Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Kim Tự Tháp Đỏ - P2

KIM TỰ THÁP ĐỎ PHẦN 2

11. CHÚNG TÔI GẶP NGƯỜI NÉM LỬA

ĐÚNG THẾ, TÔI ĐANG CHIẾM MI-CRÔ. Không đời nào

Carter kể chính xác phần này, vì liên quan đến Zia.

[Im đi, anh Carter. Anh biết là đúng vậy mà.]

Ồ, Zia là ai ư? Xin lỗi nhé, tôi đang cầm đèn chạy

trước ô-tô rồi.

Chúng tôi chạy như bay đến lối vào của bảo tàng,

và tôi không biết lý do sao phải làm thế, ngoại trừ

rằng một miêu nữ phát sáng khổng lồ đã bảo chúng

tôi phải làm vậy. Giờ, các bạn ắt cũng đã nhận ra

tôi tan nát cõi lòng vì những chuyện đã xảy ra. Đầu

tiên, tôi mất đi người cha của mình. Thứ hai, ông

bà ngoại yêu quý của tôi đã đuổi cổ tôi khỏi căn

hộ. Rồi tôi phát hiện ra rằng tôi hình như có “dòng

1

dõi của các pharaoh”, được sinh ra trong một gia

đình có phép thuật, và đủ thứ điều rác rưởi nghe ra

khá là ấn tượng nhưng chỉ mang đến cho tôi hàng

đống rắc rối mà thôi. Và ngay khi tôi vừa tìm được

một ngôi nhà mới – này nhé, một căn biệt thự với

bữa ăn sáng đúng kiểu và những người bạn vật cưng

đáng yêu cùng một căn phòng khá đẹp dành cho tôi –

thì chú Amos lại biến mất, những người bạn mới gồm

con cá sấu và con khỉ đầu chó xinh đẹp của tôi cũng

bị quẳng xuống sông, và căn biệt thự chìm trong

lửa. Và nếu những điều đó vẫn chưa đủ, con mèo

Muffin trung thành của tôi đã quyết định tham gia

vào một trận chiến vô vọng với một đàn bọ cạp.

Các bạn dùng từ một “đàn” để chỉ những con bọ cạp?

Hay một bầy? Hay một đám? Ồ, đừng bận tâm.

2

Vấn đề ở đây là tôi không thể tin được mình bị yêu

cầu mở một cánh cửa phép thuật khi rõ ràng tôi

chẳng có chút năng lực nào, còn giờ thì anh trai

tôi đang lôi tôi chạy như ma đuổi. Tôi cảm giác như

thể mình là một kẻ hoàn toàn vô dụng. [Còn anh thì

miễn bàn nhé Carter. Vì như em nhớ, anh cũng chẳng

giúp đỡ được gì nhiều trong lúc đó đâu, nhỉ.]

“Chúng ta không thể để nữ thần Bast lại được!” tôi

hét lớn. “Nhìn kìa!”

Carter vẫn tiếp tục chạy, kéo theo cả tôi, nhưng

tôi có thể nhìn khá rõ những gì đang diễn ra ở khu

vực đài tưởng niệm. Một đống bọ cạp đã bò lên hai

đôi chân màu xanh lục phát sáng của nữ thần Bast và

bò len lỏi bên trong hình ảnh không gian ba chiều

như thể hai chân ấy được làm bằng đông sương. Nữ

3

thần Bast dùng chân và nắm đấm tiêu diệt hàng trăm

con một lúc, nhưng đơn giản là chúng quá đông.

Chẳng mấy chốc chúng tiến lên thắt lưng cô ấy, và

vỏ bọc ma thuật của cô ấy bắt đầu nhấp nháy. Trong

khi đó, mụ nữ thần mặc đầm nâu dài đủng đà đủng

đỉnh tiến tới, và tôi có cảm giác rằng ả còn tệ hơn

bất cứ số lượng bọ cạp nào.

Carter kéo tôi đi xuyên qua một dãy cây bụi làm

tôi không còn thấy nữ thần Bast. Chúng tôi lao vụt

ra Đại lộ Số Năm, trông dường như bình thường đến

kỳ cục sau trận chiến phép thuật. Chúng tôi chạy về

phía cuối vỉa hè, chen vai huých cánh qua đám đông

bộ hành dồn đống, và leo lên các bậc thang của

Met.

Một băng rôn treo phía trên lối vào thông báo về

4

một chương trình Giáng Sinh đặc biệt nào đó, có lẽ

vì vậy mà bảo tàng mới mở cửa trong ngày lễ, nhưng

tôi không thèm bận tâm đọc chi tiết. Chúng tôi lao

thẳng vào bên trong.

Bảo tàng trông như thế nào nhỉ? Ừm, đấy là một bảo

tàng: sảnh vào thênh thang, vô số hàng cột và vân

vân. Tôi không thể nói rằng mình đã dành nhiều thời

gian chiêm ngưỡng cách bài trí. Tôi nhớ nơi đấy có

các dãy quầy bán vé, vì chúng tôi đã chạy băng qua

chúng. Ở đó cũng có các nhân viên an ninh, vì họ

quát chúng tôi khi chúng tôi lao vào trong các khu

triển lãm. Ơn trời, cuối cùng chúng tôi cũng đến

được khu vực Ai Cập, trước một thứ kiểu như lăng mộ

được tái tạo cùng các hành lang hẹp. Carter chắc

chắn có thể kể cho các bạn nghe về kiểu kiến trúc

5

đó đáng ra là kiểu gì, nhưng thật lòng mà nói thì

tôi chẳng quan tâm.

“Đi thôi,” tôi nói.

Chúng tôi lẻn vào khu triển lãm, chỉ cần thế là

cắt đuôi được đám nhân viên an ninh, hoặc có lẽ họ

có việc khác đáng để làm hơn là đuổi theo những đứa

trẻ nghịch ngợm.

Khi lại ló người ra, chúng tôi lẻn đi quanh phòng

cho đến khi chắc rằng mình không bị theo đuôi. Khu

vực Ai Cập không đông lắm – chỉ có một vài nhóm

người già và một nhóm khách du lịch nước ngoài với

hướng dẫn viên đang giải thích về cái quách bằng

tiếng Pháp. “Et voici la momie!”

Lạ lùng là, dường như không ai chú ý đến thanh

kiếm to đùng sau lưng Carter, thứ này đáng lẽ phải

6

là một vấn đề an ninh đấy chứ (và thú vị hơn nhiều

mấy cái triển lãm kia). Một vài người già quả có

nhìn chúng tôi kỳ kỳ, nhưng tôi ngờ rằng đó là vì

chúng tôi mặc những bộ pyjama bằng vải lanh, người

mồ hôi mồ kê, phủ đầy cỏ và lá cây. Mái tóc của tôi

chắc chắn cũng là một cơn ác mộng nữa.

Tôi tìm thấy một căn phòng trống thế là lôi Carter

sang một bên. Các hộp kính đầy nhóc shabti. Một

vài ngày trước đây hẳn tôi sẽ không suy nghĩ gì về

chúng. Giờ đây, tôi mải liếc nhìn các bức tượng, vì

bất cứ lúc nào chúng cũng có thể sống lại và cố

phang vào đầu tôi.

“Giờ thì thế nào?” tôi hỏi Carter. “Anh có thấy

được đền thờ nào không?”

“Không.” Anh nhíu mày lại như thể đang cố hết sức

7

nhớ lại. “Anh nghĩ có một cái đền thờ được xây dựng

lại ở cuối sảnh… hay là nó ở Bảo tàng Brooklyn

nhỉ? Hay có lẽ là cái ở Munich? Xin lỗi, anh đã đi

cùng Cha đến quá nhiều bảo tàng nên chúng cứ trộn

lẫn vào nhau.”

Tôi thở dài bực tức. “Tội nghiệp thằng bé, bị buộc

phải đi khắp thế giới, không được đến trường, và

phải ở cùng với Cha trong khi em có được những hai

ngày một năm ở bên ông ấy!”

“Này!” Carter quay người tôi lại với một lực đáng

ngạc nhiên. “Em có một ngôi nhà! Em có bạn bè và

một cuộc sống bình thường và không thức dậy mỗi

sáng rồi tự hỏi em đang ở đất nước nào! Em không…”

Cái hộp kính bên cạnh tôi vỡ tan, bắn vụn kính

tung tóe ở chân chúng tôi.

8

Carter nhìn tôi, hoang mang. “Có phải chúng ta vừa

mới…”

“Như cái bánh sinh nhật nổ tung của em,” tôi càu

nhàu, cố không để lộ ra việc mình đã giật mình ngạc

nhiên đến thế nào. “Anh cần kiểm soát tính khí của

mình đi chứ.”

“Anh á?”

Tiếng chuông báo động bắt đầu ré lên. Đèn đỏ dọc

hành lang nhấp nháy. Một giọng nói eo éo vang lên

trên loa phóng thanh và nói điều gì đó về việc bình

tĩnh tiến về phía các cửa thoát hiểm. Đoàn khách

người Pháp chạy qua chúng tôi, la hét hốt hoảng,

theo sau đấy là một đám đông những người già chống

gậy đẩy xe nhanh nhẹn đến ngạc nhiên.

“Chúng ta sẽ kết thúc việc tranh cãi sau, được

9

không?” tôi bảo Carter. “Đi thôi!”

Chúng tôi chạy xuống một hành lang khác, và tiếng

còi báo động đột ngột ngừng lại y như khi chúng bắt

đầu. Các ánh đèn đỏ như máu vẫn tiếp tục nhấp nháy

trong sự im lặng rờn rợn. Rồi tôi nghe ra: âm

thanh trơn trượt, lách cách của những con bọ cạp.

“Còn nữ thần Bast thì sao?” Giọng tôi như nghẹn

lại. “Cô ấy…”

“Đừng nghĩ về điều đó,” Carter nói, mặc dầu, trông

mặt anh, đó chính xác là những gì mà anh đang nghĩ

đến. “Tiếp tục đi nào!”

Ngay sau đó chúng tôi lạc đường thê thảm. Theo như

tôi nhận thấy, phần Ai Cập của bảo tàng này được

thiết kế một cách càng khó hiểu càng tốt, với những

ngõ cụt và các sảnh hướng bạn quay ngược trở lại

10

điểm xuất phát. Chúng tôi đi ngang qua các cuộn văn

tự chữ tượng hình, trang sức bằng vàng, những cái

quách, các bức tượng pharaoh, và các khoanh đá vôi

lớn. Sao có người lại đi triển lãm một hòn đá nhỉ?

Chẳng phải thế giới ngoài kia đã có lắm đá rồi sao?

Chúng tôi không nhìn thấy bất cứ ai, nhưng các âm

thanh trơn trượt đó ngày càng lớn hơn cho dù chúng

tôi chạy đi lối nào đi nữa. Cuối cùng tôi quành qua

một góc tường rồi đâm thẳng vào một người nào đó.

Tôi hét lên và lùi lại, chỉ để húc vào người anh

Carter. Cả hai chúng tôi ngã dập mông xuống trong

tư thế kém duyên nhất. Màu nhiệm thay là Carter đã

không đâm xuyên người bằng thanh kiếm của mình.

Thoạt đầu tôi đã không nhận ra cô gái đang đứng

11

phía trước mặt chúng tôi, mà giờ nghĩ lại thì

chuyện này có vẻ lạ thật. Có lẽ cô ta đang sử dụng

kiểu hào quang pháp thuật nào đó, hoặc có thể chỉ

là tôi đã không muốn tin đó là cô ta.

Cô ta trông hơi cao hơn tôi một chút. Chắc chắn

cũng lớn tuổi hơn, nhưng không nhiều lắm. Mái tóc

đen được tỉa dọc theo khuôn mặt và phần mái trước

hơi dài hơn để che phủ cả đôi mắt. Cô ta có làn da

màu nâu nhạt cùng nét mặt xinh xắn phảng phất nét Ả

rập. Đôi mắt – được kẻ bằng phấn côn màu đen, kiểu

người Ai Cập – có màu hổ phách kỳ lạ, trông hoặc

là đẹp vô cùng hoặc là hơi đáng sợ; tôi không thể

quyết định được là thế nào. Cô ta đeo ba lô trên

vai và mang sandal cùng áo quần rộng thùng thình

bằng vải lanh như của chúng tôi. Cô ta trông như

12

thể đang trên đường đến lớp học võ. Chúa ơi, giờ

đây khi tôi nghĩ lại, chúng tôi khi đấy chắc chắn

cũng trông giống như thế. Xấu hổ quá.

Tôi bắt đầu dần dần nhận ra mình đã trông thấy cô

ta trước đây. Cô ta là cô gái cầm dao từ Bảo tàng

Anh. Trước khi tôi kịp mở miệng, Carter đã đứng bật

dậy. Anh ấy di chuyển về phía trước và vung kiếm

lên như thể đang cố bảo vệ tôi. Bạn có tin nổi sự

dũng cảm đó không cơ chứ?

“Lùi… lùi lại!” Carter lắp bắp nói.

Cô gái thò tay vào trong ống tay áo và lấy ra một

mẩu ngà voi trắng cong cong – một cây đũa phép Ai

Cập.Cô ta vụt nhẹ nó sang một bên, thế là thanh

kiếm của Carter bay khỏi tay rồi rơi loảng xoảng

xuống nền nhà.

13

“Đừng có tự làm xấu hổ,” cô gái lạnh lùng nói.

“Amos đâu?”

Carter trông quá đỗi sững sờ chẳng thể thốt nên

lời. Cô gái quay về phía tôi. Đôi mắt vàng của cô

ta vừa đẹp và đáng sợ, tôi quyết định là thế, và

tôi không thích cô ta tí nào.

“Sao hả?” cô ta gặng hỏi.

Tôi không thấy tại sao mình cần phải trả lời bất

cứ chuyện gì với cô này, nhưng một áp lực khó chịu

bắt đầu hình thành trong ngực tôi, như thể một cái

ợ cần được giải thoát vậy. Tôi nghe chính mình cất

tiếng, “Chú Amos đã đi rồi. Chú ấy rời đi vào sáng

hôm nay.”

“Còn con quỷ mèo kia?”

“Đó là con mèo của tôi,” tôi nói. “Và nó là một nữ

14

thần, không phải là ma quỷ. Nó đã cứu chúng tôi

khỏi những con bọ cạp.”

Carter đã tỉnh lại. Anh ấy chụp lấy cây kiếm và

chĩa mũi nó vào cô gái một lần nữa. Nên được khen

ngợi vì sự kiên trì, tôi nghĩ.

“Cô là ai?” anh ấy gặng hỏi. “Cô muốn gì?”

“Tên ta là Zia Rashid.” Cô ta nghiêng đầu như thể

đang lắng nghe.

Đúng lúc đó, toàn bộ căn nhà rung chuyển. Bụi rơi

như mưa xuống từ trần nhà, và các âm thanh trơn

trượt của những con bọ cạp vang lên lớn gấp hai lần

phía sau lưng chúng tôi.

“Và ngay bây giờ,” Zia nói tiếp, nghe hơi thất

vọng, “ta phải cứu lấy mạng sống đáng thương của

các ngươi. Đi thôi.”

15

Tôi cho là lẽ ra chúng tôi đã có thể từ chối,

nhưng lựa chọn của chúng tôi dường như chỉ là hoặc

Zia hoặc những con bọ cạp, vì thế chúng tôi đành

chạy theo Zia.

Cô ta chạy ngang qua một cái hộp đựng đầy các bức

tượng và ngẫu nhiên gõ cây đũa phép lên mặt kính.

Các bức tượng pharaoh bằng đá gra-nít và các vị

thần bằng đá vôi bé tẻo teo cựa mình theo lệnh của

cô ta. Chúng nhảy ra khỏi các bệ tượng và đâm xuyên

qua lớp kính. Một vài người sử dụng vũ khí. Những

người khác đơn giản sử dụng nắm tay bằng đá của

mình. Chúng để chúng tôi đi qua, nhưng lại nhìn

chòng chọc về phía cuối hành lang phía sau chúng

tôi như thể đang đợi kẻ thù.

“Nhanh lên,” Zia bảo chúng tôi. “Bọn này sẽ chỉ…”

16

“Cho chúng ta một ít thời gian thôi,” tôi đoán.

“Đúng thế, chúng tôi đã nghe thấy điều đó trước

đây.”“Cô nói nhiều quá đấy,” Zia nói mà không

ngừng bước.

Tôi định đáp trả cô ta bằng một lời láo xược.

Thành thật mà nói, tôi chắc hẳn đã có thể cho cô

này biết phải trái là gì rồi. Nhưng ngay lúc đó

chúng tôi xông vào một căn phòng lớn và giọng tôi

đã bỏ rơi tôi.

“Ối chà,” Carter thốt lên.

Tôi không thể không đồng ý với anh ấy. Nơi này cực

kỳ ối chà.

Căn phòng có kích thước của một sân bóng đá. Một

bức tường được làm hoàn toàn bằng kính và nhìn ra

phía ngoài công viên. Ở giữa phòng, trên phần nền

17

được nâng lên cao, một công trình cổ được tái dựng

lại. Một cổng chào bằng đá xếp cao chừng tám mét,

phía sau đấy là khoảng sân nhỏ thông thoáng và một

công trình hình vuông vức được làm từ các khối sa

thạch gồ ghề, bề ngoài được khắc đầy hình ảnh của

các vị thần, các pharaoh và chữ tượng hình. Ở hai

bên cánh lối vào của tòa nhà là hai cây cột tắm

mình trong ánh sáng kỳ quái.

“Một đền thờ Ai Cập,” tôi đoán.

“Đền thờ Dendur,” Zia nói. “Thật ra nó được xây

bởi những người La Mã…”

“Khi họ chiếm đóng Ai Cập,” Carter nói tiếp, như

thể đó là một thông tin thú vị lắm vậy. “Augustus

đã ra lệnh làm điều đó.”

“Đúng thế,” Zia nói.

18

“Ngưỡng mộ ghê,” tôi lẩm bẩm. “Hai người có thích

được ở một mình cùng một cuốn sách giáo khoa môn

lịch sử không?”

Zia quắc mắt nhìn tôi. “Dù sao đi nữa, đền thờ

được dâng tặng cho nữ thần Isis, vì thế nó sẽ đủ

sức mạnh để mở một cánh cửa.”

“Để triệu hồi thêm các vị thần sao?” tôi hỏi.

Đôi mắt Zia lóe lên giận dữ. “Kết tội ta như thế

thêm một lần nữa, ta sẽ cắt lưỡi cô đấy. Ý ta là

cái cổng để đưa các ngươi ra khỏi đây.”

Tôi thấy chẳng hiểu quái gì cả, nhưng tôi đang

quen với điều này. Chúng tôi đi theo Zia lên các

bậc thang và đi xuyên qua cổng chào bằng đá của đền

thờ.

Khoảnh sân nhỏ vắng tanh, bị bỏ rơi bởi các khách

19

tham quan đã tháo chạy, khiến khoảng sân mang cảm

giác khá là sởn gai ốc. Các bức tượng thần linh

được tạc khổng lồ đang chòng chọc nhìn xuống tôi.

Các câu khắc bằng chữ tượng hình ở khắp mọi nơi, và

tôi sợ rằng nếu mình quá tập trung, mình sẽ có thể

đọc được chúng.

Zia ngừng lại ở các bậc thang trước đền thờ. Cô ta

đưa cao đũa phép và viết gì đó trong không trung.

Một chữ tượng hình quen thuộc sáng lên giữa các cây

cột.

Mở ra – cùng một ký hiệu mà Cha đã dùng ở Phiến đá

Rosetta. Tôi chờ đợi thứ gì đó nổ tung, nhưng chữ

tượng hình chỉ dần mờ đi.

Zia mở ba lô của mình ra. “Chúng ta sẽ đứng đợi ở

đây cho đến khi cánh cổng có thể được mở ra.”

20

“Sao không mở nó ra ngay lúc này?” Carter hỏi.

“Các cổng dịch chuyển chỉ có thể xuất hiện vào giờ

lành,” Zia nói. “Lúc bình minh, hoàng hôn, nửa

đêm, thiên thực, ngày ba hành tinh xếp thẳng hàng,

thời gian chào đời chính xác của một vị thần…”

“Ôi, thôi nào,” tôi nói. “Sao cô có thể nhớ được

tất cả những ngày đó?”

“Phải mất nhiều năm mới nhớ được toàn bộ lịch,”

Zia nói. “Nhưng giờ lành tiếp theo thì dễ lắm:

chính ngọ. Còn mười phút rưỡi nữa.”

Cô ta không thèm nhìn đồng hồ. Tôi tự hỏi sao cô

ta biết rõ thời gian một cách chính xác như thế,

nhưng tôi quyết định đấy không phải là câu hỏi quan

trọng nhất.

“Sao chúng tôi lại phải tin cô?” tôi hỏi. “Theo

21

như tôi nhớ lại, lúc ở Bảo tàng Anh, cô đã muốn moi

ruột chúng tôi bằng dao cơ mà.”

“Làm thế hẳn sẽ đơn giản hơn nhiều,” Zia thở dài.

“Không may là, các thượng cấp của ta nghĩ rằng các

ngươi có thể là những kẻ vô tội.Vì thế hiện tại, ta

không thể giết các ngươi. Nhưng ta cũng không thể

để các ngươi rơi vào tay của Chúa Đỏ. Và vì thế…

các ngươi có thể tin ta.”

“Ồ, tôi bị thuyết phục đấy,” tôi nói. “Tôi thấy

trong lòng ấm áp nôn nao cả rồi này.”

Zia thò tay vào túi và lấy ra bốn bức tượng nhỏ -

người có đầu động vật, mỗi một bức tượng cao năm

centimet. Cô ta đưa chúng cho tôi. “Đặt các bức

tượng Con trai thần Horus quanh chúng ta ở bốn

phương.”

22

“Xin lỗi chứ?”

“Bắc, nam, đông, tây.” Cô ta nói chầm chậm, như

thể tôi là một con ngốc vậy.

“Tôi biết các hướng của la bàn! Nhưng…”

“Đó là hướng bắc.” Zia chỉ tay về phía bức tường

kính. “Các hướng còn lại thì tự nghĩ ra đi.”

Tôi làm theo những gì cô ta yêu cầu, mặc dầu tôi

không rõ sao mấy tên đàn ông nhỏ bé đó sẽ giúp được

chúng tôi. Trong khi đó, Zia đưa cho Carter một

mẩu phấn và bảo anh ấy vẽ một vòng tròn bao quanh

chúng tôi, nối các bức tượng lại.

“Phép thuật bảo vệ,” anh Carter nói. “Như Cha đã

làm ở Bảo tàng Anh.”

“Đúng thế,” tôi cằn nhằn. “Và chúng ta đã thấy

được cái thứ đó hoạt động hiệu quả như thế nào.”

23

Carter lờ tôi đi. Còn chuyện gì khác mới hơn nữa

nào? Anh ta hăng hái muốn làm hài lòng Zia đến nỗi

thực thi ngay nhiệm vụ vẽ nghệ thuật đường phố.

Rồi Zia lấy thêm thứ gì đó ra từ trong túi ra –

một que gỗ trơn như cái mà cha chúng tôi đã sử dụng

ở Luân Đôn. Cô ta thì thầm một từ, và que gỗ biến

thành một cây gậy màu đen dài hai mét với một đầu

khắc hình đầu sư tử. Cô ta một tay quay gậy như gậy

chỉ huy – chỉ làm màu mà thôi, tôi chắc mà – trong

khi tay kia cầm cây đũa phép bằng ngà voi.

Carter vẽ xong vòng tròn bằng phấn khi những con

bọ cạp đầu tiên xuất hiện ở lối vào khu triển lãm.

“Cái cổng đó còn mất bao lâu nữa?” tôi hỏi, hy

vọng rằng giọng tôi không tỏ ra sợ hãi như mình cảm

nhận.

24

“Ở bên trong vòng tròn dù có bất cứ chuyện gì xảy

ra,” Zia nói. “Khi cánh cổng mở ra, nhảy ngay qua

đấy. Và cứ ở phía sau lưng ta!”

Cô ta chạm đũa phép vào vòng tròn bằng phấn, đọc

thêm một từ khác, và vòng tròn bắt đầu phát ra ánh

sáng đỏ sẫm.

Hàng trăm con bọ cạp lúc nhúc tràn về phía đền

thờ, biến sàn nhà thành một đống càng và ngòi sống

động. Rồi người phụ nữ mặc đồ nâu, Serqet, tiến vào

khu triển lãm. Ả lạnh lùng mỉm cười với chúng tôi.

“Zia,” tôi nói, “đó là một nữ thần. Bà ta đã đánh

bại Bast. Cô thấy mình có bất cứ cơ hội nào không?”

Zia dương cây gậy của mình lên cao và đầu khắc

chạm hình sư tử bùng lên thành ngọn lửa – một quả

25

cầu lửa bé nhỏ đỏ rực, sáng đến nỗi thắp sáng toàn

bộ căn phòng. “Ta là thư lại ở Ngôi Nhà của Sự

sống, Sadie Kane à. Ta được đào tạo để chiến đấu

với các vị thần.”

26

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát