Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Ngai Vàng Lửa - P1

NGAI VÀNG LỬA – P1

Tác giả: RICK RIORDAN

Người dịch: Phan Hoàng Hà

LỜI CẢNH BÁO

Đây là bản tài liệu sao chép lại từ một băng ghi

âm. Carter và Sadie Kane lần đầu tiên được biết đến

qua băng ghi âm mà tôi nhận được năm ngoái, mà tôi

đã chép lại và đặt tên là Kim Tự Tháp Đỏ. Tài liệu

ghi âm thứ hai này được gửi tới nhà riêng của tôi

không lâu sau khi cuốn sách kia được xuất bản. Vì

vậy tôi chỉ có thể giả sử rằng người nhà Kane đủ

tin tưởng tôi để tiếp tục chuyển tải câu chuyện của

mình. Nếu bản ghi âm thứ hai này là một chuyện kể

xác thực, thì chỉ có thể mô tả sự chuyển biến của

các sự kiện là đáng lo báo động. Vì lợi ích của nhà

1

Kane, và vì thế giới, tôi hi vọng rằng những

chuyện kể dưới đây là giả tưởng. Nếu không thì

chúng ta thực sự sẽ có vần đề.

CARTER

1. VUI VỚI ĐÁM CHÁY TỰ PHÁT

Carter đây.

Này nhé, chúng ta không có thời gian để giới thiệu

dài dòng. Tôi cần phải kể câu chuyện này thật

nhanh, hoặc tất cả chúng ta sẽ chết.

Nếu các bạn chưa nghe bản thu âm đầu tiên của

chúng tôi, à… rất vui được gặp bạn: các vị thần Ai

Cập đang tự do chạy loanh quanh trong thế giới hiện

đại; một đám các pháp sư có tên gọi là Ngôi Nhà Sự

Sống đang cố ngăn chặn các vị thần; mọi người căm

ghét Sadie và tôi; và một con rắn khổng lồ sắp nuốt

2

chửng mặt trời và hủy diệt thế giới.

[Ối! Cái gì thế nhỉ?]

Sadie vừa đấm tôi. Con bé nói rằng tôi sẽ khiến

các bạn quá sợ. Tôi nên quay lại, trấn tĩnh và bắt

đầu lại từ đầu.

Tốt thôi. Nhưng cá nhân tôi, tôi nghĩ các bạn nên

sợ hãi.

Mục đích của việc thu âm là để các bạn biết điều

gì đang thực sự diễn ra và mọi việc trở nên tồi tệ

như thế nào. Các bạn sẽ nghe thấy rất nhiều người

nói vớ vẩn về chúng tôi, nhưng chúng tôi không gây

ra những cái chết đó. Chuyện con rắn, cũng không

phải là lỗi của chúng tôi nốt.

Ờ… không hẳn. Tất cả pháp sư trên thế giới phải

cùng sát cánh bên nhau. Đó là cơ hội duy nhất của

3

chúng tôi.

Vậy thì câu chuyện là thế này. Bạn hãy tự quyết

định. Chuyện bắt đầu khi chúng tôi gây cháy ở

Brooklyn.

Lẽ ra đó là một nhiệm vụ đơn giản: lẻn vào Bảo

tàng Brooklyn, mượn một món đồ cổ Ai Cập nhất định

và thoát ra mà không bị bắt.

Không, đây không phải là một vụ trộm cướp. Rồi thì

chúng tôi cũng sẽ trả lại vật đó thôi. Nhưng tôi

đoán là trông chúng tôi khả nghi: bốn thiếu niên

mặc trang phục ninja đen ở trên mái bảo tàng. Ồ, và

một con khỉ đầu chó, cũng mặc như một ninja. Hoàn

toàn khả nghi.

Việc đầu tiên chúng tôi làm là cử hai học viên Jaz

và Walt đi mở cửa sổ bên, trong khi Khufu, Sadie

4

và tôi kiểm tra mái vòm kính lớn ở nóc bảo tàng, dự

kiến là đường rút lui của chúng tôi.

Kế hoạch rút lui của chúng tôi có vẻ không được

tốt cho lắm.

Trời tối lâu rồi và lẽ ra bảo tàng đã phải đóng

cửa. Nhưng mái vòm kính vẫn có ánh sáng. Bên trong,

dưới chúng tôi bốn mươi bộ, hàng trăm người mặc lễ

phục và váy dạ hội hòa vào nhau và khiêu vũ trong

căn phòng lớn cỡ một nhà chứa máy bay. Một dàn nhạc

đang chơi, nhưng với tiếng gió rít lên bên tai và

răng va lập cập, tôi không thể nghe thấy tiếng

nhạc. Tôi đang bị đông cứng trong bộ quần áo ngủ

bằng vải lanh.

Các pháp sư thường mặc đồ bằng vải lanh bởi nó

không làm ảnh hưởng đến phép thuật, có lẽ đó là một

5

truyền thống hay ho trên sa mạc Ai Cập nơi hầu như

không bao giờ lạnh và mưa. Còn ở Brooklyn trong

tháng Ba – không lấy gì làm hay ho cho lắm.

Sadie, em gái tôi, dường như không bận tâm tới giá

lạnh. Em tôi đang mở khóa trên mái vòm trong khi

khẽ hát theo một điệu nhạc gì đó trên Ipod. Tôi

muốn nói là, nghiêm chỉnh nhé, ai lại mang những

bản nhạc ưa thích của mình theo trong khi đột nhập

bảo tàng chứ?

Con bé mặc quần áo như tôi ngoại trừ đôi bốt da

hầm hố. Mái tóc vàng của Sadie điểm những lọn tóc

highlight đỏ rực – thật là kín đáo để đi ăn trộm.

Mắt xanh lam và làn da sáng, trông con bé chẳng hề

giống tôi chút nào, cả tôi và con bé đều nhất trí

là như thế chẳng sao hết. Thật tốt khi có thể chọn

6

phủ nhận cái đứa con gái điên rồ ở bên cạnh là em

tôi.

“Em đã nói là bảo tàng sẽ không có người,” Tôi

phàn nàn.

Sadie không nghe thấy tôi nói gì cho tới khi tôi

rút tai nghe của nó ra và nhắc lại những gì đã nói.

“À, lẽ ra là không có người.” Em tôi sẽ phủ nhận

điều này, nhưng sau khi sống ở Mỹ ba tháng qua, con

bé đang bắt đầu mất dần giọng Anh của mình. “Trang

web nói rằng bảo tàng đóng cửa lúc năm giờ. Làm

sao em biết được là lại có một đám cưới chứ?”

Một đám cưới? Tôi nhìn xuống và thấy là Sadie nói

đúng. Một vài phụ nữ mặc những chiếc váy phù dâu

màu hồng đào. Trên một trong những chiếc bàn là một

chiếc bánh ba tầng màu trắng. Hai nhóm khách đã

7

nâng cô dâu và chú rể trên hai chiếc ghế vào khiêng

họ đi khắp gian phòng trong khi bạn bè quây xung

quanh họ, nhảy múa và vỗ tay. Toàn cảnh trông như

thể một cú đâm trực diện giữa đồ đạc sắp sửa diễn

ra.

Khufu gõ lên mặt kính. Dù mặc quần áo đen, nó

chẳng dễ hòa vào bóng tối với bộ lông vàng kim,

chưa kể đến cái mũi màu cầu vồng và bàn tọa của nó

nữa.“Á!” nó gầm gừ.

Bởi nó là khỉ đầu chó, nên nói như vậy có thể có

nghĩa là Nhìn kìa, dưới kia có đồ ăn hoặc Tấm kính

này bẩn thế hay, Này, mấy người kia đang làm chuyện

ngu ngốc với mấy chiếc ghế.

“Khufu đúng đấy,” Sadie phiên dịch. “Chúng ta sẽ

khó mà lẻn ra qua bữa tiệc kia. Có lẽ nếu chúng ta

8

vờ là đội bảo dưỡng -”

“Hẳn vậy,” tôi đáp, “thứ lỗi cho chúng tôi nhé.

Bốn đứa nhóc đi qua với một bức tượng nặng ba tấn.

Chỉ đưa tượng qua mái nhà thôi mà. Đừng để tâm đến

chúng tôi.”

Sadie trợn mắt. Con bé lôi cây đũa thần của mình

ra – một cây đũa cong bằng ngà trạm trổ hình ảnh

các quái vật – và chỉ vào chân mái vòm. Một ký tự

tượng hình màu vàng kim cháy lên, và ổ khóa cuối

cùng bật ra.

“Nào, nếu chúng ta không dùng lối này làm đường

rút,” em tôi nói, “thì tại sao em mở nó ra nhỉ?

Chẳng lẽ ta không thể thoát ra bằng lối ta vào –

qua cửa sổ bên?”

“Anh nói với em rồi. Bức tượng to lắm. Nó sẽ không

9

lọt qua cửa sổ bên đâu. Hơn nữa, những cái bẫy -”

“Thế thì, mai ta thử lại vậy?” em tôi hỏi.

Tôi lắc đầu. “Ngày mai toàn bộ các vật trưng bày

sẽ được đóng hòm và chuyển đi phục vụ triển lãm.”

Con bé nhướn mày theo cái kiểu rất khó chịu của

nó. “Có lẽ nếu ai đó bảo ta sớm hơn rằng ta cần ăn

trộm bức tượng này -”

“Quên đi.” Tôi có thể đoán được cậu chuyện này sẽ

đi tới đâu, và sẽ chẳng ích gì nếu Sadie và tôi cãi

nhau trên mái nhà cả đêm. Dĩ nhiên, em tôi nói

đúng. Tôi đã không nói với con bé sớm lắm. Nhưng,

này – nguồn tin của tôi cũng không hẳn là đáng tin

cậy. Sau hàng tuần cầu xin giúp đỡ, cuối cùng tôi

cũng được ông bạn thân Horus, thần chiến tranh chim

ưng, mách nước trong những giấc mơ: Ồ, nhân tiện,

10

cái món đồ cổ trưng bày mà cậu muốn đó? Cái món đồ

có thể nắm giữ chìa khóa để cứu hành tinh này ấy

mà? Nó đã yên vị trong Bảo tàng Brooklyn trên phố

trong ba mươi năm qua, nhưng ngày mai nó sẽ rời đi

Châu Âu, vậy nên cậu hãy khẩn trương lên thì hơn!

Cậu sẽ có năm ngày để tìm ra cách sử dụng nó, hoặc

là chúng ta sẽ toi cả. Chúc may mắn!

Tôi có thể gào lên với ông bạn vì đã không bảo tôi

sớm hơn, nhưng như thế cũng chẳng thay đổi được

gì. Các vị thần chỉ nói khi họ sẵn sàng, và họ

không cảm nhận tốt lắm về thời gian của người trần.

Tôi biết thế vì Horus đã chiếm hữu một phần trí óc

tôi vài tháng trước. Tôi vẫn còn một vài thói quen

không hòa đồng lắm của ông ấy – ví dụ như đôi khi

có ham muốn mạnh mẽ phải săn lùng những con thú gặm

11

nhấm bé nhỏ lông lá, hay thách đấu sinh tử với mọi

người.

“Hãy làm theo đúng kế hoạch,” Sadie nói. “Vào qua

cửa sổ bên, tìm ra bức tượng, đưa nó đi qua phòng

khiêu vũ. Lúc đó chúng ta sẽ nghĩ ra cách đối phó

với tiệc cưới. Có lẽ sẽ đánh lạc hướng.”

Tôi cau mày. “Đánh lạc hướng ư?”

“Carter, anh lo lắng quá mức,” em tôi nói. “Sẽ

tuyệt vời. Trừ phi là anh có một ý tưởng khác?”

Vấn đề là ở chỗ, tôi chẳng có ý tưởng khác.

Bạn cứ nghĩ rằng phép thuật sẽ khiến mọi thứ đơn

giản hơn. Trên thực tế, nó thường khiến mọi sự phức

tạp hơn. Luôn có cả triệu lý do tại sao câu bùa

phép này hay bùa phép khác không hiệu nghiệm trong

một số tình huống nhất định. Hoặc là có những phép

12

thuật khác cản trở bạn – ví dụ như những bùa phép

bảo vệ bảo tàng này.

Chúng tôi không biết chắc ai là người đã yểm những

bùa chú đó. Có thể một trong những nhân viên bảo

tàng là một pháp sư cải trang, một điều không phải

là không phổ biến. Chính cha chúng tôi đã sử dụng

chức vị tiến sĩ về Ai Cập học làm bình phong để có

thể tiếp cận các đồ cổ. Thêm nữa, Bảo tàng Brooklyn

có bộ sưu tập các cuộn giấy phép thuật Ai Cập lớn

nhất trên thế giới. Chính vì thế mà ông chú Amos

của chúng tôi đã đặt trụ sở đầu não ở Brooklyn. Rất

nhiều pháp sư có thể có lý do để bảo vệ hoặc đặt

bẫy treo trên các hiện vật quí của bảo tàng.

Dù sao chăng nữa, các cửa và cửa sổ được yểm vài

lời nguyền khá là hiểm ác. Chúng tôi không thể mở

13

một cánh cửa phép thuật vào phòng trưng bày cũng

như không thể sử dụng shabti triệu hồi của chúng

tôi – những bức tượng phép thuật bằng đất sét đã

từng phục vụ chúng tôi trong thư viện – để đưa

chúng tôi tới chỗ món đồ cổ mà chúng tôi cần.

Chúng tôi sẽ phải vào và ra một cách vất vả; và

nếu chúng tôi phạm sai lầm, không thể nào nói được

là chúng tôi sẽ kích hoạt lời nguyền nào: những

quái vật canh gác, bệnh dịch hạch, lửa hay những

con lừa nổ tung (đừng cười; chúng chẳng hay ho gì

đâu).

Lối ra duy nhất không bị cài bẫy treo là mái vòm ở

phía trên phòng khiêu vũ. Có vẻ như những người

bảo vệ bảo tàng không lo lắng gì về chuyện những

tên trộm có thể làm bốc hơi các vật trưng bày qua

14

một cửa mở ra không trung cao tới bốn mươi bộ. Hoặc

là mái vòm đã bị đặt bẫy, và bẫy được giấu quá

khéo nên chúng tôi không nhìn thấy.

Kiểu gì thì chúng tôi cũng phải thử. Chúng tôi chỉ

còn đêm nay để ăn trộm – xin lỗi, để mượn – món đồ

cổ. Sau đó chúng tôi sẽ có năm ngày để tìm ra cách

sử dụng nó. Tôi rất khoái các thời hạn đấy.

“Vậy là chúng ta sẽ xông vào và tùy cơ ứng biến

chứ?” Sadie hỏi.

Tôi nhìn xuống tiệc đám cưới, hi vọng là chúng tôi

không sắp sửa làm hỏng đêm đặc biệt của họ. “Anh

đoán vậy.”

“Hay lắm,” Sadie nói. “Khufu, ở lại đây và theo

dõi nhé. Mở cửa vòm ra khi nhìn thấy chúng ta đi

lên, nhé?”

15

“Á!” con khỉ đầu chó đáp.

Tôi cảm thấy nhột nhạt sau gáy. Tôi có cảm giác là

vụ trộm này sẽ chẳng hay gì.

“Đi thôi,” tôi bảo Sadie. “Đi xem Jaz và Walt đang

làm gì.”

Chúng tôi buông mình xuống một cái gờ phía bên

ngoài tầng ba, nơi trưng bày bộ sưu tập Ai Cập.

Jaz và Walt đã làm công việc của họ một cách hoàn

hảo. Họ đã dùng băng dính dán bốn bức tượng Các Con

Trai của Horus xung quanh mép cửa sổ và sơn những

chữ tượng hình lên cửa kính để đối phó với các lời

nguyền và hệ thống báo động của người trần.

Khi tôi và Sadie xuống bên họ, dường như họ đang

dở một cuộc trò chuyện nghiêm túc. Jaz đang nắm hai

tay Walt. Điều đó khiến tôi ngạc nhiên, nhưng nó

16

còn khiến Sadie ngạc nhiên hơn nữa. Con bé rú lên

khe khẽ như thể một con chuột bị người ta dẫm phải.

[Ồ, phải, em đã làm thế. Em đã ở đó mà.]

Tại sao Sadie lại quan tâm chứ? Được, ngay sau dịp

Năm Mới, khi Sadie và tôi gửi đi các tín hiệu bùa

hộ mạng djed để thu hút các thiếu niên có tiềm năng

phép thuật đến trụ sở của chúng tôi, Jaz và Walt

là những người đầu tiên đáp lại. Họ đã được chúng

tôi huấn luyện trong bảy tuần, dài nhất so với

những người khác, vậy nên chúng tôi đã biết về họ

khá nhiều.

Jaz là đội trưởng một đội cổ động ở Nashville. Tên

cô là cách gọi tắt của Jasmine, nhưng đừng có bao

giờ gọi tên đầy đủ cô ấy trừ phi bạn muốn bị biến

17

thành bụi cây. Cô ấy xinh xắn tóc vàng đúng kiểu

đội trưởng đội cổ động – không thực sự là kiểu tôi

ưa – nhưng bạn không thể không thích cô ấy bởi vì

cô ấy rất tử tế với mọi người và luôn sẵn sàng giúp

đỡ. Cô ấy cũng có tài năng về các phép thuật chữa

trị, vậy nên cô ấy là một người tuyệt vời ta có thể

đưa đi cùng trong trường hợp có rắc rối, mà điều

đó xảy ra với tôi và Sadie trong chín mươi chín

phần trăm trường hợp.

Tối nay cô ấy bọc mái tóc mình trong một chiếc

băng đô màu đen. Trên vai cô đeo một chiếc túi pháp

sư, trên túi có biểu tượng nữ thần sư tử Sekhmet.

Cô ấy đang nói với Walt, “Chúng ta sẽ tìm ra,” khi

tôi và Sadie hạ xuống bên họ.

Trông Walt có vẻ ngượng ngùng.

18

Cậu ấy… nào, tôi sẽ tả Walt thế nào đây?

[Không, cám ơn em, Sadie. Anh sẽ không dùng từ

nóng bỏng để tả cậu ấy đâu. Đợi đến lượt em đi.]

Walt mười bốn tuổi, như tôi, nhưng cậu ấy đủ cao

để chơi tiền đạo cho đội bóng ở trường đại học. Cậu

ấy có khổ người thích hợp – mảnh dẻ và cơ bắp – và

hai bàn chân cậu chàng to làm sao. Cậu ấy có nước

da nâu cà phê, hơi sẫm màu hơn tôi và có mái tóc

húi cua trông như một cái bóng mờ của da đầu. Mặc

dầu trời lạnh, cậu mặc một chiếc áo phông không tay

màu đen và một chiếc quần sóc thể thao – không

phải thứ quần áo tiêu chuẩn của pháp sư – nhưng

không ai tranh luận với Walt. Cậu ấy là học viên

đầu tiên tới chỗ chúng tôi, từ mãi Seatle – và cậu

chàng là một sau bẩm sinh – một người chế tạo bùa

19

ngải. Cậu ấy đeo một mớ các dây chuyền vàng ở cổ

với các loại bùa hộ mệnh màu nhiệm cậu tự chế cho

mình.

Dù sao thì, tôi tương đối tin rằng Sadie ghen với

Jaz và thích Walt, mặc dù con bé không bao giờ thú

nhận điều đó bởi mấy tháng vừa rồi nó đã rầu rĩ về

một người con trai khác – thực ra là một vị thần –

mà nó đã phải lòng.

[Ừ, được thôi Sadie. Giờ anh sẽ bỏ qua chuyện đó.

Nhưng anh nhận thấy là em không phủ nhận.]

Khi chúng tôi làm gián đoạn câu chuyện của hai

người, Walt buông tay Jaz thật nhanh và lùi lại.

Sadie nhìn tới nhìn lui hai người bọn họ, cố gắng

hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Walt hắng giọng. “Cửa sổ đã sẵn sàng.”

20

“Tuyệt lắm.”Sadie nhìn Jaz. “Ý chị là gì, ‘Chúng

ta sẽ tìm ra’ ấy?”

Jaz ngáp ngáp như một con cá cố gắng thở.

Walt trả lời thay cho cô ấy: “Em biết đấy. Cuốn

sách của Ra. Chúng ta sẽ tìm ra.”

“Đúng vậy!” Jaz nói. “Cuốn sách của Ra.”

Tôi có thể thấy là họ nói dối, nhưng tôi cho rằng

dù họ thích nhau đi nữa thì đó cũng không phải là

việc của tôi. Chúng tôi không có thời gian cho bi

kịch.“Được,” tôi nói trước khi Sadie có thể đòi

hỏi một lời giải thích phù hợp hơn. “Bắt đầu cuộc

vui thôi.”

Cánh cửa sổ mở tung ra dễ dàng. Không có những vụ

nổ thần kỳ. Không có chuông báo đông. Tôi thở nhẹ

nhõm và bước vào khu trưng bày Ai Cập, tự hỏi liệu

21

rút cuộc chúng tôi có cơ may để thành công.

Những đồ Ai Cập trưng bày ở đây khiến bao nhiêu kí

ức ùa về. Cho tới tận năm ngoái, phần lớn thời

gian tôi đi du lịch với cha mình từ bảo tàng này

đến bảo tàng khác, giảng về Ai Cập cổ đại. Đó là

trước khi tôi biết rằng Cha là pháp sư – trước khi

cha đã giải phóng một nhóm các vị thần, và cuộc

sống của chúng tôi trở nên rắc rối.

Giờ thì tôi không thể không nhìn những món cổ vật

Ai Cập mà không cảm thấy một mối liên hệ riêng tư.

Tôi giật mình khi chúng tôi đi qua bức tượng Horus

– vị thần đầu chim ưng đã sống trong tôi hồi Giáng

Sinh năm trước. Chúng tôi đi qua một chiếc quách,

và tôi nhớ lại việc thần Set độc ác đã cầm tù cha

chúng tôi trong một chiếc áo quan bằng vàng ở Bảo

22

Tàng Anh. Đâu đâu cũng có những bức tranh Osiris,

thần chết có làn da màu xanh lam, và tôi nghĩ đến

việc Cha đã hi sinh như thế nào để trở thành vật

chủ mới của Osiris. Ngay lúc này đây, ở đâu đó

trong vương quốc thần kỳ Duat , cha chúng tôi đang

là vua của Âm phủ. Tôi thậm chí không thể mô tả cảm

giác lạ lùng khi nhìn một bức tranh năm nghìn năm

tuổi của một vị thần Ai Cập xanh lam và nghĩ, “Ờ,

đó là cha mình.”

Các vật trưng bày cứ như là các đồ lưu niệm gia

đình vậy: một cây đũa thần giống y hệt cây đũa của

Sadie; một bức tranh vẽ những con báo đầu rắn từng

một lần tấn công chúng tôi; một trang trong Cuốn

Sách về Cái Chết minh họa những ác quỉ chúng tôi

từng gặp. Rồi có cả các shabti, những bức tượng nhỏ

23

thường sống lại khi được triệu hồi. Vài tháng

trước, tôi đã phải lòng một cô gái tên là Zia

Rashid, người hóa ra là một shabti.

Yêu lần đầu cũng đã khó khăn rồi. Nhưng khi cô gái

mà bạn thích hóa thành một món đồ sứ và vỡ thành

từng mảnh ngay trước mắt bạn – nào, điều đó mang

đến cho câu nói “làm tan vỡ trái tim bạn” một ý

nghĩa mới mẻ.

Chúng tôi đi qua căn phòng đầu tiên, dưới một bức

bích họa lớn kiểu cung hoàng đạo Ai Cập trên trần

nhà. Tôi có thể nghe tiếng ồn ào của tiệc tùng diễn

ra trong phòng khiêu vũ lớn ở hành lang bên tay

phải. Tiếng nhạc và tiếng cười vang lên khắp tòa

nhà.

Trong căn phòng Ai Cập thứ hai, chúng tôi dừng lại

24

trước một phiến đá trang trí to cỡ cửa một ga ra.

Hình ảnh một quái vật đang giày xéo một vài người

trần được trạm trổ trên phiến đá.

“Đó là quái vật sư tử đầu chim à?” Jaz hỏi.

Tôi gật đầu. “Ờ, phiên bản Ai Cập.”

Con thú có thân hình của một con sư tử và đầu của

chim ưng, nhưng cánh nó không giống như cánh của

phần lớn những quái vật sư tử đầu chim khác mà bạn

từng thấy. Thay vì đôi cánh chim thông thường, đôi

cánh chạy trên phần lưng quái vật – dài, nằm ngang

và tua tủa lông như những chiếc bàn chải thép lật

ngược. Nếu như quái vật có thể bay được bằng thứ

này, tôi cho rằng chúng phải chấp chới liên tục như

cánh bướm. Phiến đá trang trí đã từng có thời được

tô màu. Tôi có thể nhận ra những vẩy đỏ và vàng

25

kim trên vài chỗ khuất của quái vật; nhưng dù không

có màu chăng nữa, quái vật mình sư tử đầu chim

trông vẫn sống động kỳ quái. Đôi mắt như hạt cườm

của nó dường như dõi theo tôi.

“Quái vật sư tử đầu chim là những kẻ hộ vệ,” tôi

nói, nhớ lại vài điều Cha đã có lần nói với tôi.

“Chúng canh gác các kho báu và các thứ khác.”

“Đỉnh thật,” Sadie nói, “Vậy ý anh là chúng tấn

công… ờ, ví dụ như, những kẻ trộm, đột nhập vào bảo

tàng và ăn trộm cổ vật?”

“Đó chỉ là phiến đá trang trí thôi,” tôi đáp.

Nhưng tôi ngờ là lời giải đáp này không khiến mọi

người cảm thấy dễ chịu hơn. Phép thuật Ai Cập nằm ở

chỗ biến những lời nói và hình ảnh thành hiện

thực.

26

“Đấy.” Walt chỉ qua bên kia phòng. “Nó đấy, đúng

không?”Chúng tôi đi vòng thật xa qua chỗ sư tử đầu

chim và tiến về phía bức tượng ở giữa phòng.

Vị thần đứng đó cao chừng tám bộ. Ông được tạc

bằng đá đen và mặc trang phục kiểu Ai Cập điển

hình: Ngực trần, với chiếc váy quấn và xăng đan.

Ông có khuôn mặt cừu đực và những chiếc sừng trải

qua bao thế kỉ đã bị gãy một phần. Trên đầu ông đội

một vương miện hình đĩa – chiếc đĩa mặt trời tết

từ những con rắn. Đứng trước ông là tượng một người

trần nhỏ hơn rất nhiều. Vị thần đặt tay lên đầu

người trần, như đang ban phước cho anh ta.

Sadie liếc nhìn dòng ký tự tượng hình. Kể từ khi

con bé từng là vật chủ của tinh linh Isis, nữ thần

phép thuật, Sadie đã có khả năng đọc chữ tượng hình

27

phi thường.

“KNM,” con bé đọc. “Đọc là Khnum, em đoán vậy. Vần

với cái chum?”

“Ừ,” tôi nhất trí. “đây chính là bức tượng ta cần.

Horus nói với anh rằng bức tượng lưu giữ bí mật

liên quan đến việc tìm ra Cuốn sách của Ra.”

Chẳng may, Horus đã không nói cụ thể lắm. Giờ đây

khi chúng tôi tìm thấy bức tượng, tôi hoàn toàn

không có tí khái niệm về chuyện nó sẽ giúp chúng

tôi như thế nào. Tôi liếc nhìn các chữ tượng hình,

hi vọng có manh mối.

“Cái người nhỏ bé đứng trước là ai thế nhỉ?” Walt

hỏi. “Một đứa trẻ ư?”

Jaz búng ngón tay. “Không, mình nhớ rồi! Khnum tạo

ra con người trên một bàn xoay nặn gốm. Chắc là

28

ông ta đang làm thế trong trường hợp này, mình cuộc

đấy – tạo ra con người từ đất sét.”

Cô ấy nhìn tôi như đợi lời khẳng định. Sự thật là,

chính tôi đã quên câu chuyện này. Sadie và tôi là

giảng viên thật, nhưng Jaz thường nhớ được nhiều

chi tiết hơn tôi.

“Ừ, phải đấy,” tôi nói. “Tạo ra con người từ đất

sét. Chính xác.”

Sadie cau mày nhìn cái đầu cừu đực của Khnum.

“Trông hơi giống bộ phim hoạt hình cũ đấy…

Bullwinkle, phải không nào? Có thể là thần nai sừng

tấm.”

“Ông ta không phải là thần nai sừng tấm,” tôi đáp.

“Nhưng nếu chúng ta đang tìm kiếm Cuốn Sách của

Ra,” cô nói, “và Ra là thần mặt trời, thì tại sao

29

ta lại tìm kiếm một con nai sừng tấm?”

Sadie có thể rất rắc rối. Tôi đã nói vậy chưa nhỉ?

“Khnum là một bản ngã của thần mặt trời,” tôi nói.

“Ra gồm ba bản ngã khác nhau. Ông ấy là Khepri,

thần bọ hung vào buổi sáng; Ra ban ngày; và Khnum,

thần đầu cừu đực, vào lúc hoàng hôn, khi ông ấy đi

đến Âm Phủ.”

“Thật rắc rối,” Jaz nói.

“Không hẳn,” Sadie đáp. “Carter cũng có nhiều bản

ngã khác nhau. Anh ấy biến đổi từ một thây ma sống

vào buổi sáng sang ốc sên vào buổi chiều và -”

“Sadie,” tôi nói, “Im đi.”

Walt gãi cằm. “Mình nghĩ là Sadie đúng đấy. Đó là

một con nai sừng tấm.”

“Cám ơn anh,” Sadie nói.

30

Walt miễn cưỡng cười với con bé, nhưng trông cậu

ta vẫn có vẻ không tập trung, như là có điều gì đó

khiến cậu ấy phiền muộn. Tôi thấy Jaz quan sát cậu

ta với vẻ lo lắng, và tôi tự hỏi không biết vừa nãy

họ đã trao đổi với nhau về việc gì.

“Chuyện nai sừng tấm vậy là đủ rồi đấy,” tôi nói.

“Chúng ta phải đưa bức tượng này về Nhà Brooklyn.

Nó nắm giữ đầu mối gì đó -”

“Nhưng làm sao ta tìm ra nó?” Walt hỏi. “Và cậu

vẫn chưa nói cho bọn mình biết tại sao chúng ta cần

Cuốn Sách của Ra đến thế.”

Tôi lưỡng lự. Có nhiều thứ chúng tôi còn chưa nói

với các học viên, kể cả Walt và Jaz – ví như việc

thế giới này có thể kết thúc trong năm ngày tới.

Những thứ như vậy có thể làm người ta bị phân tán

31

tư tưởng trong quá trình học.

“Mình sẽ giải thích khi chúng ta quay về,” tôi

hứa. “Ngay bây giờ, hãy tính cách để di chuyển bức

tượng.”Jaz nhíu đôi mày. “Mình không nghĩ là có

thể cất nó vào túi xách của mình được.”

“Ồ, lo lắng thế,” Sadie nói. “Nghe này, chúng ta

sẽ gieo một câu thần chú lên bức tượng. Chúng ta sẽ

tạo ra một thứ gì đó thật lớn để đánh lạc hướng

nhằm làm trống phòng khiêu vũ -”

“Khoan đã.” Walt cúi xuống và xem xét bức tượng

người trần nhỏ hơn. Người đàn ông đang mỉm cười,

như thể được tạo ra từ đất sét là một niềm vui

tuyệt vời. “Ông ta đeo một chiếc bùa hộ mạng. Hình

bọ hung.”

“Đó là một biểu tượng phổ biến,” tôi nói.

32

“Ừ…” Walt sờ sờ bộ sưu tập bùa hộ mạng của chính

cậu. “Nhưng con bọ hung tượng trưng cho sự tái sinh

của Ra, đúng không? Và bức tượng này bức tượng này

mô tả Khnum tạo ra một cuộc sống mới. Có lẽ ta

không cần toàn bộ bức tượng. Có lẽ đầu mối là -”

“A!” Sadie rút cây đũa thần của mình ra. “Tuyệt

lắm.”Tôi định nói, “Sadie, không!” nhưng dĩ nhiên

là điều đó chẳng nghĩa lý gì. Sadie chẳng bao giờ

nghe tôi.

Con bé gõ vào chiếc bùa của người đàn ông bé nhỏ.

Hai bàn tay Khnum tỏa sáng. Đầu bức tượng nhỏ hơn

mở ra làm bốn nhánh như đầu một tên lửa, và thò ra

từ cổ bức tượng là một cuộn giấy papyrus ngả vàng.

“Voilà,” Sadie nói tự hào.

33

Con bé đút cây đũa thần vào túi xách và nắm lấy

cuộn giấy đúng lúc tôi kêu lên, “Nó có thể là cái

bẫy đấy!”

Như tôi đã nói, con bé chẳng bao giờ nghe lời.

Ngay khi Sadie vừa giật cuộn giấy ra khỏi bức

tượng, toàn bộ căn phòng rung chuyển. Các vết nứt

xuất hiện trên những bệ kính trưng bày.

Sadie kêu lên khi cuộn giấy trên tay con bé bùng

cháy. Lửa không có vẻ thiêu cháy cuộn giấy cói cũng

như làm Sadie đau; nhưng khi con bé cố gắng dập

lửa, ngọn lửa ma quái màu trắng lan đến kệ trưng

bày gần nhất và chạy quanh phòng như thể lan theo

một vệt dầu. Ngọn lửa chạm đến các cửa sổ và những

chữ tượng hình trắng bừng lên trên kính, có lẽ sẽ

kích hoạt vô khối những mã khóa bảo vệ và những lời

34

nguyền. Thế rồi ngọn lửa ma quái cháy ngang một

riềm đá trang trí lớn ở lối vào phòng. Phiến đá lắc

lư thật mạnh. Tôi không thể nhìn thấy phần trạm

trổ ở mặt bên kia, nhưng tôi nghe thấy một tiếng

kêu bực tức – như tiếng kêu của một con vẹt rất to

và rất tức giận.

Walt tháo cây gậy sau lưng xuống. Sadie vẫy vẫy

cuộn giấy bốc lửa như thể nó dính chặt vào tay

mình. “Gỡ cái này khỏi tay em đi! Đây rất không

phải là lỗi của em nhé!”

“Ừm…” Jaz rút cây đũa thần của mình ra. “Âm thanh

gì thế nhỉ?’

Tim tôi lặng đi.

“Mình nghĩ,” tôi đáp, “Sadie vừa tìm ra trò đánh

lạc hướng lớn.”

35

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát