Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Hanh Trinh Tri Thuc Cua Karl Marx

          Khi cuốn “Tìm Hiểu Triết Học Karl Marx”

của ông Trần văn Toàn ra đời, nhà xuất bản đã

tưởng phải lâu năm mới tiêu thụ hết hai nghìn cuốn.

Nhưng điều không ngờ là sau vài tháng, cuốn sách

đã được tái bản. Chắc nhiều độc giả không khỏi thất

vọng vì cuốn sách khó đọc, vì tác giả đã dùng một

ngôn ngữ triết lý, chuyên môn để trình bày một

triết học vốn đã khó hiểu. Nhưng sự kiện trên phải

chăng biểu lộ một ước muốn tìm hiểu thực sự sự

thực. Từ lâu, rất ít có những sách báo trình bày

chủ nghĩa Mác với một tinh thần đáng cho những

người, nhất là giới thanh niên, ham học hỏi, ước

muốn tìm hiểu thực sự sự thực có thể tin tưởng

được.           Có một thái độ chống Cộng, chỉ

nghĩ đến việc chống, chỉ “hùng hục” chống mà không

1

muốn hay không cho ai tìm hiểu Cộng-sản như thể sợ

tìm hiểu sẽ không chống Cộng được nữa, và nếu buộc

phải nói tới lý thuyết, thì cũng chỉ lập lại một

vài lời kết án hay tuyên bố chủ nghĩa Mác-xít đã

lỗi thời rồi…           Thái độ đó thiết tưởng

cũng cần được tìm hiểu tại sao bị qui định bởi

những mặc cảm sợ hãi nào.           Thực ra chủ

nghĩa Mác chưa lỗi thời, phong trào Cộng-sản chưa

trở thành một sự kiện lịch sử đã qua vì phong trào

Cộng-sản vẫn đang làm lịch sử và trên bình diện tư

tưởng, chủ nghĩa Mác vẫn cống hiến một số phạm trù,

lược đồ xác đáng để lãnh hội và phân tách những

thực tại chính trị, xã hội, văn hóa. Sự kiện một số

người đồ đệ biến chủ nghĩa Mác thành giáo điều, cố

định, ngưng động, nghèo nàn, “kinh viện” theo kiểu

2

nói của E. Mounier có lẽ đã chứng minh phần nào

chủ trương của những người coi chủ nghĩa Mác là lỗi

thời. Nhưng còn chính tư tưởng của MARX? Một người

như Sartre đã đi đến chỗ nhìn nhận chủ nghĩa hiện

sinh của mình chỉ là một vùng của chủ nghĩa Mác,

chỉ là một nỗ lực làm sống động, cụ thể hóa những

lược đồ, ý niệm mác-xít, một triết lý độc nhất của

thời đại ta, thì dù có không đồng ý với lập trường

đó, cũng không thể không suy nghĩ về thái độ của

Sartre.[1]                  Trước chủ nghĩa Mác,

có thể tìm hiểu chủ nghĩa Mác là gì, Mác chủ trương

những gì, duy vật, vô thần là gì. Nhưng cũng có

thể tìm hiểu tại sao Mác đã chủ trương duy vật, vô

thần, tại sao một người đã đi đến chỗ theo chủ

nghĩa Mác.           Chúng tôi theo lối tìm hiểu

3

thứ hai, vì cho rằng chỉ lối tìm hiểu đó mới có thể

không những đưa tới một sự hiểu biết chân thực về

chủ nghĩa Mác, mà còn đưa tới một thái độ xác đáng

đối với chủ nghĩa trên.           Những nỗ lực

phân tách, suy nghĩ của chúng tôi trong cuốn sách

này chỉ hạn định vào việc tìm hiểu điều mà chúng

tôi gọi là “Hành trình tri thức của Karl-Marx”.

          Chúng tôi muốn trở về nguồn gốc tư tưởng

của Mác, để tìm hiểu khởi điểm dự phóng căn bản của

ông, cái đã đưa ông đến chỗ chủ trương duy vật hay

vô thần… và nhận định phê phán ông căn cứ vào khởi

điểm, dự phóng căn bản đó.           Dự phóng căn

bản của Mác là muốn đi tới cùng, cái triệt để,

đồng thời muốn bao quát cái toàn thể. Nhưng vấn đề

là có thể đạt tới cái triệt để, cái toàn thể, thực

4

hiện được cái tuyệt đối hay đó chỉ là một ảo tưởng.

Nếu chủ nghĩa Mác có những ảo tưởng, những ảo

tưởng đó gắn liền với dự phóng căn bản của chính

Mác.           Một đặc điểm của Mác là thái độ phê

phán; phê phán đến tận cùng, phê phán phê phán hay

là phê phán những ảo tưởng phê phán của lối phê

phán sặc mùi đạo đức hay lý thuyết suông…Có thể nói

một yếu tính của chủ nghĩa Mác là tinh thần phê

phán triệt để. Nhưng trong thực tiễn, chủ nghĩa Mác

đôi khi lại biến thành giáo điều mệnh lệnh, một uy

quyền cấm đoán mọi phê phán. Nếu Mác còn sống, có

thể bị kết án là theo chủ nghĩa xét lại không!

Nhưng chính Mác có trách nhiệm về những mâu thuẫn

giữa lý thuyết và thực tiễn Mác-xít?           Đó

là một vài điểm chúng tôi muốn tìm hiểu. Chúng tôi

5

không dám cho rằng mình hiểu đúng vì chính những

người tự nhận là Mác-xít cũng còn không nhìn nhận

nhau đã hiểu đúng Mác-xít. Nhưng vấn đề Mác-xít

không phải chỉ là một vấn đề của người Mác-xít, mà

là một vấn đề của thời đại, liên quan đến số phận

của dân tộc, của cả nhân loại. Do đó, mỗi người đi

đến chủ nghĩa đó với những cố gắng tìm hiểu chân

thành và trung thực, mà lúc này, bây giờ mình tưởng

là đúng trong một tinh thần luôn luôn xét lại, và

sẵn sàng đón nhận những sự thực lúc này, bây giờ

chưa khám phá ra.             Chú thích: [1]

Xem Critique de la Raison dialectique. Phần 1.

Questions de méthode. J.P. Sartre. Gallimard

1966.                                        CHÚ

THÍCH 1.- Những sách viết về cuộc đời Marx tương

6

đối ít. Mấy cuốn giá trị được chú ý hơn cả  là :

Karl-Marx, sa vie et son oeuvre. Auguste Cornu.

Alcan. Paris 1934. Karl-Marx et Friedrich Engels 

mới ra được 2 tomes của Aug. Cornu. P.U.F

Karl-Marx của Isaĩh Berlin bản tiếng Anh. Oxford

Univ. 1952, bản tiếng Pháp trong Collection de

poche Indeés. Gallimard 1962. Karl-Marx, Geschile

seines Lebens của Franz Mehring. Lepzig. 1918 có

bản dịch tiếng Anh. Karl-Marx, của B.

Nicholaiesweski và  O. Maenchen-Helphen, bản dịch

tiếng Pháp, Paris 1937. Karl-Marx, essai de

biographie intellectuelle. M. Rubel. Paris 1957

Trong phần giới thiệu cuộc đời Marx tôi đã theo

cuốn của Nicholaiesweski và M. Helphen vì đó là

cuốn khá đầy đủ, rất nhiều chi tiết nhất là về cuộc

7

đời tranh đấu chính trị của Marx. 2.- Về hai bản

kê khai tác phẩm và lược tóm cuộc đời, vì cũng

không thể làm đầy đủ hơn được, nên tôi đã trích lại

của M. Rubel trong Pages chosies pour une éthique

socialiste, Introduction à l’éthique marxienne.

Paris 1948 do một số sinh viên của chứng chỉ lịch

sử Triết học Tây phương những niên khóa 1964-65 và

65-66 dịch

“Có một điều chắc chắn là tôi không phải là người

Mác-xít”                               Mác viết

cho P. Lafargue         TRƯỚC khi đi vào chủ

nghĩa Mác tôi thấy cần thiết phải giải đáp một vài

thắc mắc đặc biệt - hình như người ta không thể tìm

hiểu chủ nghĩa Mác như tìm hiểu các học thuyết

khác, với một thái độ nghiên cứu thông thường. Nói

8

cách khác, triết học Mác-xít có những đặc điểm

riêng biệt mà các triết học khác không có.

        Khi đề cập đến Hegel[1], chúng ta đã đặc

biệt chú ý đến tham vọng bao quát tổng hợp của nhà

triết học vĩ đại này. Hegel muốn chấm dứt lịch sử

triết học với hệ thống triết lý của mình, bằng cách

chẳng những tìm đặt vị trí cho những triết học đã

có từ xưa đến Hegel trong hệ thống của ông, mà còn

tiên đoán sắp xếp những triết học sẽ có trong hệ

thống đó nữa. Đằng khác, tổng hợp của Hegel không

phải chỉ bao trùm lịch sử triết học, mà còn bao

quát toàn thể lịch sử nhân loại, nhằm trình bày ý

nghĩa phát sinh và diễn tiến của mọi sinh hoạt

chính trị, xã hội luân lý, nghệ thuật của con

người.         Nhưng hệ thống bao quát tổng hợp

9

của Hegel chỉ là một giải thích có tính cách lý

thuyết, một cắt nghĩa mạch lạc như một tri thức (un

savoir) mà người ta có thể tìm hiểu với một thái

độ nghiên cứu như bất cứ nghiên cứu một học thuyết

nào.         Trái lại triết học Mác không phải

chỉ là một tri thức thuần túy nhằm giải thích, cắt

nghĩa, mà còn chủ yếu nhằm biến đổi, nghĩa là có

một mục đích thực tiễn         “Các triết gia mới

chỉ cắt nghĩa cuộc đời một cách khác nhau, vấn đề

là phải biến đổi nó đi” (Luận đề về Feuerbach).

        Có mục đích thực tiễn, không phải là gạt bỏ

lý thuyết, tri thức, vì suốt đời Mác vẫn nỗ lực

không ngừng suy nghĩ, nhưng là gạt bỏ lý thuyết

không kèm theo hành động, gạt bỏ tri thức suông, ly

dị với đời sống thực tế hằng ngày. Thực tiễn ở đây

10

là một thực tiễn cách mạng nhằm thay đổi một tình

trạng đang có bằng một lý tưởng thế nào cũng phải

vươn tới. Những biến đổi cách mạng không phải còn

đang là dự định nhưng là đang được thực hiện, như

một phong trào, một tổ chức có tính cách quốc tế.

        Trước một chủ nghĩa gắn liền với hoạt động

tranh đấu cách mạng như triết học Mác, không thể

có thái độ bàng quan, lãnh đạm, đứng ngoài. Nó đòi

hỏi, bó buộc người ta phải xác định một thái độ căn

cứ vào một lựa chọn. Trước hết, triết học Mác là

một tổng hợp bao quát. Do đó, chính nó đã xác định

cho bạn một chỗ đứng, một vị trí, dĩ nhiên là theo

quan điểm của nó.         Vậy bạn chỉ có thể hoặc

là chấp nhận vị trí nó xác định cho bạn, hoặc

chống lại, từ chối. Nhưng chắc chắn bạn không thể

11

không phản ứng, không thể không lựa chọn vì triết

học Mác chủ yếu là một thực tiễn cách mạng. Nó phân

đôi thế giới không những ở trên bình diện nhận

thức, mà còn cả trên bình diện xã hội, và nỗ lực

tranh đấu tiến tới chỗ thống nhất, thực hiện lý

thuyết tổng hợp bằng cách tiêu diệt chấm dứt những

lực lượng đối lập đã gây ra tình trạng phân đôi. Do

đó, bạn không đứng trước một lý thuyết mà là đứng

trước những người đã chọn lý thuyết đó và quyết tâm

thực hiện bằng tranh đấu cách mạng. Đặc điểm của

chủ nghĩa Mác là người ta không thể theo nó như một

tri thức, nhưng như một phong trào tranh đấu. Do

đó trở thành mác-xít không phải là tuyên bố theo

một chủ nghĩa mà chủ yếu là tham dự tích cực vào

một cuộc vận động lịch sử như P. Hervé đã nói :

12

“Chủ nghĩa Mác không phải chỉ là một lý thuyết

triết học, nhưng đối với chúng tôi chính là một

phong trào”[2], và đây là một phong trào quần chúng

vì chủ nghĩa Mác xuất hiện như một lợi khí tranh

đấu của vô sản chống lại sự áp bức của tư bản. Cuộc

tranh đua đó vẫn đang tiếp diễn và bành trướng

khắp thế giới. Nó đi tới đâu, buộc nơi đó phải phản

ứng, phân tán, tranh chấp, đôi khi một cách quyết

liệt. Do đó, vấn đề tiên quyết đặt ra khi có dự

định tìm hiểu chủ nghĩa Mác là phài đứng ở vị trí

nào để tìm hiểu chủ nghĩa đó. Có thể đứng ở ngoài

với một thái độ vô tư khách quan không? Người ta có

cảm tưởng thực khó đứng ở cương vị vô tư khách

quan để tìm hiểu chủ nghĩa Mác. Như đã nói ở trên,

chủ nghĩa Mác là một cuộc vận động lịch sử còn đang

13

tiến hành, chứ không phải là một sự kiện lịch sử

đã qua. Người nghiên cứu cũng đang sống trong thời

kỳ cộng-sản làm lịch sử, trong giai đoạn thách thức

lịch sử của cộng-sản. Do đó, chủ nghĩa Mác thiết

yếu liên quan chặt chẽ đến người nghiên cứu và đòi

hỏi họ phải xác định một lập trường. Không phải một

lập trường thuần túy trí thức, mà còn phải là một

lập trường tranh đấu. Theo Mác-xít, là theo một

phong trào tranh đấu, thì chống lại Mác-xít cũng là

chống bằng một tranh đấu. Trong cuộc tranh chấp,

đối lập giữa hai phong trào, cộng-sản và chống

cộng-sản, giả thử bạn có làm ra vẻ khách quan vô

tư, không xác định lập trường, chỉ đứng ở bình diện

nhận thức, thì việc làm vô tư đó cũng đem lại

những tác dụng khách quan có lợi hay hại cho một

14

phe trong hai phe đối lập. Chẳng hạn bạn nhận điểm

nào đó của chủ nghĩa Mác là đúng, thì sự xác định

đó khách quan có lợi cho phe Cộng-sản, và ngược lại

bạn phê phán điểm nào đó, hoặc toàn bộ chủ nghĩa

Mác là sai, thì dù bạn không tích cực chống đối

Cộng-sản bằng hành động, việc phê phán của bạn

khách quan có lợi cho phe chống cộng và khách quan

cũng kể như đứng ở phe chống Cộng. Chủ nghĩa Mác là

một chủ nghĩa mà người ta không thể đứng trước

được mà phải chọn lựa hoặc ở trong hoặc ở ngoài nó

mà thôi.         Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế

giới, sự bó buộc lựa chọn đúng về một phe có tính

cách triệt để dứt khoát. Đã theo một bên, thì theo

hẳn và theo cả. Hoặc coi lập trường mình theo như

chân lý toàn diện tuyệt đối, hoặc chỉ coi lập

15

trường đó đúng về căn bản mà có thể sai lầm thiếu

sót nhiều về cục bộ, nhưng vẫn chấp nhận nó một

cách dứt khoát. Đôi bên bị phân cách bằng những màn

tre màn sắt rõ rệt.         Nhưng cũng có một vài

nơi, chẳng hạn ở Âu châu, biên giới phân cách giữa

cộng-sản và chống cộng-sản không rõ rệt, hoặc hơn

nữa, không có biên giới phân cách. Do đó có thể có

những lập trường không dứt khoát cả hay không...

Một số người (đặc biệt là trí thức) nhận định rằng

có thể chấp nhận chủ nghĩa Mác như một lý tưởng

tranh đấu cách mạng, nhưng lại từ chối không vào

đảng, vì cho rằng những tổ chức, lề lối tranh đấu

của đảng không phù hợp với phong độ trí thức, với

chính lý tưởng cách mạng mác-xít. Những người đó

cũng nhận định rằng không thể chấp nhận được lập

16

trường chống Cộng. Nó dựa trên một ý thức hệ sai

lầm, bất chính, nhưng vẫn thừa nhận một vài lối

sống của xã hội chống cộng đó (tự do phê phán, dân

chủ trong cư xử lãnh đạo, v..v…)         Họ không

theo hẳn Cộng-sản, mà chỉ thiên Cộng, vì nếu theo

hẳn, chẳng khác nào chấp nhận mà còn củng cố thêm

những sai lầm, khuyết điểm của Cộng-sản (độc tài,

đảng trị, thủ đoạn gian dối). Nhưng cũng không thể

chống cộng hẳn, vì cộng-sản đối với họ vẫn là một

lý tưởng cách mạng chính đáng và đảng cộng-sản thực

sự cũng tiêu biểu cho lý tưởng cách mạng đó, tuy

nhiên vì không theo hẳn, nên vẫn có sự chống đối về

những điểm nêu ở trên.         Đó là một thái độ

có thể có được trên lý thuyết, nhưng hầu như bế tắc

trong thực tế tranh đấu, vì những người chủ trương

17

không theo hẳn, không chống hẳn cộng-sản, cũng coi

thái độ đó là một lập trường tranh đấu, một tư

tưởng dấn thân trước những biến cố nhất định của

thời cuộc. Chính vì thế mà thái độ: “gần đảng, bên

đảng nhưng không bao giờ ở trong đảng” rất khó thực

hiện hay thực hiện một cách hiệu nghiệm. Chẳng hạn

trước những trại tập trung ở Liên-xô. Những người

thiên tả[3] kiểu nhóm “Thời mới” (Les Temps

Modernes) như Sartre, Merleau-Ponty, hay nhóm “Tinh

thần” của Mounier, không thể không lên tiếng phản

đối một hành động trái ngược với lý tưởng cách

mạng. Nhưng họ cũng không thể phản đối như những

người chống cộng nhằm tiêu diệt cộng-sản vì coi

cộng-sản là thù địch. Không thể không lên tiếng,

nhưng lên tiếng thì lại tạo cớ cho phe chống cộng

18

biện hộ quan điểm chống cộng của họ, nghĩa là làm

lợi cho họ... Nỗi khó khăn ở tại những người này

không biết phải đứng ở vị trí nào để hành động. Nếu

ở trong đảng, thì không thể lên tiếng phê phán

được vì không thế có đối lập trong đảng. Vậy phải ở

ngoài đảng và do đó có thể lên tiếng phê phán

được. Nhưng đối lập ở ngoài đảng thì chỉ có thể làm

lợi cho phe chống cộng mà chẳng gây được tác dụng

gì trên đảng, vì sự phê phán là lời nói suông không

dựa trên một lực lượng nào. Lực lượng quần chúng

đứng sau đảng. Do đó chỉ trích đảng cũng là chỉ

trích quần chúng đứng đàng sau đảng. “Mũi tên nhắm

vào đảng đụng chạm tới xương thịt hy vọng của những

kẻ tuyệt vọng và làm sứt mẻ sức mạnh của đạo binh

im lặng”[4]. Không thể đi với Đảng, không thể chống

19

lại Đảng, nhưng cũng không thể làm được gì nếu

không có quần chúng; mà những người trí thức khuynh

tả trên không có quần chúng được tổ chức. Do đó

lập trường của họ thật bế tắc. Tuy nhiên ở một vài

nước Âu châu, lập trường không theo hẳn, không

chống hẳn, không ở trong cũng không ở ngoài của một

số người “khuynh tả” đã có thể có, ít ra là trên

bình diện nhận thức hay tranh đấu bằng ngòi bút.

Nhưng dĩ nhiện trường hợp đó chỉ có thể ở những

nước chưa cộng-sản, nghĩa là những nước cộng-sản

chưa nắm chính quyền. Lý tưởng về một lập trường

vượt cả cộng-sản lẫn chống cộng-sản cho đến nay vẫn

chưa nơi nào thực hiện được. Vì đã có rất nhiều nỗ

lực vượt cộng-sản (dépassement) (vượt theo nghĩa

của Hegel, chứ không phải chống) nhưng chỉ mới ở

20

bình diện nhận thức, chưa chuyển sang thành vận

động lịch sử. Do đó, trong khi chưa có một cuộc vận

động lịch sử vượt cộng-sản - hoặc do những người

không cộng-sản, hay do chính những người cộng-sản

làm - mọi phê bình ở ngoài cộng-sản đều có vẻ vô

nghiệm. Cộng-sản vẫn tiến và không vì phê bình mà

chịu lùi bước. Cho dù phê bình đó biến thành hành

động chống đối, nhưng nếu chỉ là một chống đối tiêu

cực, chống cộng như chống một hậu quả, thì cũng là

vô nghiệm; càng vô nghiệm hơn nữa, nếu lại chống

cộng bằng cách làm cho trầm trọng thêm những nguyên

nhân đưa đến cộng-sản. Cộng-sản không phải là một

vấn đề, nhưng xuất hiện như một giải pháp cho một

sự kiện lịch sử khách quan. Đó là sự áp bức chính

trị, tình trạng bất công xã hội do chế độ tư bản,

21

đế quốc, thực dân phong kiến đề ra. Chủ nghĩa Mác

không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống, nhưng

xuất phát từ những hoàn cảnh văn hóa, chính trị xã

hội nhất định vào thế kỷ XIX ở nước Đức. Mác cũng

không bịa ra chế độ tư bản đế quốc. Do đó thật là

lầm lẫn nếu chỉ nhằm chống cộng như một hậu quả của

những đòi hỏi lịch sử trên, càng nhầm lẫn hơn nếu

chống cộng bằng cách làm cho những nguyên nhân gây

nên hậu quả (bất công xã hội, bóc lột kinh tế

.v.v…) trở nên trầm trọng[5].         Một vài

nhận xét trên cho thấy: không thể tìm hiểu chủ

nghĩa Mác với một thái độ vô tư, khách quan. Vì

người nghiên cứu ở trong cuộc vận động lịch sử còn

đang tiến diễn của chủ nghĩa đó. Do đó bó buộc phải

lựa chọn và xác định lập trường, không những về

22

nhận thức mà cả thực tiễn tranh đấu nữa.        

        Chúng ta ở trong lịch sử, cũng như ở trong

cuộc. Không thể tách khỏi lịch sử, đứng ngoài cuộc,

để có thái độ khách quan, theo nghĩa vô tư, lãnh

đạm trước một vấn đề không dính líu gì đến mình.

            Nếu không thể tách khỏi lịch sử, thì

vấn đề không phải là khách quan không có thái độ mà

chỉ là vấn đề lựa chọn thái độ này hay thái độ

kia. Mác thường tố cáo tính cách ảo tưởng, tự lừa

dối của những thái độ mệnh danh là “khách quan”

trước lịch sử, trong xã hội.         Vậy trước chủ

nghĩa Mác, trước phong trào cộng-sản không thể

không có thái độ và có thái độ cũng không thoát

khỏi hai thái độ: chống hoặc theo.         Tuy

nhiên trước khi xác định thái độ, cần giải quyết

23

một vần đề thuộc nhận thức: chủ nghĩa Mác là đúng

hay sai! Vì chống hay theo Mác-xít đã hẳn tùy ở

quan điểm coi chủ nghĩa Mác là chân lý hay là sai

lầm. Nhưng có thể nhận định đúng, xác thực về chủ

nghĩa Mác là đúng hay sai không, vì có thể nhận

định sai khi cho chủ nghĩa Mác là đúng, hoặc nhận

định đúng khi cho chủ nghĩa Mác là sai. Nói cách

khác, nếu không thể khách quan về lựa chọn thái độ,

thì có thể khách quan về nhận thức chủ nghĩa Mác

được không; nghĩa là có thể có một nhận thức khách

quan, vô tư về chủ nghĩa Mác không?         Phải

thú thực khó khách quan, vô tư về nhận thức đối với

chủ nghĩa Mác, càng khó hơn đối với phong trào

Cộng-sản, là hiện thân của lý thuyết mác-xít trong

lịch sử.         Chẳng hạn những thiên kiến về tôn

24

giáo, giáo dục, tư tưởng và nhất là những quyền

lợi giai cấp thường là những nguyên nhân chính ngăn

chặn một nhận thức khách quan về chủ nghĩa Mác.

        Người ta có thể chống cộng nhân danh những

lý tưởng cao cả: bảo vệ tự do, quyền tư hữu, nhân

phẩm v.v… đôi khi một cách chân thành nhưng thực ra

chỉ để bảo vệ những quyền lợi bất chính đã kiếm

được hay sẽ kiếm được nhờ một xã hội bất công, một

xã hội mà chủ nghĩa Mác nhằm kết án và phong trào

cộng-sản nhằm tiêu diệt…         Hoặc người ta khó

có thể bình tĩnh, khách quan khi nói tới cộng-sản

vì những thù ghét cá nhân, gia đình đôi khi rất

chính đáng; chẳng hạn trong gia đình có người bị

cộng-sản giết một cách dã man, oan uổng.        

Hoặc người ta dựa vào kinh nghiệm bản thân để phán

25

đoán cộng-sản, và hơn nữa còn coi kinh nghiệm bản

thân là nền tảng quyền nhận định về cộng sản, như

thể người không bao giờ sống với cộng sản không có

quyền và do đó không thể nhận định đúng về cộng-sản

được.         Thiết tưởng dựa vào kinh nghiệm bản

thân để rút ra một thái độ cho mình đối với

cộng-sản là quyền của mỗi người, nhưng để rút ra

một thái độ cho những người khác như thể nhận thức

của mình có một giá trị tổng quát, thì e rằng quá

vội vàng và do đó có thể “chủ quan” nghĩa là lệch

lạc, nghĩa là “sai lầm”, vì một đàng kinh nghiệm cá

nhân không thể đủ nhận định bao quát, và toàn diện

về một thực tại phức tạp, một trào lưu rộng lớn

như chủ nghĩa cộng-sản; đàng khác nhận thức về

cộng-sản, dựa vào kinh nghiệm bản thân, thực ra chỉ

26

là nhận thức về cộng-sản của một hoàn cảnh nhất

định, một thời kỳ nhất định (chẳng hạn cộng sản

Việt nam, hồi 1945) chứ không phải toàn bộ phong

trào cộng-sản thế giới và sau cùng, nhận thức về

cộng-sản dựa vào kinh nghiệm bản thân còn bao hàm

cộng-sản như một chủ nghĩa không thay đổi trong khi

sự thực, cộng-sản thay đổi cả về lý thuyết cả về

tranh đấu lịch sử (cộng-sản thời Mác khác cộng-sản

thời cách mạng 1917, khác cộng-sản Liên-xô thời

Kroutchev)[6]. Do đó không thể chỉ dựa vào kinh

nghiệm bản thân sống với cộng sản trong một thời

kỳ, một hoàn cảnh nhất định để đưa ra một nhận thức

về cộng-sản được coi như có giá trị phổ biến và

hoàn tất cho mọi người; nhất là càng không thể coi

kinh nghiệm bản thân như là điều kiện độc nhất và

27

đầy đủ để nhận thức chính xác về cộng-sản.        

Nói cho công bình, đã sống với cộng sản là có điều

kiện lý tưởng (nhưng không phải là độc nhất, đầy

đủ) để hiểu cộng-sản, nhưng lại có cái nguy hiểm:

dễ chủ quan lệch lạc, vì quyền lợi bị va chạm, vì

đã là nạn nhân oan uổng, ức hiếp…         Chưa

sống với cộng-sản, có thể giữ được cái nhìn thanh

bình hơn nhưng lại dễ rơi vào khuyết điểm chỉ nhìn

cộng sản trên bình diện lý thuyết.         Do đó

nhận định về cộng-sản mà chỉ căn cứ vào lý thuyết

cũng như chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân đều có

thể lệch lạc, chủ quan, phiếm diện…         Thiết

tưởng thái độ chính đáng hơn cả là căn cứ vào lý

thuyết nhưng luôn luôn đối chiếu với thực tế, và

trong viễn tưởng đó, người không có kinh nghiệm

28

sống với cộng-sản phải cố gắng nhìn vào thực tế

cộng-sản, dựa vào kinh nghiệm bản thân của người

khác, và người có kinh nghiệm bản thân, phải cố

gắng vượt khỏi kinh nghiệm bản thân để có thể tiến

tới một cái nhìn khách quan hơn, bao quát hơn.

        Nói cách khác, trước khi tìm hiểu Mác-xít,

và muốn khách quan, phải tự kiểm thảo để tự giải

thoát khỏi những thiên kiến, nhận định chủ quan,

dựa vào quyền lợi tư riêng dù là quyền lợi chính

đáng, phải tự phân tâm nếu cần, để thanh toán những

mặc cảm sợ sệt vô thức, thường là nguồn gốc những

thái độ chống cộng say mê và mù quáng, để có điều

kiện tiến tới một cái nhìn xác thực hơn về cộng

sản. Những đòi hỏi đó càng cần thiết khi nhân danh

tìm hiểu cho những người khác và nhất là để có thái

29

độ hiệu nghiệm đối với cộng-sản, vì theo cộng-sản

mà không hiểu đúng cộng-sản cũng như chống cộng mà

lại chống thứ cộng theo mình hiểu lầm, chứ không

phải là theo những sự thực của nó, đều không đi đến

đâu cả.         Muốn có thái độ khách quan khi

nhận thức về cộng-sản cũng còn cần có can đảm nhìn

nhận sự thực, mặc dù sự thật đó do Mác nói lên, vì

nhìn nhận sự thực do Mác nói lên, thì đó không phải

là nhìn nhận mác-xít mà chỉ là nhìn nhận chân lý.

Không có chân lý tư bản, hay chân lý mác-xít. Chỉ

có chân lý. Nếu mác-xít phản ảnh chân lý thì không

thể chống lại mác-xít vì nó là chân lý; ngược lại,

nếu mác-xít không phản ảnh chân lý, thì muốn giữ

gìn bảo vệ nó cũng không được. Tự nó sự sai lầm của

một phong trào sẽ bị sức mạnh tiêu biểu cho sự

30

thực, hoặc từ bên ngoài, hoặc bên trong đánh đổ.

        Sau những chú thích cần thiết trên, đặt vấn

đề tìm hiểu Mác, để nhằm xác định một thái độ đối

với chủ nghĩa Mác, đối với phong trào cộng-sản thế

giới, và sau cùng, với chế độ cộng-sản ở Việt

nam[7].         Trong dự định tìm hiểu Mác ở đây,

chúng tôi không có tham vọng trình bày toàn diện

chủ nghĩa Mác với những duy vật sử quan, duy vật

biện chứng vô thần, hay với những quan điểm về kinh

tế, chính trị, chiến lược đường lối đấu tranh…mà

chỉ giới hạn vào một điểm này thôi: tìm hiểu điều

mà chúng tôi gọi là “Dự phóng nền tảng của Mác”

        Dự phóng này là một ý hướng nhằm giải thoát

con người, toàn thể nhân loại, do đó bao hàm tính

chất nhân bản. Ở nguồn gốc, khởi điểm của chủ nghĩa

31

Mác là một nhận thức, và hơn nũa là một tình tự về

con người bị “vong thân” trong chế độ tư bản. Nói

“con người” chứ không nói riêng con người vô sản.

Vì trong chế độ tư bản không những người vô sản bị

“vong thân” mà cả người trưởng giả, tư bản cũng bị

vong thân. Nói về sự vong thân của con người trong

chế độ tư bản, Mác viết: “Đó là sự thua thiệt hoàn

toàn của con người”.         Vậy vấn đề là tìm

hiểu “dự phóng nền tảng” của Mác đã đưa Mác đến chỗ

thiết lập những chủ nghĩa duy vật vô thần như thế

nào và tại sao. Vì đã hẳn không thể hiểu được những

chủ nghĩa, những quan niệm và những đường lối

tranh đấu của Mác nếu không ngược dòng trở về nguồn

gốc những chủ nghĩa, quan điểm, đường lối, đó là

dự phóng nền tảng của Mác. Ngoài “dự phóng nền

32

tảng”, còn lối nhìn độc đáo của Mác nghĩa là một

cách đặt vấn đề, một phương pháp phân tích, giải

quyết vấn đề. Thiết tưởng đó là hai điều then chốt,

như chìa khóa mở cửa đưa vào việc tìm hiểu những

chủ nghĩa, lý thuyết Mác chủ trương. Nhưng nếu có

những điểm không đồng ý với Mác thì nguồn gốc cũng

ở tại những điều mà chúng tôi gọi là lưỡng tính của

chủ nghĩa Mác, nghĩa là những mâu thuẫn, hàm hồ

giữa dự phóng nền tảng, phương pháp phân tách với

những chủ trương quan điểm, đường lối, chủ nghĩa.

        Tuy nhiên, không thể tìm hiểu và nhận định

về mác-xít mà lại bỏ qua cuộc đời và con người Mác.

Vì ở nơi Mác, nhận thức gắn liền với tranh đấu,

hay nói cách khác, chính Mác đã gắn liền cuộc đời

của mình vào những mục tiêu tranh đấu mà Mác đã

33

nhận thức và tin tưởng là chân lý.         Do đó,

tìm hiểu cuộc đời Mác là tìm hiểu chủ nghĩa Mác,

phong trào cộng-sản. Và đó là một cuộc đời đáng

phục. Người ta có thể không đồng ý về điểm nọ điểm

kia trong những chủ trương lý thuyết của Mác, nhưng

khi đọc đời sống của Mác, nhìn con người Mác sống

và tranh đấu, không thể không coi Mác là người

“công chính” hay yêu chuộng sự công chính.

         Tập biên khảo này có hai phần.        

        Phần I : Giới thiệu sơ lược cuộc đời Marx

và suy nghĩ về cuộc đời đó         Phần II : Tìm

hiểu dự phóng nền tảng, phương pháp của Marx và

những lưỡng tính của chủ nghĩa Marx (chú thích của

người đánh máy: tập II này đã không được xuất bản).

* Chú thích: [1] Xem tài liệu in Ronéo Triết Học

34

Đức sau Kant: Fichte, Shelling, Hegel, dành riêng

cho chứng chỉ Lịch sử Triết Học Tây phương, Trường

Đại Học Văn Khoa Saigòn. Tập biên khảo về Marx nầy

cũng rút ra từ những tài liệu giảng dạy trong chứng

chỉ trên. [2] Les Catholiques et le socialisme –

báo Action 2-4-1945 [3] Xem “Những tình bạn dang

dở” của tác giả trong số báo “Văn 17” đặc biệt về

J. P. Sartre. [4] E. Mounier, tạp chí ESPRIT,

1946, trang 167. [5] Xem thêm “Từ sự thất bại của

các đảng phái quốc gia đến sự phá sản của tầng lớp

trưởng giả thành thị..” của tác giả: Hành Trình số

1. [6] Chẳng hạn có thể đọc le Marxisme en Union

Soviétique của Linh mục Henri Chambre. E. du Seuil

1955, khảo sát sự biến thiên của chủ nghĩa Marx từ

1917 đến bây giờ ở Nga như thế nào về mọi phương

35

diện, gia đình, pháp lý, nhà nước, tôn giáo v.v…

hoàn toàn căn cứ vào tài liệu Liên-xô trong một

tinh thần nghiên cứu khoa học khách quan. [7] Về

những lập trường cụ thể này, tuy chúng tôi chưa có

dịp trình bày thành một hệ thống mạch lạc, những

nét chính đã được phác họa trong các bài nghiên cứu

ở tạp chí Hành Trình.  

 

PHẦN I

CON NGƯỜI VÀ CUỘC ĐỜI

"Một người có thể sống trong một xó lều ở Luân

Đôn và phải tiết kiệm từng xu để có thể mua một vé

xem kịch không phải là một người duy vật theo

nghĩa trưởng giả của danh từ". Karl Stern

            Đời sống của Mác có một ý nghĩa đặc

36

biệt trong sinh hoạt tư tưởng của Mác. Khác hẳn với

nhiều học giả triết gia, Mác không phải là một

người suy tưởng ở trong phòng, một giáo sư giảng

dạy hay chỉ là một nhà tư tưởng “dấn thân” vào

tranh đấu bằng ngòi bút, nhưng là một người hoạt

động cách mạng bằng đấu tranh chính trị thực sự,

ông suy tưởng để hoạt động, làm cách mạng và do đó

suy tưởng cũng bắt nguồn từ đấu tranh cách mạng như

một đòi hỏi cần thiết phải đề ra một đường lối,

một phương châm hoạt động và một mục tiêu nhằm đạt

tới.             Chính vì thế mà không thể hiểu

được tư tưởng Mác nếu không hiểu con người, cuộc

đời tranh đấu của Mác, vì tư tưởng của ông gắn liền

với hoạt động, phản ảnh trung thành những lập

trường chính trị của ông trước thời cuộc, lịch sử.

37

            Tìm hiểu đời sống của Mác, không phải

như tìm hiểu đời sống của những nhà tư tưởng triết

gia khác, để thấy được một bầu không khí, một ảnh

hưởng vào đời sống tư tưởng, nhưng còn cho thấy sự

diễn biến về tư tưởng của Mác, được đánh dấu bằng

những bài vở, thư từ, sách báo, và hơn nữa sự diễn

biến của chính phong trào cộng sản thuở ban đầu

song song với những giai đoạn cuộc đời của Mác.

            Một lý do khác minh chứng sự cần thiết

tìm hiểu cuộc đời của Mác là giá trị sư phạm của

một giáo huấn bằng chính cuộc đời của mình. Tìm

hiểu đời sống của Mác, là tìm hiểu những thái độ cụ

thể của Mác trước thời cuộc, những thái độ cư xử,

đối phó hay lãnh đạo của người sáng lập ra chủ

nghĩa Mác; đó là những bài học rút từ kinh nghiệm

38

sống động của vị sáng lập để có thể nhận định thế

nào là một thái độ đích thực của một người mác xít

trước vấn đề nhận thức, trong việc cư xử với các

đồng chí, lãnh đạo phong trào v.v...            

Nói cách khác, tìm hiểu Mác, là tìm hiểu đời sống

của một người mác xít, một người cộng sản gương

mẫu. Biết được những thái độ của Mác và nếu đem đối

chiếu với thái độ của những đồ đệ, người ta sẽ có

thể ngạc nhiên khi thấy đôi khi thái độ của đồ đệ

không phù hợp với thái độ của vị thầy trước cùng

một hoàn cảnh, một trường hợp tương tự.

            Chính vì thế mà người ta thấy nhiều

người tự xưng là đồ đệ của Mác, hình như ít để ý

đến chính cuộc đời của Mác mà chỉ nghiên cứu mác

xít qua sách vở tư tưởng, đôi khi lại chỉ qua sách

39

vở, tư tưởng trích dẫn và giới thiệu theo lăng kính

của một người khác. Người ta in nhiều tác phẩm của

Mác, chú thích bình giảng tư tưởng, nhưng hình như

ít chú trọng xuất bản những cuốn giới thiệu chính

đời sống của Mác.             Phải chăng vì sợ lộ

tẩy những thái độ cụ thể mâu thuẫn với thái độ của

Mác, mà người ta không muốn chú trọng tới việc giới

thiệu, trình bày cuộc đời Mác như một bài học sống

thực, một chỉ đạo linh động?             Khi nói

thái độ cụ thể của Mác, không nên hiểu là thái độ

thực tiễn tách rời khỏi đường lối, nhận định lý

thuyết, mà là dựa vào đường lối, lý thuyết, xuất

phát từ những nguyên tắc lý thuyết và phản ảnh

những nguyên tắc đó. Chính vì thế mà những thái độ

cụ thể của Mác vừa mặc một giả trị sư phạm, gương

40

mẫu, vừa có một tầm quan trọng thuyết lý. Đặc điểm

của chủ nghĩa Mác là “tri hành” hợp nhất. Hoạt động

gắn liền với lý thuyết và lý thuyết chỉ đạo hành

động. Do đó tiêu chuẩn phê phán của mác xít là:

Hành động và hiệu nghiệm. Vấn đề không phải là có

lý thuyết hay, nguyên tắc đẹp, nhưng là thiết thực

lý thuyết và nguyên tắc có được thực hiện trong tác

phong tổ chức, chế lập, trong những tương quan

giữa người với người hay không.             Mác

xít thường căn cứ vào tiêu chuẩn đó mà phê phán

những học thuyết đạo đức chỉ hay đẹp trên nguyên

tắc, và dở xấu trong thực tế là những chủ nghĩa

hình thức, có tích cách bịp bợm, giả dối. Mác xít

cũng không ngại áp dụng tiêu chuẩn đó cho chính

mình và vẫn tự phụ hoạt động của họ gắn liền với

41

đường lối lý thuyết.             Do đó, cần tìm

hiểu những thái độ cụ thể của Mác. Chẳng hạn người

ta sẽ thấy Mác vừa chống lại khuynh hướng “không

tưởng” phác họa những viễn ảnh thật đẹp, nhưng

không phù hợp với thực tế, vừa chống lại khuynh

hướng “hiếu động” mù quáng theo tình cảm, quảng đại

mà không dựa vào những phân tích nghiêm chỉnh.

Hoặc trong lối cư xử, lãnh đạo, chống thái độ độc

đoán giáo điều, dùng uy quyền mà bắt buộc vâng

phục, đề cao thái độ tìm kiếm, coi chủ nghĩa không

phải như một giáo lý thần thánh, mà chỉ là một

phương pháp phân tích, hành động. Đã có lần Mác

nói: “Tôi không phải là người mác xít” để chống lại

thái độ giáo điều cứng nhắc, câu nệ một cách máy

móc vào nguyên tắc, và thiếu óc phê bình, căn cứ

42

vào thực tiễn. Đi sát quần chúng, phục vụ quần

chúng, nhưng không theo đuôi, xu nịnh quần chúng.

Cần thiết có đảng, nhưng không coi đảng như một đàn

cừu chỉ biết vâng theo một lãnh tụ cách biệt dù là

tài ba nổi tiếng, hoặc ngược lại bình dân quá lố

để cho quần chúng coi thường. Trong một thư gửi cho

Marx, Engels đã nhắc đến điều đó khi “Liên đoàn”

(La Ligue) cộng sản còn rất ấu trĩ đang gặp khủng

hoảng: “chúng ta tìm đến một đảng làm gì? Chúng ta,

những người trốn tránh những quan niệm chính thức

như dịch hạch, đối với chúng ta, đảng là cái quái

gì, và chúng ta là những người nhổ vào sự bình dân,

và chúng ta sẽ nghi ngờ chính chúng ta khi chúng

ta bắt đầu được tiếng là bình dân - một đảng à,

nghĩa là một đàn lừa nguyền rủa chúng ta vì họ

43

tưởng ta như họ”. (Thư ngày 13-2-1851)            

Chống sùng bái cá nhân, suy tôn lãnh tụ, “Mác đã

khuyên chúng tôi không bao giờ nên theo những cá

nhân, nhưng bao giờ cũng chỉ nên nghĩ đến một lý

tưởng và phê phán nhân danh lý tưởng đó. Ông nói:

Liebknecht, Schweitzer là gì đối với các anh, cá

nhân tôi nữa cũng không phải là gì cả, chỉ có lý

tưởng mà thôi - đó là chân lý”. ( trích báo cáo của

Hamann, chủ tịch một phái đoàn nghiệp đoàn).

            Tìm hiểu đời sống của Mác còn rất cần

thiết để có thể xác định đúng đắn, ý nghĩa thực sự

chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác là một khoa học (kinh

tế học, chính trị học...) hay là một triết học? Mác

là một nhà bác học hay là một chiến sĩ xã hội? Hầu

hết những nhà lý thuyết của Đệ nhị quốc tế cộng

44

sản và sau đó của nhà nước Xô viết như Kautsky,

Hilferding, Plekanof, Boukharine, Staline... ) đều

hiểu chủ nghĩa Mác, đặc biệt là duy vật biện chứng,

như một lý thuyết khoa học khách quan gồm những

định luật về sự phát triển và diễn tiến của xã hội,

một lý thuyết tương tự như những lý thuyết khoa

học chỉ khác về đối tượng và một vài đặc điểm của

xã hội không thể phủ nhận được. Đó là một khuynh

hướng giới thiệu Mác như một nhà bác học, về kinh

tế, chính trị học mà tác phẩm nổi tiếng là bộ “Tư

bản luận”. Gần đây Pierre Naville, một người mác

xít, đã trình bày và bênh vực một luận án ở

Sorbonne về Mác là một nhà bác học chứ không phải

một nhà triết học[1]. Nghiên cứu về nguồn gốc và sự

hình thành ý niệm cần lao trong tư tưởng Mác,

45

Naville nhận thấy Mác, bằng những tác phẩm hầu hết

đều bắt đầu: “Phê bình về” (Critique de) hoặc “Phê

bình phê bình” (Critique de la critique) bỏ dần dần

lý luận dựa vào những ý niệm triết học, để đi tới

một lập luận hoàn toàn dựa vào những ý niệm khoa

học. Nói cách khác, Mác dần dần bỏ những công thức

mơ hồ, do ảnh hưởng của Hegel còn rớt lại, để diễn

tả thực tế xã hội bằng những công thức rõ rệt, có

tính chất toán học, nghĩa là có thể đo lường được

thực tế. Do đó, tư tưởng của Mác đích thực là một

tư tưởng khoa học, sau khi đã phủ nhận triết học

chỉ là một giai đoạn cần phải vượt qua. Điều đáng

chú ý là toàn ban giám khảo (G. Gurvitch, J.

Hyppolite, R. Aron) đều chủ trương ngược lại: coi

Mác chủ yếu là một nhà triết học.            

46

Khuynh hướng này không những gồm những người ở

trong đảng Cộng sản, mà còn có những người không

phải cộng sản chủ trương. Cuộc tranh luận bắt đầu

từ khi người ta khám phá và xuất bản những tác phẩm

thời trẻ tuổi của Mác, đặc biệt tài liệu mang tên:

“Bản thảo kinh tế học và triết học”.            

Những người chủ trương Mác - nhà bác học, và chủ

nghĩa Mác - một lý thuyết khoa học đều chỉ dựa vào

những tác phẩm thời trưởng thành, đặc biệt bộ Tư

bản luận. Họ cho rằng Mác đích thực là mác xít là

Mác thời trưởng thành; còn Mác thời trẻ tuổi chưa

phải là mác xít vì tư tưởng lúc đó chưa gột rửa

được những ảnh hưởng duy tâm nói chung, và ảnh

hưởng Hegel nói riêng. Cho nên không thể công nhận

những tác phẩm “còn do những bệnh tuổi trẻ” ( pêché

47

de Jeunesse) tạo ra, (có tính chất tiền khoa học

(préscientifique) là những tác phẩm phản ảnh chủ

nghĩa Mác chính thức được. Sự gạt bỏ những tác phẩm

thời trẻ tuổi cũng kèm thêm sự phủ nhận Hegel. Vì

Mác thời trưởng thành là Mác đã gạt hết ảnh hưởng

duy tâm, nên giữa một Mác khoa học với Hegel duy

tâm, có sự đối lập, mâu thuẫn hoàn toàn, một bên là

tiến bộ, một bên là phản động. Mác thời trưởng

thành phủ nhận Mác thời tuổi trẻ, nghĩa là cũng phủ

nhận Hegel, vì thời trẻ tuổi còn chịu ảnh hưởng

Hegel; do đó không cần chú ý tới Hegel làm gì khi

nghiên cứu tư tưởng Mác thời trưởng thành, là tư

tưởng mác xít chính thức.             Trái lại

những người mác xít như G. Lukacs, Korsch, A Cornu

hay không mác xít như Hyppolite, Kojeve,

48

Merleau-Ponty v.v... lại đề cao những tác phẩm thời

tuổi trẻ. Những tác phẩm thời trẻ tuổi hầu hết đều

là triết lý, và dựa vào những khái niệm căn bản

như: Vong thân (aliénation), thực tiễn (Praxis),

toàn thể (totalité) mà trước khi xuất bản những tác

phẩm đó, không hề thấy nói đến trong tư tưởng mác

xít chính cống. Nghiên cứu những tác phẩm thời trẻ

tuổi, người ta thấy Mác xuất hiện với khuôn mặt một

triết gia cách mạng, một chiến sĩ cách mạng mà

những tư tưởng thấm nhuần tính chất nhân loại, nhân

bản. Đọc Mác thời trẻ tuổi, người ta cảm thấy một

cái gì như một lý tưởng, một ngọn lửa tha thiết,

một nhiệt tình cách mạng lôi kéo người ta vượt khỏi

những phân tích để thông cảm trong những tình tự

nhân loại (thù ghét bất công, yêu quí công chính,

49

xúc động trước những tình cảnh phi nhân, vong thân

của con người và tha thiết với công cuộc giải phóng

con người - một tư tưởng khoa học bao giờ cũng

lãnh đạm với tình tự nhân loại- vì nó là khách quan

vô ngã).             Nói cách khác, mác xít không

phải chỉ là một khoa học, nhưng là một triết học,

một nhân bản, và tính chất nhân bản không phải chỉ

thấy trong tác phẩm thời trẻ tuổi, mà cả trong “Tư

bản luận” như Hyppolite đã nhận xét với một vẻ

trách móc lập luận của P. Naville: “Tất cả tính

chất cách mạng của Mác mất dần khi ông minh chứng

Mác là một nhà bác học. Với ông, chúng tôi thấy Mác

là một nhà xã hội thực nghiệm tài giỏi mà chúng ta

phải tiếp tục sự nghiệp, nhưng còn mọi cái khác

đều biến mất cả. Ông đã cắt xén gạt bỏ tất cả những

50

đoạn cách mạng của cuốn Tư bản”. Khám phá và phục

hồi những tác phẩm thời trẻ tuổi của Mác tất nhiên

không thể không phục hồi Hegel, vì những khái niệm

căn bản trên (vong thân...) Mác lấy lại của Hegel.

Do đó nảy ra phong trào chủ nghĩa Hegel mới

(néo-hégélianisme) nhằm tìm hiểu Hegel để hiểu Mác

rõ hơn, vì có một liên tục giữa Hegel với Mác và

giữa Mác thời trẻ tuổi với Mác thời trưởng thành.

            Khuynh hương này bị khuynh hướng “chính

thống” chủ trương chỉ công nhận Mác thời trưởng

thành kết án và loại trừ. Shdanov, một tay thông

ngôn lý thuyết của Staline quả quyết phê bình cuốn

“Lịch sử triết học tây phương” của Alexandrov: “Mác

và Engels đã sáng tạo một triết lý mới khác biệt

về phẩm chất (qualitativement) với mọi hệ thống

51

trước”.             Sự khác biệt thiết yếu về phẩm

chất theo Shdanov và khuynh hướng Staline, không

phải ở chỗ Mác cho rằng đã tìm thấy trong vô sản và

thực tiễn cách mạng (praxis révolutionaire) một

khởi điểm “thực hiện” triết học, mà là ở chỗ biến

triết học thành khoa học. Do đó chủ nghĩa Mác trở

thành một cái gì tựa như triết học thực nghiệm kiểu

Auguste Comte.             Shdanov dứt khoát

khẳng định: “Vấn đề triết học Hegel đã giải quyết

xong từ lâu”. Do đó kẻ nào còn trở lại thì chỉ có

nghĩa là nhằm chống lại chủ nghĩa Mác: “Sự trở về

triết học Hegel chỉ là một tấn công tuyệt vọng

chống lại Mác dưới hình thức của chủ nghĩa xét lại

có tính chất fát-xít”. Josef Schleifstein, một tay

“sta-li-niêng” khác cũng tuyên bố gạt bỏ Mác trẻ

52

tuổi vì chưa phải là một “mác-xít”.            

“Bằng cách giản lược tương quan giữa Mác và Hegel

vào tập “Bản thảo về kinh tế triết học” (Manuscrits

économie-philosophie), vào những phạm trù như

phóng thể (Entausserung) vong thân (Entfremdung) đã

giữ một vai trò quan trọng trong thời kỳ hình

thành chủ nghĩa Mác, nhưng không phản ảnh tất cả

nội dung chủ nghĩa đó, người ta đã cố tình củng cố

cảm tưởng có một sự gần gũi trực tiếp giữa Hegel và

Mác, và điều kiện trên tạo cái vẻ bề ngoài theo đó

hầu hết tất cả những vấn đề của chủ nghĩa Mác đều

đã được dự thảo trong triết học Hegel hay đã tiềm

tàng trong triết học đó”.             Do đó nhấn

mạnh vào sự quan trọng của Mác trẻ tuổi, tức là

tiếp tay cho khuynh hướng trưởng giả muốn biến Mác

53

thành một Hegel mà thôi.             “Không thể

ngăn chặn được sự tấn công đó và những nỗ lực phản

động gắn liền với sự tấn công trên để hạ thấp giá

trị sản phẩm khoa học của Mác... nếu người mác-xít

chỉ để ý tới khởi điểm triết học Mác, đến nguồn gốc

tinh thần của nó, chứ không để ý đến kết quả chủ

nghĩa và các phạm trù biện chứng của triết học Mác

với tất cả thành phần cấu tạo của nó, nếu họ không

mang toàn thể học thuyết Mác- Lênin đối chọi với

triết học Hegel và không minh chứng tính chất cao

đẳng của vũ trụ quan theo khoa học mác xít vượt hẳn

triết học Hegel”.             Người ta chú ý lập

luận của Schleifstein: để chống lại khuynh hướng đề

cao Mác trẻ tuổi, Schleifstein chỉ yêu cầu người

mác xít mang toàn thể học thuyết Mác-Lenin, mang

54

những thành quả phạm trù khoa học của Mác trưởng

thành ra để đối chọi, bằng cách gạt bỏ tư tưởng

thời trẻ tuổi. Tại sao Schleifstein không yêu cầu

các người mác xít xét lại một cách triệt để Mác trẻ

tuổi để chống lại khuynh hướng đề cao, mà chỉ

chống lại bằng cách gạt bỏ vấn đề. Thực ra đề cao

Mác trẻ tuổi và sao nhãng Mác trưởng thành là sai

lầm và ngược lại cũng nhầm nốt.             Tư

tưởng của Mác không bắt đầu từ “Tư bản luận” sau

khi đã phủ nhận những tác phẩm trước; ngược lại, tư

tưởng của Mác cũng không phải đã “tự phản bội” khi

chuyển sang diễn tả bằng ngôn ngữ khoa học như thể

có một đứt quãng giữa hai thời kỳ: sự thực có một

liên tục trong sự diễn tiến của tư tưởng Mác. Do

đó, muốn tìm hiểu Mác phải tìm hiểu toàn thể triết

55

học Mác, và do đó tìm hiểu thời tuổi trẻ, chỉ là để

hiểu sâu xa hơn, đích thực hơn, thời trưởng thành.

Sở dĩ có liên tục là vì có thống nhất trong tư

tưởng của Mác. Sự thống nhất này được biểu lộ trong

một vài hướng đi nền tảng có tính chất nhân bản

triết lý chỉ đạo toàn bộ chủ nghĩa Mác, nghĩa là

bao hàm như căn bản trong mọi công trình khảo sát

có tính cách triết lý hay khoa học, (kinh tế, chính

trị). Cái nền căn bản đó Mác không bao giờ phủ

nhận như Jean Hyppolite đã chứng minh[2]. Nói cách

khác, không thể nói Mác chỉ là nhà bác học, hay là

nhà triết học, vì triết học khoa học chẳng qua chỉ

là những thái độ do những đòi hỏi phương pháp luận

qui định (exigences méthodologiques) mà không phải

là mục đích, cứu cánh của việc nghiên cứu. Cái cốt

56

yếu là một ý hướng nhân bản, một ý chí giải phóng

con người. Do đó sự thống nhất về tư tưởng phản ảnh

sự thống nhất về con người ở nơi Mác: Mác vừa là

nhà bác học, nhà triết học, người chiến sĩ cách

mạng.             Người ta có thể nhận ra điều đó

khi tìm hiểu cuộc đời của Mác. Sự tìm hiểu này sẽ

cho thấy Mác thực sự theo Mác đôi khi khác với Mác

nhìn theo con mắt của người khác, như đồ đệ của Mác

và nhất là cho thấy cái mà ta có thể gọi là “dự

phóng nền tảng” của Mác, cái vượt khỏi những bình

diện khoa học, triết học, là bình diện phương tiện,

đồng thời vẫn là nền tảng, căn bản cho những

nghiên cứu suy tưởng triết học khoa học của Mác.

Mục đích của những nhận định dưới đây là trình bày

dự phóng nền tảng đó bằng cách giới thiệu cuộc đời

57

của Mác. Nhưng bởi vì dự phóng đó dễ dàng nhận ra

hơn cả trong những tác phẩm thơ từ thời trẻ tuổi,

nên chúng tôi cũng sẽ chú trọng nhiều hơn đến Mác

trẻ tuổi[3]. Sự chú trọng đó không hề ngụ ý phủ

nhận tính cách quan trọng của Mác trưởng thành, vì

chúng tôi cho rằng tác phẩm thời trưởng thành không

phản lại thời trẻ tuổi mà chỉ là một nỗ lực trình

bày những hướng đi căn bản bằng những biểu lộ khoa

học chân xác, (có tính chất toán học nữa càng hay)

và mục đích những nhận xét ở đây chỉ là nhằm bày tỏ

cái duy trì sự liên tục, thống nhất của tư tưởng

Mác, trong quá trình diễn tiến của nó; cái duy trì

sự thống nhất đó là cái mà chúng tôi gọi là dự

phóng nền tảng của Mác.                [1] Luận

án nhan đề: De l’aliénation à la jouissance, essai

58

sur le dévelopment de la sociologie du travail chez

Marx et Engels. [2] De la structure du “Capital”

et quelques presuppositions philosophiques de l

œuvre de Marx trong “Etudes sur Marx et Engels” -

Paris 1955 [3] Gần đây Marek Fritzhand đã viết

một bài nhan đề “Cuộc tranh chấp về gia tài triết

học của Mác trẻ tuổi” đăng trong tạp chí “Những con

đường mới” (Nowi Drogi), cơ quan trung ương của

Đảng Cộng sản Balan, mục đích yêu cầu người Mác xít

không nên để cho những kẻ theo chủ nghĩa xét lại

hay thù địch của Mác xít độc quyền nhắc tới và

nghiên cứu những tác phẩm thời trẻ tuổi của Mác, vì

theo ông, không có mâu thuẫn giữa lập trường của

Mác trẻ tuổi với lập trường của Mác trưởng thành,

và sở dĩ người Mác xít chính thống sao nhãng bỏ

59

quên Mác trẻ tuổi là vì sợ bị nghi là theo chủ

nghĩa xét lại, hơn nữa, cũng vì một vài chủ trương

lệch lạc có tính cách thực nghiệm của người Mác

xít. Ông nói “Ngay cả bộ TƯ BẢN cũng thấm nhuần

những phạm trù luân lý... Nếu một đàng giản lược

Mác xít vào luân lý đúng là một trò chơi nguy hiểm

của chủ nghĩa xét lại, thì đàng khác, tách biệt mác

xit khỏi nội dung luân lý cũng đúng thật là làm

hại chủ nghĩa Mác”.

60

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát