Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Lịch Sử Hoa Kỳ P3

Phần 3 - LỊCH SỬ HOA KỲ - NHỮNG VẤN ĐỀ QUÁ KHỨ

Tác giả: Irwin Unger

Người dịch: Nguyễn Kim Dân

CHƯƠNG 17

THÀNH TỰU CỦA NỀN CÔNG NGHIỆP QUY MÔ LỚN

ĐÂU LÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN, CÒN PHÍ TỔN THẾ NÀO?

1862, 1864 Đạo luật Ngành đường sắt Thái Bình

Dương. 1866 Liên đoàn Lao động Quốc gia được thiết

lập.1869 Tổ chức nghiệp đoàn Hiệp sĩ Lao động ra

đời.1873 Những vụ kiện các lò sát sinh l Sự khủng

hoảng tài chính; nạn thất nghiệp lên đến 12%.

1877 Thỏa hiệp năm 1877: Rutherford B. Hayes đắc

cử Tổng thống l Tòa án tối cao Hoa Kỳ quyết định

các vụ án ở Granger l Đảng Lao động của Chủ nghĩa

Xã hội được thiết lập.

1

1880 James A. Garfield được bầu làm Tổng thống.

1881 Garfield bị ám sát; Chester A. Arthur trở

thành Tổng thống.

1882 John David Rockefeller sáng lập tập đoàn kinh

tế đầu tiên nhưng đã bị tòa án Ohio làm cho giải

thể l Trạm phát điện đầu tiên của Edison có mặt ở

New York l Vụ kiện San Mateo.

1884 Grover Cleveland được bầu làm Tổng thống.

1886 Cuộc nổi loạn Haymarket ở Chicago l Samuel

Gompers sáng lập Liên đoàn Lao động Mỹ (AFL) l Công

ty Santa Clara đối đầu với Công ty đường sắt Nam

Thái Bình Dương.

1888 Benjamin Harrison được bầu làm Tổng thống.

1890 Đạo luật chống độc quyền Sherman.

1892 Grover Cleveland tái đắc cử Tổng thống l Đảng

2

Dân túy được thành lập.

1893 Luật thu mua đồng bạc Sherman được bãi bỏ l

Liên hiệp Ngành đường sắt Hoa Kỳ được tổ chức bởi

Eugene V. Debs.

1894 Cuộc đình công ở công ty Pullman (chuyên sản

xuất toa xe lửa hạng sang) bị quân đội liên bang

dập tắt.

1895 Vụ E. C. Knight làm suy yếu Luật chống độc

quyền Sherman. 1896 William McKinley được bầu làm

Tổng thống.

1897 Sự việc tăng tối đa tỷ lệ cước phí hàng hóa

chuyên chở.

1901 McKinley bị ám sát; Theodore Roosevelt trở

thành Tổng thống l Đảng Xã hội của Eugene V. Debs

được thành lập.

3

1904-12 Thành viên đảng Xã hội tăng đến 130.000.

1913 Hệ thống Dự trữ Liên bang được thiết lập.

N ăm 1860, Hoa Kỳ đã là một quốc gia giàu mạnh và

là một siêu cường quốc về công nghiệp. Hơn nửa thế

kỷ tiếp theo, quốc gia này đã trở thành một nước có

nền kinh tế khổng lồ vượt trội hơn bất cứ nước nào

về tổng sản lượng quốc gia (GNP)(1) – tổng giá trị

hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong năm.

Quá trình phát triển không phải lúc nào cũng diễn

ra suôn sẻ trong suốt 50 năm, giữa thời kỳ

Appomattox và Thế chiến thứ I. Các cuộc khủng hoảng

kinh tế thường kỳ đánh vào quốc gia này, máy móc

để không, công nhân thì không có công ăn việc làm

và làm chậm tốc độ phát triển. Quốc gia này đã gánh

chịu các cuộc khủng hoảng kinh tế vào giữa và cuối

4

những năm 1870, tiếp sau cuộc Hoảng loạn năm 1873,

rồi lại tiếp tục gánh chịu một lần nữa vào những

năm 1890, sau cơn Hoảng loạn năm 1893. Tuy phải đối

mặt với những khó khăn như thế nhưng nền kinh tế

vẫn tiếp tục phát triển. Tốc độ phát triển kinh tế

trong những năm cuối thế kỷ 19 đã đạt đến đỉnh cao

mà hiếm khi hoặc không khi nào đạt tới trước đây.

Trước năm 1860, sản lượng kinh tế tính trên đầu

người tăng cao nhất cũng không quá 1,5% mỗi năm.

Giai đoạn 1870-1900, tỷ lệ này đạt tới trên 2% mỗi

năm. Trong những năm 1780, Tổng Thu nhập Quốc gia

(GNP) trên đầu người trung bình là 170 đô la. Đến

năm 1910, con số này đã tăng lên đến 382 đô la,

biến người dân Mỹ thành những người giàu nhất thế

giới.

5

Hầu hết các thành phần kinh tế đều phát triển với

tốc độ chóng mặt trong giai đoạn này. Tất cả các

ngành nghề như khai thác mỏ, xây dựng, nông nghiệp

đã thể hiện tốc độ phát triển rõ rệt. Nhưng tiến bộ

gây ấn tượng nhất là trong sản xuất công nghiệp.

Ngành nông nghiệp trong những năm 1870 chiếm gần

2/3 tổng sản lượng. Đến năm 1910, con số này giảm

xuống còn 1/5 tỷ trọng sản phẩm phi nông nghiệp.

Điều gì đã làm cho nền kinh tế quốc gia này phát

triển nhảy vọt sau cuộc Nội chiến? Có phải nước Mỹ

hay người dân Mỹ đã đột nhiên bộc lộ một số năng

lực đặc biệt đã giúp tạo nên sự khác biệt này

không? Hay có phải sự thành công to lớn về kinh tế

này đã đạt được là nhờ sự kết hợp của các nhân tố

khác nhau? Và liệu người dân Mỹ có phải trả giá cho

6

sự tiến bộ gây ấn tượng này không? Hay sự phát

triển nhảy vọt này cơ bản là không tốn khoản chi

phí nào? Hãy để chúng tôi bắt đầu tìm hiểu bằng

việc điều tra nguyên nhân tăng tốc của nền kinh tế

trong suốt những năm sau 1865. Sau đó, chúng tôi sẽ

xem xét cái giá mà người dân Mỹ phải trả, nếu có,

là như thế nào.

“THỦ LĨNH NGÀNH CÔNG NGHIỆP”

Nếu yêu cầu những người Mỹ có học vấn trung bình

lý giải nguyên nhân phát triển vượt bậc của nền

kinh tế vào cuối thế kỷ 19, thì có thể họ sẽ nhắc

ngay đến những người như Andrew Carnegie, John D.

Rockefeller và Thiếu tướng Vanderbilt với tư cách

những nhân vật chính. Ngay cả khi trái ngược với

bối cảnh xa hoa và rực rỡ của thời đại mà chúng ta

7

gọi là Thời đại Hoàng kim, thì hình tượng những ông

trùm doanh nghiệp lớn vẫn nổi lên rõ nét. Hình

tượng này được hiểu theo nhiều cách là hình tượng

tiêu cực: những người đứng đầu lĩnh vực kinh doanh

trong giai đoạn này là “những ông trùm bóc lột”,

những kẻ kiểm soát đất nước để chiếm những khoản

lợi nhuận khổng lồ cho riêng mình; họ là những con

người thô lỗ và khiếm nhã, thích khoe khoang tiền

của và thói xấu của mình. Tuy nhiên cho đến ngày

nay, nhiều người dân Mỹ luôn thừa nhận rằng chính

những con người này đã biến Hoa Kỳ thành một đất

nước công nghiệp khổng lồ. Liệu họ nhận định như

thế có đúng không?

Nếu quan sát chặt chẽ vào thành quả kinh tế lớn

mạnh của Thời đại Hoàng kim thì thấy rằng, chính

8

những doanh nghiệp lớn đã tổ chức, quản lý và thừa

nhận những rủi ro trong kinh doanh mới thực sự là

những yếu tố quan trọng đem đến thành công kỳ diệu

về kinh tế của quốc gia này. Các doanh nghiệp luôn

là yếu tố chủ đạo trong hầu hết mọi sự phát trển về

kinh tế. Để tăng sản lượng của nền kinh tế thì

việc tăng số lượng nguyên vật liệu, nhân công và

máy móc đối với việc hội nhập kinh tế là vẫn chưa

đủ. Sự phát triển kinh tế cũng đòi hỏi sự tiến bộ

ngay từ lúc khởi xướng, trong việc hợp tác và trong

các chức năng quản lý để khởi sự công việc kinh

doanh mới và cải thiện công việc cũ. Khả năng tìm

kiếm nhu cầu kinh tế quan trọng, cắt giảm chi phí

sản xuất đến mức tối thiểu, bàn đến các nguồn gốc

của việc tiết kiệm tiền, việc tuyển dụng và quản lý

9

nhân công, công nhận và kích thích tài năng mới –

những kỹ năng kinh doanh này không phổ biến hoặc

không dễ gì có được. Nếu xã hội đang được đề cập

đến có thể hưởng lợi từ những nhân tài này, thì nền

kinh tế chắc chắn sẽ tiến bộ hơn trước đây.

chiến, có ba tiến bộ khác giúp biến đổi ngành kinh

doanh cung cấp thịt cho cộng đồng. Một là, tỷ lệ

người dân Mỹ sống trong thành phố ngày càng gia

tăng, họ sống xa nông trại và những vùng sản xuất

thịt lớn trong nước. Hai là, mạng lưới đường sắt mở

rộng góp phần làm cho sản phẩm ở các thảo nguyên

và đồng bằng ở miền Tây có thể dễ đến được với

người tiêu dùng ở thành thị hơn. Ba là, trong những

năm 1870, các toa xe chở hàng ướp lạnh xuất hiện

giúp các loại thịt lợn và thịt bò tươi không bị hư

10

khi chuyên chở đường dài.

Một trong số những người đã nhận ra những tiềm

năng mới mà những thay đổi này đã mở ra cho ngành

công nghiệp sản xuất thịt là Gustavus Swift, một

người New England

đến từ Chicago hành nghề buôn bán gia súc trong

những năm 1870. Swift đã thấy được những thuận lợi

của việc giết mổ gia súc ở gần vùng đồng cỏ và ngũ

cốc miền Tây và chuyên chở sản phẩm đã được xẻ thịt

đến người tiêu thụ ở miền Đông. Một hệ thống như

thế sẽ hạn chế được những tổn thất trong việc

chuyên chở gia súc sống; quan trọng hơn nữa là việc

chế biến tập trung sẽ tiết kiệm chi phí hơn. Phần

lớn việc giết mổ có thể được tiến hành bằng máy

móc, do đó giúp giảm bớt chi phí nhân công, còn các

11

bộ phận khác của gia súc thường bị bỏ đi nay có

thể đem bán lại cho những người làm thuốc, xúc

xích, phân bón, lông và các sản phẩm phụ khác.

(Điều này gợi nhớ những hàng thịt lớn cuối thế kỷ

19 mà người ta thường cho rằng họ sử dụng tất cả

mọi bộ phận của con lợn ngoại trừ tiếng kêu eng

éc).

Swift đã lần đầu tiên vận chuyển thịt bò (đông

lạnh) đến miền Đông trên các toa xe ướp lạnh vào

giữa những năm 1870. Lúc đầu ông gặp trở ngại vì sự

kiên quyết chống đối của người tiêu dùng cũng như

các đại lý bán lẻ địa phương do sản phẩm này còn

quá xa lạ. Nhưng chỉ trong vài năm tiếp theo, cộng

tác với những người tải hàng khác như Philip

D.Armour, Michael Cudahy và Nelson Moris, ông đã

12

chuyên chở hàng triệu cân thịt mỗi năm từ các nhà

máy chế biến ở Chicago và bán ra thị trường thông

qua hệ thống chuồng trại và đại lý ở các chi nhánh.

Trong năm 1875, những người tải hàng Chicago này

đã giết mổ 250.000 gia súc; năm 1880 là 500.000

con; còn năm 1890 là một triệu.

Thomas Edision và sự đổi mới công nghệ kỹ thuật.

Đóng góp của Swift vào sự tiến bộ kinh tế của thời

kỳ này cơ bản bao gồm việc cải thiện tổ chức của

ngành công nghiệp hiện có. Thomas Edision đã triển

khai công nghệ kỹ thuật mới, làm cho nó thích ứng

với nhu cầu của cộng đồng và tạo ra một số ngành

công nghiệp hoàn toàn mới.

Ngày nay, chúng ta nghĩ về Edision như là người đã

phát minh ra máy cải tiến và thực sự đúng là như

13

vậy. Ông đã cải tiến chiếc điện thoại và máy điện

báo, đã phát minh ra máy quay phim, máy quay đĩa và

bóng đèn điện nóng sáng. Nhưng ông đã vượt xa một

người thợ chỉ biết làm theo cảm hứng; ông cũng là

một nhà doanh nghiệp xuất sắc có vô số kỹ năng đã

góp phần không nhỏ vào việc cải thiện chất lượng

cuộc sống của người dân Mỹ và khai sinh một tổ chức

kinh doanh khổng lồ mới.

Đầu thế kỷ 19, người dân Mỹ làm việc và ăn chơi

hầu hết vào ban ngày và nhịp độ sống tương ứng chặt

chẽ với một ngày dài theo thời vụ. Vào buổi tối,

con đường thành phố đông nghẹt. Nhiều nhà cũng

không có điện vào buổi tối hoặc được thắp sáng lờ

mờ, trừ các trường hợp đặc biệt hoặc nếu chủ nhà

giàu có có thể thắp những loại nến đắt tiền hoặc

14

những chiếc đèn cháy bằng dầu cá heo. Trong những

năm 1850, đèn khí thắp ra đời, nhưng chi phí quá

đắt và công dụng của nó chỉ được sử dụng hạn chế

trong những giai cấp thượng và trung lưu và chỉ

giới hạn trong những trung tâm thành phố lớn hơn,

nơi mà về mặt kinh tế thì việc lắp đặt các đường

ống và đồng hồ đo đắt tiền là hoàn toàn khả thi.

Ngành công nghiệp dầu mỏ mới đã thay đổi hình ảnh

này. 1850, “Dầu mỏ” là một chất được lấy từ các con

suối và được sử dụng để làm thuốc. Giá trị của nó

được hiểu là một chất phát sáng, nhưng không ai

chắc chắn rằng là có thể thu thập được đủ một lượng

lớn dùng để thắp sáng. Sau đó vào năm 1859, một

nhóm thương gia đã thuê E.L. Drake, một cựu chỉ huy

Ngành đường sắt cùng với vốn kiến thức về việc

15

khoan giếng, tìm cách lấy dầu từ lòng đất lên ở

miền Tây Pennsylvania. Sau vài tuần nỗ lực, Drake

đã dò đúng mạch dầu lớn và đã chứng minh rằng điều

này có thể đảm bảo nguồn dầu cung cấp ổn định. Về

sau, phương thuốc từng được xem là lang băm trước

kia nay đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong

các hộ gia đình. Được lọc thành dầu lửa, dầu mỏ đã

nhanh chóng thay thế dầu cá heo và đèn cầy, được

xem như là nguồn ánh sáng chính của đất nước. Công

dụng của nó đã được phổ biến trong các cộng đồng

nông thôn và nó tiếp tục được sử dụng ở đây đó

trong các khu vực nông trại cho đến ngày nay. Nhưng

ngay khi bắt đầu, công việc này đã gặp nhiều khó

khăn trở ngại bởi vì đối với những ngôi nhà, cửa

hàng, và khách sạn chật ních trong thành phố thì

16

dầu lửa dễ gây ra nguy cơ hỏa hoạn.

Điện thì không gặp phải bất lợi này và đã được sử

dụng để thắp sáng cho các nhà hát và các con đường

dưới dạng đèn hồ quang. Tuy nhiên, đèn hồ quang quá

sáng và quá đắt đối với các hộ gia đình tư nhân.

Đây là điểm mà Edision tìm thấy cơ hội cho mình.

Nếu ánh sáng phát ra từ điện được phân thành các

đường truyền nhỏ và dòng điện được truyền vào mỗi

hộ gia đình và các doanh nghiệp thì điện sẽ thay

thế dầu lửa và khí đốt. Hầu hết các nhà khoa học

lúc đó không tin rằng có thể đạt được kỳ công như

thế, nhưng Edison đã lờ đi những lời cảnh báo của

họ và trong phòng thí nghiệm ở Menlo Park, New

Jersey, ông đã bắt tay vào phát triển hệ thống đèn

chiếu sáng có ý nghĩa thực tiễn.

17

Điều Edison quan tâm không chỉ là một loại đèn có

độ bền cao. Ông hy vọng phát triển toàn bộ hệ thống

tương tự hệ thống chiếu sáng bằng khí đốt có lợi

của thời kỳ đó. Một kế hoạch như thế đòi hỏi nguồn

năng lượng điện được đặt ở trung tâm có thể thắp

sáng nhiều chiếc đèn, một phương tiện truyền tải

năng lượng vào mỗi cái đèn một cách hiệu quả; đèn

có thể mở lên hoặc tắt đi mà không ảnh hưởng đến

các đèn khác trong hệ thống mạch điện, và cuối cùng

là kế hoạch đo lường việc sử dụng điện của người

tiêu dùng. Mục tiêu của ông không chỉ về mặt kỹ

thuật; mà còn mang tính thương mại: ông phải thuyết

phục khách hàng bằng các phương thức hoạt động khả

thi đã được chấp nhận đối với chính mình, và cùng

lúc tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư tư nhân.

18

Việc kinh doanh khó khăn này đã gợi lên tài năng

đầy ấn tượng với tư cách của một thương gia cũng

như một nhà phát minh. Sau khi đảm bảo độ tin cậy

của việc hoàn vốn, ông làm công việc ghi chép chi

tiết kỹ thuật phát minh rõ ràng và hệ thống chiếu

sáng xét về phương diện kinh tế với sự trợ giúp của

nhà toán học đã qua trường lớp. Một khi ông phát

triển dây tóc bóng đèn bằng lõi than có thể sử dụng

được để làm đèn thủy tinh, ông đã xây dựng trạm

điện lực trung ương trên con đường Pearl gần khu

vực tài chính của thành phố New York, nơi mà sự

thành công của ông chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý

của những nhà đầu tư. Ông cũng phát triển một hệ

thống đo lường đơn giản cho công ty Edision để tính

toán cước phí đối với người sử dụng.

19

Trạm điện lực trên đường Pearl bắt đầu hoạt động

vào ngày 04 tháng 09 năm 1882 và đã thành công rực

rỡ. Trong vài năm tiếp eo, công ty Edision đã khai

trương các trạm khác ở Boston, Philadelphia và

Chicago. Chẳng bao lâu sau đó, loại đèn nóng sáng

gần như hoàn toàn thay thế đèn khí thắp ở các thị

trấn và thành phố. Trong một vài năm, các thành phố

trong nước được sống trong ánh sáng, và những

người dân Mỹ ở thành thị đã thức khuya hơn để đọc,

nói chuyện, ăn tối và nói chung là tận hưởng niềm

vui thích. Cuối cùng, điện đã đến được với các nông

trại và các khu vực nông thôn. Toàn bộ lối sống đã

được cách mạng hóa chỉ bằng kỹ năng, sự hiểu biết

sâu sắc và tính táo bạo trong kinh doanh của một

người.

20

Andrew Carnegie và ý thức về chi phí, phí tổn.

Phân tích kỹ lưỡng và không ngừng cắt giảm chi phí,

phí tổn là biểu hiện đặc trưng của một chủ doanh

nghiệp lớn như Andrew Canergie.

Carnegie thực chất là một người tự thành đạt. Sau

khi cùng gia đình đến Hoa Kỳ năm 1848, thì chàng

trai trẻ tuổi này lần đầu tiên đến làm trong một

xưởng dệt ở Pittsburgh với việc thay thế các sợi

chỉ tơ bị đứt, xoay thành cuộn với mức lương 1,20

đô la một tuần. Trong những năm 1850, sau khi hoàn

thành phần việc điều hành máy điện báo, Carnegie

trở thành trợ lý của Thomas A. Scott, Phó Chủ tịch

Ngành đường sắt ở Pennsylvania, Scott là một trong

những nhân viên quản lý ngành đường sắt có óc sáng

tạo nhất so với những người cùng thời. Ngành đường

21

sắt cùng với hàng ngàn nhân viên, hàng triệu đô la

vốn đầu tư, các vấn đề tài chính và xác lập mức giá

phức tạp cũng như qui mô lãnh thổ lớn, là những tổ

chức kinh doanh hiện đại thật sự đầu tiên.

Carnegie đã học được từ Scott cách điều hành một tổ

chức kinh doanh qui mô lớn và kiếm tiền bất cứ lúc

nào có thể.

Carnegie không phải là một nhà phát minh giống như

Edison. Ông làm việc theo kỹ thuật công nghệ và

các phương pháp hiện tại, nhưng cả hai đều gặp

thuận lợi trong công việc. Khi ông chuyển từ nghề

làm đường sắt sang thi công cầu đường và sản xuất

sắt thép trong suốt những năm 1860, thì những người

như Abram Hewitt và Eber Ward đã bắt đầu công việc

sản xuất thép cùng với các quy trình theo kiểu lò

22

Martin và Bassemer mới. Carnegie sẵn lòng hơn trong

việc chi tiền vào các vụ đầu tư đầy hứa hẹn và ông

ta đã nắm vững các phương pháp chế tạo thép mới

học theo Edgar Thomson, được áp dụng cho các công

trình của mình ở Pittsburg. Tuy nhiên, ông chưa hài

lòng với chính mình. Khi việc cách tân được áp

dụng thì ông tìm cách thích nghi với điều đó mà

không để ý đến các chi phí, loại bỏ đi các thiết bị

cũ kỹ nhưng vẫn còn sử dụng được. Ông đưa vào hoạt

động các lò luyện kim, lò sưởi và lò chuyển cấp

gió tối đa mà không để ý đến các chi phí phụ tùng

thay thế và không giảm chi phí, thậm chí khi máy

móc bị xuống cấp qua nhiều lần sửa chữa. Ông cũng

không ngừng cắt giảm chi tiêu và giảm chi phí nhân

công bằng việc cơ khí hóa nhiều công đoạn mà ông có

23

thể áp dụng. Khi đối mặt với viễn cảnh phải chi

trả quá đắt cho việc thu mua than cốc được sản xuất

từ một công ty khác, ông liền thu mua một công ty

sản xuất than cốc lớn với tư cách là một cổ đông và

đã thành đạt trong suốt khoảng thời gian ngài

Henry Clay Frick khôn ngoan giữ chức chủ tịch. Sau

đó, ông đã thu mua cho riêng mình các mỏ quặng tại

dãy núi Mesabi mới được khai phá của Minnesota.

Carnegie đã tuyển dụng đoàn nhân công đào đường hầm

ngang trẻ tuổi và sau đó yêu cầu họ phải hoàn toàn

có trách nhiệm với mỗi đồng xu chi tiêu để sản

xuất thép. Về sau, một người trong số họ nói rằng:

“Ông đã luôn nghĩ sẽ nhận được rẻ hơn 10 cent trong

năm tới hoặc tháng tới”. Trong vòng vài năm,

Carnegie và đồng nghiệp đã giảm giá thép xuống để

24

thay thế sắt, gỗ và đá trong việc xây dựng, mở

đường cho những kỳ công của nghề kỹ sư mà trước đây

chưa tưởng tượng ra được.

Trong số tất cả những người được gọi là những chủ

tư bản, ông trùm bóc lột, Carnegie là người có ý

thức công dân nhất. Giống như những người khác, ông

ta tin chắc rằng trả lương cao đồng nghĩa với lợi

nhuận thấp, nhưng ông cũng tin rằng những người

giàu nói chung chỉ là những người trông coi của cải

cho xã hội. Trước khi qua đời, “Vì sao sáng người

Scotlen” này đã quyên góp nhiều của cải cho các thư

viện, các cơ quan từ thiện, các tổ chức nghiên cứu

và đóng góp cho hòa bình và tri thức quốc tế. Và

hành động từ thiện của ông là chân thật: vào thời

của Canergie, trước khi xuất hiện thuế thu nhập thì

25

tổ chức từ thiện không bị khấu trừ thuế.

Tạo vốn và J. P. Morgan. Swift, Edision và

Carnegie đã đối mặt với vấn đề tăng vốn đầu tư vào

các lò cao, các nhà máy giết mổ và đóng gói thịt

cũng như các trạm phát điện. Các nguồn quỹ này bắt

nguồn từ đâu? Suy cho cùng thì nguồn gốc của tiền

đầu tư là do tiết kiệm. Swift và Carnegie phần lớn

dựa vào món tiền tiết kiệm của mình có từ lợi nhuận

của các tổ chức kinh doanh trước kia và hiện tại.

Tuy nhiên, nhiều nhà kinh doanh đã buộc phải đóng

góp số tiền tiết kiệm này để giúp đỡ những người

khác.

May mắn là tỷ lệ tiền tiết kiệm đặc biệt tăng cao

trong thời đại này, cao hơn nhiều so với thời đại

của chúng ta ngày nay. Mọi người tiết kiệm tiền là

26

do tôn giáo bắt buộc; họ cũng tiết kiệm để an dưỡng

tuổi già, bệnh tật hoặc tai nạn xảy ra đã đi đến

đường cùng. Sự không tương xứng đáng chú ý về của

cải và thu nhập đã lý giải tỷ lệ tiết kiệm tăng

cao. Những người đàn ông hay phụ nữ giàu có nói

riêng đều có thể tiết kiệm, bởi vì thu nhập của họ

vượt trội nhu cầu hàng ngày. Những khoản tiết kiệm

này tượng trưng cho lợi nhuận mà họ kiếm được bằng

việc thuê mướn nhân công. Nói cách khác, họ có tiền

để đầu tư bởi vì những người khác nhận được mức

lương và thu nhập thấp hơn so với năng lực của họ.

Như vậy, hàng triệu người làm công ăn lương từ bỏ

một phần thu nhập để nhanh chóng đẩy mạnh kinh tế,

dù ít khi họ được tư vấn trực tiếp về tiến trình

này. Kết quả là trong một xã hội vẫn tồn tại sự bất

27

bình đẳng về của cải và thu nhập, thì phần lớn

công chúng vô tình đã đóng góp vào sự phát triển

kinh tế.

Tuy nhiên, các khoản tiền đã góp nhặt là không đủ.

Những khoản tiết kiệm này phải được chuyển đến tay

của các doanh nghiệp có khả năng và kỹ năng để sử

dụng chúng có hiệu quả hơn. Khi người tiết kiệm và

chủ đầu tư là một người như trong trường hợp của

Canergie và Swift thì không có chút khó khăn gì.

Nhưng nếu họ là hai cá nhân khác nhau thì điều gì

sẽ xảy ra? Chính ở đây, các cơ quan đầu tư khác

nhau đã bắt đầu hoạt động.

Một trong những cơ quan đó là thị trường chứng

khoán được đặt tại phố Wall ở New York, nơi đây các

cổ phần và các loại chứng khoán được phát hành bởi

28

các công ty được mua đi và bán lại từ cuối thế kỷ

18. Bán cổ phần là một phương sách tiềm năng rất

hữu ích cho việc tiết kiệm của những người có vốn.

Những người đó mua “các cổ phần” trong một công ty

kinh doanh thì trở thành những cổ đông của công ty

này và được chia lợi nhuận mà không gặp phải rủi ro

nào sau khi mở rộng việc thu mua cổ phần (trách

nhiệm pháp lý giới hạn). Phương thức này đáng lẽ là

có hiệu quả đối với những nhà kinh doanh để huy

động vốn, nhưng giá trị của nó bị giảm sút nghiêm

trọng cho đến cuối thế kỷ 19, khi việc trao đổi cổ

phần trở thành một loại hình thức cờ bạc mà nơi đó,

những kẻ đầu cơ – “giá lên” và “giá hạ” – mua và

bán cổ phần không nhằm mục đích đạt được lợi nhuận

từ tiền lãi của công ty, mà là để kiếm những khoản

29

vớ bở trong việc “làm lũng đoạn thị trường” và “mưu

toan giảm giá cổ phiếu”, cũng như những thủ đoạn

làm giàu nhanh chóng. Những người thận trọng với

vốn liếng của mình có vẻ kinh hoàng với những việc

làm đầy rủi ro này và đã tránh xa thị trường chứng

khoán.

Một con đường thành công hơn nữa để chuyển các

khoản tiết kiệm này đến các nhà đầu tư trong những

năm này là thông qua các ngân hàng. Bằng cách sử

dụng các khoản tiền tiết kiệm của người khác, hoặc

đơn giản bằng cách thiết lập đường dây tín dụng

cho người vay hoặc chủ ngân hàng cung cấp quỹ tiền

mặt đến những nhà đầu tư đáng tin cậy. Nhưng kết

cấu ngân hàng của quốc gia này có những yếu kém

nghiêm trọng. Các Bộ luật ngân hàng Nhà nước năm

30

1863 và 1864 quy định việc phát hành tiền giấy

riêng lẻ đồng nhất và đảm bảo việc thu hồi công

trái. Hệ thống ngân hàng quốc gia này tiến bộ hơn

hệ thống ngân hàng cũ, nhưng nó cũng có những khó

khăn đáng chú ý. Theo Hiến pháp, các ngân hàng

không cho phép việc lấy đất làm tài sản thế chấp để

vay nợ, làm hạn chế giá trị của chúng đối với nông

dân chỉ có đất để làm đồ ký quỹ. Họ không thể dễ

dàng tăng việc cung cấp tiền cho đất nước này để

đáp ứng các nhu cầu thay đổi hoặc sự phát triển

kinh tế lâu dài ổn định, bởi vì việc phát hành số

lượng tiền giấy phụ thuộc vào việc nắm giữ hạn chế

số lượng công trái nhà nước. Thiếu một ngân hàng

trung ương cho phương thức mới, cung cấp những quỹ

công trái nhà nước khi cần, hệ thống ngân hàng quốc

31

gia này cũng không thể giải quyết hiệu quả các

cuộc hoảng loạn về tài chính hoặc các cuộc khủng

hoảng đột ngột khác. Mãi đến khi Hệ thống Dự trữ

Liên bang được thành lập vào năm 1913, thì những

vấn đề này mới được giải quyết.

Bất chấp những thiếu sót này, các ngân hàng thương

mại chính quy đã lập thành hệ thống ngân hàng quốc

gia nhằm kết hợp thỏa đáng giữa người gửi tiết

kiệm và các nhà đầu tư, đặc biệt là số lượng nhỏ

vốn đầu tư khi cần. Tuy nhiên, đối với việc đầu tư

vốn trên phạm vi rộng, thì các cơ quan tích cực

nhất là những ngân hàng đầu tư và theo cách đó, nhu

cầu của các ngân hàng đầu tư là đặc biệt cấp bách

trong Thời đại Hoàng kim, khi việc phát triển dân

số ở thành thị bùng nổ, cùng với việc nhanh chóng

32

mở rộng ngành đường sắt và ngành công nghiệp đã tạo

ra nhu cầu vốn đầu tư lớn khác thường.

Nói chung, các ngân hàng đầu tư không thuộc hệ

thống ngân hàng quốc gia này và thường không dính

líu đến việc kinh doanh hàng ngày của ngân hàng

thương mại. Thay vì phải giải quyết các con nợ lớn,

thì hoặc các quan chức chính phủ hoặc các tổ chức

sản xuất lại quan tâm đến việc huy động số lượng

vốn đầu tư lớn nhiều hơn.

Ngân hàng đầu tư không đột ngột ra đời trong Thời

đại Hoàng kim. Trước cuộc Nội chiến, một vài hệ

thống ngân hàng bắt đầu phục vụ như người môi giới

giữa chính phủ và người gửi tiết kiệm. Họ mua công

trái nhà nước để đảm bảo số tiền cần thiết trong

ngân khố và sau đó bán số công trái này cho công

33

chúng. Trong suốt cuộc Nội chiến này, Jay Cooke và

công ty đã gặp phải nhiều rủi ro trong việc bán

loại công trái tài trợ cho quân

đội Liên bang và hải quân mệnh giá cao “5 – 20”

của Liên bang. Thành công của Cooke trong việc kinh

doanh này đã giúp ông trở thành người chủ ngân

hàng dẫn đầu thời kỳ này và đã khuyến khích ông

chuyển sang việc kinh doanh ngân hàng tư nhân sau

chiến tranh. Trong những năm 1870, ông trở thành

nhân viên tài chính của Công ty Đường sắt Bắc Thái

Bình Dương, nhưng Cooke đã quá đam mê vào công việc

này. Khi công chúng ngừng mua chứng khoán Bắc Thái

Bình Dương thì Cooke và công ty đã phá sản, dẫn

đến cuộc khủng hoảng năm 1873 và sáu năm lâm vào

cảnh khó khăn.

34

Kinh nghiệm của công chúng từ sự thất bại Cooke đã

làm tăng sự nghi ngờ về cổ phần và thị trường

chứng khoán. Nhưng có nhiều thứ bắt đầu thay đổi

trong những năm 1880, phần lớn bởi việc làm của J.

P. Mor-gan. Morgan thường nói rằng tài sản chủ yếu

mà ông ta có là tiếng tăm. Công chúng tin cậy vào

ông ta cùng số tiền mang theo. Có được sự tin cậy

này, Morgan có thể sắp đặt sự liên doanh giữa một

số công ty để hình thành các hệ thống kinh doanh

mới khổng lồ. Các công ty liên doanh này kích thích

sự tin tưởng của các nhà đầu tư bằng việc cải

thiện lợi nhuận của các công ty hợp nhất mà không

còn phải đối mặt với cuộc cạnh tranh “gay gắt” nữa.

Và mọi việc có thể tốt đẹp như thế bởi vì quy mô

của nó tăng lên có lợi cho các tổ chức kinh tế và

35

các khoản gửi tiết kiệm từ tổ chức kinh doanh quy

mô lớn. Morgan xác định sự tin tưởng của các nhà

đầu tư bằng việc đặt một hoặc nhiều cổ đông của ông

ta vào hội đồng quản trị của một công ty mới. Khi

công ty này phát hành cổ phiếu thì người có tiền đã

thấy được sự đầu tư hấp dẫn này. Theo cách này,

hàng trăm triệu đô la đã được thu vào từ những

ngườigửi tiết kiệm giàu có bao gồm nhiều nhà tư bản

người Anh, Pháp, Hà Lan cho đến các tổ chức kinh

doanh Mỹ.

Một khi đã quen với việc mua cổ phiếu, các nhà đầu

tư trở nên nhạy cảm về con đường mới để đưa tiền

vào lưu thông. Đến cuối thế kỷ này, việc trao đổi

cổ phần trên phố Wall ở New York trở thành thị

trường tiền tệ chính, nơi mà các nhà đầu tư đó cùng

36

với tiền quỹ trong ngân khố đã đầu tư vào Ngành

công nghiệp cùng nhau đi đến những người cần đến số

tiền quỹ này. Đến năm 1910, hàng tỷ đô la cổ phiếu

đang được mua vào lẫn bán ra trên phố Wall. Phần

lớn các hoạt động kinh doanh đều mạo hiểm giống như

trước đây. Nhưng đa số là sự thỏa thuận ngầm giữa

những người gửi tiết kiệm muốn cuộc trao đổi diễn

ra an toàn và những người tổ chức mới có thể đặt

các khoản tiết kiệm này vào việc sử dụng có lợi.

NHỮNG KẺ CƯỚP BÓC

Rõ ràng là những nhà doanh nghiệp như Swift,

Edison, Carnegie, Morgan và những người khác giống

như họ đều làm lợi cho người dân Mỹ bằng việc cung

cấp các sản phẩm mới hoặc rẻ hơn hoặc bằng việc hỗ

trợ đầu tư. Dù hầu hết các nhà kinh doanh của thế

37

kỷ 19 ít nhận được sự thông cảm từ phía xã hội và

cũng không phải là những người nhạy bén trong kinh

doanh, nhưng họ đã giúp đỡ việc tăng thu nhập cho

nhiều người dân Mỹ ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên,

không phải tất cả các người dẫn đầu kinh doanh đều

là những người đổi mới mang tính xây dựng. Một số

người chính là những kẻ cướp bóc làm giàu bằng cách

thao túng tài chinh trong khi lợi dụng tính cả tin

của các nhà đầu tư, hối lộ các chính trị gia, lật

đổ các đối thủ cạnh tranh không thương tiếc hoặc

nghĩ cách để tăng giá cả. Trong số những kẻ cướp

bóc này có Jay Gould và John D. Rockefeller.

Ngành đường sắt và Jay Gould. Cuộc Nội chiến đã

trì hoãn công trình xây dựng Ngành đường sắt, nhưng

sau năm 1865, đất nước có ý định quay sang công

38

việc chinh phục thời gian và khoảng cách bằng hệ

thống đường sắt và đầu máy xe lửa. Trong năm 1865,

có khoảng 35.000 dặm đường đã được chinh phục. Đến

năm 1873, sau thời kỳ phát triển các công trình xây

dựng được khuyến khích bởi sự hỗ trợ của chính phủ

thì tổng số dặm đường này được nhân đôi. Trong

suốt những năm trì trệ từ năm 1873 đến 1879 ngành

đường sắt phát triển chậm lại. Sau đó, đến những

năm phồn thịnh 1880 và đến năm 1890, đất nước này

đã có tới 167.000 dặm đường. Đến năm 1910, khi hệ

thống đường sắt phần lớn đã hoàn tất thì nước Mỹ đã

nối liền 240.000 dặm đường sắt.

Nhiều công trình xây dựng mới đã mọc lên ở những

khu vực cũ của đất nước. Trong những năm ngay sau

cuộc chiến tranh, những người khởi xướng đã tạo ra

39

đường dây buôn bán như ở trung tâm thành phố New

York, đường dây ở Baltimore và Ohio cho phép hàng

hóa và hành khách qua lại từ Đại Tây Dương đến Vùng

Trung Tây mà không phải chuyển đổi từ đường này

sang đường khác. Chicago, St. Louis, Thành phố

Kansas và Omaha trở thành những trung tâm đường sắt

chính, và từ các điểm này những người khởi xướng

khác bắt đầu thúc đẩy các vùng thảo nguyên ở phía

Tây và phía Nam phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên,

sự phát triển diệu kỳ nhất đã xảy ra là hệ thống

xuyên lục địa. Trong năm 1869, các đội xây dựng

công trình Trung tâm Thái Bình Dương từ Sacramento

và Hội Liên hiệp Thái Bình Dương lái xe về hướng

Đông, từ Omaha

lái xe về hướng Tây, đã gặp nhau tại địa điểm

40

Promontory ở phía bắc Utah, hoàn tất việc kết nối

đầu tiên hệ thống đường sắt Đại Tây Dương

– Thái Bình Dương. Đến năm 1890, năm tuyến đường

sắt được kết nối giữa thành thị miền Đông với Thái

Bình Dương.

Trong khi hệ thống đường ray được mở rộng nhanh

chóng, thì hiệu quả cũng tăng lên rất cao. Các

đường ray xe lửa bằng loại thép tương đối rẻ tiền

do Carnegie và các đối thủ cạnh tranh làm sớm được

thay thế bằng các đường ray bằng sắt già, cho phép

các tuyến đường sắt hoạt động mạnh hơn, các đầu xe

lửa và các toa xe hiệu quả hơn. Các tuyến xe lửa

nhiều hơn đã gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng về

việc hãm phanh, nhưng những điều đó đã được giải

quyết thông qua hệ thống phanh bằng không khí của

41

George Westinghouse trong những năm 1880. Hệ thống

đường ray – những khoảng cách giữa các đường ray –

đã được tiêu chuẩn hóa trong những năm này để cho

các hành khách và nhu cầu hàng hóa không bị chuyển

đổi từ toa này đến toa khác. Trong khi đó, George

Pull-man đã phát minh toa dành cho hành khách mới,

một toa hành khách bình thường dành cho ban ngày

nhưng có thể được chuyển đổi thành toa xe có giường

ngủ vào ban đêm.

Vài học giả đã cảnh báo về việc làm tăng ảnh hưởng

của ngành đường sắt đối với nền kinh tế Mỹ cuối

thế kỷ 19, nhưng hầu hết người hiểu biết đều tin

rằng điều này ảnh hưởng rất lớn. Việc vận tải chi

phí rẻ dùng cho mọi thời tiết đẩy nhanh việc sụt

giảm chi phí chuyên chở đã bắt đầu diễn ra trong

42

suốt thời tiền Nội chiến, mở ra những khu vực mới

rộng lớn để tiến hành khai thác kinh tế. Chi phi

vận tải thấp cho phép hàng hóa được sản xuất tại

các địa điểm làm ăn có hiệu quả nhất và sau đó

chuyển đến tay người tiêu dùng

trên khắp đất nước này. Chi phí này cũng cho phép

mỗi vùng chuyên sản xuất những sản phẩm tốt nhất và

trao đổi sản phẩm với những vùng khác, góp phần

giảm thấp hơn nhiều chi phí, giá tiêu thụ. Việc tạo

ra thị trường quốc gia hội nhập gia tăng đáng kể

tổng sản lượng quốc gia tính trên đầu người.

Một số những người đã đưa ra tiến trình này là

những cá nhân có tầm nhìn xa và có óc sáng tạo đã

liều lĩnh đặt tài sản chính mình vào việc mở rộng

những khu vực mới để khai phá. Ví dụ như James J.

43

Hill, người khởi xướng ở miền Bắc rộng lớn nối liền

St. Paul với Puget Sound, đã xây dựng con đường mà

không có sự trợ giúp của Liên bang ngoài các vấn

đề xuyên lục địa khác. Hill xứng đáng được mệnh

danh “Người dựng nên Đế chế”, ông là một người đàn

ông phi thường. Nhiều người khởi xướng ngành đường

sắt của thời kỳ này đều không có ý thức công dân

cũng như óc sáng tạo như Hill. Khét tiếng nhất

trong số họ là Jay Gould.

Gould làm trong ngành đường sắt, nhưng ông chưa

xây dựng được tuyến đường ray nào cả. Thay vào đó,

ông tạo ra số tài sản lớn bằng cách thao túng kết

cấu tài chính của hệ thống đường sắt và để lại cho

chúng đầy nợ nần và hư hại. Trong năm 1867, Gould

và bạn của ông ta là James Fisk đã trở thành những

44

giám đốc Công ty Đường sắt Erie. Họ được cho là

những đồng minh của “thiếu tướng” Vanderbilt, người

này mong muốn sáp nhập Erie với trung tâm New York

và nắm giữ quyền kiểm soát việc giao thông ở phía

Tây thành phố New York. Vanderbilt bắt đầu mua cổ

phần của Erie và hy vọng sẽ nhanh chóng đạt được

mong muốn nắm quyền kiểm soát.

Các giám đốc mới này, cùng với Daniel Drew, một

người đầu cơ khét tiếng đã phản

bội lại Vanderbilt. Đặc biệt Drew là một kẻ thông

thạo việc “giảm bớt quyền hạn của mỗi cổ đông”.

Trước Nội chiến, ông là một tên lái bò, ông ta

thường lùa các đàn bò của ông ta đến chợ mà không

cho chúng uống nước và sau đó chỉ cho uống khi

chúng đã có mặt tại chợ, để cho chúng uống bao

45

nhiêu thì uống. Khi bán cho các hàng thịt tính theo

trọng lượng, thì con vật béo phị ra mang lại cho

Drew nhiều lợi nhuận. Hiện nay ông và bạn “làm

loãng” cổ phần công ty đường sắt Erie bằng cách

phát hành số lượng chứng khoán mới không được lý

giải bởi bất cứ việc tăng giá nào trong khả năng

kiếm tiền của ngành đường sắt. Họ đã bán hạ giá các

cổ phần này trên thị trường. Vị Thiếu tướng không

nghi ngờ gì đã mua và mua, nhưng không thể xoay xở

mua đủ để nắm quyền kiểm soát. Cuối cùng,

Vanderbilt yêu cầu sự giúp đỡ từ tòa án; các lãnh

đạo Erie Ring cũng vậy. Khoảng vài tháng, hai bên

đã chiến đấu gay gắt hơn, lên đến tột độ trong vụ

mua chuộc các đại lý bán sỉ của Gould theo luật

pháp quốc gia ở New York để hợp pháp hóa các hành

46

động của ông ta. Ngay khi đó, Gould mất hết hứng

thú đối với Erie và chuyển đến các cánh đồng cỏ

xanh tốt hơn. Nhưng ngành đường sắt đã gặp khó khăn

khác nhau với hàng triệu cổ phần. Khi ông ta quay

sang làm lại từ đầu Gould cười nhạo: “Chẳng còn gì

nữa ở Erie”.

John D. Rockefeller và tư bản Độc quyền.

Nghề nghiệp của John D. Rockefeller chứng minh một

hình thức lạm dụng kinh doanh phổ biến khác trong

những năm này: tư bản độc quyền. Sự thao túng của

ông ta cũng nêu bật lên một đặc điểm chung của thời

đại này. Việc kinh doanh được hoạt động trong bầu

không khí bi quan hợp pháp mà các luật lệ lại không

rõ ràng và không được viết ra. Một số hoạt động

của Rockefeller thời điểm này là hoàn toàn bất hợp

47

pháp, mặc dù bị nghi ngờ là không công bằng và vô

đạo đức.

Phạm vi hoạt động kinh doanh của Rockerfeller là

ngành công nghiệp lọc dầu. Sau khám phá của Drake ở

phía Tây Pennsyl-vania, ngành công nghiệp dầu bùng

nổ. Những người thăm dò đã tụ tập thành nhóm trên

khắp khu vực phía Đông và sớm tìm kiếm dầu ở phía

Tây New York, Tây Virginia, Ohio và Indiana. Đến

giữa những năm 1870, Cali-fornia cũng bắt đầu sản

xuất dầu dùng trong thương mại. Các nguồn cung cấp

mới này đã nhanh chóng tạo ra sự phát triển diệu kỳ

trong ngành công nghiệp lọc dầu, đã biến đổi dầu

thô thành dầu lửa, chất dễ cháy dùng để thắp sáng

và dầu nhờn. Đến đầu những năm 1870, các công ty

lọc dầu bắt đầu tập trung gần Cleve-land, Ohio, một

48

khu vực gần các mỏ dầu phía Đông và cùng với việc

vận chuyển cực kỳ thuận lợi đến các trung tâm dân

cư chính của nước này.

Ngành công nghiệp lọc dầu rất mạo hiểm. Vì chỉ cần

vài ngàn đô la thì bất cứ ai đều có thể xây dựng

một nhà máy đơn giản để sản xuất dầu lửa. Khi càng

nhiều công ty bước vào việc kinh doanh này, thì lợi

nhuận càng giảm xuống tới mức không còn gì nữa, và

nhiều nhà máy lọc dầu đã bị phá sản. Rõ ràng sự

cạnh tranh dữ dội này đã làm hạ giá dầu và có lợi

cho người tiêu dùng, nhưng từ quan điểm các nhà máy

lọc dầu này thì hậu quả thật thảm hại.

Những người tinh chế dầu không chỉ là những người

kinh doanh bị tổn hại bởi cuộc cạnh tranh gay gắt.

Trong những năm 1870, những người trong ngành đường

49

sắt cũng tự mình cắt giảm tốc độ các đường dây

cạnh tranh để tồn tại trong kinh doanh. Trong thập

niên đó, tiền vé hành khách giữa New York và

Chicago giảm xuống đáng kể; tỷ giá hàng hóa hạng

nhất trên cùng một tuyến được giảm xuống đến 2/3

hoặc hơn nữa. Những người kinh doanh này không lấy

làm ngạc nhiên vì đã thấy được rủi ro khó có thể

chịu đựng này và tìm cách làm một điều gì đó để

giải quyết việc này. Việc hợp nhất vài công ty dưới

sự kiểm soát của một công ty là một câu trả lời

phổ biến giữa những nhà kinh doanh đường sắt. Trong

những năm 1870, họ cũng đã thử “góp vốn chung”,

một sự ký kết giữa vài con đường cùng việc hoàn tất

các tuyến đường để phân chia giao thông dựa theo

một công thức và không cố gắng có được điều này

50

bằng cách giảm tỷ lệ cạnh tranh. Lúc nào cũng vậy,

sự ký kết này thường bị phá vỡ khi công ty này hay

công ty khác thấy được có lợi để không góp vốn

chung nữa. Bởi vì tính hợp pháp của họ trong điều

kiện không rõ ràng nên việc góp vốn chung không thể

có hiệu lực trước pháp luật. Các công ty công

nghiệp cũng thử hùn vốn và làm một vài thay đổi

nhưng đều không thành công.

Chiến dịch của Rockefeller nhằm giảm bớt sự cạnh

tranh trong việc kinh doanh của chính mình và thành

công hơn hầu hết mọi người. Trong năm 1870, ông và

cộng sự của mình đã thành lập Công ty dầu Standard

ở Ohio. Với một tỷ đô la đầu tư vào máy lọc, đường

ống, thùng chứa và các thiết bị khác, Stan-dard

sớm trở thành một trong những công ty lọc dầu lớn

51

nhất ở Mỹ. Các kỹ năng về kỹ thuật và quản lý của

nhân sự ở Standard là những nhân tố quan trọng đối

với sự phồn thịnh của công ty. Tuy nhiên, cũng

không kém phần quan trọng là khả năng siết chặt chi

phí chuyên chở dầu thô và dầu đã tinh chế từ các

hệ thống đường sắt. Quá nhiều sự cạnh tranh trong

ngành lọc dầu, thậm chí chỉ cần một khoản tiết kiệm

nhỏ chi phí vận chuyển đã giúp cho một nhà sản

xuất chiếm ưu thế hơn so với các nhà sản xuất khác.

Lợi dụng sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành đường

sắt,

Rockefeller đã lên kế hoạch cung cấp một chuyến

hàng lớn sản phẩm của công ty Stan-dard bằng đường

sắt để đổi lại việc giảm giá, giảm tiền cước chuyên

chở thấp hơn tỷ giá đã ấn định cho công ty của

52

ông. Kết quả là dầu Standard đã tăng lên gây bất

lợi cho các đối thủ cạnh tranh của nó, nhiều công

ty bị buộc phải bán lại cho đối thủ dữ dội của họ

và với mỗi đợt phát triển nhảy vọt như thế, công ty

Dầu này càng giành thêm được nhiều khoản lợi từ

các công ty đường sắt.

Đến năm 1872, Rockefeller đã kiểm soát một phần tư

năng suất ngành lọc dầu của cả nước. Sau đó, công

ty Dầu Standard đã tiếp tục tạo ra hệ thống độc

quyền thật sự của Ngành lọc dầu Mỹ. Đến năm 1880,

công ty này đã kiểm soát 90 – 95% năng suất dầu

tinh luyện của đất nước và 92% lượng dầu thô cung

cấp cho khu Appalachia, vùng tiêu thụ dầu lớn vào

lúc đó. Năm 1882, Rockefeller và cộng sự của ông đã

thành lập “Liên minh các tập đoàn” đầu tiên, công

53

ty sở hữu các chứng khoán của các công ty phụ thuộc

và kiểm soát các hoạt động của chúng.

“Liên minh các tập đoàn” của Rockefeller đã bị tòa

án Ohio giải thể vì nó đã vi phạm quyền làm chủ

của các công ty tư nhân và còn là “sự độc quyền

kinh doanh sản xuất dầu thực sự… để khống chế giá

dầu”. Những người làm việc cho Standard đã tái tổ

chức nó thành một công ty cổ phần mẹ theo các điều

khoản của luật pháp ở New Jersey, trong đó đã hợp

pháp hóa một tổ chức tương tự. Sau đó, cổ phần

Standard trong ngành công nghiệp giảm xuống một ít,

nhưng đến cuối năm 1911, khi Tòa án tối cao Hoa Kỳ

ra lệnh giải thể công ty cổ phần mẹ thành ba công

ty tư nhân thì Standard vẫn là công ty sản xuất dầu

tinh luyện và dầu thô lớn nhất thế giới.

54

Những người lãnh đạo công ty sau cuộc Nội chiến là

“những kẻ phá hoại và những người kiến tạo”. Họ sẽ

gặp rất nhiều khó khăn trong việc xem xét khả năng

lãnh đạo công ty, là một nhân tố chính trong sự

phát triển kinh tế cuối thế kỷ 19, nếu như tất cả

người lãnh đạo đều giống Jay Gould hoặc John D.

Rockefeller. Nhưng những người khác như Carnegie,

Edision, Swift và Mor-gan rõ ràng đã làm cho nền

kinh tế phát triển nhanh chóng.

NỀN TẢNG TRI THỨC

Nhà doanh nghiệp chỉ là một phần của sự tiến bộ

kinh tế của Thời đại Hoàng kim. Phần khác là hệ

thống các tiêu chuẩn hợp với sự phát triển cần

thiết.Không phải tất cả công nhân ngành mỏ, đường

sắt và nhà máy đều nhiệt tình ủng hộ thành tựu kinh

55

tế của thời đại này. Thực sự là có một con số nhỏ

những người tham gia không tự nguyện. Tuy nhiên,

thật kinh ngạc là họ và số cộng đồng người Mỹ còn

lại tán thành lợi ích cá nhân, công việc vất vả và

sự tiến bộ kinh tế.

Một phần sự ủng hộ này được chứng minh bởi thực tế

của xã hội Mỹ thời đại Hoàng kim. Như chúng ta

thấy thì nền kinh tế đang phát triển này tuy chưa

tuyệt đối, nhưng đã thừa nhận mức độ tiến bộ khá

tốt trong tình hình kinh tế này và thu nhập trung

bình của người làm công ăn lương cũng như sự tiến

bộ của con cái họ trên bậc thang của xã hội. Những

sự tiến bộ này đã làm tăng niềm tin của mọi người

trong hệ thống này. Nhưng kinh nghiệm thực sự không

phải là tất cả. Niềm tin vào hệ thống này được

56

vững chắc thêm nhờ vào sự mơ mộng, tính thần thoại

và sự tuyên truyền ca lên những lời tán dương chắc

chắn không thể tránh được của hiện trạng kinh tế xã

hội này.

Đạo đức nghề nghiệp. Nhiều công nhân Mỹ đã toàn

tâm chấp nhận những lời chỉ dẫn của nguyên tắc nghề

nghiệp. Số người còn lại của đạo Thanh giáo ở

thuộc địa đã quan niệm rằng, những người được Chúa

chọn lên Thiên đường, người đã được trù định trước

để được cứu rỗi, sẽ được nhận ra thông qua sự thành

công về vật chất của họ. Tính đạo đức này đã chỉ

ra hiệu quả của sự làm việc chăm chỉ, sự điềm tĩnh

và sẵn sàng hy sinh lợi ích hiện tại cho những

thành công trong tương lai. Sự biếng nhác theo quan

điểm này là điều xã hội không mong muốn và có thể

57

gây bại hoại đạo đức của cá nhân. Nhưng sự chăm chỉ

trong công việc cũng có thể dùng để thưởng phạt.

Sự thành công không chỉ là nhờ vào may mắn mà còn

phụ thuộc vào đạo đức nghề nghiệp. Theo tờ Độc giả

của McGuffey nổi tiếng, thì đoạn trích từ Kinh

thánh về thành công lớn của thời đại này là: “ông

ấy, người sẽ phát đạt, phải đứng lên năm lần; ông

ấy, người đã phát đạt, có lẽ nằm xuống tới bảy

lần”. Tất cả sử sách Mỹ đã viết về lợi ích của sự

chăm chỉ đã mang lại hiệu quả kinh doanh. Trong các

tiểu sử và tiểu thuyết đặc biệt của William M.

Thayer và Horatio Alger, thì những phần thưởng của

đạo đức nghề nghiệp đã được kịch hóa. Đặc biệt nổi

tiếng là chuyện kể của Alger, một nhà văn đã viết

119 cuốn sách, hầu hết dành cho người trẻ tuổi.

58

Thực tế, những anh hùng trong tác phẩm Alger thường

đạt được nhiều thành công hoàn toàn nhờ vào may

mắn hơn là nhờ vào lao động kiên trì. Ví dụ như

trong một câu chuyện của Alger, “một thám tử nghèo”

cứu một đứa trẻ sắp chết đuối và đã được cha đứa

bé, ông chủ ngân hàng, giao cho một công việc. Một

ví dụ khác, nhân vật anh hùng tìm thấy một mỏ vàng

lớn. Nhưng bài học mà Alger muốn truyền đạt là lao

động chăm chỉ sẽ mang lại kết quả tốt và có thưởng.

Các nhân vật anh hùng trong tác phẩm của ông ta

tuy may mắn nhưng cũng là những thanh niên tự hào

về công việc của mình. Tom Thatcher là “một cậu bé

khỏe mạnh 16 tuổi có đôi mắt đen và khuôn mặt tươi

cười và sạm nắng. Tay áo sơmi của cậu ta được xăn

lên lộ ra hai bắp tay đầy cơ. Hai tay cậu ta rám

59

nắng và dơ bẩn vì làm việc”. Rõ ràng đây không phải

là một người quý tộc trẻ với đôi tay trắng sạch.

Chống lại sự bất bình đẳng. Đạo đức nghề nghiệp đã

giúp những người làm chủ ghi nhớ giá trị và thói

quen có ích cho họ. Nói một cách gián tiếp, đạo đức

này cũng biện hộ cho việc khen thưởng không công

bằng. Bởi vì nếu làm việc chăm chỉ là con đường để

đạt được sự giàu có, sau đó điều dẫn đến sự phân

chia giàu nghèo là do năng lực và sự cố gắng hết

mình của họ thì đó không phải là do bẩm sinh hoặc

nhờ vào may mắn. Nhưng có nhiều điều chống lại sự

bất bình đẳng về sự giàu có như thế.

Cho đến gần cuối thế kỷ này, đoàn mục sư đạo Tin

Lành thường chống lại sự bất bình đẳng giữa giàu và

nghèo. Henry Ward Beecher đã nói với thính giả

60

trong suốt thời kỳ trì trệ những năm 1870: “Tôi

không nói rằng một đô la mỗi ngày đủ để… nuôi sống

một người đàn ông và năm đứa con, nếu người này

luôn hút thuốc và uống rượu… Nhưng người này không

thể sống nhờ vào bánh mì và nước lã thì không đáng

sống”. Trong bài thuyết trình mang tên Những cánh

đồng Kim cương, vị mục sư làm lễ rửa tội tên

Russell Conwell đã gửi đến thông điệp rằng, sự giàu

có về vật chất là dấu hiệu biểu hiện sự hài lòng

của Chúa nếu như của cải đó do làm ăn lương thiện

mà có. Đối với những người theo đạo Thiên Chúa, từ

chối sự giàu có là có tội, bởi vì sự giàu có cho

phép họ giúp đỡ những người khác. Conwell là một

diễn giả rất nổi tiếng. Trong suốt Thời đại Hoàng

kim này, ông đã đi du lịch khắp nước Mỹ và đã có

61

6.000 lần diễn thuyết truớc hàng ngàn thính giả.

Không chỉ riêng vị mục sư này chống lại sự bất

bình đẳng về kinh tế ở thời kỳ này. Tại các trường

cao đẳng và đại học, ban biên tập báo chí, các tác

giả, các viện sĩ và các nhà báo đều đã thấy được ưu

điểm của tinh thần cạnh tranh của thời đại này và

sự thành công tất yếu của một số người và sự thất

bại của những người khác. Để chống lại sự bất bình

đẳng, những người này đã dựa vào tư tưởng của Adam

Smith và những nhà kinh tế khác của thể kỷ 18 và

đầu thế kỷ 19 ở nước Anh hoặc tư tưởng mới của

Charles Darwin.

Adam Smith và học trò ông ta viết lách vào buổi

đầu của cuộc cách mạng công nghiệp hóa đã thực hiện

quan sát cách thức cạnh tranh tự do bằng việc ban

62

thưởng cho doanh nghiệp, sự tinh xảo và tài năng –

sự đổi mới đã được kích thích không thể tránh được

và sự phát triển. Nguyên nhân của sự cạnh tranh tự

do như vậy, chắc chắn là sự không bình đẳng mà họ

đã nhận và có lẽ đây là sự kém may mắn. Nhưng sự

thay đổi này thật tồi tệ. Đối với chính phủ, việc

tìm cách can thiệp bênh vực cho kẻ yếu đồng nghĩa

với việc kìm hãm sự tiến bộ bằng cách ngăn cản khả

năng và ngoài ra, còn biến các quyết định về kinh

tế thành một thú tiêu khiển của các chính trị gia.

Không can thiệp vào là phương pháp tốt nhất đối với

nền kinh tế này.

Những người chống lại sự bất bình đẳng đã sử dụng

những lý lẽ này để củng cố địa vị của mình kéo dài

từ trước cuộc Nội chiến khá lâu. Sau năm 1865, cũng

63

có thể họ thay đổi học thuyết xã hội Darwin thành

cái của họ. Học thuyết xã hội Darwin là một sự cố

gắng để áp dụng những tư tưởng của nhà tự nhiên học

người Anh – Charles Darwin vào chủ nghĩa thực

tiễn. Trong tác phẩm quan trọng “Nguồn gốc các

loài” lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1859,

Darwin đã miêu tả cơ cấu giải thích sự xuất hiện đa

dạng các loài thực vật và động vật trên thế giới.

Cơ cấu này là sự cạnh tranh giữa các sinh vật để

giành lấy cơ hội sinh tồn rất hạn chế. Trong cuộc

chiến đấu dai dẳng này, những sinh vật nào mạnh

hơn, nhanh hơn, thông minh hơn hoặc hung dữ hơn,

nói chung là “xứng đáng nhất” được sống để tái sinh

loài của chúng. Những sinh vật còn lại chết đi và

dòng giống của chúng biến mất. Dần dần, thông qua

64

cuộc chiến sinh tồn này, cuộc đời của các động vật

và thực vật bao gồm con người đều tiến hóa.

Đối với những người theo học thuyết Dar-win và các

học trò của họ, xem ra chắc chắn là những điều

được áp dụng cho thế giới sinh vật thì cũng được áp

dụng cho xã hội: sự cạnh tranh và “sự xứng đáng để

sinh tồn” đã cấu thành con đường duy nhất để có

được sự tiến bộ. Đối với loài người tiến bộ, thì sự

cạnh tranh phải được khích động, không bị làm cho

chán nản, thậm chí nếu như điều này có nghĩa là

hiển nhiên chấp nhận sự không bình đẳng xã hội và

tệ nạn không thể chối cãi được. Mỗi sự cố gắng của

những người nhân đức đa cảm để can thiệp vào quá

trình tiến hóa bằng việc rút ngắn lợi ích xứng đáng

nhất và cải thiện quan điểm về sự yếu kém có tầm

65

nhìn nông cạn và thiếu sót. Giáo sư Trường Jale tên

William Graham Sumner đã viết: “Hãy để mọi người

hiểu rằng chúng ta không thể thoát ra khỏi sự thay

đổi này: quyền tự do, sự không bình đẳng, điều kiện

để sinh tồn; sự mất tự do, quyền bình đẳng, điều

kiện không đủ để sinh tồn”.

Đôi khi sự khẳng định dựa trên chính sách tự sinh

tồn đã được thực hiện là trái với lẽ thường.

Herbert Spencer, nhà triết học người Anh, đã đi du

lịch khắp nước Mỹ và đã truyền bá tư tưởng xã hội

Darwin, đã tin rằng Luật pháp hỗ trợ người nghèo,

hỗ trợ giáo dục cộng đồng, chỉnh đốn nhà cửa, cung

cấp dịch vụ điện tử chi phí rẻ, thậm chí việc bảo

vệ nhân dân chống lại các thủ đoạn lừa bịp về y học

mà tất cả đều được hướng dẫn sai và chắc chắn dẫn

66

đến những tai họa cho xã hội.

Không rõ nhóm người làm kinh doanh này đã tiếp

nhận học thuyết xã hội Darwin đúng đắn như thế nào;

cuối cùng nhiều người trong số họ đang bận rộn tổ

chức việc góp vốn và thành lập các tập đoàn để giảm

bớt sự cạnh tranh và đòi hỏi sự hỗ trợ từ phía

chính phủ. Nhưng có lúc, những nhà doanh nghiệp lặp

lại khẩu hiệu của các giáo sư và nhà triết học.

Rockefeller đã thuyết trình cho các học viên theo

học trường dạy ngày Chủ nhật rằng “sự phát triển

của một doanh nghiệp lớn chỉ là điều kiện tốt nhất

để sinh tồn… Hoa hồng tượng trưng cho vẻ đẹp của

phụ nữ Mỹ có thể được tạo ra trong sự tráng lệ, và

hương thơm của nó mang lại vui vẻ cho người ngắm do

việc hy sinh những nụ hoa nhỏ đầu tiên mọc xung

67

quanh nó”. Thậm chí Andrew Carnegie, một ông trùm

kinh doanh không điển hình về quá nhiều mặt, đã

thừa nhận sự cần thiết của việc bình đẳng theo lý

lẽ của học thuyết Darwin. Trong tác phẩm nổi tiếng

của ông là “The Gospel of Wealth” (Cẩm nang của sự

giàu có), ông đã làm cho độc giả hoảng hốt bằng

việc tuyên bố, những người giàu chỉ là “những người

quản lý của cải” và họ phải trả chúng lại cho xã

hội. Nhưng Carnegie cũng viết: “Chúng tôi chấp nhận

và chào đón… sự bất bình đẳng lớn về môi trường

làm việc; sự tập trung kinh doanh, công nghiệp và

thương mại ở trong tay một số người; và luật cạnh

tranh giữa những người này như không chỉ vì lợi

nhuận mà cần thiết cho cuộc chạy đua trong tương

lai”. Các sinh viên trong xã hội này không thể chắc

68

chắn những tư tưởng như trong học thuyết xã hội

Darwin thực sự ảnh hưởng đến hành động của con

người và sự thay đổi của xã hội như thế nào. Một số

nghĩ rằng, những tư tưởng này chỉ sở hữu một năng

lực giới hạn ảnh hưởng đến những người cảm thấy

chúng không có lợi cho họ. Chắc chắn những nhà kinh

doanh có khả năng lờ đi lời giáo huấn về chính

sách tự sinh tồn khi điều đó phù hợp với mục tiêu

của họ. Những học giả khác cho là những tư tưởng

cùng với sức mạnh tạo ra sự huyền bí làm cho tầm

nhìn của mọi người mơ hồ về những điều đúng đắn mà

họ quan tâm. Người ta khó mà chọn được cái nào giữa

những quan điểm này. Tuy nhiên, có thể đúng là

trong những trường hợp họ không lĩnh hội những kinh

nghiệm thực tế, rõ ràng, việc bảo vệ của sự lao

69

động chăm chỉ, sự bất bình đẳng và sự tuyên truyền

cho người tự thành đạt đã được các công nhân chấp

nhận. Những tư tưởng này rõ ràng dần dần giảm bớt

sự bất mãn và tạo ra một lực lượng lao động có kỷ

luật góp phần vào sự phát triển kinh tế sau năm

1865.

VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ

Bất cứ ai nghĩ những người kinh doanh của thời đại

này chỉ chịu trách nhiệm về sự tiến bộ kinh tế thì

phải làm rõ vai trò quan trọng của chính phủ.

Chính phủ Liên bang đã khuấy động nền kinh tế bằng

việc đầu tư trực tiếp, trợ cấp, quan thuế, và cho

phép doanh nghiệp có quyền tự do làm gần như tất cả

những gì họ muốn. Sự phát triển sẽ chậm hơn nếu

không có sự giúp đỡ này.

70

Sự hỗ trợ của chính phủ. Washington đã nhiều lần

trực tiếp đầu tư vào những sự cải tiến vật chất mà

quốc gia này cần. Chính phủ Liên bang đã dành riêng

quỹ ngân khố hỗ trợ cho các bưu chính, bến tàu và

các cửa sông và những eo biển đã được nạo vét.

Trong năm 1874, James B. Eads, đã rất nổi tiếng vì

chiếc cầu thép bắt ngang con sông Mississippi ở

Đông St. Louis, được thiết kế do chính quyền liên

bang tài trợ các cầu tàu đã đào cho lòng sông

Mississippi thêm sâu hơn và đã giúp giữ vững vai

trò của New Orleans như là một thành phố cảng lớn.

Mỗi năm, Quốc hội hỗ trợ các tổ chức kinh doanh như

thế một loạt đầu mũi neo “các con sông và bến

tàu”. Trong năm 1867, những tổ chức kinh doanh này

đã nhận 1,2 tỷ đô la từ túi tiền của những người

71

đóng thuế; đến năm 1895, họ nhận gần 20 tỷ đô la.

Chính quyền ở các địa phương cũng vậy – bằng việc

lát đường, xây dựng hệ thống cống rãnh, và xây dựng

bệnh viện trường học, các hồ chứa và các cống dẫn

nước – góp phần vào việc phát triển đất nước.

Một phần đóng góp quan trọng của chính phủ liên

bang vào việc phát triển kinh tế thời đại Hoàng kim

là chính sách thuế dễ chịu. Sau những năm 1870,

việc đánh thuế – thực tế là thuế đánh vào người

tiêu dùng chính thức tăng lên không ngừng cho đến

thế kỷ 20, cung cấp một nền tảng để các nhà đầu tư

có thể bắt đầu những nền công nghiệp mới không sợ

sự cạnh tranh của nước ngoài hiệu quả hơn. Các thứ

thuế ưu đãi cho các nhà đầu tư. Vì hầu hết các thứ

thuế thời kỳ này là thuế nhập khẩu và thuế thuốc

72

lá, rượu whisky, bia, rượu vang và các mặt hàng

khác là nguồn thu chính của quỹ liên bang. Hệ thống

thuế có xu hướng đi ngược lại; có nghĩa là hệ

thống này thu một phần thu nhập của người nghèo

nhiều hơn người giàu. Trong suốt thời gian

1861-1872, chính phủ Liên bang đã đánh thuế thu

nhập, thuế lũy tiến tăng tỷ lệ thu nhập cao hơn.

Nếu hệ thống này duy trì thì thuế thu nhập sẽ đặt

ra nhiều gánh nặng về thuế hơn đối với những người

có thể đáp ứng điều đó. Nhưng hệ thống thuế này đã

suy yếu như một phần của sự rút lui khỏi các khoản

thuế nặng sau Nội chiến; khi hệ thống thuế được

chỉnh sửa lại vào năm 1894, nó được Tòa án Tối cao

công bố lập tức là không phù hợp với hiến pháp.

Chính quyền địa phương đã tăng hầu hết các khoản

73

thu nhập của họ bằng việc đánh thuế tài sản, một

thủ đoạn giật lùi một cách công bằng. Tất cả loại

thuế đã được nói đến, gánh nặng thuế này đã giảm

không tương xứng đối với những nông dân và với

những người có thu nhập thấp, trở thành một loại

tiền trợ cấp cho người giàu và các công ty. Hệ

thống này không công bằng, nhưng có lẽ đã kích

thích việc phát triển nền kinh tế: người giàu đã để

lại một khoản tiền cần thiết để đầu tư vào đất,

chứng khoán, hoặc các tổ chức kinh doanh.

Trong suốt những thập niên sau cuộc Nội chiến,

những sáng kiến của chủ nghĩa Cộng hòa thời chiến

như Bộ luật cấp đất cho những người di cư (1862) đã

cấp mảnh đất ở phía Tây cho những người quyết tâm

định cư. Bộ luật các đoàn thể cấp đất Morrill

74

(1862) cung cấp vốn cho các đoàn thể nông nghiệp

nhằm kích thích năng suất nông nghiệp cao hơn. Luật

đường sắt của chính phủ Liên bang thậm chí có

những ảnh hưởng quan trọng hơn. Đến năm 1871, theo

những kỳ hạn của các Đạo luật Đường sắt Thái Bình

Dương (năm 1862 và 1864), cùng với vài biện pháp

sau này thì chính phủ Liên bang đã cấp cho các công

ty đường sắt tư nhân trên 130 tỷ mẫu Anh ở phía

Tây xuyên qua sông Mississippi, khoảng một phần

mười toàn bộ đất đai của cộng đồng. Sự kiểm soát

hoàn toàn bao gồm gỗ, khoáng sản và các mảnh đất

phì nhiêu nhất. Các tiểu bang riêng biệt đóng góp

thêm 49 tỷ mẫu Anh từ đất đai của dân bang họ. Loại

đất bất động sản khổng lồ này lớn hơn số lượng đất

của tiểu bang Texas và là một nguồn quỹ quan trọng

75

cho ngành đường sắt. Mọi người cùng với món tiền

gửi tiết kiệm, đặc biệt là những người dân quê,

không mua cổ phần và cổ phiếu của các công ty ngành

đường sắt, mà đã dùng tiền đó để mua đất. Hàng

ngàn người ở miền Tây bị thu hút đến việc tạo dựng

các nông trại trên các mảnh đất thuộc ngành đường

sắt. Sự đóng góp của họ vào kho bạc là quá lớn. Giá

đất trung bình mà những người làm trong ngành

đường sắt bán là khoảng 3,30 đô la mẫu Anh, mang

lại cho người khởi xướng khoảng triệu đô la.

Sự sáng suốt của chính sách cung cấp đất cho ngành

đường sắt được đem ra tranh luận trong nhiều năm.

Một số nhà sử học gọi nó là thứ đồ rẻ tiền, đã lấy

đi của họ một phần lớn mà họ kế thừa để có lợi cho

vài người. Người khởi xướng hệ thống đường sắt chắc

76

chắn làm ra tiền từ việc cấp đất, nhưng chính phủ

và nhân dân đều có lợi: việc cấp đất này làm tăng

tốc độ phát triển ở phía Tây của nước Mỹ, giảm cước

phí trong việc vận chuyển hàng hóa chính phủ – mỗi

yêu cầu được viết thành một bản khế ước – và tăng

giá phần đất do chính phủ này sở hữu nằm cạnh các

hệ thống đường sắt. Quan trọng nhất là chính sách

này đã đẩy mạnh quá trình liên kết các thành phần

của đất nước lại với nhau bằng đường sắt. Nếu công

ty đường sắt không còn đất để bán, thì một vài nhà

tư bản tư nhân sẽ đặt tiền của họ vào những việc

kinh doanh đầy rủi ro như các công ty đường sắt đã

bỏ hoang hàng trăm dặm đất trống, nhiều mảnh đất

trở nên cằn cỗi và cho tới khi các công ty đường

sắt xuất hiện thì chúng gần như chẳng còn chút giá

77

trị gì. Nếu không có việc cấp đất thì nền kinh tế

sẽ phát triển chậm hơn.

Chính sách không can thiệp. Một trong những chính

sách – thuế xuất nhập khẩu, chính sách thuế, các

khế ước chuyển nhượng đất cho ngành đường sắt – là

một ví dụ về sự đóng góp trực tiếp của chính phủ

vào việc phát triển kinh tế. Cuối cùng, thông qua

các tòa án liên bang, chính phủ cũng đã gián tiếp

đóng góp rất nhiều.

Diễn tiến thái độ ủng hộ kinh doanh mạnh mẽ của

các tòa án dần dần lộ ra. Những năm 1865 và 1880,

tòa án liên bang đã chấp nhận quan điểm mà các tiểu

bang hạn chế thi hành các quyền sở hữu tài sản cá

nhân để bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội và đạo đức

của người công dân. Ví dụ như trong những vụ các

78

lò sát sinh năm 1873, Tòa án Tối cao đã bác bỏ luận

điểm mà bản tu chính Hiến pháp lần thứ 14 đã được

thông qua để bảo vệ các quyền về chính trị của

những người nô lệ da đen đối với việc xâm phạm lãnh

thổ, cũng như là bảo vệ lợi ích và tài sản của cá

nhân chống lại sự điều chỉnh của bang. Trong các vụ

án Granger (đáng chú ý nhất là vụ Munn chống lại

Illinois) vào năm 1877, điều khoản này ủng hộ quyền

của bang Illinois được thiết lập mức giá tối đa

cho việc dự trữ thóc lúa cho những khu đất mà một

tiểu bang dưới sự kiểm soát hợp pháp, có thể chỉnh

đốn việc kinh doanh bao gồm cả “lợi ích của cộng

đồng”.

Tuy nhiên, trong những năm 1880, các tòa án liên

bang đã bắt đầu hạn chế quyền lực của các cơ quan

79

lập pháp ở mỗi bang, nhằm can thiệp vào việc giao

dịch để bảo vệ công dân. Trong vụ San Mateo (1882)

và vụ Santa Clara (1886) – California đã nỗ lực để

chỉnh đốn các công ty đường sắt – Tòa án Tối cao đã

đi ngược lại với quan điểm đầu tiên. Điều khoản 14

hiện nay đã được công bố áp dụng đối với “những

người” ngoài việc chịu đựng sự đối xử phân biệt hợp

pháp xảy ra với các chủng tộc; những cơ quan bị

luật pháp tiểu bang mình làm tổn hại, những mối

quan tâm về kinh tế của họ cũng được cho quyền bảo

vệ liên bang. Hơn thế nữa, Tòa án này đã nói rằng

các tập đoàn này là những “cơ quan” hợp pháp cho

nên Điều khoản 14 bao gồm điều đó. Các tập đoàn có

thể cũng đòi hỏi rằng họ đã bị tước đoạt các quyền

bởi một tiểu bang “không đi đúng với quy trình” và

80

có thể mong đợi chính phủ liên bang thay mặt cho họ

can thiệp vào. Do đó, điều này đã gây khó khăn cho

các cơ quan lập pháp của bang này để chỉnh đốn

việc kinh doanh.

Nếu hạn chế quyền lực của các tiểu bang trong việc

chỉnh đốn các doanh nghiệp tư nhân, thì các tòa án

liên bang cũng đã sớm đặt lên đầu chính phủ liên

bang một gánh nặng như thế. Ví dụ như trong trường

hợp Tỷ lệ Hàng hóa (năm 1897) tăng tối đa, thì Tòa

án Tối cao đã hạn chế quyền hạn của Hội đồng Thương

mại xuyên Tiểu bang để đặt ra tỷ lệ ngành đường

sắt Liên bang và trong vụ Tổ chức nghiệp đoàn

E.C.Knight (1895) đã làm suy yếu Luật chống Độc

quyền của Sherman, chính quyền liên bang đã đưa ra

phương pháp để ngăn chặn chế độ tư bản độc quyền.

81

Sau đó, đến năm 1900, các tòa án liên bang đã lập

ra chính sách không can thiệp, nghiêng hẳn về một

bên hướng về việc tổ chức kinh doanh, mặt khác còn

phụ thuộc năng lực chỉnh đốn của tiểu bang này đối

với luật của liên bang và sau đó làm tê liệt quyền

chỉnh đốn của Quốc hội. Chính phủ liên bang có thể

hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các loại thuế nhập

khẩu, việc cấp đất cho ngành đường sắt, vốn đầu tư,

và các chính sách thuế; nhưng chính phủ không thể

hạn chế việc giao phó trách nhiệm lên phúc lợi cộng

đồng. Chính sách này đã lờ đi tính công bằng xã

hội và các thế hệ sau sẽ gay gắt lên án điều này.

Nhưng điều này cũng tạo ra một bầu không khí, mà

trong đó những người có tiền để đầu tư sẽ cảm thấy

tự tin rằng họ có thể hy vọng vào những khoản đền

82

bù cho sự liều lĩnh của mình, và theo cách này, nó

cũng đã kích thích kinh tế phát triển.

NGƯỜI LÀM CÔNG ĂN LƯƠNG

Chúng ta cần xem xét các nguyên nhân. Kết quả như

thế nào? Người lao động nam và nữ, những người giữ

gìn máy móc, những công nhân hầm mỏ, người cưa gỗ

và đào đất, những người đốt lò và các động cơ như

thế nào – những người này sinh sống ra sao khi quốc

gia nâng cao sản lượng, và họ đáp lại những kinh

nghiệm mà họ có được như thế nào?

Nếu chúng ta chỉ nhìn vào những thống kê lạnh

lùng, thì số người làm công ăn lương thời đại Hoàng

kim xuất hiện khá nhiều. Thu nhập của họ tăng lên.

Tiền lương thực tế trung bình và tiền kiếm được

hàng năm tăng lên đáng kể trong nửa thế kỷ sau cuộc

83

Nội chiến. Một nhà kinh tế học đã ước đoán rằng,

tiền lương hàng giờ và số tiền kiếm được đối với

những công nhân ngành công nghiệp Mỹ cho phép những

thay đổi trong khả năng thu mua bằng đồng đô la,

giữa những năm 1860 và 1890 đã tăng đến 50%. Một

nhà kinh tế khác kết luận rằng trong suốt 25 năm

tới thì việc gia tăng này chỉ ở mức 37%. Thậm chí

nếu lơ là việc cải thiện kỹ năng cá nhân và tăng

kinh nghiệm, thì sau đó hầu như những công nhân

giữa năm 1865 và năm 1914 vẫn được tăng thu nhập

gấp đôi.

Nhưng các thống kê này chỉ mới kể một phần câu

chuyện. Chúng chỉ là sự ước lượng trung bình, và

như vậy sẽ che khuất nhiều khác biệt lớn. Chúng

cũng không tính đến nhiều khiá cạnh khác về cuộc

84

sống của giai cấp công nhân trong thời đại biến đổi

hỗn độn này.

Sự biến động của xã hội và sự khen thưởng bằng tài

chính. Những người đàn ông da trắng đã lập thành

một lực lượng lao động lớn và chúng ta sẽ xem xét

họ đầu tiên. Có một chu trình rõ ràng trong đờí

sống làm việc của hầu hết người làm công ăn lương

da trắng. Trong suốt thời thanh thiếu niên mới qua

đi của họ, khi họ nhận những công việc đầu tiên,

thì họ nhận được mức lương của những ”người lao

động chưa có kinh nghiệm. Tuy nhiên trong nhiều năm

sau, phần lớn kinh nghiệm của họ được tăng lên, và

đến khi họ ngoài 40 và dưới 50 tuổi thì họ kiếm

được nhiều tiền hơn so với 20 hoặc 30 năm trước

đây. Và đã có một nhân tố khác tại nơi làm việc mà

85

những công nhân nam da trắng có thể trông mong vào

để cải thiện số phận của họ, đó là sự biến động của

xã hội. Dữ liệu có nói về sự biến đổi của xã hội

trong số công nhân Mỹ da trắng, mặc dù có hơi mơ hồ

nhưng toàn bộ sự việc đều cho thấy rằng việc thay

đổi từ không có kỹ năng đến bán kinh nghiệm và thậm

chí đối với những công việc cần kỹ năng là khá phổ

biến. Mặc dù có sự biến đổi lớn như thế, nhưng

điều đó lại tùy thuộc vào thập niên này và cộng

đồng công nhân, tình hình dân tộc và thậm chí mỗi

vùng. Tuy nhiên, thật sự là cực kỳ khó khăn cho một

cậu bé nghèo trở thành một tỷ phú. Các ông trùm

kinh doanh lớn thời đại Hoàng kim hầu như tất cả là

những người bản xứ theo đạo Tin Lành thuộc dòng

dõi người Mỹ trước đây mà tổ tiên của họ là những

86

người thuộc giai cấp trung lưu hoặc giàu có, đồng

thời còn là những người được sự giáo dục tốt hơn

người Mỹ bình thường. Horatio Alger và những người

sáng tác chuyện thần thoại đã bảo vệ cho một hệ

thống thưởng phạt không hề thay đổi. Mặt khác, sự

phổ biến của các câu chuyện thần thoại phụ thuộc

vào sự thay đổi cách nhìn của nhiều người Mỹ ở xung

quanh họ hoặc chính họ tự thưởng thức thật sự. Như

một nhà sử học xã hội, Herbert Gutman đã nói trong

một cuộc nghiên cứu về sự biến đổi ở Paterson, New

Jersey: “Quá nhiều nhà sản xuất thành công, họ đã

bắt đầu làm việc như những người công nhân dạo bộ

trên đường thành phố đó… mà không khó để tin rằng

“lao động vất vả” dẫn đến một kết quả ngoạn mục”.

Các phần thưởng tài chính được xem như là một động

87

lực đã tạo nên sự thay đổi giữa các công nhân. Mặc

dù lương trung bình năm 1900 là 483 đô la mỗi năm,

nhưng các thợ mộc, thợ xây, và các công nhân xây

dựng có kỹ năng thường kiếm số tiền nhiều hơn 1.250

đô la mỗi năm. Trong năm 1880, trong khi “những

người lao động “nhận trung bình mỗi ngày 1,32 đô

la, thì những người thợ rèn nhận 2,31 đô la, những

kiến trúc sư đầu máy xe lửa nhận 2,15 đô la và

những người chế tạo máy nhận 2,45 đô la. Tiền lương

của các nhân viên liên bang, nhân viên thư ký và

những người thợ mỏ đều nhận mức lương trung bình

như trên. Ở đây, chúng tôi không kể đến những người

làm trong ngành nông nghiệp được chủ bao ăn, bao ở

luôn nhận đồng lương rẻ mạt. Trong “công việc buôn

bán đổ mồ hôi sôi nước mắt” của ngành may mặc ở

88

thành phố lớn này, người lao động bị bắt ép làm

việc vất vả bởi những người chủ của họ – đang chống

lại những thương gia nhỏ ít quan tâm đến tiền

lương của họ tương ứng với chi phí sản xuất chính.

Một nguyên nhân dẫn đến tiền lương trong ngành may

mặc thấp là sự hiện diện của nhiều công nhân nữ.

Trong những năm này, rất ít công nhân nữ nhận được

tiền lương tương ứng với tiền lương của nam giới.

Đồng lương chủ yếu của nữ là 1 hay 2 đô la mỗi tuần

kiếm được do làm người giúp việc nhà, giặt giũ,

nấu ăn, may vá và ủi quần áo cho các gia

đình trung lưu; những nhân viên nữ làm công việc

ăn lương theo sản phẩm ở New York và các xưởng may

mặc nhận được dưới 1 đô la một ngày. May mắn là bức

tranh này không ảm đạm như những con số nêu ra.

89

Hầu hết phụ nữ cuối cùng đã kết hôn và không còn là

một phần của thị trường lao động nữa. Tuy nhiên,

đối với “phụ nữ không chồng” phải tự nuôi sống bản

thân hay với những phụ nữ góa chồng cùng với đàn

con nhỏ thì tiền lương như thế thật đáng hổ thẹn.

Những người Mỹ da đen cũng được trả lương dưới mức

trung bình. Hầu hết họ là những người lĩnh canh ở

phía Nam, nhưng vài người đã rời khỏi nông trại đến

các nhà máy hoặc xí nghiệp hầu như tất cả đều liên

quan đến việc trả lương thấp, công việc không đúng

nghề, không chú ý đến học vấn, kỹ năng hoặc tài

năng của họ. Những người dân nhập cư cũng vậy, ít

nhất cho tới khi họ đạt được những kỹ năng và nhu

cầu đầy đủ về tiếng Anh thì họ nhận mức lương thấp

hơn những người có kỹ năng và bẩm sinh là da trắng.

90

Điều kiện sống và làm việc. Đối với những gia đình

giữ vị trí cuối cùng của tháp lương thì cuộc sống

thật là vất vả. Nhiều người Mỹ bị đói và nhiều

người làm công ăn lương đã đấu tranh liên tục để

duy trì tiêu chuẩn sống đúng đắn và có được chút ít

sự nhàn hạ. Trong năm 1883, gia đình lớn của một

người gác phanh xe lửa Joliet, Illinois, theo như

tin tức được biết thức ăn chủ yếu là bánh mì, mật

đường và khoai tây. Quần áo của họ mà một nhân viên

điều tra đã ghi chú lại là “rách tả tơi” và con

cái họ mặc chỉ “nửa thân và bẩn thỉu”. Một nhân

chứng đứng trước ủy ban Thượng viện năm 1883 đã

miêu tả mái ấm gia đình của một thợ mỏ than người

Pennsylvania tiêu biểu, gồm có: 2 căn phòng, 1 gác

91

trên và 1gác dưới. Ông nói: “Ngôi nhà này được dựng

trong dãy nhà phố dài không được sơn bên ngoài, đồ

dùng trong nhà bếp gồm có một bếp lò và vài cái

đĩa, vài cái ghế và một cái bàn ăn. Họ không có

thảm trải trên sàn nhà…”.

Nhiều vấn đề đã được cải thiện đối với thế hệ sau

như chúng ta thấy, và tuổi thọ cũng như thu nhập đã

tăng lên. Trong tiểu bang công nghiệp

Massachusetts, tuổi thọ trung bình của một đứa bé

mới sinh tăng từ khoảng 42 năm vào năm 1880 đến

khoảng 45 năm vào năm 1920. Những cải thiện này đã

phản ánh tỷ lệ tử vong của đứa trẻ sơ sinh thấp,

nhưng người trưởng thành cũng được hưởng lợi từ các

tiêu chuẩn sống tiến bộ. Trong năm 1850, những

chàng trai 20 tuổi có thể hy vọng được sống hơn 40

92

năm nữa. Trong năm 1920, họ có thể mong đợi khoảng

45 năm nữa. Trong giai đoạn này, sự cải thiện tuổi

thọ cho những cô gái 20 tuổi là không lớn hơn mấy.

Mặc cho việc cải thiện này, chất lượng cuộc sống

những người làm công ăn lương, không chú ý đến bất

kể thu nhập, vẫn duy trì sự bất mãn từ một quan

điểm hiện đại. Giờ làm việc tại xưởng giảm từ 66

tiếng 1 tuần năm 1850 xuống còn 60 tiếng năm 1890.

Tuy nhiên, độ dài của một ngày làm việc vẫn là một

thử thách cho hầu hết các công nhân. “Tôi rất mệt

mỏi vì hiếm khi tôi có thể lê mình về nhà lúc vừa

tối”, một phụ nữ tại nhà máy ở Massachusetts đã

thốt lên như vậy. Một lao động nam thì “không biết

gì ngoài công việc, ăn, uống và ngủ” và “chẳng hơn

một con ngựa là mấy”, một công nhân tại xưởng ở

93

Pennsylvania tuyên bố.

Thậm chí khi thời gian làm việc trở nên ngắn hơn

thì vẫn còn phải đấu tranh với sự đơn điệu buồn tẻ.

Nhiều công trình công nghiệp chỉ gồm các thao tác

đơn giản lặp đi lặp lại. Tại một xưởng chế biến và

đóng hộp ở Chicago vào cuối thế kỷ này, phải cần

đến năm người chỉ để xử lý phần đuôi một con bò,

hai người lột da, hai người khác cắt đi, còn một

người thì bỏ vào hộp. Làm thế nào mà một công việc

đơn giản như thế có thể khiến họ hài lòng? Một nhà

cải cách thuộc tầng lớp trung lưu đã thử đến làm

tại một phân xưởng trong những năm 1890 và tổng hợp

lại cảm nghĩ của hầu hết những người làm công ăn

lương trong ngành công nghiệp như sau: “Công việc

mà chúng tôi làm không cần phải chịu trách nhiệm,

94

mà chỉ là một công việc vất vả diễn ra đều đều tẻ

nhạt, chúng tôi luôn mong sớm đến giờ nghỉ, và được

phát tiền lương vào mỗi cuối tuần”.

Theo một cách nào đó, “sự tiến bộ” khiến cho đời

sống của các công nhân không hề tốt lên mà chỉ khó

khăn thêm. Thay đổi nhanh chóng về công nghệ đã

khiến nhiều kỹ năng không còn được dùng đến. Mặc dù

thị trường lao động nói chung hết sức phát triển

vào thời kỳ này, nhưng những công nhân lành nghề

thường phải đối mặt với viễn cảnh có thể bị thay

bằng máy móc. Chẳng hạn trong ngành công nghiệp

sắt, Andrew Canergie và Henry Clay Frick đã không

ngừng thúc đẩy nhiều phương pháp mới nhằm giảm số

lượng nhân công có tay nghề trong các phân xưởng.

Họ đã thành công trong việc giảm chi phí sản xuất,

95

nhưng trái lại, các công nhân của họ phải trả giá

cao. Một số bị sa thải, nhiều người khác vẫn tiếp

tục ở lại nhưng bị buộc phải chấp nhận làm công

việc chỉ cần một ít hoặc không cần tay nghề, điều

này làm giảm thu nhập và khiến công việc của họ trở

nên đơn điệu và buồn tẻ hơn. Một số công nhân theo

chủ nghĩa Taylor, nghĩa là ý tưởng của Frederick

W. Taylor, một kỹ sư công nghiệp đã phát triển

những học thuyết của mình trong khi cố làm tăng

tính hiệu quả của lực lượng lao động tại Công ty

Thép Midvale Taylor chắc chắn rằng những người

trông coi máy móc, cũng giống máy móc, có thể được

tác động để làm việc hiệu quả hơn nếu quá trình

hoạt động của họ được xem xét, kiểm tra và lựa chọn

thời gian kỹ lưỡng. Bằng cách như thế, máy móc

96

không cần thiết sẽ bị loại ra và sản lượng được

tăng lên. Công nhân thường cho rằng việc tiến hành

đường lối Taylor gây ra tình trạng tăng tốc khiến

cuộc sống bận rộn và khó khăn hơn.

Hoạt động công nghiệp cũng không an toàn và có hại

cho sức khỏe. Thậm chí vào cuối thời kỳ này, có

rất ít người hiểu được ảnh hưởng của hóa chất, khói

bụi và các chất gây ô nhiễm đến sức khỏe. Hàng

ngàn công nhân phải chịu những chứng bệnh mạn tính

do điều kiện làm việc trong ngành công nghiệp gây

ra. Hàng ngàn người khác chết trẻ vì bệnh bụi phổi

(một căn bệnh phổi do hít nhiều bụi), lao phổi, ung

thư, suy tim và nhiều bệnh khác do công việc gây

ra. Tai nạn lao động cũng lan tràn như bệnh dịch.

Máy móc không an toàn, khí nổ trong các hầm mỏ và

97

không khí thì đầy bụi bẩn và dễ cháy nổ đã làm bị

thương cũng như giết chết nhiều người. Giai đoạn

1870-1910, chỉ riêng ở các phân xưởng thuộc Công

trình miền Nam của Canergie đã có gần 4.000 ca chấn

thương hay tử vong. Năm 1917, danh sách thương

vong trong ngành công nghiệp của đất nước là 11.000

người tử vong và 1,4 triệu người bị thương.

Xã hội giúp không nhiều hoặc chẳng giúp được gì để

bù đắp lại mức thuế đáng sợ, Trước khi thông

luật(1) năm 1900 được ban hành, trong đó chỉ ra

rằng, nếu một “công nhân” tự gây ra tai nạn lao

động thì người chủ không phải chịu trách nhiệm về

mặt pháp lý và thiệt hại gì. Và ngay cả khi nếu

chấn thương đó là do sự thờ ơ và bất cẩn của chính

người chủ, thì công nhân bị thương hay gia đình của

98

họ phải kiện để nhận được tiền bồi thường. Chỉ một

số rất ít công nhân có thể lo được khoản phí tổn

quá lớn cho quá trình kiện tụng này.

Những người lao động giàu có thường có khả năng

mua bảo hiểm cá nhân, nhưng khi người kiếm tiền

chính trong gia đình thiệt mạng hay mất khả năng

lao động, thì hầu hết các gia đình thực sự phải đối

mặt với một tương lai đầy khó khăn.

Ngoài tai nạn và bệnh tật, các công nhân còn phải

đấu tranh với tình trạng thất nghiệp do những giai

đoạn khó khăn gây ra. Giai đoạn 1870-1900, có hai

cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và một số khác nhỏ

hơn. Vào đầu và cuối những thời kỳ này (1873-1879

và 1893-1897), tỷ lệ lực lượng lao động thất nghiệp

đạt đến hơn 12%, một con số mà chỉ đến những năm

99

1930 mới ngang bằng. Trong suốt những năm khó khăn

và đói kém này, nhiều gia đình thuộc tầng lớp lao

động gặp khó khăn trong việc giữ được một mái nhà

để ở và quần áo tươm tất. Người ăn xin tràn ngập

đường phố, còn thợ làm rong và người sống lang

thang thì đón xe lửa từ thành phố này đến thành phố

khác để tìm việc.

Tính trung bình trong suốt thời kỳ Hoàng kim, nạn

thất nghiệp đã làm giảm tổng thu nhập của công nhân

khoảng 7% dưới mức độ của lao động thường xuyên.

Nhưng gánh nặng này cũng không được chia đều nhau.

Đối với những công nhân lớn tuổi, người da đen, dân

nhập cư không có tay nghề thì khủng hoảng thật

đúng là thảm họa. Được các ông chủ xem như một lực

lượng không quan trọng, họ là những người đầu tiên

100

bị sa thải và cuối cùng được thuê lại. Đối với

những thành viên ít được thuê trong lực lượng lao

động, những khoảng thời gian khó khăn có lúc đồng

nghĩa với tình trạng thất nghiệp lâu dài.

Tuổi tác cao cũng đem lại những rủi ro về kinh tế

đối với người lao động. Không có những hệ thống trợ

cấp và lương hưu. Những người tuổi tác quá cao

không thể tiếp tục làm việc thường chẳng có gì để

dựa vào. Các khoản từ thiện tư nhân thường ít ỏi và

không có giá trị. Nhiều cha mẹ lớn tuổi đã dọn đến

ở cùng con cái họ. Nếu các công nhân về hưu chưa

phải là một khó khăn nghiêm trọng cho xã hội nói

chung vào thời kỳ này hơn ngày nay, thì đó là do họ

có nhiều con cái để đỡ đần cho mình hơn, và ít

sống đến những năm sau không làm việc hơn.

101

Để hiểu được hoàn cảnh của những người lao động

làm thuê ở Mỹ trong thời kỳ Hoàng kim, thì điều

quan trọng là phải biết những sự khác biệt. Những

công nhân nam giới da trắng bản xứ có tay nghề là

“những người lao động quý tộc”; họ sống khá thoải

mái, sở hữu những căn hộ riêng, ăn uống đầy đủ và

tận hưởng một số tiện nghi, thậm chí là một vài món

hàng xa xỉ. Cũng giống mọi công nhân khác, tình

trạng công việc của họ bấp bênh, họ lại phải làm

việc trong điều kiện nguy hiểm trong nhiều giờ

liền, nhưng nhìn chung họ có lý do để ca ngợi xã

hội và hệ thống kinh tế đã giúp họ có được một cuộc

sống tương đối thoải mái. Thật khó ước tính được

con số chính xác của nhóm lao động quý tộc này,

nhưng có thể nó nằm trong khoảng từ một phần ba đến

102

một phần hai tổng số lao động không làm nghề nông.

Đối với các thành viên khác trong tầng lớp lao

động, bao gồm: phụ nữ, người da đen và những người

không tay nghề, những dân nhập cư mới, thì cuộc

sống của họ không chỉ bấp bênh mà thường nghèo nàn

và khắc nghiệt. Trong một chừng mực nào đó, gia

đình của những người lao động không có tay nghề

thường cố gắng đóng góp thêm vào đồng lương ít ỏi

của người lao động chính bằng cách mọi người đều đi

làm, già cũng như trẻ, nam cũng như nữ. Việc sử

dụng lao động trẻ em trở nên thịnh hành là sự phản

ánh cho nhu cầu này. Nhưng sự sắp đặt này phải trả

giá đắt để có thể tồn tại. Nói tóm lại, mặc dù

những công nhân Mỹ không có tay nghề thường có thể

103

giỏi hơn hẳn những lao động không chuyên khác ở

nước ngoài, nhưng cuộc sống của họ thì không những

không được đảm bảo mà còn hết sức gay go, túng

quẫn. Đời sống đang dần tốt lên, nhưng vẫn còn một

con đường dài mà những người thuộc phần đáy của kim

tự tháp thu nhập phải trải qua để cuối cùng có thể

tuyên bố rằng, từ lâu người Mỹ đã mãn nguyện với

sự hứa hẹn có được cuộc sống sung túc và thịnh

vượng.

SỰ PHẢN KHÁNG CỦA GIAI CẤP LAO ĐỘNG

Việc đưa ra những thất bại của hệ thống kinh tế

cho chúng ta thấy được rằng, chẳng có gì đáng ngạc

nhiên khi những người làm công ăn lương lại thể

hiện thái độ bất bình đến vậy. Hầu như họ đều phản

kháng dưới hình thức phát biểu không rõ ràng, thảo

104

luận lớn tiếng và có hành vi chống đối xã hội.

Nhưng cũng có những biểu hiện sự phản kháng có tổ

chức. Bao gồm ba hình thức: hệ thống công đoàn, chủ

nghĩa tích cực về chính trị và chủ nghĩa không

tưởng.

Những thành viên công đoàn chấp nhận chế độ tư bản

chủ nghĩa, mặc dù thường dè dặt, và tìm cách nâng

cao mức lương và điều kiện làm việc, cũng như rút

ngắn thời gian thông qua sự thương lượng giữa công

đoàn và các chủ sử dụng lao động. Để đạt được mục

tiêu của mình, họ tán thành các vụ bãi công, tẩy

chay hàng hóa của chủ và làm chậm cường độ sản xuất

khi cần. Những nhà hoạt động chính trị có lúc ủng

hộ việc đấu tranh của các đảng lao động đòi ngày

làm việc 8 giờ, trả tiền giấy, bồi thường cho nhân

105

công gặp tai nạn trong lúc làm việc, luật về an

toàn lao động và các luật khác về lao động trẻ em.

Những nhà hoạt động chính trị cấp tiến hơn, bất kể

là người theo chủ nghĩa xã hội hay vô chính phủ đều

tìm cách thay thế chủ nghĩa tư bản cá nhân bằng

một “nền cộng hòa mang tính tập thể”. Trong xã hội

lý tưởng của họ, tài sản phải được sở hữu chung và

động cơ lợi nhuận sẽ không còn, nhưng họ không tìm

cách phá vỡ nền công nghiệp. Trái lại, những người

chọn phương thức thứ ba là chủ nghĩa không tưởng

lại hy vọng có thể biến công nhân thành nông dân

hoặc nhà sản xuất nhỏ. Quan điểm này cho thấy sự

khao khát và luyến tiếc về quá khứ mà khi đó hầu

hết mọi người Mỹ đều là những nông dân hay những

kiểu nhà sản xuất tư nhân khác.

106

Mãi đến những năm 1880 thì sự kết hợp giữa hoạt

động chính trị ôn hòa và chủ nghĩa không tưởng đã

chiếm lĩnh xu hướng lao động Mỹ. Giai đoạn

1865-1873, khi thế lực của người làm thuê trên thị

trường lao động đạt đến đỉnh cao do thời kỳ này ổn

định và lao động khan hiếm, thì các công đoàn như

của thợ đúc sắt, thợ in, thợ máy và thợ rèn thường

đòi được những sự nhượng bộ về tiền lương và giờ

làm từ các ông chủ. Công đoàn Lao động Quốc gia

(NLU)(1) tìm cách kết hợp việc cải cách chế độ tư

bản chủ nghĩa, thông qua chủ nghĩa tích cực về

chính trị với những mục tiêu của chủ nghĩa không

tưởng. Được sáng lập bởi một thợ máy tên Ira

Steward vào năm 1866 với tư cách một liên đoàn lao

động đầu tiên trên khắp cả nước, tổ chức NLU lúc

107

đầu dành nhiều tâm huyết cho việc đòi ngày làm tám

giờ bằng cách gây sức ép đối với hệ thống lập pháp

bang, Steward tin rằng thắng lợi của nguyên tắc

ngày làm 8 giờ này sẽ không chỉ giúp cho những

người làm công ăn lương có thể chịu đựng được công

việc của mình, mà còn giải phóng họ khỏi sự bó

buộc. Dưới sự lãnh đạo của William Sylvis, người kế

vị chức chủ tịch NLU của Steward, tổ chức này đã

tiến hành một kế hoạch, trong đó chính quyền liên

bang phát hành một lượng tiền giấy lớn cho các nhóm

công nhân vay để họ có thể trở thành những nhà

kinh doanh tư nhân với quy mô nhỏ. Những “hợp tác

xã nhà sản xuất” này cho phép người lao động thoát

khỏi địa vị thấp kém của những người làm công ăn

lương và trở thành những nhà sản xuất nhỏ có quyền

108

của chính mình.

Khủng hoảng trong những năm 70. Cuộc hoảng loạn

năm 1873, và theo sau là thời kỳ khủng hoảng đã

khiến việc kiếm việc trở nên khó khăn hơn và gây

tác hại cho phong trào của công đoàn. Các ông chủ

nhận thấy họ có thể thuê được những nam nữ thất

nghiệp đang chán nản và tuyệt vọng hết sức dễ dàng,

họ có thể chấp nhận bất kỳ điều khoản lao động

nào, các ông chủ cũng tỏ ra ít dung thứ với “những

kẻ gây rối” hơn. Năm 1873, sau khi cố biến mình

thành một đảng lao động quốc gia, tổ chức NLU đã

sụp đổ. Các thành viên công đoàn trên khắp cả nước

giảm từ 300.000 vào năm 1873 xuống còn 50.000 năm

1878.

Giai đoạn giữa những năm 1870 là thời điểm diễn ra

109

những cuộc xung đột dữ dội. Tháng 01 năm 1874,

cảnh sát thành phố New York đã đàn áp đám công nhân

thất nghiệp tụ tập để phản đối thời kỳ khó khăn

khiến cho nhiều người bị thương. Năm tiếp theo được

đánh dấu bằng vụ xét xử một tổ chức bí mật được

gọi là Molly Maguires gây xôn xao dư luận vì tội

sát nhân, nạn nhân là những người quản lý tại các

mỏ than ở miền Đông Pennsylvania và có những hành

động quá khích làm ảnh hưởng đến tài sản của các

chủ khu mỏ. Cho đến ngày nay, chúng ta vẫn không rõ

liệu sự quá khích này là do lòng căm thù giai cấp

hay căng thẳng về tôn giáo giữa các thợ mỏ người

Ailen theo đạo Thiên Chúa và các ông chủ người xứ

Wales và Scotland theo đạo Tin Lành. Một số học giả

tin rằng, bằng chứng chống lại của tổ chức Molly,

110

được một nhân viên của Pinkertons, một cơ quan thám

tử tư nhân thu thập, phần lớn đều được dựng lên

nhằm giúp những chủ khu mỏ quan trọng có thể dập

tan công đoàn của các thợ mỏ. Bất luận thế nào, thì

khi 10 thành viên của Molly bị treo cổ và 14 người

khác bị tống giam, nhiều người Mỹ trung lưu cảm

thấy những ngờ vực của họ đối với các tổ chức lao

động càng được củng cố.

Giới trung lưu còn phải chịu một cú sốc nghiêm

trọng hơn vào năm 1877, khi các công ty đường sắt

miền Đông và Trung Tây đã cắt giảm lương công nhân

và tăng giờ làm, nhằm đảm bảo lợi nhuận của họ

trước một nền kinh doanh đang xuống dốc. Ở

Baltimore vào trung tuần tháng bảy, những công nhân

tức giận tiến hành đặt người đứng gác không cho ai

111

vào làm trong lúc bãi công, khiến cảnh sát phải

đứng ra giải tán. Ngay sau đó, các công nhân ở

Baltimore và Ohio chiếm các sân ga và các xưởng ở

Martinsburg, Tây Virginia. Việc nổi loạn tự phát

này nhanh chóng lan sang Pittsburgh, Chicago,

Buffalo và hướng về miền Tây, làm ảnh hưởng đến

nhiều hệ thống đường sắt quan trọng và hàng ngàn

công nhân. Trong vòng hai tuần, dường như cả nước

ngập chìm trong những cuộc nổi dậy. Ở Bal-timore,

lực lượng dân quân nổ súng về phía đám đông các

công nhân và thanh niên, khiến cho 10 người thiệt

mạng. Tại Buffalo, các công nhân đình công chiếm

những phương tiện vận chuyển của các công ty đường

sắt ở Lake Shore và Erie. Còn ở Pittsburgh, những

người nổi loạn đốt cháy hàng trăm toa tàu chở hàng,

112

kho hàng của Hiệp hội và những phân xưởng máy móc,

cướp phá các cửa hiệu và tham gia vào cuộc đấu

súng ác liệt với lực lượng dân quân. Khiếp sợ trước

những dấu hiệu của “cuộc cách mạng đỏ”, các thống

đốc và viên chức địa phương triệu tập quân đội tiểu

bang và những người tình nguyện đại diện. Thống

đốc bang Maryland, hoang mang trước vụ chiếm

Martinsburg, kêu gọi quân đội liên bang, một trong

những công dụng điển hình sớm nhất của quân đội.

Đầu tháng tám, tình trạng bạo lực đã chấm dứt,

nhưng nhiều người Mỹ bảo thủ tin chắc rằng họ đã

thoát khỏi một cuộc cách mạng xã hội quan trọng chỉ

trong gang tấc.

Tổ chức nghiệp đoàn Hiệp sĩ Lao động.

Với sự thịnh vượng trở lại vào giai đoạn

113

1878-1879, sự bất bình của người lao động một lần

nữa lại được tiến hành dưới hình thức tổ chức trật

tự. Người hưởng lợi chính từ thái độ mới này là Tổ

chức nghiệp đoàn Hiệp sĩ Lao động phẩm cấp Quý tộc,

được một nhóm thợ may ở Pennsylvania thành lập năm

1869, dưới sự lãnh đạo của Uriah S. Stephens. Giữa

những năm 1870, tổ chức này hoạt động cầm chừng

chỉ để được tiếp tục tồn tại, nhưng khi thời kỳ tốt

đẹp quay trở lại, họ bắt đầu phát triển mạnh.

Ban đầu, tổ chức này hoạt động giống một hội Tam

điểm hay hội kín hơn là một công đoàn hiện đại. Các

thành viên trong tổ chức đem lại các khoản bảo

hiểm nhân thọ, những mảnh đất nhỏ để an táng và

nhiều phúc lợi khác nhằm bù đắp cho cuộc sống bấp

bênh của những người làm công ăn lương. Tháng 03

114

năm 1885, tổ chức này đã buộc Công ty Đường sắt Tây

Nam của Jay Gould phải chấm dứt việc cắt giảm

lương công nhân. Với đà thắng lợi trước Gould này,

công đoàn thu hút được đông đảo thành viên mới xin

gia nhập. Trong hai năm tiếp theo, số thành viên đã

nhảy vọt từ con số hơn 100.000 một chút lên đến

gần 730.000.

Đây là một cơ hội để tạo nên một phong trào lao

động mạnh mẽ, nhưng dịp may này đã bị bỏ lỡ.

Powderly và những lãnh tụ khác của tổ chức không

bao giờ có thể quyết định được liệu họ đang tổ chức

một công đoàn, một hội kín, một đoàn thể cải cách,

hay một nhóm gây sức ép về chính trị. Họ cũng

không chọn được liệu có nên ủng hộ các thành viên

da đen. Powderly tán thành việc tổ chức nghiệp đoàn

115

cho những công nhân da đen, nhưng lại phủ nhận

việc đã ủng hộ quyền bình đẳng về chủng tộc và

khăng khăng đòi những thành viên da đen phải bị

giới hạn trong một nhánh của tổ chức công đoàn

riêng rẽ. Tổ chức không thể duy trì được đà phát

triển vào giữa những năm 1880 và đã để mất nhiều

thành viên mới.

Cú sốc cuối cùng đến vào năm 1886 là Cuộc Nổi loạn

Haymarket ở Chicago. Chicago trong suốt mùa xuân

năm 1886 là một thành phố náo nhiệt với những nhà

máy, các khu vực rào đường sắt, phân xưởng giết mổ

thịt và những xí nghiệp thương mại lớn. Tại công ty

máy gặt McCormick quy mô lớn, một trong những ông

chủ lớn nhất trong thành phố, các viên chức công ty

đã khóa cửa không cho 1.400 thành viên của Tổ chức

116

Hiệp sĩ Lao động vào đòi ngày làm việc 8 giờ và

mức lương 2 đô la một ngày. Ngày 03 tháng 05, khi

công ty thử đem những công nhân không tham gia đình

công đến để thay thế những thành viên công đoàn,

thì các công nhân nghiệp đoàn đã tấn công những kẻ

thế chỗ này, buộc cảnh sát phải nổ súng can thiệp.

Vụ xung đột McCormick đã đánh dấu đỉnh cao năm năm

đấu tranh trên toàn thành phố đòi ngày làm việc 8

giờ, được Tổ chức nghiệp đoàn Hiệp sĩ Lao động,

cùng với một nhóm những người theo chủ nghĩa xã hội

và các lãnh tụ của người lao động lãnh đạo, đồng

thời cũng gây khó chịu sâu sắc đối với những mối

quan hệ trong lao động ở Chicago. Một yếu tố trong

nhóm thành viên dễ kích động này là những người

theo chủ nghĩa vô chính phủ, một nhóm người cực

117

đoan cấp tiến hết sức ủng hộ việc phá hoại toàn thể

chính quyền, cùng với tài sản cá nhân và hệ thống

tiền lương. Mặc dù số lượng ít ỏi, nhưng nhóm người

vô chính phủ này lại có khá đông người ủng hộ

thuộc nhóm cư dân Đức trong thành phố. Sau vụ cảnh

sát trấn áp ở McCormick, August Spies, một lãnh tụ

nhóm vô chính phủ, đã phát ra một thông báo bằng

tiếng Đức kêu gọi những người làm công ăn lương

trong thành phố “nổi dậy bằng chính sức mạnh của

mình… và tiêu diệt con quái vật giấu mặt [chủ nghĩa

tư bản] đang tìm cách tấn công các bạn”. Sự đáp

lại của tờ báo hàng ngày mang tính bảo thủ cũng đã

gây ra tình trạng hoang mang, căng thẳng. “Một công

việc của đám đông hỗn tạp; bị lời hô hào của những

kẻ chủ trương vô chính phủ làm cho trở nên mất

118

kiểm soát, họ tấn công người lao động” là tiêu đề

của tờ Diễn đàn Chicago.

Chiều ngày 04 tháng 05, tại một cuộc triệu tập của

những người vô chính phủ, 3.000 nam nữ đã tụ họp

tại Haymarket ở phía Tây thành phố. Đám đông tỏ ra

thất vọng. Nhiều người có lẽ đã đến nếu không bị

những lời lẽ đầy tính kích động của Spies làm cho

khiếp sợ. Nhưng buổi họp vẫn được tiến hành khá

trật tự, đám đông bắt đầu tản dần khi cảnh sát tìm

cách giải tán đám người còn lại. Vào lúc này, có

người nào đó đã ném bom về phía nhóm cảnh sát đang

tiến đến. Khi mọi việc trở lại yên ổn thì có đến 70

cảnh sát bị thương. Cuối cùng, có 7 người thiệt

mạng trong vụ nổ này.

Lực lượng giữ vững an ninh trật tự chống trả hết

119

sức mù quáng và tàn bạo. Không ai biết được người

nào đã ném quả bom đó, nhưng quần chúng và chính

quyền đổ lỗi cho nhóm người vô chính phủ và rộng

hơn là tất cả “những kẻ kích động công nhân”, bất

kể là cực đoan hay không. Hàng trăm người bị tống

giam, còn 10 người vô chính phủ thì bị buộc tội âm

mưu giết người. Bảy người bị kết án tử hình sau

phiên tòa xét xử được xem là không hề có mối liên

hệ trực tiếp nào với cuộc thảm sát. Cuối năm 1877,

bốn người bị treo cổ.

Sự giận dữ của quần chúng đối với vụ nổ bom ở

Chicago đã làm lung lay cả phong trào lao động.

Những người thuộc tầng lớp trung lưu, đã bị thuyết

phục bởi vụ xét xử tổ chức Molly Maguire và những

cuộc nổi loạn năm 1877 rằng, các nghiệp đoàn lao

120

động thường dễ có xu hướng quá khích giờ đây họ quy

tội cho tất cả các nghiệp đoàn, dù là ôn hòa và ít

sử dụng đến bạo lực nhất. Đối với Tổ chức

nghiệp đoàn Hiệp sĩ đang trong tình trạng suy yếu,

thì vụ Haymarket là một thảm họa. Những người mới

không dám gia nhập, còn những thành viên cũ thì sợ

hãi bỏ tổ chức. Tồn tại được thêm khoảng 15 năm nữa

và sau năm 1886, tổ chức này chỉ là một cái bóng

của thời đỉnh cao trước đây.

Liên đoàn Lao động Mỹ. Khi Tổ chức nghiệp đoàn

Hiệp sĩ Lao động đang trên đà xuống dốc, Liên đoàn

Lao động Mỹ (AFL)(1) nổi lên. Được thành lập vào

năm 1886 bởi những người theo chủ nghĩa xã hội

trước đây, gồm có Adolph Strasser, Peter J. Maguire

và Samuel Gompers; tổ chức AFL tập trung vào những

121

công nhân bản xứ trong những ngành thủ công đòi

hỏi tay nghề. Như tên gọi của nó, tổ chức này là

một liên minh của các nghiệp đoàn. Mỗi nghiệp đoàn

này đại diện cho các công nhân trong một ngành nghề

cụ thể như các thợ may, thợ làm bánh, thợ in, thợ

làm thuốc xì gà, thợ mộc hay thợ nề. Mỗi cá nhân

chỉ có thể liên hệ với tổ chức AFL thông qua chính

nghiệp đoàn của họ.

Tổ chức AFL đã đạt được thành công vì nhiều lý do.

Trước hết, nó giới hạn những nỗ lực tổ chức của

mình đối với các công nhân có tay nghề. Đây là

những người dễ tổ chức nhất bởi vì họ không dễ bị

sa thải. Một chủ xí nghiệp có thể thay thế những

người quét dọn, trông coi máy móc và những công

nhân không có kinh nghiệm khác nếu những người này

122

đòi hỏi quá cao, nhưng một công ty xây dựng không

thể sa thải những thợ mộc hay thợ nề, cũng như một

chủ xưởng in không thể dễ dàng thay thế những thợ

in và thợ xếp chữ được.

Tổ chức AFL cũng thành công vì nó đã từ bỏ những

mục tiêu không tưởng và tránh các hoạt động chính

trị. Gompers và những trợ tá của ông, mặc dù đã

từng là những người theo chủ nghĩa xã hội, nhưng

lại tin rằng chủ nghĩa cấp tiến về chính trị là một

mối nguy cho phong trào lao động. Những công nhân

lành nghề thường cảnh giác với những hoạt động

chính trị cấp tiến, và bất kỳ dấu hiệu nào của chủ

nghĩa tư bản cũng khiến giai cấp trung lưu lo sợ.

Cú sốc từ vụ Nổi loạn Haymarket đã gây tổn hại cho

Tổ chức nghiệp đoàn Hiệp sĩ Lao động đã thuyết phục

123

những lãnh đạo của Liên đoàn Lao động Mỹ rằng hành

động trực tiếp, dù cực đoan hay không, cũng không

được an toàn. Ngoài ra, nếu tiểu bang được khuyến

khích tham gia vào mối quan hệ giữa người lao động

và người quản lý như những người theo chủ nghĩa xã

hội đòi hỏi, thì tiểu bang có thể thông qua những

biện pháp gây hại cho người lao động hay cố áp đặt

quyết định của nó đối với các cuộc tranh chấp trong

lao động. Thông qua các phiên tòa, chính quyền có

thể dễ dàng đàn áp những cuộc bãi công, tẩy chay

hay những hoạt động đấu tranh khác của người lao

động bằng các huấn thị, cũng như triệu tập những

lãnh đạo công đoàn ra tòa vì tội trái lệnh.

Gompers, phục vụ cho tổ chức AFL với tư cách chủ

tịch gần như liên tục trong nhiều năm cho đến lúc

124

ông qua đời vào năm 1924, chủ trương ủng hộ “chủ

nghĩa tình nguyện” và chủ nghĩa công đoàn “trong

sạch và đơn giản” như những chính sách tốt nhất của

AFL. Nghiệp đoàn có thể cải thiện điều kiện lao

động thông qua thương lượng với các chủ sử dụng lao

động, hoặc bãi công nếu cần thiết. Bản thân các

công nhân có thể khuyến khích bầu chọn các đồng

minh chính trị của lực lượng lao động, nhưng vượt

quá điều đó, thì sự can thiệp về chính trị là không

được phép. Việc tìm cách thủ tiêu chế độ tư bản

chủ nghĩa đơn giản là không thể trở thành hiện

thực. Gompers tuyên bố thật ngốc nghếch khi cho

rằng,

Con người có thể ngủ một đêm dưới chế độ hiện thời

và sáng hôm sau thức dậy với một cuộc cách mạng

125

đang lúc mạnh mẽ nhất, và ngày tiếp theo lại tạo

nên một thiên đường trên trần thế. Đó không phải là

cách tạo ra tiến bộ; đó không phải là cách… tiến

hóa về mặt xã hội diễn ra. Chúng ta đang giải quyết

khó khăn ngày này qua ngày khác. Khi chúng ta có

được nhiều thời gian rỗi hơn trong một giờ thì điều

đó đồng nghĩa với việc hàng triệu cơ hội vàng bạc

sẽ đến với gia đình. Nếu tiền lương của chúng ta

tăng được 25 cent mỗi ngày thì có nghĩa là một giải

pháp khác, một vấn đề khó khăn khác được giải

quyết và đem chúng ta lại gần với thời kỳ mà mọi

người giành được một mức độ bình đẳng và công bằng

xã hội lớn hơn.

Cùng với triết lý ôn hòa là cương lĩnh thực dụng.

Tổ chức AFL đã đấu tranh buộc các ông chủ chấp nhận

126

ngày làm việc tám giờ, tăng lương và điều kiện làm

việc tốt hơn. Tổ chức đòi hỏi các ông chủ phải xem

công đoàn như một đại diện thương lượng của các

công nhân của họ. Cuối cùng, AFL tìm cách đạt được

một thỏa hiệp liên minh với một công ty, trong đó

điều kiện tiên quyết người được thuê phải là thành

viên công đoàn.

Được trang bị triết lý và cương lĩnh này, tổ chức

AFL tiến lên phía trước, đặc biệt là sự phát triển

đã quay trở lại sau thời kỳ khủng hoảng giữa những

năm 1890. Đấu tranh chống lại sự chống đối mạnh mẽ

từ phía các chủ lao động, những người tìm mọi cách

để giành thắng lợi trong các cuộc thương lượng với

nghiệp đoàn về can thiệp quyền sở hữu tài sản cá

nhân, qua đó liên đoàn đã đạt được những lợi ích

127

đáng kể. Năm 1904, tổ chức này có đến 1,6 triệu

thành viên trong số hai triệu thành viên công đoàn

trên khắp cả nước. Đến năm 1914, có hơn hai triệu

công nhân gia nhập các công đoàn. Hàng triệu người

lao động chân tay trong ngành công nghiệp, đặc biệt

những người không có tay nghề, vẫn nằm ngoài vòng

bảo hộ của các nghiệp đoàn, hầu hết các công nhân

da đen và phụ nữ cũng vậy. Nhưng ngay trước khi Thế

chiến thứ nhất diễn ra, Gompers và tổ chức AFL là

những thế lực cần phải được tính đến trong cuộc

sống quốc gia.

Lựa chọn thay thế chủ nghĩa xã hội. Buộc phải đấu

tranh với những ông chủ bảo thủ thuộc phái hữu, tổ

chức AFL cũng phải tránh những người ủng hộ chủ

nghĩa cộng hòa theo phái tả. Trước Nội chiến, chủ

128

nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản có lúc được sử

dụng như hai từ đồng nghĩa để chỉ những triết lý

của các thành viên công xã không tưởng như Charles

Fourier và Robert Owen. Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội

vào cuối thế kỷ 19 gần như theo chủ nghĩa Marxist.

Chủ nghĩa Marx là một phần chính yếu thuộc về niềm

tin chính trị và một học thuyết xã hội có thể gây

ảnh hưởng to lớn. Trong quyển sách nổi tiếng của

mình, Das Kapital (1867), và những tác phẩm khác,

Karl Marx đã viết rằng vật chất, hay kinh tế là các

mối quan hệ luôn quyết định khía cạnh tâm lý và

hành động của con người. Tất cả mọi tổ chức và giá

trị đều bắt nguồn từ cách mà hàng hóa được sản xuất

và phân phối. Tôn giáo, cấu trúc gia đình, chính

129

quyền, văn học, nghệ thuật và triết lý của thời kỳ

đang xem xét phản ánh những tổ chức kinh tế chủ yếu

của thời kỳ đó. Marx cũng tin rằng mỗi thời kỳ

kinh tế được đánh dấu bằng một tầng lớp vượt trội.

Những người kiểm soát được phương tiện sản xuất,

bất kể là đất đai, như trong thời phong kiến; hay

vốn về sau này, đều có quyền lực, có thể điều khiển

các tổ chức nhằm đẩy xa hơn mục đích của chính

chúng, và tận hưởng những điều tốt đẹp trong cuộc

sống, trong khi những người khác lấy những thứ còn

sót lại.

Theo một lý giải của chủ nghĩa Marx về lịch sử,

chủ nghĩa tư bản trong những giai đoạn đầu là một

lực lượng tiến bộ đã làm đột ngột tăng sự thịnh

vượng của thế giới. Trong suốt thời kỳ phát triển

130

mạnh mẽ này, những nhà tư bản (giai cấp tư sản),

giống những giai cấp thống trị khác, có khả năng

kiểm soát và chi phối tất cả các tổ chức xã hội,

văn hóa và chính trị trong xã hội. Tất cả những

người này thường ủng hộ chế độ tư bản chủ nghĩa, và

ngay cả những người không hưởng lợi từ chủ nghĩa

tư bản cũng thấy khó để phủ nhận tính hợp pháp của

nó.

Marx đã nhận xét rằng tình hình này không thể kéo

dài được lâu. Đến giữa thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản

đã tạo ra trong chính nó “những mâu thuẫn” nào đó.

Những nhà tư bản cần người tiêu dùng. Nhưng bằng

cách hạn chế tầng lớp lao động (giai cấp vô sản) ở

mức lương vừa đủ sống, những nhà tư bản cũng đã

giới hạn thị trường của chính mình. Do tầng lớp lao

131

động dần trở nên nghèo hơn, hội những nhà tư bản

ngày càng tăng lên đang nhận thấy họ có những hàng

hóa và không ai mua. Marx dự đoán trong tương lai

gần, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có thể phải trải

qua những cuộc khủng hoảng thường xuyên và nghiêm

trọng hơn bao giờ hết và như thế càng khiến cho

hoàn cảnh của người lao động càng tệ hơn. Cuối

cùng, họ sẽ trở nên “giác ngộ về giai cấp”. Họ sẽ

thấy được những lợi ích chung, bỏ qua những khác

biệt về dân tộc, văn hóa, tôn giáo và dân tộc trước

đây đã chia rẽ họ, và trở thành những nhà cách

mạng tích cực chiến đấu. Vấn đề “đấu tranh giai

cấp” sẽ càng nghiêm trọng hơn. Cuối cùng, quần

chúng nhân dân chiếm các hệ thống đường sắt, phân

xưởng, nông trại và ngân hàng, cũng như quốc hữu

132

hóa những phương tiện sản xuất và phân phối. Chính

quyền, lúc này là đại diện cho giai cấp vô sản,

được sở hữu và quản lý tất cả những thứ này. Những

khoản lợi nhuận trước đây bị những nhà tư bản chiếm

hết, có thể được sử dụng nhằm làm lợi cho nhân

dân. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mới này, sẽ không

còn người bóc lột và bị bóc lột, có quyền lực và

không có quyền lực. Thay vào đó, sẽ chỉ có một giai

cấp duy nhất, đó là giai cấp lao động mà trong đó

mọi thứ đều bình đẳng. Với việc đấu tranh giai cấp

đã kết thúc và những mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư

bản bị xóa bỏ, nhân loại sẽ có cuộc sống thịnh

vượng nhất từ trước đến nay dưới một chế độ mà bình

đẳng về kinh tế và xã hội là dành cho tất cả mọi

người.

133

Đối với hàng ngàn người cả nam lẫn nữ, tầm nhìn

theo chủ nghĩa Marx là một nguồn cảm hứng. Nó thu

hút những người bị áp bức bóc lột do mở ra cho họ

hy vọng về một thế giới mà trong đó họ có thể tận

hưởng sự sung túc và tự do mà dường như chỉ dành

riêng cho giai cấp những người giàu có dưới chế độ

tư bản chủ nghĩa. Viễn cảnh xã hội hoàn toàn hòa

hợp, không hề có sự bất đồng, hấp dẫn những người

trí thức bằng việc đưa ra một thay thế khác cho

niềm tin tôn giáo đã mất của họ. Nó hứa hẹn với các

nghệ sĩ, nhà văn, và những người phiến loạn lãng

mạn rằng sẽ có một thứ gì đó tốt đẹp có thể cứu

chữa được thế giới của những giá trị tư sản mà họ

xem là thô thiển và tầm thường.

Vào thời kỳ Hoàng kim, những người theo chủ nghĩa

134

Marx đã đấu tranh với nhiều nhóm ủng hộ chủ nghĩa

xã hội để thể hiện lòng trung thành với những người

làm công ăn lương và những người biệt giáo thuộc

tầng lớp trung lưu. Có giai đoạn, nhiều người Mỹ bị

thu hút bởi các hội những người theo chủ nghĩa dân

tộc do nhà báo Edward Bellamy tổ chức. Trong tác

phẩm Nhìn lại phía sau (1888), Bellamy kể về một

thanh niên thức giấc và thấy mình đang ở Boston vào

năm 2000, xã hội biến thành một khối thịnh vượng

chung của tập thể, nơi mà sự sung túc, hợp tác và

thời gian rảnh rỗi đã thế chỗ cho sự khan hiếm,

tính cạnh tranh và cảnh lao động vất vả cực nhọc.

Là một quyển sách bán khá chạy trong một thời gian,

Nhìn lại phía sau làm cho chủ nghĩa xã hội tạm

thời trở nên đáng quý trọng trong mắt hàng ngàn

135

người thuộc giai cấp trung lưu.

Những người vô chính phủ, đã được đề cập trong

cuộc nổi loạn Haymarket, cũng có thời kỳ xuất hiện

hết sức nổi bật. Các thành viên của tổ chức mang

tên Quốc tế Đen (để tương phản với Quốc tế Đỏ của

chủ nghĩa Marx), những người vô chính phủ tin rằng

mọi nỗ lực nhằm tổ chức hay ép buộc con người là

một sự phủ nhận tự do. Chủ nghĩa tư bản là xấu, dù

dưới dạng tiểu bang hay chính quyền nào, bất kể là

do giai cấp nào lãnh đạo. Thay cho tình trạng tất

cả công nhân đều có quyền lực như những người ủng

hộ chủ nghĩa Marx đã hình dung, những người vô

chính phủ lại thay thế những đoàn thể tự nguyện gồm

những người được tổ chức xoay quanh công việc mà

họ tiến hành. Những hội này có thể sở hữu các phân

136

xưởng, khu mỏ và dụng cụ, cùng nhau hợp tác để tạo

ra một xã hội nhân từ, rộng lượng và công bằng.

Mặc dù triết lý của họ không mang tính cưỡng ép,

nhưng những người vô chính phủ không hề hòa nhã

trong sách lược. Họ tin vào hành động trực tiếp

nhằm tiêu diệt chủ nghĩa tư bản. Ở châu Âu và Mỹ,

họ là những người khét tiếng vì những vụ ám sát các

viên chức chính quyền và ném bom, nhằm thể hiện

thái độ chống đối độc đoán của mình.

Cuộc bãi công tại Homestead. Trước khi vụ nổ bom ở

Haymarket xảy ra, những người vô chính phủ và

những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội đã lôi kéo được

sự ủng hộ của những nhóm công nhân đến từ các

trung tâm công nghiệp quan trọng. Ban đầu, có vài

nhóm chủ nghĩa xã hội cạnh tranh, nhưng sau khi

137

được thành lập năm 1877, đảng Lao động Xã hội Chủ

nghĩa, dưới sự lãnh đạo của một người tài giỏi

nhưng thô lỗ như Daniel De Leon đã trở thành tổ

chức quan trọng nhất của đảng xã hội chủ nghĩa. Như

chúng ta đã thấy, phản ứng của công chúng đối với

vụ nổi loạn ở Haymarket gây thiệt hại cho hệ thống

công đoàn, nó cũng phá hoại nhiều đảng phái chống

chủ nghĩa tư bản khác nhau, và trong nhiều năm

chúng đã suy yếu còn hơn hội những người tập tranh

luận chuyên đề.

Một cú sốc lớn hơn xảy ra vào tháng 7 năm 1893,

khi người lao động và nhà quản lý đụng độ tại một

phân xưởng sản xuất thép của Carnegie tại

Homestead, bang Pennsyl-vania. Vấn đề là do công

nghệ mới Carnegie và Frick đã đưa vào hệ thống máy

138

móc tiết kiệm sức lao động nhất. Cho rằng các trang

thiết bị mới có thể giúp tăng năng suất và vì thế

Frick tuyên bố các khoản lương cho các công nhân

tính theo sản phẩm sẽ bị cắt giảm. Hội liên hiệp

Hợp nhất Công nhân ngành Sắt Thép, đại diện cho một

nhóm nhỏ những công nhân lành nghề nhất, không

chấp nhận cuộc thỏa thuận mới này. Vào cuối tháng

06 năm 1892, cùng với những công nhân không có tay

nghề khác, họ đã tiến hành bãi công và bao vây, cô

lập phân xưởng.

Frick không có ý định để những công nhân bãi công

ngừng công việc tại các phân xưởng ở Homestead và

thông báo đến những công nhân tiếp tục làm việc.

Nhưng làm thế nào ông ta kiếm được những công nhân

mới cho những máy móc nhàn rỗi? Để giải quyết vấn

139

đề này, Frick đã thuê 300 nhân viên được trang bị

vũ trang của Pinkerton, gửi họ đến bằng hai xuồng

lớn đi lên thượng nguồn sông Monongahela vốn chảy

dọc theo các phân xuởng ở Homestead. Sáng sớm ngày

06 tháng 07, nhóm Pinkerton tìm cách lẻn qua những

lính canh do những người bãi công bố trí đứng gác,

nhưng bị phát hiện. Các công nhân bãi công kéo đến

với nào là súng trường, súng lục, nhóm Pinkerton

bắn trả cho đến khi những người bãi công đổ dầu ra

sông và châm lửa đốt. Đến lúc này, còn hơn bị thiêu

sống, nhóm Pinkerton đã đầu hàng để được an toàn.

Tuy nhiên, khi họ rời ga xe lửa, họ đã bị tấn công

hết sức dã man. Có cả thảy năm công nhân bãi công

và ba người trong nhóm Pinkerton thiệt mạng trong

cuộc hỗn chiến dữ dội này.

140

Năm ngày sau, thống đốc bang Pennsyl-vania đã gửi

8.000 đội viên dân quân đến phân xưởng và trao trả

nó lại cho công ty. Hội liên hiệp Hợp nhất Công

nhân này sau đó chấp nhận từ bỏ những đòi hỏi về

kinh tế, với điều kiện phải được xem như một đại

diện của công nhân trong các cuộc thương lượng.

Frick từ chối và tuyên bố: “Dù dưới bất kỳ hoàn

cảnh nào, chúng ta cũng không phải giao thiệp xa

hơn với tổ chức này. Đây là điều dứt khoát”. Thái

độ ngạo mạn này của Frick, cùng với việc đã thuê

nhóm Pinkerton, khiến công chúng đứng về phía những

công nhân bãi công. Mặc dù ủng hộ Frick nhưng

Carnegie bị nản lòng trước thời cuộc cực kỳ rối ren

và có lẽ đã buộc phải nhượng bộ. Nhưng Alexander

Berkman, một người vô chính phủ trẻ tuổi vô cùng

141

căm giận Frick đã tìm đến văn phòng ông này, bắn và

đâm ông nhiều nhát. Frick may mắn sống sót, nhưng

dư luận nhanh chóng chuyển sang chống lại những

người bãi công, đặt dấu chấm hết cho mọi khả năng

thỏa hiệp. Như một thành viên công đoàn đã ghi lại:

“Viên đạn bắn từ khẩu súng lục của Berkman đã cắm

thẳng vào trung tâm cuộc bãi công tại Homestead”.

Khủng hoảng, Pullman và Sự phục hồi chủ nghĩa xã

hội. Thời kỳ khủng hoảng tiếp sau cuộc Hoảng loạn

năm 1893 đã khuyến khích những động thái bạo lực

của người lao động và tạo cho chủ nghĩa xã hội một

sức đẩy mới. Cũng như trong những năm 1870, nạn

thất nghiệp tăng cao và hàng ngàn công nhân nhàn

rỗi lang thang khắp phố hay “đón tàu” đi tìm việc.

Các ông chủ tìm cách duy trì lợi nhuận và tránh

142

thua lỗ bằng cách cắt giảm tiền lương công nhân.

Giống với mọi cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư

bản, thời kỳ khủng hoảng trong những năm 1890 đã

làm suy giảm niềm tin vào chế độ và kích động sự

bất bình.

Bằng cách tạo ra một lãnh tụ có uy tín và

MỐI BẤT BÌNH CỦA NHỮNG CÔNG NHÂN THUỘC CÔNG TY

PULLMAN (CHUYÊN SẢN XUẤT TOA XE LỬA HẠNG SANG)

Những công nhân tại Công ty Sản xuất Toa xe lửa

hạng sang của George Pullman đã tiến hành đình công

vào tháng 06 năm 1894, sau nhiều năm khó chịu và

bất bình chồng chất. Những mối bất bình này không

chỉ do các vấn đề điển hình trong lao động như tiền

lương và giờ làm mà còn liên quan đến cộng đồng

Pullman, một thành phố công ty nơi có nhiều công

143

nhân sinh sống. Đoạn trích dưới đây nằm trong một

bản tuyên bố chung do 46 thành viên thuộc ủy ban

công nhân ở Pullman bất bình gửi đến Hiệp hội Đường

sắt Mỹ, một tổ chức gồm nhiều công nhân của

Pullman mới gia nhập. Bản tuyên bố này được thảo ra

với mục tiêu nhằm giải thích quyết định bãi công

của các công nhân Pullman và kêu gọi sự ủng hộ từ

phía ARU(1).

“Để nói rõ… những mối bất bình của chúng tôi thật

khó để biết phải bắt đầu từ đâu. Tất cả các bạn

phải biết rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc

chúng tôi đình công là do hai thành viên thuộc ủy

ban những công nhân bất bình của chúng tôi ngay sau

ngày đích thân George M. Pullman và Thomas H.

Wickes, phó chủ tịch thứ hai của ông, đã đảm bảo

144

rằng họ được hưởng quyền bảo trợ tuyệt đối. Những

nguyên nhân sâu xa hơn vẫn sắp xảy ra. Tiền lương

bị cắt giảm, công việc và điều kiện làm việc lại

tăng trong những phân xưởng của Pull-man từ tháng

05 đến tháng 12 năm 1893. Điều cuối cùng và cũng là

gay go nhất, giá sinh hoạt tăng lên gần 30%, và

giá tiền thuê nhà của chúng tôi thì không giảm.

Chúng tôi nợ Pullman 70.000 đô la… vào ngày 11

tháng 05. Chúng tôi nợ ông ta gấp đôi hôm nay. Ông

không đuổi chúng tôi vì hai lý do: Một là, ý kiến

của quần chúng và công luận; hai là do ông hy vọng

bằng hình thức ngừng tiếp tế sẽ buộc chúng tôi rời

khỏi chỗ ở, sẽ chống phá… sau lưng Hiệp hội Đường

sắt Mỹ, và khấu trừ từ khoản tiền lương chết đói

của chúng tôi khi chúng tôi bị buộc trả lại cho ông

145

ta đồng đô la cuối cùng mà chúng tôi còn nợ khi

thuê nhà của ông ta.

Tiền thuê nhà trên khắp thành phố Chicago… đã

giảm, trong vài trường hợp chỉ còn một nửa. Những

căn nhà thuê, so với những căn hộ tồi tàn và của

chúng tôi, chỉ cách đó vài dặm có giá mà chúng tôi

đã góp phần biến một triệu phú thành một tỷ phú.

Chúng tôi trả 15 đô la để thuê một căn hộ ở Pullman

trong khi ở Roseland chỉ có giá 8 đô la; và hãy

nhớ rằng không có người nào cả nam lẫn nữ trong số

4.000 lao động cần cù của chúng tôi từng cảm thấy

sự thân thiện từ phía Pullman, do đó chẳng người

nào trong chúng tôi từng sở hữu hay có thể từng hy

vọng sở hữu được một tấc đất của George M. Pullman.

Tại sao, ngay cả đường phố cũng thuộc về ông ta.

146

Đất đai của ông ta chưa bao giờ được ghi nhận trên

giấy tờ, và ngày nay thì ông ta có thể ngăn cấm...

bất kỳ ai… đều không được đi trên những con đường

quốc lộ.

. . .

Pullman, cả người và thành phố, là một ung nhọt

của nền chính trị. Ông ta sở hữu nhà cửa, trường

học, và nhà thờ Thiên Chúa giáo trong thành phố mà

ông đặt cho cái tên từng là hèn mọn của mình. Thu

nhập ông kiếm được từ chúng, tiền lương ông trả tay

này… thì ông lấy lại bằng tay kia… Ông có thể dự

thầu bất kỳ hợp đồng xây dựng bất kỳ phân xưởng toa

xe lửa nào trên đất nước này. Các đối thủ cạnh

tranh trong kinh doanh của ông, gặp vấn đề này,

phải giảm tiền lương công nhân của họ. Và thế là

147

dựa vào cớ đó ông ta giảm mức lương của chúng tôi

nhằm thích ứng với thị trường… Và vì thế cuộc chiến

thú vị… diễn ra, và nó sẽ tiếp diễn, hỡi các anh

em, mãi mãi, nếu các bạn, Hiệp hội Đường sắt Mỹ

không ngăn chặn lại và dẹp tan nó đi.

Thành phố của chúng tôi thật xinh đẹp. Trong vòng

13 năm này, không có bất kỳ một phát biểu hay tuyên

bố nào gây xôn xao dư luận diễn ra chống lại một

trong những phụ nữ của chúng tôi, già cũng như trẻ.

Thành phố nào với 20.000 cư dân có thể làm được

như thế…? Chúng tôi sống trong yên ổn, trật

tự.…Nhưng George M. Pullman… kiên nhẫn… trông chờ…

được nhìn thấy chúng tôi chết đói…

George M. Pullman… đã cắt giảm tiền lương của

chúng tôi từ 30 đến 70%... Ông ta đã gây ra việc

148

được trả khoản lợi nhuận theo cổ phần thông thường

vào năm ngoái khoảng 2% trên cổ phần của ông

ta…[Ông ta]… đã ký ba hợp đồng và chịu mất… 5.000

đô la. Bởi vì ông ta quý chúng tôi ư? Không. Bởi vì

ông ta thà mất một ít tiền vào các toa xe không

mui chở hàng và phân xưởng toa hành khách thì còn

rẻ hơn nhiều so với việc để các công nhân ra đi,

nhưng chút xíu tổn thất đó… là cái cớ để ông ta có

thể giảm một khoản tiền lương khổng lồ trong mọi

khâu sản xuất, cắt giảm số đàn ông, con trai và con

gái với sự hăng hái như nhau…

Chúng tôi sẽ làm cho các bạn phải tự hào về chúng

tôi, hỡi những người anh em, nếu các bạn có thể

chung tay hỗ trợ những gì chúng tôi cần… Hãy dạy

cho kẻ kiêu căng ngạo mạn đã áp bức người nghèo này

149

thấy được rằng vẫn còn có Chúa ở Israel, và nếu

cần đó sẽ là Jehovah, vị thần chiến tranh. sức thu

hút quần chúng, cuộc bãi công Pull-man năm 1894 đã

trở thành bước ngoặt quan trọng trong lịch sử chủ

nghĩa xã hội Mỹ. Pull-man, người phát minh kiểu toa

xe có giường ngủ, đã thành lập một phân xưởng với

quy mô khổng lồ nằm bên ngoài Chicago và được bao

quanh bởi một cộng đồng mẫu mực dành cho các công

nhân của ông. Với những con đường có cây xanh trồng

dọc hai bên, những ngôi nhà gạch màu kem, vườn

tược và sân bãi, công viên, thành phố Pullman quả

thực là một địa điểm hết sức hấp dẫn. Đó cũng là

nơi để thoái lui. Pullman luôn tìm mọi cách để làm

cho thành phố của ông có tính đạo đức, biết vâng

lời và có lợi. Ông nghiêm cấm uống rượu, giám sát

150

kỹ lưỡng các công nhân của mình, sa thải những ai

không bỏ phiếu cho những ứng viên ông ủng hộ vào

các chức vụ địa phương, và cho thuê nhà và các tiện

ích với giá cao. Pullman tự cho mình là một người

nhân từ rộng lượng, nhưng chính ông đã hành động

như một ông vua thời phong kiến trong trang viên

của mình.

Mùa hè năm 1893, khi những đơn đặt hàng các “toa

xe sang trọng” bắt đầu giảm sút, Pullman bắt đầu sa

thải công nhân và cắt giảm lương trong khi vẫn giữ

nguyên mức phí thuê nhà và các tiện ích khác. Để

tự bảo vệ mình, các công nhân của Pullman bắt đầu

gia nhập Hiệp hội Đường sắt Mỹ (ARU) mới thành lập

dưới sự lãnh đạo của Eugene V. Debs, một người

Indiana có dáng gầy và cao lêu nghêu. Vào ngày 11

151

tháng 5 năm 1894, sau nhiều nỗ lực thương lượng với

các cán bộ thuộc công ty Pullman không thành công,

hơn 3000 công nhân bỏ việc và yêu cầu sự ủng hộ từ

phía ARU. Debs cố thuyết phục ban quản lý công ty

phải lên tiếng. Khi những cố gắng này thất bại, ông

bất đắc dĩ mới phải ra lệnh cho những thợ bẻ ghi

của tổ chức ARU không gắn các toa xe vào đường ray.

Các viên chức ngành đường sắt đáp lại bằng việc sa

thải những thợ bẻ ghi ngang ngạnh chống đối này.

Hiệp hội Đường sắt Mỹ chống trả. Đến ngày 01 tháng

07, tất cả 24 công ty đường sắt bên ngoài Chicago,

trung tâm đường sắt của cả nước, đã ngừng hoạt

động.

Mặc dù vô cùng tức giận, nhưng những người bãi

công vẫn tỏ ra kiềm chế và có trật tự. Nhưng việc

152

hệ thống giao thông trọng yếu của đất nước ngừng

hoạt động như thế đã khiến cho giới trung lưu lo

sợ. Tờ Người đưa tin Chicago đã viết như sau: “Nếu

cuộc bãi công có thể thành công, thì các ông chủ

của hệ thống đường sắt… sẽ đầu hàng… quyền kiểm

soát trong tương lai sẽ thuộc về nhóm những người

kích động công nhân và những người âm mưu đình công

đã thành lập nên Hiệp hội Đường sắt Debs”.

Hy vọng đập tan cuộc bãi công và thủ tiêu tổ chức

công đoàn này, Hội Liên hiệp những nhà tổng quản

lý, đại diện cho những công ty đường sắt quan trọng

ra vào Chicago, thuê công nhân khác thay thế những

người đình công và yêu cầu chính quyền liên bang

giúp đỡ, khẳng định Washington phải có trách nhiệm

đảm bảo việc phân phát thư từ do hoạt động này đã

153

bị đình trệ khi các tuyến xe lửa ngưng hoạt động.

Viên chưởng lý Richard Olney, một luật sư về vấn đề

đường sắt trước đây khá nóng tính và khinh thường

các lãnh tụ lao động, là một đồng minh trong chính

phủ của các công ty đường sắt đã nhanh chóng ra

lệnh cho các cảnh sát trưởng liên bang đến Chicago,

nhân viên của ông đã thuyết phục thẩm phán liên

bang ban hành lệnh buộc tổ chức ARU chấm dứt bãi

công, nếu không sẽ bị buộc tội “xem thường tòa án”.

Ngày hôm sau, 03 tháng 07, mặc cho sự kháng nghị

của thống đốc bang Illinois là John P. Altgeld,

người phản đối việc can thiệp của liên bang với lý

do cuộc bãi công chưa đến mức hỗn loạn như thế,

Tổng thống Grover Cleveland ra lệnh cho toàn bộ

binh lính đồn trú tại Công sự Sheridan tiến vào

154

thành phố để ngăn chặn bạo lực diễn ra.

Sự có mặt của binh lính và các cảnh sát trưởng

liên bang đã khiến những người bãi công càng điên

tiết hơn, những khu vực bãi rào xe lửa bị chìm

trong làn sóng đạn lạc và khói lửa. Các nhà chức

trách liên bang đàn áp thẳng tay, bắt giữ Debs và

các viên chức hiệp hội ARU khác vào ngày 17 tháng

07 vì tội vi phạm huấn thị của tòa án. Mất đi người

lãnh đạo, cuối cùng những người bãi công phải đầu

hàng và dần quay trở lại làm việc.

Debs bị giam năm tháng và sau đó chuyển sang chống

lại chủ nghĩa tư bản. Năm 1897, ông trở thành

người sáng lập đảng Xã hội Mỹ, một tổ chức được

nhiều người ủng hộ hơn đảng Lao động theo Chủ nghĩa

Xã hội của De Leon. Trong suốt quãng đời còn lại

155

của mình, Debs là hiện thân của cả những điều tốt

đẹp và xấu xa nhất của chủ nghĩa xã hội Mỹ. Rộng

lượng, nhân đức và hăng say bảo vệ sự công bằng,

nhưng Debs cũng là một người nhìn xa trông rộng hết

sức ngoan cố, thiếu năng lực lãnh đạo một đảng

phái đang bị những bất đồng nội bộ gay gắt tàn phá.

Mặc cho những thất bại, dưới sự lãnh đạo của Debs,

đảng Xã hội Mỹ đã phát triển nhanh chóng trước Thế

chiến thứ nhất, giành được sự ủng hộ từ những

người làm công ăn lương người Đức, Do Thái và ngay

cả những người ở vùng nông thôn và các thị trấn nhỏ

miền Trung Tây. Nó cũng có sức hấp dẫn đối với

nhiều tác giả, mục sư, cũng như những chuyên gia

lỗi lạc. Giai đoạn 1904-1912, số lượng đảng viên đã

tăng từ 20.000 lên đến 130.000; năm 1912, Debs

156

nhận được khoảng 900.000 phiếu bầu, chiếm 6% trên

tổng số phiếu khi ông ứng cử vào chức Tổng thống.

Đảng này thậm chí còn hoạt động có hiệu quả hơn ở

mức độ địa phương, ứng cử nhiều đại biểu Quốc hội

và đến nửa tá thị trưởng tại các thành phố như

Scranton, Milwaukee và Syracuse.

Tuy nhiên, đảng Xã hội Mỹ chưa bao giờ chiếm được

sự ủng hộ của đại đa số những người làm công ăn

lương ở Mỹ. Không giống như các đảng Xã hội của

Pháp, Ý, Đức và Anh, đảng Xã hội Mỹ chưa bao giờ

thực sự thách thức những đảng lãnh đạo ôn hòa để

giành quyền kiểm soát. Một số học giả đã đổ lỗi cho

xu hướng mâu thuẫn nội bộ giữa những đảng viên Xã

hội về những điểm nhỏ nhặt trong học thuyết của chủ

nghĩa Marx đã dẫn đến những thất bại tương đối

157

này. Những người khác cho rằng chủ nghĩa tư bản Mỹ

đã quá tự tin, quá xuất sắc và quá hùng mạnh để có

thể bị thách thức. Một quan điểm khác nhấn mạnh vào

sức mạnh của sự truyền bá và thấm nhuần về văn

hóa, như câu chuyện thần thoại của Horatio Alger

hay tác phẩm mang tính đạo lý, nhằm khuyên ngăn các

công nhân Mỹ không nên chấp nhận những quan điểm

cấp tiến.

Tuy vậy, câu trả lời thuyết phục nhất lại theo một

hướng khác. Không nghi ngờ gì khi chủ nghĩa bè

phái và sự kháng cự mạnh mẽ từ phía chủ nghĩa tư

bản đã làm suy yếu đảng Xã hội ở Mỹ, nhưng những

đảng viên Xã hội châu Âu từng đối mặt với những khó

khăn tương tự đã thành công. Tuy nhiên, trái ngược

với những công nhân châu Âu, các công nhân Mỹ, đặc

158

biệt là dân bản xứ, thường không có sự giác ngộ về

giai cấp. Được trả lương cao khi so với những

người lao động trong công nghiệp ở các nước khác và

chỉ sau một hay hai thời kỳ rời khỏi công việc

đồng áng, họ hy vọng sẽ phát đạt và leo lên nấc

thang cao hơn trong xã hội. Nhiều người có tài sản

và không thể chấp nhận triết lý dự đoán trong tương

lai, mâu thuẫn giai cấp là không thể tránh khỏi và

người lao động ngày càng khốn khổ hơn dưới chế độ

tư bản chủ nghĩa. Các công nhân nhập cư cũng chỉ là

những thành viên tiềm năng hơn của chủ nghĩa xã

hội. Phần lớn họ đã có đủ khó khăn trong việc thích

nghi với xã hội và nền công nghiệp Mỹ, nên chẳng

dại gì tự gây thêm rắc rối cho bản thân, đồng thời

cũng tránh “những người kích động công nhân”. Mặc

159

cho địa vị ban đầu thấp kém, nhưng họ cũng trông

chờ sẽ phát triển về mặt xã hội cũng như kinh tế.

Mọi sự thịnh vượng tương đối cũng như những mong

đợi của người dân về sự tiến bộ trong tương lai là

những liều thuốc cực kỳ hiệu nghiệm đối với nền

chính trị cấp tiến. Như nhà xã hội học người Đức là

Werner Sombart đã ghi chú lại vào giai đoạn chuyển

giao giữa hai thế kỷ rằng “những điều không tưởng”

của chủ nghĩa xã hội ở Mỹ chắc hẳn sẽ suy tàn “bên

bờ vực của sự chỉ trích gay gắt và những nét đặc

trưng cho giá trị Mỹ”.

KẾT LUẬN

Như chúng ta đã xem xét về những nguyên nhân dẫn

đến việc kinh tế bộc phát một thế kỷ trước đây,

nhiều nhân tố dễ nhận thấy hiện ra trước mắt chúng

160

ta. Những nhà tài phiệt công nghiệp sáng tạo đã đẩy

nước Mỹ sải bước tiến dài về phía trước. Kỹ năng,

sự thông minh, nỗ lực và ngay cả sự nhẫn tâm càng

giúp nước Cộng hòa này vượt trội so với các đối thủ

khác. Nhưng bên cạnh những người xây dựng giúp đem

lại tính hiệu quả, cách tân và công nghệ cho đất

nước thì cũng có những kẻ phá hoại chỉ biết lợi

dụng vắt kiệt thành quả của người khác vì mục đích

cá nhân. Và những nhà tài phiệt, gồm những người

xây dựng lẫn phá hoại, không thể một tay xây dựng

nên một đất nước công nghiệp. Người lao động, thừa

nhận sự sáng suốt của thời đại, làm việc thật chăm

chỉ và tin rằng họ đáng để nỗ lực cho sự thành công

và an ninh. Cũng rõ rằng nếu không có những đóng

góp quan trọng của chính phủ, thay vì những học

161

thuyết về tự do kinh doanh và chủ nghĩa Dar-win về

xã hội, thì việc đạt đến tiến bộ có lẽ còn chậm

hơn.

Rõ ràng, nhiều người cả nam lẫn nữ sống qua những

năm rối ren này đều nản lòng trước bộ máy kinh tế

vĩ đại mà họ đang cố xây dựng. Khó khăn mà họ đã

trải nghiệm được thể hiện qua sự ác liệt của các

đạo luật Pull-man, Homestead, các vụ đình công

trong ngành đường sắt, và trong những nỗ lực chính

trị có tổ chức với mục tiêu đem đến sự thay đổi.

Nhưng chúng ta không được thổi phồng mức độ bất

bình của những người làm công ăn lương. Nhiều người

tự hài lòng với cuộc sống của mình, và bằng lý

trí, họ mong chờ có được những khoảng thời gian tốt

đẹp hơn. Mặc cho việc chống đối cũng như bạo lực

162

thỉnh thoảng vẫn diễn ra, nhưng thực tế, hầu hết

người Mỹ đều giữ được niềm tin vào “chế độ” và

không chấp nhận những giải pháp cực đoan đối với

các vấn đề khó khăn mà họ phải đối mặt. Niềm tin

tuyệt đối của họ được thể hiện qua việc kinh tế và

các đảng phái chính trị chính thống vẫn không ngừng

tiến lên, cũng như qua sự phát triển của các thành

phố và cả nước nói chung.

163

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát