Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Đêm Thánh Vô Cùng

TẬP TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC

Sương Nguyệt Minh

MƯỜI BA BẾN NƯỚC

1.

Tôi lấy vợ mới cho chồng.

Một chuyện lạ chưa từng xảy ra ở làng Yên Hạ. Cô

dâu là bạn thân của tôi đã quá lứa lỡ thì. Cô ấy

đang cần tấm chồng và khao khát một đứa con hợp

pháp. Tôi làm bà mối, tôi cùng nhà trai đi ăn hỏi,

đi xin cưới, đi rước dâu.

Đám cưới có vui, có buồn, có sượng sùng. Và đúng

lúc cô dâu mới vào buồng hạnh phúc thì tôi lặng lẽ

ra lối cửa sau đi tắt qua vườn. Túi đồ ôm vào lòng,

vừa đi vừa khóc, tôi chạy cùn cụt ra bến nước, ới

đò sang sông về nhà với mẹ.

1

Người ta ví: Con gái mười hai bến nước. Tôi khốn

nạn hơn những người đàn bà khác. Tôi những mười ba

bến nước.

2.

Tôi sinh nở lần đầu vào một buổi trưa.

Tháng năm âm lịch, cuối vụ gặt, tôi đem cơm ra

đồng cho thợ. Cào cào, muồm muỗm dồn đến đám lúa

cuối cùng nhiều quá. Thợ gặt bỏ liềm hái vồ tới

tấp. Tôi cũng đạp gốc rạ lội sọp sọp đến chộp. Tự

nhiên, bụng đau lâm râm, rồi cồn lên dữ dội. Tôi

vội bỏ nắm cào cào đã vặt càng vào nón và ôm bụng.

Ch¬¬ưa kịp lên bờ thì ối vỡ, nước ối chảy ư¬ớt sũng

hai ống quần. Tôi ới chồng. Anh bỏ đon lúa đang bó

dở, hốt hoảng chạy đến bế tôi lên bờ. Mẹ chồng

quýnh quáng sai đứa cháu gọi bà đỡ đẻ. Nhưng không

2

kịp, tôi đẻ ngay trên bờ ruộng ẩm ướt ngổn ngang

lúa tươi và cuống rạ vừa mới cắt.

- Ôi giời cao... đất dày ơi... - Mẹ chồng tôi gào

lên và xỉu ngay bên đon lúa.

Tôi chỉ kịp cố gồng sức ngẩng lên nhìn xuống giữa

hai háng mình, rồi ngật đầu sang một bên.

Mãi mãi, không bao giờ tôi quên được tiếng mẹ

chồng kêu và cái cục thịt tôi đã đẻ ra ấy. Mẹ chồng

tôi líu lưỡi, giọng hoảng loạn, kinh hoàng. Cục

thịt đỏ hỏn chỉ có cái miệng tròn tối om, há ra

ngậm vào như cá mắc cạn ngáp lúc sắp chết. Thợ gặt

chân tay xước sát lấm bùn đất, đứng, quỳ châu quanh

tôi.

- Về lấy cái liễn sành, bỏ Nó vào đem đến gò Mã

Giáng mà chôn.

3

Tiếng người láo pháo.

- Đừng... Đặt Nó lên bè chuối cho trôi sông.

Và xa gần bước chân đạp trên gốc rạ lẫn tiếng lội

nước gấp gáp ọp ọp.

Tôi không ra khỏi nhà. Lúc nào mắt cũng đỏ hoe.

Chồng tôi ít nói. Anh lầm lì, nâng giấc, săn sóc

tôi như chăm bẵm con nhỏ. Mẹ chồng nhìn con dâu

tiều tụy quá, nước mắt bà ứa ra. Mẹ chồng rất

thương tôi, mẹ chồng nàng dâu mà y như mẹ đẻ và con

gái. Tôi vừa nấc vừa nói, giống hệt đứa bé gái

ngoan bị đòn oan.

- Bu ơi, sao... con... đến nỗi này?

Mẹ chồng tôi thở dài.

- Nhà ta đời đời ăn ở hiền lành, có ác với ai bao

giờ đâu mà để tội để nợ cho con.

4

Chồng tôi đang xách siêu thuốc bắc. Anh giật mình,

đánh rơi bộp xuống nền nhà. Siêu vỡ, nước thuốc

vàng sẫm chảy lênh láng, hơi nước bốc khói mù mịt.

Tôi thường mất ngủ. Trong giấc mơ đêm tối trời,

tôi thấy đám thợ gặt đội nón mê, ngồi bệt xuống cỏ

hút thuốc lào chờ cho Nó hết ngáp. Rồi họ bỏ Nó vào

cái liễn sành màu da lươn, đậy nắp đem đến gò Mã

Giáng chôn. Lại có đêm tôi mơ thấy Nó trên bè chuối

thả trôi ở bến nước sông Hoàng Long. Và con Thuồng

Luồng tóc đen dài xoã sượi, vai trần trắng, vú

căng mẩy như vú con gái, nhưng mình rắn, bàn chân

tay nhái có màng mỏng bơi đến đẩy bè chuối vào bờ.

Tôi vùng vẫy, hò hét “Trả con tôi. Trả con tôi

đây...”. Tỉnh dậy, mới biết mình đang trong vòng

tay chồng. Người lạnh toát, mồ hôi vã ra. Vai áo

5

chồng cũng đẫm mồ hôi, anh đã rất vất vả giữ tay

chân vợ vùng vẫy trong giấc mơ...

3.

Tôi nhớ, mùa hè năm Giáp Thìn. Trời không mưa,

nhưng nước thư¬ợng nguồn đổ về một tuần liền. Quê

tôi lụt to. Nư¬ớc cuốn rều rác, cành tư¬ơi, củi khô

cuồn cuộn. Nửa đêm, vỡ đê sông Hoàng Long. Nước

réo ồ ồ. Chó tru. Gà quác. Trâu, bò phá gióng. Dê

phá chuồng kêu khản giọng. Dân kinh hoàng, nháo

nhác chạy lụt như¬ chạy loạn. Tôi chỉ kịp trèo lên

cây đa đầu làng. Suốt đêm ở ngọn cây, gọi mẹ ời ời;

lo lũ cuốn thì ít, lo con Thuồng Luồng bắt kéo

xuống nư¬ớc thì nhiều.

Đêm trăng suông. Cây đa gồng mình chống chọi lũ

xiết. Tôi đói, kiệt sức. Nửa đêm, n¬ước xói bật gốc

6

cây đa, tôi bị lũ cuốn theo.

Sáng hôm sau, tỉnh dậy, thấy mình nằm trơ trơ trên

gò Thuồng Luồng. Xung quanh nước réo ùng ục. Đám

đông đứng ngồi lố nhố. Tiếng người nói lao phao.

Con Vện cắn nhanh nhách, nghe sốt ruột. Mẹ tôi

cư¬ời mếu máo, bảo “Con Thuồng Luồng vớt mày ở bến

nư¬ớc đưa lên đây đấy, con ạ”. Tôi ngạc nhiên

quá...

Năm tôi mười sáu tuổi, có ông giáo sư sử học dẫn

sinh viên về điền dã ở làng. Họ thuê bọn đánh dậm

chúng tôi đến đào đất khai quật gò con Thuồng

Luồng. Tôi nhận ra anh Tào người làng Yên Hạ trong

số người lạ này. Anh Tào có vẻ rất mến và hay trêu

đùa tôi. Đào, bới, cả tuần chẳng có gì chỉ thấy vỏ

hà vỏ hến, xương động vật và một tấm ván thôi. Lúc

7

lấp đất, anh Tào cầm cái nộm rơm giống hình con gái

quẳng xuống hố. Tôi hỏi.

- Anh Tào làm cái gì đấy?

- Tao yểm. Đó là cốt đứa con gái, hồn con Thuồng

Luồng. Đứa nào yêu tao mà bỏ thì phát điên, thành

con Thuồng Luồng.

Những người lạ bật cười. Còn tôi vừa ngượng chín

mặt vừa ngơ ngác. Về sau, yêu nhau rồi, tôi hỏi về

cái nộm rơm ấy, anh chỉ cười cười bí ẩn, không nói.

Lại ồn: Vào một đêm trăng. Sương mù bay la đà mặt

sông. Sóng óc ách vỗ vào hang núi. Thằng ăn trộm

người làng Yên Hạ về khuya, đò nghỉ. Hắn định cởi

áo, đội gói đồ ăn trộm lên đầu bơi qua sông thì

thuyền đánh cá đêm chở đầy sương mù chui từ trong

8

hang nước ra, lướt nhẹ đến. Cô gái khoác hờ cái áo,

ngồi phía đuôi thuyền, bảo “Anh lên đi. Tôi chở

qua sông cho.” Thằng trộm ôm đồ nhảy xuống thuyền.

Ra giữa sông vắng vẻ, thấy thuyền chỉ một mình cô

gái, hắn dở trò sàm sỡ. Cô gái nhảy tòm xuống sông.

Thằng trộm kịp nhận ra cô ta chỉ có phần ngực trở

lên là giống người, còn thân mình rắn, bàn chân tay

nhái có màng. Hoảng quá, hắn biết vừa chạm phải

con Thuồng Luồng. Chưa biết xoay sở ra sao thì cô

gái nhô cả vai trần và bầu vú lên khỏi mặt nước.

Đôi tay nhái bám lệch mạn thuyền. Nước ào vào,

thuyền đắm. Thằng ăn trộm bị dìm uống no nước sông,

rồi được đẩy lên bờ. Run quá, hắn co chân chạy thì

tiếng gọi giật sau lưng “Anh gì ơi, của anh này.”

Hắn quay lại. Vẫn cô gái ban nãy, nhưng mặc gọn

9

ghẽ, áo khô, quần khô sắn tận gối lộ bắp chân tròn

trắng. Gói đồ hắn thó trộm bỏ quên dưới thuyền cũng

khô nguyên, cô ta đưa cho hắn rồi chèo thuyền chui

luôn vào sương mù. Chẳng thấy con Thuồng Luồng

đâu. Hãi quá! Từ đêm đó, thằng trộm mất hồn, ngơ

ngẩn đến nửa năm...

Thuồng Luồng và bến n¬ước như làn sương mù huyền

thoại, bí ẩn vô cùng với tuổi thơ tôi.

4.

Chồng tôi tên Lãng, bộ đội thời chiến nghỉ phép

trước ngày ra mặt trận. Anh chư¬a muốn cưới vợ,

những ngày đầu đi chơi loăng quăng, gần hết phép,

mẹ giục quá mới nháo nhào tìm. Lúc đó, tôi chưa hết

buồn vì tin người yêu chết ở chiến trường thì gặp

anh.

10

Đám rước dâu bằng thuyền. Cập bến, mọi người lên

bờ, đứng chờ tôi lấy nậm nước đem về rửa chân mẹ

chồng. Cái lệ này có từ bao giờ tôi chẳng biết.

Người ta bảo: Mẹ chồng nàng dâu vốn truyền đời xung

khắc. Con dâu mới múc nước rửa chân mẹ chồng để

lấy lòng. Trước lúc rước dâu, mẹ tôi đưa cho cái

nậm nhỏ làm bằng vỏ quả bầu be khô giống cái hồ lô

và dặn những điều cần thiết về làm dâu nhà người.

Người ta hay ví bến đời với bến nước. Con gái mười

hai bến nước. Lúc ấy, tôi chẳng biết mình đang ở

bến thứ bao nhiêu.

Đám rước dâu đi tiếp. Bất chợt, mọi người giật

mình và ồn ào bởi tiếng hô “Thanh niên cả như tôi

thì mất nước.” Tôi nhận ra anh Tào. Trước ngực anh

đeo cái mẹt tròn, quét vôi trắng viết dòng chữ: Tôi

11

là thằng đảo ngũ. Tôi không tin sau cái mẹt kia là

người mình đã từng yêu. Bom đạn mù trời miền Bắc.

Cả trường anh đóng cửa nhập ngũ. Người ta đồn: Anh

chết nơi bom đạn một năm rồi. Nay họ lại nói: Anh

sợ chết, gí đầu nòng súng CKC vào gót chân trái...

bắn. Người thì cãi: Anh Tào lau súng bị cướp cò.

Đơn vị tước quân tịch đuổi, về quê đã mấy ngày rồi.

Xã bắt lao động cải tạo đóng gạch. Chiều tối, dân

quân giải anh Tào đi dong, bêu khắp làng. Anh Tào

chân thọt chấm phẩy đi trước, dân quân khoác súng

K44 nòng rỗ đi sau. Lũ trẻ con lốc nhốc theo sau

nữa đồng thanh hô lại.

- Thanh niên cả như tôi thì mất nước.

Tôi đi bên cạnh chồng, lòng rối bời.

Anh Lãng cưới tôi hôm trước thì ngay hôm sau phải

12

về đơn vị. Anh đi xa không biết ngày nào về. Chồng

tôi cố giấu nỗi buồn vào lòng. Anh chào lần lượt

từng người rồi quay lưng đi rất nhanh, như chỉ sợ

nấn ná sẽ không đi được nữa.

5.

Người vợ xa chồng có trăm ngàn cơ cực, chẳng nỗi

khổ nào giống nỗi khổ nào. Có những đêm dài ghê

gớm, tôi lục sục không ngủ. Nằm một mình ôm gối,

nhớ chồng, trằn trọc chờ sáng. Tôi lôi cái áo cũ

bạc màu của chồng ra ấp vào mặt, nỗi nhớ càng nôn

nao, da diết hơn. Khốn khổ nhất là mấy ngày áp kỳ

kiêng kị sử dụng xô màn của đàn bà. Hai bầu vú tôi

cứng nhưng nhức. Nhũ hoa sân lại. Má đỏ hồng tươi

tắn. Mắt long lanh... Lúc nào cũng chỉ mong chồng

về.

13

Con gái chưa biết hơi trai thì tò mò, rụt rè,

nhưng đã phải hơi trai rồi thì nghiện. Đêm đêm, tôi

nằm tưởng tượng ra đủ điều, vò gối ấp áo vào mặt

tìm hơi chồng. Không chịu nổi lại đổ lúa vào xay,

xay đến sáng, hoặc múc nước giếng khơi đổ ào ào tắm

cho lửa lòng dịu đi, hoặc sang ngủ chung giường

tìm hơi mẹ chồng.

Mẹ chồng tôi biết. Bà đã trải qua những năm tháng

chờ chồng nên hiểu lòng con dâu. Mẹ chồng tôi lặng

lẽ lục tìm trong hòm lấy quần lót cũ của con trai

bỏ vào chã đất rang, tay khoả miệng lẩm bẩm. Bà làm

theo cách riêng nhuốm màu sắc dân gian giúp con

dâu vững lòng lúc con trai mình đi xa.

Làng Yên Hạ của chồng tôi có hai bến tắm. Bến tắm

đàn bà phía đầu nguồn, bến tắm đàn ông phía hạ

14

nguồn, cách nhau vài trăm b¬ước. Bọn con gái cứ để

nguyên áo quần dài, lội dò dẫm ra xa bờ, n¬ước đến

đâu vén áo đến đó, nước dâng qua bầu ngực thì đội

áo lên đầu hoặc cởi ra vo viên ném vèo vào triền

sông. Tôi đã gặp chuyện ầm ĩ ở bến tắm này. Bắt đầu

từ lúc ông xã đội trưởng và hai dân quân bất chợt

nhìn xuống bến thấy đầu tóc con gái loã xoã, vai

trần nhô lên tụt xuống. Lại tiếng quẫy nước um ũm

và cái đầu đàn ông. Cứ ngỡ Thuồng Luồng quần nhau

với người. Té ra là anh Tào với tôi dưới bến nước.

Ông xã đội rất ghét những thằng đảo ngũ, hoặc chân

thọt, mắt chột, tay khoèo, thấp bé nhẹ cân... không

phải ra trận, ở nhà hay chim chuột vợ lính khi họ

đang nơi hòn tên mũi đạn. Vợ ông chửa hoang với

thằng công nhân lái xà lan. Ông ta căm lắm, chuyên

15

rình bắt gái làng ra bến nói chuyện với thợ thuyền

sông nước. Tôi kêu oan.

- Tôi tắm, không may bị chuột rút...

Anh Tào lúng túng, sợ sệt:

- Tôi đánh xe trâu đến đây. Bỗng nghe tiếng người

chết đuối kêu cứu...

Ông xã đội nhếch mép, khinh khỉnh:

- Đã phạm tội tự thương, đào ngũ làm mất thành

tích năm năm “Thóc không thiếu một cân, quân không

thiếu một người” của xã nhà, lại vi phạm chính sách

hậu phương quân đội, làm người lính ở chiến trường

không yên tâm chiến đấu. Còn bịa cả chuyện con

Thuồng Luồng. Từ xưa đến nay, ta chỉ nghe chuyện

Thuồng Luồng cứu người chứ chưa bao giờ nghe chuyện

người cứu Thuồng Luồng. Ta đồ rằng, Thuồng Luồng

16

là đứa con gái nần nẫn này ở dưới nước mày mới nhảy

xuống...

Dân quân dẫn anh Tào và “con Thuồng Luồng” là tôi

về trụ sở uỷ ban xã lập biên bản. Anh Tào vẫn cởi

trần, chỉ mặc quần đùi thập thễnh đi sau. “Con

Thuồng Luồng” mặc quần lụa đen ướt dính bết vào

đùi, không được mặc áo, trên mình chỉ độc cái xu

chiêng ướt sũng nước. Vai “con Thuồng Luồng” trần

rờ rỡ dưới trăng. Đang đi, bỗng dưng ông xã đội cho

“con Thuồng Luồng” đứng lại mặc áo, rồi thả cho

về. Ông bảo “Nể cái thằng lính đang sống chết ở

chiến trường đánh nhau với Mỹ Ngụy, ta tha.” Tôi đi

một đoạn còn nghe ông rủa sau lưng “Rạc rài. Giống

cái là giống bạc tình.”

“Giống cái là giống bạc tình?”. Tôi đã nhìn thấy

17

bờ tre nhà mình: Bầu ngựa đực bụng bé trèo lên lưng

bầu ngựa cái bụng to. Bầu ngựa đực lẹo xong, mệt

quá gác càng, vừa rời lưng bầu ngựa cái, liền nằm

ệch ra. Nó bị ngay đôi kiếm nhiều răng cưa của bầu

ngựa cái bổ vào bụng và móc ra từng miếng thịt

trắng đến tận khi sồi ruột mới thôi. Người ta bảo,

loài bò cạp cũng thế. Chúng nó âu yếm, lẹo nhau

xong, con đực bao giờ cũng mệt hơn vì bị rút hết

sinh khí. Con cái liền quay lại ăn thịt luôn bạn

tình.

Tôi chưa nhìn thấy bò cạp cái ăn thịt bò cạp đực

bao giờ. Chỉ thấy rắn nước ở đầm Vạc. Khi con cái

lột xác, con đực luôn phục ở bên bảo vệ và đi kiếm

mồi về nuôi. Lúc con đực lột xác còn bấy dậy, thì

con cái dẫn con đực khác về tổ. Chúng làm tình với

18

nhau trước mũi con rắn vừa lột xác. Và chén luôn

bạn tình cũ đang bấy bớt, không còn khả năng tự vệ.

Tôi là đàn bà, là giống cái. Người ta cũng coi tôi

là giống bạc tình a?

6.

Chiến tranh kết thúc, chồng tôi về. Nguyên vẹn,

thân thể không sất síu tí nào. Mừng ơi là mừng. Mẹ

con, anh em, vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi

bao nhiêu thì anh Lãng hậm hực bấy nhiêu. Không

biết bằng cách nào, anh Lãng biết người ta ồn vợ

mình trăng gió. Buổi tối, mọi người đến chơi về

hết, nhà tôi lẽ ra vui như tết thì lại buồn hơn đám

ma. Mẹ chồng bảo.

- Bu không giữ được danh tiếng vợ anh.

19

Anh đay nghiến:

- Tôi bao nhiêu năm, bom đạn không chết lại chết

vì điều tiếng thiên hạ.

Đến lượt tôi, giọng sẽ sàng, nhưng hơi lạnh.

- Em là vợ anh. Chỉ anh mới biết em chung thuỷ hay

là không.

Anh Lãng mặt nghệt ra. Rõ ràng anh không ngờ tôi

nói thế. Anh chưa biết sẽ định liệu số phận cuộc

hôn nhân thời chiến rất mong manh của mình ra sao.

Tin vợ hay không là một quyết định không dễ đối với

người lính đã nhiều năm xa nhà...

Đêm ấy, cả làng Yên Hạ không ngủ. Trăng sáng lắm.

Gió núi thổi về mát rười rượi. Bọn choai choai rủ

nhau đi hóng trăng dọc đường làng. Ngoài sông Hoàng

Long, đèn sáng đỏ, tiếng gõ cắc... cắc... vào mạn

20

thuyền thúng đánh cá đêm vọng về. Đêm chồng vợ,

chúng tôi quấn vào nhau như đôi thuồng luồng quần

nhau trong hang nước.

Sáng hôm sau.

Mẹ chồng tôi dậy thật sớm, ngồi ở thềm hè chải

tóc, chốc chốc ngóng vào cửa buồng con dâu. Anh

Lãng bước ra, se sẽ ngồi bên mẹ:

- Hôm qua, con không kìm lòng thì gây án mạng với

thằng Tào đào ngũ rồi, bu ạ. May nhà con nhẫn nhịn.

Suýt nữa tan đàn sẻ nghé.

- Anh nói thế nghĩa là làm sao?

- Bu không nhớ a? Ngày trước, con gần gũi nhà con

chỉ một đêm rồi đi vào Nam đánh giặc. Cái đêm tân

hôn ấy, nhà con đúng kỳ kinh nguyệt. Vợ chồng con

chỉ nằm ôm nhau, rồi khóc...

21

- Anh nói thế nghĩa là đến đêm qua, vợ anh vẫn còn

trinh nguyên?

- Vâng. Vẫn là con gái. Vợ con thì con biết chứ.

Mẹ chồng tôi sững sờ, chẳng nói thêm được câu gì.

Bà không ngờ con trai và con dâu ở hoàn cảnh oái

oăm ấy. Tôi nằm ì trong buồng lúc đó mới ra. Hai

tay vấn tóc. Mắt ngời ngời hạnh phúc. Tôi rụt rè

ngồi bên mẹ chồng. Lúc đó, bà lại lên tiếng:

- Bu cũng không muốn tin. Nhưng chuyện con dạo ấy

thì tình ngay lý gian. Con bỏ qua đừng giận bu,

nhá.- Con không giận ai cả. Con không sợ gì sất.

Con chỉ sợ anh Lãng đi đánh giặc không về. Con vừa

mất chồng lại chẳng có người minh oan cho con.

7.

Tôi sinh nở lần thứ ba, thứ tư vẫn ra cục thịt đỏ

22

hon hỏn. Mẹ chồng tôi đau buồn, và sợ hãi quá, suốt

ngày niệm Phật, đi chùa. Phật vẫn cứ ở đâu đó chưa

hiện về phù hộ chúng tôi. Người ta bảo: Trăm cái

phúc nhà vợ không bằng cái nợ nhà chồng. Đời đời

gia đình chồng tôi ở hiền, nhưng tôi phải gánh nợ.

Vậy cái nợ này ở đâu giáng xuống?

Tôi sinh nở lần thứ năm lại là một bọc có nhiều

cục thịt đỏ, như thuồng luồng đẻ bọc trứng non.

Chúng Nó không phải kiếp người, cũng chẳng phải

kiếp ngợm. Nhưng là các hình hài tôi mang nặng, tôi

dứt ruột đẻ ra. Đến lúc này, dân làng có người ghẻ

lạnh, xa lánh tôi. Tôi mụ mị dở tỉnh dở điên.

Chồng tôi kể lại, có lần tôi bỏ nhà đi lang thang

ra bờ sông Hoàng Long. Rồi nhảy xuống bến nước vớt

những đám lục bình hoa tím nổi nênh trôi. Vớt đặt

23

lên bờ rồi lại vớt, chẳng biết để làm gì... Tôi

cũng chợt nhớ lần đi ra gò Mã Giáng. Gò vắng lạnh.

Dứa dại viền quanh tốt bời bời. Chó hoang chạy lông

nhông kiếm ăn, cắn oăng oẳng. Mèo dại mắt xanh

lét, lông xơ xác, gừ gừ. Tôi đến góc gò phía Bắc,

nơi chôn trẻ con yểu mệnh. Những nấm đất sè sè, nhỏ

nhoi. Chẳng biết nấm mộ nào có liễn sành màu da

lươn.

Tôi ngẩn ngơ đến vãn chiều.

8.

Đêm nước ròng.

Vợ chồng tôi ra vó bè kéo tôm. Đèn ló sáng lấp

loáng. Mắt tôm bắt đèn ánh lên các chấm li ti đỏ

đòng đọc. Kéo một lúc được lưng lưng giỏ. Mệt, tôi

để cho chồng kéo rồi xách chiếu manh vào lều cỏ.

24

Anh Lãng làm cái lều dưới chân gò Thuồng Luồng để

coi vó. Lúc mệt hoặc tôm cá không đi thì gác vó,

lên lều đánh một giấc đến tận rạng đông, nghe tiếng

láo pháo của người đi chợ sớm mới dậy. Chẳng biết

từ bao giờ, người đi chợ, đi kéo vó, mò tôm... qua

đây, ai cũng nhón một hòn đất bỏ lên gò. Bao nhiêu

đời rồi, gò cứ rộng ra và cao lên như quả đồi con.

Gió nồm hiu hiu. Bốn gọng vó thỉnh thoảng thả

chọp... chọp... xuống bến. Mắt tôi díp lại, mơ

màng... Nửa đêm về sáng, tôi giật mình bởi tiếng

đàn bà gọi:

- Đò ơi....ơi! Cho mẹ con tôi sang sông vớ....i.

Tiếng gọi đò rõ mồn một. Rồi lại tiếng kêu.

- Trả con cho tôi. Trả con tôi đâ... ây...

Tiếng gọi, tiếng hời vọng vào đêm khuya vắng lặng.

25

Bỗng dưng, một người đàn bà bước đi nhẹ như gió

thoảng từ đỉnh gò xuống.

- Người ta bắt con tôi đem trôi sông. Làm ơn cứu

con tôi với.

Tôi nhận ra người quen:

- Chị Sao này mê rồi. Chưa bao giờ chị có con.

Tỉnh lại đi.

- Các con tôi đang trôi dưới bến nước kìa. Làm ơn

vớt chúng nó lên với.

Tôi nhìn xuống bến. Một màu trăng bàng bạc. Sương

giăng mờ ảo. Tôi bàng hoàng không tin ở mắt mình:

Anh Tào đào ngũ! Thật rồi, anh Tào đang đặt những

hài nhi đỏ hon hỏn lên mấy cái bè chuối và dùng tay

đẩy ra xa bờ. Các bè chuối quay tròn, nhẩn nha

trôi... Rồi chị Sao nhảy ùm xuống nước, chìm nghỉm.

26

Khi các vòng sóng lặng, bất chợt Thuồng Luồng nhô

lên, tóc dài đen, vai vú con gái, nhưng mình rắn.

Nó đột ngột quẫy lộn đầu xuống, hai bàn chân nhái

có màng giơ khỏi mặt nước. Lại ngoi lên. Con Thuồng

Luồng bơi, đẩy bè chuối vào bờ...

Hoảng quá, tôi căng mắt nhìn, không thấy anh Tào

nữa. Mấy cái bè chuối cũng biến mất. Chỉ thấy đàn

vịt trời lông trắng bay vọt lên, kêu váng mặt sông.

- Sao ơi! Sao ơi! - Anh Lãng vỗ bồm bộp vào vai

tôi. - Hết cả hồn. Em mơ à?

Mặt mũi toát mồ hôi. Tôi nhìn xuống bến nước. Vó

bè nằm im đổ bóng bốn gọng xuống sông. Trăng sáng

vẫn bàng bạc.

- Rõ ràng chị Sao gọi đò, rồi nhảy xuống sông biến

27

thành con Thuồng Luồng.

- Thần hồn nát thần tính, điên à? Em là Sao, là vợ

anh chứ còn chị Sao nào nữa. Thôi, nửa đêm về sáng

rồi, xuống kéo vó với anh.

Tôi ngồi thừ ra, không biết đâu là thực đâu là mơ.

Vợ chồng tôi kéo vó đến tận sáng chẳng được con

tôm nào. Chỉ toàn củi mục với rều rác.

Tôi đi chợ bán tôm, nửa đường gặp anh Tào đánh xe

trâu chở chã đất và liễn sành màu da lươn.

- Khiếp quá! Từ mai, anh đừng chở thuê những thứ

này nữa.

- Thì thôi vậy. Vài năm nay người ta dùng liễn

sành nhiều quá, Sao ạ.

Tôi kể chuyện giấc mơ, rồi bảo:

- Anh Tào còn nhớ dạo đi điền dã, anh chôn cái nộm

28

rơm ở gò Thuồng Luồng không? Em với anh chuyện cũ

qua lâu rồi...

Anh Tào cười giả lả, cắt lời tôi:

- Anh nhớ ra rồi. Đấy là chuyện tầm phào láo toét.

Nh¬ưng chuyện này là có thật này:

Sao không biết là ngày xưa, quân Chiêm Thành

thường đi biển ra cướp phá nước Đại Việt. Thời Trần

Nghệ Tông, có một cánh thuỷ chiến Chiêm Thành đi

theo cửa biển vào sông Hoàng Long. Chúng đi đến đâu

là đầu rơi máu chảy, lửa cháy ngút trời, nhưng đến

địa phận làng ta thì tịnh như không. Khi thượng

tướng Trần Khát Chân đại thắng Chế Bồng Nga thì

quân Chiêm Thành rút chạy. Cánh thuỷ chiến này cũng

dong buồm chuồn ra biển. Lúc chúng đến làng ta thế

nào, lúc đi cũng vậy. Làng ta bình yên trong chiến

29

tranh. Nhưng ba tháng sau xảy ra chuyện lạ: Vài

chục con gái, đàn bà không chồng mà chửa. Chẳng

binh đao mà làng loạn. Làng đau thương còn hơn làng

khác bị nạn “nước lửa và ống đồng” tàn phá. Lệ

làng rất hà khắc. Vài chục người đàn bà ấy bị gọt

trọc đầu bôi vôi, rồi đóng bè chuối đem ra bến nước

trôi sông. Có điều lạ: Buổi sáng thả trôi về phía

biển thì đến la lá tối lại thấy các bè chuối đậu ở

bến nước. Hoá ra, theo nước thuỷ triều lên, tôm,

cá, cua, rắn nước, rùa, giải, thuồng luồng, ba

ba,... bơi quanh đẩy, kéo các bè chuối trôi về bến.

Cứ vậy, thả rồi lại trôi về. Làng chịu bất lực

trước các loài thuỷ tộc và thuỷ triều, đành cho số

đàn bà khốn khổ khốn nạn ấy lên bờ. Đủ ngày đủ

tháng, họ sinh ra những đứa bé tóc xoăn, da ngăm

30

ngăm, mắt hoang dã, không mang huyết thống các dòng

họ ở làng. Chuyện còn lạ nữa: Trong số đàn bà ấy,

có một người đẻ ra cục thịt đỏ lòm, có cái miệng

tròn như đồng sèng, cứ kêu: khẹc... khẹc. Người mẹ

trẻ sợ quá ngất luôn. Dân làng cho là quỷ quái, lại

đóng bè chuối trôi sông. Người mẹ trẻ hoá điên,

luôn miệng kêu “Trả con đây... Trả con cho tôi...”

Đang đêm, tóc tai rũ rượi, chạy bịch bịch ra sông

Hoàng Long, nhảy xuống nước cuống cuồng bơi, ngụp

lặn vớt con mình. Khốn nạn quá! Gái đẻ ngâm nước

lạnh, chết, biến thành xác con Thuồng Luồng trôi

dạt vào bến nước. Tiền đồng, xương trâu, mo rùa,

hình nộm con gái... được chôn theo. Cái gò con

Thuồng Luồng cũng chính là mộ người mẹ trẻ ấy.

Người ta ồn: Hồn người đàn bà lang thang ở hang

31

nước, mặt sông, thấy người chết đuối là hoá thành

con Thuồng Luồng bơi đến cứu... Thế đêm hôm qua cô

Sao có bỏ hòn đất nào lên gò không?

- Không. Anh Lãng em chắc cũng không nốt.

- Giời ạ. Thảo nào giỏ tôm của vợ chồng Sao chẳng

đầy thêm là phải. Nhặt ngay một hòn đất chạy đến đó

mà thả. Đoảng quá.

9.

Vợ chồng tôi dắt díu nhau đi bộ mười hai cây số

xuống bệnh viện thị xã khám. Thầy thuốc bảo: Anh

chị sinh lý bình thường, sức khoẻ tốt... Hiện thời

chưa tìm ra nguyên nhân. Chúng tôi giới thiệu lên

một Quân y viện ở Hà Nội, nhưng tốn kém và xa lắm,

anh chị đi được không? Đi chứ. Trường Sơn, Tây

Nguyên, Nam Bộ đi được thì Hà Nội sao lại không.

32

Anh Lãng bảo tôi về bán con bò. Mẹ anh cho đôi

khuyên tai. Mẹ tôi cho tạ thóc. Em gái anh lấy

chồng ở làng bên cho đôi lợn giống. Đôi khuyên tai

giữ lại còn bán sạch lấy tiền chữa bệnh. Người còn

là của còn.

Chúng tôi được khám, làm hơn một chục xét nghiệm.

Ông bác sỹ quân y kết luận: Sức khoẻ tốt. Sinh lý

bình thường... Ông bảo tôi ra ngoài chờ, ông có

chuyện nói riêng với chồng tôi. Hoá ra, ông dẫn

chồng tôi đến một phòng trắng lạnh lưu giữ vài trăm

cái bình thuỷ tinh đựng các quái thai và xác hài

nhi dị dạng để nghiên cứu. Ông cho xem ảnh, giảng

giải và chỉ vào một cái bình, bảo: Đây là trường

hợp cha bị nhiễm chất độc màu da cam vẫn đẻ con

lành lặn, bình thường; nhưng đến khi đứa con gái

33

lấy chồng thì lại sinh ra một chùm cục thịt như

chùm vải chín đỏ. Cái hậu quả này nặng nề lắm,

chẳng biết bao giờ mới hết. Ông căn dặn, an ủi,

động viên đến khi chồng tôi hoa mắt, ù tai và không

chịu được mùi phoóc môn, hai người mới ra.

Về nhà, chồng tôi nằm lì ba ngày không dậy. Ngày

thứ tư, anh gọi tôi vào. Anh già thêm đến chục

tuổi. Thương vô cùng. Tôi nằm gối đầu tay chồng,

anh nói.

- Bây giờ, anh không giấu em nữa. Bác sỹ bảo anh

bị nhiễm chất độc màu da cam. Chửa đẻ trăm lần thì

cũng trăm lần quái thai, dị dạng.

Anh tưởng tôi sẽ bàng hoàng đau đớn, vật vã. Nhưng

mắt tôi ráo hoảnh. Còn nước mắt đâu nữa mà khóc.

Dù anh bị nhiễm chất độc màu da cam hay tôi đẻ quái

34

thai bẩm sinh thì nỗi đau nào cũng như nhau cả

thôi.

- Nhiễm chất độc da cam lúc nào? Anh phải biết

chứ!- Lúc đó làm sao biết được. Nghe ông bác sỹ

giải thích, rồi mấy ngày nằm nhớ lại. Có lẽ do hành

quân qua những cánh rừng trụi lá. Bọn anh uống

nước suối ở đó lúc khát, còn múc đầy bi đông mang

theo. Lại có lần, đơn vị đóng quân trong rừng già,

thấy những chiếc máy bay Mỹ bay rất chậm phun ra

chất gì đó như sương mù trắng đục. Vài ngày, lá ngả

màu đồng loạt, gió rất nhẹ lá cũng rụng lả tả. Cây

trụi lá chỉ còn trơ thân cành. Cả cánh rừng một

màu chết chóc. Đi đường thỉnh thoảng thấy những vỏ

thùng sắt hoặc thùng nhựa, có đai xung quanh nằm

lăn lóc trong rừng. Có đứa ở tiểu đội ước ao mang

35

về quê làm thùng đựng nước ăn cho mẹ. Thì ra là

thùng đựng chất diệt cỏ máy bay Mỹ ném xuống mà đến

bây giờ có người còn không hề biết.

Tôi vùi đầu vào ngực chồng. Chưa bao giờ tôi

thương anh như lúc này. Nhưng trong lòng thì vô

cùng đau đớn, và chán chường.

10.

Chồng tôi nhận được thư anh Hà Văn Nênh, đồng đội

cũ báo tin vợ mới đẻ con trai. Chồng tôi bảo chọn

chục trứng gà, năm ống gạo nếp đi thăm.

Nhà sàn chon von một mình trên quả đồi nhỏ thấp

tè. Cửa man khép hờ, trẻ con oe oe khóc. Tã lót

phơi trắng bờ rào. Dưới gầm sàn, có con bé cởi

chuồng, đầu tròn ủng không sợi tóc, không có tay,

hàm hô răng lợi nhe như khỉ. Tôi nem nép sát hông

36

chồng, sợ nó cắn. Lại thấy con trăn hai đầu nằm

cuộn như khoanh chão bên chân cột nhà...

Chồng tôi và anh Hà Văn Nênh ngỡ ngàng một lát rồi

nhận ra nhau. Anh Nênh gọi vợ bế con ra chào khách

quý. Tôi đón thằng bé, khen vợ anh Nênh trẻ. Anh

bảo: Con vợ trước đẻ ba lần đều quái thai, dị dạng;

sợ quá nó bỏ tôi, bỏ cả cái đứa không thành người

đang ngồi ở gầm sàn kia đi rồi. Đây là cô vợ mới.

Chuyện đang say, bỗng dưng chồng tôi tái mét mặt.

Anh kéo anh Nênh, chỉ mấy thùng đựng nước ăn.

- Mày lấy ở đâu?

- Giải phóng xong, đi quy tập mộ liệt sỹ em nhặt

được ở rừng. Lúc ra quân, quẳng nhờ lên xe tải đơn

vị về Bắc. Tiện thể rủ mấy thằng lính “rửa tay gác

kiếm” cùng đợt về nhà chơi, nhờ chúng nó gùi luôn

37

về. Anh chị cõng được, lấy một cái về nhà mà đựng

nước ăn.

Chồng tôi kêu giời kêu đất. Điếc không sợ súng,

bạn anh mang cái chết về nhà. Đấy là những thùng

đựng thuốc diệt cỏ, thuốc phát quang. Con bé dị

dạng kia là hậu quả chất độc màu da cam nhiễm vào

người cha hay từ những cái thùng này? Bấy giờ mặt

anh Nênh rúm ró lại, sợ hãi thực sự.

11.

Từ hôm ở nhà anh Hà Văn Nênh về, nói chuyện với

mẹ, chồng tôi thường khen bạn mình tốt số gặp may.

Sau nhiều ngày đắn đo, anh quyết định nói với tôi

rằng anh muốn “giải phóng” cho tôi. Anh mong tôi

tìm hạnh phúc mới và đẻ những đứa con lành lặn. Tôi

ra đi như con thuyền rời bến cũ, có phúc sẽ có

38

phần, biết đâu gặp bến mới thì cắm sào đậu. Cho là

rổ rá cạp lại, tôi cũng có chốn ấm mà nương thân...

Quả thật, cũng có lúc tôi nghĩ đến điều này. Nhưng

khi đó, tôi choáng váng, cảm thấy bị bỏ rơi. Tôi

lại hiểu: Thấy vợ hai anh Hà Văn Nênh sinh đẻ mẹ

tròn con vuông nên anh đang hi vọng vào cuộc hôn

nhân mới. Tôi tủi thân. Anh không biết rằng tôi đã

tắt kinh hơn một năm. Tắt kinh vì sợ hãi, vì sức

lực kiệt quệ. Những lần phơi xô màn trắng dây phơi

chỉ để nhắc mình không phải đàn ông, mà là đàn bà

đang độ tuổi ba mươi; để chồng tôi đã chán chường

rồi đừng ê chề thêm nữa. Tôi giận anh vô cùng.

Một hôm, anh Lãng đi vắng, mẹ chồng tôi gạn hỏi:

- Từ hôm vợ chồng đi thăm bạn về, con tính sao?

- Chả tính sao.

39

Tôi giận, nói nhát gừng, chỏng lỏn, dù là biết vô

lễ. Nhưng bà vẫn nhẫn nhịn.

- Sao ơi. Không phải mẹ bảo thằng Lãng bỏ con lấy

vợ mới đâu. Mẹ nghĩ kỹ rồi: Con thương con, thương

thằng Lãng, con thương dòng họ nhà chồng thì con...

- Thì con bỏ anh Lãng chứ gì? - Tôi khóc bù lu bù

loa. Bao nhiêu đau khổ, giận dỗi kìm nén bùng lên.

- Thôi mẹ chồng ơi, xin mẹ chồng đừng nói nữa. Mẹ

chồng có chắc chồng con cưới vợ mới sẽ đẻ ra đứa

con bụ bẫm lành lặn như vợ hai anh Nênh không?

Bất ngờ, mẹ chồng tôi quỳ hẳn trước mặt con dâu.

- Bu lạy con. Bu lạy con... Con ơi! Con nghĩ được

vậy là cả nhà ta ơn con trời biển. Nhưng con chưa

hiểu hết ý bu. Con cũng cần có đứa con do mình dứt

ruột đẻ ra. Nhà ta không thể bắt con làm người ở

40

con hầu trong nhà suốt đời được. Tội lắm.

- Thôi, bu không phải nói nữa. Con sẽ làm ngay...

Con làm ngay theo ý chồng con và bu...

Lúc đó, không một lời nói chân tình nào lọt tai

tôi cả. Và tôi âm thầm chuẩn bị một kế hoạch của

riêng mình...

12.

Tôi li hôn như chạy trốn khỏi chồng. Mẹ tôi buồn,

thương con gái chỉ thầm thũi khóc. Khi mọi việc đã

như ý định, lại thấy mình là con ngốc. Nửa năm rồi,

tôi cố quên đi đoạn đời đau khổ đã trải qua, nhưng

chẳng thể nào quên được. Càng cố quên, các hình

ảnh, kỷ niệm xưa cũ càng hiện về. Những đêm vò võ

chờ chồng đi xa. Mẹ chồng con dâu chấy rận cho nhau

như ruột thịt. Mùi mồ hôi chua chua trên áo và

41

khuôn mặt sạm nắng của chồng. Đêm vợ chồng đi cất

vó tôm. Năm lần sinh đẻ không ra hình người. Mụ mị

cứ nghĩ mình là con Thuồng Luồng... Tất cả đều như

vừa mới hôm qua.

Tôi thường ra bờ sông nhìn về phía nhà chồng cũ,

khói chiều đang bay trên mái rạ. Tôi đoán, con bạn

tôi hôm nay cho anh ăn cái gì? Đêm qua, nằm bên vợ

mới anh có chợt nhớ tôi không? Người ta bảo: Đàn bà

đã trao thân cho người đàn ông nào là suốt đời

sống chết với người đó. Sao tôi không sống chết với

chồng tôi?

Tôi đã biết mình khổ vì đâu. Nhưng cái bùa anh Tào

yểm ngày xưa vẫn ám ảnh không dứt. Tôi sang sông,

vác cuốc xẻng đến gò Thuồng Luồng đào. Tôi quyết

phá tan cái bùa nộm rơm hồn con Thuồng Luồng cốt

42

con gái để lòng tôi thanh thản. Tôi đào cuốc như

con dở hơi.

Trời xui đất khiến anh Tào đánh xe trâu đi qua

đúng lúc tôi lôi lên một bộ xương, chẳng biết xương

gì. Tôi khóc hu hu.

- Tôi biến thành con Thuồng Luồng rồi, anh Tào

ơi...- Em dại dột quá, Sao ạ. Ai lại tin lời nói

vu vơ của anh cái thời nông nổi ấy.

- Thế thì... bộ xương... nào... đây?

- Có dễ xương... con Thuồng Luồng.

Tôi sây sẩm mặt mày:

- Tôi với anh duyên phận đâu vào đấy rồi. Sao anh

cứ ám tôi mãi thế?

Vẫn chân thọt chân lành tập tễnh, nhìn anh Tào vừa

giận vừa thương. Không đáp lại lời tôi trách móc,

43

anh ngần ngừ một lát rồi nói:

- Sao này. Vợ mới của anh Lãng vừa sảo non ra một

bọc, bờ đỡ đếm được mười một cục thịt đỏ lòm. Cứ

như Thuồng Luồng đẻ trứng ấy, Sao ạ...

Tôi rùng mình. Hai tai ong ong như có ngàn vạn

tiếng chuông dồn dập dội vào.

Anh Lãng và tôi, không biết ai khổ hơn ai?

13.

Tôi lại sang sông.

Con bạn tôi yếu đuối quá, không gánh nổi “cái nợ”

nhà chồng. Cô ấy đã bỏ anh Lãng đi thật rồi. Anh

Lãng đang âm thầm, lạnh tanh chịu đựng. Mẹ anh ốm

rất nặng, có dễ không qua khỏi. Bà và anh Lãng đang

cần tôi. Thực ra, lúc này chúng tôi cần nhau. Đã

đến nước này thì... tôi phải gắng qua nốt bến nước

44

thứ mười ba thôi.

Tôi chọn lúc la lá tối sang sông. Đò đi chuyến

cuối ngày. Sương mù đã bay dầy trên mặt nước. Một

cái thuyền buôn đỏ lửa nấu ăn tối, đậu dềnh dàng

sát bờ. Tôi nhận ra rất nhiều chã đất nung và liễn

sành màu da lươn xếp đầy khoang thuyền buôn. Tôi

bủn rủn chân tay. Khiếp quá! Mấy năm nay người ta

dùng những thứ ấy nhiều quá. Ra đến giữa sông, đò

chạm phải những cái bè chuối. Cô lái đò bảo.

- Chị chịu khó ngồi, em chở. Từ chiều đến giờ, bè

chuối ở đâu trôi về bến đông lắm.

Tôi nghi có thuồng luồng, ba ba, rùa, giải bơi

theo đẩy, liền lấy sào khua dưới nưới thì không

thấy vướng. Đò cố lách bè chuối lướt nhẹ. Vào gần

bến, không tài nào đi được nữa. Bè chuối san sát

45

chặn đằng trước đằng sau, vây chung quanh. Cô lái

đò bỏ chèo, lấy sào đẩy bè chuối này ra, bè khác

lại trôi áp vào.

- Không cập bến này được đâu. Quay lại thôi. Hay

là cập bến khác, chị nhá.

- Cô gái ơi, bến này đã chót sang thì sang đến

cùng.Tôi cúi người thò tay đẩy các bè chuối ra. Bè

tản ra xa dần. Đò cập bến. Thật lạ kỳ! Tôi không

cắt nghĩa được chuyện gì vừa xảy ra.

Lần sang sông này vất vả quá. Tôi lên hẳn bờ,

không thấy cái bè chuối nào dưới sông nữa. Đò và cô

lái đã chui vào mù sương bến nước.

Trên thuyền buôn chở chã đất nung và liễn sành màu

da lươn, lửa vẫn lập loè sáng đỏ.

Những vùng trời của họ

46

Của hồi môn lúc chị đi lấy chồng là căn nhà bốn

tầng mặt phố lớn, có gara ô tô, mảnh vườn nho nhỏ

trồng cỏ Úc, cây cảnh, hòn non bộ và vòi phun nước.

Lấy vợ, bỗng nhiên anh giàu có, được uống rượu

Tây, cơm Tàu, ở nhà lầu, xe hơi, chấm dứt những

ngày cơm niêu nước lọ trong căn phòng trần thấp,

rộng 12 mét vuông, thuê tít tận tầng 5 Khu nhà lắp

ghép Thanh Xuân Bắc.

Lấy nhau một năm, chưa kịp có con, vợ chồng son

rỗi quá. Dạo mới cưới, chị thuê con bé giúp việc,

tính nó đoảng, làm vỡ đồ luôn lại hay ăn cắp vặt.

Chán quá. Đuổi. Thực ra, việc vặt chưa nhiều, có

người lạ trong nhà rất phiền toái, nhưng cửa rộng

nhà cao, mức sống cao, chả nhẽ đi làm về lại lăn

lưng dọn dẹp. Chị làm bài toán lợi ích kinh tế:

47

thuê khoán con bé bán cốm rong hai trăm ngàn đồng

một tháng làm Ô sin chủ nhật. Nó đến nhà chị vào

các chiều chủ nhật quét dọn, lau chùi từ tầng một

đến tầng tư, rồi lấy xà bông thơm tắm cho con Lông

Xù, xén cỏ, cắt tỉa cây cảnh.

Đêm, trên giường nệm ga gối Hàn Quốc, ánh đèn ngủ

phớt hồng, nước hoa Pháp thoang thoảng bay, chị nằm

nghiêng rúc đầu vào ngực chồng, con Lông Xù trắng

muốt như cuộn bông chui giữa lòng chị lòng anh, có

lúc nó bị ép, kêu oẳn... oẳn. Thỉnh thoảng buổi tối

kêu bạn bè của hai người đến nhậu rồi hát karaoke

trên tầng chót. Ngày nghỉ, anh hoặc chị tự lái

chiếc Camry màu đen bóng loáng đưa nhau lên Đồng

Mô, Tam Đảo, hay xuống Đồ Sơn, đi dạo hít thở không

khí sạch, thư giãn, mua đồ đặc sản rồi chui vào

48

khách sạn nằm ôm nhau. Cuộc đời tươi hồng, đáng

sống và thú vị biết bao.

Trong các dịp nói về chồng bao giờ chị cũng lèo

thêm cụm từ “ông tiến sí nhà tớ”, “tay tiến sĩ nhà

mình”. Lúc xởi lởi, chị khoe “Ông tiến sỹ nhà tớ

vụng về, nhưng được cái thật, tốt nết tốt tính, vợ

bảo gì cũng nghe.” Hoặc “Có bữa đang ăn, lão tiến

sĩ nhà mình bảo: Cơm gà, cá gỡ, sốt vang, xúc xích

ê hề thế này, chả bù cho ngày xưa anh ăn toàn cơm

cám, cháo rau má. Thế rồi ứa nước mắt. Lão tiến sĩ

nhà mình khóc thật, chúng mày ạ”.

Có một chút chê trách, có một chút giận hờn đáng

yêu, thêm tí nhõng nhẽo, âu yếm là những điều chị

mang vào đời sống chồng vợ. Như một vương quốc

riêng, cuộc đời quý tộc nồng nàn, hạnh phúc biết

49

bao. Vậy mà bỗng nhiên lộn nhào, xới tung lên tất

cả.

Chuyện bắt đầu khi bà mẹ chồng đến ở với anh chị

và mang theo con Cẩu Già dưới quê lên thành phố.

Ngần ngại, do dự, bà cụ đứng trước căn nhà cao

ngợp mắt. Cây hoa giấy leo trùm lên cổng vòm thả

cành đung đưa trước mặt, màu hoa hồng phớt, cánh

mỏng manh. Vòi phun nước trắng như mưa giữa hồ hình

bán nguyệt bắt ánh nắng còn sót lúc cuối ngày chủ

nhật làm bà chói mắt. Thì ra tia nắng thị thành

khác ánh nắng nhà quê. Nó bị mài nhọn bởi bụi khói

và các khối nhà bê tông vuông thành sắc cạnh nên

chói gắt. Ánh nắng nhà quê như tơ lụa, lướt nhẹ,

luồn theo khe hở tán lá hoặc phủ đều lên màu xanh

mênh mang của đồng cỏ nên nó mềm dịu, tinh khiết.

50

Ngỡ ngàng. Xa lạ. Cái gì cũng lần đầu bắt gặp. Bà

đã về đến nhà con trai mà tưởng đang ở tận đẩu đâu.

Cái dạo cưới thằng con trai này - thằng tiến sĩ

triết học, bà không dám lên Thủ đô. Người ta cán bộ

cao cấp, phú quý giàu sang, quyền nghiêng bộ

ngành, mình quê mùa, nghèo hèn, thô mộc, biết ăn

biết nói thế nào? Trong họ còn ông trẻ làm phó chủ

tịch xã đành phải đi thay. Ở nhà, mừng cho nó như

chuột sa chĩnh gạo, nhưng lo sau này thằng tiến sĩ

con mình giống chó chui gầm chạn. Phí công bà mò

cua bắt ốc nuôi nó ăn học.

Sau ngày cưới độ một tuần, ông thứ trưởng về tỉnh

công tác. Vợ chồng ông ghé thăm bà. Cái làng quê bà

sát chân núi heo hút lắm, đường lên phố huyện dài

dằng dặc, không điện thắp sáng, chẳng điện thoại,

51

năm nào cũng đói ăn vài ba tháng, năm nào cũng bão

gió quật tơi bời. Nhà mái tranh, nền đất. Tường

trình đất. Cổng đất. Sân đất. Chân đất. Tối đi ngủ,

chẳng rửa ráy, co hai bàn chân phủi vào nhau rồi

lăn ra chõng tre ngủ từ tối đến sáng. Đơn giản, bản

năng, tự nhiên y như sống giữa thế kỷ 19.

Ô tô phải để ngoài đường cái, vợ chồng ông thứ

trưởng xách giày xách dép lội bộ mỏi chân mới tới.

Cũng may chỉ phải xuống cầu ao rửa chân tay, áo

quần không bị bẩn. Trong lúc ông thứ trưởng thư

thái thích thú nhìn vườn cây, khói lam vẩn vơ trên

mái gianh bếp thì quý phu nhân trề môi chê đường

xấu, phải lựa chân tránh cứt trâu cứt dê, và luôn

miệng kêu mệt, mỏi chân, đau khớp. Khi ông thứ

trưởng phải cúi đầu chui qua cửa vào nhà thì quý

52

phu nhân đi loanh quanh tìm chỗ tè, bà không thể

đứng tè vào cái nồi đình mẻ đựng nước giải nên đành

ngồi thụp xuống giữa vườn rong giềng.

Mặc bà thông gia thôn quê mời chào, phu nhân thứ

trưởng vẫn đứng ngoài không vào trong nhà vì sợ

đụng đầu vào cửa và mạng nhện vướng vào mái tóc ốp

xoăn mới làm hôm trước ở tiệm. Trên người quý phu

nhân, năm sáu chiếc nhẫn to bự xỏ vào các ngón tay

béo múp, dây chuyền vàng Ý lấp lánh nặng trĩu, chân

đi dép cao gót đặt mua từ Luân Đôn cũng đắt tiền

ngang cái vòng ngọc bích đeo ở cổ tay. Tóc búi cao,

mặc áo dài tân thời màu hoàng yến. Bà mở xắc lấy

gương ra soi. Bà rút thỏi son đắt gần bằng một tấn

thóc ở quê, tô lại đôi môi xẻ hình trái tim cho gợi

cảm. Bà xức thêm chút nước hoa vào cổ, lọ nước hoa

53

xịt trị giá bằng nửa con trâu. Rất điệu đàng, quý

phái, phong cách bà phu nhân thứ trưởng làm những

người dân quê lạ mắt, ngỡ ngàng.

Ông thứ trưởng ngồi ghé vào chõng tre:

- Nghe tin bà ốm, tôi về thăm.

Bà thật thà thưa:

- Tôi có ốm đau gì đâu. Đám cưới chúng nó muốn đi

lắm, nhưng tôi quê mùa lên Hà Nội gặp ông bà giàu

sang, quý phái, tôi chẳng biết ăn nói ra làm sao.

Ông thứ trưởng bảo:

- Bà quê mùa bà đẻ thằng tiến sĩ, tôi giàu sang

tôi đẻ con cử nhân, học tại chức mãi mới xong. Ngày

xưa, tôi cũng chăn trâu cắt cỏ, tát múc, gặt hái

đấy. Thôi bà ạ, thông gia hai nhà như một.

Nghe mát lòng. Ông thứ trưởng về rồi bà cứ tấm tắc

54

khen ông thông gia tốt quá. Bà lại tiếc vì chưa

nói chuyện với bà thông gia được câu nào. Nhưng bà

đã bớt lo, có dễ thằng tiến sĩ con bà không đến nổi

phải chui gầm chạn. Mà chạn bằng vàng bằng bạc thì

chui gầm cũng bõ chứ sao.

* * *

Con bé Ô sin chủ nhật lí nhí chào, lúi húi mở cánh

cổng. Con Cẩu Già cụp đuôi, nép mình sát chân bà

và ngước mắt chờ đợi. Hình như nó chờ bà bảo “Thôi,

ta về đi. Chỗ này xa lạ quá, không phải nơi ta ở”

là nó sẽ quay đầu tìm về quê ngay. Nhưng con Lông

Xù xuất hiện. Nhỏ nhắn. Xinh xẻo. Nặng khoảng hai

ký. Đôi mắt xanh biếc. Mõm hơi phớt hồng. Mũi đỏ.

Hàm răng trắng, nanh nhọn trắng. Lông cũng trắng

muốt và thơm nức mùi nước hoa phụ nữ. Đúng là quý

55

cô con nhà giàu, đúng là như ngọc như ngà.

Oẳng... O...ẳng... Oẳng...

- Khiếp. Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng.

- Dòng chó cảnh Mexico đấy mẹ ạ. Nó ở với vợ con

từ hồi cô ấy là sinh viên. - Anh quay lại chỉ vào

mặt Lông Xù. - Hừ... Hỗn... Hỗn nào. – Rồi lại quay

sang con bé Ô sin chủ nhật. - Ơ kìa, sao cháu đứng

đực ra thế. Đã tắm cho nó chưa? Bế nó vào đi.

Ô sin chủ nhật vội quơ con Lông Xù lên tay. Lông

Xù có vẻ nhún, cắn thêm một vài tiếng nữa, rồi làu

bàu cái gì đó chỉ có dòng giống chó mới biết.

Người con dâu đang tự sơn móng chân màu nâu trầm

theo mốt các cô gái Hàn Quốc, thấy mẹ chồng và đức

lang quân dắt con chó già quê mùa vào đến cửa, chị

cau mày không vui. Chị cố làm vẻ mừng rỡ, xởi lởi

56

chào mời bà mẹ chồng lần đầu đặt đôi bàn chân chai

sần, ngón chân nứt nẻ ám váng phèn, đóng bùn đen ở

kẽ móng lên đất Thủ đô xa lạ. Nhưng có lẽ điều khó

chịu đầu tiên đập vào mắt cô con dâu trẻ quý tộc là

cái cách uống nước của bà mẹ chồng. Dâu con chưa

kịp rót nước mời, bà cụ đã bê ấm hãm Linh chi cuối

ngày tự rót nước uống; nước lưng lưng chén thì vòi

tắc, bà ngậm miệng vào vòi ấm thổi sục sục cho

thông vòi rồi rót tiếp. Dường như uống chén không

đã, theo thói quen ở nhà, bà bỏ chén xuống mặt bàn,

đưa vòi vào miệng tu ừng ực. Uống nước xong, bà mẹ

chồng co chân lên bó gối, ngồi góc sa lông gỗ mun

hoa bóng lộn, ngơ ngác, lạ lẫm nhìn phòng khách to

rộng, trần cao bốn mét rưỡi lắp đèn chùm lộng lẫy

như cung điện Mùa Đông nước Nga.

57

Chị lắc đầu ngao ngán. Linh chi Hàn Quốc loại tốt

nhất chính hãng gần ba triệu đồng một cân. Bà cụ

ngậm miệng vào vòi tu ực ực thì ai còn dám uống

nữa. Lạng Linh chi giá hai trăm tám mươi ngàn đồng

hãm lúc sáng mới uống vài chén. Chả lẽ bỏ? Hoài

của. Chị kéo anh ra ngoài thềm, giọng nhỏ nhẹ,

nhưng riết róng.

- Nhà đã nuôi con Lông Xù đẹp như tranh vẽ rồi,

anh còn rước giống chó già quê mùa hôi rình về làm

gì. Bẩn. Ghê chết. Ai hầu hạ nó? Lại còn chỗ ăn,

chỗ ở nữa?

- Em yên tâm. Con Cẩu Già này ngoan lắm. Chó vàng

đấy em ạ.

Ô sin chủ nhật nhanh nhảu chen lời.

- Cháu xin nhận thêm phần chăm sóc Cẩu Già và

58

trông nom bà cho.

- Câm mồm. Ai khiến mày chõ vào. Tao đang nói

chuyện bà cụ với con chó. - Chị gí ngón tay vào

trán Ô sin chủ nhật, lườm nguýt, cái lườm siêu nhà

đổ tường làm nó len lén đi vào.

- Thôi em đừng quát nó, tội nghiệp. Lẽ ra, anh

phải nói với em trước. Nhân dịp anh về thăm quê bị

bão gió, anh đưa mẹ đi. Anh muốn mẹ sống với chúng

mình.- Nhưng anh chưa bàn với em trước đã rước mẹ

và con chó về. Em muốn chúng mình có một vùng trời

riêng.Anh lặng im thin thít. Chị thoáng thấy mình

hơi nhẫn tâm, dù sao cũng là mẹ của chồng mình. Với

lại, không vừa lòng nhưng sự đã rồi, chị gọi Ô sin

chủ nhật lại nhận nó giúp việc cả tháng, cả năm để

chăm bà cụ. Căn nhà rộng thênh thang, đột nhiên

59

thêm hai người lạ và một con chó. Chị ngã giá lương

tháng với con Ô sin xong, chị lên giọng bà chủ

ngay. Chị quát nó đưa bà cụ đi rửa ráy chân tay.

Khổ thân! Bà cụ vô tình đặt cả đôi chân sần chai,

ngón nứt nẻ, kẽ móng dính đầy bùn đất lên mặt ghế

xa lông mun hoa; móng tay bà xói vào các kẽ móng

chân sáy bùn đất ra, theo thói quen bà đã từng làm

ở nhà quê. Chị trách anh không mua cho mẹ đôi dép

tử tế để bà cụ đi đôi dép lê cũ rách.

Cũng có lúc anh bóng gió kể chuyện nhà nọ nhà kia,

mẹ chồng con dâu nằm ôm nhau nói chuyện rủ rỉ rù

rì, tình cảm lắm. Chị không làm nổi việc đó. Lúc

sinh nhật tròn năm tuổi, bố mẹ đã cho chị ra ngủ

riêng; đến mẹ đẻ, chị còn không ngủ chung huống chi

là mẹ chồng. Đi làm về, chị chui luôn vào phòng

60

mình. Tắm rửa, đọc sách, nghe nhạc, xem vô tuyến

truyền hình, vợ chồng nói chuyện, đùa giỡn... tất

tần tật đều trong đó. Mẹ chồng con dâu ở cùng nhà,

chẳng mấy khi nói chuyện với nhau, mà biết nói

chuyện gì. Bữa ăn thì phải ngồi cùng mâm. Bà cụ

răng vẫn còn khỏe, sụn sườn nhai được, xương ninh

gặm tốt, gặm xong bà quẳng ngay xuống dưới gầm bàn.

Con Lông Xù hết chạy loăng quăng xông tới vồ, con

Cẩu già ngoài phòng khách lao vào tranh xương gầm

gừ. Cái thói quen ăn cơm ở nhà quê quẳng xương

xuống nền đất bà mang theo cả lên thành phố, không

thể một sớm một chiều sửa được. Có hôm bà xúc cả

bát cơm nóng hổi đổ xuống sàn phòng ăn lát gỗ thông

Lào đánh véc ni bóng lộn cho con Cẩu Già xơi.

Mệt quá. Không chịu nổi, nói ra chẳng được, cứ ấm

61

ách trong lòng; về sau cứ đến bữa ăn, chị bắt con Ô

sin lôi Cẩu Già ra thềm hè, đóng cửa không cho

vào. Cẩu Già ở ngoài thèm ăn kêu hư hứ, móng chân

trước cào sồn sột đòi vào. Bà ở trong thương Cẩu

Già, lòng dạ bất ổn, ăn chẳng ngon.

Đêm nào đi ngủ, con Lông Xù cũng chui gọn vào nách

chị, cuộn tròn như cuộn bông trắng to. Anh nằm bên

thao thức hình dung ngày mai chuyện gì sẽ xảy ra.

Khuya, nghe lục cục ở tầng dưới, lòng dạ anh không

yên, chắc mẹ anh đi dọc hành lang vào buồng vệ

sinh phòng khách đái đêm. Khổ thân, chẳng hay bà cụ

đái xong có biết gạt vòi xả nước không? Vợ anh là

người ngăn nắp, sạch sẽ, dép phòng vệ sinh, dép nhà

ngoài... lúc nào cũng sử dụng đúng phạm vi. Nhưng

bà cụ cứ hay quên, dép phòng vệ sinh xỏ vào rồi lại

62

đi khắp phòng khách, có khi còn vin cầu thang leo

cả lên tầng hai tầng ba...

Lại nghe chít... chít, rồi tiếng nhai rau ráu. Có

thể con Cẩu Già đang bắt chuột. Dạo này, cúm gà cả

nước, người ta sợ vi rút H5N1, các quán ăn nhậu

dính dáng đến gà đều đóng cửa. Người ta quay sang

ăn thỏ, ăn mèo, quán Tiểu hổ mọc lên như nấm trong

thành phố. Mèo ít đi thì chuột nhiều lên, đúng là

một sự mất cân bằng sinh thái tai hại. Bỗng dưng,

nhà anh rất nhiều chuột. Đêm đêm, chuột dưới cống

ngầm chui lên, chạy lổn nhổn ngoài vườn, trong sân,

thềm hè. Có lần quên đóng cửa phòng khách, chúng

túa vào nhà, leo nhoăn nhoắt dọc cầu thang.

Anh se sẽ vén màn rời khỏi giường. Chậu lan ở ban

công đẫm sương. Đèn đường đỏ quạch. Bóng tối sáng

63

loang lổ dưới các tán cây trong vườn. Bất chợt, anh

nhìn thấy con Cẩu nằm bệt dưới đất, toài dần đến

chỗ con chuột cống to đang ngiêng ngó nhìn. Rồi vụt

một cái, như mũi tên lao trong đêm tối, hai hàm

Cẩu Già tớp vào gáy con chuột cống. Chóe! Tiếng kêu

xóc vào tai rồi im bặt. Vô vàn tiếng kêu chít...

chít, đàn chuột rùng rùng chen nhau chạy, chui

xuống cống ngầm. Cẩu Già thật ranh mãnh. Cứ đà này

chỉ vài hôm nhà anh hết tiệt giống chuột.

Sáng, anh đang mơ màng vì đêm thức khuya thì nghe

tiếng vợ gọi giật giọng. Anh bật dậy. Chị kéo anh

ra hành lang, lên sân thượng, xuống phòng khách.

Con bé Ô sin đang lúi húi nhặt chuột chết và lau

máu chuột ở sa lông, máu giăng ra khắp nhà, chỗ nào

cũng choe choét máu tươi. Anh hiểu ngay chuyện gì

64

đã xảy ra, anh cười trừ như mình có lỗi. Chị lắc

đầu quầy quậy:

- Để em đi làm về qua cửa hàng bảo vệ động thực

vật mua ít thuốc chuột Trung Quốc. Người với chó

khỏi phải khó nhọc.

Tối hôm sau, chị bảo con bé Ô sin nhốt hai con chó

lại, cất thức ăn vào tủ lạnh. Chị đếm và tự tay

rắc những hạt gạo màu đỏ tẩm thuốc độc theo các lối

chuột đi, đó là loại thuốc diệt chuột cực mạnh của

Trung Quốc. Nhưng hình như bọn chuột đã thành

tinh, suốt đêm chạy lục cục qua các hạt gạo màu đỏ

mà không ăn, đến sáng hôm sau vẫn còn nguyên không

mất hạt nào. Con bé Ô sin phải quét các hạt gạo ấy

đổ vào xí bệt và xả nước trôi xuống bể phốt.

Chó cùng chung một mái nhà. Con chó cảnh Lông Xù

65

ăn bánh mì kẹp pa tê, xúc xích hoặc phết bơ sữa,

hoặc cơm giò chả, uống nước lọc, hai ngày tắm nước

ấm một lần, chà xà bông thơm, xức nước hoa con gái

Pháp, đeo vòng bạc. Cô chủ trẻ yêu quý Lông Xù đêm

nào cũng quắp ngủ chung trên giường. Âu yếm, cưng

nựng, cô chủ luôn suông những ngón búp măng vào bộ

lông trắng, xoăn của nó vuốt ve, mơn trớn. Con Ô

sin ngày trước chưa bị thôi việc còn phải lau mõm,

lấy thức ăn thừa dắt trong kẽ răng Lông Xù, một

công việc chưa hề thấy trong thế giới người giúp

việc. Còn Cẩu Già ăn cơm hớt và gặm xương lợn,

xương gà thừa khi chủ nhè ra. Ngủ rạ rập dưới sàn

gara ô tô, trong gầm cầu thang, xó hè và tất nhiên

chưa bao giờ được tắm táp... Nhiều lúc nhìn Lông Xù

ăn, Cẩu Già nhỏ dãi thèm, lưỡi dài liếm vắt mép

66

bên này lại mép bên kia. Cả đời nó, thân phận nó ăn

cơm hớt, nào biết miếng ăn bơ sữa, pa tê, xúc xích

là cái gì? Cái thèm sôi réo trong lòng, Cẩu Già

không chịu đựng nổi, mon men lại gần, tớp trộm

miếng bánh con Lông Xù ăn dở rồi chạy. Lông Xù chạy

theo sủa inh ỏi đòi lại.

Chị bảo anh rằng, chị rất ghét con Cẩu. Cái thói

đâu cái thói cứ chầu chực, vừa liếm mép vừa hau háu

nhìn con Lông Xù ăn. Rồi lại xông vào ăn chặn nữa

chứ. Buổi sáng chị bảo anh thì buổi chiều mẹ anh

phàn nàn:

- Tôi thấy vợ anh chẳng giống ông thứ trưởng tí

nào. Tôi bỗng dưng nhìn thấy vợ anh túm gáy, gí mõm

con Cẩu Già vào miếng bánh mì. Vợ anh ghì, ấn mạnh

đến nỗi cái mõm con Cẩu nhe nhét bơ sữa, răng nó

67

chà xuống nền xi măng, chân trước nó chùn lại, mình

cong gồng lên, kêu hứ hứ không thành tiếng. May

con Cẩu vùng vẫy khỏe mới thoát thân. Tội quá! Nó

là con vật hiền lành. Mà sao nó không dám cắn lại

vợ anh nhỉ.

Anh lặng im. Lòng bùi ngùi. Biết nói gì với mẹ.

Cái giống chó này sinh lợi cho nhà anh bao nhiêu

tiền. Bà của Cẩu Già đẻ năm lứa được cả thảy bốn

mươi con. Rồi đến mẹ Cẩu Già đẻ năm lần cũng được

bốn mươi con; vị chi là tám mươi con. Bố mẹ anh làm

lụng cộng với số tiền bán tám mươi con cẩu, đủ để

nuôi anh ăn học hết phổ thông. Đến lượt Cẩu Già

cũng đẻ năm lần được bốn mươi con. Bố mất rồi chỉ

còn mẹ lam lũ làm lụng cộng với số tiền bán bốn

mươi con cẩu, đủ để nuôi anh ăn học đại học và làm

68

tiến sĩ. Bây giờ mặt mũi con Cẩu nhăn nheo như bà

già, không đẻ được nữa, sinh lực cạn rồi.

Trận bão số 5 từ vùng biển Philippin vượt qua vịnh

Bắc bộ tràn vào đất liền tàn phá quê anh tan

hoang. Nhà cửa đổ nát, cây cối như bị phạt dọc đốn

ngang, đổ gẫy hệt như vừa qua trận bom B52. Nhà đổ

ụp, mẹ anh xót xa, tiếc của hùi hụi, nhưng anh lại

mừng vui. Cái túp nhà tranh tường trình đất, chẳng

đáng bao nhiêu tiền. Hóa ra trời đất phù hộ, một

dịp may rất có lý để đưa mẹ lên thành phố sau bao

nhiêu lần anh mời mọc, nài nỉ không thành. Đến nước

này, mẹ anh đành chịu rời quê cha đất tổ đi với

con trai. Anh muốn mẹ không còn cơ hội trở lại quê

nữa, chỉ có cách gọi hàng xóm sang, cột kèo, dui mè

còn cái nào cho hết; cơ ngơi bỗng chỗc thành mảnh

69

vườn hoang. Mảnh vườn chỉ còn cỏ, không nỡ bỏ đi

nên đành nhờ hàng xóm trông nom hộ.

Theo con trai lên thành phố, mẹ anh cũng đầy tâm

trạng. Bà mừng ít, lo nhiều, có chút l¬ưu luyến,

bâng khuâng, có chút bùi ngùi. Trẻ trông cha, già

cậy con, bà biết theo con trai lên thành phố là hợp

lẽ. Bà bỏ con dao, cái thớt gỗ nghiến, mấy cái bát

ăn cơm vào túi xách mang đi, anh lục lọi, bỏ ra.

Bà gói cái màn xô nhuộm củ nâu, gấp mấy bộ quần áo

đã tàu tàu còn sót lại sau trận bão mang theo, anh

gạt lại... Đã bảo bỏ là bỏ, bỏ hết như từ bỏ quá

khứ dằng dặc bần hàn buồn nhiều hơn vui; không

ngoảnh lại, không quay về.

Nâng lên đặt xuống, mang đi bỏ lại... chán chê, mẹ

anh chỉ mang theo vài bộ quần áo, ôm cái bát hương

70

thờ chồng, dắt con Cẩu Già theo con trai lên thành

phố...

Quả thật, từ khi con Cẩu Già xuất hiện, nhà anh

cũng phiền toái, mệt mỏi quá. Những đêm trăng sáng,

Cẩu Già leo tót lên sân thượng sủa ông ổng. Vợ

chồng anh không ngủ được. Vợ chồng anh không ngủ

thì hàng phố cũng thức. Chị bảo:

- Anh lôi con Cẩu trên sân thượng xuống, nó cắn to

điếc tai, cứ thế này thần kinh mất, em không chịu

nổi.Trăng sáng quá. Sáng ngằn ngặt. Thấy bóng anh,

con Cẩu Già ngừng bặt tiếng sủa. Nó chạy đến dũi

cái đầu lông ướt sương đêm vào quần ngủ của anh.

Thì ra con Cẩu Già cắn trăng. Hình cây đa, hình chú

Cuội ngồi dưới gốc rõ mồn một. Chú Cuội đang trêu

chọc con Cẩu Già. Gió nồm thổi nhẹ. Từng tảng mây

71

xốp bồng bềnh trôi lướt nhanh qua mặt trăng. Lâu

lắm rồi anh mới có những giây phút tĩnh lặng, thư

thái ngắm trăng. Đẹp quá! Nhà cửa lô nhô, cái thấp

tè, cái cao chót vót, nhiều cái lưng lửng ngang nhà

anh. Thành phố im lìm chìm sâu vào giấc ngủ sau

một ngày lam lũ.

Ròng được Cẩu Già xuống gầm cầu thang, quay lên,

vợ anh làu bàu, giọng khê nồng.

- Em ghét mấy cha hàng phố, sáng nay vừa dắt xe ra

cổng đi làm đã hỏi tới tấp nhà chị mới mua chó

à?... Khiếp đêm qua nó cắn suốt đêm. - Rồi chị ngấm

nguýt. – Trước giờ có bao giờ họ hỏi nhà mình một

câu đâu.

Anh định bảo: Thì từ ngày chuyển về đây, em chào

hỏi người ta được câu nào chưa? Nhưng nhìn cái mặt

72

vợ đang cau có vì mất ngủ, anh lại thôi. Từ lúc đó

anh thao thức đến sáng.

Trước lúc anh đi làm, con bé giúp việc đứng chờ ở

cổng, thưa rằng hôm qua nó bị vợ anh dọa trừ lương

vì cái tội mấy lần đi đại tiện không dùng giấy vệ

sinh mà xé giấy báo và vỏ mì ăn liền chùi đít rồi

vứt ngay trong xí bệt. Lại cái tội không xả nước.

Nó bảo chả dại gì làm thế rồi tự mình phải đi dọn,

nhưng vẫn cứ phải tự nhận trước vợ anh. Anh nghe

thủng, biết ngay chuyện gì đã xảy ra, anh bảo nó:

- Cảm ơn cháu nhận thay cho bà. Bà ở quê lên phố

chưa quen, cháu chịu khó giúp bà.

Nó vâng dạ ngoăn ngoắt. Con bé thật dễ thương.

Nhưng cả ngày hôm đó làm việc ở cơ quan mà lòng dạ

anh cứ để ở đâu đâu.

73

Bà vốn người hay lam hay làm. Ở quê, lúc ra đồng

áng, lúc xới xáo vườn tược, khi quét dọn cửa nhà,

bà chẳng mấy khi ngơi tay. Lên thành phố, chẳng có

việc gì làm, nhàn rỗi quá, tự nhiên tay chân cứ

thừa thãi ra. Buồn quá, bà quét nhà, lau sàn phụ

giúp con Ô sin. Bà giặt giẻ sạch lau chùi tủ rượu,

bình gốm, ly pha lê..., toàn những thứ lần đầu chạm

tay. Hai bà cháu vừa làm vừa nói chuyện vui đáo

để. Cái việc lau chùi đồ pha lê, gốm, sứ cần đến sự

chắc chắn mà tỉ mỉ, dứt khoát mà tinh tế, chứ

không phải việc của đôi bàn tay già nhăn nheo toàn

gân với da chỉ quen cầm dao cầm cuốc, làm thổ mộc.

Vậy mà chẳng may con Ô sin lỡ tay làm vỡ cái bình

gốm, chứ không phải bà. Con bé Ô sin sợ xanh mắt.

Dứt khoát lần này cô chủ đuổi việc. Một thoáng lo

74

ngại, rồi bà bình tâm, bảo để bà nhận làm vỡ cho,

nhà con trai có hàng chục đồ gốm sứ để không dùng,

có vỡ một cái đáng là bao. Con bé Ô sin nhẹ cả

người, cảm ơn bà rốt rít.

Anh về đúng lúc mẹ và con bé Ô sin đang nhặt từng

mảnh gốm bỏ vào thùng rác. Bà kể lại chuyện cái

bình vỡ. Anh con trai hốt hoảng. Anh vội nhặt ra,

và nghĩ đến phương án ghép lại dưới bàn tay tài hoa

của người phục chế. Nhưng cái bình gốm vỡ tan,

mảnh nhỏ quá, hết khả năng lành. Anh ngồi bệt xuống

đất, mặt thất thần, đến lúc này thì chân tay rụng

rời.

- Mẹ làm khổ con rồi.

Con bé Ô sin sợ rúm người, nước mắt ứa ra. Bà lại

sa sầm mặt, bà giận con trai. Quê bà, trẻ con nhà

75

nào chẳng một hai lần đánh vỡ liễn sành, chã đất,

rồi đem vứt lăn lóc ở bụi tre, bụi rậm. Chót lỡ

tay, cùng lắm là bà lấy tiền chắt chiu dành dụm từ

món tiền nhịn ăn sáng, ra đầu phố Lý Nam Đế chỗ bán

chậu cây cảnh nhà ông Kiểm mua bình gốm về đền. Bà

bảo:

- Cái bình gốm để chẳng dùng, nó không bằng cái

chum sành đựng thóc, cái hũ đất nung đựng đậu xanh

giống ở nhà mình mà anh nỡ nói mẹ anh thế?

- Bu chả biết gì sất. Cái bình gốm cổ này đời nhà

Thanh, niên đại gần ba trăm năm, giá mấy cây vàng

nhà con không bán. Người ta biếu, ông cụ không

dùng, cho nhà con làm của hồi môn...

Đến lúc này thì bà sây sẩm mặt mày. Đã chót nhận

mình làm vỡ, chả lẽ giờ lại bảo không phải mẹ đâu,

76

thủ phạm là con cháu Ô sin này đấy. Nó sẽ bị đuổi

việc ngay. Vậy bà sẽ nói gì với cô con dâu đây?

Bên tai bà chỉ còn tiếng con Lông Xù cắn nhanh

nhách và tiếng rên rỉ của con trai. Ngay lúc đó,

Cẩu Già xuất hiện, đôi mắt ươn ướt, nó dũi dũi mõm

vào ngực bà. Nó kêu hư hứ, giọng rất buồn an ủi bà

chủ, chứ không giống tiếng cắn đanh, sắc, xói vào

tai lọng óc của con Lông Xù.

Bất chợt anh con trai kêu ồ lên một tiếng mừng rỡ

như vừa bắt được vàng, như vừa trút gánh nặng trăm

cân trên đôi vai gầy. Anh bảo mẹ cứ lặng im, để anh

lo, chuyện đâu có đó, cùng lắm là bỏ cái nhà này

thuê chỗ khác mẹ con ở với nhau. Nói thì nói cứng

như vậy, nhưng trong lòng hai mẹ con anh tiến sĩ

vẫn bồn chồn, lo lắng đứng ngồi không yên. Con Ô

77

sin hai mắt đỏ mọng nước. Bà thở dài hăn hắt. Cả

ngày anh tiến sĩ không đọc được thêm trang sách

nào.

Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh. Anh con nhà nông

chính gốc, truyền đời làm ruộng, nhà nghèo túng

triền miên. Chị con một gia đình quan chức, bố mang

hàm thứ trưởng, mẹ thâm niên cán bộ phụ nữ từ

phường xã, quận huyện đến thành phố. Rõ ràng là

chẳng môn đăng hộ đối. Vậy mà đến cặp uyên ương

thời hiện đại: Chồng tiến sĩ triết học, vợ cử nhân,

dù chỉ là tại chức, thật là đôi lứa xứng đôi.

Nhưng mà các cụ ngày xưa bảo cấm sai: Thế gian được

vợ hỏng chồng, được chồng hỏng vợ. Anh cao to, đẹp

trai ngời ngời, sống mũi thẳng, tóc xoăn, mày rậm,

trán thoáng. Chị hơi thô, mặt hơi gẫy, răng hơi

78

hô, da màu hơi đồng hun, người hơi lùn. Nhiều cái

hơi khiếm khuyết ấy cộng lại thành người con gái

xấu. Nhân vô thập toàn, vợ xấu nhưng giàu có, tự

tin kéo lại; chồng đẹp trai nhưng nghèo hèn, tự ti.

Cập kênh, cong vênh một chút, nhưng lắp ráp vào

thì ngàm đố cũng khít.

Không thể cắt nghĩa được vì sao họ lấy nhau. Có

trời mà hiểu được. Bạn bè lý giải chuyện tình duyên

của họ rằng: Cái nét mặt gợi cảm, cái dáng quyến

rũ của chồng là khát khao, thèm muốn của bao cô gái

đẹp, nhưng anh nghèo, đã nghèo thì dễ bị hèn lắm

nên lấy chị để đổi đời, để dựa vào bố vợ mà tiến

thân. Người lại bảo, anh lấy vợ giàu để yên tâm cái

hậu phương rảnh rang làm khoa học. Con trai phần

lớn là ngu ngơ khù khờ, không để ý hoặc không biết

79

đàn bà khác con gái ở cái chỗ nào. Còn một lũ con

trai nữa thì vừa giản đơn vừa hèn, muốn một nơi ấm

chỗ nương thân, như con thuyền không bến, lang

thang, lông bông mãi đến khi gặp được cái bến yên

ổn là neo đậu. Họ đàm tiếu chị: Chị đã khôn lại

khéo, bẫy giai đẹp vào lồng như bẫy chim cu gáy

tháng mười bằng mồi dế trũi. Muôn đời nay vẫn thế,

con trai vốn là giống khờ khạo, yếu lòng, đánh vào

cái dạ dày một trăm thằng thì chín mươi chín thằng

chết vì miếng ăn; cứ đem tiền của giăng bẫy mà xem,

thằng trai nghèo nào chẳng mắc? Đúng là miệng lưỡi

thế gian, phũ vô tận, độc vô cùng.

Chiều tối chị về.

Anh kéo chị vào phòng riêng của hai người. Hai bàn

tay đan vào nhau, các ngón xoắn lại, ngại ngùng,

80

nói vòng vo, ấp úng, đại ý: Nhà ta dạo này chuột

phá phách quá trời. Con Cẩu Già ham đuổi, chạy quá

đà làm vỡ cái bình gốm thời nhà Thanh. Đằng nào sự

cũng đã rồi. Của đi thay người, em ạ. Em thương anh

thì đừng làm ầm ĩ, mẹ buồn.

Bà cụ ở dưới tầng một, cửa lại đóng nên chẳng biết

chuyện gì xảy ra, nhẫn nhục chờ đợi chuyện dữ sắp

đến. Anh chồng nghĩ vợ mình sẽ tru tréo ầm ĩ, của

đau con xót cơ mà, nhưng anh không ngờ chị bình

tĩnh đến lạ lùng, không giận dữ, chẳng khóc la.

Chẳng biết chị nói gì với anh mà anh thấy người nhẹ

bỗng, như có cánh đang bay lên không trung, nhởn

nhơ nhìn đồng ruộng, dòng sông. Anh nhìn vợ bằng

con mắt đầm ấm, đầy biết ơn. Anh hớn hở xuống tầng

một gặp mẹ. Cửa kẹt mở làm mẹ anh giật thót người.

81

Bà đang phỏng đoán sự phản ứng của con dâu khi biết

cái bình gốm vỡ. Dường như hiểu được tâm trạng mẹ,

anh khoe ngay.

- Đã có lúc con nghĩ vợ con cậy của, cậy thế khinh

người; nhưng không phải bu ạ. Cô ấy rất bình thản,

giọng nhẹ tênh: Vỡ thì mua cái bình khác.

Bà mừng ra mặt, nhưng vẫn còn hồ nghi điều gì đó,

không cắt nghĩa được.

Sáng. Nắng mới đổ tràn xuống sân. Con Lông Xù cắn

nhanh nhách và nhẩn nha xuống tầng một. Con Cẩu Già

thức dậy, uể oải bước ra khỏi gầm cầu thang. Bỗng

nhiên con Cẩu đánh hơi được mùi bánh mì, xúc xích.

Nó nghiêng ngó tìm và bắt gặp nửa cái bánh mì kẹp

xúc xích đầy phè quẳng gần chỗ nó vừa nằm. Đói và

thèm, nó nhón chân đi nhẹ đến gần. Lưỡi dài ngoăn

82

ngoắt liếm mép phải rồi liếm vắt sang mép trái.

Ruột gan con Cẩu cồn cào, nước bọt tứa ra kẽ

răng...

Bất ngờ con Lông Xù lao vụt đến, một chân trước

chặn lên nửa miếng bánh mì, miệng nhanh nhách sủa,

có ý bảo cái khẩu phần này của tao. Cẩu Già lùi một

bước, nhìn ngứa mắt quá, muốn đớp ngay một nhát.

Nhưng nó chợt nghĩ đến trận đòn hôm trước. Cái mõm

bị ghì chặt xuống nền xi măng bị xây xước, mẻ mấy

miếng răng vẫn còn đau nhức ê ẩm. Lần này nó cạch,

nhường hẳn. Cẩu Già lùi ra xa, ngồi chống hai chân

trước nhìn Lông Xù tớp từng miếng bánh mì kẹp xúc

xích ăn ngon lành...

Lòng thèm khát của Cẩu Già bị dập tắt ngay vì bất

chợt con Lông Xù bị nghẹn, há hốc mồm, cổ ngắc

83

ngắc. Chết thật. Không kịp kêu nữa rồi. Lông Xù nằm

quỵ xuống, bốn chân co giật, lưỡi thè đỏ lòm, dớt

dãi chảy ra. Cẩu Già phóng đến gần sủa toáng lên.

Con bé Ô sin đang tỉa lá cây cảnh, bỏ kéo, vội chạy

vào. Lông Xù chỉ còn hư hứ vài tiếng rồi nằm thẳng

cẳng bên nửa cái bánh mì mới ăn hết một góc.

Con bé Ô sin cầm nửa cái bánh mì lên vạch ra xem.

Hai mắt con bé lồi ra. Thất kinh. Trời ơi! Những

hạt gạo màu đỏ bị kẹp lẫn với xúc xích nhồi vào

ruột bánh mì. Con bé Ô sin sợ quá không dám nói với

bà cụ, nó ra thềm hè ngồi dựa lưng vào cây cột, co

chân, bó gối, lặng lẽ.

Cẩu Già lại lui hẳn ra xa, ngồi chống hai chân

trước nhìn đồng loại bị chết tức tưởi. Một lúc sau,

nó ra góc sân ngồi nem nép, đôi mắt mờ đục đầy nỗi

84

lo hãi. Gần trưa, Cẩu Già lặng lẽ đi khỏi căn nhà

có giàn hoa giấy leo trùm lên cổng vòm.

Chiều muộn, người ta thấy bà cụ nhớn nhác đi dọc

vỉa hè gọi tìm con Cẩu Già.

85

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát