Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Đi Ngang Hà Nội - P2

ĐI NGANG HÀ NỘI – P2

Tác giả Nguyễn Ngọc Tiến

16. Xẩm Tầu điện, xẩm chợ Đồng Xuân

Trong dân gian có truyền thuyết về người khiếm

thính đi hát, không biết có phải là xẩm không.

Chuyện rằng thế kỷ XIII, Hoàng tử Trần Quốc Đĩnh bị

người em trai đâm mù mắt giữa rừng xanh đoạt ngọc

quý để chiếm ngôi vua. Trong cơn mê sảng, Đĩnh mơ

thấy mình được ca hát với một bầy tiên nữ trong

tiếng nhạc tưng bừng… Tỉnh dậy, mới biết là mình

được những người dân quê thôn dã hết lòng chăm sóc.

Qua cơn hoạn nạn, nhớ lại giấc mơ và tỏ lòng báo

đáp dân làng, Đĩnh đã lần mò tự tay chế tác cây đàn

1

bằng một ống tre dài, có cần mềm để nắn tiếng

chỉnh âm, lại có dây xe bằng vỏ cây và có que để

bật, gõ thành tiếng nhạc. Đĩnh còn soạn ra những

bài thơ để hát, kể lể tâm tình của mình, của đời,

mang niềm vui đến với mọi người, mọi nhà, tay đàn

miệng hát khắp mọi nơi, từ bến sống, bãi chợ, sân

đình…. Tiếng tăm của chàng ca sĩ mù vang đến tận

kinh thành, Thái thượng Hoàng cho vời vào cung, mới

hay đó chính là Hoàng tử mất tích năm nào… Từ đấy,

Đĩnh ra sức dạy dỗ cho mọi người đàn hát, nhất là

những người khiếm thị, vừa để vui đời, vừa là

nghiệp mưu sinh…

Ở cuốn Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính viết “Hát

xẩm gồm tập hợp những người mù mắt từ 5 hoặc 6

người học nghề đàn hát, cả đàn ông, đàn bà dắt nhau

2

đến các nơi thành thị, kiếm chỗ đông người, trải

chiếu ngay các nơi vệ đường mà hát. Trong hát xẩm,

người thì đánh trống, gõ phách, người thì kéo nhị,

người gẩy đàn bầu, rồi đồng thanh mà hát, hoặc đi

giọng Nam, hoặc đi giọng Bắc, đi theo tiếng nhị,

tiếng đàn, nghe cũng vui tai. Đàn bà, trẻ con người

lớn xúm xít vào xem, có người thưởng dăm ba đồng

kẽm, có người thưởng vài xu”. Cuốn Lịch sử Âm nhạc

dân gian cổ truyền Việt Nam do Viện Nghiên cứu âm

nhạc xuất bản năm 1996, tác giả Nguyễn Viêm nhận

định “Hát xẩm là một nghề sinh nhai của người mù,

nghề ấy chính là một kế cứu kẻ tàn tật. Ban đầu hát

xẩm còn sơ lược, chỉ vận làn xẩm vào trong vài câu

ca dao đơn giản. Nhưng dần dần do yêu cầu của

người nghe, hát xẩm đã tiến tới trọn một đoạn dài

3

với nội dung hấp dẫn đến vài chục câu, có khi hát

cả một câu chuyện kéo dài đến hết cả một buổi”. Để

an ủi và động viên những người hát xẩm, dân gian có

câu:

Tham giầu lấy chú biện tuần

Tuy rằng bóng bẩy nợ nần chan chan

Thà rằng lấy chú xẩm xoan

Công nợ không có hát tràn cung mây

Nhưng tại sao lại là hát xẩm? Xẩm đồng nghĩa với

từ "sờ" được nói chệch đi để chỉ động tác "sờ

soạng" của những người không may mắn bị mù lòa,

khiếm thị. "Xẩm tối", từ chỉ thời gian vào cuối

buổi chiều, ánh nắng tắt dần, trời sắp tối, vì thế

người sáng mắt nếu chậm chạp thường bị mắng “Dờ dẫm

như xẩm sờ...”.Có lẽ vì thế mà gọi là hát xẩm

4

chăng?

Phần lớn xẩm được "phổ" từ các bài thơ đơn giản

nhưng súc tích và giàu tính tự sự. Thực ra những

bài hát xẩm không phải chỉ là hát về tâm trạng của

người mù, sáng tạo nghệ thuật của họ là nói về nhân

tình thế thái. Nhưng họ là những người tạo nên nét

đặc trưng cho nghệ thuật hát xẩm.Nhà nghiên cứu

Trần Việt Ngữ có nhiều năm nghiên cứu xẩm cho rằng,

không cần ăn xin, nhưng phải là người mù mới có

thể hát hay. Chính người mù mới tạo nên những âm

điệu riêng, đặc sắc vì họ cảm nhận cuộc sống qua

đôi tai. Khi hát đúng tâm trạng người dân, họ càng

được yêu mến, ngưỡng mộ. Từ yêu cầu của khách

thưởng thức đòi hỏi người theo nghề phải thể hiện

nội dung ngày một mở rộng, câu hát dài hơn, tích

5

chuyện sâu hơn, nhân vật nhiều hơn... nên dù trong

tình cảnh mù lòa, ngồi một chỗ vừa hát, đàn vừa làm

điệu bộ, nó cũng gia tăng làn điệu với sắc thái

liên quan nhiều đến kết cấu làn điệu của hát chèo.

Ông Trần Việt Ngữ nhận định, cũng có thể xẩm ra đời

trước chèo, là một trong nhiều nguồn góp phần cấu

thành hát chèo. Hoặc xẩm chỉ là bản sao vụng về của

hát chèo trong điều kiện và hoàn cảnh hạn chế của

những người tật nguyền. Có thể giữa xẩm và chèo có

mỗi liên quan ruột rà bởi chính nghệ nhân xẩm xếp

hát xẩm và chèo cùng loại trung ca, trong khi tuồng

vào loại võ ca, ca trù vào loại văn ca.

Xẩm có rất nhiều bài, nhưng có 7 bài đặc trưng là

Xẩm chợ, Chênh bong, Riềm huê, Ba bậc nhịp bằng,

Phồn huê, Hát với ai và Xẩm thập ân với những làn

6

điệu: Xẩm chợ, Xẩm thập ân, Xẩm Tầu điện….. Những

bài Riềm huê, Ba bậc, Phồn huê… ban đầu chỉ có ở

xẩm Hà Nội, sau đó đã "loang" ra để có những điệu

xẩm Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên… Người ta thường

nói có Xẩm Tàu điện, Xẩm Bến đò, Xẩm chợ Đồng

Xuân…, nhưng đó không phải là những tiêu chí phân

loại. Song tại sao lại là xẩm Tầu điện? Tầu điện

tuyến bờ Hồ-Thụy Khuê chạy thử chuyến đầu tiên vào

13-9-1900.Năm 1901 khai trương tuyến Bờ Hồ-Ấp Thái

Hà. Năm 1906 khai trương tuyến Bờ Hồ- Mơ. Sau đó

năm 1915 người ta làm thêm đường vào bến xe Hà

Đông. Năm 1929 khai trương tuyến Bờ Hồ-Đại Cồ Việt

và vào năm 1943 thì kéo dài tới trước cổng chính

Bệnh viện Bạch Mai. Ở tuyến Bờ Hồ-Mơ ban đầu là

đường ray đi qua phố Cầu Gỗ, khi chỉnh trang khu

7

vực này chính quyền thành phố cho chuyển ra sát mép

hồ. Từ bến chính Bờ Hồ tầu điện tỏa đi 6 hướng (Hà

Đông, Cầu Giấy,Mơ,Vọng,Bưởi và Yên Phụ) và rồi lại

quay trở về Bờ Hồ. Tầu điện là phương tiện giao

thông công cộng được tầng lớp thị dân ưa chuộng vì

giá vé rẻ và rất tiện dụng. Dù chỉ tối đa có 3 toa,

nhưng liên tục chuyến đi chuyến về nên luôn luôn

có khách mới mà khách lại hầu hết là dân thành thị

nên hay có dăm ba xu lẻ trong túi. Đó chính là cơ

hội tốt để các nhóm hát xẩm kiếm ăn. Họ hát cho

khách nghe trước khi tầu chuyển bánh, khi tầu đó

chạy họ lại chuyển sang chuyến khác, cứ thế cho đến

khi nhà tầu nghỉ. Nhưng có khi đang hát thì tầu

chạy nên cả nhóm không kịp xuống thế là đành theo

tầu đến bến gần nhất để xuống. Song tại sao các

8

nhóm hát xẩm không chọn ga Hàng Cỏ cũng là bến tầu

và còn đông đúc người đưa, kẻ đón hơn bến tầu điện?

Ga Hàng Cỏ tuy đông nhưng lại không có chuyến đi

chuyến về liên tục như tầu điện, hơn nữa khách

xuống ga là họ về nhà hay đến ngay đến nơi cần đến.

Còn khách chờ tầu thì cũng chỉ có từng đấy, vả lại

mua vé xong sợ mất cắp nên họ giấu tiền vào trong

người, khó mà móc ra. Do thường xuyên hát ở bến

tầu điện nên người ta gọi là xẩm tầu điện. Những

bài họ hát chủ yếu ca ngợi Hà Nội, ít hát các bài

về thân phận, nỗi khổ như ở chợ quê. Bài Vui nhất

Hà Thành chỉ thấy khen:

Bắc Kỳ vui nhất Hà Thành

Phố phường sầm uất văn minh rợp trời

Thanh tao lịch sự đủ mùi

9

Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy

Đâu đâu khắp hết đông tây

Thăng Long thắng địa xưa nay tiếng đồn

Cũ thời băm sau phố phường

Ngày nay mở rộng đến hàng vài trăm

Người đi xe chạy ầm ầm

Đua chen thương mại bội phần hơn xưa

Nhất vui là cảnh Bờ Hồ

Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Ngang

Mã Mây, Phố Mới, Hàng Vàng

Đồng Xuân, Hàng Giấy, Hàng Buồm vui thay

Bán Buôn tấp nập đêm ngày

Ô tô đi lại như bay ngoài đường

Đua chen trong chốn thị trường

Hiệu buôn khách bán cửa hàng người Nam

10

Bày ra đủ các thức hàng

Hàng Tây hàng Nhật với hàng Trung Hoa

Lại hàng nội hóa đủ là

Ngày rày xuất cảng, kể đà hơn xưa

Ấy là kể những phố to

Còn như Hàng Quạt, Hàng Lờ, Hàng Da

Cửa Nam, Hàng Lọng, phố Ga

Hà Trung, ngõ Trạm, Hàng Gà, Cửa Đông

Hàng Cân,Hàng Cót, Hàng Đồng

Hàng Men, Hàng Bát, Hàng Bông, Hàng Bài

Hàng Cau, Hàng Bột, Hàng Khoai

Hàng Nâu, Hàng Trứng, Hàng Gai, Hàng Mành

Hàng Tre, Lò Sũ, Hàng Hành

Phúc Châu, Cầu Gỗ, Bắc Ninh, Hàng Hòm

Mới đà kể hết phố con

11

Của người bản xứ bán buôn nơi rày

Còn như đường lớn phố Tây

Tràng Tiền, Đồng Khánh, Hàng Khay, Nhà Thờ

Nhất vui là hiệu Gô -đa

Ra vào nhộn nhịp ai mà chẳng hay

Tràng Tiền có rạp hát Tây

Bên kia Đồn Thủy, bên này Nhà Đoan

Vườn hoa Con Cóc trông sang

Là Dinh Thống sứ Xẩm càng tránh xa

Tượng Tây đứng giữa vườn hoa

Bên này Đốc Lý trông ra bờ hồ

Kể cả phố xá bây giờ

Phồn hoa đệ nhất kinh đô Bắc Kỳ

Văn minh đèn điện sáng loè

Thông thương kỹ nghệ mọi nghề chấn hưng

12

Chỉ cánh áo ngắn khốn cùng

Làm lụng suốt tháng vẫn không đủ dùng

Bữa cơm bữa cháo nhạt nhùng

Thời đành nheo nhóc bọc đùm lấy nhau

Còn tại sao gọi là xẩm chợ Đồng Xuân? Chợ Đồng

Xuân là tiếp nối hai chợ nổi tiếng Thăng Long gồm

Bạch Mã và Cầu Đông. Chợ Bạch Mã có từ thời Lý

(khoảng 1035). Lúc đầu gọi là chợ Cửa Đông, đến đời

nhà Trần đổi thành Bạch Mã vì ở gần đền Bạch Mã

(nay là 76 phố Hàng Buồm). Còn chợ Cầu Đông ở cạnh

chùa Cầu Đông (nay là 38 B phố Hàng Đường). Chợ

Đồng Xuân do người Pháp xây dựng năm 1889, khánh

thành vào năm 1890 nhưng nguyên liệu chủ yếu vẫn là

tre, nứa, lá. Sau đó được xây kiên cố vào đầu thế

kỷ XX. Chợ Đồng Xuân ra đời trước khi có tầu điện

13

và là chợ bán buôn lớn nhất Bắc Kỳ, hàng ngày lượng

người đổ về Đồng Xuân rất đông nên các nhóm xẩm

chia nhau ngồi hát trước bốn cửa. Trong những người

hát xẩm, không có những qui ước về lãnh địa nhưng

nhóm này ngồi chỗ này thì nhóm kia tự biết đi chỗ

khác. Giữa họ không bao giờ có ẩu đả tranh giành

chỗ, vì họ rất hiểu câu nói “Đồng cảnh tương lân”.

Khi Hà Nội có tầu điện, trước cửa chính là bến đỗ

và tránh tầu nên lúc nào cũng nghẹt người. Nhưng

như thế cũng chỉ nói lên ở chợ Đồng Xuân có hát xẩm

còn xẩm chợ Đồng Xuân với tư cách là làn điệu có

lẽ do bài này:

Hà Nội như động tiên sa

Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần

Vui nhất có Chợ Đồng Xuân

14

Mùa nào thức ấy xa gần xem mua….

Cổng giữa có chị bán dừa

Hàng cau,hàng quít hàng dưa hàng hồng

Ai ơi đứng lại mà trông

Hàng vóc nhiễu thong dong rườm rà

Ngoài chợ có chị hàng hoa

Có người đổi bạc đi ra đi vào

Nào hàng bún nấu bán rao

Nào hàng kẹo đạn,phở xào ngô bung

Lại thêm bánh rán kẹo vừng

Rau dưa đủ cả bún thang chả giò

Ồn ào chuyện nhỏ chuyện to

Líu lo chú khách bánh bò bán rao

Xăm xăm ta bước chân vào

Hàng tôm hàng cá xôn xao nhiều bề

15

Giữa chợ có chị bán lê

Quang quác hàng vịt, say mê hàng gà

Nứt nở là chị hàng na

Chua chát hàng khế, ngọt ra hàng đường

Thơm tho là chị hàng hương

Tanh ngắt hàng cá phô trương hàng vàng

Lôi thôi như chị hàng giang

Vừa đan vừa bán cả sàng lẫn nia

Trề môi như chị hàng thìa

Hàng bát hàng đĩa phân chia đàng hoàng

Lồng cồng như chị hàng đan

Thượng vàng hạ cám đủ cùng thiếu chi

Cải hoa, cải bắp, cải thìa

Thơm mùi húng Láng thức gì cũng bán mua

Hay cắp như chị hàng cua

16

Nhẩy nhót hàng ếch ai mua được rày

Có người bán dép bán giầy

Có người cạo mặt, ngoáy tai đông đầy

Có người xem tướng xem tay

Chầu văn đồng bóng ốp ngay tức thời

Thôi thì đủ thứ đủ người

Ồn ào nhộn nhịp, nói cười chen vai

Có anh bán thuốc cũng hay

Mồm rao liến láu, bệnh khỏi ngay tức thì

Lại những kẻ cắp như rươi

Hở cơ chốc lát tiền ôi mất rồi

Dậm chân xuống đất kêu trời

Cu-lít (cảnh sát) có đến cũng thôi đi đời

Tối đến đuổi chợ mình ơi

Vừa năm giờ rưỡi hết người bán mua

17

Giữa thế kỷ 20, hát và nhạc của xẩm dường như đạt

đến đỉnh cao với các tên tuổi tài ba như: Nguyễn

Văn Nguyên (tức Trùm Nguyên), Vũ Đức Sắc (Hà Nội),

Thân Đức Chinh (Bắc Giang), Nguyễn Phong Sắc (Hải

Dương), cụ Trùm Khoản (Sơn Tây), cụ Chánh Trương

Mậu (Ninh Bình), Đào Thị Mận (Hưng Yên), Trần Thị

Nhớn (Nam Định), Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn Khôi (Hà

Đông)... và nhiều nghệ nhân khuyết danh khác.

Thập niên 30 ở bãi An Dương ( nay là phường An

Dương) có xóm xẩm. Sở dĩ gọi xóm xẩm vì ở bãi sông

Hồng này có chừng 10 nóc nhà của những người hát

xẩm. Gọi là nhà nhưng thực ra chỉ là cái lều, bên

trong có chõng và vài ba cái niêu đất. Ban ngày, vợ

chồng con cái kéo nhau đi hát, chập tối rục rịch

về nấu nướng và ngủ ở đây. Xóm tồn tại đến năm

18

1954. Sau Cách mạng Tháng Tám, xẩm được chính quyền

sử dụng làm công cụ tuyên truyền phong trào bình

dân học vụ ở các huyện ngoại thành và chính thời

điểm này các nghệ nhân đã sáng tác bài Tiễu trừ

giặc dốt. Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết,

một chiến dịch dụ dỗ người dân miền Bắc, nhất là bà

con công giáo di cư vào Nam. Vận động bà con ở

lại,chính quyền mới đã mời các nhóm xẩm đến hát ở

các vùng duyên hải. Vài ba chục người hát ở Hải

Dương, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội… đã

tham gia cuộc vận động này. Nhà thơ Thanh Tịnh được

giao phụ trách một nhóm xẩm gồm 23 anh chị em

khiếm thị Hà Nội về hát tại vùng Bùi Chu, Phát Diệm

ròng giã cả tháng trời. Trong số đó có các nghệ

nhân vừa hát vừa chơi được nhị, đàn bầu và đàn

19

nguyệt là Vũ Đức Sắc, Nguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Văn

Tuất, Trùm Thịnh, bà Cấn... Kết thúc công việc,

Thanh Tịnh trở về Thủ đô và ông cùng với một số nhà

hoạt động văn hóa nghệ thuật được giao nhiệm vụ tổ

chức Đại hội Văn công toàn quốc vào tháng 12-1954.

Sự kiện diễn ra ở Nhà hát Nhân dân (nay là cung

văn hóa Hữu Nghị). Người không có vé kéo đến bên

ngoài rất đông xem "người ta" làm gì. Có hai người

khiếm thị dìu nhau trình giấy vào cửa, nhân viên

soát vé hỏi họ "mù thì làm sao xem được mà vào

đây", hai người nói là vào để nghe. Nhân viên soát

vé nghi họ ăn cắp giấy mời đã bắt giao cho công an

xét hỏi. Việc đến tai Thanh Tịnh, ông vội vã đi

khắp các đồn công an tìm mới thấy. Sau khi trình

bầy là ban tổ chức mời họ vì không chỉ có công

20

trong tuyên truyền vận động bà con ở lại miền Bắc

không di cư vào Nam mà họ còn là những người hát

rất hay nên công an mới thả. Thanh Tịnh ôm hai nghệ

nhân và cả ba người cùng khóc.

Tuy miền Bắc tạm hòa bình nhưng tại bền tầu điện

Bờ Hồ vẫn có khá nhiều người khiếm thị hát xẩm,

trong đó có cặp vợ chồng lùn tịt. Còn ông Trùm

Nguyên không hát ở bến tầu điện nữa mà chuyển về

hát trước cửa đền Ngọc Sơn. Khi Mỹ ném bom Hà Nội

năm 1966, công an yêu cầu những người hát xẩm trở

về quê, nếu hát ở Bờ Hồ sẽ bị bắt và thế là Bờ Hồ

chỉ còn vài người được ngành văn hóa cấp phép vì có

công với kháng chiến trong đó có Trùm Nguyên.Trước

đó Trùm Nguyên đã dạy hát, dạy đàn cho Nguyễn Văn

Gia, một thanh niên bị khiếm thính sau một cơn bạo

21

bệnh. Gia sáng dạ nên Trùm Nguyên cho theo, vừa hát

kiếm sống, vừa truyền dạy hết các làn điệu xẩm.

Thập niên 70, ông hát quanh Bờ Hồ, bến tầu điện và

không ít lần hai thầy trò đụng nhau, thế là ông

không hát Bờ Hồ nữa mà hát trên tầu hỏa. Ông Gia

thường hát bài Hạ liễu:

Giọt nước cánh bèo, giọt nước cánh bèo

Đã từng lưu lạc để nhiều điều vất vả và gian

truân. Ông Giời cao có thấu chăng là tình chăng...

Hạ liễu không chỉ nói lên thân phận của người hát

xẩm mà nó chính là tâm trạng của ông lúc bị gia

đình người yêu cấm đoán. Năm 1986, ông Gia mới bỏ

hẳn và chỉ hát khi nhớ nó. Khi Nhạc sỹ Thao Giang

đưa nhóm hát xẩm về hát ở Phú Đô (huyện Từ Liêm),

vô tình tìm lại được ông Gia. Và đến nay,ông là số

22

ít các nghệ nhân hát xẩm còn sống.

Sân khấu hát xẩm xuất hiện trên khu phố đi bộ Hàng

Đào- Đồng Xuân từ đầu tháng 4 -2006, bỗng nhiên

người ta thấy xẩm vẫn còn duyên và mặn mà lắm. Nhạc

sỹ Thao Giang, chủ nhiệm chương trình âm nhạc dân

gian Hà Nội 36 phố phường và cũng là người có công

sưu tầm, khôi phục lại nghệ thuật hát xẩm cho rằng,

cách buôn bán các cửa hàng có thể thay đổi nhưng

hồn của bài hát vẫn ở trong tâm thức mỗi người khi

họ nghe xẩm. Để phục vụ cho chương trình này, nhóm

"Xẩm Hà Nội " đã sưu tầm được khoảng 20 điệu. Ngoài

những điệu được phổ từ thơ của Nguyễn Khuyến, Á

Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Bính, như: Mục hạ vô

nhân, Anh khóa, Lỡ bước sang ngang, Trăng sáng vườn

chè… thì còn nhiều điệu khác, trong đó khá đặc sắc

23

chính là Xẩm tàu điện do nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa

trình bày. Nếu ca trù, hát cô đầu là "đặc trưng"

của phố Khâm Thiên, thì hát xẩm là đặc trưng của

chợ Đồng Xuân và phố cổ. Những nghệ sĩ yêu xẩm phải

kể đến NSƯT Xuân Hoạch (Nhà hát Ca múa nhạc Việt

Nam), Văn Tý (Viện Văn hóa dân gian), Thanh Ngoan

(Nhà hát chèo Việt Nam), Đoàn Thanh Bình (Trường

Đại học Sân khấu -Điện ảnh), cô "xẩm trẻ" Mai Tuyết

Hoa (Viện âm nhạc)… cùng các nhạc sỹ Hạnh Nhân,

Hồng Thái, Lê Cương, Tự Cường… đã tập hợp về Trung

tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam của Giáo

sư, Tiến sĩ Phạm Văn Khang và nhạc sĩ Thao Giang

từ năm 2003. Trong kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng

Long-Hà Nội, một chương trình xẩm do các nghệ sỹ

biểu diễn đã gây ấn tượng mạnh cho du khách.Không

24

chỉ có vậy, xẩm đi Nhật, Mỹ biểu diễn đã nhận được

lời khen ngợi vì sự độc đáo của loại hình âm nhạc

đường phố này.

Theo nhạc sĩ Thao Giang, trước năm 1954, những

người hát xẩm vẫn chọn ra hai ngày làm giỗ tổ (22-2

hoặc 22-8 âm lịch), nhưng sau này do đất nước có

chiến tranh, tục giỗ tổ bị lãng quên. Đến nay, nghệ

nhân hát xẩm chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, đặc

biệt những người coi hát xẩm như một nghề kiếm sống

giờ chỉ còn duy nhất nghệ nhân Hà Thị Cầu (vợ thứ

18 của ông Chánh Trương Mậu,Trùm xẩm đất Ninh Bình

xưa). Lễ giỗ tổ năm 2011 đã thiếu vắng hai cây "đại

thụ" là cụ Nguyễn Văn Khôi (đã mất) và cụ Hà Thị

Cầu (sức khoẻ quá yếu),giờ chỉ còn nghệ nhân Nguyễn

Văn Gia. Hiện tại lớp trẻ coi xẩm là thứ nghệ

25

thuật lạc hậu vì thế để bảo tồn và phát triển bộ

môn nghệ thuật đường phố này cần phải có chính sách

cụ thể nếu không thì nó chỉ còn ở trong băng đĩa.

26

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát