Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Kim Tự Tháp Đỏ - P1

KIM TỰ THÁP ĐỎ - P1

Tác giả: Rick Riordan

Người dịch: Thiên Tứ

Dành tặng tất cả những người bạn thủ thư của tôi,

những chuyên gia về sách, những pháp sư chân chính

trong Ngôi Nhà Sự Sống. Không có các bạn, nhà văn

này lạc lối trong Cõi Âm.

CẢNH BÁO

Dưới đây là bản chép lại từ một cuộn băng ghi âm.

Có một đôi chỗ, chất lượng cuộn băng thật xấu, nên

một vài từ hoặc cụm từ chỉ là sự suy đoán tốt nhất

của tác giả. Ở những đoạn có thể thực hiện được,

hình minh họa của các biểu tượng quan trọng được

nhắc đến trong cuộn băng đã được chèn vào. Những âm

thanh nền như tiếng ẩu đả, đánh nhau, và tiếng

1

chửi rủa của hai người kể sẽ không được chép lại.

Tác giả sẽ không chịu trách nhiệm về tính xác thực

của cuộn băng. Dường như thật khó để xác nhận xem

hai người kể chuyện trẻ tuổi có đang nói sự thật

không, nhưng các bạn, những độc giả, hãy tự mình

quyết định chuyện đó.

1. CÁI CHẾT Ở CỘT THÁP

CHÚNG TÔI CHỈ CÓ MỘT VÀI TIẾNG THÔI, vì thế hãy

nghe cho kỹ nhé.

Nếu bạn đang nghe câu chuyện này, bạn đang gặp

nguy hiểm. Sadie và tôi có thể là cơ hội duy nhất

dành cho bạn.

Hãy đi đến trường. Tìm chiếc tủ có khóa. Tôi sẽ

không nói cho bạn đó là ngôi trường nào và chiếc tủ

nào, vì nếu bạn chính là người đó, bạn sẽ tìm

2

được. Dãy số dùng để mở ổ khóa là 13/32/33. Vào

thời điểm bạn nghe xong đoạn băng này, bạn sẽ biết

những con số đó có nghĩa là gì. Nhưng hãy nhớ câu

chuyện chúng tôi sắp kể cho bạn hoàn toàn chưa kết

thúc. Nó kết thúc như thế nào đều phụ thuộc vào

bạn.

Điều quan trọng nhất là: khi bạn mở gói hàng và

tìm thấy thứ bên trong, đừng giữ nó lâu hơn một

tuần. Đương nhiên, sẽ cám dỗ lắm đấy. Ý tôi là, nó

sẽ mang đến cho bạn một sức mạnh gần như không giới

hạn. Nhưng nếu bạn sở hữu nó quá lâu, nó sẽ phá

hủy bạn. Hãy nhanh chóng khám phá các bí mật và gởi

nó đi. Hãy giấu nó cho một người tiếp theo, cách

mà Sadie và tôi đã làm cho bạn. Rồi hãy chuẩn bị

cho việc cuộc đời bạn sẽ trở nên vô cùng thú vị.

3

Được rồi, Sadie đang bảo tôi ngừng vòng vo mà hãy

bắt đầu câu chuyện. Tốt thôi. Tôi nghĩ câu chuyện

bắt đầu xảy ra ở Luân Đôn, cái đêm mà cha tôi đã

làm nổ tung Bảo tàng Anh.

Tôi là Carter Kane. Tôi mười bốn tuổi và nhà của

tôi là một cái vali.

Bạn nghĩ tôi đang nói đùa sao? Kể từ lúc tôi lên

tám, cha tôi và tôi đã chu du khắp thế giới. Tôi

sinh ra ở L.A. nhưng cha tôi là một nhà khảo cổ, vì

vậy công việc đưa ông đi khắp nơi. Phần lớn chúng

tôi đến Ai Cập, vì đó là chuyên ngành của ông. Hãy

đi vào một nhà sách, tìm một cuốn sách viết về Ai

Cập, khả năng khá cao là cuốn sách do Tiến sĩ

Julius Kane viết. Bạn muốn biết cách những người Ai

Cập lôi các bộ não ra khỏi xác ướp, hoặc xây các

4

kim tự tháp, hay ếm bùa lăng mộ của Vua Tut ư? Cha

tôi là chính là người bạn muốn. Dĩ nhiên, có nhiều

nguyên nhân khác cho việc cha tôi phải di chuyển

khắp nơi quá nhiều như thế, nhưng khi đấy thì tôi

chẳng biết gì đến bí mật của ông cả.

Tôi không đi học. Cha tôi dạy cho tôi ở nhà, nếu

bạn có thể gọi nó là việc tự học “tại nhà” khi bạn

không có cái gọi là nhà đấy. Ông đã dạy cho tôi bất

cứ những gì ông nghĩ là quan trọng, vì thế tôi đã

học được rất nhiều về Ai Cập và các thống kê về

bóng rổ cùng với những nhạc sĩ yêu thích của cha.

Tôi cũng đọc rất nhiều – hầu như là bất cứ cuốn

sách mà tôi tìm được, từ sách lịch sử của cha tôi

cho đến tiểu thuyết kỳ ảo – vì tôi có rất nhiều

thời gian ngồi thơ thẩn trong các khách sạn, sân

5

bay và khu vực khai quật ở các nước khác nơi tôi

chẳng biết một ai. Cha tôi luôn bảo tôi là hãy đặt

sách xuống và chơi bóng đi. Bạn đã bao giờ thử nhóm

một trận bóng rổ đường phố ở Aswan, Ai Cập chưa?

Không dễ đâu.

Dù sao, cha tôi đã sớm huấn luyện cho tôi cách cất

tất cả vật dụng chỉ trong một chiếc vali duy nhất

có thể nhét vừa khoang hành lý cá nhân. Cha tôi

cũng đóng gói như thế, ngoại trừ ông được phép có

thêm một chiếc túi đựng các công cụ khảo cổ. Nguyên

tắc thứ nhất: tôi không được phép ngó nghiêng vào

chiếc túi đồ nghề đó. Đó là nguyên tắc tôi chưa bao

giờ vi phạm cho đến ngày xảy ra vụ nổ.

Chuyện đó xảy ra vào đêm Giáng sinh. Chúng tôi ở

Luân Đôn trong ngày đến thăm em gái tôi, Sadie.

6

Xem nào, Cha chỉ được phép đến thăm em ấy hai ngày

trong một năm – một vào mùa đông, một vào mùa hè –

vì ông bà ngoại tôi ghét ông. Sau khi mẹ tôi mất,

cha mẹ của bà (ông bà ngoại của chúng tôi) đã có

một cuộc đại chiến ở tòa án với Cha. Sau sáu luật

sư, hai trận đánh đấm tay không, và cú tấn công

bằng con dao bay suýt chút gây án mạng (đừng hỏi),

họ đã dành được quyền giữ Sadie lại nước Anh với

họ. Con bé lúc đó chỉ mới có sáu tuổi, nhỏ hơn tôi

hai tuổi, và ông bà không thể giữ được cả hai chúng

tôi – ít nhất đó là cái cớ mà ông bà viện đến cho

việc đã không nhận tôi. Vì thế Sadie được nuôi dạy

như một học sinh người Anh, còn tôi cùng cha đi

khắp nơi. Chúng tôi chỉ gặp Sadie hai lần trong một

năm, như vậy với tôi mà nói cũng ổn cả thôi.

7

[Im miệng, Sadie. Đúng – anh đang bắt đầu nói đến

phần đó.]

Mà thôi, cha và tôi đã đến Heathrow sau một vài

lần chuyến bay bị trì hoãn. Đó là một buổi chiều

mưa lắc rắc, lạnh lẽo. Trong suốt quá trình đi taxi

vào thành phố, cha tôi dường như khá bồn chồn.

Này, cha tôi là một người to lớn. Bạn nghĩ sẽ

chẳng có thứ gì có thể làm cho ông bồn chồn cả đâu.

Ông có nước da màu nâu sẫm màu như tôi, đôi mắt

nâu sắc bén, đầu hói, chòm râu cằm nhọn hoắt, vì

thế ông trông giống một nhà khoa học xấu xa vạm vỡ

có làn da nâu. Chiều hôm đó ông mặc chiếc áo choàng

bằng len cashmere và bộ vét màu nâu đẹp nhất, bộ

vét mà ông thường sử dụng cho các buổi diễn thuyết.

Thường thì ở ông tỏa ra sự tự tin cao độ đến nỗi

8

ông chiếm lĩnh hết bất cứ căn phòng nào ông bước

vào, nhưng đôi khi – giống như buổi chiều hôm đó –

tôi nhìn thấy một mặt khác của ông mà tôi thật sự

không hiểu. Ông liên tục ngoái nhìn lại phía sau

như thể chúng tôi đang bị săn đuổi vậy.

“Cha này?” tôi nói khi chúng tôi ra khỏi đường

A-40. “Có chuyện gì ạ?”

“Không có bất cứ dấu hiệu nào của họ,” ông lầm

bầm. Rồi hẳn chợt nhận ra mình đã nói lớn thành

tiếng, vì ông nhìn tôi giống như là hoảng hốt.

“Không có gì, Carter. Mọi thứ đều ổn.”

Mà thế lại khiến tôi lo lắng vì cha tôi là một

người nói dối dở tệ. Tôi luôn biết khi nào thì ông

đang giấu diếm gì đó, nhưng tôi cũng biết rằng có

lằng nhằng hỏi cỡ nào cũng không thể moi được sự

9

thật từ ông. Ông chắc chắn đang cố để bảo vệ tôi,

mặc dầu bảo vệ khỏi chuyện gì thì tôi chẳng thể nào

biết được. Đôi khi tôi tự hỏi liệu có phải ông đã

có một vài bí mật đen tối nào đó trong quá khứ

chăng, có lẽ là một vài kẻ thù cũ nào đó đang theo

đuôi; nhưng ý nghĩ đó dường như nực cười quá. Cha

tôi chỉ là một nhà khảo cổ thôi mà.

Thêm chuyên nữa khiến tôi không yên: Cha đang giữ

chặt chiếc túi đồ nghề của ông. Thường khi ông làm

điều đó, có nghĩa chúng tôi đang gặp nguy hiểm. Như

cái lần mấy tên cướp có súng lao rầm rập vào khách

sạn của chúng tôi ở Cairo. Tôi nghe được những

tiếng bắn nhau đến từ sảnh khách sạn nên chạy xuống

cầu thang để tìm cha. Lúc xuống đến nơi, cha tôi

đang bình tĩnh kéo khóa chiếc túi trong khi ba tên

10

cướp đã bị bất tỉnh treo ngược lủng lẳng trên chiếc

đèn chùm, áo choàng của chúng phủ xuống đầu nên

bạn thậm chí có thể nhìn thấy những chiếc quần lót

ống rộng của chúng. Cha đã khai rằng ông không

chứng kiến bất cứ điều gì, và cuối cùng cảnh sát

đành đổ cho sự cố trục trặc kỹ thuật kỳ dị của

chiếc đèn chùm.

Một lần khác, chúng tôi mắc kẹt trong một vụ bạo

động ở Paris. Cha tôi đã tìm thấy một chiếc xe đỗ

gần nhất, đẩy tôi vào bên trong ghế sau và bảo tôi

nằm xuống. Tôi ép sát người xuống sàn xe ô-tô và

nhắm chặt mắt lại. Tôi có thể nghe tiếng Cha ở ghế

tài xế, lục lọi khắp chiếc túi, tự lầm bầm điều gì

đó khi đám đông la hét và phá hủy mọi thứ bên

ngoài. Một vài phút sau ông bảo tôi rằng mọi việc

11

đã ổn và có thể ngồi dậy. Mọi chiếc xe khác trong

khu phố đã bị lật ngược và bị đốt cháy. Chiếc xe

của chúng tôi như vừa được rửa sạch và đánh bóng,

và một mớ tờ hai mươi euro được nhét bên dưới hai

cần gạt nước.

Dù sao thì, tôi trở nên tôn trọng chiếc túi đó. Nó

là bùa may của chúng tôi. Nhưng khi cha tôi giữ

chặt lấy nó, thì có nghĩa chúng tôi sẽ cần một ít

may mắn.

Chúng tôi xuyên qua trung tâm thành phố, đi thẳng

về hướng đông đến căn hộ của ông bà ngoại. Chúng

tôi đi ngang qua các cánh cổng bằng vàng của Cung

điện Buckingham, cột đá lớn ở Quảng trường

Trafalgar. Luân Đôn là một nơi khá đẹp, nhưng sau

khi bạn đã đi quá nhiều, tất cả các thành phố bắt

12

đầu na ná nhau. Những đứa trẻ khác tôi đã gặp đôi

khi nói, “Chà, cậu thật may khi được đi nhiều như

thế.” Nhưng có phải là cha con tôi dành thời gian

đi ngắm cảnh hay có nhiều tiền để thực hiện các

chuyến du lịch xa xỉ đâu. Chúng tôi phải ở trong

những nơi khá tồi tàn, và hầu như chưa bao giờ ở

lại bất cứ nơi nào quá vài ngày. Đa phần tôi cảm

giác như cha con tôi là những kẻ trốn chạy chứ

không phải là khách du lịch.

Ý tôi là, bạn sẽ nghĩ công việc của cha tôi không

nguy hiểm gì cả. Đúng là ông có diễn thuyết về các

chủ đề như “Liệu Phép Thuật Của Người Ai Cập Thật

Sự Giết Chết Bạn?” và “Những Hình Phạt Yêu Thích

Dưới Địa Ngục Của Người Ai Cập” và những vấn đề mà

hầu hết mọi người không quan tâm. Nhưng như tôi đã

13

nói, cha tôi còn có mặt khác nữa. Ông thường rất

thận trọng, kiểm tra mọi phòng khách sạn trước khi

để tôi bước vào. Ông sẽ lao nhanh vào một bảo tàng

để nhìn một vài đồ tạo tác, ghi ghi chép chép, và

lao vội ra ngoài như thể ông sợ bị các camera an

ninh quay lại vậy.

Một lần khi còn bé, chúng tôi phóng như băng qua

sân bay Charles de Gaulle để bắt kịp chuyến bay

quyết định vào phút chót, và chỉ đến khi máy bay

cất cánh thì cha tôi mới thoải mái được, tôi đã hỏi

thẳng ông rằng ông đang chạy trốn điều gì, thế là

ông nhìn tôi như thể tôi vừa mới lôi chốt một trái

lựu đạn vậy. Trong một giây tôi còn sợ rằng ông có

thể nói cho tôi sự thật. Rồi ông nói, “Carter,

chẳng có gì đâu.” Như thể “chẳng có gì” là điều

14

kinh khủng nhất trên thế giới.

Sau việc đó, tôi quyết định tốt hơn hết là không

nên đưa ra bất cứ câu hỏi nào.

Ông bà ngoại tôi, gia đình Faust, sống trong một

khu chung cư gần cầu tàu Canary, ngay bên cạnh bờ

sông Thames. Taxi ngừng lại ở lề đường, và cha tôi

yêu cầu tài xế chờ ông.

Chúng tôi đi được nửa đường thì Cha khựng người

lại. Ông quay lại và nhìn về phía sau chúng tôi.

“Gì thế cha?” tôi hỏi.

Rồi tôi nhìn thấy một người đàn ông trong chiếc áo

khoác dài. Ông ta ở phía bên kia đường, tựa người

vào một cái cây lớn đã chết. Ông ta to lớn, với làn

da có màu cà phê rang. Chiếc áo khoác và bộ vét

sọc đen trông mắc tiền. Ông ta có mái tóc dài được

15

tết lại và đội một chiếc mũ phớt mềm đen được kéo

xuống thấp ngay phía trên cặp kính tròn màu tối.

Ông ta gợi cho tôi nhớ đến một nhạc sĩ nhạc jazz,

kiểu mà cha tôi sẽ luôn kéo tôi đi xem trong buổi

hòa nhạc. Mặc dầu tôi không thể nhìn thấy đôi mắt

của ông ta, tôi có cảm giác ông ta đang quan sát

chúng tôi. Đó có thể là một người bạn cũ hoặc đồng

nghiệp của Cha. Dù chúng tôi có đi đến đâu, Cha tôi

luôn gặp phải người nào đó ông biết. Nhưng có vẻ

lạ làngười đàn ông này lại đang đứng đợi tại đây,

ngay phía bên ngoài nhà ông bà ngoại. Và ông ta

trông không được vui.

“Carter,” cha nói, “đi tiếp đi.”

“Nhưng…”

“Đi đón em con. Cha sẽ gặp lại bọn con ở xe taxi.”

16

Ông đi băng qua đường, về phía người đàn ông mặc

áo khoác dài, để lại tôi với hai lựa chọn: đi theo

cha và biết được điều gì đang diễn ra, hoặc làm

theo những gì tôi được bảo.

Tôi quyết định chọn lựa con đường ít nguy hiểm

hơn. Tôi đi đón em gái tôi.

Trước khi tôi kịp gõ cửa, Sadie mở cửa ra.

“Muộn như mọi khi,” con bé nói.

Con bé đang ôm con mèo Muffin, món quà “ra đi” Cha

đã tặng nó sáu năm về trước. Muffin dường như chưa

bao giờ già đi hay béo lên. Nó có bộ lông vàng-đen

xù bông như một con báo thu nhỏ, đôi mắt vàng lanh

lợi, và cặp tai nhọn quá dài so với cái đầu của

nó. Một mặt dây chuyền Ai Cập bằng bạc treo lủng

lẳng ở vòng cổ. Nó trông chẳng giống bánh muffin

17

chút nào, nhưng Sadie còn nhỏ xíu khi con bé đặt

tên cho nó, vì thế tôi nghĩ bạn bỏ quá cho con bé

thôi.

Sadie cũng không thay đổi nhiều so với mùa hè năm

ngoái.[Khi tôi đang thu âm đoạn băng này, con bé

đang đứng bên cạnh tôi, nhìn chằm chằm, vì thế tốt

hơn tôi nên cẩn thận về cách tôi miêu tả nó.]

Bạn sẽ không bao giờ đoán được con bé là em gái

tôi đâu. Trước nhất này, con bé sống ở Anh quá lâu,

vì thế nó nói giọng Anh. Thứ hai, con bé giống mẹ

chúng tôi, mẹ lại trắng, vì thế da của Sadie trắng

hơn nhiều so với tôi. Con bé có mái tóc thẳng màu

nâu nhạt, không vàng mà cũng chẳng phải nâu, nó

thường nhuộm thành các dải màu sáng hơn. Hôm đó là

những dải tóc màu đỏ dài xuống ở phía bên trái. Mắt

18

con bé có màu xanh dương. Tôi nói nghiêm túc đấy.

Đôi mắt màu xanh dương, y như mắt mẹ chúng tôi. Nó

chỉ mới mười hai tuổi, nhưng đã cao bằng tôi, bực

thật. Nó đang nhai kẹo cao su như mọi khi, đã ăn

mặc sẵn sàng cho ngày gặp Cha với quần jeans sờn,

áo jacket da, và đôi giày ống quân đội, như thể nó

chuẩn bị đi dự hòa nhạc và đang hy vọng giẫm lên

chân người nào đó. Một cặp tai nghe đang treo lủng

lẳng quanh cổ phòng trường hợp chúng tôi làm nó

chán.

[Được rồi, nó đã không đánh tôi, vì thế tôi đoán

mình đã làm tốt nhiệm vụ giới thiệu.]

“Máy bay của bọn anh bị trễ,” tôi nói với nó.

Nó thổi một cái bong bóng, xoa đầu Muffin, và

quẳng con mèo vào lại trong nhà. “Ngoại, con đi

19

đây!”Ở đâu đó trong nhà, bà ngoại Faust nói điều

gì đó mà tôi không nghe ra, chắc là “Đừng để hai

người đó vào nhà!”

Sadie đóng cửa và nhìn tôi chăm chú như thể tôi là

một con chuột chết mà con mèo của nó vừa mới tha

vào. “Vậy, anh lại đến một lần nữa.”

“Ừm.”

“Thế thì đi thôi.” Con bé thở dài. “Cho xong cho

rồi.”Con bé này là vậy đấy. Không “Chào, sáu tháng

qua anh thế nào? Rất vui được gặp anh!” hay gì cả.

Nhưng với tôi vậy cũng ok thôi. Khi bạn chỉ gặp

nhau hai lần một năm, thì bạn giống như những người

bà con họ hàng xa hơn là anh chị em ruột. Chúng

tôi hoàn toàn chẳng có thứ gì chung ngoại trừ ba

mẹ.

20

Chúng tôi lê bước xuống các bậc thang. Tôi đang

nghĩ sao con bé lại có mùi trộn giữa nhà của những

người già và kẹo cao su thì con bé đột ngột ngừng

lại, tôi đâm mạnh vào người nó.

“Ai thế?” con bé hỏi.

Tôi gần như quên mất cái gã vận áo khoác dài. Ông

ta và cha tôi đang đứng ở phía bên kia đường kế bên

cái cây to, có vẻ như đang tranh cãi gay gắt. Lưng

cha quay lại vì thế tôi không thể nhìn thấy mặt

ông, nhưng ông đang khoa chân múa tay như ông

thường làm khi bị kích động. Người đàn ông kia thì

cau có và lắc đầu.

“Chả biết,” tôi nói. “Ông ta đã ở đó khi bọn anh

ngừng xe lại.”

“Ông ta trông quen quen,” Sadie cau mày như thể

21

đang cố nhớ lại. “Đi thôi.”

“Cha muốn chúng ta đợi trong xe,” tôi nói, mặc dầu

tôi biết điều đó chẳng ích gì. Sadie đã bước về

phía hai người đó.

Thay vì đi thẳng qua phía bên kia đường, con bé đi

nép trên lề khoảng nửa khu nhà, thụp xuống nấp sau

những chiếc xe, rồi băng qua phía bên kia đường,

sau đó ngồi chồm hổm sau một bức tường đá thấp. Nó

bắt đầu nhích về phía cha chúng tôi. Tôi không có

lựa chọn nào khác nên đành phải làm theo, mặc dầu

điều đó làm tôi cảm thấy khá là ngu ngốc.

“Sáu năm ở Anh,” tôi lầm bầm, “và nó nghĩ mình là

James Bond cơ đấy.”

Sadie đập mạnh vào tôi mà chẳng cần quay người lại

và tiếp tục rón rén đi về phía trước.

22

Thêm một vài bước nữa và chúng tôi đã ở ngay phía

sau cái cây khô lớn. Tôi có thể nghe thấy tiếng cha

tôi ở phía bên kia tường, đang nói, “… phải làm

thế thôi, Amos. Chú biết đó là điều đúng mà.”

“Không,” người kia nói, hẳn đấy phải là Amos.

Giọng ông ta trầm đều – rất cứng rắn. Giọng ông ta

là giọng Mỹ. “Nếu em không ngăn anh lại, Julius, họ

sẽ làm. Per Ankh đang theo dõi anh.”

Sadie quay về phía tôi và tròn miệng hỏi “Per gì?”

Tôi lắc đầu, cũng mù tịt. “Ra khỏi đây thôi,” tôi

thì thầm, vì đoán rằng chúng tôi sẽ bị phát hiện

bất cứ khi nào và sẽ gặp phải rắc rối lớn. Sadie,

dĩ nhiên, lờ tôi đi.

“Họ không biết kế hoạch của anh,” cha tôi đang

nói. “Khi họ phát hiện ra nó…”

23

“Còn bọn trẻ?” Amos hỏi. Tóc ở phía sau gáy tôi cứ

dựng đứng cả lên. “Chúng thì sao?”

“Anh đã thu xếp xong việc bảo vệ chúng,” cha tôi

nói. “Ngoài ra, nếu anh không làm điều này, tất cả

chúng ta đều gặp nguy hiểm. Giờ thì, đi đi.”

“Em không thể, Julius.”

“Vậy chú muốn một cuộc quyết đấu sao?” Giọng cha

tôi trở nên vô cùng nghiêm trọng. “Chú chưa bao giờ

có thể đánh bại anh đấy nhé, Amos.”

Tôi đã không nhìn thấy cha tôi trở nên hung dữ kể

từ Sự kiện Con Dao Bay Lớn đó, và tôi không tha

thiết muốn nhìn chuyện đó được lặp lại, nhưng hai

người đàn ông dường như sắp sửa đánh nhau đến nơi.

Trước khi tôi có thể phản ứng, Sadie nhổm dậy và

hét lên, “Cha!”

24

Ông trông ngạc nhiên khi con bé lao đến ôm chặt

lấy ông, nhưng cũng không ngạc nhiên bằng người đàn

ông còn lại, Amos. Ông ta lùi lại quá nhanh đến

nỗi đã giẫm phải áo khoác của chính mình.

Ông ta lấy kính ra. Tôi không thể không nghĩ rằng

Sadie đã nói đúng. Ông ta trông khá quen – như một

ký ức từ rất lâu.

“Tôi… tôi phải đi,” ông ta nói. Ông ta chỉnh thẳng

lại chiếc mũ phớt và lê bước về phía cuối con

đường.Cha chúng tôi nhìn ông ta đi. Ông quàng một

cánh tay bảo vệ ở vai Sadie và tay còn lại cho vào

bên trong chiếc túi đồ nghề được đeo trên vai. Cuối

cùng khi Amos biến mất quanh khúc rẽ, cha thở dài

nhẹ nhõm. Ông lấy tay ra khỏi túi và mỉm cười với

Sadie. “Chào, con yêu.”

25

Sadie đẩy người ra và khoanh tay lại. “Ồ, giờ lại

là con yêu ấy nhỉ? Cha đã đến trễ. Ngày Đến Thăm

của cha gần kết thúc rồi! Và chuyện vừa rồi là sao

ạ? Amos là ai, và Per Ankh là gì?”

Cha cứng người lại. Ông liếc về phía tôi như thể

đang tự hỏi chúng tôi đã nghe lỏm được nhiều như

thế nào.

“Chẳng có gì,” ông nói, cố tỏ ra lạc quan. “Cha đã

lên kế hoạch cho một buổi tối tuyệt vời. Ai muốn

làm một chuyến viếng thăm cá nhân đến Bảo tàng Anh

nào?”Sadie thả người xuống ghế sau xe taxi giữa

Cha và tôi.

“Không thể tin được,” con bé lầm bầm. “Một buổi

tối cùng nhau, vậy mà cha lại muốn thực hiện việc

nghiên cứu.”

26

Cha cố mỉm cười. “Con yêu, sẽ vui mà. Người phụ

trách bộ sưu tập Ai Cập đã đích thân mời…”

“Phải rồi, ngạc nhiên ghê.” Sadie thổi bay một lọn

tóc nhuộm đỏ ra khỏi mặt mình. “Đêm nay là đêm

Giáng sinh, và chúng ta sẽ đi xem một vài di vật cũ

kỹ mốc meo đến từ Ai Cập. Cha có bao giờ nghĩ đến

bất cứ thứ nào khác không?”

Cha không nổi giận. Ông không bao giờ nổi giận với

Sadie. Ông chỉ nhìn ra bầu trời đang tối dần và

cơn mưa ở phía bên ngoài cửa xe.

“Có,” ông nhẹ nhàng nói. “Cha có nghĩ.”

Bất cứ khi nào Cha trở nên im lặng như thế và nhìn

xa xăm vào nơi vô định, thì tôi biết ông đang nghĩ

về mẹ của chúng tôi. Mấy tháng vừa qua, việc này

đã xảy ra khá nhiều. Tôi đi vào phòng khách sạn và

27

nhìn thấy ông đang ngồi với chiếc điện thoại di

động của mình trong tay, bức ảnh mẹ đang mỉm cười

với ông xuất hiện trên màn hình – mái tóc bà nhét

vào dưới chiếc khăn trùm đầu, đôi mắt màu xanh

dương sáng lấp lánh trên nền sa mạc phía sau lưng.

Hoặc khi chúng tôi ở nơi khai quật. Tôi nhìn thấy

Cha nhìn chăm chú vào đường chân trời, và tôi biết

ông đang nhớ đến việc ông đã gặp bà như thế nào –

hai nhà khoa học trẻ ở Thung lũng Các Vị Vua, đang

trên đường khai quật nhằm tìm kiếm một lăng mộ bị

thất lạc. Cha là một nhà Ai Cập học. Mẹ là một nhà

nhân học đang tìm kiếm ADN cổ xưa. Ông đã kể cho

tôi câu chuyện ấy cả ngàn lần.

Xe taxi của chúng tôi đi ngoằn nghèo dọc theo các

bờ của con sông Thames. Ngay khi vừa mới đi quá cây

28

cầu Waterloo, cha tôi trở nên căng thẳng.

“Bác tài này,” ông nói. “Dừng lại đây một chút.”

Bác tài tấp xe vào bờ kè Victoria.

“Có chuyện gì sao, Cha?” tôi hỏi.

Cha đi ra khỏi xe taxi như thể ông không nghe thấy

tôi nói. Khi Sadie và tôi đi theo ông lên vỉa hè,

ông đang ngước nhìn lên Cleopatra’s Needle.

Trong trường hợp bạn chưa bao giờ nhìn thấy nó:

Needle là một cột tháp, không phải là một cây kim,

và không chẳng có liên quan gì đến Cleopatra. Tôi

đoán người Anh chắc đã nghĩ cái tên đó nghe thật

bảnh khi họ mang nó đến Luân Đôn. Nó cao khoảng hai

mươi mốt mét, như thế ắt sẽ thật sự ấn tượng nếu

nó ở thời Ai Cập cổ đại, nhưng ở bên bờ sông

Thames, với bao tòa nhà cao tầng vây quanh, nó

29

trông nhỏ bé và buồn tẻ. Bạn có thể lái xe ngang

qua mà thậm chí chẳng nhận ra mình vừa mới đi qua

qua một thứ còn lớn hơn thành phố Luân Đôn đến một

ngàn năm tuổi.

“Chúa ơi.” Sadie quành tới quành lui thành một

vòng tròn tuyệt vọng. “Chúng ta phải ngừng lại ở

mỗi một đài kỷ niệm sao?”

Cha tôi liếc nhìn về phía đỉnh ngọn tháp. “Cha

phải nhìn thấy nó một lần nữa,” ông lẩm bẩm. “Nơi

đã xảy ra…”

Một cơn gió lạnh buốt từ ngoài sông thổi vào. Tôi

muốn quay trở lại xe taxi, nhưng cha tôi đang bắt

đầu khiến tôi lo lắng. Tôi chưa bao giờ thấy ông

quẫn trí như thế.

“Cha, có chuyện gì sao?” tôi hỏi. “Có chuyện gì

30

xảy ra ở đây thế?”

“Nơi cuối cùng cha nhìn thấy cô ấy.”

Sadie ngừng đi tới đi lui. Con bé cau có vẻ không

hiểu nhìn tôi, sau đó nhìn Cha. “Khoan nào. Ý cha

là Mẹ sao?”

Cha vén tóc Sadie ra phía sau tai, con bé quá ngạc

nhiên đến nỗi thậm chí không đẩy tay ông ra.

Tôi cảm giác như cơn mưa làm tôi lạnh cóng người

lại. Cái chết của mẹ đã luôn là một chủ đề bị cấm.

Tôi biết bà chết trong một tai nạn ở Luân Đôn. Tôi

biết ông bà ngoại đã đổ lỗi cho cha tôi. Nhưng

chẳng có ai nói cho chúng tôi biết chi tiết. Tôi đã

từ bỏ việc hỏi cha tôi, một phần vì điều đó làm

cho ông buồn, một phần vì ông tuyệt đối từ chối nói

cho tôi mọi chuyện. “Để đến khi con lớn hơn” luôn

31

là những gì ông nói, cũng là câu trả lời bực mình

nhất mà tôi có được.

“Cha đang nói với chúng con là mẹ đã chết ở đây,”

tôi nói. “Ở Cleopatra’s Needle sao? Chuyện gì đã

xảy ra vậy?”

Ông cúi thấp đầu.

“Cha!” Sadie kháng nghị. “Con đi ngang qua nơi này

mỗi ngày, và ý cha muốn nói – trong suốt thời gian

qua – và con thậm chí còn chẳng biết đến chuyện đó

sao?”

“Con vẫn còn giữ con mèo của mình chứ?” cha hỏi

nó, dường như đó là một câu hỏi thật sự ngớ ngẩn.

“Dĩ nhiên là con vẫn còn giữ con mèo!” con bé nói.

“Điều đó thì có liên quan gì chứ?”

“Và bùa hộ mệnh của con?”

32

Tay Sadie đưa lên cổ. Khi chúng tôi còn nhỏ, ngay

trước khi Sadie đến sống với ông bà ngoại, Cha đã

đưa cho chúng tôi hai lá bùa Ai Cập. Của tôi là Con

Mắt Horus, là một biểu tượng bảo vệ nổi tiếng ở Ai

Cập Cổ Đại.

Thật ra cha tôi nói rằng biểu tượng của các nhà

dược phẩm hiện đại, ℞, là kiểu giản lược của Con

Mắt Horus, vì thuốc được cho là để bảo vệ bạn.

Dù sao thì, tôi luôn mang chiếc bùa đó bên dưới áo

sơmi, nhưng tôi đoán là Sadie chắc đã làm mất hoặc

ném nó đi.

Tôi ngạc nhiên khi thấy con bé gật đầu. “Dĩ nhiên

là con giữ nó, Cha à, nhưng đừng đổi đề tài. Bà

ngoại luôn nói đi nói lại về việc cha đã gây cho Mẹ

cái chết như thế nào. Điều đó không đúng, phải

33

không?”

Chúng tôi chờ đợi. Chỉ lần này, Sadie và tôi cùng

muốn chính xác một thứ - sự thật.

“Cái đêm mẹ con chết,” cha tôi bắt đầu kể, “ở đây

tại Tháp…”

Một tia chớp đột ngột chiếu sáng cả bờ kè. Tôi

quay lại, mắt nhắm mắt mở, và ngay tại giây phút đó

tôi thoáng nhìn thấy hai bóng người: một người đàn

ông xanh xao cao lớn với bộ râu chĩa, mặc một

chiếc áo choàng màu kem; cùng một cô gái có làn da

màu đồng vận một chiếc áo choàng màu xanh dương đậm

và một chiếc khăn trùm đầu – kiểu áo quần mà tôi

đã nhìn thấy hàng trăm lần ở Ai Cập. Họ chỉ đứng đó

kề bên nhau, cách chúng tôi khoảng sáu mét, nhìn

chằm chằm chúng tôi. Rồi ánh sáng dần tan đi. Hai

34

hình bóng đó tan biến dần thành dư ảnh nhạt nhòa.

Khi đôi mắt tôi thích nghi lại với bóng đêm, họ đã

biến mất.

“Ừm…” Sadie bồn chồn nói. “Hai người có nhìn thấy

không?”“Vào xe đi,” cha tôi nói, đẩy chúng tôi về

phía lề đường. “Chúng ta đã hết thời gian rồi.”

Từ thời điểm đó, Cha ngồi im thin thít.

“Đây không phải là nơi để nói chuyện,” ông nói,

liếc ra sau nhìn chúng tôi. Ông đã hứa cho người

lái xe thêm mười bảng nếu ông ta đưa chúng tôi đến

viện bảo tàng dưới năm phút, và người lái xe đang

cố hết sức mình.

“Cha,” tôi ướm lời, “những người ở bờ sông đó…”

“Và cái người kia nữa, Amos ấy,” Sadie nói. “Họ có

phải là cảnh sát Ai Cập hay gì gì đó không?”

35

“Nghe này, cả hai đứa,” Cha nói, “Cha sẽ cần đến

sự giúp đỡ của cả hai tối nay. Cha biết việc đó khó

khăn, nhưng hai con phải kiên nhẫn. Cha sẽ giải

thích mọi thứ, cha hứa, sau khi chúng ta đến bảo

tàng. Cha sẽ làm cho mọi thứ lại trở nên đúng đắn.”

“Ý cha là gì?” Sadie khăng khăng hỏi. “Làm cái gì

đúng?”Nét mặt Cha còn hơn cả buồn bã. Trông gần

như là mặc cảm tội lỗi. Với cơn ớn lạnh chạy dọc

sống lưng, tôi nghĩ về những gì Sadie đã nói: việc

ông bà ngoại đổ lỗi cho ông về cái chết của Mẹ. Đó

không thể là điều mà ông đang nói đến, đúng không

nhỉ?

Xe taxi quẹo vào đường Great Russell và bánh xe

rêu rít lên khi ngừng lại phía trước cổng chính của

36

bảo tàng.

“Cứ làm theo chỉ dẫn của cha,” Cha bảo chúng tôi.

“Khi chúng ta gặp người phụ trách bảo tàng, hãy cư

xử bình thường nhé.”

Tôi đang nghĩ Sadie chẳng bao giờ cư xử bình

thường cả, nhưng tôi quyết định không nói gì.

Chúng tôi ra khỏi xe. Tôi lấy hành lý trong khi

Cha trả cho người lái xe một nắm tiền lớn. Rồi ông

đã làm một việc kỳ lạ. Ông ném một nắm các vật nhỏ

vào phía ghế sau – chúng trông giống những viên đá,

nhưng trời quá tối nên tôi không thể chắc được.

“Hãy tiếp tục lái đi,” ông nói với người lái xe.

“Đưa chúng tôi đến Chelsea.”

Điều đó thật phi lý vì chúng tôi đã ra khỏi xe,

nhưng người lái xe lại phóng đi tiếp. Tôi liếc nhìn

37

Cha, rồi nhìn chiếc taxi, và trước khi nó quẹo qua

góc và biến mất trong bóng tối, tôi nhìn thấy hình

ảnh lờ mờ kỳ lạ về ba hành khách ngồi ở ghế sau:

một người đàn ông và hai đứa trẻ.

Tôi chớp chớp mắt. Lái xe chẳng thể nào đón các vị

khách khác một cách nhanh chóng đến như thế.

“Cha…”“Xe taxi ở Luân Đôn không để không quá lâu,”

ông thản nhiên nói. “Đi thôi, hai nhóc.”

Ông dỏng bước qua các cánh cổng sắt được chế tác.

Trong một giây, Sadie và tôi do dự chần chừ.

“Carter, chuyện gì đang xảy ra thế?”

Tôi lắc đầu. “Anh không chắc là anh muốn biết

đâu.”“Tốt thôi, ở lại ngoài này trong cái lạnh nếu

anh muốn, nhưng em không rời đi mà không có câu

giải thích.” Con bé quay người và đi theo sau cha

38

chúng tôi.

Ngẫm lại những chuyện đã xảy ra, lẽ ra tôi đã nên

bỏ chạy. Lẽ ra tôi nên lôi Sadie ra khỏi đó và lẩn

càng xa càng tốt. Thay vào đó tôi đã đi theo con bé

vào trong các cánh cổng.

39

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát