Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Cơn Thịnh Nộ Của Huyết Nhãn - P2

CƠN THỊNH NỘ CỦA HUYẾT NHÃN – PHẦN 2

Tác giả: Joseph Delaney

Miel G dịch

CHƯƠNG 18: HAI TIN NHẮN

Chỉ đến khi tiến về cối xay, tôi mới nhớ đến đám

bắt lính và cách một tên trong số bọn chúng đe dọa

là sẽ giết chết chúng tôi. Khi đấy ông Arkwright đã

cười nhạo bỏ qua nhưng tôi thì không tự tin như

thế.

Để tìm ra nơi kẻ trừ tà sinh sống thật dễ quá mà.

Lỡ bọn chúng đã phát hiện ra vị trí cối xay thì sao

nhỉ? Chúng có thể đang rình rập phục kích ngoài

vườn hay trong chính ngôi nhà.

Nhưng sau khi thận trọng băng qua con mương và

kiểm tra toàn diện bên trong cối xay, bao gồm cả

1

căn phòng chứa hai cỗ quan tài, tôi mới thấy mối lo

của mình không có cơ sở. Không tên bắt lính, cũng

chẳng có mụ phù thủy nào. Thế là, dù mệt mỏi vô

cùng, tôi vẫn vác năm thùng muối ra vườn rải xuống

mương, bảo đảm sao cho một lượng lớn muối trôi vào

dòng chảy ra đầm lầy. Tôi cần duy trì độ đậm đặc

của dung dịch để giữ chân mụ Morwena bên ngoài. Con

Vuốt đi theo tôi khi tôi làm việc, rồi nó sủa lên

hai tiếng, chạy vòng quanh tôi ba lần và phóng ra

xa – chắc chắn là bỏ đi săn thỏ rồi.

Tôi cũng lo lắng đến những hố nước dưới cối xay

nữa. Còn phải tính đến con tôm ác quỷ và mụ phù

thủy. Chúng có cần thêm muối để lơ mơ gà gật không?

Nếu bỏ quá nhiều muối thì bọn chúng chết mất, nên

tôi quyết định cứ để yên cho chúng vậy.

2

Trở vào bếp, tôi nhóm lửa trong bếp lò và hong khô

quần áo ướt; cho phép bản thân ngủ một giấc xứng

đáng trước khi nấu một bữa ăn nóng hổi. Xong xuôi,

tôi lên gác, đến căn phòng trên rầm thượng và lục

tìm trong thư viện của ông Arkwright cuốn sách về

Morwena. Tôi chưa đọc hết cuốn ấy và cần tìm hiểu

mọi thứ có thể về mụ. Như thế biết đâu sẽ tạo ra sự

khác biệt giữa sinh và tử. Tôi e ngại đám hồn ma

mạnh đến mức di chuyển được đồ đạc, nhưng lúc này

trời vẫn còn sáng, với lại, dù gì thì, họ là bố mẹ

của ông Arkwright, đang buồn rầu và bị mắc kẹt chứ

chẳng độc ác gì.

Hai cỗ quan tài đặt cạnh nhau và ba chiếc ghế bành

được kéo đến gần bếp lò. Tôi liếc qua đống tro

lạnh trong lò rồi rùng mình vì khí lạnh âm ẩm, buồn

3

bã lắc đầu. Con trai của hai hồn ma này sẽ không

bao giờ còn bầu bạn bên họ nữa.

Tôi chú ý đến những cuốn sách của ông Arkwright.

Kho sách của ông chỉ bằng một phần nhỏ so với thư

viện của Thầy Trừ Tà tại Chipenden, như thế cũng

không có gì là lạ. Thầy tôi không chỉ đã sống lâu

hơn, cho phép thầy có nhiều thời gian để thu thập

và viết sách, mà còn thừa hưởng lượng sách từ bao

thế hệ trừ tà từng sinh sống tại đấy trước thầy.

Những kệ sách của ông Arkwright chứa nhiều tựa về

các đề tài chuyên biệt trong vùng, như là: Quần

thực vật và động vật vùng bắc Hạt, Nghệ thuật đan

giỏ và Các lối mòn và lối tắt vùng sông hồ. Rồi là

những sổ ghi chép của chính ông từ thời còn học

việc cho đến gần đây. Chúng được bọc bìa da, chắc

4

chắn sẽ thật chi tiết về những kiến thức và kỹ năng

mà ông Arkwright đã gặt hái trong quá trình theo

nghề. Cũng có cả cuốn Ngụ ngôn về thú vật, mỏng hơn

một phần tư cuốn của Thầy Trừ Tà nhưng chắc hẳn là

thú vị không kém. Và bên cạnh đó là cuốn sách về

Morwena.

Tôi quyết định mang sách xuống lầu để đọc bên bếp

lò ấm áp. Mới bước một bước ra cửa, tôi thình lình

cảm nhận được cái lạnh ngăn ngắt - lời cảnh báo có

kẻ chết không thanh thản đang đến gần.

Một dáng người hình trụ mang sắc dạ quang bắt đầu

tụ lại giữa tôi và lối cửa. Tôi lấy làm kinh ngạc.

Đa số các hồn ma không xuất hiện trong thời khắc

ban ngày. Có phải là hồn ma của mẹ, bố, hay thậm

chí là của chính ông Arkwright chăng? Những linh

5

hồn còn vương vấn thường bị trói buộc vào xương cốt

của họ hay vào nơi họ lìa đời, cũng có đôi khi hồn

ma buộc phải lang thang. Tôi chỉ hy vọng đấy không

phải hồn ma ông Arkwright. Có vài linh hồn trở nên

rất ích kỷ sau khi chết và đặc biệt căm ghét những

ai đột nhập vào nhà họ. Những hồn ma này vẫn muốn

sống tại đấy. Vài linh hồn thậm chí còn không ý

thức hoàn toàn là mình đã chết nữa chứ. Tôi không

thể không nghĩ rằng ông Arkwright sẽ rất tức giận

khi thấy tôi trong phòng ông ấy, đang đọc lấy một

cuốn sách của ông. Lần đột nhập trước tôi đã phải

hứng chịu mấy vết bầm vết xước. Giờ thì còn gì nữa

đây?

Nhưng đấy không phải là ông Arkwright. Một giọng

phụ nữ vọng đến chỗ tôi. Là hồn ma của bà Amelia,

6

mẹ ông Arkwright.

“Con trai ta, thằng William của ta, chưa chết. Làm

ơn, hãy cứu nó trước khi quá muộn.”

“Cháu rất tiếc, bà Arkwright ạ. Vô cùng lấy làm

tiếc. Cháu ước gì mình giúp được nhưng cháu không

thể. Bà hãy tin lời cháu, con trai bà thật sự đã

qua đời,” tôi đáp, cố giữ giọng mình thật tử tế và

bình tĩnh hết mức, đúng như những gì Thầy Trừ Tà đã

khuyên tôi khi phải đối mặt với kẻ chết không

thanh thản.

“Không! Không đúng thế đâu. Hãy nghe ta nói! Con

trai đang bị xiềng xích trong lòng đất mẹ chờ

chết.”“Sao bà lại biết chứ,” tôi dịu dàng hỏi,

“khi mà bà là một linh hồn bị trói buộc vào chốn

này.”Bà bắt đầu khóc khe khẽ và ánh sáng nhòa đi.

7

Nhưng, ngay khi tôi tưởng bà đã đi hẳn, cột sáng

lại thêm chói lòa và bà khóc lớn, giọng run rẩy:

“Ta nghe thấy điều ấy trong tiếng tru của con chó

đang hấp hối; ta đọc được điều ấy trong tiếng rì

rào của đám sậy ngoài đầm lầy; ta ngửi thấy điều ấy

trong những giọt nước nhỏ giọt từ chiếc bánh xe

gãy. Chúng nói chuyện với ta và giờ đây ta nói lại

với cậu. Hãy cứu lấy con ta trước khi quá muộn. Chỉ

có cậu mới làm được. Chỉ có cậu mới đương đầu nổi

với quyền năng của Quỷ Vương!”

Và rồi, trong tích tắc, cột sáng biến thành một

người phụ nữ. Bà đang mặc chiếc váy mùa hè màu xanh

lơ, tay xách theo làn đầy những đóa hoa mùa xuân.

Bà mỉm cười với tôi và hương hoa đột nhiên tràn

ngập khắp phòng. Đấy là một nụ cười ấm áp nhưng hai

8

mắt bà lại long lanh những lệ.

Thoắt cái bà biến mất. Tôi rùng mình và quay trở

xuống bếp, mãi nghĩ đến những lời vừa rồi. Liệu hồn

ma mẹ ông Arkwright có nói đúng không? Ông vẫn còn

sống à? Dường như không có khả năng lắm. Dấu máu

nọ dẫn thẳng tới mép hồ và ông đã mất cả ủng lẫn

trượng kia mà. Lũ phù thủy hẳn đã lôi ông ấy xuống

nước. Chắc chắn chúng đã thừa cơ kết liễu ông ấy

ngay trong lúc đấy chứ nhỉ? Dù sao thì, ông đã là

kẻ thù của chúng từ rất lâu rồi, cũng đã tiêu diệt

biết bao nhiêu đồng bọn của chúng.

Còn về hồn ma đáng thương kia, chắc là bà ấy chỉ

đang quẫn trí. Chuyện này đôi khi cũng xảy ra cho

những linh hồn bị trói buộc vào dương thế. Lý lẽ

phải trái trong họ đã tiêu tán. Ký ức vụn vỡ và trở

9

nên xơ xác te tua.

Lòng ngổn ngang rúng động, tôi nghĩ về tình hình

lúc bấy giờ. Tôi cho là mụ Morwena và lũ phù thủy

sẽ chưa đến đây đâu. Khi chúng đến, hy vọng con

mương sẽ kìm chân chúng lại – nhưng được bao lâu

chứ? Nếu may mắn, Alice và Thầy Trừ Tà sẽ có mặt

trước lúc ấy. Kề vai sát cánh bên nhau, chúng tôi

có thể tiêu diệt Morwena vĩnh viễn. Đương nhiên tôi

biết là một mình tôi không có khả năng làm nổi

chuyện này. Sau đó chúng tôi sẽ quay về Chipenden,

bỏ lại sau lưng cái chốn đầy sông, suối và đầm lầy

khủng khiếp này. Tôi hy vọng Thầy Trừ Tà không quá

tức giận vì việc Alice sử dụng gương. Chắc thầy

phải thấy việc ấy là chính đáng chứ nhỉ?

Tôi vừa cầm sách lên đọc thì nghe thấy tiếng

10

chuông vọng xa xa. Tôi dỏng tai lên nghe: chập sau,

tiếng chuông lặp lại. Khi chuông ngân lên lần thứ

năm và cũng là lần cuối cùng, tôi biết là ông

Gilbert đang ở dưới kênh và đến giao hàng.

Hẳn ông ấy thường rung chuông khi Arkwright vắng

nhà vì công việc. Nếu tôi cứ ở lì trong cối xay,

chắc ông ấy sẽ tiếp tục đi xuôi dòng kênh, nghĩ

rằng lần sau đi ngang qua sẽ ghé lại. Nhưng ông

Gilbert chưa biết ông Arkwright đã chết, và vì

Gilbert có vẻ thật tình thích ông Arkwright, nên

tôi thấy mình phải có bổn phận thông báo tin buồn

cho ông biết. Dù sao thì cũng khá là an toàn mà. Mụ

Morwena hẳn là còn cách đây hàng bao nhiêu dặm,

trong khi tôi có thể vui lên khi được trông thấy

một gương mặt thân thiện.

11

Thế là, tay mang theo trượng, tôi cất bước đi

xuống dòng kênh. Hôm ấy là một buổi chiều rực rỡ

với mặt trời đang tỏa sáng. Ông Gilbert đang xuôi

về phía nam và chiếc sà lan đang neo bên bờ kia con

kênh. Trông thuyền như chìm thật sâu dưới nước,

cho thấy thuyền chất nặng hàng hóa. Có ai đó đang

chải lông cho mấy con ngựa. Là một cô gái trạc tuổi

tôi, mái tóc vàng óng ánh dưới ánh mặt trời – chắc

là con gái ông Gilblert. Ông đang đứng trên đường

xe kéo vẫy vẫy tay với tôi và chỉ vào cây cầu gần

nhất, cách chừng trăm thước về phía bắc. Tôi băng

qua cầu rồi đi đến sà lan.

Đến gần hơn, tôi thấy người chở sà lan đang cầm

một phong thư. Ông nhướng mày. “Có chuyện gì không

ổn à?” Ông hỏi. “Cậu trông bí xị thế Tom. Không

12

phải Bill đang hành hạ cậu ra trò đấy chứ?”

Chẳng có cách nào dễ dàng để giải thích những

chuyện vừa xảy ra nên tôi nói thẳng, “Cháu có tin

xấu đây ạ, ông Arkwright đã chết. Ông bị mụ thủy

phù thủy trên vịnh bắc sát hại. Có lẽ giờ chúng

đang truy đuổi cháu, nên bác nhớ cẩn thận khi đi

trên sông nước nhé. Ai mà biết chúng sẽ xuất hiện ở

đâu và khi nào chứ.”

Ông Gilbert sững sờ. “Đúng là ai mà biết được!”

Ông thốt lên. “Quả là một nghề kinh khủng. Mọi

người sẽ rất tiếc thương Bill, còn tôi thì thấy lo

cho Hạt khi Bill đã ra đi như thế.”

Tôi gật đầu. Ông Gilbert nói phải. Sẽ chẳng có ai

thay thế ông Arkwright. Những người có năng lực

trong nghề của chúng tôi còn ít ỏi lắm. Khu vực

13

miền bắc thành phố Caster sẽ trở nên nguy hiểm hơn

nhiều. Đây đúng là một chiến thắng mang ý nghĩa lớn

lao cho thế lực bóng tối.

Thở dài tiếc nuối, ông Gilbert đưa tôi phong thư.

“Thư của thầy Gregory,” ông lặng lẽ bảo. “Thầy đưa

cho tôi tại Caster lúc sáng.”

Thư đề gửi cho tôi bằng nét chữ viết tay. Để đến

được Caster nhanh như thế, hẳn thầy tôi và Alice đã

băng qua rặng đồi đá gần như ngay lập tức và đi

thâu đêm như tôi. Nghĩ đến đấy, tôi nhẹ cả người.

Nhưng sao Thầy Trừ Tà không đi tiếp đến thẳng cối

xay? Lẽ ra thầy đã có thể đi nhờ sà lan – mặc dù

bấy giờ sà lan đang neo ở bờ kênh bên kia, như thể

nó vừa từ phương bắc xuống chứ không phải từ Caster

lên vậy. Rồi tôi nhận ra ắt là ông Gilbert đã đưa

14

mấy chú ngựa vòng theo đường cầu sang bờ bên này để

bây giờ ông xuôi về nam. Tôi xé mở phong thư và

đọc:

Bảo Arkwright thôi hướng dẫn con vài ngày. Ông

Gilbert sẽ mang con đến Caster an toàn, ta chờ con

tại đấy. Chuyện này vô cùng cấp bách. Ngay trung

tâm thành phố, gần con kênh, ta đã tìm thấy thứ vô

cùng hữu dụng cho cuộc chiến chống lại thế lực bóng

tối của thầy trò ta. Thứ này liên quan trực tiếp

đến con đấy.

Thầy của con

John Gregory

Thầy Trừ Tà dường như không biết Bill đã chết,

nên, hoặc là Alice chưa nói cho thầy, hoặc vì lý do

nào đấy mà thầy vờ tỏ ra như bình thường. Và vì

15

thầy đã không đến thẳng cối xay đối phó với

Morwena, tôi liền hiểu thứ được tìm thấy ở Caster

phải rất đặc biệt.

“Cậu lên thuyền đi,” ông Gilbert bảo, “à, trước

hết tôi muốn cậu gặp một người. Con trai tôi bận ở

nhà làm việc nhà, còn con gái tôi đang đi cùng tôi

đây. Con gái, lại đây nào, lại mà gặp cậu Tom này,”

ông gọi lớn.

Cô gái dừng chải mà ngẩng lên. Chẳng buồn quay

lại, cô giơ tay vẫy vẫy, chẳng tỏ vẻ gì là muốn làm

theo lời bố cả.

“Con bé nhút nhát lắm,” ông Gilbert nhận xét. “Cứ

để nó như thế đi. Chắc chắn chốc nữa nó sẽ lấy được

can đảm và trò chuyện với cậu thôi.”

Tôi ngập ngừng. Để Vuốt lại cối xay chắc không sao

16

– bây giờ nó có thể tự bảo vệ được mình. Tôi cũng

yên tâm khi phải bỏ lại túi đồ, nhưng với món quý

giá nhất cất trong túi đó thì không – là sợi xích

bạc. Ai mà biết thầy trò tôi sẽ đối mặt với thứ gì

ở Caster kia chứ? Sợi xích là một món vũ khí lợi

hại nếu đương đầu với thế lực bóng tối – nhất là lũ

phù thủy – nên tôi không muốn xa rời nó.

“Cháu cần quay lại cối xay lấy đồ đã,” tôi bảo ông

Gilbert.

Ông cau mày, lắc đầu. “Chúng ta không có thời

gian. Thầy cậu đang chờ và chúng ta phải đến Caster

trước khi trời tối.”

“Sao bác không khởi hành đi, rồi cháu sẽ đuổi theo

bác.”

Tôi có thể khẳng định là ông Gilbert không thích

17

như vậy, nhưng những gì tôi vừa đề nghị là hoàn

toàn hợp lý. Vì phải kéo theo sà lan nặng nề, mấy

chú ngựa thường nhẩn nha nhẩn nhơ với tốc độ tương

đối chậm. Tôi sẽ bắt kịp, đi ké thuyền và nghỉ ngơi

suốt chặng hành trình còn lại.

Tôi lễ phép mỉm cười với ông Gilbert rồi co giò

chạy đi. Loáng sau tôi đã băng qua cầu và phóng như

bay dọc theo bờ sông về phía cối xay. Khi bước vào

bếp, tôi choáng hết cả người. Alice đang ngồi trên

ghế gần bếp lò, Vuốt ở cạnh bên, thoải mái gác mõm

lên mũi giày nhọn của cô.

Alice ngước lên, mỉm cười với tôi và vỗ về đầu con

Vuốt. “Con này sắp sinh con,” Alice bảo. “Tớ đoán

là hai đứa đấy.”

Tôi mỉm cười đáp lại cô bạn, vừa mừng vừa an tâm

18

khi gặp lại cô. “Nếu là thế thì con bố đã chết

rồi,” tôi nói, nụ cười vụt biến mất. “Mụ Morwena đã

giết nó cũng như chủ của nó. Tình hình xấu lắm,

Alice à. Vô cùng xấu. Cậu không biết là tớ mừng thế

nào khi gặp cậu đâu. Nhưng sao cậu không ở Caster

với Thầy Trừ Tà vậy?”

“Caster à? Tớ chẳng biết chuyện ấy. Lão Gregory đã

đi Pendle hơn một tuần trước. Ông ấy bảo là đến

tháp Malkin. Ông sẽ tìm trong mấy cái rương của mẹ

cậu để xem chúng có chứa thông tin gì về Quỷ Vương

hay không. Khi tớ trò chuyện với cậu qua gương thì

ông ấy vẫn chưa về, nên tớ để lại lời nhắn cho ông

ấy rồi đi đến đây. Tớ biết là cậu cần trợ giúp

gấp.”

Tôi hoang mang, đưa cho Alice lá thư của Thầy Trừ

19

Tà. Cô đọc qua thật mau rồi nhìn lên, gật gù. “Cũng

phải đấy,” cô nói. “Rất có khả năng Lão Gregory đã

tìm thấy thứ quan trọng nên vội từ Pendle đi thẳng

đến Caster. Thế thì ông ấy chưa biết chuyện ông

Arkwright, phải không nào? Ông ấy chỉ gửi tin nhắn

đến cối xay kêu cậu khởi hành.”

“Sém chút cậu đã không gặp được tớ rồi, Alice à.

Lúc này ông Gilbert đang chờ tớ. Tớ chỉ quay về lấy

sợi xích bạc thôi.”

“Ôi Tom!” Alice đứng lên đi về phía tôi, vẻ mặt lo

lắng. “Tai cậu sao thế? Trông đau lắm đấy! Tớ có

thứ giúp ích được đây...” Alice cho tay vào túi

thảo dược.

“Không cần đâu Alice, lúc này nào có thời gian và

thầy thuốc bảo là sẽ không sao. Đấy là chỗ mụ

20

Morwena móc vuốt vào để lôi tớ xuống vũng lầy. Con

Vuốt đã cứu mạng tớ. Không có nó thì tớ đã tiêu

tùng.”

Tôi mở túi đồ lấy sợi xích ra, quấn xích ngang eo,

giấu dưới lớp áo choàng. “Tại sao cậu không đi

theo dòng kênh từ Caster để đến đây? Đấy là đường

ngắn nhất.”

“Không đâu,” Alice đáp. “Nếu cậu hiểu rõ thì đấy

không phải là đường ngắn nhất. Trước tớ có bảo tớ

rành nơi này mà, đúng không? Một năm trước khi gặp

cậu, Lizzie Xương Xẩu có mang tớ lên đây và chúng

tớ ở lại ven đầm lầy cho đến khi ông Arkwright từ

một trong những chuyến hành trình quay trở về, thế

là bọn tớ phải đi chỗ khác. Mà thôi, tớ rành khu

đầm lầy ấy như lòng bàn tay mình vậy.”

21

“Tớ cho là ông Gilbert sẽ không nề hà gì nếu cậu

đi cùng. Nhưng chắc ông ấy đã khởi hành rồi và bọn

mình phải đuổi theo thôi.”

Khi Vuốt theo chúng tôi ra vườn, Alice lắc đầu.

“Để nó đi cùng chúng ta đến Caster không hay đâu.

Thành phố không phải là nơi dành cho chó. Tốt hơn

nó nên ở lại đây, nơi nó có thể sống dựa vào mảnh

đất này.”

Tôi đồng ý, tuy nhiên, Vuốt hoàn toàn bỏ ngoài tai

lệnh ”ở lại đây” của Alice, cứ lững thững đi theo

chúng tôi mãi cho đến lối mòn cạnh con suối.

“Cậu bảo nó đi Tom. Có lẽ nó sẽ nghe lời cậu. Dù

sao thì giờ nó là chó của cậu mà!”

Của tôi ư? Tôi đã không nghĩ đến điều này. Tôi

không thể tưởng tượng ra là Thầy Trừ Tà lại muốn có

22

một con chó ở cùng chúng tôi tại Chipenden. Dù

vậy, tôi vẫn quỳ bên cạnh Vuốt mà vỗ vỗ đầu nó.

“Mày ở lại nhé! Ở lại!” Tôi ra lệnh. “Bọn tao sẽ

sớm quay về.”

Vuốt rên rỉ rồi đảo tròn mắt. Cách đây chưa lâu

tôi còn sợ nó phát khiếp, thế mà giờ tôi lại thấy

buồn khi phải bỏ nó lại. Nhưng tôi nào có nói dối.

Trên đường đi xử lý mụ Morwena, chúng tôi sẽ quay

lại đây.

Ngạc nhiên làm sao, Vuốt nghe lời tôi mà dừng lại

bên lối mòn. Chúng tôi chạy chầm chậm ra đến dòng

kênh. Sà lan vẫn còn chờ đấy.

“Con bé kia là ai vậy?” Khi chúng tôi đi về phía

cầu, Alice hỏi.

“Là con gái của ông Gilbert. Cô ấy nhút nhát lắm.”

23

“Tớ chưa bao giờ thấy con nhỏ nào nhút nhát mà lại

có màu tóc như thế,” giọng Alice có chút cay độc.

Thật ra tôi cũng chưa từng gặp cô gái nào có màu

tóc ấn tượng như con gái ông Gilbert. Trông sáng

rực và sống động hơn tóc của chị Ellie, vợ anh Jack

nhiều, mà tôi thì luôn nghĩ tóc chị ấy đẹp vô

cùng. Nhưng trong khi tóc chị Ellie mang màu rơm

loại thượng hạng được gặt ba ngày sau một mùa vụ

bội thu, mái tóc này lại có màu vàng kim đặc biệt,

giờ đang bừng sáng rực rỡ dưới ánh mặt trời.

Cô gái vẫn đang chải lông cho ngựa và chắc là thấy

thoải mái khi làm việc này hơn là phải trò chuyện

với người lạ. Có những người như thế đấy. Bố tôi

từng kể có lần ông làm việc với một nhân công nông

trại chẳng thèm đoái hoài gì đến người ta nhưng lại

24

suốt ngày trò chuyện với thú vật.

“Thế cô bé này là ai?” Khi chúng tôi bước lên sà

lan, ông Gilbert hỏi.

“Đây là Alice ạ,” tôi giới thiệu. “Cô ấy ở cùng

thầy trò cháu tại Chipenden và chép lại những cuốn

sách của Thầy Trừ Tà. Cô ấy đi cùng chúng ta trên

sà lan được không ạ?”

“Có sao đâu nào,” ông Gilbert mỉm cười, mắt liếc

xuống đôi giày mũi nhọn của Alice.

Chốc lát sau, cả hai chúng tôi đã lên thuyền, con

gái của người chở sà lan không đi đến chỗ chúng

tôi. Việc của cô ấy là dẫn mấy chú ngựa xuống đường

xe kéo trong khi bố cô nghỉ xả hơi trên sà lan.

Bấy giờ đã là xế trưa, nhưng thật thư thái làm sao

khi được lướt theo dòng kênh đi về Caster trong

25

ánh nắng chiều. Tuy vậy, ý nghĩ phải đi vào thành

phố ấy làm tôi linh tính thấy có lắm điềm gở. Trước

nay thầy trò tôi luôn tránh xa Caster vì nguy cơ

bị bắt và cầm tù trong lâu đài. Tôi thắc mắc chẳng

biết thầy mình đã tìm ra thứ gì mà quan trọng đến

vậy.

26

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát