phải bị gán cho là một thứ

ngu thông thái, hay một thứ ngu hiểu biết cũng thế

thôi! Phương cách này được ưa chuộng nhất. Số người

theo gần như hầu hết, và trung thành nhất, đa số

là những người bán cầu bên kia (phương Tây).

Đường lối thứ hai: Tận tự bao giờ đã có một số

người từng khám phá thấy được con người, cũng như

vạn hữu, chỉ là kết tinh từ bao la vô tận tựa như

5

mây lưng trời, như trăng đáy nước, như bóng ở vách

dưới ánh đèn đêm, như hoa trong gương, như tia chớp

lòe, như vang của tiếng, như người trong xi-nê,

như với bao la không hề có kẽ hở, như con số không

chưa viết… Nếu đừng có cái Tôi phi lý xen vào thì

con người có thể tựa như một bóng nước đang bay, mà

tất cả hình ảnh của bao la vô tận đều có thể xuyên

suốt vào, không cần phải chứa vựa. Đến đó, con

người với bao la vô tận trở thành đồng nhất. Từ đây

con người mới có đủ tư cách gạn lọc, thu nạp và

cuối cùng sẽ kết thành một kho tàng hiểu biết trí

tuệ tuyệt vời. Đường lối này nhà Phật mệnh danh là

vô niệm, vô tướng, vô trụ và vô đắc. Đường hướng

này số người đi theo chỉ là muôn một. Mặc dù chỉ có

số người đồng ý tin tưởng tối thiểu, nhưng không

6

vì thế mà nó không phải là một đường lối chính xác

nhất! Đa số những người trung thành với đường hướng

này thường thuộc người bán cầu bên này (phương

Đông).

Thế là hầu hết nhân loại đều thích làm theo thể

toán cộng, còn số ít theo hình thức toán trừ. Nhưng

trên ý nghĩa thượng tầng toán lý hóa, thì càng

cộng càng chia, càng trừ thì càng nhân. Đây quả là

một diệu lý mà không được mấy ai để ý!

2. Dư luận về con người

Có người bảo: Con người chỉ là một sinh vật không

hơn không kém. Có người lại bảo: Con người bất quá

chỉ là một hình nộm bằng máy. Có người lại bảo: Con

người là một bầu trời đất nhỏ. Lại có người bảo:

Con người là một kho tàng vô cùng tận. Quá quắt hơn

7

nữa có người lo: Không khéo rồi loài người chúng

ta sẽ trở thành một thứ khỉ thông thái, có nhiều

khả năng lạ lùng, chớ không còn là con người đích

thực nữa! Mỗi dư luận, mỗi cách, mỗi kiểu khác nhau

nhưng vẫn có lý có cớ để phát biểu. Thậm chí có kẻ

bảo: Con người là một sinh vật bị nhốt trong một

tháp ngà có nhiều cửa tròn vuông ba góc, bốn góc,

với kính lồi lõm xanh, vàng, trắng, đỏ khác nhau. Ở

trong đó nhìn ra sự vật bên ngoài, trông thấy quả

có trông thấy thật, nhưng vị tất đã là thật

thấy?Nhà Phật thì không nói là một sinh vật bị nhốt

trong tháp ngà… mà nói là Phật Đa Bảo đã tịch,

được cất trong tháp Đa Bảo. Khi mở cửa tháp được

rồi, Phật Đa Bảo vẫn còn nguyên, không hề chết! Ở

chỗ khác Phật không nói là tháp Đa Bảo, mà lại gọi

8

là núi Lăng Già, núi này nổi lên giữa biển khơi, đá

lởm chởm nhọn hoắt như gươm đao, những hang hóc

trong ấy toàn là quỷ La Sát ở. Núi cao bao nhiêu,

lúc bình minh không thể nhìn thấy ngọn, chỉ khi có

những trận bão tố cuồng phong thì mới thấy đỉnh núi

cheo leo cao vút, nhập tận tầng mây, chỉ có Phật,

Bồ Tát mới có khả năng đến… Quả là một câu chuyện

hàm súc, mỉa mai! Và còn, còn nhiều nữa, dẫu nói

đến bao giờ cũng không hết.

Nay ta hãy thử trầm tư thí nghiệm, thâm nhập vào

tận đáy lòng mình một cách chân thật, rồi nhìn ra

mọi tầng lớp nhân loại chúng sanh cả thế giới, ta

sẽ thấy mặc dù không ai bảo ai, nhưng chừng như tất

cả đều biểu đồng tình rằng: Nếu cuộc sống mà đánh

mất đi những phút giây ngầy ngật, chớp nhoáng giữa

9

những cuộc truy hoan nam nữ là kể như đã đánh rơi

đi mất hạnh phúc cuộc sống! Cụ thể hơn nữa, không

cứ gì là vua chúa, công hầu khanh tướng, hay khố

rách áo ôm, cứ hãy nhớ lại hình ảnh của mình trong

những phút diễn trò phòng the đêm vắng cũng chỉ thế

thôi! Như thế há không phải con người chỉ là một

sinh vật không hơn không kém đó sao!

Xa hơn nữa, con người từ khi có cái Tôi đến giờ,

tất cả những sự việc đã xảy ra, hoặc ưa hay ghét,

đều thu nạp trọn vẹn hình bóng vào trong tâm khảm,

để rồi trong đó không thiếu một loài nào. Nhóm nào

mạnh, nhóm đó tạm thời làm chủ, chi phối trở lại

thằng người, mà lương tri không thể nhất thời đối

phó. Và mặc dù có khi lương tri hay trí óc đã hoàn

toàn thừa nhận, nhưng đến khi giáp mặt với sự thật

10

thì lại khác hẳn đi. Như thế không phải là một hình

nộm bằng máy đó sao?

Ai đã từng thông qua tác phẩm Nội Kinh của cổ

Trung Hoa, thâm nhập vào Phật pháp, hay đi sâu vào

ngành nguyên tử học của khoa học kỹ thuật vật chất

hiện thời, đều có thể nhận thấy ngoài trời đất có

gì, trong con người đều thấy có thứ ấy. Cho nên

đúng sự thật, con người không những là một bầu trời

đất nhỏ mà là cả làn sóng hội tụ tận tự bao la thu

hẹp lại nữa.

Con người đã có thể là bao la thu hẹp lại, và bao

la vốn có khả năng hóa sanh vạn pháp. Con người

cùng với bao la vốn đã không thể phân cũng không

thể hợp thì không lý do gì tận từng đáy mạch sống

của con người lại không thể có khả năng sanh ra vạn

11

pháp! Ai không tin có thể làm một trắc nghiệm nhỏ,

ngồi trong phòng vắng nhắm mắt lại, để tự do cho

tâm tư phóng tưởng, rồi sẽ thấy: Tưởng ông Trời có

ông Trời, tưởng ông Phật có ông Phật, tưởng cô điếm

có cô điếm, tưởng núi non sông ngòi thì có núi non

sông ngòi… cho đến ba đầu, sáu tay, mười hai mắt

cũng có thể tưởng được. Và bình sinh trong tâm nghĩ

thích điều gì thì kiếp sau sẽ nhận lấy hậu quả

cảnh trí đúng vừa chừng ấy! Cho nên thiên đường,

địa ngục hay Phật trời gì đi nữa, thằng người đều

có khả năng làm được hết. Thế là con người vốn nó

linh không vô cực, khác chăng chỉ là hướng ngoại

hay hướng nội mà thôi. Như thế, con người há không

phải là một kho tàng vô cùng tận đó sao!

Nay ta hãy trầm ngâm và trầm ngâm hơn nữa, nhớ lại

12

việc làm táy máy của con người như bắt con chó mổ

ra, cắt bỏ Tỳ âm đi (Tụy tạng, Pancreas), xong rồi

khâu lại, ít hôm sau con chó lành không thấy chết

liền kết luận là Thượng đế chế dư một bộ phận. Hay

như lấy trái tim con cừu ghép vào con người, lấy

trái tim người nữ ghép vào người nam, lấy tinh

trùng và trứng ghép lại nuôi vào ống nghiệm để lớn

cho thành người, thậm chí ngồi nghĩ ra những cái

máy để làm chủ, điều động trở lại con người, quả là

đem một đứa giặc về làm con, rồi dựng nó lên làm

cha mình một cách thật là tếu! Và còn muôn vàn

chuyện khác nữa không thể kể xiết. Như thế há chẳng

phải là không khéo rồi loài người chúng ta sẽ trở

thành một thứ khỉ thông thái, có nhiều khả năng lạ

lùng, chớ không còn là con người đích thực đó sao!

13

Bổn tính linh không vô cực của mỗi con người, khi

chưa động dụng thì cùng với bao la vô tận vốn đồng

lượng. Nhưng từ khi bị giam hãm vào cái Tôi xác

thân vật chất này thì tai đuổi theo tiếng, mắt đuổi

theo sắc, mũi đuổi theo mùi, miệng đuổi theo vị;

mặt da đuổi theo cảm giác trơn nhám, ấm lạnh, mềm

cứng; tâm phóng vọt ra ngoài để săn đuổi theo muôn

vàn sự việc. Cái gì ưa thích thì cái đó đẹp, không

thích thì cái đó xấu, “Khi thương trái ấu cũng

tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”. “Người yêu ỉa

cứt cũng thơm; kẻ ghét, Trầm Hương cũng thối!” Như

thế há không phải là một sinh vật bị nhốt trong

tháp ngà đó sao!

Nhưng trên sự thật, tánh linh của con người cùng

với bao la vô tận vốn không phải hai mà cũng không

14

khẳng định mãi mãi kẹt vào vòng thiện ác. Cả đến

cái sống chết cũng chỉ là hão huyền. Khi giải tỏa

được dứt khoát cái Tôi rồi, dù kẻ chí ngu cũng trở

thành hiền thánh, và đồng lượng cùng với trời đất

bao la. Cho nên, câu chuyện Phật Đa Bảo khi mở tháp

ra vẫn còn nguyên không hề chết là một câu chuyện

thật là thấm thía!

Nhưng ta thử nghĩ, thân người chỉ là khối tổ hợp

tế bào, sanh diệt không đồng đều, biến hóa triền

miên. Vậy thử hỏi cái Tôi dựa vào đâu mà kiến lập?

Và đời cũng chỉ là một biển chen lấn, tranh đoạt,

sóng gió ba đào. Con người đối xử với con người,

nhìn bề ngoài ta thấy như trơn tru vô sự, nhưng khi

động đến quyền lợi là sẵn sàng đối phó bằng gươm

đao! Hang cá tính tàn ác thường ẩn sâu trong kẹt

15

hóc đáy lòng. Lúc bình thường thấy như tròn hơ,

không hình tướng, nhưng khi tam bành ác tính nổi

lên thì mới thấy khủng khiếp đến độ nào! Và quả

thật! Quả thật! Muốn thâm nhập hoàn toàn thì phải

là Phật và Bồ tát! Như thế, há không phải con người

là một thứ núi Lăng Già đó sao…!

Thế mới biết, mỗi một cái thấy là một khía cạnh

nhìn tựa như kim cương, vốn nó không màu sắc, nhưng

khi được cắt nhiều khía cạnh rồi thì mỗi một khía

cạnh không thể không chiếu ra một màu sắc khác nhau

vậy.

3. Con người là một tác phẩm cực kỳ khoa học

Nay ta cứ bình tâm mà nhìn kỹ con người, rồi ta

mới thấy con người là một tác phẩm kết hợp với hai

hệ thống hiện tượng thể xác và tinh thần một cách

16

vô cùng cân xứng, khít khao. Người nào cũng mũi dọc

mày ngang, hai bên hai lỗ tai, dưới cái miệng. Thế

mà chẳng hề ai giống ai, dù là sanh song thai cũng

vẫn khác hẳn, làm như là tạo hóa đổ khuôn được một

người, liền đập vứt đi, lại chế ra cái khuôn khác.

Để rồi sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi

tật, bệnh mỗi người mỗi chứng, nên thuốc cũng mỗi

người mỗi phương. Nhưng tạo hóa là ai, thì cổ nhân

đã từng định nghĩa là cấu tạo bằng khí hóa, bằng

biến hóa. Nhà Phật còn nói thêm: Xác thân như khối

sáp, tâm con người như điêu khắc gia, cho nên tướng

sẽ tùy theo tâm mà biến hóa. Thế là đòn cân tinh

thần và thể xác trong con người luôn luôn phải được

thật là cân xứng. Thế mà có một số người, không

biết vì lẽ muốn lợi ích riêng cho nhóm của mình,

17

hay vì tư lợi mà tối mắt, chủ trương lệch hẳn về

vật chất, và nêu lên nào là “khách quan quyết

định”, “vật chất quyết định”. Từ đó dựa theo nghề

nông, người ta chủ trương chọn giữ giống tốt, loại

trừ giống xấu. Theo đây thấy có khả quan, rồi đem

áp dụng vào xã hội loài người. Người ta nghĩ chọn

rặt người tốt để lại, tiêu diệt hết kẻ xấu xa, thì

xã hội loài người sẽ thành lạc quốc. Nhưng than ôi!

Khi gạn lọc xong, nhìn lại số còn được để giống

thì thấy toàn là những kẻ xấu xa, ác độc, tàn nhẫn,

tệ bạc mà thôi! Và dù chưa thấy đến tình trạng đó

chăng nữa, rồi trong số người còn để lại, nhất định

cũng sẽ tách đôi, tách ba để ứng hợp với sự biến

hóa sanh tồn. Thế là chủ trương ấy trở thành mộng

huyễn. Và xã hội loài người cũng nhờ cái thế lệch

18

hẳn về vật chất, mà hóa ra đổ vỡ chòng chành, trời

đất nghiêng ngửa, chẳng khác nào thương binh bị cưa

mất hẳn một chân, phải khập khễnh với cặp nạn mà

thả trôi theo ngày tháng!

4. Con người là trọng tâm vấn đề

Khi chưa có con người, chưa có cái biết của con

người, thì dù thiên nhiên bao la này có hay không,

bí mật hay không bí mật cũng không thành vấn đề.

Nhưng khi có con người, có cái biết của con người,

thì muôn vạn vấn đề ùn ùn kéo tới. Thế mới biết

chính con người mới là trung tâm vấn đề, mà nhất là

con người của chính Tôi.

Nếu nói theo nhà Phật, khi chưa có con người, chưa

có cái biết của con người, là chưa có đủ sáu đường

của luân hồi.

19

Có người bảo Kinh Thánh chép: Thượng Đế lấy cát

bụi nhào nặn với nước, nắn con người hao hao giống

ngài, rồi hà hơi vào, trở nên có sự sống. Chép như

thế là sai! Trên sự thật phải là: Thằng người lấy

cát bụi nhào nặn với nước, nắn hình Thượng Đế hao

hao giống nó, rồi hà hơi vào trở thành có sự sống

thì mới đúng lý! Nói như thế thật là thấm thía làm

sao!

Thế là con người và cái biết của con người đã trở

thành vấn đề trọng đại ưu tiên cho chính con người,

không thể khác hơn được! Mà nhất là con người của

chính Tôi! Nếu vấn đề này chưa tách bạch dứt khoát

mà con người của Tôi đã vội kiến thiết những ngôi

nhà lầu chọc trời chăng nữa cũng chỉ làm chuyện dã

tràng se cát.

20

5. Cái Tôi

Có người bảo: “Có cái Tôi thì cái Tôi bị ở trong

trời đất, khi không có cái Tôi thì trời đất ở trong

Tôi”. Nhưng riêng tôi, tôi thấy khác: Khi không có

cái Tôi thì mới hay ra trời đất bao la cũng chỉ là

tôi, tôi có khả năng tạo ra thiên đường, địa ngục,

tạo ra vạn cảnh muôn màu, để rồi tôi chui vào đó

mà ở thì cũng chỉ là tôi. Tôi với ngoại giới tuy

hai mà một, tuy một mà hai. Nhà Phật nói: Tướng tôi

tức là không phải tướng tôi, nên gọi là tướng tôi.

Và dù cho chỉ một mình tôi, nếu tôi chưa đạt đến

bao la vô tận thì tôi vẫn là chúng sanh, vì trong

tôi chỉ là một khối tổ hợp của vô số cái tôi sanh

diệt không đồng thời.

Chữ TÔI quả là một chữ có khả năng biến hóa kỳ bí,

21

dù cho viết ra chữ hay không viết ra chữ, dù cho

chữ hay tiếng của một nước nào, nghĩa của nó vẫn đủ

khả năng biến hóa từ TÔI, rồi TỐI, rồi TỒI, rồi

TỘI; hay hoặc từ Tôi rồi đến cái không phải Tôi,

nên gọi là Tôi.

Như trên kia đã từng nói, cái Tôi chỉ là một thứ

ảo tưởng. Thế mà gần như hầu hết mọi người đều lấy

cái Tôi làm nền tảng xây dựng sự nghiệp. Nhưng mấy

ai ngờ, khi tôi đã quan niệm lấy cái Tôi làm nền

tảng xây dựng sự nghiệp cho riêng tôi, thì lúc đó

vô số tế bào, vô số tinh trùng trong chính con

người của tôi đều thấm nhuần quan niệm như tôi; để

rồi trong tôi có vô số triệu ức cái Tôi đang dồn

dập tranh chấp, đòi hỏi cấu xé nhau chẳng khác nào

một chuồng sinh vật. Và khi đã kiến thiết sự nghiệp

22

trên cái Tôi thì hướng nhắm ruổi dong, săn đuổi

cũng chỉ là hình tướng vật chất. Nhưng trớ trêu

thay, nhìn ra xa xa chỗ sắp hút đường trần, tôi đã

thấp thoáng thấy ló dạng hình bóng một đấng chúa

tể. Cho nên loài người càng đi sâu vào khoa học kỹ

thuật vật chất, thì lại càng cần phải quy y với một

đấng chúa tể nào, rồi đấng chúa tể của nhóm này

thì lại không phải là đấng chúa tể của nhóm khác,

mà tạo thành thế “chân lý của”, để dày xéo lẫn nhau

cũng chỉ vì đấng “chúa tể của”. Cho nên tôi nói:

Khi tôi chưa biết gì hết về chính con người của

mình mà đã vội nghĩ làm lợi ích cho ai, thì nếu

không phải là tôi đánh lừa người khác, thì cũng là

tôi bị người khác đánh lừa, hoặc chính là tôi đánh

lừa tôi cũng chưa biết. Cho nên tôi chưa biết gì

23

hết về tôi, thì dù tôi có sống đến 800 tuổi như

Bành Tổ, cũng vẫn là một đứa bé già. Có người hỏi

Giê-su: Trên nước Thiên đàng có gì? Người đáp: Chỉ

có trẻ con. Nhưng riêng tôi, tôi nói nước Thiên

đàng chỉ có người trưởng thành mà thôi!

Thế mới biết: Có một điều kiện bắt buộc rằng tôi

phải vừa là một chủ thể khám phá, vừa là một đối

tượng khám phá thì tôi mới có cơ trưởng thành vậy.

6. Con người của chính mình mới là công cụ cần

phải được khám phá và điều chỉnh trước nhất

Có ai ngờ một con người bình thường của thế gian

lại là một tập đoàn sinh linh bị nhốt trong một cái

chuồng thật là linh động, được mệnh danh là cái

Tôi, ở trong đó nhìn ra để tìm hiểu sự vật, dù cho

tận lực cố gắng đến đâu cũng vẫn bị bao trùm một

24

màu huyền bí. Thậm chí giáp mặt nhau nói chuyện tâm

tình thân thiết đến đâu chăng nữa cũng giống như

hai kẻ ở hai biệt thự cách xa nói vói lẫn nhau, lõm

bõm điều được điều mất, thì làm sao biết được thế

nào là sự thật! Cho nên dù là vợ chồng, anh em ruột

thịt, thân bằng quyến thuộc, làng nước xã hội, cho

đến cả thế giới, khoa học kỹ thuật vật chất năm

châu họp chợ, sát mặt nhau chăng nữa, thì cũng

chẳng qua chỉ là một thứ đồng sàng dị mộng, mặt

giáp mặt mà lòng cách nghìn non thì còn biết gì

chứ?!

Giả sử có một số người mắc phải bệnh đau mắt, mỗi

người nhìn ra hư không thấy một màu sắc khác nhau,

rồi cãi vã lẫn nhau để tìm lấy màu sắc đích thực

của hư không. Như thế ta phải hiểu số người ấy thế

25

nào?

Lại như có một đàn khỉ bị nhốt trong chuồng kín

mít có nhiều tầng, nhiều cửa kính tròn vuông lồi

lõm, màu sắc khác nhau, rồi mỗi con khỉ đeo theo

một vòm cửa nhìn ra thấy sự vật bên ngoài mỗi con

mỗi cách, mỗi kiểu khác nhau, tạo nên một bầu không

khí thường trực xôn xao, ồn ào cãi vã, không lúc

nào ổn định. Như thế ta nghĩ thế nào về sự hiểu

biết của bầy khỉ ấy? Thế mà có kẻ nghĩ rằng chỉ một

cái chuồng Tôi, với một đám lao nhao nhỏ, không

thể có đủ tư cách thông minh, khách quan, sáng suốt

để khám phá, nên cần phải được quần tụ nhiều cái

chuồng Tôi lao nhao nhỏ, cho cái Tôi được phình to

vĩ đại, thì mới có đủ sáng suốt để kiến thiết một

điều gì. Mới nghe qua với danh từ “khách quan quyết

26

định”, “tập thể quyết định” thì thấy làm như thế

thật là hữu lý. Nhưng càng nghĩ kỹ càng bắt phì

cười. Nhà Phật nói: Câu chuyện này dù gom hết các

bậc nhị thừa lại để suy nghĩ, cũng không thể biết.

Vì sao thế? Vì gộp vô số cái Tôi lại để suy nghĩ

chỉ tổ làm to lớn thêm cái mù lòa. Nói như thế thì

đó há chẳng phải là điều vô lý sao!

7. Chính con người, nhất là con người của chính

mình, mới là một công cụ khám phá độc đáo

Cái Tôi bắt đầu từ mối đầu dòng sinh mệnh, kết

thành một bài toán cộng vĩ đại, cho đến khi thu gọn

vào trong một cái chuồng Tôi ngày nay. Nhưng kiếp

sống của cái Tôi ngày nay đến trăm tuổi cũng chẳng

được mấy người. Nhưng nếu tôi chỉ là một cái chuồng

lao nhao, thì kiếp sống càng được kéo dài bao

27

nhiêu, số lao nhao trong chuồng ấy cũng càng được

nhân lên bấy nhiêu. Vậy thử hỏi đám lao nhao ấy

càng đông đảo, càng trường cửu để làm gì chứ!

Giả sử có một đám lao nhao ấy, và cái Tôi tức là

không phải cái Tôi, thì việc gì sẽ xảy ra? Và tại

sao nhà Phật lại mượn câu chuyện tháp Đa Bảo để ám

chỉ cho thân chúng sanh?

Như trên kia đã từng nói, nếu lấy cái Tôi mộng

huyễn làm nền tảng cuộc sống, lấy hướng ngoại làm

đường hướng, lấy vật chất, sắc tướng, âm thanh làm

miếng mồi để săn đuổi, thì đằng kia xa xa, cuối con

đường khám phá đã ló dạng một đấng chúa tể đang

ngồi chờ. Và toán bộ cái Tôi, cho đến từng tinh

trùng, từng tế bào, đều chỉ là một tập đoàn mâu

thuẫn vĩ đại ùn ùn nổi dậy; và cái chuồng Tôi ngày

28

càng bị thắt chặt lại, bẩn chật thêm, làm cho màn

bí mật của sự vật ngày càng được khép kín. Dẫu cho

cái Tôi ấy là của một nhà khoa học vĩ đại chăng

nữa, cũng chỉ đến thế là cùng.

Có ai ngờ, chỉ một phút giây quay trở lui vào để

xem xét những biến cố của cái Tôi, thì sự thắt chặt

của cái Tôi lập tức nới dãn. Tập đoàn lao nhao

trong cái Tôi cũng tự nhiên lắng dịu bớt sự ồn ào.

Tất cả những mâu thuẫn đòi hỏi của khắp tinh trùng

và tế bào, cũng tùy thuộc vào đó mà lắng dịu được

phần nào, và tùy theo đó mà nhãn quan của cái Tôi

ấy cũng tùy trình độ hướng nội mà tăng thêm phần

chiếu diệu.

Thế mới biết: Toàn bộ cuộc sống tôi đang sống đây

với cả bao la vô tận quả là một môi trường vĩ đại

29

cần phải được khám phá, mà chính con người của tôi

mới là một công cụ khám phá thâm thiết vô cùng. Cho

nên nếu tôi chưa biết gì về tôi, chưa điều chỉnh

được cái Tôi mà tôi ỷ lại vào những dụng cụ máy

móc, trí óc, vật chất, con toán từ cái Tôi đẻ ra,

để làm nền tảng khám phá, thì toàn bộ cuộc sống đều

trở thành hỏng bét. Và trong vô tình tôi đã đội

đứa con giặc lên làm cha rồi vậy.

Như có kẻ đã bảo: Khi có cái Tôi thì cái Tôi bị ở

trong trời đất, khi không có cái Tôi thì dù cho bao

la trời đất cũng chỉ là tôi. Như thế cái Tôi không

phải là vật chết tê đóng cứng, và khi bao la trời

đất cũng chỉ là tôi thì còn đâu những đối tượng bí

mật để khám phá khó khăn nữa chứ! Như thế chẳng là

lý thú lắm sao! Thế nghĩa là gì? Thế nghĩa là con

30

người của tôi là một công cụ khám phá độc đáo, tức

là không phải một công cụ khám phá độc đáo, cho nên

gọi là một công cụ khám phá độc đáo.

8. Một cuộc thâm nhập vào tận nguồn tâm linh

Muốn có một cuộc thâm nhập vào tận nguồn tâm linh

để đi vào khám phá Y Đạo, thì sớm muộn gì cũng phải

có đủ bốn đức tánh với ba điều kiện.

Bốn đức tánh là: Anh hùng, hiên ngang, chân thành

và tài tử. Nói một cách khác là không khiếp sợ,

không nương dựa, tột bậc chân thật với chính mình

và không mong cầu riêng tư gì cả.

Thế nào là ba điều kiện?

Một là vì trên sự thật của khung cảnh thiên nhiên

bao la này vốn sẵn một nguồn năng lực tuyệt đối

bình đẳng không hai, để làm trung tâm mạch sống của

31

vạn loại, được mệnh danh là Chơn Như. Nếu chưa

phát giác được điều kiện bổn tánh này thì toàn bộ

cuộc sống không có khả năng giải quyết, nên gọi tắt

là Duy Như.

Điều kiện thứ hai: Khi đã là động vật biết máy cựa

thì phần trung tâm mạch sống trong vạn loại vốn

tuyệt đối bình đẳng, chớ không thể chỉ thiên trọng

con người hay hoặc vật dưỡng nhơn, hoặc Thượng Đế

tư vị cho loài người có quyền sát phạt vạn loại.

Chỉ vì sinh ra không một lượt, chết đi không một

lượt, trình độ không như nhau, để làm cơ cọ sát độ

rỗi. Đó là một mặt khác. Điều kiện này gọi tắt là

Duy Sinh, nghĩa là đều là chúng sinh, vẫn là chúng

sinh. Điều kiện bổn tánh vốn bình đẳng, nên không

thể chỉ thiên trọng con người.

32

Điều kiện thứ ba: Đời sống của tất cả tinh cầu hay

quả đất này đều vẫn thăng trầm trong thăng trầm.

Cho nên vạn loại bám theo địa cầu mà tồn tại, cũng

không thể khác hơn. Vả lại cuộc sống đã là một cuộc

cọ xát độ rỗi lẫn nhau, nên không thể không có sai

lầm và sửa chữa. Từ ngay chính thân tâm mình cho

đến từng cá nhân, bệnh tật, từng gia đình, từng xã

hội, từng quốc gia, đến cả thế giới không lúc nào

không đòi hỏi một tinh thần điều chỉnh siêu tuyệt

để giữ thế quân bình cho quy luật trật tự cộng đồng

của thiên nhiên. Việc làm ấy được mệnh danh là Y

Đạo. Vì lúc nào cũng chuyên tâm chú ý tìm đủ mọi

cách khéo léo để tham gia tán trợ việc hóa dục của

thiên nhiên nên gọi tắt là Duy Y.

Ba điều kiện này được ứng hiện trong một số người,

33

ở giai đoạn thế giới cực kỳ xuống dốc này nên được

mệnh danh chung là Tam Duy Học.

Ta hãy thử nghĩ: Làm sao có được một tinh thần

sáng suốt, một cặp mắt trong lành khi mang theo

trong lòng đầy lo sợ, lúc nào cũng muốn có chỗ dựa,

không muốn giáp mặt thành thật với những biến cố

trong chính tâm linh mình, lúc nào cũng chỉ mong

cầu cho cái riêng tư của cuộc sống. Cho nên tôi nói

sớm muộn gì cũng phải chấp nhận bốn đức tánh ấy.

Xa hơn nữa, nếu đã chấp nhận chỉ có con người trên

hết, tức là con người đã thẳng thừng ký giấy hợp

pháp cho cuộc sống này, hoàn toàn chấp nhận tàn sát

lẫn nhau là chân lý. Nếu không thấy được điều kiện

này thì không thể đặt chân trên con đường khám phá

của Y Đạo vậy.

34

Nếu con người của tôi, cái biết của con người tôi

đã là điều kiện ưu tiên trong cuộc sống, thì công

việc khám phá chính con người của tôi đến tận nguồn

tâm linh cũng phải là điều kiện ưu tiên trên hết.

Có ai ngờ sức hiểu biết của con người ngày nay có

thể làm mây mưa, sấm chớp, có thể chế phi thuyền

con thoi vượt không gian, có thể làm vệ tinh nhân

tạo kiểm soát khắp mặt địa cầu, có thể chế vô tuyến

truyền thanh, truyền hình, máy thâu băng, có thể

cắt nghĩa làn sóng chuyển động của không gian, của

ý niệm, của cây cỏ… Thế mà không thể thấy được bao

la vô tận vốn là một biển từ điện không có giai

tầng, ngấm vào tận trung tâm tế bào tất cả vạn vật,

để làm nền tảng chung cho cuộc sống vạn loại. Và

về thể xác, con người cũng như vạn loại, vốn cùng

35

điện từ bao la đồng nhất. Và thể xác này chỉ như

một bóng nước tí teo, kết hợp với vô số hột nước

nhỏ nữa, bám theo một hột nước khổng lồ đang chuyển

dần trong không gian, thể nó vốn trong suốt, tất

cả hiện tượng đều có thể xuyên qua. Chỉ vì cái Tôi

làm rối loạn theo chiều hướng ngoại nên không thấy

được cái thực tại bao la kia vốn đầy đủ nơi chính

mình, làm cho cuộc sống càng ngày càng bị cái Tôi,

với tập đoàn lao nhao trong cái Tôi náo loạn, biến

thành tù hãm.

Một sự thú vị lạ kỳ là cái thực tại bao la vô tận

nói trên kia, nếu nhìn trở ra bằng giác quan mà

thấy được chăng nữa, đối với cuộc sống vẫn hoàn

toàn vô hiệu lực. Nhưng khi hồi quang phản chiếu,

soi trở lại thân tâm của mình mà thấy nó, thì cái

36

Tôi lập tức đổ vỡ, tập đoàn lao nhao đang quấy rối,

chi phối mình lập tức bị phân hóa.

Hãy cử lên một ví dụ để nhận thức: Trên thực tế

mỗi con người đều có hai thành phần nam nữ. Thành

phần nào thiên trọng về nam thì xuất hiện tướng

nam, thiên trọng về nữ thì xuất hiện tướng nữ. Rồi

từ khi mang tướng ấy mà nhìn ra thì cuộc đời sẽ có

một quãng bơ vơ, lạc lõng. Có thể là âm côi hay

dương côi. Cho nên đúng khác phái, đúng dạng tương

ưng thì lòng trần rộn rã, tế bào, tinh trùng, buồng

trứng đều nổi dậy lao nhao. Nhưng khi quay trở vào

hồi quang phản chiếu, thì lập tức thế âm côi,

dương côi liền được lấy lại quân bình, và buồng

trứng, tế bào, tinh trùng, cũng liền trở nên ôn hòa

thuần hậu, không còn rộn rã xuống đường nữa. Há

37

không phải là một bài toán cực kỳ khoa học, có thể

làm đáp án chung cho tất cả muôn vạn bài toán đó

sao! Ai thâm nhập được điều kiện này là đã được

tiến sâu vào lãnh vực khám phá chính con người của

mình rồi đấy.

Muốn hiểu biết hết một guồng máy, ít nhất phải

biết tháo tung ra một cách có hiểu biết, hoặc ráp

lại, rồi mở cho chạy một cách chậm chậm từ từ thì

mới thấy được nó. Muốn thâm nhập vào tận tầng đáy

cuộc sống của chính mình, cũng tương tự như vậy.

Đành rằng cái Tôi chỉ là một cái bóng nước tí teo,

mà cũng vẫn là một thực tại bao la vô tận. Nhưng

lúc nhàn rỗi bình thường, hoặc khi vội vàng xốc

nổi, có mấy ai nhớ lại thực tại ấy bao giờ đâu! Rồi

một lúc nào sóng lòng chớm nở, cũng không hơi đâu

38

mà bắt gặp. Hoặc để cho nó tha hồ nổi dậy ba đào,

rồi mình cũng lặn hụp trong đó mà chìm nổi không

hay biết. Đến khi sóng lòng yên lặng, mặt phẳng của

lòng ra sao cũng không cần biết. Thế mới biết:

Ngay khi thầy thuốc khám phá bệnh nhân, thì việc

khám phá bệnh nhân đối với thầy thuốc hẳn là ít

quan trọng hơn việc thầy thuốc khám phá chính mình

ngay trong lúc va chạm với bệnh nhân.

Một thiền sinh mới học tọa thiền, bị vị thầy bắt

buộc ngồi mỗi đêm 20 phút. Qua mấy hôm, vị thiền sư

hỏi: Ngồi như thế anh thấy gì? Đáp: Con chỉ thấy

vọng niệm như mưa. Vị thiền sư cười, rồi bảo thực

hành liên tiếp. Được ít hôm lại hỏi: Có thấy gì nữa

không? Đáp: Khi con vừa thấy vọng, thì lập tức là

chơn. Thiền sư cười, và từ đó chấp nhận vị thiền

39

sinh vào chính thức. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là

khi sóng lòng chưa nổi dậy, mặt thật vẫn y nguyên.

Đến khi sóng lòng nổi dậy, mặt thật vẫn y nguyên.

Đến gió lặng sóng yên, biển lòng cũng vẫn không hơn

không bớt.

Tuy nhiên, khi đã có một phen khám phá được cái

bao la thực tại không giai tầng ở chính mình rồi,

mà còn thấy có “được” là còn nằm trong cõi nhân

sinh. Vẫn là chưa phải. Nhưng nếu bỏ lờ đi là bất

thần động dụng không xuất hiện được, thì bài toán

cuộc sống vẫn còn y nguyên. Cho nên mới nói: “biết

khó, làm khó, chứng khó, bỏ khó và dụng khó”. Nếu

ai chưa vượt qua năm đoạn đường khó nói trên, tức

là chưa có dịp lặn sâu vào tận cùng chính con người

của mình, mà cũng chưa có dịp để thám hiểm vào cái

40

bao la linh không vô cực tánh, thì làm sao khám

phá được gì nữa chứ!

9. Phương pháp động viên năng lực tế bào

Mỗi một con người chúng ta là một kho tàng chứa

đầy những gì của quá khứ. Thậm chí chủ nhân ông

cũng không biết hết trong đó mình đã chứa gì. Những

quá khứ ấy tạo thành một thế chướng ngại cho sức

thông minh vốn có của mỗi người, tựa như một nhạc

cụ không ai biết dùng, bị cho vào xó góc, đến nỗi

vừa hoen rỉ, vừa bụi dơ bẩn bao phủ dẫy đầy. Như

vậy thì dù có một nhạc sĩ tài tình chăng nữa cũng

không thể tấu lên một bản nhạc tuyệt vời. Vì thế

nên cần phải gột rửa, điều chỉnh lại cho đúng mức

để lấy lại sức thông minh vốn có của mình thì mới

có đủ khả năng khám phá. Việc làm ấy được gọi là

41

động viên toàn bộ năng lực tế bào.

Muốn động viên được toàn bộ năng lực tế bào ít

nhất phải có phương pháp và kỹ thuật. Phương pháp

ấy là gì? Tức là phương pháp tĩnh tọa vậy.

a. Tĩnh tọa là gì?

Nếu cắt nghĩa theo từng chữ thì tĩnh là yên lặng,

tọa là ngồi. Tĩnh tọa là một phương pháp ngồi yên

lặng, nhưng sự thật chính là một phương pháp giúp

cho toàn bộ tinh thần được yên nghỉ để lấy lại sức

minh mẫn của con người. Nhưng tại sao ta lại phải

tĩnh tọa? Vì trong cuộc sống hàng ngày, tất cả

chúng ta đều bị xã hội, gia đình, cá nhân quy định,

bóp méo tinh thần lẫn thể xác đi. Người thì ngồi

nhiều, người thì đi nhiều, người thì đứng nhiều,

người thì uống lạnh nhiều quá, kẻ thì suốt ngày làm

42

việc như cái máy, người lại ăn không ngồi rồi

không động đến móng tay. Do đó tất cả những sinh

hoạt làm lụng, ăn uống chơi bời, ngủ nghỉ, cho đến

tâm tư đều là bị sai khiến, xung động. Tất cả những

cái đó để lại một chất thừa trong cơ thể mà y khoa

gọi là chất độc. Chất độc này không bài tiết được,

phản ứng trở lại làm cho năng lực sống của tế bào

trong thân bị kém sút suy đồi, dồn lên bộ óc của

chúng ta, để tất cả những quá khứ biến thành chủ

nhân ông của hiện tại, mà điều động chúng ta không

còn tự chủ được trong khi tương giao. Bởi vậy,

chúng ta ngủ mà không ngủ, thức thì trong bụng lại

lăng xăng, giáp mặt với tương giao thì bối rối,

ngồi lại thì bơ vơ. Do đó tâm thức của chúng ta lúc

nào cũng lắc la lắc lư như thùng nước bị chao

43

động, thì làm sao những hình bóng soi vào được rõ

ràng chính xác?

Phép tĩnh tọa là nhắm vào làm thế nào động viên

hết năng lực cho tế bào sống dậy và bài tiết chất

độc còn thừa.

Trong cơ thể chúng ta, đại khái nói theo kiểu rờ

đụng thấy được của khoa học, có 6 phần là: Thán,

Khinh, Đạm, Dưỡng, Lưu, Lân (CHOSP). Nếu nói theo Á

Đông, những phần ghi nhận được là 6 khí: Phong,

Hàn, Thấp, Táo, Hỏa, Nhiệt cũng thế thôi, không thể

thiếu, không thể dư.

Thí dụ: Nếu thiếu khí than để sưởi ấm, thì làm cho

chúng ta dễ ngủ gà ngủ gật, như những người tuổi

trẻ uống nước đá, ăn đồ lạnh nhiều quá. Đến chừng

mập chảy ra như một cái bị, nằm đâu ngủ đó, và sự

44

khôn ngoan lanh lợi cũng theo đó mà biến mất. Ngược

lại ăn nhiều chất thịt cũng như các vị đắng, mặn,

nồng thái quá, nó xông lên óc để xung động, làm cho

tâm chúng ta lăng xăng hết chuyện này đến chuyện

khác, dễ mừng, dễ giận, dễ thương dễ ghét một cách

tai hại vô cùng, không thể nào nhìn thấy rõ một sự

việc.

Hơn nữa, giờ đây là lúc vận thế quả cầu đang hồi

xuống dốc, cũng như nửa đời người về sau. Chúng ta

bám vào địa cầu mà tồn tại, trong vô ý thức, tất cả

phải chịu chung ảnh hưởng, cộng thêm sức phát

triển của kỹ nghệ, nhất là kỹ nghệ lạnh, làm cho

chúng ta bị lệch hẳn về phần âm. Xưa kia rất ít

người còn trẻ mà sớm mập, và người ta quan niệm còn

nhỏ mà mập là không thọ. Cũng như loài cây theo

45

luật tự nhiên, lúc nhỏ phải lớn chiều cao, đến khi

hết sức cao mới nở chiều ngang. Con người cũng thế,

còn nhỏ mà đã mập phì rồi có khác nào cây chưa lớn

đã vội đâm nhánh. Thân đã thế, thì tâm cũng chính

vì thế mà trở nên mất chiều cao, bơ vơ không tự chủ

được để xảy ra lắm điều rối ren trong xã hội. Một

em bé từ nhỏ đã uống nhiều nước đá, đến 12-13 tuổi

đã nhìn đời bằng cặp mắt u sầu, chạm đến là chực

muốn tự tử. Nếu cha mẹ uống nước đá nhiều quá thì

đứa con sinh ra càng sớm biết buồn chán hơn.

Cơ thể con người đối với các tạng phủ bên trong

tựa hồ như một cái cân năm cánh, lúc nào cũng phải

quân bình. Nếu có phần nào chênh lệch, đều là không

phải bình thường. Phép tĩnh tọa là để lấy lại quân

bình cho cơ thể, và đem lại nguyên vẹn sự minh

46

mẫn, bén nhạy cho tâm hồn.

b. Tĩnh tọa được kết quả gì?

Xin đừng ai hiểu tĩnh tọa để trở thành một thứ gì

lạ lùng, mà phải hiểu chúng ta luôn luôn bị sự thái

quá bất cập nó điều khiển, làm cho cả tinh thần

lẫn thể xác bị méo mó sai lạc đi, không thể dọn một

con đường khám phá. Giờ đây muốn chỉnh đốn lại

phải dùng phép tĩnh tọa.

Như một nhạc sĩ điều chỉnh lại một nhạc cụ, như

một nhà khoa học lau chùi, điều chỉnh máy tính điện

tử trước khi dùng. Muốn có được một cặp mắt sáng

suốt, một tâm hồn thật bén nhạy để thực hiện một

cuộc khám phá, thì phải biết chỉ một hạt bụi rơi

vào con mắt, dù hạt bụi ấy là mạt vàng, cũng đủ để

che khuất cả một bầu trời. Một chút xíu vướng mắc

47

của tâm hồn cũng đủ che khuất cả bầu linh năng muôn

thuở. Thế nên bước đầu tiên là phải thanh lọc thật

sạch thân tâm để đi đến chỗ nhìn đâu thấy đúng

đấy.

Hơn nữa, trong chúng ta không mấy ai có đủ khả

năng suy nghĩ thấu đáo một vấn đề gì mà nửa chừng

đừng bị chi phối. Nên biết tâm chúng ta không những

là khỉ mà còn là cả bầy chớ không phải một con,

mỗi con muốn đi một nẻo. Bởi thế chúng ta cần biết

rõ con người chúng ta trước. Nếu không thì làm sao

phân biệt đâu là chơn, đâu là giả. Vì thế mà dễ rơi

vào hố mê tin. Nghĩa là chúng ta thường dựa hẳn

vào bên ngoài để định đoạt vận mạng cho mình, chớ

tự mình không thể chủ động. Mà dù cho không tin gì

cả, trong khi không biết gì hết về mình, thì cũng

48

là một thứ mê tin.

Bước thứ nhất của việc tĩnh tọa là giúp cho ta

thấy rõ từng chút về sinh lý cũng như tâm lý ra

sao. Với cách tập này, những bệnh như thịt dư ở

mũi, cận thị, thịt dư ở cổ họng đều hết dễ dàng.

Một điều lạ nữa là bình thường mỗi khi chúng ta cố

sức nhớ lại một chuyện gì thì không nhớ được, ngược

lại có những chuyện rất muốn quên mà vẫn cứ nhớ để

làm đau khổ cho mình. Với cách tập này, con người

của chính mình biến thành cả một kho tàng của bao

la, đụng đến liền hiện ngay mà không cần chứa giữ.

Đích thân kẻ viết này đã thực hành mà nói ra, chớ

không phải là chuyện bịa đặt tưởng tượng.

Do đó việc tĩnh tọa vô cùng cần thiết cho công

cuộc khám phá, nhưng cũng không khỏi có chút khó

49

khăn. Vì con người ngày nay vừa ăn, vừa chạy, vừa

làm chứ không thể đứng yên thì nói chi đến ngồi.

Nhưng nếu không thực hiện được thì công cuộc khám

phá cũng đừng nghĩ sẽ thành công. Và nếu muốn kết

quả tốt thì nên nhớ đừng mong cầu sẽ được gì cả mà

chỉ là phương pháp để trả lại bình thường cho thân

tâm thế thôi. Nếu chưa làm được việc này thì dù là

thầy thuốc chăng nữa cũng vị tất là thiệt biết.

Trong xã hội ngày nay, từ trí thức phong lưu xuống

đến hàng dân dã, trong gia đình anh em, cha mẹ, vợ

chồng, ruột thịt, vị tất ai đã hiểu ai! Biết nhau

chỉ là biết mặt, chớ bên trong nào ai đã biết ai.

Bình thường đã thế, khi biến cố làm sao biết được

gì hơn. Thế mới biết, chỉ nhìn nhau bằng bề ngoài

nên tâm tư càng ngày càng trở nên tê dại, mất hẳn

50

sự bén nhạy cảm thông, thì đối với kẻ khác cũng như

cỏ cây vạn vật, sẽ trở thành một tấm vách ngăn

tách biệt. Nay ta thực hiện phép tĩnh tọa để giúp

ta đem lại sự bén nhạy bình thường, đừng bị một sự

che khuất nào cả.

Khi nào ngồi tĩnh tọa ta mới thấy trong ta không

phải thuần là một con người, mà là một cuộc ẩu đả

lung tung thì làm sao có sức khám phá. Thật thế,

khi trong bụng mình chỉ còn có một người thì đâu đó

đều yên ổn. Đây là điều kiện phải biết khi thực

hành.

c. Điều kiện

Dù là nghề chơi cũng phải lắm công phu, ép hoa để

dành, trồng hoa sửa kiểng còn phải kiên nhẫn nhiều

thì kết quả mới tốt được thay, huống chi tập tĩnh

51

tọa.Khí hậu thời tiết

Khi ngồi nên lựa nơi yên tĩnh, thoáng khí. Nếu

nóng quá rất khó thực hành. Vì thế nên chọn vào lúc

quá nửa đêm hay sáng sớm. Nhưng nếu người ăn uống

nhiều thức lạnh, hoặc cơ thể thiếu nhiệt lực, tất

nhiên họ sẽ thích lúc trời có nắng thì cũng tùy, vì

đó là trường hợp ngoại lệ. Theo khí hậu ở Việt

Nam, nên ngồi từ 15 phút đến 2 giờ là cao nhất.

Sinh hoạt

Hàng ngày phải nên để ý điềm đạm, chậm rãi, dù là

việc gấp chăng nữa cũng đừng vội vã, bối rối. Phải

biết mình là tất cả, tất cả là mình. Trừ hết tất cả

những cái không phải là mình ra thì chính mình

cũng sụp đổ. Chính vì tâm mình động mà cảnh mới ứng

theo, nên cốt yếu là mình phải tỉnh bơ thì bên

52

ngoài mới không lung lạc. Vậy nên phải để ý cả

trong sinh hoạt hàng ngày, chớ không phải chỉ khi

ngồi mà thôi. Nếu lúc bình thường giận dữ thái quá,

thì đến khi ngồi phải bị cặn bã của tâm hồn quấy

rối không yên, do đó lúc khám phá cũng khó bề trong

suốt. Vì thế nên nếu có thể, hãy chọn lúc xa bữa

ăn mỗi ngày độ nửa giờ để đi một bài quyền, hoặc đi

bộ cho ra mồ hôi, khí độc càng rất hay.

Ăn uống

Thông thường chúng ta tưởng chừng như khi ăn vào

một món gì, tiêu hóa xong là hết. Sự thật nào phải

thế! Nếu trong trời đất này mọi việc đã trải qua

đều mất hết, thì hình ảnh và âm thanh từ đài vô

tuyến phát ra làm sao thu được. Hư không trong rỗng

suốt mà còn thế, thì khi bỏ nguyên con vào cơ thể

53

làm sao mất được.

Thực hành phép tĩnh tọa cũng như gắn máy tăng

điện. Vì vậy nếu là thứ điện nặng nề quá mà còn

tăng tất phải nổ bóng đèn. Cho nên ăn những thứ

biết bay biết nhảy, khi vào cơ thể càng bay nhảy

nhiều hơn. Ăn những thứ nằm ì một chỗ như chất

khoáng thì nó cũng nằm ì một chỗ. Các thứ thảo mộc

khi có gió mới động nên khi ăn thảo mộc vào nó

không nằm ì một chỗ như khoáng chất, cũng không bò

bay máy cựa như động vật. Thêm nữa, đừng tưởng khi

ăn một cục thịt là chỉ có một cục thịt. Thật lạ cho

khoa học ngày nay, nhất là nguyên tử học, họ vẫn

thấy được dù là siêu nguyên tử chăng nữa cũng là

một bầu vũ trụ, thế sao một cục thịt không phải là

một con. Đây quả là sự thật, vì không có cách phóng

54

đại ra nên không thấy. Tĩnh tọa là một phương pháp

phóng đại. Cho nên bỏ vào một chút xíu con khỉ thì

ra nguyên con khỉ, các con khác cũng thế. Điều này

chính tôi chứng thực được chứ không phải nghe ai

nói. Chỉ vì bình thường chúng ta bị mê muội thiên

cổ che khuất đi mà thôi. Do đó, khi mới tập tĩnh

tọa, nên ăn cá hơn ăn thịt, ăn rau hơn ăn cá nếu

chưa hoàn toàn ăn chay được.

Thông thường người ta quan niệm ăn uống không đủ

chất bổ, cơ thể sẽ bị thiếu dinh dưỡng, nhưng sự

thật nào hẳn thế đâu. Kìa, con trâu chỉ ăn cỏ chớ

nào ăn sắt, muối, thế mà trong máu vẫn nhiều sắt

nhiều muối. Bác nông phu làm việc ngoài nắng không

đủ thịt cá, chỉ ăn rau với dầu, thế mà khi ra nắng

thì dầu vận chuyển ra mặt da làm thành năng lực tốt

55

cho tế bào v.v… Con mển1, con nai muốn mập cũng

chỉ ăn cỏ. Con người muốn mập bắt mển, nai ăn vào

quả là một điều lạ. Con thú lạnh quá thì sanh mỡ,

hoặc mọc lông nhiều để chống lạnh. Con người lạnh

quá ra chợ mua áo len mặc vào v.v... Thế mới biết:

Con người bị lý trí làm đánh mất đi sức phản ứng

bằng bản năng thiên nhiên bảo vệ. Tĩnh tọa là để

giúp cho ta động viên toàn bộ năng lực tế bào. Nếu

chúng ta ăn các loại thịt nhiều quá, nhiệt lực nhân

lên quá cao, chất độc trong thịt sẽ thúc đẩy chúng

ta làm càn, làm bừa, khó bề kiểm soát. Hơn nữa, cơ

thể chúng ta trong tâm tư vốn sẵn bề bộn, như nhà

có đông đảo người. Khi ăn vào một thức ăn cũng như

cho thêm một người lạ mặt vào. Càng cho thêm đông

người vào càng khó kiểm soát, nên đúng phép một

56

người muốn vào cửa Y Đạo, mỗi bữa ăn chỉ được ăn từ

ba món trở lại. Và phải theo dõi cho đến ngày hôm

sau, xem thử kết quả tốt xấu thế nào. Nếu chưa nhận

ra, thì phải làm lại. Nếu càng chưa nhận ra được,

thì càng

phải bớt món đi. Và ngày ngày luân lưu đổi mới đi

thì mới mong biết được sự ăn uống quan hệ thế nào?

Đây quả là một điều đến ngày nay đa số vẫn còn ngờ

nghệch.Con người ăn buổi sáng thì sự nuôi dưỡng

tập trung lên phần trên nhiều hơn. Ăn buổi chiều đổ

dồn xuống dưới nhiều hơn. Nên ăn sáng gọi là điểm

tâm, ăn chiều, ăn tối thâu nạp nhiều chất bổ, bên

dưới tất phải được tiếp tế nhiều hơn, tất phải có

khi sanh chứng đòi hỏi. Cho nên “đói cơm khát nước

tèm hem, no cơm ấm áo lại thèm nọ kia”. Vậy nên có

57

hai lúc trong ngày áp dụng vào ăn uống tốt nhất là

khoảng 10 giờ sớm mai và 4 giờ chiều. Đừng nên ăn

vào lúc 9-10 giờ đêm. Những thức ăn lạ, nặng nề như

củ cải sống, củ hành sống, củ kiệu sống... hay các

thứ rau cay nồng không nên dùng, như hành hẹ phải

nấu thật chín mới nên ăn. Những thức ăn có tính quá

nóng hay quá lạnh, quá sôi bọt, quá dậy men cùng

những thứ chất ghiền như cafe, thuốc điếu, rượu đều

nên tránh... không nên uống trà đậm làm hại Tim.

Những thức ăn không hợp, dù ai bảo nó bổ đến đâu

cũng không nên ăn. Nấu nêm cũng phải đơn giản. Ngọt

cho ra ngọt, mặn cho ra mặn. Đừng quá phức tạp,

nhiều thứ đụng nhau sẽ gây ra chất độc tai hại. Thí

dụ: Nước tương, bột ngọt nêm chung vô canh lập tức

biến ra acid. Còn nêm với muối ớt thì ra mùi nấm

58

mối rất ngon. Nước tương với bột ngọt tốt khi xưa

còn như thế, huống chi nước tương hóa học và bột

ngọt ngày nay thì tai hại biết dường nào. Rau nấu

ăn cốt sao sạch sẽ ngon lành, đừng bày biện màu mè,

hình này tướng nọ càng thêm rắc rối.

Y phục

Thì giờ ngồi tốt nhất là từ nửa đêm đến sáng. Nếu

gặp lúc trời lạnh thì mặc dầy và đậy kín hai đầu

gối, đừng để hai đầu gối và hai lỗ tai bị nhiễm

gió. Nếu trời nóng bức càng mặc mỏng càng hay.

Hiệu quả về sinh lý cơ thể

Khi mũi hít vào thì toàn mặt da thở ra, khi miệng

thở ra thì toàn mặt da hít vào. Cứ 270 hơi hít vào

thì đợt thứ nhất ra đến mặt da, 270 hơi thở ra thì

đợt thứ nhất của mặt da hít vào lên tới miệng. Đó

59

là chu kỳ hô hấp của hơi thở, là một máy bơm chống

đỡ với mọi sự xâm chiếm của bên ngoài…

Trong cơ thể chúng ta có bộ tuần hoàn máu trắng và

bộ thần kinh là hai thành phần rất quan hệ. Bộ

thần kinh mắc vào tủy xương sống và óc. Hai cơ quan

này nối liền với Thận, Thận nối liền với bộ tuần

hoàn âm huyết.

Tuần hoàn âm huyết xuất phát từ mao tế quản của

tuần hoàn máu đỏ, nơi giao nhau của động và tĩnh

mạch, hệ thần kinh dương và hệ thần kinh âm. Nơi

đây tĩnh mạch âm huyết trích ra về tới ruột non mắc

liền với bể họng xôi để hút chất bổ ở ruột non đã

làm thành chất sữa. Nếu ở người đàn bà có con bú,

thì phần âm huyết chia ra hai nẻo đi lên ngang vú

cung cấp sữa cho đứa trẻ. Lúc dứt sữa thì chất bổ

60

được đổ vào tuần hoàn máu đỏ để bồi bổ sung túc cho

cơ thể, rồi kinh kỳ có trở lại. Nếu ở đàn ông thì

mạch này đi thẳng lên tĩnh mạch xương gánh bên trái

hòa vào tuần hoàn máu đỏ để nuôi khắp châu thân.

Thế là tuần hoàn âm huyết (máu trắng) phần ngoài

dính liền với trời đất, với Phổi và mặt da. Phần

trong dính liền với bộ tiêu hóa để lấy chất bổ gồm

tinh hoa của cả phần khí và phần chất đem nuôi cơ

thể (phần trong sâu mắc liền với Thận để sung túc

cho tủy óc, nuôi dưỡng gân xương). Vì thế tĩnh tọa

làm cho chất bổ được lấy hết, chế ra tinh hoa máu

huyết, nhờ đó cơ thể được tăng cường.

Hàng ngày, tai, mắt, miệng, mũi, thân, ý chúng ta

phóng ra ngoài thì nhiệt lực cơ thể bị hao phí. Khi

đóng lại, nhiệt lực lập tức tăng cường. Mắt đừng

61

nhìn ra, tai đừng phóng vọt, mũi đừng thở mạnh,

miệng ngậm thinh, tự nhiên nhiệt lực trong thân

tăng cường và bầu khí quyển xác thân trương nở. Đó

là vài nét cần được lưu ý.

Trong con người có hai hệ thống: trực giác và lý

trí. Trực giác sai lầm theo chiều hướng chúng sinh

gọi là bản năng. Trực giác đúng xứng với bản tánh

gọi là tuệ giác. Lý trí sai lầm gọi là lý trí phân

biệt mà Kinh Thánh Ky-tô giáo gọi là bị ăn trái

cấm. Nếu lý trí đúng với lý thì gọi là Trí Diệu

Quan Sát.

Trong sự hình thành cơ thể thì lý trí có sau. Vì

có xác thân rồi, do đụng chạm lần lần mới nảy ra

cái biết, lý trí mới phát triển, nên lý trí mắc

liền với cơ cấu thần kinh hệ. Thần kinh là sản phẩm

62

của lý trí, mắc liền vào tủy xương sống và bộ óc.

Hễ lý trí phát triển rắc rối tới đâu thì bộ thần

kinh sẽ rắc rối theo tới đó. Còn trực giác thường

tình của chúng sanh là một hệ thống tác động vào

bao la không hoàn toàn máy móc. Trực giác bản năng

này ở loài cầm thú còn giữ được nguyên vẹn sức phản

ứng của thiên nhiên bảo vệ. Thí dụ: Con vẹt nhìn

thấy màu vàng nó thích, nhiên lông nó ánh ra màu

vàng, trong khi đó con người không làm được thế.

Bởi vậy phải làm thế nào thống nhất lý trí, trực

giác bản năng và kho tàng chứa vựa lại cho thuận

một chiều thì tự nhiên sáng suốt. Biết được thế ta

mới thấy tai, mắt, miệng, mũi, thân mở ra thu vào

đều có tác dụng khác nhau và con người là một cái

đài vừa phóng vừa thu tất cả ngoại cảnh.

63

Về phần phụ nữ, mỗi tháng còn có vấn đề kinh kỳ

xen vào, nên khi có kinh là phải ngừng tĩnh tọa.

Phụ nữ thuộc thể tĩnh, nên có thể dễ tập mà cũng dễ

gặp cái bơ vơ trống trải. Thế nên trong khi tĩnh

tọa cần phải nên phấn chấn.

Bất cứ một tôn giáo hay một người sống bình thường

nào, nếu khinh thường năm điều răn cấm (giết hại,

gian tham, tà dâm, dối trá và nghiện ngập) tức là

người đó chưa đủ điều kiện để học tĩnh tọa. Vì khi

đã khinh năm điều răn cấm, tức là khinh thường cuộc

sống yên ổn của chính mình cũng như của tất cả

những người xung quanh. Thế mới biết, năm điều răn

cấm là điều kiện để duy trì cuộc sống cộng đồng

sinh tồn. Tuy nhiên, đây cũng không phải là những

giáo điều tôn giáo tín ngưỡng, mà muốn nói phải

64

thâm hiểu tận cùng cái vô lý của giết hại, tham

lam, gian dâm, dối trá và nghiện ngập. Nếu thấy năm

thứ tâm lý này là nguồn tai hại cho cuộc sống, thì

mỗi người phải tự giữ lấy, chớ không phải đợi ai

bắt buộc. Thiếu năm điều kiện này là thiếu hẳn tình

yêu thương chân thật, cuộc tập tĩnh tọa làm sao

kết quả.

Nhắc qua về vấn đề gian dâm, đây không phải nói

chỉ tư thông với kẻ khác ngoài vợ chồng chính thức

mới gọi là gian dâm. Mỗi khi mống ý muốn tìm sự xúc

cảm trong nam nữ tức là đã mống ý gian dâm.

Còn về phần nghiện ngập, dù cho là nghiện cafe,

trà, thuốc lá, thuốc lào cũng là ghiền, chứ không

chỉ là ghiền rượu. Nếu đã ghiền thì quyết định

thanh toán cho kỳ được. Người không đủ can đảm bỏ

65

dứt khoát các chất ghiền thì đừng hòng tập tĩnh

tọa.

d. Tư thế tĩnh tọa

Có hai cách tùy theo khả năng của mỗi người:

Ngồi kiết già: Chân trái gác lên đùi phải, chân

phải gác lên đùi trái. Ta phải làm vậy để ý thức

bên này có bên kia, bên kia có bên này. Cũng như

trong cuộc sống tương giao trong mọi người có mình,

trong mình có mọi người (có người có thói quen đặt

chân ngược lại cũng chẳng sao).

Ngồi bán già: Để chân trái lên đùi phải, nhưng

cũng có thể để chân phải lên đùi trái mà ngồi yên

tạm cũng được. Không nên ngồi xếp bằng vì rất cấn.

Hai tư thế này sẽ giúp ta ngồi được vững vàng vì

tư thế này là một cách ngăn bít bên dưới cho năng

66

lực đổ dồn về trên, nên sẽ dễ bị tê, nhưng không

sao. Tựa như một dòng suối không được lưu thông,

bây giờ đắp đập ngăn lại chờ nước đầy mở tháo ra,

nước sẽ tống đi sạch hết. Khi tĩnh tọa xong xả ra,

khí huyết lưu thông trở lại cũng tương tự như vậy,

rồi ít lâu sẽ hết tê.

Nên ngồi trên chiếu hay trên ván hơn là trên nệm,

vì ngồi nệm rất dễ tê.

e. Cách thực hành

Chuẩn bị

Cuộc sống ngày nay không thể cầu toàn, nên chỉ

ngồi quay mặt vào vách là được. Bắt đầu ngồi công

phu thì phải nới thắt lưng, bâu áo cho thông thả.

Nếu trời lạnh thì phải đội khăn, hoặc che khuất lỗ

tai. Tư thế phải giữ lưng cho thật thẳng chớ không

67

nên ểnh, vì ểnh thì năng lực trong người xông ra

làm nặng đầu, cũng đừng nên khòm vì khòm lưng dễ

ngủ gục. Ngồi thu xếp xong, khẽ ấn người nghiêng

bên phải, nghiêng bên trái cho mỗi đốt xương sống

cựa quậy sắp lại ngay ngắn. Vì xương sống của mỗi

người thường bị tập quán sinh hoạt làm vẹo, ít

người ngay.

Giữ đầu thẳng, hai mí mắt buông xuôi, không phải

mở cũng không phải nhắm. Vì mở bị thấy ngoại cảnh,

nhắm khít thì hình ảnh bên trong rọi ra. Xong rồi

thì dùng bàn tay phải đặt ngửa lên lòng bàn tay

trái, để sát vào bụng, hai đầu ngón tay cái đụng

nhau, để cho điện trong thân dễ nhân lên mà không

bị tiêu phí, rồi làm như hơi mỉm cười để xóa hết

những chuyện ban ngày và tưởng tượng cho chóp mũi

68

với rún ngay một đường thẳng.

Nghe kỹ lại trong bụng xem có hơi nóng không. Nếu

có thì hít vào bằng mũi cho bụng nở ra một cách từ

từ. Đồng thời tưởng tượng như khắp lỗ chân lông bài

tiết; xong rồi thở ra bằng miệng, thóp bụng vào,

tưởng tượng như hơi độc ở trong đi ra. Hít vào thở

ra như thế độ 6-7 hơi thôi. Bây giờ hai hàm răng

đụng lại, chóp lưỡi đụng răng.

Cách điều động

Hít vào thở thật nhẹ, thật chậm (lúc đầu thấy mệt

lắm). Để tự nhiên cho bụng dưới từ từ mở ra. Thở ra

cũng chậm chậm cho bằng hơi hít vào, bụng từ từ

thóp lại. Phải cố làm cho kỳ được. Hít vào thở ra

đều bằng mũi thật tế nhị. Càng không nghe không khí

chạm mũi càng tốt.

69

Nếu ý thức tập trung nơi rún thì sức nóng sẽ tụ

bên dưới. Cho dưới nóng trên mát mới thuận với tự

nhiên, ăn uống dễ tiêu hóa. Được thế, nhiệt lực đủ,

ăn rau cỏ vẫn thấy ngon.

Khi đang ngồi, nếu thoáng thấy tự nhiên bỗng nẩy

người là điềm ngủ gục sắp tới, thì lập tức dời điểm

tưởng lên sống mũi giữa giao mi giây lát là hết

ngay, rồi phải trả điểm tưởng xuống dưới nếu không

sẽ bị nặng đầu. Phải để ý hơi thở, nếu ngồi một lúc

mà nghe hơi thở kêu kho kho, cảm thấy yên tĩnh lạ,

và mắt muốn nhắm nghiền, thế là tiếp tục từ từ đi

vào ngủ gục, phải mở thật to mắt ra và đặt hơi thở

lại.

Khi mới tập cần nên canh đồng hồ. Định ngồi 5 phút

thì phải nhất định đủ 5 phút, đừng để trong tâm

70

bàn soạn, cắt nghĩa đủ thứ, rồi nghĩ đến bữa khác,

như thế không được.

Tập như thế, càng thở chậm ta dễ thấy rõ, càng hít

vào da càng thở ra. Nên khi nào thấy da đổ mồ hôi

nhiều quá, phải thở mau lại cho bớt mồ hôi. Có khi

mồ hôi quá nhiều phải ngừng, lau mồ hôi rồi sẽ tiếp

tục. Nhờ thấy được tương quan giữa mũi thở và da

đổ mồ hôi, nên chứng thực được mũi với da liên quan

mật thiết. Cứ thở thật nhẹ, đều đừng cho đoạn to

đoạn bé. Lúc mới tập, hễ tập trung tinh thần ở rún

thì bỏ quên hơi thở. Canh chừng hơi thở thì lại

quên rún. Đó là chỗ khó, cần phải cố gắng.

Cách xả

Đến mãn giờ muốn xả; trước hết khẽ hạ xương sống

xuống một chút để chân bớt tê, và đổi chân này qua

71

bên kia ngược lại trước. Tiếp tục thở như thường

(nghĩa là không kiềm hơi thở nữa). Khi hết tê xoa

mạnh hai lòng bàn tay cho thật nóng, áp lên hai mắt

để giải tán những hình bóng hiện đến trong lúc

ngồi. Kế đến xoa sau lưng hai vùng thanh cật, vùng

Chẽn vừng và hai bên mạn sườn, xoa hai bên lỗ tai,

hai khớp cánh tay. Rồi dùng tay phải xoa lòng bàn

chân trái, tay trái xoa lòng bàn chân phải. Rồi xoa

hai đầu gối. Xong nằm thẳng cho xương sống giãn

ra; và dùng tay phải bắt đầu xoa bụng từ bên phải

sang trái cho ruột trở lại bình thường rồi nằm yên

một chút. Đừng ngủ liền. Nếu ngồi được nửa giờ thì

nằm chừng 1 phút, ngồi dậy đi tới đi lui ít bước

mới nên ngủ. Khi mới xả ra không nên ăn uống vật

chi liền, hoặc nóng quá hoặc lạnh quá, nếu cần, chỉ

72

nên uống một hớp nước nóng.

Cách điều khiển tâm thức trong khi tĩnh tọa

Khi tập ngồi, chuyện chánh yếu là giữ ý thức nơi

rún và canh hơi thở cho đều thôi. Đó là cách để cho

mình dễ thấy mình nhất. Có thể chia làm ba giai

đoạn:1. Giai đoạn thứ nhất: Cột con khỉ

Buổi đầu phải chịu có hai nhóm ở trong mình. Một

phần là mình bây giờ, một phần là nhóm của cái cũ.

Mình cứ trụ lại một chỗ tha hồ đám cũ làm gì mặc

nó, đừng dự đến, chỉ lo chuyện mình. Bao giờ nó hết

lôi mình được nữa là hết giai đoạn 1 (đoạn đường

thường phải tập ngồi đến 1 tiếng đồng hồ mới thấy

kết quả).

2. Giai đoạn thứ hai: Buông thả con khỉ

Từ chỗ còn là hai người trong mình, bắt đầu đi dần

73

đến chỗ không còn là hai người nữa. Nghĩa là tập

luyện đã thuần, hơi thở tự do, và không cần phải

lưu ý tới rún nữa. Thử buông lỏng và tỉnh táo coi

chừng con khỉ có nhảy không. Nó vừa nổi lên phải

thấy liền và cột lại, nếu không là mình bị đi theo

nó. Một người nhìn một vật và đừng có thêm ý gì vô

hết thì vật đó không thể sai khiến mình được.

3. Giai đoạn thứ ba: Nhận chân thể tánh của chính

mìnhKhi tĩnh tọa, thời gian được 1 giờ 30 phút trở

lên sẽ nghe thật êm ả, không còn nhảy nữa, thì

phải coi chừng sẽ có thể ngủ. Lúc này khó khăn nhất

là phải tỉnh thật tỉnh, im lặng thật im lặng,

không cần phải để ý kiếm cái gì hết; tỉnh để đặng

nhạy; lặng để đặng rõ. Như nước trong ngọc chiếu,

mây vẹt trăng soi, để trực nhận cho được bổn tánh

74

đồng nhất ngay ở chính mình, mà thiền học gọi là

nghĩ cái không nghĩ. Khi đó, bầu khí quyển tự do

trương nở. Năng lực tế bào trong thân được động

viên trỗi dậy, bài tiết ra da lông, gột sạch khiến

tất cả mọi cơ cấu bộ óc, bộ thần kinh… đều trở nên

nhạy. Đối với cái không có gì hết này, mình sẽ có

một cảm giác như tắm mình trong nước mát, nước với

mình không cách bức. Đến đây mới thấy cái không,

không này phải là không thật sự. Chớ không như hiểu

biết bằng kiến thức hàng ngày. Như thế mới là

chứng thực vào thực tế bao la đồng nhất.

Bao giờ chúng ta nhận ra được chính mình là tất

cả, tất cả với mình vốn không hai, trong đồng nhất,

tương quan, trật tự, biến hóa lưu thông, đến chừng

đó mới có được một cuộc sống yên lành, dù ở khía

75

cạnh nào hay ở giai tầng nào.

Đến tầng bậc này, có những dịp khua động của một

tiếng chuông, hoặc một quả bom rơi từ xa, chúng ta

cũng trực nhận ngay được tiếng động kia với ta

không có khoảng cách. Nên triết học nói: “Lắm lúc

chúng ta cũng cần mượn tiếng động để nghe cái bao

la của sự im lặng” là vậy. Khi ấy, một chiếc lá rơi

bên kia đường, một cây kim rớt, tiếng sóng vỗ

ngoài biển xa, nghe như tiếng khua động đó ngay

trong bụng mình, như mình đang ngồi trong một khối

lưới vĩ đại, khi có chút xao động bên kia liền thấy

ảnh hưởng đến. Đó là lẽ viên thông hiển hiện.

Chừng đó mới thấy tất cả vạn loại đều có sự sống,

mà Nhà Phật gọi là hữu tình và vô tình tròn đầy thể

tánh (tình dữ vô tình đồng viên chủng trí). Nhưng

76

đó không phải là cái đáng mừng, vì là không phải

cái thâu vô, cái có thể được, mà là cái tự nhiên

vốn có của mỗi người, vì đời sống tê dại lâu ngày

nên không biết. Tĩnh tọa để đánh thức thân tâm cho

trở lại nhạy cảm, trực nhận cho được thể tánh thực

tại của chính mình. Có như thế mới có đủ khả năng

bén nhạy, hầu xây dựng một cái học khám phá, mặc dù

là chẩn đoán học!

Những tai hại trong khi tĩnh tọa

Thực ra mục đích của tĩnh tọa chỉ để động viên

năng lực toàn bộ tế bào cơ thể, chớ không phải để

biết được một cái gì. Cho nên hễ còn mong cầu là

còn lệch lạc. Nên nhớ cả một quá khứ của chúng ta

đang súc tích trong thân, trong khi thực hiện tĩnh

tọa, tất cả những hình ảnh ấy đều sống dậy, tốt có

77

xấu có, ma có Phật có… hết thảy đều chỉ là vọng

tưởng của quá khứ. Mặc kệ, chớ nên để ý! Nếu để ý

là nó dẫn đi ngay.

Mặc dù thực hành tĩnh tọa được kết quả như trên,

điều cần thiết là làm sao mang ý thức này vào khắp

cuộc sống hàng ngày. Nếu không, thì chỉ là tiểu

định, không đủ khả năng khám phá.

Một người tập tĩnh tọa đầy đủ rồi thì ngủ cũng như

thức, tâm với trí bao giờ cũng thống nhất, không

để phóng vọt, nên trí nhớ cũng rộng rãi vô cùng mà

lòng cũng không hề mang nặng. Chớ không như “lòng

ta chôn một khối tình, tình trong giây phút mà

thành thiên thu”.

Đây là nhận thức rõ trong bao la này, cái đã qua

qua rồi, hiện tại không dừng, vị lai chưa đến. Ngày

78

mới, giờ mới, phút mới, giây mới, tất cả đều như

thế. Chỉ có lòng trần mới đem cái cũ mà tiếp đón

cái mới. Cho nên thế là không thể biết được một

điều gì chính xác. Vì thế tĩnh tọa để chỉnh đốn cho

tâm thức được chảy một chiều đến cực kỳ nhạy cảm,

lòng không chứa vựa; không có vấn đề biết hay không

biết. Có như thế mới là chỉnh đốn hoàn bị một

guồng máy khám phá, để chú ý đến đâu là màn bí mật

được vén đến đó.

Một guồng máy khám phá được trong suốt như thế, là

phải như mặt gương. Việc chưa đến là chưa đến,

việc đến là hiện liền, việc qua rồi không hề giữ

lại. Đến ăn là ăn, đến ngủ là ngủ, không nên mang

việc này xô bồ vào việc khác. Có như thế mới có đủ

khả năng trường kỳ khám phá mà không bị mệt mỏi.

79

Đến đây, mỗi cái động dụng của ta đều cùng nhịp

nhàng ăn khớp với bao la. Thế là bản thân của bao

la tự khám phá vật trong bao la. Hỏi còn gì là khó

khăn nữa chứ?!

II. TỔNG LUẬN

Cùng chung một đại thể cộng đồng trong khung cảnh

trật tự thiên nhiên, cùng sống trên mặt địa cầu,

cùng một thể tánh tuyệt đối bình đẳng, thì không có

vật nào lìa hẳn khung cảnh trật tự thiên nhiên mà

tồn tại được. Vả lại, mỗi vật đều bẩm phú cả khung

cảnh thiên nhiên thu hẹp lại, mà con người lại càng

rõ rệt nhất.

Cơ xuống dốc của vận thế, vận tốc của địa cầu càng

nặng nề bao nhiêu, cơ nghiệp chung của tâm lý

chúng sanh càng đổ dốc khắc nghiệt bao nhiêu, thì

80

cơ bệnh tật cũng lại càng quanh co hiểm hóc bấy

nhiêu.

Với Y Đạo thì Đạo là chính, Y là thứ. Nhưng Đạo là

gì? Là quy luật biện chứng trật tự cộng đồng giữa

con người với thiên nhiên không hề cách bức, chớ

không thể tách rời con người thành một thứ máy móc

riêng biệt. Cho nên tâm cơ là chính, vật chất là

thứ, đổi nhân là chính, đổi quả là thứ. Môi trường

âm dương cơ thể là chính, tế bào vi trùng là thứ.

Sao gọi là môi trường âm dương cơ thể? Tức là cơ

thể tạng phủ vốn có một mức độ ôn lương bình thường

của chính nó. Ta có biết được thế để khi biến cố

hoặc lệch thái quá về nóng hay lạnh, hoặc bất cập

về nóng hay lạnh, đều nương đây mà thấy rõ. Thế gọi

là môi trường âm dương cơ thể.

81

Trong cơ tột độ của kiếp giảm này, con người cũng

như vạn vật rất có thể xảy ra bệnh tật chết chóc,

hoặc từ không khí, hay từ nước uống, hoặc từ thức

ăn rau củ, hoặc từ biến cố lạnh nồng gió bão, nước

lũ từ đâu đưa đến. Và có thể còn những biến cố khác

nữa tít tận bao la ảnh hưởng vào mà sách vở, tài

liệu y khoa cổ kim chưa hề thấy nữa cũng không biết

chừng. Nghĩa là có thể ngoài vòng quy luật của

thông lệ. Tuy nhiên, đã là Y Đạo thì Đạo trật tự

thiên nhiên là nền tảng, mà Y lại là hành tướng. Đã

nói đến Y là phải nói đến môi trường âm dương 5

hành, 6 khí khi biến cố, khi thăng trầm. Cho nên

tất cả bệnh tật ta có thể tạm xếp loại như sau:

Tất cả bệnh nội thương, điểm trọng tâm đều lệch

hẳn về tinh thần, tâm lý.

82

Tất cả bệnh ngoại cảm, điểm trọng tâm đều lệch

về khí hậu, thời tiết.

Tất cả bệnh tạp nhạp, trọng tâm đều ở ăn uống,

hoàn cảnh sinh hoạt, xã hội nghề nghiệp…

Tất cả bệnh truyền thống đều trọng tâm ở thọ

bẩm.Tất cả bệnh ngoại thương đều trọng tâm ở

thời cuộc.

Tất cả bệnh ngoại lệ, kỳ dị lạ thường, nếu không

phải trọng tâm từ biến cố nặng nề của trật tự

thiên nhiên thì nhất định cũng là từ nghiệp chung

của cơ giới.

Có phân như thế mới có thể tìm tận cội nguồn. Cho

nên Nội Kinh nói: Trên không thông thiên văn, dưới

không đạt địa lý, giữa không suốt được nhân sự thì

không thể là lương y.

83

Đã là lương y không những đối đầu với mọi bệnh tật

như một lương tướng, mà còn phải biết khám phá tất

cả mọi mặt trong cuộc sống. Phải lấy ngừa bệnh làm

chính yếu, chữa bệnh làm thứ yếu. Tinh thần khám

phá phải được thể hiện sáng suốt trong từng giờ

từng phút từng giây.

Tất cả những y khoa hiện có trên thế giới ngày

nay, kể cả Đông y và nhất là Tây y, tất cả quần

chúng đều bị rơi vào tâm lý chỉ nhìn sự việc ở cái

CÓ mà giải quyết. Thí dụ: Đông y chữa bệnh trĩ,

không cần biết động cơ khí hóa ở hệ thống Gan, chỉ

biết giải quyết ở chỗ mụt trĩ; cũng như Tây y đợi

phải có mặt biến cố vật chất, tế bào vi trùng để

căn cứ vào đó làm nền tảng đau đâu trị đó, làm cho

tất cả bệnh nhân đều bị tiêm nhiễm trình độ hiểu

84

biết ấy mà trở thành một chướng ngại trong y khoa.

Nhưng trên sự thật thì mọi sự việc hình thành từ

KHÔNG đến CÓ phải trải qua một dặm trường khá dài.

Dặm đường ấy trong tinh thần Y Đạo tạm đặt tên là

dặm đường khí hóa. Nghĩa là một sự biến hóa từ khí

hiện ra chất, và rồi có thể từ chất hóa ra khí, từ

hiện tượng đi đến tướng, từ tâm lý đi đến biến dạng

cơ thể. Chính vì thiếu hiểu biết về chặng đường

này nên tất cả thầy thuốc cũng như bệnh nhân, không

ai còn có đủ tư cách để phát giác sớm một bệnh tật

nguy hiểm khi chưa hiện hình. Cho nên những khẩu

hiệu phát giác sớm trong bệnh Ung Thư, bệnh lao,

bệnh bướu cổ, bệnh yết hầu (bạch hầu phong), bệnh

sốt xuất huyết, sốt tê liệt… cũng chẳng qua là thứ

phát giác muộn mà thôi. Con mắt Y Đạo không cho

85

phép như thế. Cho nên nếu đạt được lý này, không

những tiên liệu được một số bệnh nguy hiểm trước

khi phát từ 6 tháng mà thậm chí có thể là trước 2-3

năm chẳng hạn.

Ví dụ như vợ chồng kết hợp trong hoàn cảnh đau

thương khổ lụy mà thọ thai. Ta có thể dựa vào năng

lực khí hóa của nội tạng trong tâm lý buồn đau mà

tiên đoán khi đứa bé ra đời, ngoài việc rất dễ bị

đi tiêu chảy, khóc nhiều nước mắt ra, còn biết đại

khái mặt mày tướng tá như thế nào nữa là khác. Hay

như tuổi trẻ đã đến tuổi thành nhân bị bệnh Thấp Ôn

(fièvre typhoide) để khác phái nuôi, nếu không dễ

chết thì cũng dễ bị bệnh trầm trọng. Hay như nhìn

tập quán ăn uống của người bệnh, ta có thể tiên

liệu họ mắc bệnh gì trong cách thế ăn uống đó. Hay

86

như căn cứ trên vận khí, khí hóa của niên vận mà ta

có thể đoán biết trước đến lúc nào sẽ có loại bệnh

dịch nào xuất hiện, để rồi phải đối phó bằng cách

nào. Thí dụ những năm Mậu Thân, Mậu Dần, Mậu Tý,

Mậu Ngọ thuộc vận hỏa, khí hỏa. Nếu nhà ở thành thị

chen chúc mà lại nuôi gà chuồng trong nhà nhiều

quá, rất dễ xảy ra những bệnh phong hỏa như ban

trái và bạch hầu phong…

Nói như thế không có nghĩa là xem thường hình

tướng vật chất, vi trùng, tế bào mà là phải thông

suốt từ khí đến chất, từ tánh ra tướng. Vì thế cơ

thể học, sinh lý học, tạng phủ, cho đến tế bào, vi

trùng càng thông qua chính chắn càng tốt. Lệ như

nhìn một ung nhọt thấy nhọn đầu, nóng nhiều, màu đỏ

tươi thì phải biết ngay là năng lực khí dương của

87

cơ thể còn đầy đủ, và đây chỉ là loại bệnh độc, cấp

tính không nguy hiểm lắm. Nếu thấy mụt ung chân

lài, bề mặt rộng, đầu không nhọn, không nóng dữ lại

có màu thâm tím, người bệnh kêu nhức, là biết ngay

thuộc độc bệnh cấp tính ở trong cơ thể suy nhược,

thiếu khí dương, không cương lên nổi, biến thành

mạn tính, phá hoại trở vào nội tạng. Hoặc như

trường hợp bắt gặp mụt u dù nhỏ như hột bắp mà đóng

cứng một chỗ như xương không đau không nhức, thì

biết ngay là mụt u thuộc loại ác tính cực kỳ nguy

hiểm, càng ở gần bộ phận đầu chừng nào càng nguy

hiểm hơn chừng ấy. Hoặc như trường hợp phát sốt dữ

tợn như bệnh dịch hạch, bệnh bạch hầu phong… thì

biết ngay thuộc loại độc bệnh phát nhiệt, tất nhiên

những thức ăn uống ngọt, béo, sữa đường, cơm cháo

88

gạo trắng đều phải được ngăn cấm.

Tiến thêm một bước nữa, phải hiểu rằng tất cả

những sự việc xảy ra trên đời này, dù là bệnh tật

cơ thể hay tâm lý, cũng đều bởi tổ hợp nhiều điều

kiện kết thành. Thí dụ ở xứ Việt Nam, miền Nam vào

đầu Xuân, nếu khí hậu nóng sớm, qua ba ngày tết,

trẻ em thường sanh bệnh ghẻ chóc, ho hen, tắt

tiếng, trong đó có mùa màng, thời tiết hợp với khói

pháo, thức đêm, bánh chưng, bánh tét, mứt kẹo lăng

nhăng, cộng thêm khung cảnh thành thị, bệnh càng

dễ phát hơn nữa. Cũng như bệnh bướu cổ, nếu không

phải ở người đàn bà thì rất khó phát, nhưng dù là

đàn bà mà tâm tính hoàn toàn cởi mở lại cũng khó

phát. Đại khái là như thế. Cho nên chủ trương của Y

Đạo không mấy khi chủ trương thủ tiêu sự việc, mà

89

hầu hết đều lấy giải tán điều kiện làm chính yếu.

Chỉ trừ một đôi trường hợp như giải phẫu cắt bỏ,

thủ tiêu ký sinh trùng ở bộ tiêu hóa, hoặc sát phạt

vi trùng lao, như thế cũng chỉ là bất đắc dĩ thế

thôi.

Xa hơn nữa, nếu là tinh thần Y Đạo đi vào sự

tướng, ít nhất phải nắm vững nguyên lý lý hóa học

của Á Đông, tức là nguyên lý ngũ hành sanh khắc thể

hiện trong tất cả mọi lãnh vực thiên văn, địa lý,

nhân sự, cơ thể, sinh lý, tạng phủ, tâm lý, kinh

mạch, dược lý, bệnh lý, trị liệu,… thì mới thể hiện

tác dụng tròn đầy. Thí dụ người bệnh bị nước tiểu

đường, năng lực tác dụng của tạng Gan bị suy giảm,

khi đau nặng làm hôn mê, nếu gây được một sức trỗi

dậy của tạng Gan thì cơ bệnh có thể trì hoãn lại

90

chút, thí dụ như tạo một cơn giận. Đó là lý hóa của

hai tạng Gan và Tỳ. Đến như gặp bệnh dư nước chua

dạ dày trong người ghiền rượu thì khi có cảm trúng

gió, không được phép dùng những thang thuốc có vị

ngọt nóng như thang Quế Chi chẳng hạn, vì vị ngọt

chưa đạt đến trình độ hóa thành chất than, khi gặp

nước chua bao tử, nước chua sẽ tăng thêm cấp bách

làm vỡ mạch máu dạ dày, thành chứng ói máu. Hoặc

khi gặp bệnh nước chua bao tử quá nhiều, không cần

phải rút nước chua ra bớt, mà chỉ theo quy luật lý

hóa học của Á Đông, tổ chức thuốc uống để nước chua

khi gặp thuốc vào hóa thành chất bổ nuôi trở lại

cơ thể v.v… Đây chẳng qua là nêu sơ một vài điều để

làm thí dụ suy tư. Muốn đi sâu vào thấu triệt, tất

nhiên phải tỉ mỉ hơn.

91

Tóm lại, đã nói rằng trên không thông thiên văn,

dưới không đạt địa lý, giữa không thấu suốt nhân

sự, không tháo mở được chính con người của mình thì

không thể thành lương y. Tức là một cách nói khác,

muốn đi vào Y Đạo tất phải thâm nhập vào mọi khía

cạnh quy luật động của trật tự thiên nhiên. Và muốn

thể hiện được quy luật ấy vào trong mọi lĩnh vực

trong cuộc sống, thâm nhập vào tất cả sự vật cũng

như trong con người, thì phải dựa vào tinh thần Nội

Kinh mà khai thác.

Đã nói rằng trong tinh thần Y Đạo thì Đạo là chính

mà Y là thứ, lẽ cố nhiên về phương tiện chữa trị

không hẳn phải nhất luật dùng thuốc, cũng không hẳn

tôn thờ những vị thuốc cao lương, và cũng như dễ

dàng chấp nhận lấy sanh mạng kẻ khác đem bù đắp cho

92

mình, chỉ trừ một đôi trường hợp vạn bất đắc dĩ.

Cho nên nào pháp dược (dùng pháp mà trị như pháp

môn niệm Phật), nào châm, nào cứu, nào án ma, nào

đạo dẫn, nào điểm huyệt, đều được động viên hết

thảy. Phương pháp càng đơn giản, ít nguy hiểm, kết

quả chắc chắn bình dị là phương pháp rất nhiệm màu.

Cho nên đã là kẻ có trách nhiệm kiến thiết một nền

Y Đạo thì phải có con mắt nhìn khắp.

Trong tinh thần Y Đạo, dù nhìn một bệnh tật xác

thân, hay một bệnh tật gia đình, xã hội, quốc gia,

thế giới, có rộng hẹp khác nhau chăng nữa, cũng chỉ

một tinh thần khám phá, một nguyên lý duy nhất.

Cho đến khi dang tay điều chỉnh, dù nhỏ lớn rộng

hẹp khác nhau cũng chỉ một tinh thần mà hóa giải,

giải tán trong tinh thần đạo đức trên hết. Còn sát

93

phạt, thủ tiêu không phải là việc chính yếu.

Trong tinh thần Y Đạo, dù dụng cụ y khoa hay dược

phẩm, không thể chấp nhận là của riêng Đông hay

Tây. Mặc dù trong lĩnh vực Tây y ngày nay, dụng cụ

y khoa rất là cực thịnh, phong phú dồi dào, nhưng

với Y Đạo không hẳn đều được trọng dụng, cũng không

hẳn bị xem thường. Món nào cần thiết mới được

trọng dụng; vì trong Y Đạo, công cụ khám phá là

chính con người của lương y, tuệ giác sáng suốt,

nhạy cảm, đủ tư cách chủ động sự việc chớ không

phải là dụng cụ. Nếu tinh thần người thầy thuốc ỷ

lại hẳn vào dụng cụ máy móc, vật chất, con toán, để

định đoạt chữa trị thì ngày một ngày hai giác quan

của vị thầy thuốc ấy sẽ lần vào đần độn. Ngay như

trước mắt tôi thường thấy, các bác sĩ Tây y khi chỉ

94

còn tay không thì việc làm đã bắt đầu lúng túng.

Có lắm trường hợp đo áp huyết thấy bình thường, đếm

nhịp mạch thấy bình thường, lấy nhiệt độ mặt da

thấy bình thường, rồi quyết định là không có bệnh,

mà trong khi bệnh nhân đang lết bết! Cũng như một

trường hợp một người bệnh nước tiểu đường đến mức

bị lao Phổi, thiếu phương tiện thử nước tiểu, chỉ

còn có cách nghiệm đàm, nghe Phổi, hỏi chứng, rồi

định là bệnh lao Phổi, cho vào trại lao. May gặp

một vị thầy thuốc trong tinh thần Y Đạo, chỉ nghe

qua triệu chứng, biết ngay là bệnh nước tiểu đường

nặng lắm, biến chứng làm lao Phổi, đề nghị đi thử

nước tiểu đường. Quả nhiên đúng thế! Cho nên trong

tinh thần Y Đạo, dụng cụ y khoa có tối tân đến đâu

cũng không thay thế được quyền khám phá của ông

95

thầy thuốc, dù trải bao thời gian tiến triển nữa.

Định lý này quyết không thể bị thay thế được.

Trong tinh thần Y Đạo, đối với tất cả dược phẩm,

dù Đông Tây Nam Bắc, nhưng khi khám phá áp dụng,

đều phải được bình đẳng theo đường lối chỉ huy của

Y Đạo. Cho nên khi áp dụng trị liệu, không những

không phải chỉ có thuốc vật chất, mà dù cho dùng

thuốc vật chất cũng không có nghĩa như dùng viên

đạn thần, mà phải nhìn trọn một con người, xem khắp

thế quân bình nội tại, tùy thế mất thăng bằng mà

điều chỉnh. Cho nên không mấy khi dùng thuốc đơn

độc vị, mà có cả phương đơn, phương phức để biến

hóa theo kịp sức biến hóa của bệnh tật.

Nói không hề có chuyện như dùng viên đạn thần,

nghĩa là không thể có chuyện dùng đơn độc vị để

96

đương đầu với cả một chiến trường bệnh tật. Dùng

như thế chẳng khác nào đánh giặc mà bên địch cả một

tập đoàn còn bên ta chỉ một người một. Có một câu

chuyện xảy ra năm 1946, một người đàn bà bị nhặm

mắt lậu sưng to có mủ. Hồi ấy, Deniphilin chưa được

phổ biến, bà đi bác sĩ Tây chữa trị, bác sĩ cho

toa Thiazomide mỗi 24 tiếng đồng hồ uống 6 viên. Bà

uống qua một ngày, không những bệnh không khỏi mà

còn mệt lả, bèn cho một vị Đông y đến khám. Vị Đông

y từ chối vì không chuyên khoa về mắt, bảo bà đi

Tây y, bà vẫn nài nỉ xin chữa trị và cho biết đã đi

Tây y rồi không khỏi. Vị Đông y bèn điều tra kỹ,

mới biết mỗi lần bà uống thuốc, chỉ cho vào miệng

hớp nước nuốt trộng. Chẩn mạch thấy bộ phận mạch

Tim rất nhỏ yếu, bèn nghĩ ngay vì năng lực của Tim

97

không đủ, nên Thiazomide uống vào không hoạt động

được gây thành tác hại. Bèn đổi cách uống, cho nấu

súp thật đậm, dùng những thực phẩm bồi dưỡng cho

Tim mỗi ngày 2 lần, mỗi lần độ nửa lít nước súp

đang nóng sôi hòa vào 1 viên Thiazomide đánh cho

tan, để lắng, uống nóng, một lần không hết, uống

hai lần. Mỗi ngày chỉ dùng 2 viên mà thôi, còn súp

ăn được bao nhiêu cứ ăn và hẹn ngày mai trở lại.

Đến hôm sau, vị thầy thuốc ấy trở lại, khám qua

thấy bệnh mười phần bớt được 3-4 phần. Rồi cứ thế

mà cho, chỉ vài hôm sau là bệnh khỏi. Đây là trường

hợp hết sức nhỏ mọn, nêu lên để làm mẫu, giấy mực

có hạn, không thể nói sao cho cùng. Thế nên nếu áp

dụng trong đường lối Y Đạo, khai thác lại những

dược phẩm Tây y, dù là những món mà người ta cho là

98

lạc hậu, đem ra áp dụng vẫn mới tinh khôi và hiệu

lực sẽ kết quả gấp 3 lần theo đường lối Tây y từ

trước. Cho nên trong tinh thần Y Đạo, không hề có

công thức lạc hậu, và chuyện quen thuốc. Không ai

ngờ có những công thức tự ngàn xưa đến nay vẫn hãy

còn hiệu lực nguyên vẹn. Cho nên đúng lý ra đến

ngày giờ này, trong y khoa mà còn chủ trương phân

chất dùng độc vị, nghiêng hẳn về vật chất, tế bào,

vi trùng thì mới là tinh thần lạc hậu. Điều này cần

phải biết!

Một đặc điểm nữa, nếu muốn kiến thiết một nền Y

Đạo cho quốc gia dân tộc, hay cho thế giới, nhân

loại, ít nhất tinh thần ấy phải được phóng khoáng

tự do, không thể chịu đóng khung bởi một thế lực

nào. Có như thế tinh thần Y Đạo mới được thể hiện

99

một cách sung mãn vậy.

Mục đích mở mang Y Đạo không phải chỉ để tạo tổ

chức điều chỉnh thể xác cho bệnh nhân mà thôi, mà

trước nhất là để khám phá, điều chỉnh chính con

người của mình trước, rồi lần đến biết người, biết

bệnh nhân, biết thầy thuốc, hầu có thể điều chỉnh

cá nhân, điều chỉnh gia đình, xã hội, rộng ra cho

đến quốc gia thế giới nữa. Có lập tâm như thế mới

xứng đáng là con người đi vào Y Đạo.

Tinh thần Y Đạo về phương diện dược, dù đối đầu

với một món thuốc Tây hạng nhất hay một món thuốc

Nam mới tìm trong rừng về, vẫn phải có cách khám

phá để biết lệch về dương hay lệch về âm, đối mạch,

đối chứng thế nào, với môi trường cơ thể tâm lý ra

sao, để đi đến được áp dụng xem như một vị thuốc

100

thiên nhiên đã từng được áp dụng. Thí dụ với

Streptocyline, nếu gặp trường hợp bệnh Phổi lao mà

mạch hữu Quan hữu Thốn mềm, nhỏ, chìm, thiếu, tuy

là đã đối chứng đối mạch nhưng nếu tả Thốn thấy

mạch sắc thì biết ngay là bệnh nhân quá lo lắng là

điều kiện chính của bệnh, làm cho năng lực của Tim

đối với tạng Tỳ không bình thường hóa, tạng Tỳ

không nuôi dưỡng được tạng Phổi. Nếu không áp dụng

phương pháp nuôi dưỡng cho tạng Tỳ và Phổi thì dù

Streptomycine có áp dụng nhiều đến đâu cũng chẳng

qua chỉ là tàn hại bệnh nhân mà thôi. Trong trường

hợp ấy, nếu vừa vận dụng Streptomycine vừa vận dụng

thang Quy Tỳ cho đúng cách, thì hai thứ thuốc có

thể bổ trợ lẫn nhau mà trở thành tác dụng vĩ đại.

Trái lại, nếu mạch hữu Thốn to hượt, đàm nhiều thì

101

Streptomycine lại là thuốc độc.

Lại như trường hợp ung nhọt thuộc loại có mủ, có

nhiệt độc, mạch tả Thốn to, nổi, hượt mau, mụt ung

nhọt đỏ, nhọn đầu thì Danégan với Péniciline đều có

thể dùng được rất công hiệu. Trái lại mụt ung nhọt

to, đầu không nhọn, màu thâm tím, ít nóng, mạch

hai bộ Thốn thiếu, chìm, thì càng dùng Danégan và

Péniciline càng lâm vào tình trạng nguy kịch. Trong

trường hợp đó, nếu áp dụng phương “Thác Lý Tiêu

Độc Ẩm” làm chánh, còn Danégan hoặc Péniciline làm

trợ, điều chỉnh cho đúng mức, cho vào lập tức khỏi

ngay.

Thế mới biết, theo cách quan sát này mà khám phá,

nếu lại được huấn luyện một lớp dược học tham luận

rồi, thì không những nhiều vị thuốc thiên nhiên

102

được tùy duyên khám phá, mà cả đến số thuốc đã có,

đang có của Tây y ngày nay, kể cả các loại công

thức lạc hậu người ta chủ trương loại trừ chăng

nữa, cũng đều có thể biến thành những vị thuốc mới

mẻ quý giá, công hiệu siêu tầng như Thiazonmide,

Sulfamide, Danégane, Péniciline, Streptomycine,

Aspirin, Quinine… chẳng hạn. Thì ta thử hãy nhắm

mắt trầm tư cũng đủ tức khắc thấy ngay kho tàng trị

liệu của chủ trương Y Đạo trở thành phong phú ra

sao. Và trên tinh thần không có Đông Tây này, giá

trị y khoa mới có cơ nhảy vọt huy hoàng, năm châu

như một. Như thế chẳng là thú vị lắm sao! Từ đây,

mỗi một bệnh nhân thông qua một cuộc khám phá điều

trị của lương y đi ra, dù ít dù nhiều cũng đã trở

thành một con người mới. Đây quả là một đặc điểm

103

đáng lưu tâm.

Thế gian đã có biết bao nhiêu kẻ nói rằng: Tất cả

sự vật trên đời này đều nằm tròn trong quá trình

biến hóa lưu động, thế là đã trực tiếp chấp nhận

tất cả đều chỉ là một hiện tượng tổ hợp chuyển hóa

vô thường, sanh diệt không đồng thời. Thế mà người

ta vẫn nghiễm nhiên chủ trương cố chấp, đặc kẹo,

đóng cứng, sát phạt, chiếm đoạt vật chất lấy làm

hơn. Thế là đã đi ngược chiều với quy luật trật tự

thiên nhiên. Trong tinh thần Y Đạo không thể chấp

nhận. Cho nên vốn đã không thể chỉ tư vị riêng cho

loài người, lại không thể tư vị riêng cho một giai

cấp nào. Không vì kẻ quyền quý cao sang, cán bộ hay

chủ tịch mà chẩn đoán, săn sóc tươm tất hơn những

người dốt nát, nghèo nàn. Nếu muốn trở nên một

104

rường cột chân chính trong Y Đạo, ít nhất phải đủ

có tinh thần ngoài vòng danh lợi.

Một yếu tố nữa cần phải được nói hết, là trong Y

Đạo, năng lực và rung động là hai điều kiện rất

quan trọng mà người nay thường tự hào cho rằng mình

biết lắm, còn cổ nhân thì không. Nhưng kỳ thực

Đông Tây Kim Cổ vốn sẵn một dòng, chỉ khác nhau ở

biết áp dụng vào thực tế hay không mà thôi. Người

nay nói thì nhiều, mà áp dụng vào thực tế được thì

ít. Thí dụ như: Người xưa đã từng dùng năng lực và

rung động mà kiến thiết phép châm, phép cứu; hoặc

lợi dụng năng lực và rung động của màu sắc, ánh

sáng, hình tướng, tâm lý, âm thanh, để kiến thiết

phương pháp niệm Phật dùng trị bệnh Tim, phương

pháp niệm Quan Thế Âm để trị bệnh sốt tê liệt, bệnh

105

dịch tả, bệnh sanh khó, bệnh sạn Thận…; hoặc áp

dụng năng lực vào rung động để chữa bệnh lang ben,

bệnh âm dương dịch (một chứng bệnh do thương hàn

chưa thật khỏi mà giao dục nên truyền cảm cho đối

phương); hoặc lợi dụng năng lực rung động để tổ

chức thai giáo dạy trẻ thơ; hoặc áp dụng năng lực

rung động để chữa bệnh bướu cổ, bệnh Ung Thư vú vào

thời kỳ thứ nhất… chứ không như người nay nói năng

lực rung động, mà bệnh Tim lại đi tìm trái Tim

bằng máy ráp vào! Nếu kể cho hết e không kể sao cho

xiết. Người xưa còn nói chỉ một mống niệm thôi

cũng đủ rung chuyển ra ngoài ngàn dặm. Như thế đủ

biết trước đây 5-6 ngàn năm, cổ nhân đã từng biết

chuyện này một cách rõ ràng tỉ mỉ, giáp mặt với sự

thật bằng thực chứng. Nhà Phật có nói: “Mênh mông

106

vũ trụ đối với ta không cách mảy lông, suốt cả xưa

sau không lìa hiện tại”. Nói như thế nghĩa là gì?

Nghĩa là sự thật vốn là sự thật ngoài vòng tên chữ

của duy vật, duy tâm mà bộ thần kinh, bộ tuần hoàn,

guồng máy tâm thức với bao la thiên nhiên không hề

cách biệt. Nếu không kiến thiết được một nền tảng

khám phá vững vàng, không tài nào thấu đạt. Khi đã

thấu đạt được rồi mới thấy tất cả các môn trị liệu

của Y Đạo cũng chỉ là áp dụng luật rung động và

năng lực một cách khéo léo có kỹ thuật, để bù đắp

hoặc chuyển hoá tất cả bệnh tật mà thôi.

Nếu muốn trở nên một nhà chẩn đoán lành nghề, có

một tinh thần tài tử siêu tuyệt, ít nhất phải luôn

luôn hỏi lại mình đã thực hành thông qua giai đoạn

động viên năng lực hiểu biết như đã nói ở chương

107

thứ nhất chưa. Đã có thông qua tinh thần Nội Kinh

một cách rõ ràng chính chắn chưa? Có nhận ra lòng

mình đã trong sạch về những nỗi thèm khát tài tình

danh lợi chưa? Đó là những điều kiện để đánh giá

con người của mình có thật tâm đi vào Y Đạo không

vậy.

Giả sử có người đặt câu hỏi: Nếu chủ trương của Y

Đạo hẳn là không thể thiên vị loài người mà tàn hại

những sanh vật khác, không lấy sinh mạng kẻ khác

để bù đắp nuôi dưỡng cho mình một cách trắng trợn

đành rồi, vậy còn bệnh vi trùng hay ký sanh trùng

trong cơ thể thì sao? Một quốc gia có đạo không thể

vô cớ mà xâm phạm sinh tồn của kẻ khác. Nhưng nếu

kẻ khác trắng trợn xâm lược, tất không thể không có

biện pháp đối phó. Cách trị bệnh vi trùng hay ký

108

sanh trùng trong cơ thể cũng chỉ thế thôi, có gì

đáng bỡ ngỡ!

Trong tinh thần Y Đạo, sau khi đã thông qua phần

tổng luận, muốn đi vào trực tiếp áp dụng phải thông

qua

4 phép (tứ chẩn): Khám bằng mắt, khám bằng tai,

khám bằng hỏi đáp, khám bằng tay, gọi tắt là Vọng,

Văn, Vấn, Thiết. Và theo đây mở đầu bằng phép vọng

như sau:

III. VỌNG CHẨN

Đã nói đến tứ chẩn là đã thu hẹp phạm vi tinh thần

Y Đạo vào việc nhỏ xíu là giáp mặt với bệnh nhân

để khám phá từng người. Thế thì phép khám bằng mắt

chỉ là một phần nhỏ xíu trong nhỏ xíu của Y Đạo mà

thôi. Tuy nhiên có người nói: “Mênh mông vũ trụ vừa

109

đủ trên đầu mảy lông, muôn việc xưa sau nằm tròn

trong chớp mắt hiện tại”. Thế thì nếu biết cách

nhìn, chỉ phép khám bằng mắt không thôi cũng đã là

một bầu trời bao la vô tận tha hồ lội bơi bay nhảy.

Nhà Phật có nói: “Tất cả chúng sanh không ai không

đủ ba mươi hai tướng (tức là tướng tròn đầy không

thiếu thốn một khía cạnh nào), chỉ vì bị tâm mê bóp

méo nên đồng là đầu trên chân dưới, mũi dọc, mày

ngang mà vạn vạn kẻ chẳng ai giống ai; cho nên thân

này như một khối sáp, tâm thức như một điêu khắc

gia, mới có mỗi một tâm niệm là ghi lại một dấu vết

riêng”.

Đã là tâm với vật không phải là hai, thì ăn uống,

sanh hoạt, tâm tư, gia đình, xã hội, nhứt nhứt đều

110

có thể lưu lại muôn vàn sắc thái. Cho nên, chỉ

trong tinh thần “Thần nhi minh chi, tồn hồ kỳ nhơn”

(nhập thần rồi tỏ sáng, thực hiện được điều bởi

lòng thành của con người). Trong Y Đạo, nhận chân

được cái bình thường thì khi gặp cái biến cố mới có

thể thấu triệt. Những sách vở để lại của người xưa

về phép khám bằng mắt kể cũng đã vừa phong phú,

vừa cô đọng. Tuy nhiên còn biết bao chi tiết tùy

thuộc vào thời đại đổi thay, tinh thần xáo trộn,

không thể căn cứ đóng cứng chết tê vào một số điều

kiện mà học thuộc lòng được. Tuy nhiên trước khi

tường thuật lại những bước đường của người xưa,

chúng tôi muốn lập một môn chẩn đoán cụ thể cho

đương thời trong tinh thần Y Đạo, nên có những cách

nhìn khám phá khác biệt như sau:

111

Tuy rằng nêu lên danh từ “TỨ CHẨN”, nhưng sự đời

không phải là một thứ từng cục từng cục để riêng

tư, cho nên có khi phân có khi hợp. Nhưng đó mới

chỉ là việc trực tiếp với bệnh nhân. Ngoài ra còn

những điều kiện cần phải để ý. Nội Kinh đã từng

nói: “Trên không thông thiên văn, dưới không đạt

địa lý, giữa không suốt nhơn sự thì không thể làm

lương y”. Thế thì những điều kiện chung quanh của

Tứ Chẩn cũng không phải là ít, dù là trong phạm vi

vận dụng mắt.

Có một lương y trở về già nói: “Nếu đến một xứ xa

lạ, hoặc một đô thị hay một làng mạc nào chưa từng

quen biết, dù là thầy thuốc giỏi cũng chớ nên vội

thi thố hiểu biết của mình. Ít nhất phải để vài ba

tháng dạo chơi, trải qua tình hình chợ búa, phong

112

tục, tập quán, khí hậu, nhân tâm, thổ nghi, phong

thủy. Có để mắt quan sát được ít nhiều, đến chừng

đó có thi thố hiểu biết của mình, không những không

muộn mà còn tránh được làm thành những trò cười

cho quần chúng địa phương”. Ý kiến như thế thật là

đơn giản, nhưng quả là người có một cách nhìn rất

sâu sắc! Thế mới biết tuy nói là Tứ Chẩn nhưng sự

thật chỉ là biết vận dụng tinh thần sáng suốt trong

mọi lãnh vực mà thôi!

Kìa, ta hãy xem tại sao phụ nữ ở tỉnh Long Xuyên

thường cổ chân to hơn người tỉnh khác, và tuổi hết

kinh kỳ cũng muộn hơn. Đối với người tỉnh khác,

thịt Cóc không thể là món ăn trường kỳ, thế mà đối

với người sở tại, thịt Cóc là món ăn trường kỳ của

mùa nước nổi, và tại sao người Long Xuyên tinh thần

113

rất dễ mơ mơ màng màng, phiêu phiêu, phưởng

phưởng. Và tại sao họ rất thích sấm giảng ê a!

Những điều ấy có quan hệ gì đến chuyện mỗi năm đến

mùa nước nổi, chợ Long Xuyên phải đi xuồng, món

hàng bán nhiều nhất ngoài chợ là thịt Cóc, và đến

mùa khô thì nước cạn sâu thăm thẳm không? Địa thế

như thế có quan hệ gì đến bệnh Ung Thư, đến nước

chua bộ tiêu hóa không? Tại sao địa thế Lâm Đồng,

Tuyên Đức chỉ phù hợp với đàn bà, và rất không hợp

với bệnh Ung Thư? Tại sao dân Sài Gòn lại dễ xảy ra

thịt dư mũi, thịt dư cổ họng, suyễn, phong thấp,

nhức khớp xương và tê liệt? Tại sao những năm vận

hỏa, khí hỏa như Mậu Dần, Mậu Thân, Mậu Tý, Mậu

Ngọ, những nơi thành phố chen chúc mà nuôi gà Úc

Châu trong nhà nhiều quá, lại rất dễ xảy ra bệnh

114

ban đỏ rất nặng có thể xảy ra xuất huyết, hoặc bệnh

Bạch Hầu Phong (Dypterie)? Tại sao những vùng làm

vườn, trồng cây um tùm, rậm rạp, bón nhiều phân, áp

dụng nhiều thuốc sát trùng, lại thêm cá vồ nuôi

cầu, thì những vùng ấy lại dễ sanh bệnh sốt xuất

huyết, bệnh cùi ướt, bệnh làm băng? Tại sao những

vùng láng rau muống mênh mông bát ngát như Phú Định

xưa chẳng hạn, đàn bà rất dễ bệnh táo bón, trướng

ruột cùn? Tại sao những quốc gia gặp nhiều tao loạn

trong thời gian dài đằng đẵng như ngày nay lại dễ

xảy ra bệnh sạn Mật, sạn Thận, sạn bọng đái v.v…?

Tại sao những nơi gặp hồi chinh chiến nhiều quá,

xác chết dập bừa, hoặc những nghĩa địa to lớn bị

khui hẳn lên hốt cốt, sau đó lại rất dễ xảy ra bệnh

dịch hạch, bệnh cùi ướt v.v...? Lại nữa, trong một

115

xã hội bê bối, rối ren, bỗng dưng đa số thanh niên

lại muốn mang tướng nữ, đa số phụ nữ lại muốn mang

tướng nam? Đa số phụ nữ kinh kỳ đều đến trễ, đa số

sản phụ thấy sắp sanh tới nơi rồi lại bỗng dưng

ngừng lại mấy hôm… Tất cả những chuyện kể trên có

thoát ra ngoài vòng thiên văn, địa lý, nhân sự

không?!

Tại sao môi trường Việt Nam từ năm 1945 đến giờ,

cũng như niềm Nam từ năm 1975 đến giờ, rất dễ xảy

ra bệnh Ung Thư? Cho đến hiện nay bệnh Ung Thư tràn

ngập. Chuyện này có quan hệ gì đến thời thế không?

Thế mới biết, nếu y khoa chỉ khép khuôn vào phạm

vi chuyên môn, hoặc thế lực quy định thì cũng chỉ

tổ làm thêm đui tối mà thôi! Cho nên hễ chuyên môn

giải phẫu, càng đưa giải phẫu lên hàng đầu tức là

116

càng mê muội về bệnh cơ, càng đi sâu vào chuyên

khoa vi trùng thì càng mù quáng về khí hóa! Ta hãy

nghe một bác sĩ duy vật nói mấy câu như sau:

“Thượng đế rất vụng về, ban cho loài người chúng ta

một cặp mắt không đủ khả năng thấy con vi trùng,

nhờ khoa học tiến bộ chế được kính hiển vi, từ đó y

khoa mới có cơ thành lập” .

Cũng như thế, càng đi sâu vào chuyên môn phân

tích, càng mê muội về lẽ đồng nhất, tương quan,

quân bình, trật tự, biến hóa, lưu thông. Những điều

lược kể trên quả là sự thật không thể chối cãi.

Nói như thế sẽ có người bảo những điều nêu ra như

trên có từng được kiểm chứng bằng máy móc, khoa học

hay thống kê chưa? Nếu chưa thì lấy gì làm chắc? –

Xin thưa: Nếu dựa hẳn vào điều kiện máy móc vật

117

chất để định đoạt sự thật, tức là chỉ chờ đến hậu

quả mới vỡ lẽ, thì đã muộn rồi. Đâu còn được gọi là

khả năng khám phá của Y Đạo nữa chứ!

Tiến tới một bước nữa mà bàn, càng muốn tiếp xúc

gần gũi bệnh nhân mà quan sát, thì lại càng cần

phải chiếm cho được ưu thế phanh phui tất cả sự

thật, không thể để mảy may khuất lấp ẩn tàng. Vì

thầy thuốc, bệnh nhân cùng với phương pháp chữa trị

hợp lại thành một toa thuốc để chữa bệnh. Cho nên

dù khám bằng mắt cũng đòi hỏi cần đến điều kiện ánh

sáng, chỗ thoáng, tĩnh lặng, chân thật v.v... Rồi

tiếp theo đó, cặp mắt thầy thuốc phải được theo sát

bệnh nhân từ tướng tá, màu da, nước tóc, thế đi,

thế đứng, tính nết, nói năng, y phục, trang sức

v.v… Thí dụ: người bệnh có một cơ thể quá sức mập,

118

đó cũng là điều kiện thầy thuốc không thể bỏ qua,

phải theo dõi cho ra manh mối. Hay hoặc đàn bà tuổi

già rồi mà còn trang sức như gái mười tám, hai

mươi, tất nhiên trong đó phải có một động cơ nào.

Cũng như đến nhà bệnh nhân thấy thờ cốt thần cốt

tướng, hoặc thích trưng bày hình phụ nữ lõa thể,

tất phải dự biết đến những bệnh tương quan. Hoặc ở

một địa điểm nào trong đô thị, chung quanh đó có

nhiều rạp hát, hoặc trưng bày nhiều hình lõa thể to

lớn, hoặc thường biểu diễn thoát y vũ, thì số bệnh

nhân của thầy thuốc ấy cũng phải được thầy thuốc

lưu tâm đến khía cạnh đó. Đây là lược sơ đôi điều

để người học ý thức. Đến bao giờ hết phần Tứ Chẩn

sẽ có những mẫu án chứng minh tường tận từng sự

việc.

119

Như trên kia đã nói, với tinh thần Y Đạo, muốn có

một sức khám phá tinh nhuệ thì luyện mình và thông

đạt Nội Kinh là hai yếu tố không thể thiếu. Cho nên

trong môn Vọng Chẩn, Nội Kinh cũng đã bàn qua hết

những yếu tố quan hệ rồi, theo đây chúng tôi chỉ

khai thông thêm phần đại khái để người học có cơ

theo dõi.

Về phép khám bằng mắt, Tây y ngày nay rất dồi dào

dụng cụ, như quang tuyến X, kính hiển vi, phép thử

phân, thử nước tiểu, thử đàm, dụng cụ mở Tai Mũi

Họng, Tử Cung, soi Bao Tử mà khám, tuy không hẳn

hoàn toàn chính xác, nhưng trên sự thật về tướng

rất có ích. Nhưng ta hãy nhớ, không thể chỉ căn cứ

trên hiện tướng quả mà định đoạt được bệnh căn. Thí

dụ: Không thể căn cứ trên vi trùng lao mà quyết

120

định nguyên nhân bệnh chỉ do vi trùng, chỉ cần đơn

độc bài trừ vi trùng lao là bệnh khỏi. Trong Y Đạo

không cho phép ta hiểu như thế. Cho nên từ ngàn

xưa, cổ nhân Đông Phương về phép khám bằng mắt đã

từng để lại môn quan sát về khí sắc rất tinh mật.

Nào quan sát về thần sắc, nào phân biệt bợn lưỡi

v.v… sẽ lần lượt thuật như sau:

a. Quan sát về sắc

Hình hài thuộc cơ thể, còn khí sắc thì tập trung

trên khuôn mặt, lý rất nhiệm mầu không dễ thông

đạt. Đây chỉ nêu lên đại lược cho người học được

nẻo tắt mà vào. Tây y chưa từng khảo sâu về quan

sát hình sắc. Năm sắc chánh hợp với nội tạng thì

Gan màu xanh, Tim màu đỏ, Phổi màu trắng, Tỳ màu

vàng, Thận màu đen. Tạng Gan mắc hệ thống với gân;

121

Tim với mạch; Phổi với da; Thận với xương. Bộ óc là

tinh hoa của tạng phủ, cơ cấu hệ thống thần kinh

mắc liền với bộ óc, vì thế mỗi thành phần đều có hệ

thống cơ cấu thần kinh chi phối. Thế thì mỗi tạng

đều có bản sắc của nó, để khi sắc biến có thể

nghiệm biết. Lại có hệ thống mắc liền để khi biến

cố có thể biết được chỗ bệnh. Ví dụ màu xanh thuộc

Gan, hệ thống gân, thì biết được bệnh ở Gan. Các

tạng khác cũng thế.

Loài người trên thế giới không chỉ là một màu da,

mà có cả vàng, xanh, trắng, đỏ, đen. Đây tuy chúng

ta chỉ trực tiếp nhắm vào dân tộc Việt Nam, người

da vàng mà nói, nhưng trong đó vẫn có cái lý dung

thông, chớ không phải chỉ đóng cứng trong một màu.

Xem như trong thiên “Ngũ Tạng Sanh Thành” của Nội

122

Kinh có nói: “Xanh như cỏ úa là chết, vàng mà khô

như da trái Chỉ Thiệt là chết, đen như khói mây là

chết, đỏ như màu máu cam là chết, trắng như xương

khô là chết. Đó là nói năm sắc chết hiện. Còn xanh

như lông cánh non là sống, đỏ tươi như màu mồng gà

là sống, vàng ánh như da bụng cua bể là sống, trắng

tươi nhuận như mỡ heo là sống, đen mướt mượt như

lông cánh quạ là sống. Đó là năm sắc sống”. Lại

nữa, trong thiên “Ngũ Sắc Tuyên Minh” có nói: “Đỏ

phải giống như lụa bọc son chớ không được như màu

đá đỏ; trắng phải mướt mượt như lông cánh ngỗng,

không được trắng như màu muối rang; xanh phải xanh

mướt như màu ngọc thạch, đừng xanh như màu chàm;

vàng phải như lụa bọc Hùng Hoàng, đừng vàng như đất

sét; đen phải đen bóng như sơn mài, chớ đừng đen

123

như đất đen”. Những điều kể trên là ý muốn nói màu

gì thì màu, hễ sắc tươi nhuận có thần là tốt, không

tươi nhuận âm u là xấu. Cổ nhân thường nói: Bên

trong có gì tất hiện ra ngoài. Chúng ta thường thấy

nhan sắc những người mạnh mẽ tròn đầy là hiện

tượng đúng mức bình thường. Nếu suy kém tức là hiện

tượng bệnh. Càng trái thường là hiện tượng càng

bệnh. Nặng hơn nữa là hiện tượng chết.

Đại phàm bệnh nhân hiện sắc nhiều màu xanh là đau

nhức, nhiều màu đen là tê, vàng đỏ là nóng, quá

trắng là lạnh. Nếu năm sắc xen tạp là có chứng nóng

lạnh giao xen. Vì sao thế? Vì xanh là màu của tạng

Gan, màu xanh chiếm lấn là Mộc khắc Thổ, tạng Gan

lấn tạng Tỳ nên có triệu chứng đau nhức. Đen là màu

của Thận, màu đen chiếm lấn là điềm nước lạnh

124

ngưng trệ nên tê. Vàng, đỏ là màu Thổ, Hỏa nên chủ

về nóng. Trắng là màu của Kim, hiệu lịnh chủ về mát

lạnh. Nhưng làm ấm cơ thể là huyết, vì màu huyết

ít nên màu trắng nhiều, do đó biết được cơ thể

lạnh. Còn năm sắc đều hiện là hiện tượng thác loạn,

nên chủ về nóng lạnh xen lẫn.

b. Quan sát về tinh thần

Muốn nói về quan sát thần sắc thì phải có cách

nhận định rõ khuôn mặt là gì, để có chỗ định vị trí

tạng phủ một cách chính xác.

Phân khu khuôn mặt

Thái Dương hệ ta ở vốn có nhiều bộ phần, lấy mặt

trời làm nòng cốt. Tất cả đều mắc liền với năng lực

hội tụ, phản xạ của Thái Cực tuyến. Mỗi bộ phần

vừa chạy vừa quay, vừa có vận thế vừa có vận tốc,

125

tạo thành lực ly tâm hướng tâm, quyện lẫn nhau theo

mặt trời với điệu lò xo quyện lò xo mà vận hành

giữa không gian bao la vô tận theo tập đoàn khối

ngân hà. Tất cả sinh vật đều bám theo mặt địa cầu

mà tồn tại. Địa cầu là một hình tròn, ngoài là bầu

khí quyển, trong là khối vật chất, mặt đất là nơi

con người nương nhờ. Đó là nghĩa Tam Tài. Con người

đứng trên mặt địa cầu, nhìn lên đầu thấy là trên,

nhìn xuống dưới thấy là dưới. Nhưng sự thật ở dưới

chỉ là nghĩa ở giữa, ở trong; ở trên là nghĩa ở

ngoài bìa, ở ngoài. Bởi vì đối với hình tròn, càng

xuống sâu, càng lên cao là càng ra ngoài. Thế thì

người đứng trên mặt địa cầu là một hình tròn nhỏ để

lên một hình tròn lớn. Thân người lại cũng chia ra

Tam Tài, từ Chẽn vừng trở lên thuộc pháp Thiên, từ

126

rún trở xuống thuộc pháp Địa, quãng giữa thuộc

pháp Nhân. Hướng Đông thuộc phía trái, hướng Tây

thuộc phía phải, cho nên nửa người bên trái thuộc

dương, nửa người bên phải thuộc âm. Như thế dưới

chân con người cũng là một thứ ở trong ở giữa, nên

khi bệnh nặng, bốn động mạch ở chân tắc là nguy.

Chẳng khác nào cây không mắc rễ xuống mặt đất.

Tinh cầu trong không gian hết thảy đều vận hành

theo kiểu lò xo quyện lò xo. Nên tổ chức trong con

người cũng như trong vạn vật không thể lìa hiện

tượng hai con rắn quyện lẫn nhau.

Phần đầu của con người nằm trên lãnh vực pháp

Thiên, nghĩa là một hình tròn nhỏ nằm trên của 1/3

trên của hình tròn lớn. Nếu luận về cách cấu kết

tầng lớp trong con người thì con người đã là đầu

127

dọc của loài trụi (lõa trùng), thuộc trung ương

Thổ, mà tạng Tỳ là trung ương trong trung ương. Thế

là nội tạng của con người mắc liền với năng lực

hội tụ phản xạ của Thái Cực tuyến, lại cũng trùng

hợp với làn sóng ly tâm hướng tâm, vào cùng cực

điểm trung tâm thì lại tung ra để tạo thành tầng

trong nhất là tạng phủ, tầng ngoài là xác thân,

tầng ngoài nữa là đầu mặt, tay chân. Qua một làn

sóng là một hiện tượng đảo ngược. Cho nên trong nội

tạng, tạng Phổi là bầu trời, mà Tim ở trên thuộc

Nam, Thận ở dưới thuộc Bắc, Gan bên mặt thuộc Đông,

Tỳ bên trái thuộc Tây. Nhưng khi ra đến xác thân

thì đầu Bắc, đít Nam, trái Đông, phải Tây. Vì thế

đến khuôn mặt, vành tai tuy là hình một bào thai

chổng ngược, nhưng sự thật, hai vành tai là hai quả

128

Thận (kể cả Thận dương, mũ Thận), lật ngược và đảo

ngược, nghĩa là phía trước là phía sau, phía sau

là phía trước, ở dưới là ở trên, ở trên là ở dưới.

Chính vì định luật này làm cho cái học Nhĩ châm và

tướng pháp biết như vậy mà không biết tại sao nó

như vậy. Cho đến vầng trán của gương mặt với sống

mũi cũng là buồng Phổi lật ngược, đít trở lên,

cuống trở xuống. Thế là sự thật đã minh chứng con

người cùng vạn pháp chỉ là những hiện tượng hội tụ,

duyên kết của làn sóng Quang và Năng mà thôi. Đây

là đặc điểm Nội Kinh đã dùng châm cứu làm minh

chứng.

Khuôn mặt con người là trọn một con người thu hẹp

lại, đặt lên trên hết. Giữa người có xương sống làm

cột trụ cho tất cả các cuống tạng phủ mắc vào. Mặc

129

dù phần thân của tạng phủ ấy có lệch bên phải hay

bên trái, nhưng cuống mắc vào vẫn ở giữa. Tuy cách

phân ngôi thứ trên khuôn mặt cũng phải căn cứ trên

luật viên quang hồi tụ của Thái Cực tuyến, nhưng

không giống cách nhìn theo kiểu Diện châm, mà chỉ

chú trọng nhu cầu cho việc quan sát khí sắc cho

được chính xác. Khuôn mặt cũng chia ra Tam Tài,

cũng trái dương, phải âm, có bốn bộ phận quan

trọng. Mắt tuy là khiếu của tạng Gan, nhưng vẫn đủ

cơ cấu của tạng phủ, cũng trái dương, phải âm.

Tai tuy là khiếu của Thận, cũng vẫn đủ cơ cấu tạng

phủ, nhưng phần biểu lộ bên ngoài có khác.

Miệng tuy nằm dưới khuôn mặt, chỉ vì dưới nghĩa là

giữa, là trong, cho nên miệng là khiếu của bộ tiêu

hóa. Nhưng bộ tiêu hóa đã là chợ trời của tạng

130

phủ, cho nên trong miệng có lưỡi là khiếu của Tim.

Trên nóc vọng có lưỡi gà, dưới dạ lưỡi có hai huyệt

Liêm Tuyền, Ngọc Anh. Quãng giữa hai huyệt thường

xảy ra bệnh Trùng Thiệt (như mọc thêm một lưỡi nhỏ

ở dưới). Như thế đều là cơ cấu hệ thống Tim. Trong

miệng có răng, người ít răng nhất là 28 cái, nhiều

nhất là

36 cái. Đây là cơ cấu thuộc về xương, cho nên

thuộc hệ thống Thận, mà có quan hệ đến tất cả tạng

phủ.Mũi tuy là khiếu của Phổi, mà Phổi là cái nón

úp trên tất cả tạng phủ. Nên khi biến cố, tạng phủ

cũng thường biểu lộ trong các cơ cấu của mũi. Cho

nên phần riêng của bốn cơ cấu quan trọng là Mắt,

Tai, Mũi, Miệng, ta hãy để tiếp tục bàn sau.

Xin nhắc lại vì thế vận hành của Thái Dương hệ

131

trong không gian mà sanh ra hiện tượng hai con rắn

quấn khắp trong sự vật. Con người cũng là một sự

vật, xương sống tuy vẫn là một trụ cột, nhưng tế

bào tủy xương sống cũng vẫn kết cấu theo thế hiện

tượng hai con rắn quấn. Điều này có đọc Nội Kinh

tất sẽ hiểu rất rõ. Cho đến bào thai trong bụng mẹ,

khi mới kết thành tạng phủ cũng chuyển động theo

chiều ấy, và cái thai cũng phải thường xoay chuyển,

nên cuống rốn không xoắn là thai không mạnh. Và

trước khi chui ra cũng phải chuyển theo thế lưỡi

khoan. Chính vì điểm này mà thời đại khoa học kỹ

thuật vật chất cực thịnh, kỹ nghệ lạnh đi quá trớn,

mới sanh ra số người tạng phủ đóng ngược bình

thường (nghĩa là đáng lẽ Phổi lệch tay phải mà lệch

tay trái, Tim lệch trái mà lệch phải, Gan bên phải

132

lại đóng bên trái, Tỳ đóng bên trái lại đóng bên

phải). Cho nên cách quan sát trên khuôn mặt, lấy

lằn giữa làm trụ cột cũng nên hiểu qua điều này.

Lại nữa, trong năm giống, loài người là vua giống

trụi, thuộc Thổ, giữ ngôi trung ương. Tạng Tỳ thuộc

Thổ cũng trung ương. Động cơ của nó là nghĩ, cái

chứa của nó là ý. Mặc dù bộ óc là tinh hoa của tạng

phủ chăng nữa, tác dụng của tạng Tỳ cũng vẫn là

thế.

Năng lực viên quang hội tụ phản xạ là nền tảng

mạch sống cho vạn loại, kể cả hữu tình và vô tình,

đều mắc liền vào trung tâm. Khi đã có thành hình

tinh cầu sự vật là có động. Có động tất có ly tâm

hướng tâm. Thế là sinh vật trên mặt địa cầu, mặc dù

tồn tại với quang năng của Thái Cực tuyến, nhưng

133

gần gũi với ly tâm, hướng tâm hơn. Quang năng hội

tụ phản xạ của Thái Cực tuyến, với động lực ly tâm,

hướng tâm của địa cầu trùng điệp xen kẽ. Cho nên

một tinh cầu hướng ngoại, tất cả hình bóng sự vật

đi qua, trong tâm thức đều chứa vựa giữ lại hết, dù

có muốn trút sạch chăng nữa, cái Tôi cũng không

cho phép, thế là bị động lực ly tâm hướng tâm hoàn

toàn điều động. Đây là điều kiện trái chướng với

quy luật đại thể cộng đồng của trật tự thiên nhiên,

để làm nền tảng cho bệnh tật đau khổ. Trái lại một

tinh thần hướng nội, quay vào trung tâm tức là

tách rời với động lực ly tâm hướng tâm mà vượt hẳn

vào quang, năng, hội tụ, phản xạ không có giai tầng

của Thái Cực tuyến. Nhờ đó tất cả hình bóng chứa

vựa đều bị tiêu tan. Con người với trật tự đại thể

134

cộng đồng nhịp nhàng rung chuyển, năng lực trong

thân con người ấy luôn luôn hòa điệu quân bình, tâm

tư trở thành gương sáng. Đó là chỗ thánh phàm khác

biệt. Cho nên Nội Kinh nói: “Điềm đạm hư vô, chân

khí tùng chi, tinh thần nội thủ, bệnh an tùng lai”.

Đây cũng là một điều kiện rất quan hệ thần khí

trên khuôn mặt.

Giờ đây lần lượt nói qua về vị trí trên khuôn mặt,

có phân rõ vị trí thì chẩn đoán khí sắc mới chính

xác.Khuôn mặt chia ra Tam Tài. Theo tướng pháp thì

tài Thiên gọi là Thượng Đình, tài Địa gọi là Địa

Cát, quãng giữa gọi là Trung Đình. Giữa hai đầu

lông mày người xưa gọi là Khuyết, cũng gọi là Mi

Gian hay Giao Mi, ngày nay gọi là Ấn Đường. Dưới Ấn

Đường, ngay theo lằn giữa xuống đến gần giữa hai

135

mắt là chỗ thấp nhất, gọi là Sơn Căn, ngày nay còn

gọi là Vương Cung. Từ Vương Cung theo sống mũi

thẳng xuống trái mũi thì gọi là Minh Đường. Lấy lằn

giữa theo sống mũi làm trụ cột xương sống, để rồi

năm tạng tuần tự theo trung ương từ trên xuống

dưới, sáu phủ sẽ ghép theo hai bên, hễ trong có gì

đều hiện ra ngoài cũng đều tùy theo loại.

Chữ PHIÊN (蕃) ngày nay gọi là chữ GIÁP (頰) tức là

má. Chữ TỆ ngày nay chỉ phía trước trái tai. Người

xưa để râu nên không có phép khám ở cằm. Người nay

nhờ có cạo râu, khí sắc dễ thấy rõ, đàn bà lại càng

rõ hơn. Theo Đường Dung Xuyên cho là khí sắc không

hiện dưới cằm, điều này không được đúng. Sau này

sẽ có chứng minh. Nội tạng trong thân người, cuống

tạng đều đóng mắc liền vào xương sống. Hãy căn cứ

136

vào hình dưới đây để quan sát thì sẽ rõ:

Vầng trán với sóng mũi tuy là hiện tượng buồng

Phổi lật ngược nhưng vị trí vẫn ở trên cao, cho nên

trên vùng Mi Gian là nơi khí sắc của Yết Hầu xuất

hiện. Vì vị trí của Yết Hầu nằm trên hết các tạng

phủ, nên ứng lên mặt phải thế. Giữa Mi Gian là vùng

dưới Yết Hầu, là Ấn Đường. Tạng Phổi trong lồng

ngực cao hơn hết trong năm tạng, nên khí sắc phải

hiện ở Ấn Đường. Còn Vương Cung hay Sơn Căn là chỗ

thấp nhất dưới Ấn Đường, phải là khu vực khí sắc

của Tim. Vì Tim nằm dưới Phổi, Phổi ứng ở Ấn Đường

thì Tim phải ứng ở Vương Cung. Nhưng ta nên nhớ

Phổi lệch bên phải, đóng sát phía sau; Tim lệch bên

trái, nghiêng về phía trước. Từ Vương Cung theo

sóng mũi thẳng xuống thuộc khu vực tạng Gan, trong

137

tướng pháp gọi là Niên Thọ, tức là sống mũi. Khí

sắc của tạng Gan hiện ở đây là vì tạng Gan trong

bụng nằm dưới Chẽn vừng mà đội Chẽn vừng lên, ngôi

tuy nằm dưới Tim Phổi mà thể chất lại ngả về phía

trước, lệch bên phải. Chỗ này ta phải để ý. Từ

Đường Tống về sau, thầy thuốc ghép vị trí của Gan ở

xương má trái, vị trí Phổi ở xương má phải, căn cứ

theo nghĩa Đông mộc Tây kim, nhưng không phải là

ngôi thứ đúng cách của năm tạng. Xưa có người nói

tạng Gan ở dưới tạng Tỳ, nên nói hạ tiêu thuộc Gan

Thận. Người ta không biết rằng đây là nói nghĩa

thủy mộc tương sanh, chớ không phải nói hình tích

tạng phủ. Mặc dù Gan với Thận liền nhau, nhưng tạng

Gan đội Chẽn vừng nổi lên trên, lệch phía mặt,

nghiêng đàng trước. Còn tạng Tỳ hai bộ phần: phần

138

Tỳ dương lệch bên trái ngả về phía sau, thấp hơn

tạng Gan, so với tạng Gan thì Gan là hiện tượng

rừng cây trỗi lên. Tỳ dương là hiện tượng mặt trăng

chen lặn, còn Tỳ âm thì lại nằm dưới Dạ Dày, dính

liền với Ruột Non. Trung Y đời sau vì phá sản không

biết rõ tạng phủ, thường nói sai lầm làm cho Tây Y

cũng tưởng rằng cổ nhân Đông Phương không biết

tạng phủ, chớ không ngờ người xưa đã từng tinh

tường hơn Tây Y nhiều lắm!

Đã nói khí sắc của Gan thường ứng hiện ở sống mũi

thì kèm theo hai bên sống mũi là vùng của buồng Mật

ứng.

Tạng Tỳ thấp hơn tạng Gan nên phải nằm ở vùng trái

mũi. Tỳ là tạng tổng thống năm tạng, nên chót mũi

rất quan hệ cho việc chẩn đoán. Chính vì thế khi

139

chót mũi thường có màu cà chua là trong Vị đã có

bệnh thừa nước chua rồi.

Chót mũi đã thuộc Tỳ, thì hai bên trái mũi chỗ

phồng ra, dịch lên một chút là vùng của Vị. Vì ngôi

của Vị nằm cao hơn Tỳ, và là phủ, cho nên phải đặt

vào hai bên. Từ trái mũi ra đến bìa khuôn mặt,

đúng quãng giữa là ngôi của Đại Trường. Hai bên má

ngang Nhân Trung, mở ngang ra hai bên là ngôi của

Thận. Chính vì thế, người có lòng buồn thường trực

thì hai má thường hóp. Người sau ghép vào huyệt

Thừa Tương dưới cằm, tuy không đúng nhưng có chỗ có

lý. Vì sao? Vì vùng này là vùng thuộc hạ bộ, mà hạ

bộ lại thuộc Thận, nên đàn bà bệnh Tử Cung khí sắc

thường hiện ở cằm. Thí dụ bệnh ăn nhiều nước đá và

thịt mỡ, lâu ngày khí lạnh tích tụ ở vùng Tử Cung,

140

hai ba tháng làm băng một lần thì vùng môi cằm có

hiện vết nám, sau này sẽ có bệnh án kèm theo.

Nội Kinh nói: Đối với Thận là Rốn. Vì Thận cùng

với Rốn trước sau đối nhau, nên dưới ngôi hai bên

Thận có thể chẩn đoán bệnh ở Rốn. Nhưng nói như thế

có phải ý muốn nói Thận hai quả đóng phía sau, Rốn

nằm ngay chính giữa phía trước? Thế thì có phải

khí sắc của Rốn phải hiện ở đầu dưới Nhân Trung hay

không?! Từ Nhân Trung ra đến ngôi Thận hai bên,

mỗi bên chia đôi lấy điểm giữa hạ thấp xuống gần

phía trên khóe miệng là ngôi của Bàng Quang và Tử

Cung. Nhưng vì Bàng Quang là phủ của Thận, khí sắc

phải lệch bên trái. Tử Cung là cơ cấu chung bên

dưới của năm tạng, lại thuộc về Tam Tiêu, nên phải

lệch bên phải. Và Tử Cung lại nằm sau Bàng Quang

141

nên khí sắc chìm hơn. Nói là nói thế, nhưng từ địa

điểm của Bàng Quang, Tử Cung xuống đến chót cằm,

khí sắc của vùng hạ bộ thường có thể hiện ở đấy.

Ở bìa khuôn mặt, trước cửa lỗ tai xuống đến ngang

trái tai, khí sắc của Tam Tiêu thường hiện ở đây

nên có thể chẩn Tam Tiêu.

Chỉ còn Tiểu Trường, vì là bộ phận mắc liền với

Vị, mà lại là phủ của Tim, nên rất khó định ngôi

thứ. Vả lại, màng mỡ của Tiểu Trường đều mắc liền

với Gan, Mật và Tỳ, nên ghép ở quãng giữa của ngôi

buồng Mật và Vị giao nhau. Khoảng ngôi tạng Gan và

tạng Tỳ đúng ở phía trên hai bên trái mũi, thuộc

khoảng sống mũi mở ra hai bên, lấy điểm giữa của

ngôi Vị và Đại Trường mà dời lên đúng quãng giữa

của địa điểm Gan và Tỳ.

142

Một điều nữa cần phải nhớ, tạng thuộc về ở trong,

thuộc về âm; phủ thuộc ở ngoài, thuộc dương. Khí

sắc của tạng bao giờ khi biến cố cũng tối tăm ẩn

chìm. Còn khí sắc của bệnh ở phủ bao giờ cũng hiện

nổi và sắc tươi nhuận.

Người đời sau nhìn khí sắc lấy bên trái thuộc Gan,

bên phải thuộc Phổi, trán thuộc Tim, cằm thuộc

Thận, mũi thuộc Tỳ. Phương pháp này cũng rất giản

dị nhưng không tinh tế bằng tinh thần Nội Kinh.

Vùng Mi Gian đã là thuộc Phổi, hai bên sanh ra

lông mày thì cũng phải thuộc Phổi. Người đời đều

nói lông mày thuộc Gan, nhưng không biết Nội Kinh

có nói bệnh trạng của chứng Phế phong phải khám ở

trên lông mày. Đủ thấy sự thật lông mày là nơi phát

tiết của khí Phổi. Nhưng nếu huyết của Gan không

143

giao lên Phổi thì lông mày không thể mọc. Đại phàm

tất cả lông đều do huyết hóa khí mà phát tiết. Nếu

chỉ có huyết không thể sanh lông, chỉ có khí cũng

không thể sanh lông. Mắt là địa điểm thuộc khiếu

Gan chỉ huy. Từ mắt đi lên giao đến lông mày, đụng

lãnh vực của Phổi là huyết của Gan lên giao với khí

của Phổi, với ý thức nhìn ngắm, trông xa mà hóa

sanh lông mày. Tạng Phổi là cái nón tinh hoa, nên

sắc tướng cũng gọi lông mày là hoa cái. Tạng Gan

chủ về giận, lấn Phế kim không chế được mà ra, nên

người long mày thô tánh rất nóng nảy, lông mày mọc

liên mi tánh rất đa dâm, nên nói lông mày thuộc Gan

cũng vẫn hữu lý. Từ Mi Gian xuống đến chót mũi

phân phối làm năm tạng, còn sáu phủ ghép ở hai bên,

nghĩa kể cũng rõ lắm. Chỉ có Tam Tiêu và Bọc Tim,

144

Nội Kinh chưa từng nói rõ, nhưng sự thật nghĩa đã

có đủ ngoài lời. Bởi vì Tam Tiêu là phủ của Thận,

ngôi của Thận hiện ở hai bên má thì ngôi Tam Tiêu

phải hiện ở trước trái tai, thuộc cửa lỗ tai. Vì

Thận khai khiếu ở tai, kinh mạch Tam Tiêu lại nhiễu

quanh tai để bảo hộ khiếu của Thận, thế thì căn cứ

trước cửa tai mà nghiệm Tam Tiêu tự không sai

chạy. Đến như Bọc Tim ghép ở hai bên Sơn Căn, nghĩa

là kèm theo hai bên của ngôi Tim, từ đó có thể suy

ra nghĩa vì khi Bọc Tim lớn bởi tánh nóng, thì

màng thịt khóe trong mắt nở to ra mà thiên trọng về

bên trái.

Nội Kinh đã từng nói tản mác như là tóc dựng đứng,

mồ hôi ra như dầu, mất bắp thịt to, xương to chìa,

môi lưỡi cuốn, bọc dái teo, mũi trống hốc đều là

145

chứng bất trị không sao kể xiết. Chỉ cần rõ lý tạng

phủ tương ứng, có thể lấy một mà thông ra muôn

vàn. Đến như thần mắt càng nên quan sát kỹ. Có đọc

Thương Hàn, Kim Quỹ càng rõ hơn.

Vì thần với sắc thường mắc liền lẫn nhau, cho nên

thần khí được tư nhuận là tốt, trái lại là xấu. Một

con người bình thường thì tinh - khí - thần là ba

điều kiện quan trọng trong con người. Phàm tinh bị

tổn thì khí bị hao, khí hao thì thần không sở chủ.

Người tinh thần đầy đủ thì vẻ mặt tươi sáng, thể

cách mạnh khỏe, hô hấp khoan hòa, đi đứng nhàn nhã.

Còn người tinh thần bị mất mát, buồn quên nói lẫn,

ánh mắt dị thường, hoặc lần áo sờ giường, hình

dung tiều tụy, thiếu máu ốm o; cũng có người hư

thoát, thần mất không còn, mắt mở nhắm chẳng định

146

v.v... đều là thần khí không tốt.

Quan sát phần đầu

Khuôn mặt chỉ mới là mặt tiền của phần đầu, là cửa

chánh của thần ẩn hiện. Đầu còn có xương sọ, ngoài

xương sọ còn có tóc. Cho nên bộ phận đầu cũng

chiếm một phần quan trọng trong việc vọng chẩn. Con

người là vật đứng thẳng, đầu đội trời chân đạp

đất. Vì là chúa tể của giống trụi nên thống ngự cả

muôn loài, vì thế đầu phải tròn, chân phải vuông.

Trong sọ đầu chứa tủy óc, tủy óc đại khái có hai

phần, bốn mảnh. Phần trước hai mảnh to làm nền tảng

cho tri giác. Phần sau hai mảnh nhỏ làm nền tảng

cho động tác. Toàn khối là tinh hoa của tạng phủ.

Chất dầu mỡ thuộc Tỳ Phế, mạch máu thuộc Tim, màng

gân thuộc Gan, hệ thống máu trắng thuộc Thận. Bốn

147

mảnh ghép lại, chính giữa có cung Nê Hoàn (Não

Thùy), tiền Nê Hoàn chỉ huy trọn bộ tuần hoàn phía

trước, hậu Nê Hoàn chỉ huy trọn bộ thần kinh phía

sau. Bổn thân của cung Nê Hoàn là hai khối tinh hoa

tế bào mỡ óc tựa hai buồng Mật thòng xuống, mở ra

huyệt Bá Hội trên đỉnh đầu. Vì thế nên bộ óc méo

hay tròn rất có quan hệ đến thế quân bình tạng phủ.

Trẻ con khi mới lọt lòng, xương sọ chưa hẳn cố

định, nên nếu sanh bằng máy hút, bằng kìm, hoặc lúc

trong bào thai tiếp nhận nhiều chất chua, khi sanh

ra xương sọ sẽ chậm cứng. Cha mẹ không để ý sớm mà

để nằm méo, khi lớn lên sẽ trở thành cố định. Cũng

có khi vì ngừa thai đặt vòng xoắn mà vẫn có thai

với cơ thể biến âm làm cho khi sanh ra xương sọ

không cứng, không chú ý để nằm nghiêng mà đầu trở

148

nên méo để rồi rất có quan hệ đến bệnh tật cũng như

tính tình, không thể không lưu ý. Thí dụ: Đàn bà

xương sọ giữa hủng, rẽ làm đôi, đầu méo làm cho sự

hiểu biết rất lệch lạc, khó dạy.

Tóc là gì? Là một hiện tượng phản ứng trực giác

bản năng thiên nhiên bảo vệ của tâm thức, phản ứng

với sáng tối nóng lạnh mà phát ra tóc để che đậy,

bảo vệ cho bộ óc. Như trên kia đã nói, đầu thuộc

Bắc, đít thuộc Nam nên tóc là sự phát tiết khí của

Thận, là một thứ xương. Tuy có nhiều giống dân,

nhiều màu tóc nhưng màu đen nhánh mới là màu chính.

Vì tóc có giá trị bảo vệ cả cái nóng và cái lạnh,

nên khi khí trời lạnh quá, tóc bảo vệ khí ấm phần

đầu. Lúc trời nắng nóng quá, tóc lại cách nhiệt

không cho xâm phạm bộ óc. Cho nên tính chất của tóc

149

mát lạnh tư âm. Vì thế nên tóc là vị thuốc cầm máu

ở ngoài lẫn ở trong và giã độc khi bị ớt vào mắt

rất hay. Nếu trong gia đình không phải hệ thống tóc

quăn, mà sanh con ra tự nhiên tóc quăn, đó là hiện

tượng thọ bẩm trong lúc cha mẹ nhiều giận dỗi,

tạng Gan thường bị gồng thắt nên khi nhiễm bệnh

thời nhiệt rất dễ làm kinh phong. Như thế đủ biết

những dân tộc tóc quăn tóc tất có hệ thống tạng phủ

đặc biệt có thể suy. Những người cư sĩ tu Tịnh Độ,

khi có thai chuyên niệm Phật lúc sanh con ra tóc

thường nhiều và suôn mịn, tánh nết cũng dễ thuần

hòa. Những người thiếu phụ hình hài mảnh mai ẻo lả,

nước da trắng bệch, nếu tóc xõa dài chấm gót cũng

là điềm khó thọ. Những đứa trẻ sơ sinh, cơ thể cha

mẹ mình thịt, khi sanh ra cho uống sữa SMA, vì chất

150

sữa này rất nhiều kem dễ gây ẩm thấp cho bộ óc,

cho nên trong thế trực giác bản năng thiên nhiên

bảo vệ, cần tìm thấy nắng gió để lấy quân bình cho

bộ óc, vì thế phải xảy ra triệu chứng sói tóc. Cứ

xem đây thì biết được tất cả bệnh sói tóc ý nghĩa

thế nào!

Nếu là dân tộc màu tóc đen, khi có biến cố đổi màu

tất cũng phải có nguyên nhân.

Tại sao tóc trên đầu người đa số phải mọc có quy

củ chớ không mọc bừa như lông ngực? Đã là đầu đội

trời, óc là nơi tinh thần dồn lên đầu để hứng lấy

nóng lạnh sáng tối xâm nhập vào. Vầng trán trước

khuôn mặt là khung cửa để thần ra vào, chẳng khác

nào một ngôi nhà cổ có cửa Tam quan, hay một đền

thờ có sắc màn dìm của cái khánh để thờ. Cho nên

151

người nào mí tóc mọc trên vầng trán hoặc nghiêng

lệch, hoặc mọc bừa ở trán, đều động cơ từ lệch lạc

tinh thần. Thí dụ một em bé gái con nhà Phật giáo

đi học trường Dì Phước, bị các dì Phước làm áp lực

bắt buộc phải tin có Thượng đế thì mới cho điểm. Em

bé bị xáo trộn tâm tư gần phát điên, con mắt chớp

lạch, vầng trán tóc mọc tùm lum. Đến một lúc, nhờ

một người có tuổi thâm sâu đạo lý mở tỏ cho em. Từ

đó về sau vầng trán sạch sẽ phân minh trở lại, em

bé mới khỏi bệnh tâm thần.

Quan sát phần mắt

Tuy mắt là khiếu của Gan, nhưng là cơ cấu tiếp xúc

với sáng tối, động tĩnh, màu sắc. Mắt lại còn có

thể nhấp nháy chuyển động mọi chiều, nên rất có

quan hệ đến tác dụng xung động toàn thân, vì thế

152

nên lại là cơ cấu hợp tác chung của tạng phủ, nhưng

về tác dụng thì lại lệch về Gan.

Cho nên mí trên của mắt thuộc Vị, mí dưới thuộc

Tỳ, khóe trong thuộc Tim và Bọc Tim, khóe ngoài

đuôi thuộc Tiểu Trường và Tam Tiêu, lòng trắng nửa

trong ở trên thuộc Phổi, nửa ngoài lệch bên dưới

thuộc Đại Trường. Tròng đen thuộc Gan Mật, nhưng

hiện tượng Mật thường ứng ở vành ngoài. Con ngươi

thuộc Thận và Bàng Quang nhưng hiện tượng Bàng

Quang thường ứng ở phần nổi. Lông nheo là lông ở

ranh giới giữa Tỳ Vị giáp với Gan Thận. Do vậy,

người khóe mắt trong bên trái nếu có màng mắt thịt

to, đỏ au là triệu chứng của bệnh lớn Bọc Tim. Nếu

khóe trong bên phải có màng mắt thịt to hơn bên

trái là triệu chứng kết ở cuống Phổi giáp với Bọc

153

Tim. Vì Bọc Tim chủ về tánh nóng nảy, Phổi chủ về

sự lo lắng, tức là ngôi của Bọc Tim mà nằm ở bên

phải. Thế là do uất hận, lo lắng trường kỳ không

nói ra được mà ra. Nếu người lông nheo cong, con

mắt ướt, nước da trắng, mí dưới đầy, tròng mắt nổi,

tính tình dễ buồn dễ sợ, khóc nhiều nước mắt, dễ

muốn tự tử. Hoặc thường kèm theo cận thị, là triệu

chứng nhiễm độc lạnh hoặc tự mình hoặc trong bào

thai. Những phong trào tự thiêu rất có quan hệ đến

điều này! Còn những người tuổi già, mí dưới mắt

hình như con tằm nằm, là triệu chứng uống nước lạnh

nhiều quá mà tích ở màng mỡ bụng không tiêu hết.

Bệnh cận thị tuy có nhiều nguyên nhân nhưng hết

95% động cơ chính là do hàn độc của nước đá xâm

nhập vào khu óc thuộc thị giác thần kinh của con

154

ngươi mà làm bệnh.

Nửa khuôn mặt trái thuộc dương, nửa khuôn mặt phải

thuộc âm. Con mắt bên trái tựa như mặt trời, con

mắt bên phải tựa như mặt trăng. Trên địa cầu, phía

Tây Bắc thiếu ánh sáng mặt trời, mặt trăng, nên ở

con người, con mắt, lỗ tai bên phải thường kém hơn

mắt, tai bên trái; về già con mắt yếu, bên phải

cũng yếu trước. Điều này không thể không để ý!

Trên đây chỉ là nêu ra hệ thống từng bộ phận và

đại khái với ít thí dụ thiết thực cho người học hợp

đủ bốn phép khám để có cơ phát minh tinh thần định

bệnh được chính xác, sách không thể nói hết lời!

Quan sát phần mũi

Sống mũi nằm giữa khuôn mặt, là cuống Phổi dọng

ngược trở xuống, là trụ cốt cho khuôn mặt, chiếm

155

quãng giữa khuôn mặt. Tam Tài của thân thế nào thì

Tam Tài của khuôn mặt cũng thế ấy. Nếu ba phần trên

khuôn mặt có phần nào quá dài hay quá ngắn, hoặc

cả ba đều quá dài hay quá ngắn, không xứng với

khuôn mặt, thì không khỏi tạng phủ có phần lệch

lạc.

Sống mũi có người khum, có người thẳng, có người

gãy, có người sống mũi cao, hoặc thấp. Trái mũi có

người phồng ra phình to, lỗ mũi trống hốc, đều có

quan hệ đến cơ cấu tổ chức cuống Phổi và tạng phủ.

Mũi có hai lỗ, giữa có một vách ngăn bằng sụn, bên

trong vẫn thông nhau, nhưng bên trái vẫn thuộc

dương, bên phải thuộc âm. Nên từ mười hai giờ đêm

đến mười hai giờ trưa, và từ mười hai giờ trưa đến

mười hai giờ đêm, hơi thở ra vào hai lỗ mũi đều có

156

khác nhau. Ai có theo dõi từng giờ một là thấy rõ.

Ngoài ra còn tương quan đến nước sông lớn ròng mà

mũi có bên thông nhiều, bên thông ít. Lỗ mũi tuy là

tượng giống đầu trên của khí quản, nhưng cũng tựa

như hai buồng Phổi thòng xuống, nên khi có ngoại

cảm ảnh hưởng vào buồng Phổi, trở ngại đến phần nào

thì da trong của bọng mũi tất có chỗ biến cố hơi

đỏ mà người đời gọi là viêm xoang mũi. Nói lật lại,

chứng viêm xoang mũi là hiện tượng ngoại cảm phạm

vào hệ thống hô hấp. Những người lỗ mũi quá trống,

hơi thở có phần tế nhị, không xuống đến Đơn Điền.

Phía trong bọng mũi, hai bên cũng có hai cái hạch

để làm cửa ngõ báo động cho bộ hô hấp, nên khi bị

nhiễm khí lạnh vào hệ thống hô hấp một cách thường

trực thì hai hạch ấy sẽ sưng to, lỗ mũi bị hẹp lại,

157

khó thở. Nhưng tự nhiên mà nhiễm khí lạnh sanh

bệnh thì ít, mà thường là vì sinh hoạt thành thị

vật chất, ăn uống quá lạnh, nhiễm vào hệ thống cửa

tiêu hóa làm sưng hạch cổ họng, lâu ngày lây sang

hạch mũi. Cũng có khi cửa tiêu hóa đủ nhiệt lực mà

năng lực thần kinh bộ hô hấp yếu kém, thì dù ăn

uống vào bộ tiêu hóa mà bộ hô hấp vẫn nhiễm bệnh.

Những trường hợp do ăn uống, sinh hoạt, vật chất

thành thị mà phát bệnh này có đến

95% hơn. Nội Kinh nói: “Hình hàn, ẩm lãnh tắc

thương Phế” (cơ thể thiếu nhiệt lực, uống lạnh thì

hại bộ hô hấp) chính là nghĩa này vậy. Nếu muốn

chữa trị cũng phải theo hệ thống như bệnh hạch cổ

họng.

Còn phép quan sát nếu có dụng cụ mở mũi xem càng

158

hay, không thì có đèn pin nhỏ soi vào cũng thấy.

Nếu hội tứ chẩn lại càng rõ ràng hơn.

Vì mũi góp một phần quan trọng trong tạng phủ như

thế, nên có người căn cứ vào đó mà bày ra phép Tỷ

châm.Quan sát phần tai

Như trên kia đã nói, tai là khiếu của Thận, vành

tai là hiện tượng cả Thận âm, Thận dương lật ngược

trở xuống. Cho nên phía trước là đằng sau Thận,

phía sau là đằng trước Thận. Phần vành tai là Thận

âm, phần trái tai là Thận dương Mạng Môn. Không

những thế mà tai còn là hiện tượng bào thai dọng

ngược đầu trở xuống. Vì Thận thuộc về buồn, là tạng

chứa chí, cho nên nhìn vành tai thấy quá nhỏ là

biết ngay Thận người đó quá nhỏ. Nhìn trái tai quá

nhỏ, biết được Thận dương người đó quá nhỏ, nên chí

159

khí cũng kém cỏi. Trái lại người vành tai rộng to,

trái tai thòng xuống to và dày, sờ vào thấy rắn

chắc, là biết ngay người đó phần tiên thiên thọ bẩm

rất tốt. Người không có trái tai là hiện tượng

không thọ, sờ vào trái tai thấy có bên nào mềm hơn

bên kia là biết ngay Thận dương bên ấy bở hơn bên

kia, nên bên phải thường mềm hơn bên trái. Nếu nhìn

tướng cha mẹ thấy vành tai to, trái tai dài dày

chặc, mà sanh con ra thấy không có trái tai và

thường bệnh tật hay khóc, là biết ngay lúc thọ bẩm

trong bào thai vì cha mẹ buồn rầu khổ sở, miễn

cưỡng kết cấu nên đứa trẻ sanh ra dễ bị bệnh đi

tiêu chảy, và số tuổi thọ so với cha mẹ sẽ mất đi

có thể đến hàng mười tuổi. Và những bào thai như

thế rất dễ sanh thiếu tháng.

160

Vì tai vừa là hiện tượng Thận dọng ngược mà cũng

là hai bào thai dọng ngược theo làn sóng quang

năng, nên người ta tổ chức Nhĩ châm, châm vào phần

trên lại ảnh hưởng xuống phần dưới thân. Châm vào

phần dưới lại ảnh hưởng lên phần đầu. Như thế đều

do định luật làn sóng co dãn của quang năng đảo

ngược mà ra cả. Cho nên nếu ta có chỗ y cứ mà khám

phá thì mới thấy rõ nguồn cơn của bệnh tật vậy!

Quan sát phần miệng

Vị trí của miệng tuy chiếm ở phần Địa Cát, nằm

dưới mũi, trên cằm, từ mũi xuống miệng lấy Nhơn

Trung làm gạch nối liền, mà miệng lại là khiếu của

Tỳ Vị, cũng chịu chung quy luật Âm Dương trên khuôn

mặt. Theo tướng pháp, từ mũi xuống miệng, nếu Nhơn

Trung dài sâu là tiên hiên tốt. Ngược lại nếu cạn

161

ngắn hay không có lằn Nhơn Trung là xấu, điều này

còn đang theo dõi.

Môi là bắp thịt, là cửa hậu thiên. Môi trên thuộc

Vị, môi dưới thuộc Tỳ. Trong miệng có răng, răng

kết cấu theo thế đối. Răng là xương thuộc Thận,

nhìn từ ngoài vào trong theo thứ tự của tạng phủ từ

trên xuống dưới mà quan sát, thì ở ngoài nhất là

thuộc Phổi, Đại Trường; kế đó thuộc Tim, Tiểu

Trường; kế đó thuộc Gan Mật, vào trong kế thuộc Tỳ

Vị, tận cùng trong thuộc Thận, Bàng Quang.

Tuy chia ra như thế nhưng răng vẫn thuộc Thận, lợi

(nướu) răng vẫn thuộc Tỳ Vị. Thế là cơ cấu răng là

một sự hợp tác giữa tiên thiên và hậu thiên và

cũng là cơ cấu chung của tạng phủ. Có nhìn như thế

để khi gặp những trường hợp bệnh tật mà chỉ có một

162

đôi cặp răng, hoặc đen, ẩm, hoặc vàng sậm, mà không

một thứ thuốc nào đánh hết thì bao giờ họp đủ tứ

chẩn, khám phá được đúng hệ thống nguyên nhân mà

cho thuốc, lập tức hết ngay. Cho nên răng rất quan

hệ mật thiết đến bộ tiêu hóa. Vì thế các động vật

ăn thịt sống, ăn đồ nấu chín đều dễ hư răng hơn các

giống ăn thảo mộc tươi sống.

Giữa răng là lưỡi, lưỡi tuy là khiếu của Tim,

nhưng cũng là cơ cấu chung của tạng phủ, nên mới có

phép khám ở lưỡi. Cho nên khí sắc của Tim hiện ở

lưỡi chỉ ở chót lưỡi, còn cuống lưỡi tuy là ở trong

sâu nhất của lưỡi, nhưng mắc liền với khối óc nhỏ

phía sau thông ra huyệt Á Môn thuộc thần kinh động

tác. Trên lưỡi có nóc vọng, có lưỡi gà thòng xuống,

bộ phận này cũng thuộc Tim nên khi Tim biến cố

163

nóng quá cũng ảnh hưởng đến bộ phận này, làm cho đỏ

và dài ra, thòng đụng đến cuống lưỡi làm trở ngại

ăn uống, nói năng. Dưới dạ lưỡi có hai huyệt Liêm

Tuyền, Ngọc Anh, vùng này cũng thuộc Tim. Nên khi

bệnh, bất thần không nói được, người ta châm hai

huyệt này. Hoặc khi dưới lưỡi mọc ra một cục thịt

như mọc thêm một cái lưỡi, gọi là bệnh Trùng Thiệt.

Tất cả những chứng nói trên đều thuộc biến cố của

hệ thống Tim, họp đủ tứ chẩn là thấy rõ, trị ngay ở

hệ thống Tim liền khỏi.

Trong sâu của miệng nối tiếp với khí quản và thực

quản. Vùng này ở hai bên có hai cái hạch để làm cửa

ngõ cho hậu thiên. Trẻ con hay thanh niên vì thích

ăn uống đồ lạnh trường kỳ, hệ thống tiêu hóa bị

nhiễm độc lạnh mà làm thành bệnh lớn hạch cổ họng

164

cấp tính hoặc mãn tính. Gặp năm vận hỏa, khí hỏa,

nhiễm độc phong hỏa biến sanh bệnh Bạch Hầu Phong

(Dypthérie), có vi trùng bệnh Yết Hầu thì trên mặt

hai vùng hạch này xuất hiện hai miếng trắng như hai

miếng dừa nạo đắp lên, rồi lớn dần, bít cổ họng mà

chết. Bệnh này sẽ có khoa chuyên môn nói riêng.

Muốn quan sát trong vùng cổ họng, ta có thể chế

một dụng cụ đè lưỡi bằng gỗ, bằng kim khí, hoặc

dùng cái thìa dài đè lưỡi khám là thấy ngay.

Như trên đã nói, bệnh sưng hạch cổ họng to lên là

bởi hệ thống cửa tiêu hóa đã bị nhiễm độc lạnh. Cho

nên chẩn đoán trị liệu cũng theo hệ thống ấy. Còn

bệnh Bạch Hầu Phong vốn là độc của phong hỏa, thời

nhiệt, sự truyền nhiễm của nó theo hơi thở và nước

miếng, nên khi quan sát phải biết mà đề phòng.

165

Còn một điều quan hệ nữa, môi miệng đã là cửa hậu

thiên thuộc Tỳ Vị, cho nên gặp trường hợp tạng lạnh

bị nhiễm lao trùng, cổ nhân gọi là bệnh Lãnh Lao.

Trường hợp này ở đàn bà, cho đến khi chết, tiếng

nói vẫn thảnh thót. Nhưng bất cứ nam nữ khi nhiễm

bệnh này, năng lực cửa miệng giãn ra nhiều hơn co

vào. Khi chưa nói chuyện không thấy miệng rộng, mà

khi nói chuyện, trông thấy miệng rỗng hoác, bộ tiêu

hóa thường không đủ nhiệt lực, bao giờ đến chuyên

khoa sẽ nói rõ hơn.

Quan sát về lưỡi

Nghĩa là nói màu sắc cũng như bợn lưỡi biến

thường. Điều này rất quan hệ mật thiết với cơ năng

tiêu hóa của ruột và bao tử. Người thường mỗi ngày

ăn ba bữa, bợn lưỡi cũng theo đó mà ba lần khác

166

nhau. Màu lưỡi và bợn lưỡi bình thường nhất là phải

đỏ dợt, hơi màu tro, mà nhuận là tốt. Cũng có khi

vì thức ăn uống đóng vào làm ra màu tro đen, đỏ

hoặc vàng... khi khám bệnh, thầy thuốc phải cẩn

thận. Những tướng bợn lưỡi có quan hệ đến sống chết

sắp theo thứ tự dưới đây:

- Nếu bợn lưỡi giống màu trái cật heo đã lột mất

màng bao, đó là triệu chứng nguy.

- Bợn lưỡi đóng láng như kiếng cũng nguy.

- Nếu bợn lưỡi đóng chông như cát, khô ráo, nứt nẻ

cũng là nguy.

- Nếu da mặt lưỡi như vỏ trái vải, tuyệt không có

chút nước ướt là nguy.

- Nếu màu lưỡi như màu hồng chín đỏ là nguy.

- Nếu màu lưỡi như bột rang cũng nguy.

167

- Nếu lưỡi láng lẫy, không đóng bợn, đó là triệu

chứng nguy của bộ tiêu hóa.

- Nếu lưỡi cuống rút lại và bọc dái teo là không

trị được.

- Lưỡi cứng không lay động, không nói được là

nguy.- Lưỡi nổi bợn trắng từng mảng như bông

tuyết, đó là tạng Tỳ lạnh và bế tắc, khó trị.

- Nếu uống Huỳnh Cầm, Huỳnh Liên rồi mà lưỡi hiện

hình chữ Nhân là không chắc trị được.

Lưỡi là một bộ phận mà người lớn, trẻ em đều đồng

như nhau. Nhưng khi biến cố, đối với trẻ con còn

nhiều điều quan hệ cần phải phân biệt kỹ. Nếu căn

cứ bề mặt của lưỡi mà phân vị trí nội tạng thì đầu

chót lưỡi thuộc Tim, hai bên dịch vào trong một

chút thuộc Phổi, ở ngay chính giữa thuộc Vị, bên

168

phải của người bệnh thuộc Tỳ, bên trái thuộc Gan,

cuống lưỡi thuộc Thận. Tướng lưỡi le ra dài quá mà

bề ngang nhỏ là nội tạng thiếu lửa. Bợn lưỡi đóng

chông cao là bệnh dương, láng lẫy là bệnh nhập âm.

Bợn nhuyễn là thấp, bợn màu trắng là bệnh còn ở

ngoài, vàng dợt là bệnh lấn vào trong, nâu dợt cũng

vậy, màu vàng sậm là bệnh vào sâu hơn chút nữa,

màu đen là bệnh vào cốt tủy. Cứ căn cứ màu sắc của

tạng phủ ráp vào màu sắc của vị trí lưỡi là có thể

nhận được bệnh ngay. Thí dụ: Đầu chót lưỡi đỏ tươi,

nổi chông, tức là Tim nóng quá.

Ngoài ra có những điều ngoại lệ như bệnh đậu mùa

sắp nổi lên phát nóng sốt dữ dội hai ba ngày. Mặt

da nóng hổi chớm nổi mụt mà lưỡi sạch trơn, đỏ au,

nổi chông, đó là tướng lưỡi đặc biệt của bệnh đậu

169

mùa. Hoặc có người bình sinh cứ suốt tháng trên mặt

lưỡi như mây trên trời, như sóng dưới biển, có chỗ

đóng bợn trắng, chỗ không, chỗ sâu, chỗ cạn, thay

đổi từng ngày một, ăn những món gì cay mặn, chịu

không nổi, lưỡi le ra dài hơn thường, tục gọi là

đẹn trăng, trẻ con mắc phải nhiều hơn người lớn.

Đó là hàn độc nội tạng xâm phạm đến trung châu, mà

từ xưa đến nay thầy thuốc đều cho là chứng nóng,

cứ cho thuốc mát, mặc dù có đôi trường hợp ngoại

lệ.Những điều đã nêu trên chẳng qua là những yếu

điểm, đều do lâm chứng phát giác được, súc tích mà

nên, và cũng là phản ứng trong cơ thể con người khi

tạng phủ có bệnh. Cho nên phép quan sát khí sắc,

tướng tá, hình hài, tinh thần và bợn lưỡi họp lại

để bù đắp lẫn nhau, thật rất có quan hệ trên việc

170

chẩn đoán.

Giờ đây ta hãy nhìn tổng hợp những nét cần bổ túc

thêm ở phần đầu:

Phía trước mặt thuộc Dương Minh, hai bên màng tang

(hông mặt) thuộc Thiếu Dương, trên đỉnh đầu và

phía sau thuộc Thái Dương. Đó là ba kinh dương

thuộc lớp ngoài. Còn ba kinh âm hoàn toàn ẩn khuất

bên trong. Ta có thể căn cứ vào đây, gặp những

trường hợp hậu quả của bệnh hoa liễu biến chứng làm

lang trắng mới biết rõ là thuộc hệ thống kinh nào

mà theo dõi tứ chẩn.

Ngoài ra còn nhiều áp dụng khác, người học phải

thường trực khám phá phát minh.

Phần dưới của khuôn mặt, phía ngoài hai bên khớp

xương quai hàm, là vùng dễ ngưng đọng chất dầu mỡ

171

thừa của hệ thống tiêu hóa. Cho nên những người ăn

uống nhậu nhẹt nhiều dầu mỡ, nước đá lạnh, những

người áp huyết cao mà mập, thì thường hai bên hạch

mỡ này to ra, mà người đời gọi là bắp thịt nọng.

Khi có như thế là trong nội tạng đã bị đình đốn

dầu, mỡ, nước, biến sanh đàm, nên thường xảy ra

mạch hượt, đại.

Những trường hợp bệnh quai bị, hạch này thường

sưng lên đến trái tai, hoặc một bên hoặc hai bên,

làm khô hạch nước miếng, cổ họng nuốt thấy đau. Vì

theo hệ thống nên khi bị bệnh này, ảnh hưởng xuống

tới buồng trứng, hay ngoại thận. Chuyên khoa sẽ nói

rõ.

Con mắt tuy có thể chớp nháy, trợn liếc, chuyển

động, nhưng không dễ dàng. Lỗ tai tuy có người vành

172

tai hoạt động được, nhưng cũng không dễ dàng. Còn

mũi thì chỉ tự động chút ít. Chỉ có miệng, răng,

lưỡi là có thể hoạt động tối ngày. Về tổ chức hệ

thống thần kinh, thì thần kinh mặt, tai, mắt,

miệng, mũi đều có thể tương quan. Nhưng ảnh hưởng

mạnh nhất, có thể vận dụng luật rung động để tổ

chức thành cơ trị liệu dễ dàng thì chỉ có miệng. Vì

khi lưỡi chuyển động, miệng mấp máy, không những

chuyển động đến tai mắt mũi, mà trên còn rung

chuyển đến cung Nê Hoàn, để rung chuyển trọn bộ

thần kinh phía sau. Phía trước còn rung chuyển

xuống đến tổ chức tuần hoàn của Tim, tạo thành làn

sóng rung chuyển toàn thân, để có thể từ rung

chuyển sang năng lực mà thành tác dụng.

Đành rằng mắt nhắm lại, soi trở vào trong, lỗ tai

173

quay nghe trở vào, mũi thở chậm lại, miệng ngậm

không nói, tâm ngừng dong ruổi, thì lập tức năng

lực cũng như nhiệt lực nhảy vọt lên, để trang trải

cho các cơ cấu toàn thân được đồng đều. Nhưng không

phải ai cũng có thể làm được. Còn như khi tròng

mắt bị phản ứng phóng xạ, ánh sáng lửa gió đá, làm

cho tròng mắt khô, sưng to, nhức, ta có thể cho

ngậm thuốc ở miệng, đắp ở mắt, kết quả nhanh chóng

hơn uống vào. Hoặc mắt bị cườm nước, không luận

nguyên do nào, ta có thể áp dụng phép niệm Phật,

tập trung tinh thần, phối hợp với rung động mà chữa

trị rất dễ dàng, khỏi phải mổ gì cả. Cho nên những

người theo pháp môn Tịnh Độ, nếu đúng cách thì có

thể đem lại thế quân bình vĩnh viễn cho tai mắt

miệng mũi, không những thế thôi, miệng lưỡi còn là

174

chìa khóa quan trọng để chữa những bệnh bướu cổ,

bệnh Tim, bệnh Tử Cung, bệnh sanh khó v.v... và còn

ngừa được nhiều bệnh khác nữa. Người học Y Đạo

không thể không biết!

Lỗ tai tuy không hoạt động như cái miệng, nhưng

vẫn là cơ cấu nghe thường trực, dù có muốn nghe hay

không muốn nghe, có tiếng động hay không tiếng

động, tánh nghe cũng vẫn y nguyên. Cho nên khi thức

nghe một kiểu khác, lúc ngủ nghe một kiểu khác. Vì

thế không những lỗ tai là cửa giải thoát cho lực

siêu phàm, mà còn là chìa khóa có thể áp dụng để

thay đổi cả một cuộc đời của trẻ em sơ sinh đến

bảy, tám tuổi. Có thể áp dụng để chữa các chứng

lang ben của trẻ em. Người học Y Đạo không thể

không biết. Bao giờ đọc đến chuyên khoa sẽ nói rõ.

175

Cặp mắt là nơi tinh thần chiếu diệu. Nếu thần

chánh, tròng mắt, con ngươi cũng ngay chánh. Nếu

thần không chánh, tròng mắt, con ngươi cũng biến

thái theo. Cho nên nam nữ đến thì, lúc phải lòng

nhau, đắm đuối thèm khát mà không được, dù bình

thường mắt không lé, đến lúc đó nhìn mắt cũng thấy

mại hơi. Do vậy những người thọ bẩm từ trong thai,

lọt lòng ra đã lé, thì tánh tình cũng khó ngay

chánh hoàn toàn. Cho nên lời tục nói: “lưỡng nhãn

bất đồng, tâm trung bất chánh”.

Khuôn mặt đã là hai mảnh ráp lại, bên trái là

dương, thuộc nửa thân bên trái, thuộc ly tâm. Bên

phải là âm, thuộc nửa thân bên phải, thuộc hướng

tâm. Thì bên trái là hiện tượng của nửa thân bên

trái do tạng Gan điều động, nên thuộc về chịu sự

176

xung động, thuộc nửa đời trẻ, thuộc nửa dòng sinh

mệnh lúc đầu. Còn nửa khuôn mặt bên phải là hiện

tượng của nửa thân bên phải, thuộc tạng Tỳ chỉ huy,

thuộc về suy tư nghĩ ngợi, thuộc về nửa quãng đời

sau, nửa quãng dòng sinh mệnh sau.

Tim vui, Gan giận, Thận buồn, Phổi lo, Tỳ nghĩ.

Nhà Nho nói: “Con chim gần chết kêu nghe dễ thương,

người gần chết nói nghe hiền”. Nhà Phật nói:

“Thanh niên điên đảo, đáo lão tu hành”. Ky-tô giáo

nói: “Trái tim người khôn nằm bên tay phải” (nghĩa

là người khôn sống bằng suy tư).

Đa số người đều thuận bên phải, chỉ số quá ít

thuận bên trái. Cho nên nói tiếng gì thì nói, mà

nghĩa bên phải vẫn là bên phải. Nên khi nhìn lên

khuôn mặt, hoặc thấy tai mắt miệng mũi, hoặc thấy

177

vầng trán, hoặc cả khuôn mặt, nếu lệch bên phải còn

hơn lệch bên trái. Nếu hoàn toàn lệch bên trái thì

người đó rất khó nói chuyện phải trái với họ. Điều

này cũng không kém quan trọng vậy.

Quan sát bàn tay

Đã là phép khám bằng mắt, thì dù nhìn trên bàn tay

để tìm hiểu bệnh tật cũng vẫn thuộc phạm vi vọng

chẩn. Lòng bàn tay của mỗi người là một sự biểu

hiện của kinh mạch cấu tạo. Ta có thể theo hệ thống

kinh mạch theo chiều dọc từ trong ra mà chia làm

ba phần: theo lằn động mạch cổ tay ra bắp thịt trái

chanh gồm ngón cái và quá nửa ngón trỏ, thuộc kinh

Thủ Thái Âm, cho nên tướng số gọi vùng trái chanh

là gò Thái Âm. Ra đến đầu ngón giao với kinh Thủ

Dương Minh để trở về.

178

Theo lằn giữa cổ tay thẳng vào lòng bàn tay, đến

huyệt Lao Cung, chạy lên đầu ngón giữa và nửa ngón

vô danh, nửa ngón trỏ, thuộc kinh Thủ Khuyết Âm Bọc

Tim. Ra đến đầu ngón giao với Thủ Thiếu Dương kinh

Tam Tiêu mà trở về. Cho nên dưới gốc của ba ngón

giữa gọi là gò Khuyết Âm.

Ở cổ tay phía động mạch theo lằn ngón út chạy

thẳng lên vùng bắp thịt dưới chân ngón út, rồi đi

thẳng lên đầu ngón là thuộc kinh Thủ Thiếu Âm của

Tim, để giao với Thủ Thái Dương mà trở về, cho nên

vùng bắp thịt dưới chân ngón út thường gọi là gò

Thiếu Âm. Vì thế, bất cứ bàn tay của ai cũng có ba

đường chỉ chánh, đường trên nhất gốc từ phía ngón

út, mà ngọn hướng theo chiều ngón trỏ, là đường

biểu hiện của tâm và trái tim, nên gọi là Tâm Đạo.

179

Đường thứ hai từ phía chân ngón trỏ chạy dốc xéo

xuống về hông bàn tay phía ngón út là đường biểu

hiện cho lý trí do hệ thống tạng Tỳ và tạng Phổi,

nên gọi là Trí Đạo. Đường thứ ba từ dưới cổ tay bọc

theo gò Thái Âm đi lên nhập với gốc của Trí đạo

thì gọi là Mạng đạo. Nếu người nam thì tay phải là

Tiên thiên, tay trái là Hậu thiên. Người nữ ngược

lại. Người nào bàn tay khô khan, mỏng thiếu thì

tạng phủ cũng theo đó mà khô khan, mỏng thiếu. Bàn

tay mềm, nhiều thịt, màu đỏ tươi là trong người

nhiều khí thấp hoặc dễ xảy ra dư nước chua, cuộc

sống người này dễ có khuynh hướng tình cảm. Người

nào bàn tay Hậu thiên, đường Tâm và đường Trí nhập

chung thành hình chữ nhất thì tâm tánh dễ hung tàn,

rất có thể dễ xảy ra án mạng. Nếu người đường Tâm

180

đạo đi thẳng dốc lên ngón trỏ, dài quá hơn Trí đạo,

thì cuộc sống người đó lệch về tâm. Nếu ngược lại

đường Tâm đạo ngắn mà đường Trí đạo xuống sâu, thì

cuộc sống không khỏi nghiêng về lý trí. Nếu hai

đường cân phân, lại thêm có dấu nhơn nối liền Tâm

và Trí đạo, thì người này dễ có khuynh hướng đạo

đức. Còn đường Mạng đạo càng suôn, càng liền, càng

xuống sâu càng tốt. Nếu đứt đoạn hay hở ra đều sức

khỏe không đầy đủ.

Còn phần cổ tay, tại chỗ ba ngôi chẩn mạch, nếu

đầy đủ tươi nhuận, rắn chắc là nội tạng khỏe. Nếu

có ngôi nào khuyết xuống hoặc khô khan, hoặc lơi

bở, đều là biểu hiện sự bệnh hoạn thiếu thốn từ

trong tạng phủ của ngôi ấy.

Về phần móng tay cũng có nhiều biến thái lạ. Thí

181

dụ người móng tay có lằn dợn sóng nằm ngang, rất dễ

xảy ra trong cơ thể người có bệnh giang mai di

truyền làm chai Gan.

Từ xưa, người ta giới hạn phép khám bằng mắt chỉ

trong vùng khuôn mặt. Nhưng sự thật, ngoài lề khuôn

mặt còn biết bao chuyện rắc rối bao la. Thí dụ một

nữ tu sĩ không lựa là Phật giáo hay Công giáo đã

vào tuổi trung niên trở lên, mà cơ thể, ngực còn

căng đầy lên trên, mông còn thẳng nổi, dù người

không mập lắm. Nếu khai là bệnh Tim hay một thứ

bệnh gì thuộc tinh thần, thì phải biết đề phòng cơ

năng âm dương sinh lý của người đó đang bơ vơ, đòi

hỏi, nếu lại thêm chuốt móng tay nhọn, ngôn từ thủ

thỉ, dễ thương, thì sức bơ vơ đòi hỏi càng nặng.

Hoặc nếu không như thế mà mập dị thường, thì phải

182

coi chừng bệnh tật ấy rất có quan hệ đến nguyên

nhân tạo ra điều kiện mập. Hoặc phụ nữ sống độc

thân, tuổi từ sắp 40 trở lên, nước da trắng bệch,

trang sức như gái tơ 17-18 thì phải đề phòng sức bơ

vơ, trống trải trong tâm hồn, mà nguyên nhân là kỹ

nghệ lạnh có góp phần quan trọng. Hoặc người đang

sanh con đông, bỗng dưng ngừng bặt

5-7 năm mà càng ngày càng mập, càng dễ thích gần

gũi trẻ em sơ sinh. Nếu người đó có bệnh phải coi

chừng, nếu không có động cơ nước đá lạnh tất cũng

phải có vòng xoắn xen vào.

Nếu một cô gái mười tám, đôi mươi, nước da như

hồng hào mà trắng mập, lại khai bệnh thường đi tiểu

từng chút, từng chút, ngày rất nhiều lần, nếu

trông thấy nơi cổ có đeo dây chuyền mề đay, mà mặt

183

mề đay mở rộng như hình kim khánh, thì phải đề

phòng là bệnh đòi hỏi lứa đôi đang thúc bách. Hoặc

những người tuổi đã hết kinh, cằn cổ bỗng dưng hiện

khối bướu cứng, dù mặc quần áo ngắn hay dài cũng

thích thêu cành hoa, hoặc con chim, con cò, đều là

bệnh động cơ tâm lý phải tìm cho ra. Hoặc người

thiếu phụ trung niên, mập, da trắng, mặc y phục

thun sát da, đeo bông tai như hai quày dừa, móng

tay sơn đỏ, đi giày gót thật cao, đều là triệu

chứng của bệnh phát nguyên từ gia đạo quan hệ đến

tâm thần. Hoặc bất cứ một người bệnh đàn bà nào,

tuổi trên 50 vẫn còn thích ăn mặc đồ thêu, khi có

bệnh thường là động cơ tâm lý, không những phải tìm

biết bệnh mà còn cần phải tìm đến tận nguyên nhân.

184

Nếu gặp trường hợp phụ nữ thị thành xảy ra trên

mặt đầy những mụn to như đơn độc (bệnh cùi), như

nhọt đinh mà không vỡ miệng dứt khoát, thì phải coi

chừng ăn uống của người đó có kỹ nghệ lạnh xen

vào, nghề nghiệp thường va chạm khác phái. Động lực

Gan của người đó thường lên xuống xáo trộn không

chừng. Nếu không tìm đến tận nguyên nhân để giải

quyết, thì đừng mong khỏi dứt khoát.

Nếu gặp bệnh nhân phụ nữ đã có tuổi, thích sống

độc thân, thích mặc âu phục người nam ôm sát, thì

bệnh tật của người đó phải rất có quan hệ đến đồng

tính luyến ái. Hoặc bệnh nhân thích mặc đồ thật

mỏng, hở hang, tuổi mới quá đôi mươi mà đã mập dậy,

mép mọc râu, mặc đồ lót thêu bên ngoài trông thấy,

thì phải coi chừng đó là động cơ tâm lý mời mọc,

185

mở cửa, vì ăn uống sinh hoạt tạo thành thế tạng phủ

hoạt động thừa mà sinh bệnh.

Bất cứ nữ bệnh nhân nào thích mặc y phục đỏ ối từ

trên xuống dưới, đều là động cơ tâm lý lạnh lẽo, bơ

vơ, cô quạnh. Nếu không bởi điều kiện vật chất, kỹ

nghệ lạnh tất cũng phải điều kiện tinh thần.

Trường hợp nữ bệnh nhân hoặc tuổi trẻ hoặc tuổi

già, hoặc bệnh Tử Cung, hoặc có mụt u bướu nơi nào,

mà thích mặc đồ đen nhánh thêu bông to, là phải đề

phòng bệnh Ung Thư, động cơ mắc liền tâm lý.

Hoặc bệnh nhân con trai mười tám, đôi mươi chưa có

gia đình, mắc bệnh táo bón mà trên khuôn mặt nổi

đầy những mụn đinh to không lặn, là phải đề phòng

trong công việc làm ăn, hoặc sanh hoạt, hoặc tập

thể va chạm với khác phái, cơ năng sinh lý thúc

186

bách đòi hỏi lứa đôi mà sanh bệnh. Hoặc thanh niên

tuổi trên dưới ba mươi, mắc bệnh khắp mình lang

beng mọc trắng, ta đừng vội ấn định là nấm mặt da,

mà phải để ý đến nguyên nhân nào, tại sao những

người cùng trong gia đình lại không có. Đây là một

chữ ký của tâm lý thiếu thốn, thèm khát lứa đôi đến

tột đỉnh, và có thể đã đến mức chịu không nổi,

phải hành lạc theo kiểu thủ dâm, dù họ thuộc giai

cấp nào cũng thế. Nếu thấy một tu sĩ, bất cứ là

linh mục hay hòa thượng, mà mắc phải bệnh lang ben

và đinh râu nhiều quá thì phải biết sự tu hành của

họ chỉ là sơ kết bề ngoài, mà tâm lý mới là sự

thật! Cho nên tất cả bệnh lang beng, dù là trẻ con

7-8 tuổi hay thầy tu, người bình thường, nếu chỉ ỷ

lại thuốc xức trị nấm, thì cũng chỉ là giải quyết

187

phần ngọn, rồi khi nào mọc nữa sẽ hay. Nếu đàn ông

trên bốn mươi, mà sau lưng luôn nổi những mụn đinh

to bằng ngón chân cái không hề dứt, phải biết đó là

con heo trong Gan hoạt động mạnh quá, vì đầu óc

tâm tư thường để ý đến xác thịt mà thôi, nhưng vì

nhiệt lực nội tạng không đủ sức đẩy lên khuôn mặt,

thuận theo thế tréo từ trước ra sau, nên chỉ nổi ở

vùng sau lưng mà thôi vậy.

Hoặc có bệnh nhân da thịt hồng hào, tướng tá tròn

đầy, rắn chắc mà khai rằng có những vết ghẻ lở, xức

thuốc mãi không lành, thì phải coi chừng vì thèm

khát dục tình trường kỳ mà xảy ra bệnh nước tiểu có

đường, mới sanh ra vết lở xức thuốc không lành.

Ngược lại nếu bệnh nhân là người nữ đã biết mình bị

bệnh nước tiểu đường, tuổi đã trên ba mươi, người

188

đẫy đà, mập mạp, da dẻ hồng hào mà ăn mặc như gái

tơ 18, thì phải nghi ngờ nguyên nhân bệnh này vì

thèm khát dục tình mà ra, chẳng khác nào trường hợp

trước.

Nếu bệnh nhân là thanh niên, tuổi ngoài 30, chưa

có gia đình, mắc phải chứng tóc bạc sớm, thường

thích trẻ con, ưa hình tượng con nít, thì chứng tóc

bạc sớm đó phải coi chừng vì tâm lý mất thăng bằng

bởi động cơ sinh lý.

Bất cứ một tu sĩ nam hay nữ, già hay trẻ, mà mập

quá sức mập, thì phải nghi rằng cái mập đó từ ăn

uống sanh hoạt sai lầm gây nên, dù bệnh nước tiểu

đường, bệnh phát bối (Entraeet) hay bệnh cao áp

huyết, cũng không lìa động cơ nguyên nhân mà kỹ

nghệ lạnh và dầu mỡ đóng một vai trò quan trọng. Ở

189

các linh mục có tuổi, nhà dòng, lại càng dễ thấy

hơn. Ta nên biết: Hễ là bệnh tật, đều là một chữ ký

của sự vi phạm quy luật trật tự thiên nhiên, chỉ

khác ở chỗ bị hoàn cảnh dồn ép hay hoặc do mình dốt

nát không biết mà thôi.

Nếu thấy bệnh cao áp huyết ở một vị hòa thượng,

nơi vị ấy ở chỉ có ba bốn người nam, mà có hằng

một, hai trăm tu sĩ nữ, nhất là người mập mạp, đầy

đặn, tròn quay, thì dù vị hòa thượng ấy có tốt đến

đâu chăng nữa, bệnh huyết áp đó ngoài do sự ăn uống

ra, quyết định còn mọc rễ vào điều kiện nuôi nhiều

đệ tử nữ, phải nên truy tầm nghiên cứu!

Những em bé chỉ mới 8-9 tuổi đã sớm mắc bệnh lang

beng, quyết định là phải đã có ngủ chung chạ với

các chị gái đến thì, mà con heo trong tạng Gan đã

190

sớm trỗi dậy… Nếu các em bé sơ sinh khoảng 3-4

tháng trở lại bị sốt tê liệt mà bắp thịt chân không

teo, chân không so le dài ngắn, nước da hơi sạm

đen, gương mặt không buồn, má không hóp thì phải

biết đó không phải là bệnh nuy (teo) chánh thức, mà

là bệnh tê liệt trẻ con do từ trong bào thai thọ

bẩm nhiều nước đá, thức ăn lạnh, khi sanh ra gặp

phải thời tiết đổi thay, sự bài tiết da đình đốn,

sức nóng đổ dồn lên trên, ra ngoài mà không bài

tiết được, làm cho thần kinh chân trở nên tê liệt.

Những thiếu phụ khi có bệnh, người không phải ốm

mà má thường hóp, mắt thường đăm chiêu, phải nghi

là tinh thần bệnh làm cho Thận suy nhược.

Có những em bé 5-6 tuổi, cơ thể mập tù lu, ít nói

chuyện, ăn không biết no, mặt thâm kim, ngủ dễ chảy

191

nước miếng, thì phải nghi là bệnh gốc của Tỳ âm,

cần phải theo dõi nghiên cứu kỹ.

Những phụ nữ mười tám, đôi mươi phải chứng ngủ

chảy nước miếng, mặt thâm kim cũng thuộc loại bệnh

theo thông lệ trên.

Nếu gặp trường hợp bệnh lát hoặc hắc lào, đừng vội

bắt chước theo phong trào vật chất mà chỉ kết luận

một cách cạn cợt là do một thứ nấm. Phải phân biệt

xem lát ướt hay lát khô. Vì bệnh lát là bệnh phong

hàn thuộc hệ thống Dương Minh ở kinh hay ở khí, do

cạo gió hay do ăn uống sanh hoạt gây nên, mới tạo

thành môi trường cho nấm phát triển. Nhưng nếu là

lát ướt thì phải thêm điều kiện khí thấp, mà khí

thấp đến nỗi mặt da kết chảy nước, tức là trong môi

trường bộ tiêu hóa, nước chua đã lên cao. Khi hiểu

192

như thế, xây dựng lập trường chữa trị, nhất định

khỏi. Tuy nhiên còn có những trường hợp ngoại lệ ly

kỳ, nếu là Y Đạo không thể không gia tâm nghiên

cứu. Lệ như có những người mập thì không mập lắm,

chỉ tròn trịa, nước da trắng bóng, bệnh lát không

nặng mà rải rác từng chỗ, có khi kèm theo một tay

một chân yếu; như thế phải coi chừng nghiệm xét quá

khứ của người đó có tập quán cạo gió đến bầm đen

không (có người máu đông đặc dễ bầm đen, người dư

nước chua bộ tiêu hóa thì bầm dợt). Nếu có, thì căn

cội của bệnh lát ấy là bởi cạo gió mà ra. Nếu tập

quán này còn kéo dài thì người này sẽ hoặc tắc

nghẽn các mao tế quản trong Tim, hoặc nghẹt mỡ

trong các mạch máu phần trên, hoặc cao huyết áp

ngoại lệ, hoặc bao tử sẽ bị mất nước chua. Nếu là

193

phụ nữ mới đến thì, phải trường hợp cạo gió như

thế, lại thêm uống nước đá thì sẽ xảy ra ghẻ lở ở

vùng cổ chân trở xuống, và khi lành để lại thẹo

đen. Và những người mang tập quán cạo gió, lỡ có

trúng gió nặng liền ngã lăn ra chết.

Những trường hợp xảy ra vết nám, hoặc xảy ra những

bướu dù nhỏ như hột bắp, không thấy đau đớn, đóng

cứng một chỗ, đều thuộc loại căn cội từ trong phần

âm, hoặc là bên trong có chỗ chai cứng. Hoặc những

mụt như thế là hiện tượng bắt đầu của bệnh Ung Thư

(Nham, Cancer).

Trong xã hội, bỗng dưng xảy ra nhiều người nam

muốn kiểu cách theo nữ, nhiều người nữ muốn kiểu

cách theo nam, thì phải để ý đến thế xuống dốc của

vận thế vận tốc địa cầu, xã hội loài người đang

194

chuyển biến âm về hướng mẫu hệ.

Nói tóm lại, phép khám bằng mắt không thể hạn cuộc

ở khí sắc, khuôn mặt mà phải theo dõi toàn diện

con người của bệnh nhân, của xã hội, cả tinh thần

lẫn thể xác.

Cũng không phải chỉ nhìn bằng mắt mà định bệnh.

Nếu muốn có nhìn bằng mắt mà định bệnh được, ít ra

phải trải qua một thời gian luyện tập thông qua tứ

chẩn, hội đủ điều kiện mới ra con số thành định

bệnh. Cho nên tôi nói: Nếu biết luyện tập chính

chắn, lại biết lợi dụng điều kiện dụng cụ máy móc

trợ duyên để chứng minh, luyện tập thuần thục lâu

ngày lương y sẽ trở thành một guồng máy khám phá

tối tân siêu tuyệt. Và khi chẩn đoán một bệnh nhân

có thể biết được ba kiếp: đã qua, hiện tại và sắp

195

đến. Còn tế nhị hơn công tác trinh thám nữa là

khác!

Trên đây là sơ lược ít điều để hé mở cho người học

có lối phát minh, chớ không thể tỉ mỉ kể hết từng

công thức.

IV. VĂN CHẨN

Về phép khám bằng tai, Tây y ngày nay có dụng cụ

nghe có thể nghe tất cả những tiếng động từ bình

thường đến biến cố hoặc ở Tim, ở Phổi, ở Bao Tử,

Ruột, Tử Cung, ở vùng gãy kín v.v… Nếu là người Y

Đạo đều nên thâu thập học hỏi thêm, vì có dụng cụ

càng giúp cho người thầy thuốc tiếp xúc bệnh nhân

có phần trang nhã. Nếu ta nhận xét chính chắn, có

đọc Thương Hàn, Kim Quỹ, có thông qua thiên Dị Pháp

Phương Nghi của Nội Kinh, rồi ta mới thấy không

196

thể tin rằng người xưa chưa từng nghĩ đến dụng cụ

nghe.

Ta hãy thử nghĩ đời Hoa Đà mà đã từng có phương

pháp giải phẫu Óc, Phổi, Ruột, Bao Tử, Xương v.v…

có cả thuốc mê một cách thần tình, thế thì làm sao

ta dám nghĩ họ chưa từng chế dụng cụ để nghe. Có lẽ

vì thời thế quá xa xưa, sự đời muôn vàn thay biến,

làm cho sự nghiệp tinh hoa bị mai một như cái học

giải phẫu chẳng hạn. Tuy nhiên, người Âu Mỹ đã nghĩ

nhiều quá về dụng cụ để nghe, nhưng không mấy ai

nghĩ tất cả mọi âm thanh đều có thể thu vào âm và

luật. Cho nên, cổ nhân đã từng thu hẹp phép vấn

chẩn vào ngũ âm để toát yếu, như vọng chẩn thu hẹp

vào khí sắc khuôn mặt vậy. Nhưng cuộc sống càng

trải qua nhiều thời đại càng bừa bãi phức tạp, bộn

197

bề, bắt buộc ta không thể quá cô đọng mà thu thập

hết được. Trước hết chúng ta hãy lược qua những

toát yếu đã có tự ngàn xưa, rồi sẽ bàn rộng tùy

theo hoàn cảnh, thời thế để học giả mới có chỗ vào.

Muốn áp dụng phép văn chẩn là phải thông qua luật

ngũ âm và ngũ thinh. Vì sao thế? Vì tất cả âm thinh

đều quy nạp vào luật năm hành. Năm âm tức là:

Cung, Thương, Dốc, Chủy, Vũ. Năm thinh tức là: ca,

khóc, hô (kêu, gọi, quát, nạt), cười, rên.

Thế nào là âm Cung?

Là tiếng to, miệng mở rộng mà hòa, lưỡi ở chính

giữa, là âm thuộc trung ương.

Thế nào là tiếng ca?

Tạng Tỳ chủ về nghĩ, khi nghĩ mà có sở đắc thì

198

khoái thích phát lên tiếng ca. Người điên cuồng

cũng tự ca; tạng Tỳ tuyệt cũng tự ca. Muốn rõ âm

cung và tiếng ca, hãy đọc bài thơ sau đây đúng

giọng trầm bổng là thấy ngay. Vì âm cung có chia

ra: Thái Cung, Chánh Cung và Thiếu Cung, tức là

thái quá, bình thường và bất cập, nên đi vào tiếng,

vào chữ thì thường chiếm giữ dấu huyền và không

dấu.

Thơ rằng:

Một vùng trời đất dẫu tang thương Thân thế trăm

năm giấc mộng trường Tu được chữ tình cho trọn vẹn

Tiêu diêu ngoài sức máy Âm dương

Chủ ý là tạo cho con người nghe một tinh thần cởi

mở, một tâm trương nở.

Thế nào là âm Thương?

199

Là âm của phương Tây, là âm rung chuyển của loài

Kim, có giọng tỉ tê, miệng mở, phát ra tiếng tỉ tê

làm cho người nghe dễ lo nghĩ, buồn thương.

Thế nào là tiếng khóc?

Chính là tiếng rên rỉ, tỉ tê của âm Thương, chủ về

lệnh mùa Thu, phát lên tiếng buồn thương nên gọi

là khóc. Âm Thương, tiếng khóc tạo cho người nghe

se thắt can trường, xót xa đau đớn. Đây ta hãy nghe

bài thơ của Hàn Mặc Tử – một thi sĩ Việt Nam mang

bệnh cùi với Mùa Thu Cảm Khái:

Ấp úng không ra được nửa lời, Tình thu bi thiết

lắm thu ơi

Vội vàng cánh nhạn bay qua trớt

Hiu hắt hơi mai phản lại rồi,

Nằm gắng đã không thành mộng được Ngâm tràn cho đỡ

200

chút buồn thôi Nghìn trùng cánh liễu trông xanh

ngắt Chỉ có thông kia chịu với trời…

Âm Thương cũng được chia ra ba bậc: Thái Thương,

Chánh Thương và Thiếu Thương cũng như âm Cung vậy.

Thế nào là âm Dốc?

Là âm thuộc phương Đông. Chữ Dốc nguyên là chữ

giác角nghĩa là sừng, cựa, là gai nhọn, bén. Cho nên

âm Dốc là âm của mộc, giọng hòa mà dài. Đúng như

thế thì biết là Gan không có bệnh.

Thế nào là tiếng hô?

Hô là kêu gọi, là khí lá Gan Mộc thắng, ở trong âm

hòa mà dài. Còn khi biến động là quát nạt cuồng

sàm. Như thế là cần phải chế bớt Gan. Nếu muốn nhận

rõ âm dốc thì hãy nghe dụng cụ ngũ âm của người

Miên là thấy rõ. Dốc cũng chia ra ba bậc: Thái Dốc,

201

Chánh Dốc và Thiếu Dốc; để biết thái quá, bình

thường, bất cập như bao nhiêu âm khác.

Thế nào là âm Chủy?

Là một thứ âm hòa mà đẹp, lưỡi vừa đụng răng hàm

dưới, là âm thuộc phương Nam.

Thế nào là tiếng cười?

Là tiếng do tâm chí vui đẹp phát ra. Muốn rõ âm

Chủy và tiếng cười, ta hãy lắng nghe tiếng ngựa hí,

tiếng dê kêu, tiếng lửa bốc cháy rồi so sánh với

tiếng cười của người cởi mở là tức khắc thấy ngay.

Âm Chủy cũng chia làm ba bậc: Thái, Chánh và Thiếu

để định thái quá, bình thường và bất cập.

Thế nào là âm Vũ?

Âm Vũ là âm rất thấp mà nhuyễn, là âm thuộc phương

Bắc, âm Vũ và âm Thương thường đi xen lẫn. Thí dụ:

202

cây đàn tranh là cây đàn giàu âm Thương nhất,

nhưng khi đánh lên giọng khoan từng tiếng, thì lại

nghe rõ như ban đêm đang mưa rơi từng hạt xuống mái

tôn.

Thế nào là tiếng rên?

Tiếng rên là tiếng nặng nề đau đớn từ trong sâu,

ngậm miệng phát ra mũi. Vì khí của Thận ở dưới nên

tiếng muốn thở dài mà phát ra hơi run nên gọi là

rên. Thường những người bệnh bị chứng xương đau

nhức, nặng mình hay xảy ra tiếng rên. Tóm lại, âm

Vũ có mang ý nghĩa về đêm, mùa Đông, thuộc Thủy,

với tiếng mưa rơi, sương sa lác đác trên mái tôn,

tàu chuối… gợi lên một nỗi tâm sự u buồn. Âm Vũ

cũng có ba bậc: Thái, Chánh và Thiếu như bao nhiêu

âm khác.

203

Vì năm tạng vốn có 5 tánh: Tim vui, Gan giận, Thận

buồn, Phổi lo, Tỳ nghĩ, cho nên 5 âm, 5 thinh, mỗi

loại âm đều có thể biến thành ra 5 thinh, 3 bậc

tức là thành con số 25 x 3, để thành muôn vàn âm

điệu tùy theo tác dụng từng loại mà ảnh hưởng vào

con người. Quả thật! Quả thật! Cái đạo âm thanh vi

diệu khó thông, nên nghe mà biết được thì gọi là

thần. Muốn lợi dụng âm thanh để khai thác chẩn

đoán, ít nhất cũng phải biết sự biến động cùng loại

của nó. Thí dụ: Tạng Gan thuộc Mộc, âm Dốc, tiếng

hô, biến động của nó là nắm. Tim thuộc Hỏa, âm

Chủy, tiếng cười, biến động là lo. Tỳ thuộc Thổ, âm

Cung, tiếng ca, biến động là ợ ộc. Phổi thuộc Kim,

tiếng khóc, biến động là ho. Thận thuộc Thủy, âm

vũ, tiếng rên, biến động là run.

204

Người bên trong thạnh tạng đầy, khí thăng tổn

thương làm chứng e ngại, thì tiếng nói nghe như từ

trong phòng nhà vọng ra. Đó là trung khí bị thấp.

Còn giọng nói rất nhỏ, có khi suốt ngày mới lại nói

nữa, đó là phần khí bị đoạt mất. Còn nói năng phải

trái không tỵ hiềm thân sơ, đó là thần minh đã

loạn. Còn người bệnh nói tiếng nghe vắng lặng, hay

kinh hãi, kêu gọi, đó là bệnh ở các khớp xương. Nếu

tiếng nói mờ mờ nhựa nhựa không dứt khoát là bệnh

ở bọc tim, Chẽn vừng. Nếu tiếng nói nhỏ mà dài,

giọng nghe the thé là bệnh ở đầu.

Những ý kiến trên đều rút từ trong Kim Quỹ. Nói im

lìm, không muốn nói là thuộc về ba kinh âm; ưa

kinh hãi quát nạt, kêu gọi thì lại là thuộc kinh

Khuyết Âm Gan. Khi bệnh vào ba âm, Khuyết Âm thuộc

205

về gân các khớp, nên biết bệnh ở hạ tiêu; tiếng

phát ra không dứt khoát, không cất lên được là

trong lồng ngực khí không chuyển, ra vào khó khăn

nên biết là bệnh ở trung tiêu và quản lồng ngực,

Chẽn vừng. Nói the thé, nhỏ khác với ré mà dài là

thứ tiếng từ phần âm hạ tiêu theo túc Thái Dương đi

lên đỉnh đầu, cho nên biết là bệnh ở trong đầu.

Xét ra hơi tiếng căn từ trong Thận, lên Chẽn vừng,

lồng ngực, phát ra ở phế quản, thông lên mũi,

chuyển ở lưỡi, phân biệt ở môi, cho nên hoặc khí hư

mà phát âm nhỏ rí, hoặc cơ năng đình đốn mà tiếng

nói ngăn trệ, hoặc trong Chẽn vừng có trệ ngại mà

khí ngăn trở, hoặc trong mũi không thông mà âm phát

ra trái. Những ý như thế thấy tản mác ở các sách,

người học phải nên chính chắn tìm tòi, bút mực khó

206

mà chép hết.

Ngoài ra, còn có nhiều cách áp dụng phép nghe để

khám phá bệnh tình, mà lắm lúc thầy thuốc phải tạo

cơ cho bệnh nhân tự phát âm thì mới chính xác. Thí

dụ có người bệnh Tim mà nằm im khỏe khoắn thì không

nghe thấy, phải có dịp nằm xuống, ngồi dậy hay cử

động đột ngột để bắt gặp tiếng đập dị thường. Có

khi phải cần đến phép gõ như gõ lồng ngực, gõ lưng,

gõ bụng để nghe tiếng kêu của có hơi có nước, hoặc

trong đó đông đặc, chai cứng. Phép gõ này phải

thường luyện tập mới thuần thục được. Nếu muốn gõ

mà không có trung gian một lớp áo thì phải hai tay

xoa cho ấm để đừng bị sức phản ứng tự nhiên của

bệnh nhân. Trước khi gõ phải đặt bàn tay trái lên

vùng nghi ngờ, bàn tay hở các ngón, rồi dùng ngón

207

giữa của bàn tay phải mà gõ lên lưng ngón giữa của

bàn tay trái. Hễ vùng nghi ngờ có bệnh ở đâu thì

ngón giữa bàn tay trái được dời đến đấy. Khi gõ, cổ

tay phải để thật tự nhiên cho uyển chuyển, mềm

dẻo, linh động. Hễ vùng có hơi như Phổi, thì tiếng

kêu tự nhiên của nó cũng theo thế bộng rỗng. Nhưng

khi màn Phổi bị trướng hơi thì tiếng bộng rỗng gần

lớp ngoài và mất tự nhiên một cách khác thường,

hoặc bên trong Phổi bị sưng đông đặc lại thì tiếng

kêu cũng trái thường theo chiều đông đặc. Nếu bên

trong nội tạng có chỗ bị bệnh nặng, nhất là vùng

lưng, trên lồng ngực, thì dùng một ngón tay đè vào

từng điểm, trúng chỗ thì người bệnh liền kêu đau.

Hoặc trong màn Phổi có nước, gõ tiếng kêu cũng nghe

giọng có nước. Nếu thầy thuốc nghi ngờ người bệnh

208

bị chứng Tim to, cũng cứ theo vùng Tim ở lồng ngực

mà nhìn cách đập của Tim, nghe tiếng động, gõ để

tìm bề mặt rộng của nó là thấy ngay. Càng luyện tập

quen càng bén nhạy. Nếu là vùng Chẽn vừng, bình

thường thì bên phải cao hơn bên trái một chút, nếu

gõ thấy hai bên chênh lệch nhau thái quá là không

phải.

Tạng Gan bao giờ cũng đưa lên vùng Chẽn vừng một

ít, còn Tỳ dương bên trái bao giờ cũng thấp xuống

một chút. Tạng phủ con người khi bình thường, dù

những bộ phận đặc như Gan và Tỳ dương chăng nữa

cũng mềm dẻo, đè vào hay gõ không nghe thấy tiếng

gì lạ. Bỗng dưng gõ thấy tiếng đặc kẹo đóng cứng,

thế là có trái thường, phải tiềm tâm nghiên cứu.

Ở vùng bụng, vị trí dưới hố hông bên phải là ngôi

209

căn cội của Tam Tiêu. Tất cả tạng phủ đều được hai

lớp Tam Tiêu bao bọc. Khi có bệnh, nếu bụng căng to

ra mà gõ nghe tiếng nước, tức là giữa hai lớp Tam

Tiêu ở bụng bị nước mắc kẹt vào làm căng thẳng, gõ

nghe rất dễ thấy, chỉ trừ trường hợp nước mắc kẹt

ít thôi, và nước ấy chỉ tụ về điểm hố hông bên

phải, thì phải để ý gõ tìm vùng ấy mới thấy. Tóm

lại, trong cơ thể con người, tạng phủ trật tự, cơ

năng liên lạc rất là nhịp nhàng, chớ không như

guồng máy bằng thép sắt của thế gian. Cho nên đạo

chẩn đoán thân người, trước nhất phải rõ cơ năng

tâm lý, vật lý và sinh lý, hội đủ điều kiện tứ

chẩn, thì cơ định bệnh mới có vững chắc, sách vở

không sao nói hết, nhập thần tỏ sáng, quan hệ ở

lòng thành.

210

Sách này đối với tất cả các phép khám bằng dụng cụ

máy móc, đối với tác giả tuy không xa lạ nhưng

không phải là nhà chuyên môn. Lại nữa, mục đích của

tác giả đặt nặng vào sự khám phá nguồn nhân, chớ

không phải hoàn toàn chú trọng đến tướng quả. Cho

nên về khía cạnh dụng cụ máy móc đi vào chi tiết,

xin nhường lại cho các nhà chuyên môn dụng cụ Tây

y. Bao giờ cuộc cách mạng y khoa, y đạo được viên

thành thì tài liệu giáo dục y khoa của y đạo mới

tinh nhất. Như thế mới không bị vì dụng cụ quá dồi

dào, rồi cơ cấu giác quan ta sẽ đi đến hóa ra hoen

rỉ.

V. VẤN CHẨN

Kỹ thuật chẩn đoán của Y Đạo tuy có phân ra tứ

chẩn cũng chẳng qua để mở đường cho người học dễ

211

vào. Nhưng sự thật không thể tách lấy một phần để

định bệnh chữa trị được, mà phải hội đủ tứ chẩn để

thành ra một bài toán mà người học bắt đầu mới bước

vào, không thể khác hơn, rồi cứ thế điêu luyện

dần, ngày một ngày hai sẽ biến thành một sức phản

ứng tự nhiên. Đến bao giờ cái tự nhiên ấy thật là

nhập thần, lúc đó hoặc nghe thoáng qua, hoặc chỉ

hỏi vài câu, hoặc chỉ nhìn sơ, hoặc chẩn mạch qua

loa, cũng có thể biết suốt nguồn bệnh. Như thế lại

là một việc khác, còn đây là cái học vào cửa, không

thể vội xem thường.

Mục đích của hỏi là làm cách nào bệnh nhân không

còn một tơ hào nào giấu giếm được, để khám phá tận

nguồn phát sinh ra bệnh tật. Trong đó thầy thuốc

cũng chớ nên bao che sở đoản của mình để có đủ sức

212

minh mẫn khám phá tận nguồn nguyên nhân, thì phép

trị mới không mê muội.

Tình trạng xã hội càng ngày càng rối rắm, thế giới

càng ngày càng đổ dốc đi về sụp đổ, thì cơ bệnh

ngày càng phức tạp bộn bề. Cho nên cái học vấn chẩn

cũng phải theo đó mà thiên biến vạn hóa.

Trước hết ta hãy thông qua những đại ý của cổ

nhân, rồi sau đó ta hãy bàn rộng. Nội Kinh nói:

“Đối với bệnh nội thương, cần phải hỏi cặn kẽ: Nếu

bình thường là kẻ sang rồi sau hèn, dù không bị

nhiễm tà, bệnh vẫn phát sinh từ trong gọi là thoát

dinh. Còn bình thường giàu mà sau nghèo gọi là thất

tinh. Và phải hỏi việc ăn uống sinh hoạt ra sao?

Có đột ngột vui, đột ngột khổ hoặc trước vui sau

khổ, hoặc trước khổ sau vui, tinh khí đều bị tổn

213

thương.”

Thật ra, đây chỉ nói về hỏi nguyên nhân do bệnh,

phép hỏi không chỉ bấy nhiêu, đây chỉ là gợi ý để

suy cho rộng thêm mà thôi.

Lại nói: “Phàm khám bệnh phải biết suốt đầu đuôi,

nếu có chỗ chưa suốt tự khắc biết. Chẩn mạch, hỏi

tên phải hợp với nam nữ.”

Đoạn trên đây là tóm lược phép hỏi phải biết trước

sau, nghĩa là lúc bệnh khởi cho đến lúc gặp thầy

thuốc, bệnh hình ra sao, nên quan sát trọn vẹn. Nếu

có chỗ chưa suốt, nghĩa là có chứng nhiệm nhặt kèm

theo, tất phải nghiệm xét là biết ngay phần nào

bệnh nặng, phần nào bệnh nhẹ, hoặc hợp lại mà trị,

hoặc phân ra mà trị có thể rõ được.

Lại thêm chẩn mạch, hỏi tên để định bệnh cho rõ

214

ràng, không bị sai suyễn, nam nữ đều có chỗ khác

nhau cũng phải để ý. Vì mỗi bên đều có bệnh tình,

bệnh trạng của nó, như thế mới không sai lầm. Đối

với phép hỏi, đoạn này tuy nói rất đơn sơ, nhưng

cũng rất rõ ràng, quan hệ ở người học tế tâm cứu

xét. Theo đây, xin trích dẫn bài phụ lục văn vần về

phép hỏi của Trần Tu Viên để độc giả thêm phần ý

thức:

“Nhất vấn hàn nhiệt, nhị vấn hạn, Tam vấn đầu

thân, tứ vấn tiện,

Ngũ vấn ẩm thực, lục vấn hung (lồng ngực) Thất

lung bát khát quân đương biện

Cửu vấn cựu bệnh, thập vấn nhân, Tái gia phục

dược, thiêm cơ biến, Phụ nhân vưu tất vấn kinh kỳ

Trì tốc, bế băng giai khả nghiệm, Cánh thiêm phiến

215

ngữ cáo nhi khoa, Thiên hoa ma chẩn toàn chiêm

nghiệm.”Dịch:

Một hỏi lạnh nóng, hai hỏi mồ hôi,

Ba hỏi đầu mình, bốn hỏi đại tiểu tiện, Năm hỏi ăn

uống, sáu hỏi lồng ngực,

Bảy tai ù, tám khát nước đều phải hỏi rõ, Chín hỏi

bệnh cũ, mười hỏi nguyên nhân Hỏi thêm uống thuốc,

thêm cơ biến

Đàn bà cần phải hỏi kinh kỳ

Trễ, sớm, bế, băng đều có thể xét

Lại thêm ít lời về nhi khoa

Đậu mùa, ban sởi đều chiêm nghiệm.

Thực ra, một vị lương y theo dõi một bệnh nhân là

trọn vẹn một tinh thần sáng suốt, vận dụng toàn bộ

giác quan, chớ không riêng một giác quan nào. Cho

216

nên hoặc nhìn, hoặc sờ, hoặc gõ, hoặc nghe, hoặc

hỏi, hoặc chẩn mạch đều có thể, hoặc xen kẽ hoặc

tách rời, chớ không nhất thiết cố chấp một khuôn

sáo quy định nào. Vì Y Đạo cốt sao càng tránh được

đừng rơi vào cố chấp và thuận với tự nhiên càng

hay. Thí dụ: Một bệnh nhân đến chưa chắc họ đã biết

rõ căn bệnh, nhưng trong lòng bao giờ cũng mang

một cái khó chịu với một triệu chứng nào đó. Không

những thế, họ bị những chứng bệnh kẹt vào chỗ hiểm,

hoặc kẹt do thân thế địa vị. Thí dụ họ bị chứng

Ung Thư âm hành với chức vị linh mục, giám mục;

hoặc bệnh tử cung trong vị ni trưởng, đi kèm theo

một chứng bệnh khác mà tâm lý họ chỉ muốn điều

khiển cho thầy thuốc để ý trị cho họ một phần nào

đó bên ngoài mà thôi, chớ không hề muốn bới ra hết

217

từng kẽ răng chân tóc của bệnh tật. Nên một vị

lương y có bản lĩnh, nhìn gương mặt với tư thế bệnh

tật, trước hết phải để tinh thần thật ôn tồn, từ

hòa, chân thành mà hỏi họ đến với ý muốn gì? Tất họ

sẽ khai: Hoặc đau Tim, đau Phổi, đau Thận, hoặc

nhức đầu, đau bụng v.v... thầy thuốc nghe vẫn nghe,

nhưng đừng tin hay không tin, mà phải hỏi vặn trở

lại: Làm sao biết bệnh ấy? Bệnh đã bao lâu? Có chạy

thầy thuốc nào rồi không? Nếu họ khai nghe ra

thuộc loại bệnh khó, thì phải hỏi hiện giờ trong

bụng còn có muốn đi đâu nữa không? Nếu tinh thần họ

chưa quyết định mà còn muốn đi nơi nào, nơi nào

nữa, thì nên khuyên họ hãy đi theo ý muốn. Bao giờ

không còn muốn đi đâu nữa thì hãy nên đến đây. Có

lắm lúc bệnh nhân không mang một tướng tôn giáo nào

218

mà thầy thuốc cũng phải hỏi để biết người thuộc

lĩnh vực tôn giáo nào đã. Vì người có tín ngưỡng,

người có hiểu biết sâu sắc, với người chỉ biết có

vật chất, ba tâm lý ấy đối với bệnh nội thương rất

là quan hệ. Hoặc gặp phải người thuộc hạng cao sang

quyền quý, lúc nào cũng tỏ ra mình là người kẻ cả,

không có tính khiêm tốn, đối với hạng người ấy,

phải được thẳng thắn, đứng đắn, nghiêm nghị, tới

lui nói năng phải có nề nếp, phải nhiếp phục cho

được tinh thần họ, mặc dù địa vị họ ở cỡ nào.

Thí dụ: Một phụ nữ tuổi ngoài 35, màu da vừa non

vừa trắng, tất ta có thể biết người đó không những

không mấy khi dạn dày nắng gió, cơ thể đẫy đà, lại

còn uống thêm nước đá lạnh. Nếu đèo thêm hiện tượng

trang sức bông tai dị thường như gái 18-20, thêm

219

chuốt móng tay nhọn, hoặc sơn đỏ, khi chẩn đoán

mạch, thấy

2 bộ Thốn nghịch, sắc, trệ, tất phải hỏi: Có gia

đình chưa? Kinh kỳ thế nào? Có sanh bao nhiêu lần?

Nếu bảo là chưa có gia đình, tất phải hỏi: Có bao

giờ cảm thấy trong tinh thần cô quạnh không? Nếu họ

bị câu hỏi làm cho sắc mặt bỗng dưng bừng đỏ, là

phải hỏi thêm liền: Làm nghề gì? Nghề đó có chung

đụng với khác phái hay đồng phái không? Trong khi

chung đụng với khác phái có cảm thấy trong lòng hơi

luống cuống, mất bình tĩnh không? Nếu có thì phải

biết điều kiện ấy là yếu tố quan trọng của chứng

bệnh.

Hoặc người bệnh khai đau Tim, mà hỏi ra đã ngoài

30 tuổi, gần 40 vẫn chưa có gia đình, thì phải hỏi

220

bởi không muốn có gia đình hay bởi chưa có cơ hội

có gia đình? Nói đến đây tôi nhớ lại khi tôi còn

chữa bệnh, có lần một cô giáo ở xa đến khai là mệt

Tim, thấy dáng người có tuổi, hỏi ra mới biết đã

hơn 37 mà chưa có gia đình. Tôi hỏi: Vậy bởi không

muốn có gia đình hay không có cơ hội có gia đình?

Bỗng dưng cô ấy nổi cơn thịnh nộ với tôi và nói:

Tại sao ông làm thầy thuốc mà xen vào đời tư của

người ta làm chi! Tôi vẫn ngồi im phăng phắc để

nghe chửi chừng nửa giờ thì mới hay ra bệnh nhân đã

đi khắp Tây y và Đông y mà không đâu dùng thuốc

liên tiếp được

2 ngày, rồi tất cả đều vứt đi. Thấy tội nghiệp,

tôi ngồi tỉnh bơ, điềm nhiên nói: Cô nói xong chưa?

Và cô nghe kỹ, nếu cần nghe tôi nói thì hãy bình

221

tĩnh ngồi nghe tôi nói: Cô có biết chuyện con thỏ

chết, con chồn buồn không? Con thỏ chết mà con chồn

còn buồn thì chuyện đời đâu phải từ cục riêng tư!

Trong tất cả mọi người đều có tôi, trong tôi đều có

mọi người. Nếu ai chết nấy chịu, không ai cần biết

chuyện riêng của ai, thì sao lại có lòi ra ông

Phật? Cô có biết không, đàn bà ghen trào máu, giận

nứt trứng, buồn thắt ruột, vui vỡ Tim, cuộc thành

bại hầu cằn mái tóc, lớp cùng thông như đúc buồng

gan, bệnh trần đòi đoạn tâm can, lửa cơ đốt ruột

dao hàn cắt da; hoặc nói: “Khạc chẳng ra cho nuốt

chẳng vào, khối tình nghẹn mãi biết làm sao, muốn

kêu một tiếng cho to lắm, rằng hỡi ới ai ơi nó thế

nào…” Tất cả những triệu chứng như thế, há không

phải là tướng bệnh hoạn của tinh thần đó sao! Đã

222

nói rằng lương y như từ mẫu, cô đến đây xin chữa

bệnh, với lương tâm thầy thuốc, nỡ nào bỏ lãng cho

đành! Cô hãy thử đổi lại làm tôi xem sao cho

biết!... Nói đến đây, người bệnh nước mắt chảy

quanh rồi lại bình tĩnh, ngoan ngoãn hỏi đâu đáp

đó. Nhờ thế tôi theo dõi thuốc được 20 ngày trong

nguyên tắc Tiêu Dao, thì bệnh vừa khỏi. Kế đến tôi

đóng cửa phòng mạch đi tu. Cô ấy mời về nhà đãi một

bữa cơm trịnh trọng và mua tặng một đồng hồ đeo

tay. Thế là từ nhỏ đến lớn, cô ta chỉ mới uống

thuốc của tôi là người nhiều nhất. Tiếc là vì tôi

chưa giải quyết được dứt khoát cơ tâm lý cho cô nên

trở về già lại Ung Thư Tử Cung mà chết.

Có một lần sau Mậu Thân, một người đàn bà 43 tuổi,

tướng mập mạp phương phi đến xin khám bệnh. Lúc

223

đó, chúng tôi đang tu, vì chiến tranh tị nạn, ở yên

không làm gì nên khám bệnh giúp bá tánh, nhìn bệnh

nhân như thế tôi hỏi: Bà đã sanh mấy lần? Sanh 5

lần. Hỏi: Bệnh chứng ra sao? Bệnh nhân nói và hả

miệng cho biết xương trên nóc vọng càng ngày càng

to xuống một cách nhanh chóng làm chật cái miệng,

và bên dưới đi tiểu không thông như có bướu chẹn

lại. Trông dáng người lẳng lơ, tôi hỏi: Từ sanh lần

chót đến giờ cách bao lâu? Đáp: Đã 5 năm. Hỏi kinh

kỳ thế nào? Đáp: Vẫn có đều. Hỏi: Trong khoảng

thời gian 5 năm đó, ông xã có ở nhà hay đi làm xa?

Đáp: Vẫn có ở nhà. Hỏi: Vậy trong những năm đó có

uống thuốc ngừa thai mỗi tháng không? Bệnh nhân

tròng mắt ướt đăm chiêu đáp: Có. Đến đây tôi nhìn

thấy ranh giới giữa một bệnh nhân lẳng lơ đầy sức

224

khỏe (chỉ vì ngừa thai mà sanh bệnh) với một vị

lương y trẻ tuổi quá mỏng manh. Tôi nghiêm nghị

nói: Cô có cho phép tôi được quyền xem cô như con

tôi hay không? Nếu được như thế, tôi sẽ trị cho cô.

Khi cô ấy đồng ý chịu, tôi bèn ra tay khám Tử

Cung, chẩn mạch, rồi bèn bảo cho biết là bệnh Ung

Thư bởi thuốc ngừa thai và cấm không được dùng

thuốc ngừa thai nữa thì tôi mới trị. Nhờ theo dõi

từng ngày, qua độ một tháng bệnh khỏi. Và bảo bệnh

nhân một là tu, hai là sanh tự nhiên. Nếu còn ngừa

thai như thế sẽ nguy hiểm cho cả gia đình và cuộc

đời. Chừng đó tôi không thể chữa nữa. Đến đây bệnh

nhân tỏ ra một tinh thần vừa cảm ơn vừa tình tứ như

tôi đã dự liệu. Nhờ có ngăn ngừa trước mà tránh

khỏi bị vướng vào vòng hệ lụy.

225

Thí dụ một cô gái mới 20 tuổi đến xin khám bệnh

khai là mắc đàng dưới. Bèn hỏi: Làm sao mà biết là

mắc đàng dưới? Đáp: Cứ mỗi đêm ngủ mơ thấy có người

nam vào chung chạ, rồi tiết tinh. Vì nhìn thấy

gương mặt cô gái còn khờ quá, nên hỏi: Làm nghề gì?

Đáp: Đi giữ em mướn. Hỏi: Có bao giờ tình cờ bế em

đi chơi, vào nhà người ta bắt gặp vợ chồng người

ta đang hành lạc hay không? Thế rồi bệnh nhân kể

tuột hết câu chuyện đúng như vậy. Nhờ đó biết được

bệnh do tâm thức phát ra.

Lại như 1 người đàn bà chích thuốc Tây bị abcès ở

mông cứng ngắc, to gần bằng cái thau bé. Khám xong

bèn hỏi: Ai chích thuốc cho bà? Đáp: Em ruột làm y

tá. Hỏi: Chích thuốc nước hay thuốc dầu? Đáp: Thuốc

dầu. Hỏi: Khi biết có abcès có chích thêm

226

Péniciline vào không? Đáp: Có. Nhưng abcès càng

cứng thêm, tính đi nhà thương mổ nhưng nhớ lại

thuốc bắc đến xin chữa. Thế là ta biết ngay được 3

yếu tố:

1. Trong khóa y tá, người ta thường dạy khi gặp

abcès mới nổi, nên tiêm liền Péniciline cho tan.

2. Thuốc Péniciline gặp dầu thì đóng khối lại, gặp

nước mới tan.

3. Thuốc dầu là thuốc âm, Péniciline là thuốc âm.

Cơ thể âm, thuốc dầu vào chạy không được, lại gặp

Péniciline càng là thuốc âm. Hai thứ đóng khối lại

trong môi trường âm nên trở thành đóng cứng.

Thế rồi căn cứ vào mạch, vào chứng cho thuốc khỏi

ngay.Một thiếu phụ đem một em bé mấy tháng đến xin

khám bệnh bít lỗ ghèn con mắt, đã từng đi Tây y

227

soi mỗi tuần mà không khỏi. Nhìn qua đứa nhỏ: tròng

mắt húp, màu da trắng bệch như da người mẹ, lúc

nào cũng nước mắt đầy tròng. Xem mạch thấy tả Thốn

có kết, bèn nghi em bé bị vết thương lòng của người

mẹ truyền sang, cộng với tập quán ăn uống nhiễm

nước đá, bèn chẩn mạch cho người mẹ, thấy quả đúng

thế. Rồi cứ theo đó mà điều tra, mới hay mẹ đứa bé

khi còn con gái có yêu một người mà không được cha

mẹ gả, lại gả cho người không yêu. Từ đó ở với

chồng vừa uống nước đá, vừa nuốt nước mắt, vừa ôm

lấy hình ảnh cũ của người xưa, cộng lại sanh ra đứa

bé mang vết thương lòng, ngẹt lỗ ghèn, đẫm nước

mắt.

Một cô thợ may từ xa đến với chứng bệnh mặt nổi

rất nhiều cục như mụn bọc không có miệng, tựa bệnh

228

đơn độc. Người nước da trắng và khai rằng đã đi

nhiều nơi, Tây y bảo là đau Gan nhưng chữa mãi

không khỏi. Tôi hỏi: Làm nghề may y phục cho đàn

ông hay phụ nữ? Đáp: May đồ đàn ông. Theo đó chẩn

mạch thấy tả Quan huyền, động, thiệt. Tôi bảo: Đây

là bệnh động cơ tâm lý ái tình. Một là đổi nghề

đừng may đồ đàn ông nữa, hai là phải có gia đình là

bệnh khỏi. Bệnh nhân bèn xin toa về uống thuốc và

đổi nghề, ít lâu là khỏi hẳn.

Một người đàn ông nhân viên ty Điền Địa, đã 37

tuổi, đến xin chữa bệnh mũi, hơi thở không thông cứ

khịt khịt. Bác sĩ khám cho là bệnh viêm xương bọng

mũi, đã cho giấy đi mổ, nhưng không muốn mổ tới

xin thuốc bắc. Sau khi khám xong, hỏi: Công việc

làm có tiếp xúc nhiều với phái nữ không? Đáp: Có

229

rất nhiều. Hỏi: Có thường đi chơi bời không? Đáp:

Không. Nhìn qua dáng người thấy thuộc loại người

tốt. Tôi cho biết: Đây không phải là bệnh mũi, mà

là bệnh khủng hoảng ái tình. Chỉ có hoặc thiệt biết

tu hoặc có gia đình là hết. Nếu không dù có mổ

cũng không hết. Nghe đúng quá, bệnh nhân về thực

hành có gia đình, tự nhiên khỏi bệnh.

Một người đàn ông tuổi quá 40, đến xin chữa bệnh

trĩ. Khai rằng thường đi tiêu bón và ra máu. Nhìn

gương mặt người bệnh thấy đỏ gay. Hỏi bệnh nhân làm

nghề gì? Đáp: Làm hiệu trưởng ty tiểu học Vũng

Tàu. Vì vốn biết ty tiểu học Vũng Tàu hầu hết là nữ

giáo viên, tôi hỏi ông có gia đình không? Đáp: Có.

Hỏi: Công việc thường ngày có thường trực tiếp xúc

với phái nữ không? Đáp: Rất thường trực. Hỏi: Mỗi

230

ngày có thường uống nước lade không? Đáp: Có. Hỏi:

Đêm có ngủ không? Đáp: Rất khó. Chẩn mạch thấy áp

huyết rất cao bên trái mà tả Xích lại rất Thiệt.

Tôi hỏi hãy nói cho thiệt, nghe trong người có dễ

thường trực động tình hay không? Đáp: Có. Bèn cho

cởi áo quan sát mặt da thấy đầy lang beng. Thế là

bệnh dục tình phóng túng, Gan bị rung động thái

quá, với khung cảnh thường trực chung động khác

phái cộng thêm lade, củ kiệu, tôm khô nên áp huyết

vọt lên và phá tĩnh mạch cửa mà làm trĩ, chớ trĩ

không phải là căn bệnh. Nghe tôi nói thế thấy đúng

quá, bệnh nhân rất khâm phục.

Trường hợp bà chủ tiệm cơm Cư Ký - Vũng Tàu, người

trên 40, mập gần như cái lu, nhờ tôi chẩn đoán,

khai rằng 5-6 năm rồi không có sanh, kinh kỳ 2-3

231

tháng mới có 1 lần mà làm băng, chớ không có

thường. Cả hai vợ chồng đều người Tàu, ông chồng

cũng mập khác thường. Nhìn khí sắc bà vợ thấy nước

da hơi sậm tối, môi dưới có một đốm đen. Chẩn mạch

thấy 2 bộ Xích đi hượt, 2 bộ Thốn hưỡn hượt đại,

khám bụng thấy là một thùng mỡ. Tôi hỏi: Thường

ngày có ăn nhiều thịt mỡ và uống nhiều nước đá lạnh

không? Ông chồng bèn bộc là bà ấy bữa nào ăn cơm

thiếu thịt mỡ cục thật to thì ăn không được, và

suốt ngày cứ chốc lát phải nhai cục nước đá. Tôi

lên án: Đây là bệnh vì ăn uống nhiều mỡ và lạnh,

thành bệnh dư mỡ, cửa Tử Cung bị lạnh, mỡ chèn ép

toàn bộ tuần hoàn làm cho trên Tim bị nghẹt, dưới

cửa Tử Cung đóng bít không có thai, huyết không

được thay đổi theo kinh kỳ làm cho da sậm tối. Nếu

232

không dứt hẳn cách ăn uống đó để trị thì trong

khoảng 3 năm sẽ bị mổ mà chết. Người bệnh không thể

theo, quả nhiên chưa đến 3 năm đã phải đi vào bệnh

viện Grall mổ lấy ra một khối mỡ bầy nhầy to bằng

quả dừa xiêm. Về nhà 3-4 tháng sau phát lên nước

tiểu đường rồi chết.

Một cậu trai 18 tuổi đến xin trị bón. Khai rằng

thường trực 2-3 ngày mới đi tiêu một lần. Nhìn trên

khuôn mặt thấy nổi từng mụt u to gần bằng ngón

chân cái như bệnh đơn độc. Tôi hỏi: Làm nghề gì? Bà

mẹ cậu trai trả lời thay: Không làm chi hết, chỉ

làm thợ trong hãng chế kẹp tóc. Hỏi: Hãng ấy độ bao

nhiêu người? Đáp: Độ 15 người. Hỏi: Bao nhiêu nam,

bao nhiêu nữ? Đáp: Chỉ có ông chủ và cậu ta là nam

còn hết thảy là nữ. Chẩn mạch thấy 3 bộ bên trái

233

huyền cường, động thiệt. Tôi bèn bảo với mẹ cậu ta:

Một là ngừng công việc làm ở hãng kẹp, đổi nghề

khác; hai là cưới vợ cho cậu ta thì mới khỏi, còn

uống thuốc chỉ là trị ngọn mà thôi. Thế rồi xin mấy

chén thuốc, sau quả nhiên nghỉ việc về nhà cưới

vợ, bệnh liền khỏi.

Một em bé gái độ 6 tuổi, ngay giữa phía trước

xương ức mọc một ung nhọt to bằng quả quýt, không

nóng, da bầm tím đen, vào nhà thương không dám mổ,

đến tôi xin chữa trị. Nhìn thần sắc và khắp mặt da

em bé thấy mang một truyền thống máu dơ, khí dương

không đủ, bèn hỏi người mẹ em bé về kinh kỳ trước

khi sinh em bé, thấy vốn bình thường không hề có

chủ trương ngừa thai. Tôi liền nghi thọ bẩm ở người

cha bị mổ cắt bớt một lá Phổi, nên máu bài tiết

234

không hết chất độc, trong thế thiếu nhiệt lực mà

truyền sang bào thai mới ra như thế. Hỏi ra quả

đúng không sai.

Một ông hiệu trưởng tuổi độ 35-37 đến xin khám

bệnh nói: Không hề có chơi bời thế sao ở âm đầu có

một vết lở, xức thuốc mãi không lành. Nhìn bệnh

nhân suốt từ đầu đến chân, người mập mạp, nước da

quá hồng hào, tôi bảo ông đã bị nước tiểu đường.

Bệnh nhân không tin, tôi liền đưa ống lấy nước tiểu

cho thử. Quả nhiên bệnh nước tiểu đường khá nặng,

bệnh nhân lấy làm lạ trố mắt, tôi bảo nằm lên bàn

mạch khám rồi nói cho nghe. Chẩn thấy mạch động

hượt cả 6 bộ, huyết áp đều lên, tôi hỏi: Phải nói

cho thật, nếu đúng thì tôi trị cho, không đúng nên

tìm người khác. Vậy chớ suốt mấy tháng gần đây,

235

trước khi phát bệnh, có vì thèm khát dục vọng

trường kỳ với một người nữ nào đó mà vẫn chưa được,

có phải thế không? Bệnh nhân trả lời: Phải. Tôi

nói: Đó là căn bệnh, dứt bỏ tâm lý ấy đi, trị thuốc

là khỏi. Quả nhiên đúng thế.

Trong trại tập trung, một luật sư 37 tuổi đến nhờ

chữa bệnh lang beng nổi khắp người. Tôi liền chẩn

mạch thấy 3 bộ bên trái huyền thiệt động. Tôi hỏi:

Có chịu cho tôi nói thật không? Đáp: Chịu. Tôi hỏi:

Gần đây có thỉnh thoảng thủ dâm một lần không?

Đáp: Có. Tôi kết luận: Đây là hậu quả của khủng

hoảng sinh lý mà ra, Gan quá động, Phổi chế ngự

không nổi mặt da, mặt da trở thành môi trường sanh

nấm, lang beng. Cho thuốc xức thì hết nhưng nếu tâm

còn động lại thì lại mọc nữa. Sau khi cho thuốc

236

xức hết rồi, quả nhiên mấy tháng sau mọc trở lại.

Một cải tạo viên tuổi độ 37, đến xin thuốc chữa

bệnh Thận. Trong lúc tôi đang đau chưa khám được,

nhưng tôi hỏi: Làm sao biết bệnh Thận? Đáp: Đi tiểu

đêm nhiều quá. Vì chưa khám được, hẹn lại ít hôm.

Bệnh nhân thấy càng ngày càng đi tiểu quá nhiều, vì

sợ bèn đến bác sĩ khám, bác sĩ báo động là bệnh

Phổi rất nặng, cho vào bệnh xá. Sau đó đến gặp tôi

cho biết tự sự, tôi liền bảo đã không phải bệnh

Thận, cũng không phải bệnh Phổi, mà là bệnh nước

tiểu đường rất nặng rồi đó, nếu không tin hãy cho

thử nước tiểu xem. Ngã ngũ ra quả là nước tiểu

đường biến chứng làm đau Phổi mà không hay.

Chúng ta ở trong thế kỷ khoa học vật chất năm châu

hợp chợ, cơ sanh diệt càng tăng gia tốc độ, nghiệp

237

sát càng lẫy lừng, thế đổ dốc càng cấp bách, làm

cho phát sanh một loại bệnh mà người xưa tạm đặt

tên là “Ly mị vọng lượng”, ngày nay dân gian gọi là

bệnh mắc đằng dưới, bệnh ma. Loại bệnh này cách

biểu hiện của nó không hề đúng theo hệ thống tâm

lý, vật lý, sinh lý thông thường. Chứng và mạch đều

có cách biến huyễn ly kỳ. Nếu lương y không phải

là người đã từng luyện tập động viên toàn bộ năng

lực tuệ giác của chính mình thì khó bề khám phá đến

được. Bệnh này ngày ngay rất phổ thông. Vậy nên

chép thêm vào đây để gợi mối lưu tâm cho người học

có cơ khám phá. Vì bệnh này thuộc loại biến thái

tâm thần, loại siêu hình, cách chữa phần nhiều nằm

trong thế chữa mẹo, chúc do, dùng pháp, chớ không

thể có phép cố định lưu truyền.

238

Sự đời càng phức tạp, việc đời càng mênh mông,

biển học càng bao la, càng chỉ có cách nhập thần

rồi tỏ sáng, đều bởi lòng chí thành, dầu có tài ba

đến đâu bút mực cùng kiếp cũng không thể chép hết.

Chỉ phụ lục sơ ít điều để hậu học có cơ khai thác.

VI. THIẾT CHẨN

Theo Tây y ngày nay, không có môn thiết chẩn,

những cách khám bệnh đã có, đang có, như hoặc nhìn,

hoặc sờ, hoặc nghe, hoặc gõ, hoặc dùng quang tuyến

X, hoặc máy chiếu soi, hoặc dùng áp huyết kế,

nhiệt độ kế, hoặc dùng đồng hồ đếm nhịp mạch, hoặc

máy đo Tim, hoặc thử đàm, thử máu, thử phẩn, thử

nước tiểu, thử tế bào, thử phản ứng vi trùng v.v…

Trong khoa học kỹ thuật vật chất nhảy vọt này,

những phương pháp ấy chưa đủ làm cho người ta yên

239

lòng, hiện nay người ta đang dự liệu sẽ áp dụng

người rô-bốt, máy điện tử để thay thầy thuốc, thầy

thuốc chỉ có bổn phận vặn máy. Mọi việc người máy

đều thay thế.

Tội nghiệp thay người ta lỡ xem thường cái máy

tuyệt diệu vốn có của chính mình để tôn thờ một cái

máy bằng sắt, quả là đáng thương hại! Mặc dù người

ta đã biết dầu một hạt nguyên tử cũng vẫn là không

nguyên mà là cả một bầu bao la thu hẹp lại. Nhưng

họ nào có biết nhân thân tiểu thiên địa là gì! Đã

từng có nhiều người hỏi, trong thân con người có

những chỗ nhận thấy nhịp đập rõ ràng như ở Tim, vậy

tại sao không căn cứ vào đó để khám phá có rõ hơn

không? Lại chọn chi một chỗ nhỏ xíu ở cổ tay, cho

thêm rắc rối mà vị tất đã chính xác? Đã biết bao kẻ

240

từng đọc chuyện này của cổ nhân nhiều lắm rồi,

nhưng khi gặp những câu hỏi như thế vị tất đã không

yếu bóng vía mà luống cuống lên! Nhưng xét cho kỹ,

kẻ được hỏi và người bị hỏi vị tất đã biết chân

khoa học là gì, và những việc cổ nhân đã nói là gì

nữa!

Trong Y đạo, môn thiết chẩn thật là bao la nhiệm

màu, vi diệu! Đã từng có mặt ở Á Đông này 5-6 ngàn

năm, bắt nguồn từ bao la vô tận, thâm nhập vào khắp

chi tiết trong thân người. Thậm chí, người xưa đã

có lời than: “Bệnh cơ nẫng áo (Cơ bệnh kín đáo),

mạch lý diệu huyền (lý mạch nhiệm màu)”. Nay ta

muốn thâm nhập vào tận cùng của mọi khía cạnh của

mạch học, từ cái có ra như thế, đến lý tại sao có

ra như thế, thì ít nhất phải là người có biết gột

241

sạch lòng mình, và đã từng thâm nhập cả lý sự của

Huỳnh Đế Nội Kinh Tố vấn, rồi tuần tự đi vào thì

mới mong thu thập phần nào khi giáp mặt với sự

thật. Chúng tôi nói như thế, tất có người bảo, vậy

chớ mấy ông thầy Đông y đã có tràn đồng khắp nơi

đó, họ không biết coi mạch sao? Xin thưa, nếu hiểu

mạch học như thế thì cũng nên đem tất cả y khoa mà

vứt hết đi cho rồi!

Theo chúng tôi, muốn đi sâu vào môn thiết chẩn, ít

nhất phải thông qua nguyên lý Nam chánh Bắc chánh,

nghĩa là thế nào là Nam chánh, là Bắc chánh và

tường tận rõ ràng về lý mạch ứng theo mùa.

Về nguyên lý tam bộ cửu hầu, tại sao ngày nay phải

chẩn mạch ở cổ tay? Và tại sao có hiện tượng mạch

bệnh ở kinh, ở lạc, ở khí, ở tạng phủ khác nhau?

242

Tất cả những thắc mắc ấy đều thuộc về phần lý, mà

chúng tôi đã từng vạch rõ trong những thiên như:

“Mạch yếu tinh vi luận” v.v... của Nội kinh Tố Vấn

một cách hết sức tường tận. Ai muốn đi vào cái học

chẩn đoán có quy củ, đều phải thông qua ngưỡng cửa

ấy. Nên theo đây, trước mắt chúng ta chỉ nêu lên

một vài phần chính yếu về nền tảng nguyên lý của cổ

nhân, kế đến dẫn giải sâu vào phần kỹ thuật thừa

tiếp, rồi sau cùng chúng tôi sẽ trình bày những ý

kiến đặc biệt của chúng tôi để học giả có cơ tổng

hợp, nhận xét và thu thập.

Như chúng tôi đã từng nói: Người Âu Mỹ nhìn chung

thì thời nay hơn người xưa, trái lại người Á Đông

thì người xưa hơn người nay. Cho nên trong Y Đạo có

những cái tệ như sau: Khởi điểm từ Y Đạo, nhưng

243

đến giai đoạn thừa tiếp, Y Đạo đã biến trở thành y

khoa hay y nghiệp mà thôi. Mà dù chỉ trong lĩnh vực

y khoa, về cơ thể học hàng thỷ tổ bao giờ cũng

thực tế rõ ràng minh bạch. Nhưng đến hàng thừa

tiếp, trải qua một thời gian biến cố, cái học cơ

thể giải phẫu suy đồi, nên mới có chuyện Tam Tiêu

chỉ có tên chứ không có hình, và từ chữ “tiêu” là

“màng” biến thành chữ tiêu 焦 là “khét”, để rồi một

bác sĩ người Pháp dịch chữ Tam Tiêu là Trois

Rechauffeurs1, và xuống một tầng nữa, cổ nhân đã

từng đặt câu hỏi tại sao toàn thân đều có động

mạch, mà chỉ chọn lấy mạch ở cổ tay để làm nền tảng

cho thiết chẩn. Rồi họ vì ta mà trả lời hộ rằng:

Bởi mạch cổ tay là mạch đại hội, nên chính xác hơn

tất cả mọi nơi. Tuy thế, đã mấy ai biết đại hội là

244

gì? Tại sao lại đại hội là chỗ ấy? Cho nên chỉ có

nói chớ không hiểu gì! Lại nữa, chẩn đoán học của

cổ nhân không biết còn có máy móc dụng cụ gì khác

nữa không, không thấy nói đến. Nhưng ngoài bốn phép

tứ chẩn ra, nội trong thiết chẩn, không những chú

trọng ở mạch cổ tay mà họ còn quan sát cả đến mạch

hai bên màng tang, hai bên cổ, và dưới hai bên cổ

chân nữa là khác! Ai muốn biết rõ sự thể này, có

thâm nhập Nội Kinh rồi sẽ thấy rõ.

Tóm lược nguyên lý thiết chẩn của cổ nhân (trích

lục dẫn giải trong Trung Tây Hối Thông của Đường

Dung Xuyên, năm Dân Quốc thứ 23):

Nghiệm mạch mà biết bệnh, quả là một pháp hết sức

tinh vi. Nhưng theo Nội Kinh và Trọng Cảnh, còn hợp

thêm quan sát mạch ở hai bên cổ và hai chân nữa.

245

Ngày nay người ta chỉ căn cứ vào cổ tay mà lập

thiết chẩn. Bởi vì muốn gạt bớt những rườm rà, nhắm

thẳng vào điểm quan yếu. Như thế được phần đơn

giản hơn. Theo đây, chỗ dẫn chú đều chỉ theo mạch

cổ tay mà lập pháp. Người xưa đã từng nêu lên câu

hỏi: “trong 12 kinh đều có động mạch, mà chỉ căn cứ

vào mạch cổ tay lập pháp để quyết định 5 tạng 6

phủ sống chết là tại sao?” Câu hỏi này được nêu lên

từ Nạn Kinh và sau đây sẽ được giải tiếp.

Cái học Tây y mới ra đời sau này, chưa biết gì về

mạch pháp, liền muốn căn cứ vào đây để bài xích. Họ

cũng bảo khắp châu thân đều có động mạch, tại sao

lại phải căn cứ vào mạch cổ tay, chớ họ có biết đâu

người xưa sáng lập mạch pháp đã chứng thực điều đó

rồi, nên mới đặt ra câu hỏi trên. Ý nói trong 12

246

kinh đều có động mạch, là biết trước mà thay thế

Tây y để nói qua, biện bạch một cách rõ ràng. Về

phần Tây y, đã không biết mạch học, đâu được buông

miệng nói quấy như thế! Ta hãy nghe sau đây là giải

đáp tiếp:

Vâng, đúng thế! Mạch ở cổ tay là nơi mạch đại hội,

là động mạch của Thủ Thái Âm. Con người một hơi

thở ra, mạch đi 3 tấc, một hít vào mạch đi 3 tấc.

Thở ra hít vào là một hơi thở, mạch đi 6 tấc. Con

người một ngày một đêm tổng cộng trung bình có

13.500 hơi thở, mạch đi 50 độ giáp vòng châu thân.

Dinh vệ đi ở phần dương 25 độ, đi ở phần âm 25 độ

là giáp một chu kỳ lớn, lại hội ở thủ Thái Âm. Cho

nên mạch Thốn Khẩu ở cổ tay là chỗ giáp mối của 5

tạng 6 phủ, nên căn cứ vào đó mà lập pháp vậy.

247

Gần đây người ta nói tạng Phổi là cái lọng tinh

hoa, tất cả mạch đều tụ hội. Khí của 5 tạng 6 phủ

đều xông lên Phổi, nên căn cứ vào mạch Thốn Khẩu

của Phổi có thể chẩn biết được các tạng, nói như

thế cũng thông. Nhưng xét kỹ chưa biết rõ dinh vệ

hội nhau là nơi giáp mối của 5 tạng, nên chỉ căn cứ

vào Thốn Khẩu cổ tay. Tần Việt Nhơn lập pháp thật

rất tinh vi vậy. Sự vận hành của phần dinh huyết

thì Tây y có thể biết. Còn sự vận hành của khí vệ

thì Tây y chưa biết. Tây y nói: Huyết xuất phát từ

Tim đi khắp châu thân, khi trở về là biến thành màu

tím đen là vì để thâu nhận khí than. Huyết trở về

Tim là nhờ có thông qua phế quản, hơi thở ra xả bớt

khí than làm cho màu hết đen, rồi lại trở về Tim.

Đó là nghĩa phần dinh huyết đi khắp châu thân của

248

Nội Kinh vậy. Không một hơi thở nào không có huyết

từ phòng Tim bên trái phát ra, thì cũng không một

hơi thở nào không có huyết trở về phòng Tim bên

phải. Nhưng nếu tính chỗ khởi đầu của huyết đi ra

thì đợi khi trở vào cũng phải trải qua một ngày một

đêm. Riêng phần dinh huyết vận hành với phần vệ

rất khác nhau. Dinh huyết thì một hơi thở nào cũng

có ra có vào, còn sự vận hành của khí vệ thì phải

đi theo độ chu kỳ, bèn trở về với Phổi, cùng với

huyết phần dinh hội nhau. Đó là cuộc tương hội nhỏ.

Bởi vì khí vệ ban ngày vận hành ở phần dương thì

con người thức, đêm vận hành ở phần âm thì con

người ngủ. Thế thì suốt ngày đêm đều vận hành 25 độ

thì lại trở về Phổi, cùng với khí dinh của huyết

đại hội nên gọi phần dinh đi khắp một vòng châu

249

thân. Còn phần vệ thì nhắc lại là hội ở Thủ Thái

Âm, nghĩa văn rõ khác, không thể lầm lẫn.

Khí dinh đi khắp tạng phủ trong ngoài nhưng đều

hội ở Phổi, nên chỉ căn cứ mạch cổ tay có thể khám

các bệnh tạng phủ trong ngoài vậy. Xét ra sách Linh

Khu có nói: Tất cả kinh mạch trước sau, trên dưới,

trái phải trong con người tổng cộng có 16 trượng 2

thước là giáp vòng châu thân, gọi là một độ, ngày

đêm tổng cộng 13.500 hơi thở, khí vận hành 50 độ.

Số kinh mạch dài ngắn, khí vận hành, đường truyền

đi đều có nói rõ ở Nội Kinh trong thiên “Mạch độ

dinh khí”, đây không thể luận hết. Hễ xem mạch động

và khí vận hành để chia ra mà nói, thì biết mạch

là dinh huyết, khí bám theo mạch mà vận hành. Ban

ngày thì vận hành ở ngoài phần dinh, là vận hành ở

250

phần dương 25 độ. Đêm thì vận hành trong phần dinh,

là vận hành phần âm 25 độ. Nội Kinh nói: Người già

đêm không ngủ, là phần dinh huyết thiếu, khí vệ

phần dương không vào được ở phần âm. Căn cứ theo

đây thì biết lý dinh vệ bám vào nhau, vì phần dinh

đi khắp rồi trở lại mối đầu, cho nên không hơi thở

nào mà không trở về Phổi để vào Tim. Khí vệ vận

hành phải một độ mới trở về Phổi, đủ 50 thì hệ số

âm dương đã giáp mà trở lại Phổi thì gọi là đại

hội, là giáp mối của tạng phủ. Vì hội ở Phổi nên

căn cứ vào mạch Phổi có thể chẩn đoán các mạch tạng

phủ. Tây y không biết chỗ dinh vệ hội nhau, mà chỉ

biết mạch là ống máu, để chỉ trích phép chẩn mạch

Á Đông là sai lầm, thì chỉ là chuyện thô thiển bề

ngoài mà thôi vậy!

251

Từ bộ Quan xuống tới bộ Xích là thuộc về phần bộ

Xích, thuộc lĩnh vực của trong phần âm. Từ bộ Quan

đến huyệt Ngư Tế là bộ Thốn, thuộc phần dương ngự

trị.Quan là gì? Là địa điểm để phân ranh giới cho

Xích và Thốn, là chỗ sách Mạch Quyết nói nơi có

xương nhọn nhô lên cao là đúng bộ Quan. Dưới bộ

Quan là huyệt Xích Trạch, chủ về tạng Gan, tạng

Thận, mà chìm nên thuộc âm. Trước bộ Quan là bộ

Thốn chủ về Tim Phổi, mà nổi nên thuộc dương.

Tây y không tin mạch pháp, họ bảo ống mạch trong

thân người đều mắc liền với Tim. Tim đập mãi không

ngừng, mạch liền ứng theo mà động, 5 tạng trong

thân người làm sao chỉ căn cứ vào huyết quản mà

đoán. Lại nói: Mạch cổ tay chỉ là một ống máu, tại

sao lại phân nào Thốn, nào Quan, nào Xích. Thuyết

252

này hình như đúng mà thật là sai lầm! Nhưng xét cho

kỹ, mạch cổ tay lên khỏi huyệt Ngư Tế thì không

thấy động, xuống khỏi huyệt Xích Trạch cũng không

thấy động. Vả chăng mạch tuy một hệ thống, nhưng có

phân tán, hợp, tụ, ẩn hiện khác nhau. Huyệt Thốn

Khẩu là nơi mạch đại tụ hội, là khu quan yếu của

dinh vệ hội nhau, nên căn cứ vào đây để khám các

bệnh. Trong ống mạch thuộc phần huyết, ngoài ống

mạch thuộc phần khí, chậm mau là việc trong ống

mạch, còn nổi chìm là việc ngoài ống mạch. Đến như

nói mạch có trước sau, lại phân Thốn là dương, Xích

là âm. Bởi vì mạch cổ tay đã là nơi mạch đại hội,

tự có bộ phận khác nhau. Dương ngoài âm trong là lý

bất di bất dịch của trời đất. Phàm bệnh chủ về

biểu, ở trên, ở khí, thuộc chứng dương, đều chẩn ở

253

bộ Thốn. Bệnh chủ lý, chủ huyết, ở dưới thuộc phần

âm đều chẩn ở bộ Xích.

Bộ trên là pháp thiên, chủ về khi lồng ngực trở

lên đầu khi có bệnh. Bộ giữa là pháp nhân, chủ về

từ Chẽn vừng trở xuống đến rún khi có bệnh. Bộ dưới

là pháp địa, chủ về rún trở xuống đến chân khi có

bệnh.

Đây là nghĩa trên thuộc phần trên, là việc ở lồng

ngực, yết hầu; dưới thuộc phần dưới, thắt lưng, dạ

dưới, chân, theo trong Nội Kinh vậy. Bởi vì lý

trong trời đất, hễ gốc ở trời thì gần ở trên, gốc ở

đất thì gần ở dưới, đều tùy theo loại. Nên tả Thốn

ở trên phải thuộc tạng Tim, hữu Thốn ở trên phải

thuộc tạng Phổi; tả Quan ở giữa thuộc Gan, hữu Quan

ở giữa thuộc Tỳ; tả Xích ở dưới thuộc Thận, hữu

254

Xích ở dưới thuộc Mạng Môn. Đều là nghĩa phân trên,

giữa và dưới vậy. Còn phân bên trái, bên phải là

lấy nước làm số một của trời, phải phối hợp ở bên

trái (tả Xích). Lửa là địa nhị, phải phối hợp ở bên

phải (hữu Xích). Vì thủy sanh mộc, mộc sanh hỏa

nên tạng Tim, tạng Gan ngôi thứ đều ở bên trái. Vì

Hỏa sanh Thổ, Thổ sanh Kim nên Tỳ, Phổi ngôi thứ

đều ở bên phải, nghĩa là tùy theo loại mà xếp đặt.

Đến như 6 phủ cũng đều theo loại để mà xếp theo thứ

tự. Phủ của Phổi là Đại Trường, ngôi mạch của Phổi

ở hữu Thốn thì Đại Trường phải phối hợp ở hữu

Xích. Cũng có khi chẩn ở hữu Thốn, như thế là vì

thấy được Phổi với Đại Trường cùng một nhà. Vị theo

Tỳ phối hợp ở hữu Quan. Tam Tiêu theo Mạng Môn

phối hợp ở hữu Xích. Bàng Quang theo Thận phối hợp

255

ở tả Xích, buồng mật theo Gan phối hợp ở tả Quan.

Tiểu Trường theo Tim phối hợp ở tả Thốn. Nhưng Tiểu

Trường cũng có thể phối hợp ở tả Xích. Vì ngôi của

Tim chỗ chẩn mạch nằm trên tả Quan thì Tiểu Trường

phải theo đó mà hiện ở dưới. Ngôi thứ tạng phủ đã

rõ, lại suy thêm về hình thể, thì khí quản, thực

quản, lưỡi, đầu, mặt, trước lồng ngực, vai, xương

bả vai đều chẩn ở bộ Thốn. Dưới nách, vùng bụng từ

thắt lưng trở lại đều chẩn ở bộ Quan. Từ bụng dưới

xuống đến xương cùng, tiền hậu âm, đùi, xương ống

chân, chân, gối, đều phải chẩn ở bộ Xích. Đó là

phép phân trên dưới của Nội Kinh. Sự thật là lý ở

gần trên, gần dưới của đại dịch, yếu chỉ thật tinh

vi vậy.

Biện chứng có phân ra từng bộ, phép chẩn có hợp 3

256

bộ. Chỗ quan hệ của phép chẩn là phải thông lý mới

nói đến chẩn được. Điều này Tây y không biết.

Theo bí quyết của bộ vị xưa thì bên trái là Tim,

Gan, Mật, Thận, Tiểu Trường. Bên phải là Phổi, lồng

ngực, Tỳ, Vị, Mạng Môn, Đại Trường. Sách Tam Chỉ

Thiền Mạch Pháp của Châu Mộng Giác cho là bên trái:

Tim, Tiểu Trường, Gan, Mật, Thận, Bàng Quang. Bên

phải: Phổi, Đại Trường, Tỳ, Vị, Thận, Mạng Môn.

Nhưng còn có nghĩa chưa hết, nên phân làm tả Thốn

là thuộc Tim, Bọc Tim, Tiểu Trường; tả Quan: Gan,

Mật; tả Xích: Thận, Bàng Quang và Tiểu Trường; hữu

Thốn: Phổi, lồng ngực, Đại Trường; hữu Quan: Tỳ Vị;

hữu Xích: Mạng Môn, Tam Tiêu và Đại Trường, Tử

Cung. Bởi vì Đại, Tiểu Trường hoặc ghép vào với Tim

Phổi là vì biểu lý thông nhau, hoặc ghép vào hai

257

bộ Xích là vì ngôi nó nằm dưới. Bọc Tim là thuộc bộ

phận mắc liền với Tim, lồng ngực là thuộc màng bao

của tạng Phổi. Sau thời Nội Kinh Trọng Cảnh không

có chẩn Tam Tiêu vì chưa biết căn cội của Tam Tiêu

tức là cuống Thận. Nay đặc biệt ghép vào hữu Xích

thì nghĩa cũng đầy đủ hơn.

Thiên “Mạch Yếu Tinh Vi Luận” của Nội Kinh nói:

“Phía ngoài hai bộ Xích là vị trí để nghiệm vùng

dưới sườn chót hai bên hông, đúng ngay lằn mạch

nhịp là vị trí để nghiệm Thận, lệch vào phía trong

là vị trí để nghiệm những biến động của bụng.

Chồng lên trên bộ Xích là bộ Quan, bên trái (tả

Quan), phần ngoài là vị trí để nghiệm Gan, phần

trong là vị trí để nghiệm Chẽn vừng. Bên phải (hữu

Quan) phần ngoài là vị trí để nghiệm Vị, phần trong

258

là vị trí để nghiệm Tỳ.

Trên bộ Quan là bộ Thốn. Bên phải (hữu Thốn) phía

ngoài là vị trí để nghiệm Phổi, phía trong là vị

trí để nghiệm giữa vùng lồng ngực (cuống Phổi). Bên

trái (tả Thốn) phía ngoài là vị trí để nghiệm Tim,

phía trong là vị trí để nghiệm Bọc Tim.

Cứ hễ phần nào trước là sắp ở trước, ở phần nổi;

phần nào sau là sắp ở sau, ở phần chìm.

Hễ bộ trên thì thuộc về nơi để nghiệm các việc

phần trên, những chuyện xảy ra từ Chẽn vừng trở lên

đầu. Bộ dưới là thuộc phần dưới, là để nghiệm

những chuyện xảy ra từ rốn trở xuống đến chân.”

Căn cứ vào ý này ta hãy tạo hai đồ biểu như dưới

đây cho tiện bề quan sát:

Hình vẽ: Con người phân 6 ô, mỗi ô phân 9 ô; và 6

259

bộ mạch, mỗi bộ phận 9 ô.

Mỗi bộ đều có Phù, Trung, Trầm. Từ mặt da đè xuống

xương phân làm 3 phần: phần trên gọi là Phù, giữa

gọi là Trung, phần sát xương là Trầm.

Mạch có 3 bộ 9 hậu, 3 bộ nghĩa là phân ra Thốn,

Quan và Xích. 9 hậu là phân ra nổi, giữa, chìm. 3

bộ 9 hậu này khác với 3 bộ 9 hậu của Nội Kinh.

Nhưng phép 3 bộ 9 hậu của Nội Kinh căn cứ ở phép

khám khắp đầu, tay, chân. Phép này người ta bỏ đã

lâu nên phải theo Nội Kinh lấy Thốn, Quan, Xích làm

3 bộ. 3 bộ đều có nổi, giữa, chìm để làm chừng mực

đo. Thế gọi là 9 hậu.

Thở ra thuộc Tim và Phổi, hít vào thuộc Thận và

Gan. Quãng giữa thở ra hít vào thuộc Tỳ, ứng vào

mạch ở giữa. Nổi là dương cho nên tạng Tim, tạng

260

Phổi đều thuộc về Phù. Nổi mà to tán là Phù, Đại,

Tán thuộc Tim. Nổi mà ngắn rít là Phù, Đoản, Sắc

thuộc Phổi. Chìm là âm nên Gan, Thận đều thuộc mạch

Trầm. Nhưng Huyền Trường là mạch Gan, còn đè xuống

thấy mềm, nhớm tay lên thấy chắc Thiệt là thuộc

Thận. Tạng Tỳ vì là trung châu, nên mạch phải ứng ở

chính giữa. Đó là phép theo âm dương vậy.

Tiết trên căn cứ vào bộ vị mà phân 5 tạng, còn

tiết này lại lấy hô hấp nổi chìm mà phân 5 tạng.

Tạng Tim, Phổi ở phần trên, là nơi hơi thở ra, nên

thở ra thuộc Tim Phổi. Một hơi thở ra mạch phải đập

2 nhịp. Tạng Gan, tạng Thận ở bộ dưới, là nơi tận

cùng hơi thở hít vào nên hít vào thuộc Gan Thận.

Một hít vào mạch phải đập 2 nhịp, quãng giữa của

thở ra hít vào, tạng Tỳ chủ về trung cung giữ về

261

hơi thở ra vào, mạch phải 1 nhịp, nên 1 hơi thở ra

hít vào mạch đập 5 nhịp là bình thường của người

không bệnh. Nếu thêm 1 nhịp là có 1 tạng thái quá.

Nếu thiếu 1 nhịp là có 1 tạng bất cập. Đó là phép

quan sát về số nhịp đập của mạch. Biết được nghĩa

này thì biết được lý do nhịp đập chậm mau. Nếu mạch

ở phần trung trở xuống thì lại nói lấy nổi, giữa,

chìm mà phân biệt 5 tạng. Nói mạch ở trong lớp da

thịt con người, đặt tay nhẹ liền thấy, như thế gọi

là phù, là nổi. Phù là ở ngoài thuộc dương, Tim

Phổi ứng theo. Nếu Phù mà Đại, Tán là ứng ở Tim.

Phù mà Đoản, Sắc là ứng ở Phổi. Đè nặng tay xuống

mới thấy là Trầm. Trầm là ở lý, ở trong thuộc âm;

tạng Gan tạng Thận ứng theo. Đè xuống thấy thẳng mà

dài là hiện tượng của Huyền, thuộc hệ thống của

262

Gan. Nếu mềm, rõ, trơn là hiện tượng Nhụ, Thiệt,

Hượt thuộc hệ thống của Thận. Tạng Tỳ là tạng trung

châu nên mạch ở chừng giữa, tức là quãng giữa của

âm dương. Đây là lấy phần Trầm để chẩn Gan Thận,

phần Phù chẩn Tim Phổi, phần trung chẩn Tỳ Vị.

Nghĩa phối hợp cũng có nhiều cách.

Mùa Xuân mạch Huyền, Hạ mạch Câu, mùa Thu mạch

Mao, Đông mạch Thạch. 4 mùa đều lấy vị khí làm gốc.

Bệnh biến của 4 mùa là nơi yếu hội của sống chết.

Câu nghĩa là Hồng (nổi tràn), Mao nghĩa là Phù

(mặt bằng trùng lại), Thạch nghĩa là Trầm. Vị khí

hiện ở mạch là hiện tượng hòa hưỡn. Nói Huyền,

Hồng, Phù, Trầm đều thấy có khí tượng lưu thông hòa

hưỡn gọi là có vị khí. Nói bệnh biến ở 4 mùa, là

nói thái quá bất cập không được vị khí, thì có thể

263

căn cứ vào đó mà biết là bệnh vậy. Đây là nói rõ

chủ mạch của 5 tạng 4 mùa mà lại quy về vị khí làm

căn bản. Sách Tam Chỉ Thiền Mạch Quyết đời nay lấy

mạch Hưỡn làm giếng mối, quả là có thể biết được

yếu chỉ lấy vị khí làm gốc. Học giả nên có dịp đọc

qua.

Mạch Sác (mau) thuộc phủ, mạch Trì (chậm) thuộc

tạng. Các mạch dương là nóng, các mạch âm là lạnh,

các mạch Sác tức là nóng, các mạch Trì tức là lạnh.

Phủ thuộc dương, nên mạch Sác phải ứng bệnh ở phủ.

Tạng thuộc âm, nên mạch Trì phải ứng ở tạng. Sác

tức là nóng, các mạch dương chủ khí. Trì tức là

lạnh, các mạch âm chủ huyết.

Vả chăng dùng mạch Trì, mạch Sác để phân biệt tạng

phủ, như thế chưa hẳn đúng. Nhưng mạch Sác tức là

264

nóng, mạch Trì tức là lạnh. Đó là lý nhất định

không thay đổi. Vì nhịp động của mạch xuất phát từ

huyết của Tim, thuộc về phần trong ống mạch, là chủ

của huyết. Tim thuộc hỏa, huyết thiếu, hỏa ít thì

mạch động chậm; huyết nhiều, hỏa vượng thì mạch

động nhanh. Lại nữa phàm mạch to, nhỏ, trống thiếu,

đều là việc trong ống mạch phải cùng với mạch Trì,

Sác mà đoán. Về mạch pháp, cần phải biện bạch phần

trong ống mạch là thuộc phần huyết, việc ngoài ống

mạch là thuộc phần khí, thì chẩn đoán trị liệu tự

có phân biệt.

- Hết thảy các mạch nổi không bồng bột đều thuộc

hiện tượng ở phần dương, tức là nóng, nếu thêm bồng

bột nữa là thuộc về kinh thủ.

Hết thảy các mạch quá nhỏ, chìm đều thuộc hiện

265

tượng ở phần âm, nếu không bồng bột là thuộc kinh

túc.Nếu mạch mau mà có tướng động, thỉnh thoảng

có ngừng là mạch bệnh của kinh dương, thuộc phủ.

- Khi nhớm tay lên thấy mạch đi mau, đè tay xuống

thấy chậm nghĩa là trên thiệt dưới hư, ngoài thiệt

trong hư, tất phải có chứng khuyết nghịch mà bệnh ở

đỉnh đầu.

Nếu nhớm tay lên thấy mạch chậm, đè tay xuống

thấy mau, nghĩa là trên hư dưới thiệt, tất có chứng

sợ gió.

Nếu đè xuống tới xương thấy mạch khí suy yếu,

tất có chứng thắt lưng, xương sống nhức, bệnh tê.

- Nếu da chỗ chẩn mạch hơi mềm mà mạch rít, tất có

triệu chứng toàn thân boải hoải. Lúc nằm yên mà

mạch lại thạnh tất có triệu chứng mất máu. Da chỗ

266

chẩn mạch rít mà mạch hượt, tất có triệu chứng

nhiễu mồ hôi. Da chỗ chẩn mạch lạnh mà mạch quá

nhỏ, tất có triệu chứng đi tả. Da chỗ chẩn mạch

thường nóng mà mạch thô, tất có triệu chứng nóng

trong bụng.

- Hai bộ Thốn trầm nhược hư tiểu là phần lạc hư.

Nếu hai bộ Thốn Hồng Đại Sát nghịch là lạc

thiệt.Nếu bệnh ngoại cảm thương hàn mà là bệnh ở

khí, mạch thường 6 bộ như nhau, hoặc Phù, hoặc

Khẩn, hoặc Huyền, hoặc Sác…

Nếu là bệnh ở kinh thì phải mạch một tay lớn một

tay nhỏ, tay trái là kinh dương, tay phải là kinh

âm. Nếu dương thiệt thì âm hư, nếu âm thiệt thì

dương hư.

Nếu bệnh ở tạng phủ thì mỗi bộ đều tùy chỗ bệnh

267

mà có sắc thái riêng.

Các mạch Phù (nổi), Hượt (trơn), Trường (dài)

đều thuộc mạch dương.

Các mạch Trầm (chìm), Đoản (ngắn), Sắc (rít) đều

thuộc mạch âm. Đều căn cứ vào vị trí của kinh mà

định bệnh thuận nghịch vậy.

Phù, Hượt, Trường là dương. Trầm, Đoản, Sắc là âm.

Căn cứ vào đây để chẩn bệnh là đã nắm được chỗ

yếu. Nhưng lại phải phân các kinh để định thuận

nghịch. Thí dụ: Thuộc về Thận thì mạch phải chìm mà

lại nổi, Tim mạch phải nổi mà lại chìm, thế là

nghịch. Đã nắm vững định tượng của mạch, lại nói:

Mạch không có thể nhất định, tùy kinh mà phân thuận

nghịch, lập pháp rất tế nhị. Tây y chỉ biết mạch

là huyết quản, nhưng không biết khí bám theo mạch

268

mà vận hành. Phần ngoài của huyết quản là đường của

khí. Tây y nói: Ngoài ống mạch có màn gọi là màn

mạch, trơn nhuận mà mỏng, phân nhiều tầng lớp,

trong đó có những lỗ nhỏ tựa như lỗ rây. Nghiệm xét

cho kỹ thì đó là đường khí bám vào mạch mà vận

hành, ống mạch chỉ là một ống, động thì đều động

nên phần chậm mau không phân bộ vị. Còn khí thì cao

thấp khác nhau nên có nhẹ nặng, nên Phù Trầm thì

ba bộ có phân biệt. Theo đây mà suy, nếu khí quản

và huyết quản phân ra mà chẩn hoặc hợp lại mà chẩn,

thì mạch không có chỗ khuất lấp. Càng đọc sách Tây

y thì càng biết được tinh thần tinh mật của cổ

nhân. Mong sao người Tây y đọc được sách Á Đông xưa

thì cũng có thể bổ cứu thêm chỗ thiếu xót.

Ta hãy thử nghe một đoạn về kinh khí tuyệt của Nội

269

Kinh như sau:

- Nếu kinh Thái Dương khí tuyệt thì tròng mắt trợn

ngược, xương sống ểnh, toàn thân co giật, sắc mặt

trắng bệch, mồ hôi ra như tắm.

- Nếu kinh Thiếu Dương khí tuyệt thì tai ù, các

khớp buông lơi, tròng mắt kéo xếch về hai bên. Khi

có triệu chứng này thì độ 1-5 ngày thì chết. Khi

chết sắc mặt hiện xanh trắng.

- Dương Minh khí tuyệt thì miệng tai đều hoạt

động, hoảng hốt nói sàm, sắc mặt vàng, kinh thủ

kinh túc đều thịnh, tay chân tê rồi chết.

- Thiếu Âm khí tuyệt thì sắc mặt biến đen, răng

vàng mà dơ, bụng trướng bí hơi, trên dưới không

thông rồi chết.

- Thái Âm khí tuyệt thì bụng trướng bí hơi không

270

thở được, hay ợ, hay ói, khi ói thì khí nghịch mặt

đỏ. Khí không nghịch thì trên dưới không thông, sắc

mặt biến đen, da lông khô héo rồi chết.

- Khuyết Âm khí tuyệt thì trong nóng, cổ họng khô,

hay đi tiểu, tim bứt rứt. Nặng nữa thì lưỡi cuống

đớ, bao ngoại thận rút lên rồi chết.

Đoạn thiết chẩn này rút từ Nội Kinh, bởi vì trong

toàn bộ Nội Kinh, phép thiết chẩn là cả từ đầu đến

chân. Từ khi Tần Việt Nhơn biến pháp, tất cả thầy

thuốc đều đổ xô về con đường giản dị. Mạch Quyết

đời sau bắt nguồn từ đấy. Lập pháp rất tinh nên

phải chấp nhận. Nếu tham khảo thêm các sách thì sẽ

biết được chỗ mầu diệu vậy. Vì bệnh cơ rất uẩn áo,

muốn tìm đến tận căn nguyên để biết rõ nguồn xuất

phát của bệnh là ở khí, ở lạc, ở kinh hay ở tạng

271

phủ hầu có chỗ hạ thủ là cả một vấn đề mà đã động

viên toàn bộ năng lực tuệ giác cũng vẫn hãy còn khó

khăn. Huống hồ, biết tướng bệnh không bằng biết

tận nguyên nhân, biết rõ toàn bộ bệnh căn hơn là

vội chữa bệnh. Do đó giá trị của tứ chẩn nếu được

luyện tập thật hoàn bị nó sẽ giúp đỡ cho ta một

cách sáng suốt, thay thế cho cái học từng phần.

Điều này học giả cần phải để ý!

Lại nữa, trong công tác khám phá bệnh tật, tuy đã

thông qua tứ chẩn nhưng còn một điều hầu như tất cả

thầy thuốc không mấy lưu tâm là phần thọ bẩm chất

ghiền của cha mẹ. Thí dụ: Một người đàn ông hay một

đôi vợ chồng mới kết hợp, tánh nết còn chất phác,

chưa tiêm nhiễm chất ghiền nào. Rồi từ đó dòng đời

cùng diễn biến, tánh tình tuần tự biến thay, các

272

chất ghiền cũng tuần tự tiêm nhiễm, con cái cũng

theo đó tuần tự sản xuất để mỗi đứa con khi đến

trưởng thành không thể không là bóng dáng cả một

quãng đời cha mẹ truyền cho. Thí dụ: Ghiền café,

thuốc lá, lấy ngày làm đêm thì dù cho đứa con ra

đời chưa có dịp để tiếp rước café, thuốc lá nhưng

trên nhịp mạch vẫn có khác, và cũng thích lấy ngày

làm đêm, lấy đêm làm ngày. Do đó khi có bệnh triệu

chứng cũng biến hóa đa đoan, thầy thuốc không thể

không ngược dòng nghiên cứu. Đây là điều kiện gần

như nền tảng chủ động mọi bệnh tật ngày nay, bắt

buộc một vị lương y không thể không biết. Đó là

chưa kể đến nếp sống thị thành thời đại khoa học kỹ

thuật vật chất tiến bộ, cách sử dụng đèn điện tử,

tivi cũng không thể không quan hệ đến bệnh tật.

273

Con người với thiên nhiên mắc cùng chung một quy

luật, lẽ cố nhiên tất cả mọi biến hóa trong con

người đều

có lý do của nó. Nên học mạch ngoài việc biết nó

vốn như vậy còn cần phải biết tại sao nó ra như

vậy. Cho nên càng muốn đi sâu vào mạch học, học giả

càng cần phải thông qua toàn bộ hệ thống đồ biểu

sau đây:

Đồ biểu hiện tượng hai khí âm dương vận chuyển

trong cơ thể ứng ra mạch:

1. Đồ biểu tưởng tượng bổ đôi khí quyển và địa cầu

để nhìn thấy rõ 6 lớp khí, 3 lớp ngoài là phần 3

dương, 3 lớp trong lòng đất là phần 3 âm.

2. Đây là bắt đầu từ Đông Chí qua 45 ngày, địa cầu

lần xích lại gần mặt trời chút. Khí dương (dương

274

điện tử) trong lòng đất bắt đầu động để tìm đường

ra ngoài theo sự kêu gọi của khí nóng sáng mặt trời

và khí âm (âm điện tử) ngoài bầu khí quyển cũng

theo đó mà tìm đường chen vào lòng đất để bước sang

xuân.

3. Đây là lúc hết Xuân sang Hạ, địa cầu đến điểm

gần mặt trời nhất (cực Hạ). Tất cả khí dương trong

lòng đất đều đã vượt hẳn ra đến tận cùng bầu khí

quyển để gặp gỡ khí nóng sáng của mặt trời và khí

âm cũng đã vào hẳn phần 3 âm trong lòng đất.

4. Đây là bắt đầu từ tiết Hạ Chí qua 45 ngày, địa

cầu bắt đầu xa lần mặt trời. Khí âm trong lòng đất

bắt đầu động để tìm đường ra ngoài theo sự kêu gọi

của khí mát, tối của bao la và khí dương tận ngoài

cùng bầu khí quyển cũng theo đó mà chùn lại, tìm

275

đường chen vào ba âm ở trong lòng đất để bước sang

Thu.

5. Đây là lúc hết Thu sang Đông. Địa cầu đến điểm

xa mặt trời nhất (cực Đông), tất cả khí âm trong

lòng đất đã vượt hẳn ba âm ra đến tận cùng bầu khí

quyển để gặp gỡ khí mát, tối của bao la và khí

dương hồi đó đã vào hẳn phần 3 âm trong lòng đất.

6. Đây là đồ biểu nhắc lại nguyên lý thái cực,

lưỡng nghi, tứ tượng, trong dương có âm, trong âm

có dương.

7. Đây là biểu đồ tưởng tượng sự vận hành của âm

dương vào trong mạch, bắt đầu tiết Đông Chí đến cực

Hạ.

(1) Địa cầu bắt đầu xích lại gần mặt trời, từ cực

Đông bắt đầu tiết Đông Chí, qua 45 ngày, mạch Trầm

276

Thiệt từ hữu Xích chuyển sang tả Xích, khí dương

trong con người cũng theo đó bắt đầu nổi vọt,

trương nở ở Thận âm để giao tiếp với tạng Gan làm

cho mạch tả Xích động nổi lên dần, để sang Xuân nối

liền với tả Quan. Nói một cách khác, bắt đầu tiết

Đông Chí qua 45 ngày, tuy hai bộ Xích đều động để

nối liền với hai bộ Quan nhưng tả Xích thiệt và rõ

hơn hữu Xích, nghĩa là mỗi bộ mạch đều có sắc thái

riêng. Nhưng hồi đó tất cả đều thấy động ở phần

Trầm, lúc nhớm tay lên thì tỏ rõ nhất là tả Xích.

(2) Địa cầu lần lần gần mặt trời, Đông hết sang

Xuân, mỗi bộ mạch tuy có một sắc thái riêng nhưng

lúc đó tất cả đều phải nhuộm một màu hơi Huyền

Trường mà to, mà tỏ rõ nhất là tả Quan, thế là từ

động ở phần Trầm đi lần đến Phù Huyền, lần to lệch

277

về bên trái.

(3) Địa cầu đã đến điểm gần mặt trời nhất, hết

Xuân sang cực Hạ, mỗi bộ mạch tuy có một sắc thái

riêng nhưng lúc đó tất cả đều nhuộm một màu hơi

Hồng, Đại, To, Tán, nhưng rõ nhất là tả Thốn. Thế

là đi từ Huyền Trường sang Phù Hồng mà tay trái to

hơn tay phải và khi đè xuống đến phần

Trầm thì tay trái thiếu hơn tay phải.

(4) Cũng trong lúc bắt đầu tiết Đông Chí qua 45

ngày, khi khí dương động ở tả Xích để lên nối liền

ở tả Quan mà sang Xuân thì khí âm trong con người

từ Tim Phổi chùn lại để từ hữu Thốn rút dần xuống

hữu Quan. Trong lúc đó mỗi bộ mạch tuy có sắc thái

riêng nhưng tất cả đều phải nhuộm một màu hơi Trầm

mà phần phù ở hữu Thốn mềm rõ hơn hết.

278

(5) Hữu Quan tuy nằm bên phải thuộc về tỳ vị trung

châu nên chỉ vượng ở Trường Hạ và bốn phần cuối

mùa. Hồi đó mỗi bộ tuy có sắc thái riêng nhưng tất

cả đều phải nhuộm một màu hòa hưỡn trung bình mà

hữu Quan là rõ nhất.

(6) Cũng trong lúc cực Hạ, khí dương trong mạch đã

hiện rõ ở phần tả Thốn, còn khí âm đã lọt vào hẳn

bên trong. Tất cả 6 bộ tuy đều nổi vượng bên trái

to hơn bên phải, 2 bộ Thốn nổi hơn 2 bộ Xích nhưng

hữu Xích phải Thiệt hơn tả Xích. Thế là suốt 6

tháng dương, khí dương đã ra ngoài hết, khí âm đã

vào trong hết, mà mạch tay trái 2 bộ Thốn phần phù

to thịnh hơn và rõ nhất là tả Thốn, còn tay phải 2

bộ Xích phần trầm phải nhỏ và hư hơn hết mà hư rõ

nhất là tả Xích.

279

8. Đây là đồ biểu âm dương vận hành trong mạch bắt

đầu từ tiết Hạ chí đến cực đông:

(1) (4) địa cầu bắt đầu xa lần mặt trời, từ cực Hạ

bắt đầu Hạ Chí qua 45 ngày, khí dương cực chuyển

từ trái sang phải, khí âm từ lòng đất bắt đầu bốc

lên. Mạch Phù Hồng đã chìm lại. Hồi đó tả Xích hư

hơn hữu Xích, hữu Thốn thạnh hơn tả Thốn để Xích

lên Thốn xuống nối liền với Quan, và tay phải bắt

đầu to hơn tay trái.

(2) (5) địa cầu xa dần mặt trời, từ Hạ sang Thu,

khí dương lần chuyển vào trong, khí âm lần chuyển

ra ngoài, âm dương giao nhau, hồi đó 6 bộ đều Phù,

Sắc, phần Trầm lần Thiệt mà bộ Quan bên phải to hơn

và rõ hơn bên trái.

(3) (6) địa cầu đến điểm xa mặt trời nhất, từ Thu

280

sang Đông, khí âm đã chuyển hẳn ra ngoài. Hồi đó 6

bộ đều nhuộm màu Trầm Thiệt nhưng hữu Xích Thiệt

hơn tả Xích để chuẩn bị chuyển sang tả Xích. Còn 2

bộ Thốn, phần phù hư rõ nhất ở hữu Thốn. Thế là

suốt 6 tháng âm khí đã đi ra ngoài hết, dương đã

vào trong hết mà mạch tay phải, 2 bộ Xích phần trầm

to mạnh hơn và rõ nhất là hữu Xích. Còn tay trái,

2 bộ Thốn phần phù phải nhô và hư hơn mà rõ nhất là

hữu Thốn.

9. Đây ta hãy tưởng tượng biến 6 bộ mạch hình bầu

dục thành mặt đồng hồ và cây kim ở giữa thẳng, đầu

dương hướng phía dưới bên trái, đầu âm hướng phía

trên bên phải. Rồi cứ theo số thứ tự mà xoay, thì

ta tức khắc thấy ngay dương lên âm xuống, âm lên

dương xuống cứ thay nhau tuần hoàn như thế mãi

281

không ngừng.

10. Tại sao đến mùa Xuân lại hiện mạch Huyền lệch

bộ Quan bên trái? Trường Hạ mạch Hưỡn lệch bộ Quan

bên phải?

Bắt đầu từ tiết Đông Chí qua 45 ngày khí dương bên

trong tạng Thận bốc lên liên lạc với tạng Gan.

Lượn sóng động của mạch từ 2 bộ Xích đã nhồi lên

hai bộ Quan để nối liền mà lệch về bên trái, vì bên

trái là ngôi của Gan.

Trong khi đó khí âm bên ngoài trời cũng động và đè

nặng làm cho lượn sóng âm ở 2 bộ Thốn cũng nhồi về

dính liền với 2 bộ Quan, nhưng khí âm vẫn lệch về

hữu Quan vì hữu Quan là ngôi của tạng Tỳ. Còn mùa

thì thuộc về tạng Gan vì tạng Gan là dương ở trong

âm cho nên bên phải nhỏ hơn bên trái, và khí âm

282

đang thẳng trớn đi vào nên hữu Quan không thể hiện

mạch Huyền như tả Quan. Nghĩa là lượn sóng huyền

tập trung ở tả Quan vào mùa Xuân.

Đến Trường Hạ đã chuẩn bị sang Thu, khí thấp thuộc

Thổ về Tỳ Vị, lệch về bộ Quan bên phải, vì khí của

tạng Tỳ chỉ huy trọn cả bên phải. Lúc đó khí dương

đã chùn lại để rút vào trong về phía bên phải. Còn

khí âm bên trong cũng đã động nhớm lên để đi ra

ngoài mà lệch về bên trái.

Nửa năm sau thuộc âm, thời tiết thuộc Thấp Thổ,

khí dương vào bên phải khí âm ra bên trái làm cho

khí thế của tạng Gan kém đi, mà khí thế Thấp Thổ

của tạng Tỳ được khí dương hòa nhịp nên hóa ra khí

tượng hòa hưỡn thịnh vượng. Thế là làn sóng hòa

hưỡn thịnh vượn phải chầu về hữu Quan mà mạch bên

283

phải to hơn bên trái.

11. Đây là tổng kết hai thời gian sau Đông Chí 45

ngày, mạch Xích Thốn không nối liền với Quan là

nhất định chết. Nhưng từ Đông Chí qua 45 ngày khí

dương bốc lên lệch ở tả Xích, khí âm chìm xuống

lệch ở hữu Thốn. Từ Hạ Chí qua 45 ngày khí dương

chùn lại lệch ở tả Thốn, khí âm bốc lên lệch ở hữu

Thốn.

12. Ta hãy ngắm kỹ 2 biểu đồ này, phần trong của

(a)cũng là hướng dương ra âm vào trong 6 bộ mạch

của6 tháng dương, trong âm có dương, trong dương

có âm.

Phần trong (b) là hướng âm ra dương vào trong 6 bộ

mạch của 6 tháng âm, trong âm có dương trong dương

có âm.

284

Cả 2 vòng ngoài đứt đoạn của (a) và (b) chỉ là để

tiêu biểu cho cái “không là gì” là phần vô cực là

con người trong bao la.

Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là luận giả muốn nói

với ta: Tất cả vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tam

tài, tứ tượng, ngũ hành, lục khí của cả một kho

tang dịch học đều vốn có sẵn nơi ta và chỉ có quay

về với ta mới chứng thực sự thật của dịch lý là

chính xác nhất.

13. Đây là tổng kết toàn bộ rung động của mạch lạc

cũng như suốt khắp bao la, thâm nhập vào trong

muôn ngàn sự vật. Mới nhìn phớt bên ngoài người ta

thấy hình như chỉ là từng khối, từng cục riêng,

không dính dấp gì nhau. Nhưng khi nhìn tiến sâu vào

sự vật, ta thấy không đâu là không bởi do xâu

285

2 thế mâu thuẫn nhau mà thành. Dần dần ta tiến xa

chút nữa mới thấy rằng sự vật chỉ là thế biến dạng

của hình tròn mà ra hiện tượng bên này giao qua bên

kia, bên kia giao qua tận bên này như thể hình

(b). Rồi ta hãy tiến sâu xa chút nữa ta mới thấy

tất cả bao la sự vật đều chỉ là những hiện tượng

huyễn hóa tổ hợp bằng những hiện tượng li kỳ chuyển

động theo thế đợt sóng âm dương của viên quang hội

tụ rung rinh suốt khắp từ cái bao la không là gì,

không một khe hở như hình tưởng tượng (c), (d). Tuy

là huyễn tượng tổ hợp nhưng không bao giờ trong âm

không có dương, trong dương không có âm.

14. Đây là nguyên lý thể vốn không hai, là hiện

tượng có tính tương đối của toàn bộ cốt tủy dịch

học, mà cũng là mặt thật của tất cả sự vật cũng như

286

con người.

287

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát