Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Lịch Sử Hoa Kỳ P4

Phần 4 - LỊCH SỬ HOA KỲ - NHỮNG VẤN ĐỀ QUÁ KHỨ

Tác giả: Irwin Unger

Người dịch: Nguyễn Kim Dân

Chương 24

Chiến tranh thế giới lần thứ I

CHỦ NGHĨA LÝ TƯỞNG, LỢI ÍCH QUỐC GIA HAY QUYỀN LỢI

CỦA NƯỚC TRUNG LẬP

1914 Hải quân Mỹ chiếm Veraczus, Mexico Chiến

tranh thế giới bắt đầu ở châu Âu; Wilson kêu gọi

thái độ trung lập của người Mỹ.

1915 Hải quân chiếm Haiti Đức tuyên bố một khu

vực chiến tranh chung quanh quần đảo Anh Tàu ngầm

Đức nhấn chìm Falaba, Lusitania và Arabic, tất cả

đều gây thiệt hại về nhân mạng của người Mỹ

Wilson khởi xướng chương trình sẵn sàng chiến đấu

1

để mở rộng quân đội và hải quân.

1916 Wilson ra lệnh cho Tướng John Pershing và

6.000 quân đến Mexico để bắt giữ Pancho Villa Đại

tá Edward House hứa hẹn một sự can thiệp của Mỹ nếu

sự bế tắc ở mặt trận phía Tây vẫn tiếp tục Tàu

ngầm Đức nhấn chìm Sussex với thiệt hại về nhân

mạng của người Mỹ; Đức đình hoãn cuộc chiến tranh

tàu ngầm Wilson tái ứng cử trên nền tảng “Ông ta

đã giúp chúng tôi đứng ngoài cuộc chiến” Hải quân

chiếm nước Cộng hòa Dominican.

1917 Đức bắt đầu lại cuộc chiến tàu ngầm và Mỹ

tách ra khỏi các quan hệ ngoại giao Sự khôn khéo

của Anh đã chặn đứng “bức điện Zimmermann” Wilson

ra lệnh trang bị vũ khí cho các tàu buôn Mỹ Cuộc

Cách mạng Nga Quốc hội tuyên bố chiến tranh với

2

Đức; Bộ công nghiệp chiến tranh, Bộ lao động chiến

tranh và Ủy ban Thông tin công cộng điều động nỗ

lực chiến tranh tại quê nhà Quốc hội thông qua đạo

luật về hoạt động gián điệp.

1918 Đạo luật về sự xúi giục nổi loạn Tổng cục

trưởng Tổng cục Bưu điện Albert Burleson ngăn chặn

sự xuất bản những lá thư chỉ trích, phê phán chiến

tranh Bộ Tư pháp kết tội các nhà lãnh tụ xã hội

Eugene Debs và Victor Berger vì có liên quan đến

việc ủng hộ sự thoái thác chế độ quân dịch Wilson

công bố 14 quan điểm của mình Nước Đức sụp đổ và sự

đình chiến kết thúc chiến tranh.

1919 Hội nghị Hòa bình ở Versailles; Liên minh các

quốc gia kết hợp thành hiệp ước. 1919-1920 Quốc

hội từ chối Hiệp ước Versailles.

3

1920 Các bang thông qua Bản sửa đổi thứ 19 về việc

trao quyền bỏ phiếu cho phụ nữ Warren G. Harding

được bầu làm Tổng thống Harding ký hiệp ước hòa

bình riêng với Đức thay cho Hiệp ước Versailles.

Vào giờ uống cà phê sáng ngày 29 tháng 6 năm 1914,

nhiều người Mỹ đọc báo và đã thắc mắc: “Sarajevo

nằm ở đâu?”. Trước đây tại vùng Balkan xa xôi mà

ngày nay là Nam Tư đó, một người Serbia theo chủ

nghĩa dân tộc cuồng tín đã bắn một phát súng và

giết hại hoàng tử nước Áo Francis Ferdinand, người

thừa kế ngai vàng của triều đại Áo - Hung. Một vài

người có thể đoán trước cuộc sống của họ và của

hàng triệu người khác sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào

bởi vụ ám sát hoàng tử nước Áo tại góc miền Đông

châu Âu chậm tiến và đầy sóng gió đó.

4

Trong vòng sáu tuần lễ, các thế lực chính của châu

Âu đã vào cuộc chiến tranh. Trước hết, nước Áo yêu

cầu Serbia ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa dân tộc mà

họ đã cho phép nó nảy nở trên vùng đất của mình.

Người Serbi khẩn khoản sự giúp đỡ của người anh em

Slavic lớn của họ: nước Nga; đến lượt mình, người

Áo lại yêu cầu Đức ủng hộ cho họ. Bị cột chặt vào

tình trạng rối rắm hoang mang của các liên minh và

thỏa ước, cả công khai lẫn bí mật, tất cả các quốc

gia lớn của châu Âu nhanh chóng bị lôi kéo vào cuộc

tranh cãi, bên này là Pháp, Nga, và nước Anh lớn

(liên minh), còn bên kia với Đức và Áo - Hung

(những Thế lực Trung tâm). Trước đó nhiều tháng,

Nhật và Ý đã kết thành Liên minh; đế quốc Ottoman

(Thổ Nhĩ Kỳ) và Bungari hình thành những Thế lực

5

Trung tâm. Vào cuối năm 1914, những lực lượng quân

đội lớn đang bị tan rã tại một nơi khác ở châu Âu

với những vũ khí gây chết người mà kỹ thuật của thế

kỷ XX có thể phát minh ra, trong khi trên vùng

biển và vùng trời đầy không khí thù địch cao độ,

các lực lượng hải quân và không quân đang vật lộn

với cuộc chiến dữ dội và chết chóc.

Tổng thống Wilson đã chính thức đáp lại những sự

kiện bi thảm ở châu Âu vào trung tuần tháng 08. Vị

tổng thống tuyên bố, “người Mỹ phải giữ thái độ

trung lập trong thực tế cũng như về danh nghĩa

trong những ngày này, để thử thách linh hồn con

người”. Ông ta lập luận: “Chúng ta phải công bằng

trong suy nghĩ cũng như trong hành động, phải đặt

một sự kiềm chế lên trên tình cảm của mình cũng như

6

trong từng sự giao dịch để đừng bị hiểu là có sự

thiên vị cho bên này đối với cuộc chiến trước bên

kia”. Nhưng 31 tháng sau, một con người tương tự

như vậy đã xuất hiện trước kỳ họp chung của Quốc

hội để yêu cầu một sự tuyên chiến chống lại các thế

lực trung tâm.

Những gì đã xảy ra trong những tháng đó đã đẩy một

nền cộng hòa hòa bình và đầy tự mãn vào cuộc chiến

tranh khủng khiếp nhất này? Tại sao nước Mỹ và

người dân Mỹ không chú ý đến lời khuyên của vị Tổng

thống sớm hơn và giữ thái độ trung lập trong cả

suy nghĩ và hành động?

WILSON VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI

Để hiểu sự dính líu của nước Mỹ trong chiến tranh

thế giới lần thứ I, chúng ta phải xem xét quan điểm

7

của Wilson về thế giới và vị trí của Mỹ ở trong

thế giới đó. Chính sách đối ngoại tiến bộ đi vào

hai sự khác biệt chính. Một số người Cấp tiến, như

Theodore Roosevelt và Albert J. Beverigdge, là

những người theo chủ nghĩa thế giới hết sức năng

nổ, những người đã cho rằng nước Mỹ phải đóng một

vai trò mạnh mẽ trong những vấn đề của thế giới và

phục vụ như một lực lượng vì công bằng và đạo lý.

Những người khác, chẳng hạn như Thượng nghị sĩ

Robert La Follette của bang Wisconsin và Hiram W.

Johnson của bang California, là những người theo

chủ nghĩa cô lập, sợ rằng sự dính líu quá mức của

Mỹ vào những vấn đề vượt quá giới hạn biên giới của

mình có thể gây trở ngại cho sự cải cách trong

nước. Cả hai phái theo chủ nghĩa cô lập cấp tiến và

8

chủ nghĩa thế giới cấp tiến đều tin rằng sự khai

sáng, chủ nghĩa tư bản tự do, là một hệ thống xã

hội rộng lượng nhất trên thế giới, còn tất cả những

hệ thống xã hội khác đều rơi vào tình trạng thiếu

hụt sự cân bằng hạnh phúc của tự do và bình đẳng cá

nhân.

Quan điểm về chính sách đối ngoại của Wilson bị

dao động giữa hai thái cực. Lúc đó ông ta có vẻ tin

rằng dân chủ cấp tiến chỉ để ủng hộ cho sự tiêu

thụ nội địa. Trong các trường hợp khác ông ta đã

hành động như thể nó chỉ phục vụ cho việc xuất

khẩu. Thêm vào đó, thái độ của ông ta được thấm

nhuần chủ nghĩa luân thường đạo lý mạnh mẽ, phát

xuất từ tổ tiên và người cha theo thuyết Calvin của

ông, một tín đồ mộ đạo của giáo hội Scot-land. Đối

9

với những vấn đề phức tạp hơn, cũng giống như các

lãnh tụ quốc gia khác, ông ta phải luôn ghi nhớ

quyền lợi sống còn của đất nước mình vào việc bảo

vệ chúng chống lại bất cứ thế lực đe dọa nào. Để

làm thỏa mãn tất cả những yêu cầu đó, Wilson thường

lâm vào tình thế chênh vênh, do vậy những kết quả

của sự do dự và không chắc chắn đã làm cho ông phải

trả giá về tính không kiên định, thậm chí là thái

độ đạo đức giả của mình.

Khi trở thành Tổng thống vào năm 1913, sự quan tâm

của Wilson đối với việc cải cách đất nước còn nặng

hơn rất nhiều so với sự quan tâm của ông đối với

những công việc quốc tế. Ông hãy còn đang nghi

ngại. Thế giới đang trong tình trạng hòa bình khi

ông còn nhậm chức, nhưng châu Âu, đã bị chìm đắm

10

trong mối quan hệ thù địch lâu đời và tình trạng

rối ren trong mối quan hệ với các liên minh của

mình, có vẻ như đang ở tư thế sẵn sàng ở bên lề

cuộc bạo động. Trước ngày nhậm chức không lâu, vị

Tổng thống vừa mới đắc cử đã nói với một người bạn

rằng có thể sẽ là một sự mỉa mai nếu ông phải trải

qua phần lớn thời gian của mình vào việc phục vụ

cho công việc đối ngoại. Điều báo trước của ông đã

được chứng minh là đúng đắn.

Thuật ngoại giao có đạo lý. Wilson đã chọn William

Jennings Bryan là Bộ trưởng ngoại giao đầu tiên

của chính phủ. Người giữ chức vụ lãnh tụ đảng Dân

chủ lâu dài không phải là nhà ngoại giao chuyên

nghiệp, nhưng Wil-son không tin vào những người như

vậy. Bryan, thay vào đó, lại là một người thiết

11

tha với chủ nghĩa hòa bình, là người đã làm việc

lâu dài vì mục đích hòa bình và cùng chia sẻ quan

điểm với Wilson cho rằng nước Mỹ phải phục vụ như

một “nguồn cảm hứng đạo đức” của thế giới. Những nỗ

lực chính thức đầu tiên của Bryan đối với nền hòa

bình thế giới đã thực hiện vào những năm 1913 và

1914, khi ông đàm phán những hiệp ước hòa giải với

21 quốc gia. Các bên trong hiệp ước đều đồng ý đệ

trình mọi cuộc tranh luận quốc tế lên Ủy ban kiểm

tra thường trực và từ bỏ lực lượng chiến tranh cho

đến khi Ủy ban hoàn tất xong báo cáo của mình.

Một chủ nghĩa lý tưởng tương tự cũng được thấm

nhuần trong mọi khía cạnh khác đối với công việc

ngoại giao ban đầu của Wilson. Cả Bryan và cấp trên

của mình đều phản đối việc dùng chính phủ Mỹ để

12

đáp ứng cho quyền lợi của các hoạt động kinh doanh

của người Mỹ ở nước ngoài. Dưới thời Taft, người

tiền nhiệm của Wilson, chính phủ đã hỗ trợ cho sự

tham gia của các chủ ngân hàng Mỹ vào một tổ chức

ngân hàng đa quốc gia để xây dựng các tuyến đường

xe lửa ở Trung Quốc.

Cảm thấy rằng sự sắp xếp này có thể làm suy yếu

chủ quyền yếu ớt của Trung Quốc, Bryan đã rút bỏ sự

hỗ trợ của chính phủ. Hai người tạo ra chính sách

đối ngoại cũng thuyết phục Quốc hội hủy bỏ luật lệ

năm 1912, miễn thuế phải trả khi vượt qua kênh đào

Panama cho các tàu buôn ở vùng biển nước Mỹ, một

đạo luật đã vi phạm thỏa ước Hay- Pauncefote và hứa

hẹn một sự đối xử công bằng cho mọi quốc gia của

nó.

13

Nhưng Wilson chưa bao giờ quên “quyền lợi sống còn

của quốc gia”; nơi mà chúng có vẻ như được quan

tâm, và là nơi những rủi ro đã đến rất ít, nhưng

đôi khi ông vẫn không nhạy cảm với những xét đoán

về mặt đạo lý. Ở vùng biển Carribe, nơi được coi là

một cái hồ của người Mỹ, Wilson và viên đại úy hải

quân của mình đã chứng tỏ tính độc đoán của mình

như ngài Roosevelt. Năm 1914, Bryan đàm phán một

thỏa ước với Nicaragua về việc cung cấp cho quốc

gia nhỏ bé này 83 triệu đô la để giành riêng quyền

lợi cho người Mỹ xây dựng một con kênh thứ hai ở

vùng Atlantic-Thái Bình Dương. Sự thỏa thuận chưa

được thông qua cho đến năm 1916, đã làm cho nước

cộng hòa vùng Trung Mỹ được định vị một cách chiến

lược là một nước chư hầu của Hiệp chủng quốc Hoa

14

Kỳ, với rất ít sự kiểm soát về công việc đối ngoại

riêng của nó hay các mối quan hệ kinh tế quốc tế.

Năm 1915 và 1916, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ can thiệp

về mặt quân sự tại Haiti và nước cộng hòa Dominican

– lần thứ nhất để đàn áp những cuộc nổi loạn, lần

thứ hai để ngăn chặn các thế lực châu Âu, đặc biệt

là Đức, đổ bộ quân đội để bảo vệ dân cư và thu hồi

các món nợ chưa trả. Trong từng trường hợp, Wilson

cho rằng ông ta đơn thuần chỉ đang kiểm soát các

tiêu chuẩn về trật tự và chân thật chung của những

người láng giềng ít chân thật của nước Mỹ. Đối với

người ngoài cuộc, có vẻ như là Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ đang áp đặt quan điểm của mình trên những quốc

gia quá yếu đến nỗi không thể chống đỡ lại người Mỹ

khổng lồ.

15

Mexico. Tại Mexico, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã điều

hành để kết hợp tính tư lợi và chủ nghĩa lý tưởng

hiển nhiên theo một cách thức làm xáo trộn đặc

biệt. Đối với thế hệ sau năm 1880, Mexico đặt dưới

quyền cai trị của nhà độc tài Porfirio Diaz. Diaz

đã khuyến khích sự đầu tư nước ngoài vào việc khai

thác mỏ, các giếng dầu, các tuyến đường sắt của

Mexico; năm 1913, các nhà kinh doanh Mỹ đã rót hơn

1 tỷ đô la vào đất nước này. Mặc dù đã có sự tài

trợ, nhưng thường dân Mexico vẫn giữ nguyên tình

trạng đói nghèo, thất học, và bị áp bức như những

ngày dưới sự cai trị của Moctezuma II.

Năm 1911, kẻ thù của Diaz trong số những người trí

thức tự do của đất nước đã lật đổ ông ta và bầu

Francisco Madero làm Tổng thống. Madero cố gắng

16

quét sạch tác động của những cuộc cải cách dân chủ

và phục hồi quyền tự do lập hiến mà Diaz đã chối

bỏ. Các chính sách của ông ta đã khuấy động sự thù

địch của tầng lớp quý tộc, quân đội và nhà thờ

Thiên Chúa giáo Mexico. Hai năm sau, Victoriano

Huerta, tổng tư lệnh cố vấn quân sự của Madero, đã

chiếm chính quyền và sát hại Madero.

Nước Anh, Đức và Pháp đã sẵn sàng công nhận Huerta

về mặt chính thức khi Wilson còn nhậm chức. Nhiều

người Mỹ, kể cả những nhà doanh nghiệp đầu tư vào

Mexico đã khuyên Wilson nên hành động theo cách

này, nhưng ông đã từ chối. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ,

như các quốc gia khác, đã công nhận về mặt truyền

thống những chính phủ đã được thiết lập thì làm

cách nào để họ giành được chính quyền hay điều gì

17

là những chính sách nội bộ của họ, là không quan

trọng. Tuy nhiên, theo cách nhìn nhận của Wilson,

Huerta là một “kẻ hung bạo”, người không đại diện

cho “85%” dân số Mexico đang “đấu tranh hướng đến

tự do”. Thay cho việc tuân theo sự thừa nhận về mặt

ngoại giao đối với chính phủ Huerta, Wilson đã

tuyên bố một chính sách mới hướng đến các chế độ

cách mạng ở châu Mỹ Latinh: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

có thể không công nhận bất cứ chính phủ nào trừ khi

nó “được hỗ trợ tại mọi sự chuyển hướng bằng…. các

quá trình có trật tự” dựa trên luật pháp, không sự

trên dựa tranh chấp hòa giải hay các thế lực không

theo quy tắc”.

Wilson đã từ chối bất kỳ một sự chú ý nào đến việc

can thiệp tại Mexico, nhưng ông đã lẳng lặng tìm

18

cách để cô lập tên bạo chúa mới ở Mexico bằng việc

bắt buộc nước Anh rút lại sự công nhận của họ. Ông

cũng cho đóng các tàu chiến hải quân Mỹ bên ngoài

các cảng chính của Mexico để chặn các chuyến tàu

chở vũ khí đi đến chỗ Huerta, trong khi cho phép vũ

khí đi đến với kẻ thù của hắn. Cuối cùng thì, ông

ta hy vọng rằng, Huerta có thể bị đẩy lùi bởi một

nhà vô địch nào đó về nguyên tắc tự do chẳng hạn

như Venustiano Carranza, một đồng minh của Madero,

người đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa ở vùng bắc

Mexico.

Những chính sách của Wilson đã dẫn đến khó khăn.

Tháng 04 năm 1914, thủy thủ đoàn của một tàu hải

quân Mỹ bị một nhân viên của Huerta bắt giữ khi họ

cập vào vùng bờ biển Tampico. Mặc dù họ được thả

19

không bao lâu sau đó, nhưng thống lĩnh hải quân Mỹ,

đô đốc Henry Mayo, đã yêu cầu nhân viên người

Mexico đó phải bị trừng phạt và thống lĩnh của cảng

đó phải bắn 21 phát súngđể chào mừng cờ Mỹ như là

một dấu hiệu của sự tôn trọng. Viên sĩ quan chỉ huy

người Mexico đã xin lỗi và hứa sẽ áp dụng hình

thức kỷ luật đối với nhân viên của mình, nhưng từ

chối bắn súng chào mừng.

Sự cố này có vẻ bình thường, nhưng Wil-son đã làm

cho vấn đề phải được thực hiện theo nguyên tắc.

Xuất hiện trước Quốc hội, ông ta đã yêu cầu cấp

thẩm quyền bắt buộc những người Mexico phải thể

hiện sự tôn trọng đối với quyền lợi của Mỹ. Ngay

khi Quốc hội hành động theo yêu cầu này, một tàu

chiến Đức bắt đầu cung cấp vũ khí cho Huerta ở

20

Veracruz. Để ngăn chặn điều này, Đô đốc hải quân

Mayo đã nã pháo vào thành phố và ra lệnh cho hải

quân chiếm đóng thành phố này. Trong cuộc chiến

tiếp theo sau, hơn một trăm người Mexico đã thiệt

mạng.

Trong việc giải thích cho cuộc tàn sát ở Veracruz,

ngài Tổng thống vẫn cho rằng ông ta chỉ muốn giành

những điều tốt nhất cho người dân Mexico và hy

vọng nhìn thấy họ thiết lập một trật tự mới dựa

trên “quyền tự do và nhân quyền”. Sau đó, Wilson đã

thuyết giảng với người dân Mexico về việc làm thế

nào để họ có thể sắp xếp những công việc của mình.

Mexico có thể phải phân phối lại đất đai cho cân

bằng với tình trạng giàu, nghèo. Đất nước này cũng

vẫn tiếp tục cần đến tư bản nước ngoài, nhưng những

21

công ty nước ngoài không nên áp dụng thế lực và

ảnh hưởng quá mức vào những công việc của Mexico.

Sự mô tả về tương lai Mexico này, cho dù xứng đáng

được coi là sự lựa chọn tốt nhất của người Mỹ tiến

bộ, nhưng nó đã bộc lộ những hạn chế về quy trình

tiến triển. Bỏ qua di sản về sự đối kháng giai cấp

sâu xa và sự xung đột gay gắt về ý thức hệ của

Mexico, Wilson đã cho rằng sự thay đổi xã hội về

mặt căn bản đòi hỏi một quốc gia “dưới mức phát

triển” phải được tác động như một cuộc cải cách yên

bình, thân thiện đúng theo tinh thần luật pháp

tiến bộ ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Kết luận của Tổng

thống vẫn còn nhiều tính không nhạy cảm, cho rằng

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có quyền thi hành quyền thời

hiệu với Mexico về tất cả. Sự cố Veracruz là lời

22

giải thích ưu việt về cách làm thế nào mà sự xâm

nhập của người Mỹ, ngay cả với một động cơ tốt, có

thể tạo ra những hậu quả thảm khốc đối với những

lợi lộc đã dự kiến.

Đồng thời, sự tấn công Veracruz đã lăng nhục tất

cả những người Mexico yêu nước, làm gia tăng địa vị

của Huerta trong số những người ủng hộ ông ta, và

gán cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vai trò của một kẻ

xâm lược tàn bạo. Nó xem xét như thể sự cai trị của

Wilson giờ đây bị bắt buộc trở thành một cuộc

chiến tranh điên rồ với Mexico. Ngài Tổng thống

được cứu thoát ra khỏi số phận này khi Ar-gentina,

Brazil và Chile (gọi là các thế lực ABC), được đưa

ra làm trung gian. Tháng 05 năm 1914, Hợp chủng

quốc Hoa Kỳ, Mexico, và các thế lực ABC gặp nhau ở

23

thác Niagara, Canada, tranh luận triệt để để đi đến

một thỏa hiệp ngăn chặn chiến tranh.

Nhưng cuộc chiến với Mexico chẳng bao lâu lại bị

đe dọa trở lại. Không có khả năng chống đỡ với áp

lực đang tăng lên ngay trong nước và nước ngoài,

cuối cùng Huerta phải từ chức và quyền lực tại

thành phố Mexico phải chuyển giao cho Carranza. Tuy

nhiên, trong thời gian nhậm chức, Carranza đã phải

đối mặt với một cuộc nổi loạn của những người theo

mình mà dẫn đầu là Francisco (“Pancho”) Villa. Hy

vọng để chọc tức Hợp chủng quốc Hoa Kỳ dấn vào một

số những hành động công khai chống lại Mexico, để

có thể đoàn kết những người dân Mexico chống lại

“những người nước ngoài” và giúp cho họ có cơ hội

chiếm chính quyền, Villa đã ra lệnh cho người của

24

mình tấn công vào các công dân Mỹ cả trong thành

phố Mexico và ở vùng biên giới.

Sự căm phẫn của người Mỹ đã nhanh chóng đạt đến

đỉnh điểm mới. Bất kể họ cảm nhận được điều gì theo

sau các sự cố Tampico và Veracruz, hầu như giờ đây

mọi người Mỹ đều đồng ý rằng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

phải thực hiện một hành động mạnh mẽ. Tháng 03 năm

1916, sau khi 35 thường dân Mỹ bị quân lính

Villista sát hại, Wilson đã ra lệnh cho Tướng John

Pershing đổ bộ vào Mexico với 6.000 quân. Villas

xảo trá đã né tránh quân đội Mỹ, nhưng họ vẫn lấn

chiếm ngày càng sâu vào lãnh thổ Mexico.

Carranza, mà chế độ của ông ta đã được chính quyền

Mỹ thừa nhận một cách thân tình vào tháng 10 năm

1915, đã cho phép quân đội Mỹ thâm nhập vào Mexico

25

để bắt Villa. Nhưng Tổng thống Mexico đã bị kinh sợ

bởi quy mô của đoàn quân viễn chinh và mức độ thâm

nhập sâu của người Mỹ vào lãnh thổ. Sự xuất hiện

của Pershing, không phải là đang tiếp tục theo đuổi

kẻ cướp, mà ông ta đang xâm lấn vào quốc gia thân

thiện này và đang vi phạm chủ quyền của nó. Chiến

tranh chỉ bị ngăn chặn lại vào phút cuối cùng, khi

Wilson, nhận thấy rằng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã đi

xa hơn việc gây sức ép lên các vấn đề ở châu Âu, đã

ra lệnh cho Tướng Pershing quay về Texas. Sau đó

Tổng thống đã phái đại sứ Henry Fletcher đến Mexico

và công nhận chính quyền Carranza về mặt nghi

thức.

Với biện pháp này, Wilson đã kết thúc mối đe dọa

của chiến tranh với Mexico. Được cảnh cáo vì sự

26

thất bại của quân đội Pershing, ông ta đã chống lại

sự xúi giục để tiến hành một cuộc chiến tranh bình

dân, mặc dù điều này có thể bảo đảm cho sự tái ứng

cử của ông vào năm 1916. Mặc dù việc làm cẩu thả

của ông đã gây ra một cảm giác chống Mỹ tăng cao

tại Mexico trong nhiều năm, nhưng sự hỗ trợ của ông

đối với Carranza và sự quyết tâm né tránh chiến

tranh mới hình thành của ông, bất kể mọi sự khiêu

khích sắc bén cho phép những cuộc cách mạng thiết

lập sự kiểm soát. Tình thế của Mexico đã bộc lộ ra

những yếu tố căn bản về chính sách đối ngoại của

Wilson: mang tính đạo lý, tính tư lợi, chủ nghĩa

can thiệp truyền giáo và sự miễn cưỡng sâu sắc khi

phải tiến hành chiến tranh. Những sự thôi thúc trái

ngược này cũng có thể là vẻ ngoài của sự tiếp cận

27

của Mỹ với chiến tranh ở châu Âu.

QUAN ĐIỂM VỀ THÁI ĐỘ TRUNG LẬP VÀ CÔNG KHAI

Lời kêu gọi giữ thái độ trung lập của Wil-son

tháng 08 năm 1914 đã gợi lên một tiếng “lạy Chúa”

to từ dư luận Mỹ. Hầu như không ai muốn dính líu

trực tiếp với cuộc tranh chấp ở châu Âu. Người Mỹ

có truyền thống chán ghét những sự liên minh phức

tạp được hình thành giữa các quốc gia châu Âu. Hơn

nữa, nước Mỹ giờ đây là một quốc gia của những

người nhập cư, và chiến tranh có thể đốt cháy những

sự đồng cảm mâu thuẫn với các quốc gia của thế

giới cũ, gây ra tình trạng bất ổn và căng thẳng của

xã hội. Cuối cùng, có rất nhiều người yêu chuộng

hòa bình đã lấy làm ân hận về tất cả những cuộc

chiến tranh mà không quan tâm đến bất cứ nguyên

28

nhân nào.

Quan niệm về phe phái của người Mỹ. Mặc dù hầu hết

người Mỹ đều mong muốn né tránh chiến tranh, nhưng

họ không quá xúc động để tránh khỏi những mối quan

tâm của người châu Âu như họ đã nghĩ. Và họ đã có

thể trở thành như thế nào? Hàng triệu công dân được

sinh ra tại một trong số các quốc gia tham chiến

và thấy rằng họ không thể tránh khỏi sự cam kết về

ý thức hệ và cảm xúc của di sản của mình. Những

người mới đến từ nước Anh, Scotland và xứ Wales đã

giữ nguyên cảm giác yêu mến với vương quốc Anh và

hy vọng nhìn thấy nó vẫn giữ nguyên ngôi vị là nữ

chủ của biển cả. Mặt khác, một số lớn dân chúng Mỹ

gốc Đức vẫn còn những sự gắn kết mạnh mẽ với “quê

cha đất tổ” và hoan hô các Thế lực Trung tâm. Bức

29

tranh được làm cho phức tạp hơn lên bởi những người

nhập cư từ Áo - Hung và Nga. Những đế quốc đang

vươn dài cánh tay này cưu mang hàng triệu người Ba

Lan, Czechs, miền Nam Slavs, Phần Lan, Do Thái, và

nhiều nhóm người khác đã phải chịu nhiều đau khổ

dưới những chính quyền hà khắc. Những người nhập cư

từ Hapsburg và các đảo của Nga, khinh bỉ các chế

độ và cầu nguyện cho sự thất bại của chúng. Người

Ailen còn làm phức tạp thêm tình trạng rối ren của

những sự phản ứng này, vì họ ghét sự đàn áp kéo dài

hàng bao nhiêu thế kỷ của vương quốc Anh và hy

vọng những sự rắc rối của người Anh có thể chuyển

thành những lợi thế của người Ailen.

Những người Mỹ dòng dõi xưa cũ có cái nhìn ngờ vực

vào sự gắn bó liên tục của những người mới đến quê

30

hương của họ và buộc tội họ vì đã đặt những mối

quan tâm về châu Âu lên phía trước những mối quan

tâm của người Mỹ. Họ cũng chưa đứng về phe nào cả.

Ngoài một nhóm nhỏ nhưng có uy tín của những người

trí thức tôn trọng nền văn hóa Đức và các học giả,

hoặc không thích sự lan tỏa của ảnh hưởng Anh vào

cuộc sống Mỹ, đa số những người Mỹ thuộc dòng dõi

xưa cũ là thân Đồng minh. Nhiều người Mỹ đã đọc

những tác phẩm văn học cổ điển Anh, ngưỡng mộ luật

pháp Anh và các thể chế nghị viện. Nhiều người cũng

có khuynh hướng cảm thấy yêu mến người Pháp, nhớ

lại sự biết ơn người Pháp đã cứu giúp trong suốt

thời kỳ cách mạng. Một tập hợp phức tạp, bao gồm

nhiều nhà lập nên quan niệm quốc gia, bị mê hoặc

bởi phong cách sống, thức ăn và cách suy nghĩ của

31

người Pháp.

Tuy nhiên, tinh thần đảng phái đối với các nước

Đồng minh đã vượt quá giới hạn sự thiên vị về tình

cảm và thẩm mỹ. Pháp và Anh đã ràng buộc nền dân

chủ của mình với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bởi mối liên

kết thông thường của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa

quân bình. Trong kỷ nguyên mà tình cảm được hồi

sinh đối với những nguyên tắc tự do tại quê nhà,

thì các thể chế dân chủ của Anh và Pháp có vẻ như

đặc biệt xứng đáng với sự hỗ trợ. Tình cảm tự nhiên

này của những người Mỹ Cấp tiến ở một mức độ nào

đó được đền bù bằng sự thay đổi cảm nhận đột ngột

của họ hướng đến một nước Nga Sa hoàng lạc hậu và

hung bạo, nhưng nước Nga thì ở quá xa và hầu như có

vẻ là một thành viên cấp dưới của các liên minh

32

phương Tây.

Chủ nghĩa bảo thủ, quân phiệt và thói kiêu căng

ngạo mạn của người Đức đã xác nhận sự thiên vị của

người Mỹ. Một quốc gia bị chi phối bởi tinh thần kỷ

luật và sự phục tùng theo thứ bậc của người Phổ kể

từ khi thống nhất vào năm 1871, Đức đã cho phép

những tham vọng đế quốc của mình bốc lên cao đến

những tỷ lệ khổng lồ dưới thời Hoàng đế Wilhelm II.

Từ năm 1898, các tướng lĩnh quân đội và hải quân

Mỹ đã lo lắng ngày càng tăng thêm về sự đe dọa của

người Đức đối với vùng bán cầu phía Tây. Như năm

1910 mới đây, Bộ Tổng tư lệnh hải quân đã đánh giá

rằng Đức có lẽ là kẻ thù tiềm năng nguy hiểm nhất

của Mỹ. Những người tạo ra quan điểm và chính sách

đối ngoại ưu tú cùng chia sẻ nỗi sợ hãi về thế lực

33

và sự tiến bộ của người Đức, và những công dân khác

không thể giúp cho việc cảm nhận rằng sự bại trận

của người Đức có thể có lợi cho Mỹ và các nguyên

tắc dân chủ ở khắp mọi nơi.

Tất cả đã nói lên rằng, một số lớn những người Mỹ

ngay từ đầu đã là những người thân Đồng minh. Không

có lúc nào mà sự can thiệp để giúp đỡ Đức lại có

thể nhận thức được. Điều tốt nhất mà các thế lực

trung tâm có thể mong đợi là thái độ trung lập của

người Mỹ. Tuy nhiên, ngay từ lúc bắt đầu, Anh và

Pháp đã có lý do để hy vọng rằng Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ có thể được chuyển thành một nước đồng minh

năng động.

Cuộc chiến tranh tuyên truyền. Cả hai phe đều tìm

cách để làm dao động quan niệm của người Mỹ, phe

34

các nước Đồng minh ủng hộ cho sự can thiệp, phe các

thế lực trung tâm ủng hộ cho thái độ trung lập.

Ngay bây giờ họ đang tiến hành một cuộc chiến tuyên

truyền mạnh mẽ, trong đó sự thật thường đặt ở vị

trí phía sau. Tờ Thời báo New York đã gọi sự xung

đột châu Âu là “cuộc chiến tranh đầu tiên của các

đại lý báo chí”.

Trong cuộc đấu tranh khó khăn cho trí tuệ của

người Mỹ, người Đức đã làm việc dưới hàng loạt

những điều kiện bất lợi. Anh và Pháp kiểm soát các

tuyến cáp xuyên đại dương, truyền tin tức của châu

Âu đến với báo chí Mỹ, chỉ để lại cho người Đức

những tuyến cáp không dây còn từ thời nguyên thủy

để thu nhận tin tức đến với dư luận Mỹ. Các thế lực

trung tâm cũng không có khả năng thích hợp. Cuộc

35

chiến tranh tuyên truyền của Đức nhấn mạnh đến sự

ghét bỏ và phá hủy – một sự tiếp cận thường gợi lên

sự khiếp sợ thay cho sự đồng tình. Một trong số

những nỗ lực có hiệu quả nhất của phe Đồng minh là

giành được sự chấp thuận của người Mỹ bao gồm việc

tái bản chiến dịch tuyên truyền ghét bỏ của người

Đức chống lại Anh và Pháp.

Quan trọng hơn trong việc khước từ quan niệm của

người Mỹ hơn lời lẽ của người Đức, là những việc

làm của người Đức. Đức đã công khai chiến dịch quân

sự của mình trên mặt trận phía Tây bằng việc xâm

lược nước Bỉ, do vậy đang xâm phạm một thỏa ước

quốc tế đã tồn tại từ lâu. Thủ tướng Đức đã khinh

khỉnh coi thỏa ước chỉ là “một mảnh giấy”. Khi

những người Bỉ yêu nước thách thức những kẻ chiếm

36

đóng, nhà cầm quyền Đức đã trả miếng bằng việc hành

hình những công dân Bỉ – khoảng 5.000 người trong

quá trình diễn ra cuộc chiến – và bằng việc đốt

cháy trường đại học lâu đời nhất ở thành phố

Louvain.

Nếu người Đức là vụng về và tàn bạo, thì các nước

Đồng minh lại khéo léo, thông minh. Đặc biệt người

Anh sử dụng ngôn ngữ của người Mỹ, về mặt nghĩa đen

và theo cách ẩn dụ. Theo bản năng, họ biết cách

làm thế nào để khuấy động những sự đồng cảm của

người Mỹ. Họ nhanh chóng thổi phồng hành động tàn

bạo của người Đức tới những mức độ khổng lồ. Năm

1915, chính phủ Anh ban hành một báo cáo chính thức

được ký tên bởi James Bryce, một nhà sử học nổi

tiếng và một đại sứ đáng kính của Anh trước đây tại

37

Washing-ton, đã mô tả chi tiết một cách khủng

khiếp sự tra tấn, gây thương tích và sát hại những

công dân Bỉ, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Báo cáo

kết luận rằng dưới thời chiếm đóng của người Đức,

bản chất “sát nhân, thú tính và cướp bóc lan tràn”

đã bộc lộ đến mức chưa từng thấy trong bất kỳ cuộc

chiến tranh nào giữa các quốc gia văn minh trong ba

thế kỷ qua”. Nhiều câu chuyện về hành động hung

bạo không được tìm thấy; những câu chuyện khác thì

quá sức cường điệu. Dù sao đi nữa, báo cáo của

Bryce đã thuyết phục nhiều người Mỹ cho rằng người

Đức là “kẻ phá hoại” hung ác, người xứng đáng nhận

sự chỉ trích, kết tội của toàn thế giới văn minh.

Tinh thần đảng phái của chính quyền. Theo những

cách nào đó, người hỗ trợ mạnh mẽ nhất cho các nước

38

liên minh ở Mỹ chính là Tổng thống, bất chấp lời

kêu gọi giữ thái độ trung lập của mình. Kể từ những

ngày đầu hình thành nhân cách, khi sự ngưỡng mộ

của ông đối với các thể chế chính trị của Anh đã

xúi giục ông viết nên Chính phủ Quốc hội, tán dương

các hệ thống nghị viện. Wilson là người yêu thích

mọi thứ của người Anh. Khi làm Tổng thống, ông cảm

thấy gần gũi với những lãnh tụ Đảng Tự do ở Anh, mà

chương trình an sinh xã hội của họ trong những năm

ngay trước chiến tranh đã song hành một cách gần

gũi với chương trình an sinh xã hội của ông.

Tổng thống đã cố gắng giữ thái độ trung lập, nhưng

những cảm giác thật sự của ông thường được thể

hiện qua sự dè dặt của mình. Có lần ông đã nói với

ngài đại sứ Anh rằng, tất cả mọi thứ mà ông yêu

39

thích nhất trên thế giới đều phụ thuộc vào chiến

thắng của các nước Đồng minh. Ông nhận xét một quan

niệm khác với người thư ký riêng của mình rằng

“nước Anh đang đấu tranh cho cuộc chiến của chúng

ta… Tôi sẽ không làm bất cứ hành động nào để làm

người Anh bối rối khi họ đang chiến đấu vì cuộc

sống của mình và của toàn thế giới”. Thêm vào đó,

Wilson và những người cố vấn thân cận của ông, Đại

tá Ed-ward M.House và sau này là Robert Lansing, đã

thực hiện sự đe dọa nghiêm trọng với chủ nghĩa

bành trướng Đức; quan tâm chu đáo đến Anh và Pháp

để kiểm soát những tham vọng của đế chế Đức. Kể từ

sau cuộc chiến tranh Tây Ban Nha- Mỹ, khi Vương

quốc Anh một mình nằm trong số những thế lực châu

Âu đã hỗ trợ cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, những nhà

40

làm chính sách ngoại giao của Mỹ đã quan tâm đến

nước Anh như một lực lượng bảo vệ chống lại những

tham vọng của người Đức theo chủ nghĩa bành trướng.

Cảm giác này vẫn còn nguyên vẹn là một phần quan

trọng, tuy không nói ra, trong chính sách ngoại

giao của Mỹ từ cuối những năm 1890 trở về trước. Sự

liên minh không chính thức này có thể đã tác động

đến các nhà làm chính sách của Mỹ sau tháng 08 năm

1914.

QUYỀN LỢI CỦA PHE TRUNG LẬP

Bất chấp xu hướng thân Đồng minh của nhân dân và

chính phủ Mỹ, sự tham gia của Mỹ vào cuộc chiến

tranh có thể đã tránh được nếu không vì những vấn

đề về quyền lợi của phe trung lập. Mặc dù tuyên

truyền, ngưỡng mộ các chế độ dân chủ, và sợ hãi chủ

41

nghĩa đế quốc Đức, nhưng tất cả đã làm xói mòn

tính quả quyết của người Mỹ để ngăn cản hoàn toàn

cuộc chiến tranh, đó là vấn đề về quyền lợi của phe

trung lập mà cuối cùng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã

đưa vào. Ngày nay, khi cuộc chiến dường như không

có những quy tắc, thì thật khó mà tin rằng người Mỹ

đã có lần nắm giữ một cách nghiêm trọng khái niệm

về quyền lợi của phe trung lập. Nhưng năm 1914, họ

đã làm điều đó.

Đầu thế kỷ XX, trong suốt khoảng thời gian chiến

tranh của những người thân Napo-leon một trăm năm

trước, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã tự tìm thấy sức

mạnh trung lập chính trên thế giới được phân chia

thành hai phe đối lập nhau, phe này quyết tâm đánh

Các nước Đồng Minh Các nước Trung Lập bại phe kia

42

mà không màng đến sự hy sinh, trả giá của những

người ngoài cuộc. Tuy nhiên, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

đã mong đợi các bên tham chiến châu Âu tôn trọng

mọi quyền lợi của các quốc gia trung lập một cách

truyền thống trong thời kỳ chiến tranh. Theo những

quy tắc này, những chuyến tàu thuộc quyền sở hữu

của các nước trung lập có quyền vận chuyển các loại

hàng hóa mà không bị cản trở gì, ngoại trừ hàng

lậu thuế. Hàng lậu thuế được chỉ định nghiêm ngặt

là các loại vũ khí đạn dược, với các loại hàng hóa

chẳng hạn như thực phẩm, hàng dệt may, và quân

trang quân dụng hải quân dự trữ được miễn thuế một

cách rõ ràng. Các nước trung lập cũng có quyền buôn

bán tự do với các bên tham chiến, mặc dù họ có thể

bị ngăn chặn một cách hợp pháp và phải quay trở

43

lại nếu có một mặt trận phong tỏa có hiệu quả được

duy trì bên ngoài hải cảng của bên tham chiến. Tuy

nhiên, nếu một tàu buôn hay tàu hành khách của nước

trung lập bị dừng lại bởi sự phong tỏa hải quân

như vậy, thì lực lượng phong tỏa sẽ có trách nhiệm

về sự an toàn của các hành khách và thủy thủ đoàn

của chiếc tàu bị chặn lại đó.

Wilson, theo cách riêng của mình, đã cung cấp một

tầm quan trọng mang tính đạo lý mới cho chính sách

lâu dài của người Mỹ về việc bảo vệ quyền lợi của

phe trung lập Ông nói, quyền của công dân nước

trung lập là được đi bất cứ nơi nào mà họ muốn, bán

tất cả những thứ gì mà họ muốn cho bất cứ ai mà họ

cần bán; vấn đề chỉ là tùy thuộc vào các nguyên

tắc chiến tranh được chấp nhận, hơn là một sự trừu

44

tượng hóa hợp pháp hay là vấn đề lợi nhuận. Wilson

cho rằng, những gì đang bị đe dọa, là cấu trúc căn

bản của trật tự quốc tế. Cấu trúc này phải được dựa

trên các nguyên tắc bất khả xâm phạm được định

nghĩa rõ ràng, mà đến lượt mình nó phải được bắt

nguồn từ những nguyên tắc cơ bản của sự tôn trọng

cuộc sống con người và sự đối xử công bằng của mọi

người và mọi quốc gia.

Ngoài ra, làm thế nào mà ông ta hay một người thân

Anh đã quyết tâm để bảo đảm cho quyền lợi của

người Mỹ trong những ngày tháng theo sau cuộc chiến

tranh bùng nổ vẫn không là vấn đề. Wilson đã thấy

không có lý do gì để xâm phạm vào những công việc ở

châu Âu. Bằng việc giữ nguyên thái độ trung lập,

Mỹ có thể gây một sức ép đạo lý mạnh mẽ để nhanh

45

chóng kết thúc cuộc chiến, sau đó giúp thiết lập

những mối quan hệ mới giữa các quốc gia dựa trên sự

giải trừ quân bị, phân xử và công bằng quốc tế.

Wilson tuyên bố, một nước Mỹ trung lập có thể là

“thích hợp và tự do để thực hiện những điều chân

thật, vô tư lợi và thật sự có khả năng phục vụ cho

nền hòa bình thế giới”.

Những sự vi phạm quyền lợi người Mỹ của các nước

Đồng minh. Ngay từ đầu cuộc chiến, cả Anh và Đức

đều không quan tâm đến những gì mà người Mỹ cho là

quyền lợi của họ trên vùng biển và trong sự thương

mại quốc tế. Nước Anh hạn chế một cách gay gắt việc

buôn bán của người Mỹ với các Thế lực Trung tâm

bằng việc mở rộng sự xác định các mặt hàng lậu

thuế, kể cả hầu hết những thứ có thể là có ích cho

46

sự sống còn của Đức. Họ ngăn chặn các tàu Mỹ và bắt

buộc chúng phải đi đến các cảng Anh để khám xét

toàn bộ và tốn rất nhiều thời gian, thay vì cho

phép chúng được kiểm soát ngay trên biển. Họ đặt

thủy lôi ở vùng biển Bắc, gây nguy hiểm cho tất cả

những con tàu trung lập đi ngang qua khu vực này.

Họ thiết lập một danh sách đen những công ty Mỹ bị

nghi ngờ là có quan hệ mua bán với Đức thông qua

các quốc gia trung lập khác, và đe dọa những công

ty này về sự thiệt hại trong công việc kinh doanh ở

nước Anh.

Là người cung cấp hàng hóa và tín dụng, Hợp chủng

quốc Hoa Kỳ có sức mạnh để chống lại người Anh và

bắt buộc họ phải giảm bớt sự gay gắt. Chẳng bao lâu

sau khi chiến tranh bùng nổ, Anh và Pháp phải đặt

47

hàng các công ty Mỹ về vũ khí, hạt ngũ cốc, bông

vải và những sự tiếp tế khác. Trong giai đoạn đầu,

các nước Đồng minh phải trả bằng tiền mặt; nhưng

sau khi dòng tiền mặt đã cạn, họ yêu cầu được vay

từ các ngân hàng Mỹ. Ngoại trưởng Bryan ngay từ đầu

đã coi sự mua bán chịu đối với quân đội Đồng minh

là sự vi phạm tính chất trung lập và từ chối thừa

nhận chúng. Dần dần ông ta đã rút lui và đến tháng

10 năm 1914, Wilson thông tin cho ngân hàng thành

phố quốc gia (Na-tional City Bank) và Công ty

Morgan rằng có thể ông sẽ không phản đối các tín

dụng của chủ nhà băng để cấp vốn cho các thế lực

Đồng minh trong chiến tranh. Đầu năm 1917, Mỹ cho

Anh vay hơn 1 tỷ đô la và Pháp hơn 300 triệu.

Wilson đã mong ước là, ông ta có thể đe dọa hạn chế

48

sự cho vay hay yêu cầu Quốc hội cấm vận đạn dược

cho các bên tham chiến, trừ khi các nước Đồng minh

phải tuân theo các yêu cầu của Mỹ. Ông ta bào chữa

cho sự thất bại của mình để sử dụng loại vũ khí áp

bức mạnh mẽ này – đã được Thomas Jefferson áp dụng

vào năm 1807- trên nền tảng là việc trung lập hóa

lợi thế kiểm soát các tuyến đường vận tải biển theo

quy định của quân đội Đồng minh đến châu Âu có thể

ngang bằng với việc giúp đỡ các thế lực Trung tâm.

Nhưng khó tránh khỏi sự kết luận cho rằng Tổng

thống ít mong muốn bắt ép quyền lợi trung lập chống

lại quân đội Đồng minh hơn là chống lại kẻ thù của

họ. Tuy nhiên, có những lý do vượt quá giới hạn

của cảm giác thân Đồng minh đối với việc phân biệt

giữa những sự vi phạm của Anh và Đức với quyền lợi

49

của Mỹ. Cho dù họ đã làm bất cứ điều gì, nước Anh

đã né tránh việc làm tổn thương quá nhiều đến quyền

lợi của Mỹ, đồng thời cũng tránh sự phản đối kịch

liệt từ quá nhiều nhóm người đã có lần ép buộc sự

trả đũa. Người Anh cũng đã cẩn thận để mài mòn tính

sắc bén trong các hành động của mình. Thí dụ như,

bằng việc đưa loại hàng bông vải vào danh sách

những món hàng lậu thuế đã tạo ra sự phản ứng mạnh

mẽ từ những người trồng bông ở miền Nam, người Anh

đã đồng ý mua đủ lượng bông vải để chuẩn bị cho thị

trường Đức – Áo đã mất. Hơn nữa, trong đa số các

trường hợp, họ hứa hẹn sẽ bồi thường cho các nhà

doanh nghiệp Mỹ vì những thiệt hại sau chiến tranh.

Nhưng lý do có sức thuyết phục nhất đối với việc

phân biệt đối xử giữa các nước Đồng minh và các thế

50

lực Trung tâm là các chính sách của Đồng minh chỉ

gây thiệt hại đến túi tiền của người Mỹ; nhưng các

chính sách của Đức lại lấy đi mạng sống của người

Mỹ.

Cuộc chiến tàu ngầm. Vũ khí chủ yếu của hải quân

Đức là tàu ngầm U-boat (Unterseeboot), một loại tàu

ngầm nhỏ được trang bị các quả ngư lôi và một súng

máy nhỏ trên boong. U-boat có thể trườn đến các

mục tiêu mà không bị phát hiện và nhấn chìm chúng

mà không cần báo trước. Nhưng vì chúng rất nhỏ và

có thành rất mỏng, nên chúng không thể mạo hiểm nổi

lên trên bề mặt để cảnh báo những ý định của mình,

để tìm kiếm hàng lậu thuế, hay để chăm lo cho

những thường dân trên những chiếc tàu mà chúng nhấn

chìm. Thật ra tàu ngầm Đức có thể bóp chẹt nước

51

Anh – nhưng do chỉ tấn công vào những chiếc tàu

buôn hoặc tàu hải quân, kẻ thù hay phe trung lập,

bị lôi kéo vào công việc thương mại với quần đảo

Anh, nên đã gây nguy hiểm cho các thường dân – và

vi phạm trầm trọng quan điểm quốc tế.

Thủ tướng Đức, Theobald von Bethmenn Hollweg và

một vài lãnh tụ Đức khác đã nhìn thấy trước rằng

một chính sách tàu ngầm U-boat “bắn trúng tầm nhìn”

có thể dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng với Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ. Dù sao đi nữa, tháng 02 năm

1915, chính phủ Đức thông báo rằng nó sẽ cho phép

các tàu ngầm của mình nhấn chìm tất cả những chiếc

tàu mà nó tìm thấy trong khu vực có chiến tranh bao

quanh quần đảo Anh.

Bộ Ngoại giao Mỹ ngay lập tức lên án những sách

52

lược “chưa từng thấy” này và tuyên bố rằng, chính

phủ Đức có thể phải chịu “trách nhiệm giải trình

nghiêm khắc” đối với bất kỳ hành động nào gây thiệt

hại đến người Mỹ hoặc tài sản của họ. Nhà cầm

quyền Anh vẫn thản nhiên không động đậy. Một tháng

sau, một tàu ngầm Đức nhấn chìm Falaba, một tàu

thủy lớn chở hành khách của Anh, giết chết một công

dân Mỹ. Bryan thúc giục Tổng thống ngăn cấm người

Mỹ đi du lịch trong các khu vực có chiến tranh, ít

ra là trên những tàu tham chiến, nhưng Wilson từ

chối với cơ sở cho rằng việc làm như vậy có thể sẽ

từ bỏ quyền lợi hợp lý của người Mỹ. Một thảm kịch

tệ hại hơn đã xảy ra vào tháng 05 khi Lusitania,

một chiếc tàu chở hành khách sang trọng bị một tàu

ngầm Đức nhấn chìm ở ngoài khơi vùng biển Ailen,

53

làm thiệt mạng 1198 người, trong đó có 128 người

Mỹ. Trước khi chiếc tàu biển rời New York, nhà cầm

quyền Đức đã khuyên người Mỹ nên tránh các chuyến

tàu của bên tham chiến, nhưng sự tấn công thực sự

đã xảy ra hoàn toàn không có sự báo trước.

Việc nhận chìm một chuyến tàu chở hành khách không

trang bị vũ khí, giết chết toàn bộ sinh mạng, đã

gây sốc cực mạnh cho người Mỹ. “Từ Bộ Ngoại giao”,

tờ Thời báo New York loan báo, “phải gửi đến chính

quyền đế quốc ở Berlin một yêu cầu rằng, người Đức

không nên tạo ra chiến tranh như những kẻ uống máu

dã man nữa”. Những ngày sau đó, những bài xã luận

lên án sự tấn công như là “tội ác”, “dã man, tàn

bạo, không có văn minh”. Tập san văn học đã tóm

tắt: “Sự kết tội một hành động có vẻ như đã bị giới

54

hạn chỉ vì sự hạn chế về ngôn ngữ Anh”.

Trong những ngày tiếp theo ngay sau đó, có một số

những câu chuyện mơ hồ về cuộc chiến tranh với Đức.

Nhưng dư luận không sẵn sàng để lao vào cuộc tắm

máu của châu Âu, và ngay bây giờ, đa số người Mỹ

còn kết luận rằng những từ ngữ mạnh mẽ có lẽ là

thích hợp để kiểm soát hành động tàn bạo của người

Đức. Ngày 13 tháng 05, Wilson gửi một bức thư ngắn

đến chính phủ Đức về việc yêu cầu một lời xin lỗi

cho hành động tàn bạo của họ. Đức cũng phải từ bỏ

những cuộc tấn công sắp tới vào các tàu buôn, tàu

hành khách và phải chịu trách nhiệm về bất cứ sự

xâm phạm quyền lợi của người Mỹ trên các vùng biển.

Chính phủ Đức bày tỏ sự hối tiếc về cái chết của

người Mỹ, nhưng lại bênh vực cho việc nhấn chìm các

55

chuyến tàu như một hành động “tự vệ” vì Lusitania

đã mang vũ khí mà chúng có thể được dùng để chống

lại quân đội Đức. Trong bức thư thứ hai cứng rắn

hơn, Wilson khăng khăng bắt buộc Đức phải từ bỏ

hoàn toàn cuộc chiến tàu ngầm. Và bức thư thứ ba đe

dọa sẽ cắt đứt các mối quan hệ ngoại giao nếu có

một chuyến tàu hành khách nào khác bị tấn công.

Bryan coi bức thư thứ hai về Lusitania là tối hậu

thư đối với người Đức, rằng nếu họ không từ bỏ cuộc

chiến tranh tàu ngầm, Mỹ có thể sẽ tiến hành chiến

tranh. Là người yêu chuộng hòa bình, ông đã từ

chức để phản kháng. Wilson đã thay thế bằng Robert

Lan-sing, một loại người hoàn toàn khác, người tin

rằng sự thành công của người Đức “có nghĩa là sự

lật đổ nền dân chủ…., sự kìm hãm quyền tự do cá

56

nhân, thiết lập nên những tham vọng xấu xa..., và

quay trở lại việc kiểm soát sự tiến bộ của con

người trong hai thế kỷ”. Khả năng lãnh đạo Bộ Ngoại

giao của Lan-sing đã củng cố các nhóm thân Đồng

minh và chắc chắn giúp đưa quốc gia đi vào con

đường chiến tranh.

Sự xung đột giữa các Cường quốc Trung tâm và Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ vẫn chưa được giải quyết khi

người Đức một lần nữa tấn công vào giữa tháng 08

năm 1915, nhận chìm Arabic, một tàu thủy chở hành

khách không trang bị vũ khí của Anh, và làm chết

hai người Mỹ. Việc nhấn chìm tàu này đã đưa đến

đỉnh điểm cuộc chiến giữa ngài Thủ tướng thận trọng

của Đức Bethmann Hollweg và các đô đốc hải quân,

những người muốn tiếp tục cuộc chiến tranh hải quân

57

không bị hạn chế. Lần này, đế quốc Đức đứng về phe

ôn hòa và bảo đảm với Bộ Ngoại giao Mỹ rằng hải

quân của họ có thể sẽ ngừng tấn công vào

các tàu hành khách mà không cần thông báo và trong

tương lai có thể sẽ đảm bảo, cung cấp sự an toàn

cho hành khách và các thủy thủ đoàn. Chính phủ Đức

đã đình chỉ cuộc chiến tàu ngầm chống lại các tàu

hành khách.

Tinh thần của cuộc chiến tranh gia tăng.

Tàu Arabic được dùng làm vật thế chấp để ngăn ngừa

sự cắt đứt các mối quan hệ ngoại giao với Đức,

nhưng điều này không tuân theo những yêu cầu của

Wilson. Chính phủ Đức không đồng ý miễn giảm tấn

công đối với các tàu vận tải và cũng không xin lỗi

về việc nhận chìm tàu Lusitania. Họ cũng không đưa

58

ra những bồi thường thiệt hại cho những người Mỹ

thiệt mạng.

Trong khi những lời than phiền này đã trở nên cay

độc, người Mỹ đã xem những bằng chứng mới là những

gì có vẻ như tính cách tàn bạo của người Đức. Một

thời gian ngắn sau khi tàu Arabic bị nhấn chìm, một

nhân viên đặc vụ Mỹ đã nhặt được một chiếc va ly

do một người đàn ông bất cẩn bỏ quên trên bờ đường

sắt thềm cao ở New York. Những đồ dùng chứa bên

trong đã để lộ tung tích chủ nhân của nó, Tiến sĩ

Henrich F. Albert, người đứng đầu các hoạt động lan

rộng của người Đức ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, với

mục đích gây tác động đến quan điểm của người Mỹ,

phá hủy các nhà máy sản xuất vũ khí đạn dược và

những xưởng đóng tàu đang sản xuất các nguyên liệu

59

chiến tranh cho quân đội Đồng minh. Và hầu như cùng

một lúc, những người Anh được phóng thích đã nhặt

được những truyền đơn, tài liệu vạch trần những kế

hoạch của liên quân Đức - Áo nhằm xúi giục công

nhân tại các nhà máy sản xuất vũ khí ở Mỹ đình

công. Chẳng bao lâu sau đó, Mỹ bắt được hai tùy

viên Bộ Ngoại giao Đức vì hoạt động gián điệp và

trục xuất họ về nước; một nhân viên đặc vụ Đức khác

bị kết tội về việc đặt mìn phá hủy một chiếc cầu;

và những người khác vẫn còn chịu trách nhiệm về

những vụ nổ và những tai nạn không thể giải thích

được khác tại các phân xưởng và các nhà máy sản

xuất vũ khí của Mỹ.

Những sự phát giác gây cảm xúc mạnh mẽ về các hoạt

động lén lút của người Đức, tạo nên sự đối kháng

60

mạnh mẽ của công chúng Mỹ. Những hành động tàn ác ở

Bỉ và những việc nhấn chìm tàu ở vùng biển Đại Tây

Dương là những sự kiện từ xa gây tác động trực

tiếp đến một số ít công dân Mỹ. Việc đặt bom và

hoạt động gián điệp đã mang lại cuộc chiến tranh

khủng khiếp cho các vùng bờ biển Mỹ. Vào giữa năm

1915, nhiều công dân Mỹ đã lo sợ quốc gia này khó

có thể tránh khỏi việc tham gia vào cuộc chiến.

Việc thay đổi tâm tính dư luận đã tự nó thể hiện

một phong trào “sẵn sàng chiến đấu” để vũ trang lại

cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong bất cứ tình huống

nào xảy ra. Nhưng không phải tất cả mọi sự sẵn sàng

chiến đấu đều ủng hộ “sự can thiệp” thiên vị; một

số công khai cho rằng, nếu quốc gia mạnh mẽ về mặt

quân sự thì có thể đã không phải chiến đấu. Nhưng

61

những người là chiến sĩ chống lại người Đức, thì họ

đã nghĩ rằng chiến tranh là không thể tránh được,

hoặc thậm chí là điều cần thiết, và muốn bảo đảm

rằng khi chiến tranh xảy đến, quốc gia có thể chống

đỡ một cách hiệu quả. Người theo chủ nghĩa can

thiệp, nắm quyền lãnh đạo cao nhất của nhóm sẵn

sàng chiến đấu là Theodore Roosevelt, người đã đi

khắp trong nước để gọi Wilson là kẻ “đố kỵ”, ngăn

chặn sự đổi mới lại quân sự, vũ khí và không thiết

lập nên một phòng tuyến mạnh mẽ chống lại quân Đức.

Tại một quan điểm nào đó, với thái độ không đúng

mực điển hình của mình, Theodore Roosevelt (TR) đã

khuyên rằng nếu chiến tranh xảy đến, thì người ủng

hộ hòa bình như Robert La Follette nên bị treo cổ

ngay lập tức.

62

Một mặt trận hòa bình mạnh mẽ đã phản đối lại sự

chuyển dịch theo hướng sẵn sàng chiến đấu. Ngoài

những tín đồ Quaker và hội viên của những “giáo hội

hòa bình“ truyền thống khác, những người phản đối

chiến tranh bao gồm một tỷ lệ khá lớn của cộng đồng

người Mỹ tiến bộ, những người tin rằng cuộc cải

cách nội địa có thể bị bỏ quên nếu quốc gia bị lôi

kéo vào cuộc chiến tranh. Đặc biệt những phụ nữ Cấp

tiến nổi bật lên trong phong trào vì hòa bình.

Chiến tranh, theo như Harriot Stanton Blatch, đại

diện cho nguyên lý về sức mạnh vật chất của phái

mạnh và chỉ có thể được chấm dứt khi “quan điểm về

nguyên nhân” chiếm ưu thế trong ngoại giao quốc tế.

Cho nên ngay cả những người theo chủ nghĩa xã hội

cũng phản đối chiến dịch sẵn sàng chiến đấu và sự

63

can thiệp còn mạnh mẽ hơn những người Cấp tiến.

Cuộc chiến tranh ở châu Âu mà họ đang tiến hành là

một trận chiến giữa các đối thủ của chủ nghĩa đế

quốc tư bản mà trong đó, giai cấp công nhân thế

giới không có lợi ích sống còn.

Lúc đầu bản thân Wilson cũng hoài nghi về sự

chuyển dịch theo hướng sẵn sàng chiến đấu, nhưng sự

tức giận đối với người Đức của ông đang dâng cao

và tin rằng sự sẵn sàng chiến đấu đã làm cho ông ta

thay đổi ý định chung về phương diện chính trị.

Cuối cùng, vào giữa mùa hè năm 1915, ngài Tổng

thống đã yêu cầu các cố vấn quân đội và hải quân

vạch ra những kế hoạch cho việc mở rộng quân đội và

hải quân. Trên nền tảng của đề nghị này, vào tháng

11, ông ra lệnh cho Quốc hội phê duyệt một chương

64

trình xây dựng hải quân 500 triệu đô la và mở rộng

quân đội đến 400.000 người.

Ngay cả khi chuẩn bị cho khả năng chiến tranh của

quốc gia, Wilson vẫn đấu tranh để né tránh nó. Đầu

năm 1915, ông ta phái tướng House đến châu Âu để cố

gắng đưa các bên tham chiến lại gần với nhau trong

bàn đàm phán hòa bình. House không được để ý đến.

Tháng 01 năm 1916, Wilson lại phái tướng này trở

lại châu Âu vẫn với mục đích đó và xác định rằng,

nếu lần này có phe nào đó từ chối đàm phán, thì Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ có thể sử dụng “sức mạnh đạo lý

tối đa” của mình để thuyết phục bên do dự chấp

thuận những điều khoản thỏa hiệp, bao gồm sự giải

trừ quân bị và một tổ chức gìn giữ hòa bình thế

giới.

65

Lại một lần nữa, House chỉ hoàn thành một ít công

việc. Những quốc gia đang trong chiến tranh không

muốn góp phần vào nền hòa bình, ngoại trừ những

điều khoản của riêng họ. Bất chấp thái độ ngoan cố,

bướng bỉnh của lãnh tụ hai phe Đức và Đồng minh,

House đã tạo ra một số hứa hẹn ban đầu đối với Anh

và Pháp vượt quá những hướng dẫn của Tổng thống Mỹ.

House đã nói với các lãnh tụ Anh và Pháp rằng nếu

vào năm 1916, quân Đồng minh cố gắng bẻ gãy sự bế

tắc về quân sự trên mặt trận phía Tây đã thất bại,

và nếu người Đức xuất hiện để giành được điều đó,

thì Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có thể can thiệp để bảo

vệ lực lượng Đồng minh đã bị đánh bại.

Sự thế chấp Sussex. Những mối quan hệ Đức – Mỹ ban

đầu đã có chiều hướng tốt lên vào tháng 02 năm

66

1916, khi chính phủ Đức cuối cùng phải bày tỏ sự

hối tiếc về việc nhận chìm tàu Lusitania và đưa ra

sự bồi thường thiệt hại. Nhưng chẳng bao lâu, sự

dao động lại thay đổi một lần nữa khi một chiếc tàu

ngầm Uboat dùng ngư lôi tấn công Sussex, một

chuyến tàu chạy bằng hơi nước không trang bị vũ khí

của Pháp, làm thiệt hại 25 người Mỹ.

Bị thúc đẩy bởi các cố vấn và sự phẫn nộ của quần

chúng, Wilson đã gửi một bức thư ngắn đến chính phủ

Đức để tuyên bố rằng, trừ khi ngừng mọi cuộc tấn

công vào các tàu chở hàng và tàu hành khách, nếu

không Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngay lập tức có thể cắt

đứt các quan hệ ngoại giao. Với Bethmann Hollweg

và những người có quan điểm ôn hòa vẫn nắm quyền

chỉ đạo, chính phủ Đức phải đưa ra cái gọi là vật

67

thế chấp Sussex: nó sẽ từ bỏ mọi hoạt động bắn phá

trong mọi trường hợp, ngoại trừ những sự bắn phá có

liên quan đến hải quân của địch. Tuy nhiên, sự thế

chấp phải có đủ điều kiện. Người Đức có thể thực

hiện đúng điều đó chỉ khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

thuyết phục phe Đồng minh hành động đúng theo những

nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Wilson chấp

thuận sự thế chấp Sussex, biết rằng khó có thể ép

buộc quân đội Đồng minh tuân theo những điều kiện

của Đức. Nhưng hòa bình chỉ được duy trì tạm thời,

và Tổng thống, vẫn còn chưa chuẩn bị cho sự can

thiệp của Mỹ, rất hân hoan với sự nghỉ ngơi này.

Trong một lúc nào đó, theo sau sự thế chấp Sussex,

người Đức đã hành động theo một phong cách gương

mẫu. Trong lúc đó, người Anh có vẻ quyết tâm khơi

68

gợi lên sự phẫn nộ của Tổng thống và công chúng. Họ

bắt giữ hành lý và các gói hàng để tìm kiếm hàng

lậu thuế, mở và đọc những lá thư đến và ra khỏi

nước Mỹ, từ chối cho phép những chủ tàu người Mỹ dễ

dàng dùng các nguồn than của Anh, trừ phi họ được

cơ quan thanh tra của người Anh cho phép. Họ cũng

đàn áp một cách thô bạo cuộc nổi dậy Phục sinh ở

Ireland. Sự bắt giữ những người Ailen nổi loạn đã

làm người Mỹ kinh hoảng và gây thiệt hại nghiêm

trọng đến hình ảnh của nước Anh như một người chống

đỡ của chế độ dân chủ. Cuộc đàm phán về chiến

tranh đã trở nên giảm sút khi người Mỹ đã suy nghĩ

lại về động cơ thành lập liên minh.

Cuộc bầu cử năm 1916. Vài tháng sau, sự quan tâm

của công chúng về những công việc của nước ngoài đã

69

bị lu mờ đi bởi sự kích động của cuộc bầu cử Tổng

thống. Năm 1916, Wilson chạm trán với một người

được phe Cộng hòa chỉ định, thẩm phán tòa án tối

cao Mỹ Charles Evans Hughes, người không phải chia

lá phiếu của mình như ứng cử viên phe Cấp tiến là

Taft đã làm vào năm 1912. Hughes là một ứng cử viên

đầy sức thu hút, đã thiết lập một tiếng tăm vững

chắc như một người tham gia vào cuộc vận động Cấp

tiến bởi sự truy tố của mình đối với các công ty

bảo hiểm đặt tại New York. Là Thống đốc bang New

York, ông đã đề cao danh tiếng này bằng việc lập

nên một ủy ban để điều hòa các mức giá về giao

thông vận tải và tiện ích trong bang.

Wilson quay sang bên trái, với sự ủng hộ đạo luật

cho vay trang trại của Liên bang và luật lao động

70

Cấp tiến (tham khảo tại Chương 23), giúp bảo đảm

cho ông chiến thắng được Hughes. Nhưng chiến dịch

còn tùy thuộc rộng rãi vào vấn đề chiến tranh và

hòa bình. Hughes có một nhiệm vụ khó khăn là phải

kết hợp lại với nhau một đảng phái bị phân chia sâu

sắc giữa một bên là những người theo chủ nghĩa can

thiệp thân đồng minh và một bên là một khối lớn

những người ủng hộ Đức-Mỹ. Là một người không có

tài ăn nói, Hughes có vẻ nao núng về những vấn đề

để làm hài lòng mọi phân khúc của việc bỏ phiếu

công

khai. Những đảng viên Đảng Dân chủ thì thẳng thắn

hơn. “Ông ta đã giữ cho chúng tôi đứng ngoài cuộc

chiến tranh” là khẩu hiệu cho chiến dịch của họ.

Một trang quảng cáo của Đảng Dân chủ trên tờ Thời

71

báo New York có nhắc đến những cử tri:

Anh đang làm việc:

Không, đang đánh nhau!

Còn sống và hạnh phúc.

Không có cỏ khô trong hàm ngựa!

Wilson trong tình trạng Hòa bình với danh dự hay

Hughes với Roosevelt và chiến tranh?

Cuộc bầu cử đã kết thúc. Hughes giành được phiếu

bầu ở vùng Đông Bắc và rất nhiều phiếu của miền

Trung Tây. Wilson nắm giữ số phiếu của cử tri miền

Nam, các bang ở miền núi và đa số ở vùng bờ biển

Thái Bình Dương. Vì sự trở về chậm chạp từ

California, cho đến ngày thứ sáu tiếp theo sau ngày

thứ ba của việc bỏ phiếu kín thì Tổng thống

Wil-son mới được đảm bảo nhiều hơn bốn năm tại Tòa

72

Bạch Ốc.

Con đường dẫn tới chiến tranh. Sự tái ứng cử của

Wilson là một lá phiếu về hòa bình. Không còn nghi

ngờ gì, toàn bộ người Mỹ là thân Đồng minh, bất

chấp những điều sai lầm mới đây của người Anh. Họ

hãy còn mong muốn rất nhiều để được đứng ngoài cuộc

chiến. Theo sau thắng lợi của mình, Wilson đã

quyết định thực hiện một sự nỗ lực cuối cùng để ép

buộc cả hai bên nghĩ ra một sự thỏa hiệp hòa bình.

Cuối tháng 12 năm 1916, ông gửi một bức thư ngắn

đến các bên tham chiến yêu cầu họ nói rõ về những

mục đích chiến tranh của mình và đưa ra sự điều

đình một lần nữa. Ông cảnh báo với cả hai phe rằng,

chỉ có duy nhất một “nền hòa bình mà không có

chiến thắng” là có thể kéo dài. Bất kỳ một nền hòa

73

bình nào khác “đều có thể để lại một sự nhức nhối,

một sự oán giận, một ký ức cay đắng mà trên đó các

điều khoản hòa bình chỉ có thể đè nặng... như trên

một vùng cát lún”. Lời nói của vị Tổng thống là lời

tiên tri, nhưng chẳng có phe nào mong muốn ngừng

cuộc chiến và nói chuyện về những điều khoản này.

Các mối quan hệ Đức – Mỹ giờ đây nhanh hóng đi đến

sự khủng hoảng cuối cùng. Cuối năm 1916, sự bế tắc

về quân sự đang trở nên không thể chịu đựng nổi

đối với các tướng lĩnh Đức. Tâm trạng thất vọng

liên tục đã làm suy yếu thêm những người theo quan

điểm ôn hòa và làm củng cố thêm cho quân đội. Tại

một hội nghị quan trọng vào tháng 01 năm 1917, các

tướng lĩnh hung hăng đã nói với Hoàng đế Wilhelm

rằng, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có thể sẽ không bao giờ

74

gửi đủ người tới châu Âu để chọc thủng sự bế tắc.

Vì họ đang sẵn sàng cung cấp cho quân đội Đồng minh

với rất nhiều nguyên liệu chiến tranh và sự giúp

đỡ về mặt tài chính đến mức có thể được, nên Mỹ có

thể tạo ra một ít sự khác biệt nếu họ liên kết với

kẻ thù về mặt hình thức. Hơn nữa, giờ đây Đức cũng

được hỗ trợ mạnh mẽ bằng những chiếc tàu ngầm mà

nếu những người phụ trách tàu ngầm không được đòi

hỏi phải tuân theo những quy định bị áp đặt bởi sự

quan tâm về quan điểm trung lập, thì họ đã có thể

tung ra một cú hạ đo ván nhanh, gọn vào quân đội

Đồng minh. Sự phân tích của các tướng lĩnh đang

thuyết phục Đức đã chọn một cuộc chiến tàu ngầm

không bị giới hạn. Sự lựa chọn này hầu như đã bảo

đảm rằng, những chiếc tàu Mỹ có thể dính líu đến

75

những tai nạn trên vùng biển và những người Mỹ đã

bị lôi kéo vào cuộc chiến.

Ngày 31 tháng 01 năm 1917, đại sứ quán Đức ở

Washington thông tin cho Ngoại trưởng Lansing rằng

Đức có thể sẽ chỉ đạo cho các tàu ngầm U-boat của

mình để nhận chìm mà không cần báo trước mọi con

tàu, cả tàu địch lẫn tàu của phe trung lập, tìm

thấy ở vùng bờ biển phía đông Địa Trung Hải và tại

những hải phận chung quanh quần đảo Anh, Pháp và Ý.

Lệnh mới của người Đức hoàn toàn khước từ vật thế

chấp Sussex. Trung thành với lời hứa của mình,

Wilson đã cắt đứt các quan hệ ngoại giao với Đức.

Đa số người Mỹ, thậm chí cả những người hay chỉ

trích Wilson trước đây, đã tán thành quyết định của

ông. Những người xung phong đã bắt đầu trình diện

76

tại những trung tâm nhập ngũ.

Nhiều tháng trước khi Tổng thống Woodrow Wilson

đắc cử, Robert Lansing, người kế tục Bryan trên

cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, đi đến kết luận

rằng, đế quốc Đức là mối đe dọa đối với nước Mỹ và

đối với nền dân chủ. Lansing không xấu hổ chút nào

trong việc bày tỏ quan điểm của mình. Trong đoạn

trích dưới đây, ông ta đã nói với Tổng thống rằng

ông ta hiểu rõ nước Đức dưới sự cai trị của hoàng

đế Đức như thế nào và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nên

hưởng ứng bằng cách nào. Ngày tháng của đoạn văn

ghi nhớ là ngày 11 tháng 07 năm 1915, khoảng hai

năm trước khi người Mỹ tuyên bố chiến tranh.

“Tôi đã đi đến kết luận rằng chính phủ Đức hết sức

thù địch với tất cả những quốc gia theo thể chế

77

dân chủ vì những người khai sinh ra các thể chế này

xem nền dân chủ là một mối đe dọa chính thể chuyên

chế và đánh bại tham vọng thống trị thế giới của

Đức. Những nhân viên mật vụ Đức đang bày mưu tính

kế và hoạt động ngầm ở khắp mọi nơi để hoàn thành

mục đích cao nhất của chính phủ của mình.

Sự thuyết phục duy nhất mới đây đã cho tôi thấy

rằng, chế độ dân chủ trên toàn thế giới đã bị đe

dọa. Những mối nghi ngờ mơ hồ nhất chỉ cách đây vài

tháng đã ngày càng được xác định rõ hơn. Từ những

nguồn bằng chứng vừa mới xảy ra cho đến khi điều đó

có thể nhắm mắt làm ngơ với nó một cách nực cười.

Không còn nghi ngờ gì nữa, những nhân viên mật vụ

Đức đang hoạt động ở Mexico đang gợi lên cảm giác

chống Mỹ và đưa ra những hy vọng hỗ trợ sai lầm.

78

Bằng chứng thì không thể thuyết phục được, nhưng đủ

để bắt buộc phải tin. Người Đức cũng xuất hiện

trong các hoạt động ở Haiti, San Domingo và có lẽ

cũng đang hoạt động như vậy ở một số nơi khác ở

nước cộng hòa châu Mỹ Latinh.

“Tôi nghĩ rằng điều này đang được thực hiện để làm

cho quốc gia này sẽ gặp phải những rắc rối tại Mỹ

và không thể tham gia vào cuộc chiến tranh ở châu

Âu, nếu có một sự tái diễn những hành động xúc phạm

tương tự như việc nhận chìm tàu Lusitania đòi hỏi

chúng tôi phải hành động. Thậm chí điều này còn có

thể đi xa hơn nữa và có thể gợi đến khả năng của

một cuộc chiến tranh tương lai với nước cộng hòa

này trong trường hợp quân đội Đồng minh có thể bị

đánh bại.

79

Trong những hoàn cảnh như vậy, các chính sách mà

chúng tôi thông qua là cần thiết cho tương lai của

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và tôi tin tưởng chắc chắn

rằng, đối với sự thịnh vượng của toàn nhân loại,

tôi xem sự duy trì vĩnh viễn chế độ dân chủ là niềm

trông đợi duy nhất của nền hòa bình toàn cầu và sự

tiến bộ của thế giới. Ngày nay, chế độ chuyên chế

của người Đức là mối đe dọa to lớn cho nền dân chủ.

Cách điều trị đó đối với tôi dường như là rất rõ

ràng. Đó là Đức không được phép giành thắng lợi hay

hòa trong cuộc chiến tranh này, cho dù để ngăn

chặn nó, quốc gia này bị bắt buộc phải tham gia

tích cực vào cuộc chiến. Điều tối cần thiết này

phải luôn luôn hiện diện thường xuyên trong trí óc

80

của chúng ta, trong những cuộc tranh luận với các

bên tham chiến. Quan điểm công khai của người Mỹ

được chuẩn bị cho lúc này, có thể sẽ đến, khi chúng

tôi sẽ phải ném thái độ trung lập của mình qua một

bên và trở thành một trong những người đứng đầu

của nền dân chủ.

Thật ra chúng tôi phải mạo hiểm vào tất cả mọi thứ

thay vì rời bỏ con đường công khai để đi đến một

sự kết hợp mới của các thế lực, mạnh mẽ hơn và nguy

hiểm hơn đối với tự do hơn là những sự liên minh

của phe trục ngày nay”. chiến tranh. Trong khi ông

đang suy nghĩ cân nhắc, thì những cuộc mít tinh

trên khắp đất nước yêu cầu người Mỹ hãy kiên nhẫn

chịu đựng và đàm phán xa hơn trước khi đi đến bước

cuối cùng. Nhiều sự nghi ngờ vẫn còn đang giữ

81

nguyên của Tổng thống và công chúng đã bị xua tan

bởi sự khám phá một bức thư ngắn bí mật từ Bộ

trưởng ngoại giao Đức, Arthur Zimmermann, gửi đến

công sứ Đức ở Mexico để đề nghị rằng nếu Hợp chủng

quốc Hoa Kỳ và Đức đánh nhau, thì Mexico nên tự

mình liên minh với Đức và giúp thuyết phục Nhật Bản

xoay chuyển lòng trung thành của mình tới các thế

lực Trung tâm. Trong trường hợp chiến thắng, Mexico

có thể được ban thưởng bằng những vùng đất đã mất

của mình ở Texas, New Mexico và Arizona. Bị chặn

đứng bởi sự khôn ngoan của người Anh, “điện tín

Zimmermann” đã đẩy Wilson ra ngoài hàng ngũ. Ngày

kế tiếp, nhận được tài liệu quy trách nhiệm, ông đã

yêu cầu Quốc hội trang bị vũ khí cho các tàu buôn

Mỹ và áp dụng “bất cứ phương tiện nào hay phương

82

pháp nào khác” để bảo vệ cho quyền lợi của người Mỹ

trên các vùng biển. Khi những người theo chủ nghĩa

cô lập trong Thượng nghị viện, dẫn đầu là La

Follette và Geoger W.Norris của Nebraska, đe dọa để

bàn về biện pháp dẫn đến sự chấm dứt, Wilson đã

cho đăng một điện tín làm cho công chúng ngạc nhiên

và giận dữ. Cùng với làn sóng phẫn nộ của dư luận,

Nhà Trắng đã cho Wilson quyền lực mà ông ta muốn.

Nhưng những người theo chủ nghĩa cô lập trong

Thượng nghị viện đã ngăn chặn hành động bất chấp sự

kết tội của Wil-son cho họ là một “nhóm nhỏ những

người cứng đầu, không đại diện cho quan điểm nào

ngoài quan điểm của riêng mình”.

Wilson từ chối dừng lại, và ngày 09 tháng 03, ông

tuyên bố đang trang bị vũ khí cho các tàu buôn Mỹ

83

theo thẩm quyền của mình là tổng tư lệnh. Chẳng bao

lâu sau, ba tàu buôn lại bị tàu ngầm Đức nhận

chìm, thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Sự phẫn nộ

của quần chúng lên đến cực điểm, và ngay cả một số

những người theo chủ nghĩa xã hội lỗi lạc giờ đây

cũng yêu cầu chiến tranh. Trong tâm trí của nhiều

người Mỹ, những nghi ngờ cuối cùng về động cơ của

sự liên minh đã bốc hơi khi nền tự do đang dậy lên

ở nước Nga đã đánh bại hoàn toàn chính thể chuyên

quyền độc đoán của Sa hoàng. Giờ đây Hiệp chủng

quốc Hoa Kỳ đã có thể thanh thản tuyên bố rằng đó

là cuộc chiến đấu đứng về phe dân chủ.

Thông điệp chiến tranh của Wilson. Buổi chiều ngày

02 tháng 04 năm 1917, Tổng thống xuất hiện trước

một cuộc họp liên kết của Quốc hội để yêu cầu một

84

sự tuyên bố chiến tranh. Ông nói rằng, ông không

thể thoát khỏi sự thuyết phục rằng, người Đức đã

coi thường quyền lợi và cuộc sống của người Mỹ,

được thể hiện bằng cuộc chiến tranh tàu ngầm dã

man, không bị hạn chế, không để lại một tiến trình

nào khác. Nhưng ông kêu gọi đến những sự xem xét

cao hơn về mặt đạo lý hơn là sự tự bảo vệ. Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ có thể đang đấu tranh vì rất

nhiều con người, ông nói, vì “sự xác minh quyền,

quyền của con người” chống lại “chính thể chuyên

quyền độc đoán được ủng hộ phía sau bởi một quyền

lực có tổ chức”. Khi người Mỹ phải đối mặt trong

một thời gian dài với “những thử nghiệm và hy sinh

nảy lửa” ở phía trước, có thể họ đã quên rằng họ

đang chiến đấu cho:

85

Những gì mà chúng tôi luôn đem theo gần gũi nhất

với những trái tim của mình-vì nền dân chủ, vì

quyền lợi của những người đã khuất phục quyền lực

để có tiếng nói trong chính phủ của riêng mình, vì

quyền lợi và sự tự do của các quốc gia nhỏ bé, vì

sự chi phối quyền lợi toàn cầu của bởi sự phối hợp

của những con người tự do khi đem lại hòa bình và

an toàn cho mọi quốc gia và cuối cùng là làm cho

thế giới được tự do.

Thượng viện thông qua tuyên bố chiến tranh vào

ngày 04 tháng 04. Sự chấp thuận của Nhà Trắng tiếp

theo sau đó vào ngày 06 tháng 04.

CHIẾN TRANH

Cuối cùng thì Mỹ đã vào cuộc. Tại Lon-don, Roma,

và Paris, đám đông quần chúng hoan nghênh tin tức

86

này và uống rượu chúc mừng Hợp chủng quốc Hoa kỳ

cùng vị Tổng thống vĩ đại của họ. Sự giảm sút tinh

thần của quân đội Đồng minh đã nâng cao lên. Tại

Mỹ, phần lớn những người theo chủ nghĩa xã hội và

rất đông những người theo chủ nghĩa cô lập miền

Trung Tây vẫn còn phản đối chiến tranh. Nghị sĩ

Norris buộc tội rằng nguyên nhân chủ yếu của cuộc

chiến là kinh tế và do vậy người Mỹ có thể “đang hy

sinh hàng triệu… sinh mạng những người dân của

mình để cho những người dân các nước khác có thể

hái ra tiền từ máu thịt của họ”. Nhiều người Đức –

Mỹ, Ailen – Mỹ và một số ít những nhà trí thức vẫn

còn hoài nghi về động cơ liên minh. Nhưng về mặt

tổng thể, người Mỹ đang gắn chặt vào cuộc chiến

bằng cả trái tim nhiệt thành và chấp nhận hy sinh

87

khi được yêu cầu.

Sự huy động. Cùng lúc đó, các nguồn lực của quốc

gia cần phải được huy động. Người Mỹ không mong đợi

phải đưa một số lượng lớn người ra các mặt trận

chiến đấu, nhưng chẳng bao lâu điều này đã trở nên

rõ ràng rằng quân đội Đồng minh khó có thể chiến

đấu mà không có quân đội Mỹ. Cuộc Cách mạng Nga vào

tháng 03 năm 1917 đã được theo sau bởi cuộc Cách

mạng Cộng sản vào tháng 10 năm 1917. Chẳng bao lâu

sau, những đảng viên Đảng Cộng sản đã mở những cuộc

đàm phán hòa bình với Đức, trả tự do cho quân đội

và thiết bị của Đức đang chiến đấu với người Nga để

chuyển dịch về mặt trận phía Tây. Khi lực lượng

quân đội khổng lồ này được chuyển tới để đối địch

với Pháp và Anh, rõ ràng rằng chỉ có lực lượng của

88

người Mỹ mới có khả năng bù đắp cho sự tràn dâng

sức mạnh của người Đức.

Chế độ quân dịch đầu tiên từ cuộc Nội chiến đã

cung cấp nhân lực cần thiết. Nó hoạt động tốt một

cách đáng ngạc nhiên. Được các ban tuyển mộ quân

dịch địa phương quản lý một cách kỹ lưỡng, nó không

khuấy động lên cảm giác của sự phân biệt giai cấp

như đã nảy sinh trong cuộc Nội chiến. Với sự giúp

đỡ của nó, quân đội đã phát triển từ 200.000 cho

đến 4 triệu quân. Những người trúng tuyển quân dịch

được gửi đến 32 trại huấn luyện và nhanh chóng trở

thành binh sĩ.

Cuối cùng thì hơn 2 triệu quân lính Mỹ được gửi

đến Pháp và 1,4 triệu người nhận nhiệm vụ ở các mặt

trận phía trước. Những lính bộ binh Mỹ ở mặt trận

89

phía Tây là đáng thương như những người lính ngang

hàng với họ ở châu Âu. Họ phải đối mặt với cát bụi,

mưa gió, côn trùng và thường xuyên sợ hãi với cái

chết. Họ nằm chen chúc nhau trong những chiến hào

trong lúc pháo bắn dữ dội, chịu đựng những trận dội

bom trên mặt đất kéo dài nhiều ngày. Họ “đã đi đến

đỉnh cao” trong những cuộc tấn công dữ dội chống

lại sự xâm lấn của kẻ thù, đang hy sinh tính mạng

vì một vài dặm đất. Khoảng 50.000 người đã hy sinh

trong trận đánh, một số lượng tương đương chết vì

bệnh tật.

Hải quân Mỹ, dưới sự chỉ huy của đô đốc William S.

Sims, đã hộ tống quân đội và cung cấp tàu bè cho

Pháp và giúp kết liễu mối đe dọa tàu ngầm Đức đối

với người Anh. Đối với tất cả những người lính Mỹ

90

hộ tống an toàn đến Pháp, hải quân phải bảo đảm cho

sự đến nơi của 50 pound hàng hóa và trang thiết bị

mỗi ngày. Hàng triệu tấn lương thực, đạn dược, xe

cộ, thuốc men, quần áo, súng ống, ngựa, và nhiên

liệu được chuyên chở bằng phà từ các cảng biển miền

Đông đến Le Havre, Bordeaux, Calais, Brest và

Boulogne, với thiệt hại rất ít từ các tàu ngầm Đức.

Nỗ lực chiến tranh tại quê nhà. Nỗ lực quân sự và

hậu cần to lớn này có thể được tạo ra bởi sự huy

động có hiệu quả các nguồn lực về kinh tế và tình

cảm tại quê nhà. Cuộc chiến

ã làm hao tốn của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 9 đến

33 tỷ đô la dùng cho quân đội Đồng minh vay muợn.

Khoảng ¼ con số khổng lồ này được gia tăng thêm bởi

91

các sắc thuế. Các loại thuế phục vụ chiến tranh

được nâng cấp ở mức độ cao, đang chiếm khoảng 75%

những khoản lợi tức lớn nhất. Thuế di sản 25%, thuế

lợi nhuận thặng dư chiếm 65%, và các loại thuế

đánh vào các loại hàng hóa khác nhau trong nước

cũng giúp trải rộng gánh nặng về thuế trên toàn bộ

dân cư. Phần tiền còn lại lấy từ ngân hàng và việc

bán công khai các trái phiếu Tự do, không chỉ để sử

dụng cho chiến tranh mà còn giúp thúc giục chạy

tới sự nhiệt tình dành cho nỗ lực chiến tranh.

Tuy nhiên, hàng tỷ đô la đó cần phải được triển

khai một cách có hiệu quả. Vì mục đích này, chính

phủ Wilson đã mượn một trang từ những người Cấp

tiến theo chủ nghĩa quốc gia mới bằng việc thiết

lập một tập hợp những tổ chức liên bang mới. Chiến

92

tranh kết thúc, những bộ phận quản lý này được giao

cho nhiều quyền lực mới và có quyền kiểm soát chưa

từng thấy đối với nền kinh tế. Họ cũng dự đoán

trước một số cơ cấu chính quyền, những biện pháp

của sự thỏa thuận mới và báo trước nỗ lực huy động

cho chiến tranh thế giới lần II.

Việc sản xuất lương thực phát triển mạnh dưới sự

chỉ đạo của nhà quản lý lương thực Herbert Hoover,

người đã giám sát việc cứu trợ lương thực cho nước

Bỉ bị tàn phá từ đầu cuộc chiến tranh. Những người

Mỹ đã tình nguyện tuân theo những ngày “không lúa

mì“ và “không thịt” trong một chiến dịch có hiệu

quả đáng ghi nhớ để tồn trữ lương thực. Ban quản lý

lương thực đảm bảo một mức giá thu hút đối với

toàn bộ vụ thu hoạch lúa mì của cả năm 1917, tạo ra

93

một bước nhảy vọt đầy ấn tượng trên hàng ngàn mẫu

ruộng trồng lúa mì. Vườn rau xuất hiện ở khắp nơi,

và các loại thịt chẳng hạn như ngựa và thỏ cũng

được đưa vào bữa ăn chiến tranh hàng ngày. Ban quản

lý lương thực là một sự thành công lớn, và góp một

vai trò không nhỏ vào sự tin yêu của quần chúng

đối với Hoover sau chiến tranh.

Bộ công nghiệp chiến tranh, đứng đầu là nhà môi

giới phố Wall, Bernard Baruch, đã hoàn thành công

việc rất tốt sau sự khởi đầu chậm chạp. Các nhà máy

sản xuất vũ khí và quần áo trang bị cho lính bộ

binh Mỹ tốt hơn so với bất kỳ lực lượng quân đội

nào khác trên thế giới. Những xưởng đóng tàu Mỹ đã

cố gắng hết sức, nhưng không phải lúc nào cũng

thành công, với nhiệm vụ chủ yếu là thay thế những

94

chiếc tàu của quân đội Đồng minh bị tàu ngầm Đức

đánh đắm. Bộ công nghiệp đã thiết lập nên những

phương tiện sản xuất mới, chuyển đổi những phương

tiện đang có sẵn phục vụ cho mục đích chiến tranh,

phát triển những nguồn nguyên liệu mới, phục vụ với

hình thức là một đại lý mua bán cho quân đội Đồng

minh, chuẩn hóa hàng ngàn mặt hàng và thiết lập

những quyền ưu tiên nghiêm ngặt về kinh tế.

Đồng thời, Ban quản lý đường sắt của Hợp chủng

quốc Hoa Kỳ đã nắm quyền kiểm soát chặt chẽ tuyến

giao thông đường sắt trong nước, phải vận chuyển

hàng triệu hành khách và hàng tấn hàng hóa nhiều

hơn so với thời bình. Ban quản lý đã kết hợp các

tuyến đường sắt thành các đơn vị mang tính khu vực,

hạn chế du lịch hành khách không cần thiết, tiêu

95

chuẩn hóa tốc độ và lịch trình, và dành quyền ưu

tiên cho vũ khí đạn dược hơn là các loại hàng hóa

không thiết yếu khác.

Bộ trưởng Bộ nhiên liệu, Harry A.Garfield trở

thành một nhà độc tài thật sự trong việc cung cấp

nhiên liệu quốc gia. Khi sự thiếu hụt than đá đã

không làm di chuyển được 37 chuyến tàu chở đạn dược

đến cảng New York trong mùa đông khắc nghiệt

1917-1918, ông ta đã cho đóng cửa tất cả các nhà

máy sản xuất của dân thường để lấy than của họ dùng

vận hành cho các chuyến tàu. Bộ nhiên liệu cũng

yêu cầu các chủ nhà máy xe hơi phải tồn trữ xăng

trong các chuyến xe tải để vận chuyển các loại hàng

hóa thiết yếu.

Chiến tranh đã kích thích quá mức nền kinh tế.

96

Tình trạng thất nghiệp đã tan chảy, và chẳng bao

lâu những người đàn ông và phụ nữ đã phải làm việc

rất nhiều giờ với đồng lương hậu hĩnh. Nhưng bất

chấp mức thuế cao và các khoản vay vì sự chiến

thắng và tự do đã bòn rút rất nhiều sức mua bán

thặng dư, giá cả vẫn gia tăng đột ngột và bù đắp

rất nhiều khoản kiếm được của người công nhân.

Chẳng bao lâu, điều này trở nên rõ ràng rằng sức

lao động cần phải được điều tiết, cùng với các

thành phần khác của nền kinh tế, để bảo đảm cho

công việc không bị ngắt quãng, ngăn ngừa sự đình

công đòi lương bổng cao hơn, và dành những quyền ưu

tiên cao nhất cho ngành công nghiệp chiến tranh.

Để đạt được những mục tiêu này, Wilson đã tạo ra Bộ

các chính sách về lao động chiến tranh. Bằng việc

97

đương nhiên thừa nhận các liên đoàn, tổ chức lao

động và xây dựng các điều kiện làm việc một cách

tổng quát có lợi cho sự tạo ra thu nhập, bộ đã áp

được tình trạng lao động yên bình trong suốt thời

kỳ chiến tranh. Nó cấm đoán được sự đình công,

nhưng bộ cũng bắt buộc ban quản lý đàm phán với các

liên đoàn lao động. Theo những chính sách này, AFL

và các liên đoàn khác đã mở rộng số hội viên của

mình hơn 4 triệu người, tăng 50% so với năm 1914.

Một nguyên tắc cơ bản vững chắc của Bộ các chính

sách lao động chiến tranh là phụ nữ nên được trả

lương ngang bằng với công việc tương đương trong

ngành công nghiệp chiến tranh. Mức lương cao, được

khuyến khích bằng những sự thiếu hụt lao động trong

thời chiến và các chính sách của Bộ lao động,

98

chẳng bao lâu đã thu hút hàng ngàn phụ nữ vào lực

lượng lao động. Nhiều phụ nữ đã đi đến “những nơi

xa xôi đó” với những người lính thủy đánh bộ, làm

việc như những y tá và tài xế xe cứu thương và đại

diện cho các tổ chức, chẳng hạn như Bảo vệ quân đội

và Chữ thập đỏ. Chiến tranh đã làm cho những người

phụ nữ quen với công việc làm bên ngoài ngôi nhà

của mình và thúc đẩy tính độc lập về mặt kinh tế.

Những người da đen cũng tạo ra những lợi ích về

mặt kinh tế. Với hàng triệu người phục vụ trong

quân đội và sự nhập cư của người châu Âu ở mức thấp

chưa từng thấy, lực lượng lao động Mỹ bị giảm sút

một cách trầm trọng, ngay khi nền kinh tế cần có

sức lao động nhiều nhất. Để đáp ứng sự thiếu hụt

này, các công nhân bị bắt buộc phải hạ thấp hơn

99

những rào cản, định kiến của mình đối với người lao

động da đen. Hàng ngàn nam giới và phụ nữ da đen

chẳng bao lâu đã rời khỏi những trang trại ở miền

Nam để đến làm việc với mức lương cao trong những

nhà máy phục vụ cho chiến tranh ở miền Bắc.

Một trong những cơ quan quan trọng nhất trong thời

chiến là Ủy ban thông tin công cộng (CPI), được

lập ra để “huy động trí óc của thế giới”. Để Wilson

đấu tranh giành được trí óc của con người, “cuộc

tìm kiếm những sự thuyết phục của họ” đúng là cũng

khẩn cấp như sự nỗ lực chiến tranh. Để tổ chức

tuyên truyền cho chiến tranh ông đã chọn Geoger

Creel, một nhà báo cấp tiến có năng khiếu kể chuyện

và nghệ thuật diễn thuyết hùng hồn. Creel đã huy

động hàng ngàn người trong giới nghệ thuật, quảng

100

cáo, và những bức tranh lưu động để “quảng cáo cho

nước Mỹ”. Dưới sự khuyến khích của Creel, một số

những nhà nghệ thuật tài năng nhất của quốc gia đã

thiết kế Liberty Loan và tuyển mộ những người dán

quảng cáo. Một đội quân gồm những người thuyết

trình, được gọi là “những người bốn phút”, đã phân

phát những bài diễn thuyết súc tích trên khắp các

ngả đường trong nước theo những chủ đề như “Việc

duy trì đạo lý và tinh thần”; “Tại sao chúng ta

phải chiến đấu?” và “Ý nghĩa của nước Mỹ”. Creel đã

viết sau chiến tranh: “Không có bộ phận nào trong

cỗ máy chiến tranh to lớn mà chúng tôi không chạm

tay vào, không có phương tiện kêu gọi nào mà chúng

CHÂN DUNG LỊCH SỬ: GEOGER CREEL

Chiến tranh thế giới lần II đến một cách bất ngờ

101

với cái chết trên bầu trời Trân Châu Cảng; cuộc Nội

chiến đã đến bằng một trận ném bom vào căn cứ của

Hoa Kỳ tại cảng Charleston. Cả hai trận tấn công

đều gây sốc cho người Mỹ và đã đoàn kết họ lại với

nhau, dù chỉ là tạm thời ở phía sau sự nỗ lực để

đánh bại kẻ thù.

Năm 1917, chiến tranh đã xảy ra chỉ sau hai năm

rưỡi tranh luận, bỏ lại một quốc gia thiếu tự tin

và những mục tiêu của nó. Hàng triệu người Mỹ có

một chút lý do để yêu thích Anh hay Nga, hai trong

số các nước đồng minh chủ yếu của chúng ta; nhiều

người khác thì lại có động cơ mạnh mẽ hơn để yêu

thích người Đức, Vaterland của họ, kẻ thù chủ yếu

của chúng ta. Hàng ngàn người Mỹ phản đối tất cả

những cuộc chiến tranh; hàng ngàn người khác phản

102

đối mọi cuộc “chiến tranh của chủ nghĩa tư bản”.

Căn cứ vào những sự việc này, những người Mỹ có thế

lực ủng hộ chiến tranh đã sợ rằng quốc gia có thể

không có khả năng vận động bản thân mình đối với

cuộc chiến đấu khó khăn ở phía trước. Vì lý do này

mà ngày 13 tháng 04 năm 1917, chỉ sau một tuần lễ

tuyên bố chiến tranh, Tổng thống Woodrow Wilson đã

ban hành một mệnh lệnh đã được chính phủ thông qua

về việc lập ra Ủy ban thông tin công cộng (CPI) và

chỉ định Geoger Creel của Denver đứng đầu Ủy ban

này.

Geoger Creel là một sự lựa chọn đúng đắn, là người

có kinh nghiệm và những giá trị đáp ứng với nhiệm

vụ được yêu cầu. Cha của ông trước đây là một công

chức ly khai, người chưa bao giờ vượt qua được sự

103

thất bại của miền Nam và trong khi vợ ông giúp đỡ

gia đình bằng việc điều hành một nhà trọ, thì bản

thân ông lại uống rượu từ từ cho đến chết. Geoger

Creel trở thành một nhà báo vào tuổi thanh niên và

trong một thời gian ngắn đã xuất bản một tờ báo vận

động tại thành phố Kansas City. Năm 1909, ông

chuyển đến Denver để biên tập trước tiên cho tờ

Denver Post hay phô trương, sau đó biên tập cho tờ

Thời báo Rocky Mountain News.

Creel là một người Cấp tiến có đầy đủ tư cách, đã

dùng nghề viết báo của mình để cải tiến mục đích,

sự nghiệp của “con người” chống lại “mọi quyền

lợi”. Có lần ông đã gặp trở ngại vì việc giới thiệu

11 nghị sĩ của bang Colorado có giao kết chặt chẽ

với các tập đoàn kinh doanh khai thác đã bị hành

104

hình theo kiểu Lynch. Creel cũng có quan điểm xã

hội tự do. Được bầu làm ủy viên hội đồng kiểm soát

vào năm 1912, ông đã áp dụng những lý thuyết luật

pháp của thẩm phán tòa án Denver nổi tiếng, ngài

Benjamin Lindsey, đối với thảm họa gái mại dâm

thành thị. Thay vì bắt giữ những người phụ nữ hay

ít ra là đuổi họ ra khỏi thành phố, ông lại tổ chức

một trung tâm phục hồi cho họ, đứng đầu trung tâm

này là một phụ nữ rất nhiệt tình.

Năm 1916, Creel viết một cuốn sách có tựa đề

Wilson và các vấn đề, đã trở thành chủ đề chính

trong nỗ lực tái bầu cử của ngài Tổng thống. Tác

phẩm miêu tả Wilson trong cuộc đấu tranh chật vật,

cao thượng để né tránh chiến tranh, luôn được xác

định là bảo vệ cho quyền lợi của Hợp chủng quốc Hoa

105

Kỳ. Điều này đã làm ngài Tổng thống “hết sức hài

lòng” và đã đền công cho Creel bằng sự bổ nhiệm

đứng đầu Ủy ban CPI.

Là người đứng đầu của một cơ quan mới, Creel đã

phải cố gắng để tránh né sự quá khích hay sự từ bỏ

các giá trị nhân bản và tự do của Mỹ. Tháng 03 năm

1918, ông đã viết cho một đảng viên Đảng Dân chủ

Cấp tiến: “Tôi nên hỗ trợ mọi biện pháp cần thiết

để hướng đến mục tiêu tối cao của việc đánh bại… sự

liên kết xấu xa của tính độc đoán, quân phiệt, và

chủ nghĩa tư bản bóc lột đang chi phối nước Đức; đe

dọa sự tự do và nền tự trị ở khắp mọi nơi…[Nhưng]

tôi chỉ yêu cầu và mong đợi sự hỗ trợ của những

người đã tin rằng vì tự do chính trị và tiến bộ xã

hội, nước Mỹ phải chiến thắng cuộc chiến này trong

106

khi nó củng cố mọi vị trí đã giành được từ các lực

lượng phản ứng và sự cố chấp về chính trị ở trong

nước”. Những hy vọng của Creel có thể bị thất vọng.

Thậm chí trước khi CPI bắt đầu gióng những tiếng

trống của chủ nghĩa yêu nước, người Mỹ đã bị nắm

chặt bởi sự bộc phát một nỗi sợ hãi vô lý và không

thể tha thứ được. Trong suốt thời kỳ 1914 - 1916,

khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trở thành người cung cấp

vũ khí đạn dược chủ yếu cho quân đội Đồng minh, các

nhân viên mật vụ Đức đã hoạt động ở phần bên này

của Đại Tây Dương. Một khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã

tham gia vào cuộc chiến tranh, trong sự không suy

xét, nó đã dễ dàng đánh đồng sự chống đối chiến

tranh của những người Đức- Mỹ, những người yêu

107

chuộng hòa bình, và những người theo chủ nghĩa xã

hội với hoạt động gián điệp. Một số người thuộc

đảng Bảo thủ đã nắm lấy các vấn đề của chủ nghĩa xã

hội để thâu tóm mọi quan điểm chính trị từ phe tả

vào giữa, kể cả chủ nghĩa Cấp tiến, dưới dạng chống

người Mỹ. Quốc hội còn thúc đẩy thêm tâm trạng sợ

hãi bằng việc thông qua một loạt những biện pháp

đàn áp, bao gồm đạo luật về hoạt động gián điệp và

đạo luật mua bán trao đổi thương mại với kẻ thù.

Những đạo luật này tạo ra việc hỗ trợ kẻ thù, gây

trở ngại cho việc tuyển mộ quân đội, hay đang

thuyết giáo về những tội lỗi không trung thành mà

có thể bị trừng phạt bởi những bản án cứng nhắc. Họ

thiết lập một ban giám sát để kiểm tra những thông

tin giữa công dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với công

108

dân của các nước khác, và đưa ra những hình phạt

khắt khe đối với bất cứ người nào lưu hành, viết

hay xuất bản “ngôn ngữ bất trung, xúc phạm, thô lỗ,

hay lăng mạ hình thái chính quyền, hiến pháp, quân

đội hay các lực lượng hải quân của Hợp chủng quốc

Hoa Kỳ…, hay bất kỳ ngôn ngữ nào có ý định đưa hình

thái chính quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ..thành

coi thường, khinh miệt, hay bất đồng ý kiến”. Một

trong những người mà Wilson bổ nhiệm vào Cơ quan

kiểm duyệt là Geoger Creel.

Chức năng hoạt động chính của CPI là phân phối

những bản tin của chính phủ. Các viên chức xem điều

này như một cách thức duy trì điều tốt được thông

báo công khai, nhưng chắc chắn CPI đã nắm giữ nhiều

thông tin về chiến tranh như nó đã phổ biến. Ngoài

109

công tác kiểm duyệt gián tiếp này, CPI còn đề ra

những hướng dẫn có chiều hướng ngăn cấm đối với

những tin tức không nên được xuất bản trong bất kỳ

hoàn cảnh nào và những tin tức không rõ ràng thích

đáng. Dù CPI không có quyền trừng phạt, nhưng sự

khiển trách của nó đối với những tờ báo vi phạm các

hướng dẫn là sự cưỡng bức một cách chắc chắn và là

tấm chắn ngăn dòng thông tin tự do đến với công

chúng Mỹ. Sự can thiệp của Creel với hoạt động báo

chí tự do đã làm cho ông trở thành mục tiêu của vô

số những sự tấn công. Một số sự tấn công đúng là

đáng bị như vậy, nhưng thường thì ông chỉ là một

tấm bung xung để những kẻ chống đối chính quyền

trút giận, những người e sợ phải tấn công vào chính

bản thân ngài Tổng thống.

110

Đối với CPI, chức năng còn quan trọng hơn so với

công tác kiểm duyệt là nó hoạt động như một cơ quan

tuyên truyền. Creel hy vọng sẽ làm cho rõ ràng các

mục tiêu chiến đấu của quốc gia và vận động quần

chúng đạt được những mục tiêu đó. Ông khẩn khoản

nài xin một chỗ trống từ các nhà xuất bản báo và

tạp chí và điền vào đó bằng những bài báo nói về

chủ nghĩa yêu nước, những quảng cáo dành cho trái

phiếu Tự do, và những cuộc tấn công vào “chủ nghĩa

Phổ” có thể lan rộng khắp thế giới nếu như vua Đức

không dừng lại. CPI đã tạo ra bộ phận báo ảnh công

khai do người vẽ tranh minh họa Charles Dana Gibson

phụ trách. Gibson và các hội viên của ông từ thế

giới nghệ thuật đã tạo nên hàng trăm bưu ảnh, hình

hoạt động và tạp chí báo ảnh minh họa các chiến sĩ

111

và các thủy thủ anh hùng của Mỹ, những bà nội trợ

yêu nước và cái nhìn hằn học vào những “người Phổ”

hung ác.

Một trong những kế hoạch được đón nhận nồng nhiệt

nhất là “người đàn ông bốn phút”. Có đến 75.000

người tình nguyện phân phát những bài viết ngắn,

sôi nổi thôi thúc những hành động yêu nước chẳng

hạn như mua trái phiếu, tồn trữ lương thực và dâng

tặng những chiếc ống nhòm cho hải quân. Họ trình

bày những mục tiêu chiến tranh của người Mỹ, giải

thích công việc của chế độ quân dịch và nói với cử

tọa làm thế nào để duy trì đạo lý. Họ thường mô tả

những hành động tàn bạo của người Đức chống lại

thường dân ở Bỉ. Họ nói chuyện tại các giảng đường,

nhà hát, rạp chiếu bóng, dùng mọi thứ ngôn ngữ mà

112

công chúng Mỹ nói bằng nhiều thứ tiếng vào lúc đó.

Hai trong số những liên minh mạnh mẽ nhất của CPI

trong việc tạo ra dư luận chung là ngành công

nghiệp điện ảnh và trường đại học. Nóng lòng muốn

chứng tỏ chủ nghĩa yêu nước của mình, những người

có thế lực trong ngành điện ảnh đã nhanh chóng đưa

ra các dịch vụ cho CPI. Creel sung sướng nhận lấy

sự cung cấp này, và trong suốt giai đoạn chiến

tranh, CPI và Hollywood đã hợp tác trong hàng loạt

các phim tài liệu và phim truyện. Một trong những

bộ phim này là Những chiến sĩ da màu của chúng ta,

được dàn dựng để thu hút khán giả da đen. Một phim

khác là Hoàng đế Đức, kẻ hung bạo của Berlin, đã có

sức thu hút trong một khoảng thời gian dài tại các

nhà hát nơi nó được công chiếu. Thêm vào đó, CPI

113

còn sử dụng các ngôi sao Mary Pickford, Douglas

Fairbanks và Theda Bara để bán trái phiếu của đảng

Tự do.

Các học giả và viện sĩ hàn lâm quốc gia cũng phụ

họa theo những mục tiêu của Creel. Bộ phận hợp tác

giáo dục và dân sự của CPI, đứng đầu là chủ nhiệm

khoa Stanton Ford của Trường Đại học Minnesota, đã

dùng một số nhà sử học và các nhà khoa học xã hội

lỗi lạc nhất của quốc gia để khuấy lên hàng trăm

trang tuyên truyền cho chiến tranh dưới chiêu bài

học bổng. Giống như hầu hết tất cả cuộc tuyên

truyền chiến tranh, những tài liệu này đã ca ngợi

chính nghĩa của người Mỹ và miệt thị nước Đức hống

hách, các giá trị và các thể chế của nó. Cuốn sách

nhỏ được xoay vòng, lưu hành rộng rãi nhất của bộ

114

phận là bản dịch tiếng Đức có tựa đề Sự trung thành

của người Mỹ bên cạnh thế hệ các công dân Đức, một

tác phẩm chứng tỏ chủ nghĩa yêu nước của dân cư

Đức –Mỹ. Hãy còn nhiều nỗ lực của CPI để ngăn ngừa

sự cố chấp, mù quáng vô thần bên trong một quốc gia

đã thất bại. Cuối cùng, chiến dịch tuyên truyền

chống Đức đã khuyến khích sự không dung thứ đang

lan rộng khắp nước Mỹ.

Sau chiến tranh, Creel ủng hộ cho chủ nghĩa quốc

tế của những người theo Wilson và Liên minh các

quốc gia. Ông chuyển đến San Francisco vào năm 1926

và trở thành hội viên của tinh hoa văn hóa thành

phố. Trong suốt giai đoạn Thỏa thuận mới, ông đã

nắm giữ các chức vụ với WPA và các cơ quan chính

phủ khác, nhưng đã tuyệt giao với Roosevelt trong

115

chiến tranh thế giới lần II. Ông cho rằng, Tổng

thống và những người đồng nghiệp của ông ta đã quá

khoan dung đối với kẻ thù. Khi tuổi đã cao, Creel

trở thành một người chống chủ nghĩa cộng sản mạnh

mẽ. Phần lớn cuộc đời mình, ông đã cố gắng (dù

không phải lúc nào cũng thành công) né tránh những

cách thức suy nghĩ đơn giản thái quá. Nhưng giờ

đây, ông đã mất cảm giác của sự cân bằng và vô tình

đã tự biến mình thành một ví dụ minh họa cho sự

không dung thứ kẻ thù của mình, điều mà ông đã bị

quy cho một cách hoàn toàn bất công trong nhiều năm

trước khi ông lãnh đạo Ủy ban thông tin công cộng

(CPI).

tôi không áp dụng để làm cho những người của chúng

tôi và tất cả những người khác trên thế giới hiểu

116

được nguyên nhân bắt buộc nước Mỹ phải cầm vũ khí”.

Các quyền tự do cơ bản của công dân trong thời

chiến. Chiến dịch của Creel là hết sức hiệu quả

trong việc thôi thúc nhiệt tình đối với chiến tranh

và mục tiêu đã thông báo của Wilson về việc làm

cho thế giới “an toàn cho nền dân chủ”. Cuộc chiến

nóng bỏng cũng gây ra một làn sóng của sự không

dung thứ, chống lại những người không thể hiện tinh

thần yêu nước đích thực, hoặc những người nuôi

dưỡng những quan điểm của chủ nghĩa hòa bình hay

Chủ nghĩa xã hội.

Nhanh chóng đi đến ý nghĩa của tâm trạng siêu ái

quốc mới, Quốc hội đã thông qua đạo luật hoạt động

gián điệp và đạo luật mua bán với kẻ thù vào năm

1917. Đạo luật về hoạt động gián điệp đưa ra những

117

hình phạt khắt

khe đối với những người phạm tội về việc gây trở

ngại cho việc tuyển mộ quân đội, tiếp tay với kẻ

thù, hay khuyến khích bất cứ người nào không trung

thành, không phục tùng, hay từ chối nhiệm vụ phục

vụ trong quân đội. Theo đạo luật này, Tổng cục

trưởng Tổng cục bưu điện có thể ngăn chặn, loại bỏ

ra khỏi thư tín bất cứ loại tài liệu nào mà ông ta

cho là phản nghịch hay nổi loạn. Đạo luật mua bán

với kẻ thù cho phép chính phủ có quyền tịch thu và

điều hành những doanh nghiệp do người Đức làm chủ;

kiểm duyệt thông tin liên lạc quốc tế và báo chí

bằng tiếng nước ngoài. Năm 1918, Quốc hội thông qua

đạo luật về sự nổi loạn, tạo ra bài nói chuyện

“không trung thành“ hay “nổi loạn” chống lại chiến

118

tranh và “ngôn ngữ thô lỗ, xúc phạm, lăng mạ” đối

với Hiến pháp, quốc kỳ, hay một tội ác đối với các

lực lượng vũ trang.

Nhiều tháng trước khi chiến tranh được tuyên bố,

Wilson đã cảnh báo về sự không dung thứ mà nó có

thể mang lại. Khi chiến tranh xảy đến, chính phủ

của ông đã chất hàng đống khó khăn lên những người

không theo chính thống. Tổng cục trưởng Tổng cục

bưu điện Albert S. Burleson đã loại trừ những ấn

phẩm chống đối chiến tranh. Trong phiên tòa xét xử

vụ Schneck chống Mỹ, Tòa án Tối cao đã phê chuẩn sự

kết tội một người về việc gửi những thông báo thôi

thúc lính tuyển mộ từ chối tham gia quân đội.

Trong chiến tranh, như thẩm phán tòa án Oliver

Wendell Holmes, Jr. đã nói với phần đông những

119

người có mặt tại Tòa, những loại tài liệu như vậy

đã đem lại “một mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu”

cho quốc gia và có thể bị áp dụng chế tài luật

pháp. Năm 1918, Bộ Tư pháp đã truy tố và bảo đảm sự

kết tội Eugene V. Debs và Victor L.Berger, những

thủ lĩnh đảng xã hội, về việc khuyến khích sự né

tránh quân dịch.

Các viên chức địa phương liên kết thành một giàn

đồng ca hà khắc, phạt và tống giam những người nói

thẳng chống đối chiến tranh. Trong lúc đó, các đội

viên dân phòng và những người bảo vệ tự bổ nhiệm ở

thôn quê đã đe dọa những người “trốn việc” và những

người được cho là có tính cách phản nghịch.

Một trong những tổn thất chiến tranh là sự khoan

dung về dân tộc. Bằng việc phác họa chân dung kẻ

120

thù người Đức như “những con chó sói của Kulture”,

“những kẻ vô giáo dục của nước Phổ”, và “những con

thú của thành Berlin” của CPI của Creel, những

người siêu ái quốc đã tấn công vào người láng giềng

Đức - Mỹ của họ. Nhiều trường trung học và đại học

đã đình chỉ việc giảng dạy của người Đức. Đối với

những người siêu ái quốc thì món dưa cải bắp của

Đức đã trở thành “cải bắp tự do” và bệnh sởi của

người Đức trở thành “bệnh sởi tự do”.

Tâm trạng phổ biến của sự không dung thứ đã tìm

thấy một mục tiêu dễ dàng khác ở các công dân da

đen. Dòng chảy tràn của những người da đen ở miền

Nam vào các nhà máy phục vụ chiến tranh đã tạo ra

sự căng thẳng nghiêm trọng trong các thành phố miền

Bắc chật ních. Bất chấp sự đóng góp quan trọng của

121

họ cho chiến tranh, những người Mỹ da đen phải

chịu đựng những hành động lạm dụng, xâm phạm và bị

khai thác về kinh tế. Tại miền Đông St. Louis vào

giữa năm 1917, lòng căm thù đã bùng nổ thành một sự

nổi loạn đẫm máu, trong đó 40 người da đen bị

đánh, bị đâm và bị treo cổ.

Cứ như là để đối trọng với sự suy sụp sức chịu

đựng, chiến tranh đã ồ ạt đẩy mạnh quyền bầu cử của

phụ nữ. Năm 1916, Alice Paul đã chuyển liên minh

hội nghị của mình thành đảng Phụ nữ quốc gia, đã

tấn công vào Wil-son và những người Dân chủ trong

suốt cuộc bầu cử năm 1916 do thất bại đối với sự hỗ

trợ quyền bầu cử. Bằng việc sử dụng sự thuyết phục

thay cho tấn công, Carrie Catt của Hiệp hội quyền

bầu cử của phụ nữ Mỹ đã thành công trong việc

122

chuyển đổi chính kiến của Wilson thành động cơ.

Nhưng Quốc hội và đa số công chúng vẫn chưa được

thuyết phục. Với những khẩu hiệu như “nền dân chủ

nên bắt đầu ngay trong nước”, những người tán thành

quyền bầu cử của phụ nữ đã kêu gọi đến lương tâm

của quốc gia. Đồng thời, họ đã công khai ca ngợi

những đóng góp to lớn mà phụ nữ đang thực hiện đối

với nỗ lực chiến tranh. Trong lúc đó, Alice và

những người cộng tác đã tổ chức nhiều nhóm biểu

tình chung quanh Nhà Trắng. Các viên chức của quận

Columbia đã bắt những người tham gia biểu tình đưa

vào nhà giam, nhưng họ chỉ làm cho những người phụ

nữ trở thành những kẻ tử vì đạo và khuấy động sự

đồng cảm với động cơ của họ. Cuối cùng, vào tháng

01 năm 1918, Hạ nghị viện Mỹ, lo lắng về sự đoàn

123

kết quốc gia xa hơn trong thời gian chiến tranh, đã

thông qua Bản tu chính Hiến pháp về quyền bầu cử

của phụ nữ với chính xác 2/3 đại đa số phiếu cần

thiết. Nhưng phải mất một năm rưỡi nữa Thượng viện

mới chấp thuận sự sửa đổi, và cho đến tháng 08 năm

1920 thì ¾ tổng số các bang mới thông qua hiến pháp

này. Mặc dù không có sự thôi thúc của chiến tranh,

nhưng phụ nữ có thể bị bắt buộc phải chờ đợi rất

lâu mới có được quyền bỏ phiếu.

KIẾN TẠO HÒA BÌNH

Lực lượng quân đội viễn chinh Mỹ (AEF)(1) dưới sự

chỉ huy của Tổng tư lệnh John J. Pershing đã bắt

đầu đến Pháp vào tháng 07 năm 1917, mặc dù nó đã

trải qua trước một số trận đánh vào đầu mùa xuân

1918. Tháng 03 năm 1918, những người Đức, được củng

124

cố bởi các đạo quân đến từ nước Nga, đã tấn công

trên diện rộng, bắt đầu giao chiến với quân Mỹ vào

tháng 05 và 06 chung quanh tỉnh Château- Thierry và

tại cánh rừng Belleau, chỉ cách Paris khoảng 50

dặm. Tháng 09, đạo quân thứ nhất của Mỹ, khoảng

500.000 quân hùng mạnh, đã đẩy lùi cánh quân đáng

chú ý nhất của người Đức tại Saint Mihiel.

Giữa cuối tháng 09 và ngày kỷ niệm Ngày đình chiến

11 tháng 11, 1,2 triệu quân Mỹ đã được chuyển đến

một nơi an toàn trong chiến dịch Meuse- Argonne

chung quanh Verdun, một cuộc tấn công đột phá phối

hợp với quân Anh và Pháp tấn công dọc theo mặt

trận. Ngày 01 tháng 11, quân đội Mỹ chọc thủng

phòng tuyến quân Đức. Bị đánh bại trên các mặt trận

và đang trên bờ của sự sụp đổ tại quê nhà, người

125

Đức phải bắt đầu nói đến chuyện hòa bình.

Hy vọng của Wilson về tương lai. Sự sụp đổ của các

thế lực trung tâm phần nào là kết quả của việc

giảm sút giá trị đạo đức. Người Đức sẽ kháng cự lại

việc bị làm suy yếu một cách nghiêm trọng bởi 14

quan điểm của Wilson, một chương trình vì hòa bình

đã được thông báo vào tháng 01 năm 1918. Chương

trình có liên quan đến sự di tản của vùng lãnh thổ

bị người Đức chiếm đóng và quyền của các dân tộc bị

áp bức ở châu Âu trở thành quyền tự quyết. Được

chọn ra để đề cập riêng là Ba Lan, một quốc gia bị

Áo, Đức và Nga thống trị từ lâu. Quan trọng hơn

những điều khoản cụ thể này là những nguyên tắc

chung của Wilson đối với việc thiết lập một nền hòa

bình thực sự và một hệ thống thế giới mới. Ngài

126

Tổng thống muốn các quốc gia trên thế giới phải

chấp nhận “mở rộng sự ký kết, thực hiện một cách

công khai...”; những thỏa ước bí mật giữa các chính

phủ vốn có tác động cực độ đến hàng triệu con

người, nhưng chỉ được ký kết mà không hỏi ý kiến

họ, phải ngừng lại. Wilson cũng mong muốn sự tự do

trên vùng biển trong chiến tranh và hòa bình, sự

giải trừ quân bị nói chung, và mục đích là để trao

đổi các rào cản trong số các quốc gia. Ông muốn

những yêu sách đối lập của các thế lực thuộc địa

được dàn xếp với sự quan tâm thích đáng vì ước muốn

của các dân tộc thuộc địa. Cuối cùng, như hòn đá

đầu tiên của toàn thể cấu trúc, Wilson yêu cầu

những gì mà sau này ông có thể gọi là Liên minh các

quốc gia - “một sự cộng tác nói chung của các quốc

127

gia... với mục đích là tạo ra những sự bảo đảm

tương hỗ của sự độc lập về chính trị và toàn vẹn

lãnh thổ đối với các quốc gia lớn hay nhỏ đều như

nhau”.

Những điều khoản này, và những lời tuyên bố chính

thức của Wilson, đang thôi thúc “một nền hòa bình

không có chiến thắng”, hứa hẹn một sự hòa giải

khoan nhượng có thể bảo toàn cho nước Đức. Khi

Wilson cũng yêu cầu phế truất hoàng đế Đức, những

người Đức chán ghét chiến tranh đã nổi lên chống

lại hoàng đế Wilhelm II và bắt buộc ông ta phải bỏ

trốn. Giờ đây một chính phủ mới đã yêu cầu hòa

giải. Ngày đình chiến được sắp xếp, và vào lúc 11

giờ ngày 11 tháng 11 năm 1918, tiếng súng đã ngừng.

Chiến tranh thế giới lần thứ I đã kết thúc.

128

Versailles. Ngày 18 tháng 01 năm 1919, các lãnh tụ

quân đội Đồng minh đã họp mặt ở Versailles, gần

Paris, để xác định tình trạng của nền hòa bình.

Đích thân Wilson đã có mặt ở đó. Mặc dù ông ta đã

bị chỉ trích rộng rãi vì quyết định gây choáng làm

tiền lệ của mình khi rời khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

trong khi đang tại chức, Tổng thống vẫn khăng

khăng cho rằng chỉ có sự hiện diện tự nhiên của

mình mới có thể đảm bảo rằng những người chiến

thắng mới có thể chấp nhận một nền hòa bình thực sự

và bảo đảm.

Wilson được đón tiếp như một vị cứu tinh ở châu

Âu. Bất cứ nơi nào ông đến, từng đám đông khổng lồ

hân hoan chào đón ông. Tại Paris, hai triệu người

đứng xếp hàng tại điện Elysée, trút xuống như mưa

129

những bông hoa và những lời chúc mừng khi ông đi

qua đại lộ trên chiếc xe mui trần của mình. Dân

chúng châu Âu đang thể hiện sự kính trọng, không

chỉ đối với cá nhân Wilson đại diện cho chủ nghĩa

lý tưởng của người Mỹ mà còn là khả năng của một hệ

thống thế giới dân chủ và tử tế hơn. Thậm chí

những người Đức bị đánh bại cũng có vẻ đang mong

muốn giao phó tương lai của mình vào tay ông.

Nhưng trong khi công chúng châu Âu đang hoan

nghênh Tổng thống Mỹ, những người bạn đồng minh của

ông ta – Geogers Clemenceau của Pháp, David Lloyd

Geoger của Anh và Vittorio Orlando của Ý- vẫn còn

hoài nghi. Đối với những con người không có tình

cảm này, thì chủ nghĩa lý tưởng của những người

theo Wilson là tất cả những gì tốt nhất để làm nao

130

núng nhuệ khí của quân đội Đồng minh và làm suy yếu

ý chí chiến đấu của người Đức, nhưng thực tế, nó

dường như không phải là nền tảng đối với một sự hòa

giải quốc tế. Những thế lực chủ yếu của quân đội

Đồng minh mong muốn Đức bị xử phạt như một tội phạm

chiến tranh, phải giải trừ quân bị hoàn toàn và

phải bồi thường mức độ thiệt hại rất cao để dùng

khoản bồi thường đó khôi phục lại nền kinh tế của

các nước Đồng minh đã bị kiệt quệ. Đặc biệt, Pháp

đã e ngại sức mạnh của người Đức, nên đã yêu cầu

phải bảo đảm sao cho cuộc tấn công năm 1914 không

thể được tái diễn. Các nước Đồng minh châu Âu cũng

được xác định là không phải dâng nộp bất cứ thứ gì

mà họ thu được, kể cả những thuộc địa của Đức mà họ

đã chiếm được trong chiến tranh. Cuối cùng, họ tỏ

131

thái độ nghi ngờ về nguyên tắc của quyền tự quyết.

Có thể nào sự chắp vá của các dân tộc ở phía Đông

châu Âu thật sự bị chọn ra thành các quốc gia chức

năng? Tăng cường thêm cho mọi sự lo lắng và nghi

ngờ, bóng ma của chủ nghĩa cộng sản Xô viết đang lơ

lửng bên trên một lục địa đã bị tàn phá bởi chiến

tranh và bị dao động bởi sự tháo chạy tán loạn của

các vương triều cũ. Khi lãnh tụ của các nước Đồng

minh hội ý giữa cung điện Versailles nguy nga,

tráng lệ của vua Louis XIV, có vẻ như cần thiết

phải hành động nhanh chóng hay đối mặt với viễn

cảnh của cuộc cách mạng “đỏ” ở trung tâm miền Đông

châu Âu.

Chẳng bao lâu, Wilson đã khám phá ra rằng ông

không thể ép buộc các thế lực châu Âu chấp thuận 14

132

quan điểm của mình mà không có sự sửa đổi mạnh mẽ.

Nước Pháp không muốn đặt bất cứ sự quan tâm nào

khác lên phía trước mục tiêu tối cao của họ là an

toàn cho các vùng biên giới. Người Anh có thể không

nghe mệnh đề “tự do của các vùng biển”. Tất cả các

nước Đồng minh đều muốn có được phần chia của đế

quốc Đức ở nước ngoài, và họ muốn một sự báo thù.

Tổng thống không hài lòng với những thay đổi mà các

đồng minh của ông yêu cầu, nhưng ông vẫn phải đi

cùng với đa số người trong bọn họ, thuyết phục rằng

rốt cuộc Liên minh các quốc gia có thể là phù hợp

với những bất công của sự dàn xếp hòa bình.

Kết quả những điều khoản của thỏa ước là một sự

thất vọng mạnh mẽ đối với những người theo chủ

nghĩa lý tưởng trên toàn thế giới. Hiệp ước cho

133

phép những người nói tiếng Đức được thu hút vào các

quốc gia mới được tạo ra đây của Ba Lan và

Czechoslova-kia. Nhiều người Tyrol đến với nước Ý

tự xem mình là người Áo theo chính thể nước ngoài.

Những thứ sở hữu của Đức ở châu Phi và châu Á bị

các nước Đồng minh châu Âu chia ra từng phần. Tai

hại hơn, nước Đức bị ép buộc phải chịu trách nhiệm

hoàn toàn đối với chiến tranh - nó được gọi là “tội

phạm chiến tranh”

– và phải trả tiền bồi thường thiệt hại chiến

tranh khoảng 33 tỷ đô la cho những người chiến

thắng. Không được đề cập đến trong thỏa ước là lời

kêu gọi giải trừ quân bị duy tâm của Wilson, sự

giảm thiểu mức thuế quan và sự tự do trên các vùng

biển.

134

Thông qua cuộc bàn cãi Versailles, Wil-son đã làm

việc không mệt mỏi với quan điểm mà ông ta coi như

nền tảng của những đề xuất hòa bình của mình, sự

Liên minh các quốc gia. Như được tìm ra vào lúc

cuối cùng, Hợp ước Liên minh được lập thành hai

phần: một hội đồng chung bao gồm tất cả các quốc

gia thành viên, và hội đồng thừa hành bao gồm Hiệp

chủng quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pháp, Ý, Nhật và

bốn quốc gia khác do hội đồng bầu ra. Những bộ

phận này đã lắng nghe để tranh luận giữa các quốc

gia thành viên và xét xử tính công bằng quốc tế.

Những quyết định của Liên minh có thể bị bắt buộc

tuân theo trước hết bởi quan điểm thế giới, sau đó

là bởi những sự phê chuẩn về kinh tế chống lại

những kẻ làm sai quốc tế; và cuối cùng, nếu cần

135

thiết, là sử dụng lực lượng quân sự do các quốc gia

thành viên góp phần vào. Thêm vào đó, Liên minh có

thể giúp điều chỉnh những sự tranh cãi đóng vai

trò thứ yếu giữa công dân của các quốc gia khác

nhau thông qua Tòa án quốc tế thường trực và tìm

cách cải tiến các chuẩn mực xã hội của thế giới

thông qua Vụ Lao động quốc tế.

Trong khi Wilson làm việc cật lực ở Versailles

trong suốt mùa đông năm 1919, những nỗ lực của ông

ở quê nhà đã bị xói mòn. Trước khi lên đường đến

châu Âu, ông đã đặt uy tín của mình mập mờ ở giữa

bằng việc yêu cầu công chúng Mỹ phải tán thành Đảng

Dân chủ từ những cuộc bầu cử Quốc hội vào năm

1918. Khi cử tri giao quyền kiểm soát Đảng Cộng hòa

cho Thượng viện, kẻ thù của ông đã tuyên bố rằng

136

họ sẽ bác bỏ quyền lãnh đạo của Tổng thống. Wilson

còn gây thêm thù địch với những kẻ đối kháng về

chính trị bằng việc chỉ bổ nhiệm duy nhất một đảng

viên Đảng Cộng hòa vào Ủy ban hòa bình đã tháp tùng

theo ông đến Paris, mặc dù sự phê chuẩn thỏa ước

có thể đòi hỏi sự hỗ trợ của cả hai bên.

Giờ đây, khi những tin tức về các điều khoản của

thỏa ước được công bố thì lại bị chống đối ngay

trong Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, các đối thủ của ông

nhắm vào những đề xuất cụ thể của nó. Những người

Mỹ gốc Ailen tấn công vào sự thất bại của thỏa ước

đi xa hơn nguyên nhân tự do của Ailen ra khỏi nước

Anh. Những người Mỹ gốc Ý than phiền rằng vì nước Ý

không được ban tặng thành phố Adriatic của Fiume

(ngày nay là Rijeka). Những người Mỹ gốc Đức phản

137

đối kịch liệt mệnh đề tộị phạm chiến tranh đã làm

cho vùng đất tổ tiên của họ trở thành quốc gia tự

thú nhận là tội phạm. Jingoes và những nhà siêu ái

quốc tuyên bố hiệp ước có thể làm tổn thương đến

chủ quyền của người Mỹ. Những người theo chủ nghĩa

cô lập khăng khăng cho rằng Liên minh có thể trao

cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ một vai trò tích cực quá

mức trong những công việc của thế giới.

Sau hai tháng đàm phán tích cực tại Versailles,

Wilson đã trở lại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong một

thời gian ngắn để khám phá ra rằng bản thỏa ước

chưa hoàn thành đã sẵn sàng được đưa ra dưới ngọn

lửa coi thường. 37 thượng nghị sĩ, đứng đầu là

Henry Cabot Lodge của bang Massachusett, đã ký một

bản kiến nghị luân chuyển theo vòng tròn, tuyên bố

138

rằng họ có thể không bỏ phiếu cho thỏa ước không có

sự tu chỉnh. Thỏa ước đã không có đủ số phiếu để

đánh bại nó; rõ ràng rằng một trận chiến ác liệt là

nằm trong sự mong đợi.

Bỏ qua sự đón tiếp đầy thất vọng đối với mình tại

quê nhà, Tổng thống đã trở lại châu Âu cho những

cuộc đàm phán xa hơn trong một tâm trạng lạc quan,

chắc chắn rằng người Mỹ – nếu không là Thượng viện

- đã có chung tầm nhìn với ông về trật tự của một

thế giới mới. Tuy nhiên, để cung cấp cho những

người chỉ trích mình, ông đã tu chỉnh lại hiệp ước

Liên minh để cho phép bất cứ quốc gia thành viên

nào rút ra khỏi Liên minh và từ chối nhiệm vụ được

ủy thác cai quản thuộc địa

KẾ HOẠCH CHO MỘT NỀN HÒA BÌNH LÂU DÀI CỦA WILSON

139

14 QUAN ĐIỂM

Từ 14 quan điểm gửi thẳng đến Quốc hội ngày 08

tháng 01 năm 1918.

“Mở rộng các hiệp ước hòa bình, thực hiện một cách

công khai” và kết thúc hoạt động ngoại giao bí

mật.

Tự do tuyệt đối qua lại trên các vùng biển… trong

thời chiến và thời bình đều tương tự nhau.

“Loại bỏ, cho đến mức có thể, tất cả các rào cản

về kinh tế” để mua bán tự do.

Giảm thiểu sự vũ trang “đến mức thấp nhất phù hợp

với sự an toàn trong nước”.

Một “sự hiệu chỉnh công bằng tuyệt đối về tất cả

các yêu sách của thuộc địa”, đưa ra sức nặng tương

đương với quyền lợi của các dân tộc thuộc địa và

140

“những yêu sách hợp tình hợp lý” của chính phủ đế

quốc.

“Di tản toàn bộ ra khỏi lãnh thổ nước Nga” và đồng

hợp tác để nước Nga “xác định độc lập sự phát

triển về mặt chính trị và chính sách quốc gia của

riêng mình và đảm bảo một sự tiếp đón chân thật vào

xã hội của các quốc gia tự do theo những thể chế

mà bản thân họ đã chọn”.

Sự di tản của người Đức ra khỏi nước Bỉ và sự khôi

phục toàn bộ chủ quyền.

“Toàn bộ lãnh thổ nước Pháp nên được tự do” và

vùng Alsace- Lorraine, do quân Phổ chiếm đóng vào

năm 1871, nên được trả về cho Pháp.

“Điều chỉnh lại các vùng biên giới của Ý…cùng với

các ranh giới quốc gia có thể nhận diện rõ ràng”.

141

Tạo quyền tự trị cho những người dân Áo – Hung.

Di tản của những người Rumani, Montenegro và

Serbia; bảo đảm về mặt quốc tế cho sự độc lập về

chính trị và kinh tế của các lãnh thổ vùng Balkan;

và quyền tự do đi lại trong vùng biển của người

Serbi.

Tạo quyền tự trị cho các dân tộc bị trị trong đế

quốc Thổ Nhĩ Kỳ và giao thông tự do thông qua cảng

Dardanelles cho tàu bè của tất cả các quốc gia.

Một nước Ba Lan độc lập với “tự do và an ninh đi

vào vùng biển”.

“Một sự công tác chung của các quốc gia”.

CÁC QUAN ĐIỂM BỔ SUNG

Trích từ các bài nói chuyện được phát đi từ giữa

tháng 02 cho đến tháng 09 năm 1918

142

Dựa “từng phần của sự hòa giải cuối cùng”… vào sự

công bằng chủ yếu của trường hợp cụ thể đó và dựa

vào những sự chỉnh lý như vậy được coi là có khả

năng nhất để đem lại “nền hòa bình vĩnh cửu”.

Kết thúc việc trao đổi “con người và các tỉnh

thành… cứ như là chúng chỉ đơn thuần là vật sở hữu,

nô lệ và vật đem cầm cố”.

Xác định “mọi sự bố trí lãnh thổ… trong sự vui

thích và vì quyền lợi của các dân cư có liên quan”

và không phải như một sự thỏa hiệp “giữa các lãnh

thổ thù địch”.

Cố gắng để làm hài lòng “mọi khát vọng rành mạch

của quốc gia”.

“Hủy bỏ quyền lực độc đoán ở bất cứ nơi nào có

thể… quấy rầy nền hòa bình thế giới”.

143

Dẫn dắt các quốc gia “để được cai trị… bằng những

nguyên tắc tương tự trong sự tôn trọng và kính

trọng đối với luật pháp chung của xã hội văn minh

để theo sát từng cá nhân”.

Những quyền lợi đặc biệt “không nhất quán với

quyền lợi chung của tất cả” các quốc gia không thể

trở thành nền tảng cho bất cứ sự hòa giải nào.

Không có sự liên minh hay thỏa thuận sơ bộ nào

được phép trong “Liên minh các quốc gia”.

“Sẽ không thể trở thành những sự kết hợp vị kỷ,

đặc biệt về kinh tế “hay những sự tẩy chay về mặt

kinh tế, trừ khi được Liên minh các quốc gia sử

dụng vì mục đích duy trì kỷ luật. Điếu đó là điều

họ mong muốn. Liên minh cũng có thể không chạm vào

biểu thuế quan nội địa cùng các chính sách di dân

144

của các quốc gia thành viên và tránh né việc xâm

nhập vào những sự sắp xếp mang tính khu vực như học

thuyết Monroe. Thỏa ước, kết hợp chặt chẽ với hiệp

ước Liên minh đã được tu chỉnh, được các đại biểu

phê chuẩn tại sảnh Mirror của điện Versailles vào

ngày 28 tháng 07 năm 1919. Chẳng bao lâu sau đó,

Wilson đã lên đường về nước để đấu tranh cho sự phê

chuẩn thỏa ước.

Trận chiến vì Liên minh. Tổng thống nhận được sự

chống đối đối với thỏa ước và Liên minh ngày càng

mạnh mẽ hơn và xác định rõ hơn bao giờ hết. Quan

niệm chung là tất cả đều không một chút nào phủ

nhận. Vẫn còn một số những người có chung quan điểm

với Wilson về trật tự của một thế giới tiến bộ

mới, trong đó những quốc gia kẻ cướp có thể bị ngăn

145

giữ bởi hành động thu gom. Rất nhiều những tờ báo,

những lãnh tụ công nhân, và đại diện các nông trại

và các tổ chức phụ nữ - phần nhiều là sự liên hiệp

cấp tiến cũ – đã ủng hộ cho Liên minh của Wilson,

sợ rằng nền hòa bình về mặt khác đã chứng tỏ là quá

mong manh. Wilson trông chờ ở những con người như

họ để đưa thỏa ước vượt qua được Thượng viện bướng

bỉnh.

Nhưng vào lúc đó, nghị sĩ Lodge đã triển khai một

chiến lược thông minh để đánh bại Liên minh. Ông

không phản đối nó một cách trực tiếp, nhưng có thể

yêu cầu hàng loạt những sự “giành chỗ trước” (sự

giành chỗ trước, không giống như sự tu chỉnh, có

thể không cần phải được các thành viên khác của

Liên minh chấp thuận). Phần lớn những sự giành chỗ

146

trước này có thể ôn hòa đủ để thu hút sự tán thành

của một số đông các nghị sĩ giữ thái độ trung lập.

Nhưng Lodge đã tiên đoán rằng Wilson và những người

cùng cộng tác với ông có thể phản đối chúng. Nếu

Tổng thống chủ trì quá trình phê chuẩn thỏa ước

theo một cách thức đúng đắn, thì Lodge tin rằng, có

lẽ ông ta kiếm được những người ủng hộ riêng của

nó để đánh bại nó.

Trước tiên, Lodge cố tranh thủ thời gian, dùng kế

hoãn binh và dự những phiên tòa tiêu tốn nhiều tuần

lễ. Vào lúc các đảng phái có liên quan đã kết thúc

việc làm chứng dài dòng của mình, sự tán thành

thỏa ước công khai đã bắt đầu bị thiệt hại về quyền

lợi. Wil-son đã phản công. Mặc dù bị kiệt sức hầu

như hoàn toàn bởi những cuộc đàm phán gay go ở

147

Pháp, nhưng ông vẫn quyết định lấy trường hợp của

mình làm thí dụ trực tiếp cho người Mỹ. Trong ba

tuần lễ, vị Tổng thống có tuổi đã đi kinh lý miền

thôn quê, nói chuyện trước một đám đông khán giả

nhằm ủng hộ cho công việc của ông ở Versailles.

Không lâu sau một bài phát biểu ở Pueblo, Colorado,

sức khỏe Wilson đã bị suy sụp và phải hoãn phần

còn lại của cuộc hành trình. Theo sau chuyến trở về

Washington của ông, ông phải chịu đựng một cơn đột

quỵ nghiêm trọng làm tê liệt một phần cơ thể.

Trong nhiều tháng, ông đã không thể làm việc, và

trong suốt thời gian này, vợ ông và nội các phải

tiếp quản hầu hết những nhiệm vụ của văn phòng Tổng

thống. Mặc dù sức lực của Wilson đã dần dần trở

lại, nhưng ông vẫn không thể hồi phục lại hoàn

148

toàn, vẫn còn dễ bị kích động và nhanh chóng bị

mếch lòng. Chứng bệnh đã làm tăng thêm tính bướng

bỉnh của Wilson và nâng cao niềm tin của ông về

động cơ của mình.

Căn bệnh của Wilson đã chứng tỏ số phận của thỏa

ước. Vào lúc ông trở về Washington từ chuyến công

du phía Tây của mình, Lodge đã chắp thêm 14 điều

“dự trữ trước” vào hòa ước Versailles. Những điều

này thật ra chỉ làm thay đổi văn kiện về mặt tiểu

tiết. Nhưng ngài Tổng thống bướng bỉnh đã xem chúng

như những tu chính nghiêm trọng, đã cắt xén tác

phẩm của ông, và khăng khăng cho rằng những người

ủng hộ ông đã bỏ phiếu chống lại thỏa ước đã được

tu chỉnh. Họ đã làm điều đó. Cùng lúc đó, những

người theo chủ nghĩa cô lập từ chối chấp nhận thỏa

149

ước ban đầu. Điều đó có thể coi như hiệp ước được

tạo ra ở cung điện Versailles đã được kết thúc.

Tuy nhiên, thỏa ước và Liên minh vẫn chưa ngừng

hoạt động. Dưới áp lực công khai, Thượng viện bị

bắt buộc phải xem xét lại quyết định của mình.

Tháng 03 năm 1920, bản thỏa ước tu chỉnh lại được

bỏ phiếu một lần nữa. Một lần nữa, Wilson lại chứng

tỏ tính cứng rắn và không chịu khuất phục. Ông

nhất quyết cho rằng thỏa ước với những sự giành chỗ

trước phải bị đánh bại. Ông tuyên bố: “Hoặc là

chúng ta nên tham gia vào Liên minh một cách bạo

dạn, chấp nhận trách nhiệm và không sợ hãi vai trò

lãnh đạo mà hiện giờ chúng ta đang có, đóng góp

những nỗ lực của mình hướng đến việc thiết lập một

nền hòa bình thực sự và lâu dài, hoặc chúng ta nên

150

rút ra khỏi sự phối hợp các thế lực lớn càng biết

điều càng tốt mà bằng cách đó, thế giới có thể được

cứu vãn”. Những người ủng hộ Wilson một lần nữa

lại trung thành với ông, nhưng họ đã tạo cho sự

nghiệp của ông một vố chơi khăm định mệnh bằng việc

thủ tiêu thỏa ước trong thời gian vừa qua.

Trong cuộc bầu cử năm 1920, các đảng viên Đảng Dân

chủ đã xác nhận hòa ước Versailles, các ứng cử

viên vào vị trí Tổng thống và Phó Tổng thống của

họ, Thống đốc James M.Cox của bang Ohio và người

thanh niên Franklin Delano Roosevelt của New York,

đều là những người ủng hộ Liên minh. Cái bệ của

Đảng Cộng hòa đã ngăn cách Liên minh, và ứng viên

của họ, nghị sĩ Warren G. Harding của bang Ohio, đã

lảng tránh vấn đề.

151

Tổng thống Wilson ốm yếu đã cố gắng tạo một cuộc

bầu cử trưng cầu ý dân cho Liên minh. Đó là một cố

gắng vô ích, vì công chúng đã quá mệt mỏi vì chiến

tranh, chủ nghĩa Cấp tiến và những cuộc vận động

lớn. Việc vận động chiến dịch cho “tính chất bình

thường”, Harding đã thắng bằng một chiến thắng lớn

với 16 triệu lá phiếu, cho phép những người theo

chủ nghĩa cô lập tuyên bố rằng người Mỹ đã từ bỏ

chủ nghĩa quốc tế. Cuối cùng thì chính phủ mới của

Harding cũng ký một thỏa ước hòa bình phân lập với

Đức và chính thức kết thúc hành động chiến tranh,

nhưng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không bao giờ gia nhập

vào Liên minh các quốc gia.

KẾT LUẬN

Tác động của chiến tranh thế giới lần thứ I đang

152

gây ra sự thất vọng sâu sắc đối với những người Mỹ

vẫn còn giữ quan điểm của Wil-son, xem đất nước của

mình như một quốc gia truyền giáo, được lệnh mang

phước lành của chủ nghĩa tư bản tự do đến tất cả

mọi nơi trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn công dân

Mỹ, đã không tận tụy một cách sâu sắc với những

người theo chủ nghĩa quốc tế, và sau năm 1918, đã

rất sung sướng được quay trở lại với công việc kinh

doanh trong đời sống hàng ngày của mình. Có lẽ họ

cũng đồng ý với Wilson rằng thế giới đáng được có

một trật tự quốc tế tốt hơn, nhưng còn xa hơn nhiều

so với những người theo chủ nghĩa lý tưởng trong

Nhà Trắng, họ đã tham dự vào cuộc chiến tranh để

dạy cho quốc gia một bài học rằng nó đã chà đạp lên

quyền lợi của người Mỹ. Cả mục tiêu giản dị nhất

153

của một công dân bình thường là việc chống đỡ được

một kẻ tấn công tàn bạo, đã sử dụng cuộc chiến

tranh tàu ngầm dã man để đạt được mục đích của

mình, lẫn quan điểm cao quý hơn của ngài Tổng thống

về một “thế giới mới” đều là cần thiết để đưa Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ vào một cuộc xung đột lớn. Nhưng

sự thất bại đơn giản của Đức là đủ để làm hài lòng

người Mỹ bình thường, và hy vọng của Wilson vẫn

chưa được hoàn thành. Nước Mỹ, vừa mới tham gia vào

cuộc chiến từ vị thế của một chính quyền đạo đức

tự công bố, đã bị ép buộc phải thừa nhận là có

những hạn chế đối với những điều có thể được hoàn

thành với sự giàu có và lòng nhiệt tâm to lớn. Sự

hòa giải không thể thực hiện được ở Versailles, sự

thất bại của Liên minh, và sự hồi sinh của những

154

người theo chủ nghĩa cô lập Mỹ theo sau cuộc chiến

tranh thế giới lần thứ I – tất cả đã góp phần dẫn

đến nguyên nhân của cuộc chiến tranh thế giới lần

thứ II.

Vào năm 1919, chủ nghĩa cấp tiến vốn thống trị

trong hai thập niên đầu của thế kỷ XX, đã bị lu mờ

thực sự. Cuộc chiến đánh bại người Đức đã làm hao

tốn những cảm xúc góp phần làm nhiên liệu cho cuộc

vận động chống lại lòng tin và các thế lực cá nhân

không được kiểm soát. Tại quê nhà, sự không dung

thứ trong thời chiến đã cắt đứt sự liên minh cấp

tiến bằng việc đưa người Mỹ chống lại người Mỹ.

Trong những thập niên trước chiến tranh, những vấn

đề về kiểm soát lòng tin, thông cảm với chính phủ

nhiều hơn, và sự bảo vệ người tiêu dùng đã đoàn kết

155

được toàn bộ dân chúng Mỹ. Giờ đây quốc gia đang

chuẩn bị để đi vào một kỷ nguyên khi mà các vấn đề

trên có thể chia rẽ họ sâu sắc.

156

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát