Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Danh Nhân Đất Việt

Nhà sử học lỗi lạc

Lê Văn Hưu

Lê Văn Hưu người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn,

tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã Triệu Trung, huyện

Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).

Theo lời các cố lão địa phương thì đất Triệu Trung

vốn là trang trại của vị tổ khai sáng dòng họ Lê -

quan Trấn quốc bộc xạ Lê Lương thời Đinh Tiên

Hoàng, đến nay đã được hơn hai mươi đời. Lê Văn Hưu

là ông tổ thứ bảy của dòng họ này. Cuốn Lê thị gia

phả hiện còn được bảo tồn, ghi ông sinh năm Canh

Dần (1230) là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông

minh.

Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang

làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái

1

để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới

tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế

đối để thử tài:

Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi

phì phò đúc nên dùi vở.

Lê Văn Hưu liền đối:

Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi

mà đậu khôi nguyên.

Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi mãi rồi tặng luôn

một cái dùi thật xinh, lại kèm theo ít tiền để mua

giấy bút.

Năm Đinh Mùi, Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng Nhãn. Đây

là khoa thi đầu tiên ở Việt Nam có đặt danh hiệu

tam khôi (ba người đỗ đầu: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn,

Thám Hoa). Năm ấy, ông vừa tròn 18 tuổi.

2

Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan

(chức quan trông coi việc hình luật), rồi Binh bộ

Thượng thư, rồi Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử

Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của thượng tướng

Trần Quang Khải, một trong những danh tướng của

cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.

Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm

1272, ông đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử

ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi lại

những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời

gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức

Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) (*) cho tới

Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển,

được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.

Đại Việt sử ký nay không còn, nhưng vẫn có thể

3

thấy được thấp thoáng bóng dáng bộ quốc sử đầu tiên

này trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên, sử

thần đời Lê, người khởi đầu việc biên soạn Đại

Việt sử ký toàn thư, đã căn cứ vào Đại Việt sử ký

của Lê Văn Hưu, tiếp đó là Đại Việt sử ký tục biên

của Phan Phu Tiên để biên soạn những phần liên

quan. Trong bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn

thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử

giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh

triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước

nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp

thành sách để cho người xem đời sau không có gì

phải tiếc nữa, thế là được rồi". Tiếp đó, Ngô Sĩ

Liên nói rõ, ông đã đem "hai bộ sách của tiên hiền"

(tức là Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên)

4

ra "hiệu chỉnh, biên soạn lại, thêm vào một quyển

Ngoại kỷ, thành một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký

toàn thư". Như vậy, khó có thể phân định được đích

xác đâu là nguyên văn Đại Việt sử ký trong bộ quốc

sử lớn đời Lê này. Tuy vậy, rất may là trong Đại

Việt sử ký toàn thư hiện đang lưu hành vẫn còn có

29 đoạn ghi rõ là lời văn của Lê Văn Hưu với mấy

chữ " Lê Văn Hưu viết ". Qua nhưng trích đoạn đó,

có thể thấy được phần nào khuynh hướng cũng như sắc

thái ngọn bút chép sử của ông. Trân trọng công lao

đánh giặc giữ nước của Tổ tiên, ông đã nhận định

về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng với những lời

lẽ rất mực hào hùng: " Trưng Trắc Trưng Nhị... hô

một tiếng mà các quận Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố

cùng sáu mươi nhăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng

5

ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn

tay...". Đoạn ông ca tụng Ngô Quyền cũng thấm đượm

lòng tự hào sâu sắc trước thắng lợi huy hoàng của

dân tộc: " Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp

của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của

Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người

phương Bắc không dám sang nữa. Có thể nói là một

lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng

giỏi vậy... ". Quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của

nhân dân, ông cũng đã nghiêm khắc phê phán những

hành vi bạo ngược, trái đạo lý của vua chúa, như

đoạn nhận xét về cấm lệnh " không cho con gái nhà

quan lấy chồng trước khi dự tuyển vào hậu cung" của

Lý Thần Tông (1128 - 1137), chẳng hạn: "Trời sinh

ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để cung

6

phụng riêng cho vua. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con

cái có gia thất; thánh nhân thể lòng ấy còn sợ kẻ

sát phu sát phụ không được có nơi có chốn... Thần

Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong

việc tuyển người vào cung rồi mới được lấy chồng,

thế là để cung phụng riêng cho mình, đâu phải là

tấm lòng của người làm cha mẹ dân!".

Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng Ba năm Nhâm Tuất

(1322), táng ở cánh đồng xứ Mả Giòm (thuộc địa phận

xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).

Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm

Tự Đức thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài

minh ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông.

Giáo sư Đặng Đức Siêu

------------------------------------

7

* Khoảng trước năm 179 trước Công Nguyên, Triệu Đà

xâm lược nước Âu Lạc của dân tộc Việt rồi sáp nhập

vào nước Nam Việt. Lê Văn Hưu, sau đó là các nhà

sử học Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng

Triệu Đà là vua nước Việt, xếp "kỷ nhà Triệu" như

một triều đại chính thống trong lịch sử Đại Việt.

Đây là một sự nhầm lẫn. Đến thế kỷ 18, Ngô Thì Sỹ

(1726-1780) trong cuốn "Việt sử tiêu án" mới bác bỏ

sai lầm này, khẳng định Triệu Đà "thực chưa từng

làm vua nước ta" vì "nước Việt ở miền Nam Hải, Quế

Lâm" không ở vị trí nước Việt Nam ngày nay.

8

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát