Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Hán Sở Tranh Hùng

HỒI THỨ NHẤT

Thâu sáu nước, Thủy Hoàng dựng nhà Tần,

Oán trăm họ, dân gian hờn bạo chúa

Từ nhà Châu suy yếu, các chư hầu nổi dậy thôn tính

lẫn nhau, tạo trong thiên hạ một thời hỗn loạn.

Thời ấy gọi là thời Chiến quốc, kéo dài 873 năm.

Bấy giờ thiên hạ gồm vào 7 nước: Tần, Sở, Triệu,

Tề, Hàn, Nguỵ, Yên.

Bảy nước ấy, Tần mạnh nhất. Trong có Thừa tướng Lã

Bất Vi chuyên quyền, ngoài có tướng giỏi như Vương

Tiễn chinh phạt, diệt nhà Châu, kiêm tính sáu

nước, đem thiên hạ về một mối.

Vua Tần là Thủy Hoàng, con Dị Nhân (Chiêu Tương

Vương) và Dương Hoa Chánh hậu vốn kẻ bạo ngược.

Sau khi nhất thống được sơn hà, cho mình là đấng

1

anh hùng cái thế, cổ kim không ai sánh kịp, tự suy

tôn hiệu Thủy Hoàng đế, đời thứ hai gọi là nhị thế,

đời thứ ba gọi là tam thế, cho đến vạn thế, vv…

Rồi chia thiên hạ ra làm 36 quận, vẽ một bức địa

đồ thống nhất, bắt tất cả những mưu sĩ đem về an

trí nơi Hàm Dương (Kinh đô nước Tần) đúc mười hai

pho tượng để khoa trương nước nhà giàu mạnh, lập

cung A Phòng ở vườn Thượng Lâm, tập hợp tất cả

những gái đẹp bốn phương về đó ước hơn nghìn người,

ngày đêm tửu sắc vô độ.

Lã Bất Vi vì tư thông với Dương Hoa Thái hậu, nên

bị Tần Thủy Hoàng trừ đi, lập Lý Tư lên thay thế.

Năm thứ 27, Thủy Hoàng hội quần thần, phán:

- Các vua thời xưa thường tuần du đây đó để quan

sát dân tình. Nay trẫm muốn làm cái việc đó, các

2

quan nghĩ sao?

Quần thần đều tâu:

- Nơi cửu trùng thăm thẳm, nếu không ngự giá tuần

du làm sao rõ đặng lòng dân. Xưa nay những bậc anh

quân đều lấy dân làm gốc, bệ hạ muốn như vậy thực

hợp với cổ ý.

Thủy Hoàng hớn hở truyền lệnh sửa sang xa giá, bắt

đầu du hành từ phía Bắc đất Lũng Tây.

Trời không nắng lắm, xa xa cây cối một màu xanh,

nhấp nhô bên các sườn núi miệt Kê Đầu, trông khá

đẹp mắt. Long xa sau trước, các quan cận thần và

quân lính hầu hạ chật ních.

Bỗng trên đỉnh núi Kê Đầu có một đám mây mờ, hiện

ra năm vầng hào quang sáng chói.

Thủy Hoàng lấy làm lạ, đòi cận thần Tống Vô Kỵ đến

3

hỏi.

Vô Kỵ tâu:

- Tâu Bệ hạ, hạ thần đã trông thấy nhiều thứ mây

như: tường vân, phù vân, thuỵ vân, tế vân, khánh

vân, nhưng không có thứ mây nào giống thứ ám khí

này. Đây là một điềm ứng phi thường thật khó biết

đặng.

Thủy Hoàng ngơ ngác hỏi:

- Thế thì phải làm sao để trừ được điềm lạ ấy?

Vô Kỵ tâu:

- Xin bệ hạ quay thánh giá sang phía Đông Nam, lấy

bảo vật mà yểm thì mới có thể trừ đặng hung khí.

Thủy Hoàng theo lời truyền xa giá đi về hướng Châu

dịch, bày lễ tế ở núi Đông Nhạc và Thái Sơn, rồi

lấy thanh bảo kiếm của mình thường đeo, yểm dưới

4

chân núi.

Đoạn qua sông Giang, sông Hoài, đến Nam quận, hồi

giá về Hàm Dương. Quần thần ra khỏi Kinh đô ba mươi

dặm đón rước.

Từ đấy, lúc nào Thủy Hoàng cũng nghĩ đến vừng vân

khí ở phương Đông Nam, lòng không vui.

Một hôm có viên cận thần đến tâu:

- Mấy hôm nay khí trời mát mẻ, nơi Ngự lâm viên

trăm hoa đua nở, xin Bệ hạ mệnh giá qua chơi để

giải trí.

Đang lúc lòng buồn bực, Thủy Hoàng nhận lời, dẫn

một bọn cung phi và mấy viên cận thần đến vườn Ngự

lâm ngoạn cảnh.

Tiếng gió rì rào thổi phất phơ cành hoa vừa hé

nhuỵ, trong quang cảnh tưng bừng của bình minh,

5

Thủy Hoàng dạo gót khắp nơi. Mãi cho đến lúc ánh

nắng bắt đầu gay gắt, Thủy Hoàng thấy mình rồng mỏi

mệt, liền lên Hiển thánh điện để nghỉ.

Giấc điệp mơ màng, Thủy Hoàng chợt nghe bên tai

một tiếng nổ như trời long đất lở. Rồi một vầng

thái dương đỏ ối từ trên trời sa xuống. Bỗng thấy

một đứa bé áo xanh, mặt đen, chạy đến ôm vầng thái

dương toan chạy. Liền lúc đó, lại có một đứa bé

khác, mặc áo đỏ, đôi mắt sáng quắc từ phương Nam

chạy đến hét lớn:

- Tên áo xanh kia! Hãy để vầng thái dương đấy. Ta

vâng lệnh Ngọc Hoàng đến lấy vầng thái dương đây.

Đứa bé áo xanh không chịu. Cả hai ôm nhau vật lộn.

Đứa bé áo xanh vật đứa bé áo đỏ ngã bảy mươi hai

lần. Nhưng bất thình lình, đứa bé áo đỏ đá một cái

6

thật mạnh, đứa bé áo xanh ngã lăn xuống đất chết

tươi.

Thủy Hoàng thấy vậy kêu lớn:

- Hỡi hài đồng kia! Đừng vội đoạt vầng thái dương,

hãy bảo cho ta biết chúng bay là ai?

Đứa bé đáp:

- Ta là dõng dõi Thuấn Nghiêu, quê ở Phong Bái, vì

dân dấy nghĩa. Thượng đế đã cho ta được hưởng lịch

số bốn trăm năm.

Nói xong, đứa bé áo đỏ ôm vầng thái dương chạy

biến về phương Nam. Thủy Hoàng đưa mắt nhìn theo

bóng đứa bé mờ dần rồi khuất sau vùng hào quang

giống như vầng vân khí nơi núi Kê Đầu.

Thủy Hoàng bừng mắt tỉnh dậy, mới biết đó là chiêm

bao, lòng bâng khuâng tự nghĩ:

7

- “Giấc mộng này lành ít, dữ nhiều. Nhà Tần ta có

lẽ vận mệnh đã hết, thiên hạ ắt về tay kẻ khác…”.

Liền truyền xa giá trở về cung. Từ đó lòng buồn bã

lo âu, không lúc nào vui.

Một hôm, Thủy Hoàng cùng với quần thần bàn tính,

muốn tìm thuốc trường sinh bất tử để sống làm vua

mãi, hưởng cảnh lạc thú của hồng trần.

Cận thần Tống Vô Kỵ tâu:

- Ở miền Đông Hải có ba đỉnh núi thần, phong cảnh

tốt tươi, cỏ hoa muôn vẻ, khí hậu ấm áp, hạ thần

chắc đó là nơi bồng lai, có thể tìm thuốc trường

sinh được.

Thủy Hoàng mừng rỡ phán:

- Khanh đã bao giờ đến đó chưa?

Vô Kỵ tâu:

8

- Hạ thần chưa đến, nhưng có một người bạn tên Từ

Phúc, lúc trước từng qua chơi nơi Đông Hải, gặp các

tiên cưỡi loan hạc, phong độ thoát phàm. Từ Phúc

hiện nay còn ghé chơi nơi nhà hạ thần, nếu Bệ hạ

tin dùng, hạ thần sẽ đưa vào yết kiến.

Thủy Hoàng liền sai Vô Kỵ cấp tốc đi triệu Từ

Phúc.Từ Phúc theo Vô Kỵ vào bệ kiến. Thủy Hoàng

phán hỏi cách tìm thuốc trường sinh, Từ Phúc tâu:

- Thuốc trường sinh là một món thuốc quý từ xưa

nay khó có ai tìm được. Nay Bệ hạ muốn có thuốc ấy

tất phải chịu tổn phí, đóng thuyền và cấp hành

trang cho hạ thần vượt bể thì mới tìm được.

Thủy Hoàng hỏi:

- Nhà ngươi cứ hết lòng giúp trẫm, nếu được, hai

ta cùng uống và cùng sống mãi mãi hưởng cảnh vàng

9

son; còn gì hạnh phúc bằng! Chẳng hay nhà ngươi

muốn đóng bao nhiêu thuyền và hành trang như thế

nào?

Từ Phúc tâu:

- Vượt bể Đông chẳng phải chuyện dễ. Cần có mười

chiếc thuyền lớn, trong thuyền phải đủ hạng thợ, và

phải kén lấy năm trăm đồng nam, năm trăm đồng nữ,

phòng khi dùng đến.

Thủy Hoàng liền hạ lệnh sắm đủ mọi thức cho Từ

Phúc ra đi.

Tháng ngày trôi như ngựa qua cửa sổ, chẳng mấy

chốc đã hơn năm tháng trời, Thủy Hoàng ôm lòng chờ

đợi mãi mà chẳng thấy Từ Phúc trở về.

Quá nóng lòng, Thủy Hoàng liền sai một người nho

sĩ là Lư Sinh đi tìm Từ Phúc.

10

Ôi! Bốn phương mù mịt, Từ Phúc ra đi như bóng nhạn

lưng trời, biết đâu mà tìm. Tuy nhiên, mệnh vua đã

phán, ai dám trái lời, Lư Sinh đành vâng chỉ, một

mình cất bước ra đi.

Đi mãi, đến bờ bể, vời trông chỉ thấy sóng gào gió

thét trong khoảng nước xanh trời thẳm, bát ngát

muôn trùng, chẳng biết đâu là bồng lai, đâu là tiên

giới.

Lư Sinh ngước mắt lên trời thở dài, nghĩ thầm:

“Thủy Hoàng là một bạo chúa, tham sống mà coi rẻ

mạng người. Nếu ta không tìm được Từ Phúc trở về,

tính mạng ắt chẳng còn. Thôi thì cứ nhắm mắt đưa

chân, rủi có chết thì cũng như Từ Phúc, một đi

không về, thế là xong”.

Lư Sinh lần theo hướng Nam, đi vào miền núi Thái

11

Nhạc, rồi đến núi Thái Hoa.

Suốt mấy tháng trường trong gian khổ, bỗng một hôm

Lư Sinh gặp một người hình dung cổ quái, đầu bù

tóc rối, mắt tròn như lục lạc, đang ngồi tựa một

phiến đá, nhìn về hướng trời xa.

Lư Sinh nghĩ thầm: “Nơi đây sơn lâm cùng cốc,

người thường đâu dễ mấy ai mò đến, chắc là một dị

nhân!”.Liền bước đến vái chào. Dị nhân quay lại

thấy Lư Sinh, liền hỏi:

- Người là ai? Có việc gì lại đến đây?

Lư sinh đáp:

- Thưa tiên sinh, tôi vâng lệnh Thủy Hoàng đi tìm

thuốc trường sinh bất tử.

Dị nhân cười lớn, nói:

- Con người sống chết đã do mệnh trời định sẵn,

12

sao lại có ý ngông cuồng như vậy? Làm gì có thuốc

trường sinh bất tử?

Lư Sinh nhìn tướng mạo dị nhân một lúc, biết không

phải người phàm, cố năn nỉ:

- Tôi là người phàm mắt thịt, trí não u xám, xin

tiên sinh thương tình cứu tôi khỏi nạn.

Dị nhân thấy Lư Sinh khẩn khoản, ngồi im ra vẻ suy

nghĩ. Một lúc, dị nhân đứng dậy, đưa tay đẩy tấm

vách đá, bên trong lộ ra một cửa hang rất lớn.

Lư Sinh thất kinh, lòng chưa hết ngạc nhiên, thì

dị nhân đã bước vào trong, cầm một quyển sách, đem

ra đưa cho Lư Sinh và nói:

- Hãy đem sách này về cho vua Tần xem, trong đó có

nói rõ về “sinh, tử, tồn, vong”.

Lư Sinh tiếp lấy, thấy trên bìa sách có đề bốn

13

chữ: “Thiên lục bí quyết” toan hỏi lại, nhưng dị

nhân đã bước lên ngồi bên phiến đá, mắt nhắm nghiền

như ngủ say.

Lư Sinh không dám hỏi nữa, cầm sách trở về dâng

cho Thủy Hoàng, thuật lại mọi việc.

Thủy Hoàng mở sách ra xem, bên trong chép theo lối

cổ tự, chữ ngoằn ngoèo rất khó đọc, liền sai Lý Tư

dịch ra.

Lý Tư đọc cho Thủy Hoàng nghe. Đó là sách nói về

việc thuyên chuyển của lịch đại. Lại có câu rằng:

“Vong Tần giả Hồ”.

Thủy Hoàng thất kinh nói:

- Cứ như trong sách thì rợ Hồ sẽ làm mất nhà Tần.

Liền sai Mông Điềm đem tám mươi vạn dân phu ra

ngoài biên ải đắp trường thành để phòng rợ Hồ.

14

Ngoài ra còn bắt thêm dân chúng khắp nơi, bất luận

già trẻ đều phục dịch cho công tác ấy.

Dân chúng khổ cực trăm bề, quanh năm suốt tháng áo

chỉ còn bâu, người chỉ còn bộ xương, đói khát, con

xa mẹ, vợ xa chồng, mồ hôi lộn nước mắt, thây vùi

khắp chân trường thành, oán hận ngút trời.

Thủy Hoàng lại sợ đời sau chê cười, và có kẻ rõ

được hành động mình, nên truyền đốt sách, chôn sống

học trò ước hơn 460 người.

Lại ra nghiêm lệnh hễ ba người tụ họp nói chuyện

xầm xì thì phạm vào tội chết chém.

Một lời phán gớm ghê của bạo chúa làm chấn động cả

nhân gian.

Người con trưởng Thủy Hoàng là Phù Tô, thấy cha

tàn ác quá, vội can:

15

- Sách vở là văn học của một nước, học trò là tiêu

biểu cho thế hệ đời sau, phụ vương hủy hoại đi e

thiên hạ oán vọng, ngôi nhà Tần khó giữ được.

Thủy Hoàng nổi giận hét:

- Nghịch tử, dám dùng lời vô lễ với trẫm sao?

Tức thì ra lệnh đày Phù Tô ra Bắc biên, làm chức

Giám quân, cùng với Mông Điềm coi việc đắp trường

thành, cấm không được về Kinh đô nữa.

Tuy nhiên, Thủy Hoàng vẫn còn lo sợ vầng vân khí ở

miền Đông Nam, e có kẻ ngầm mưu làm loạn, nên

truyền xa giá tuần du về miền ấy để trấn áp sinh

linh.Thuở đó, nơi phía Nam, cách nước Hàn lối ba

mươi dặm, có một quán rượu, thường ngày các bô lão

trong vùng đến đó bắt chén giải buồn.

Một hôm có bốn cụ già ngồi khề khà nhìn mây, nhìn

16

nước trao đổi tâm tình.

Trong số bốn cụ già ấy có một người tên Triệu Tam

Công, nhân lúc cao hứng, nói:

- Các ngài ơi! Trăm năm về trước, thiên hạ thái

bình, con người sống trong cảnh đáng sống, không

một chút gì bận tâm nhọc trí cả. Đời sống như thế

chẳng khác gì chốn tiên bồng.

Một cụ già đặt chén xuống bàn, vuốt râu nhìn Triệu

Tam Công hỏi:

- Thế thì ngài cho cõi đời này là trần tục sao?

Triệu Tam Công lắc đầu đáp:

- Không phải là trần tục, mà chính là địa ngục

trần gian.

Ba cụ già kia đồng vỗ tay cười lớn. Một cụ hỏi:

- Theo ngài thì những cực hình ghê gớm nhất của

17

chốn địa ngục dương trần này là gì?

Triệu Tam Công lè lưỡi, đáp:

- Chịu thôi! Bây giờ phép nước nghiêm lắm, tôi

không dám bàn đến chuyện đó...

Một cụ đưa mắt nhìn xung quanh, rồi nói:

- Nơi đây hẻo lánh chỉ có ta với ta, hà tất phải

ngại!Bỗng từ bên trong hàng rượu có một thiếu niên

bước ra, vừa cười vừa nói:

- Thưa các cụ, nếu có kẻ nào sợ pháp luật không

dám nói, tôi xin thay kẻ ấy nói giúp vậy.

Mọi người quay nhìn thiếu niên. Người ấy mặt tròn,

mắt sáng, áo vải, giày gai, trông ra vẻ một thiếu

niên anh tuấn.

Triệu Tam Công nói:

- Nếu tiểu tử đủ can đảm, xin thay ta, nói cho các

18

vị bô lão này nghe thử.

Thiếu niên ung dung nói:

- Thưa các cụ, các cụ còn lạ gì chính sách của bạo

chúa Tần Thủy Hoàng! Con trai không được yên phận

cày cấy, con gái không được yên phận canh cửi, cha

xa con, vợ lìa chồng, gia đình tan tác. Nào đắp

trường thành, nào dựng A Phòng, đốt sách vở, chôn

sống học trò, nghe lời đứa dua nịnh lập ra phép dữ,

oán khí ngất trời. Nghĩ làm thân trong chế độ này

chẳng khác nào một tội nhân sống trong hoả ngục!

Nhục nhã thay!

Người thiếu niên còn muốn nói nữa, nhưng Triệu Tam

Công đã bỏ đứng dậy, toan chạy.

Ba vị bô lão nói:

- Nơi đây xa cách kinh kỳ, việc gì ngài lại sợ hãi

19

đến thế?

Triệu Tam Công thở dài, nói:

- Dẫu trong hang cùng ngõ hẻm cũng có mặt kẻ do

thám của triều đình. Tai vách mạch rừng, các ngài

chớ khinh khi mà rơi đầu vô ích.

Người thiếu niên thấy vậy, than thầm: “Ôi! Nhân

tâm như thế thì nỗi niềm riêng của ta biết tỏ cùng

ai!”.LỜI BÀN

“Đem bạo lực đàn áp dân chúng chẳng khác nào dùng

sức mạnh ép vào một khối cao su. Ép càng mạnh, sức

phản ứng càng nhiều.”

Kẻ làm dữ hay lo xa! Tần Thủy Hoàng bình nhật làm

nhiều điều ác, suốt đời, lúc nào cũng nơm nớp lo

sợ. Sợ trong thiên hạ có nhân tài, sợ dân chúng oán

hờn, sợ đời sau biết mình tàn ác. Do đó, đốt sách,

20

chôn học trò, giết hiền sĩ, đem bạo lực ra trị

dân, dùng chém giết làm cứu cánh.

Tuy nhiên, càng đàn áp bao nhiêu dân chúng càng

nổi loạn bấy nhiêu. Xem thế thì đàn áp không phải

là chính sách trị quốc an dân vậy.

Xưa nay, kẻ nào dùng bạo lực đàn áp đều chỉ thành

công nhất thời, cuối cùng phải chịu thảm bại.

Vả lại, những kẻ mưu quyền lợi chính đáng đều đứng

trên cương vị yêu nước, thương dân, vì quyền lợi

dân là quyền lợi của nước, trái lại tức là phản

dân, mưu lợi riêng cho mình, khó vững bền được.

Trong sung sướng, người ta thường hay sợ chết, Tần

Thủy Hoàng vì sống quá sung sướng đến nỗi sợ chết,

mất hưởng cảnh khoái lạc, phải sai người đi cầu

thuốc trường sinh bất tử. Thật quá tham lam. May

21

thay! Thuốc trường sinh bất tử không giúp cho một

bạo chúa kéo dài mãi cảnh bạo tàn, vùi muôn dân

trong thảm họa!

22

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát