Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Phần 2 - Lá Bài Thứ 12

PHẦN 2 - LÁ BÀI THỨ MƯỜI HAI

Jeffery Deaver

CHƯƠNG 22

Giáo sư Richard Taub Mathers cao và mảnh khảnh,

với làn da sậm màu như gỗ gụ, đôi mắt sắc và sự

hiểu biết gợi cho người khác thấy hẳn ông phải có

đến một vài tấm bằng sau đại học trong hồ sơ của

mình. Ông chưng diện kiểu tóc xoăn ngắn, hất ngược

ra sau và một thái độ khiêm tốn, nhã nhặn. Cách ăn

mặc mang phong thái của một giáo sư: áo khoác bằng

vải tuýt và chiếc nơ ở cổ áo (chỉ thiếu mỗi mẩu da

lộn được gắn vào ở chỗ khuỷu tay).

Ông ta gật đầu chào Rhyme, tỏ vẻ ngạc nhiên với

chiếc xe lăn, và bắt tay với những người khác.

Rhyme thỉnh thoảng có giảng dạy ở các trường đại

1

học trong vùng về khoa học pháp y, hầu hết là ở

John Jay và Fordham; anh hiếm khi xuất hiện ở những

nơi cao quý như Đại học Columbia, nhưng một giáo

sư anh biết ở trường George Washington ở D.C. đã

đưa anh tới giáo sư Mathers, một người nổi tiếng ở

Morningside Heights. Ông là giáo sư ở một trường

luật - giảng dạy về tội phạm, hiến pháp và các luật

về quyền dân sự cũng như các khóa học về những

điều cao siêu - và tham gia giảng dạy các nghiên

cứu về Mỹ - Phi ở các chương trình sau đại học.

Mathers lắng nghe một cách chăm chú khi Rhyme nói

những gì họ biết về Charles Singleton và cuộc vận

động về quyền dân sự, bí mật của ông ta, cũng như

khả năng ông ta bị gài bẫy vào vụ trộm. Rồi anh nói

với giáo sư về những chuyện xảy ra với Geneva

2

trong suốt hai ngày vừa qua.

Vị giáo sư chớp chớp mắt trong sự ngạc nhiên vì

những thông tin vừa được biết. “Cố gắng để giết

cháu à?”

Geneva không nói gì cả. Vẫn nhìn vào mắt ông ta,

cô bé hơi gật đầu.

Mathers nới những chiếc cúc trên chiếc áo khoác

và kéo cặp kính mảnh rất phong cách. Ông đọc những

bức thư của Charles Singleton một cách cẩn thận,

chậm rãi rồi gật đầu một, hai lần gì đó, khẽ cười

mỉm. Khi đã đọc xong, ông nhìn lướt qua tất cả một

lần nữa. “Một người đàn ông thú vị. Một cựu nô lệ,

một nông dân, phục vụ trong Sư đoàn số 31 của Mỹ

dành cho người da màu - đã ở Appomattox.”

Tuy nhiên, ông đọc những bức thư một lần nữa dù

3

Rhyme cắt ngang và thúc giục nhanh hơn. Cuối cùng

người đàn ông bỏ kính xuống, lau sạch những mắt

kính một cách cẩn thận với một tờ giấy và trầm ngâm

suy tưởng. “Như vậy là ông ấy đã can dự vào việc

ban hành Bản sửa đổi số 14?” Vị giáo sư lại mỉm

cười, rõ ràng cảm thấy tò mò và thích thú. “Chà,

việc này có thể sẽ rất thú vị đây. Nó có thể là một

sự kiện nào đó.”

Cố gắng để giữ kiên nhẫn, Rhyme hỏi: “Vâng, và

chính xác thì nó có thể là gì? Cái điều gì đó thú

vị?”. “Tất nhiên, tôi đang nói về cuộc tranh

luận.” Nếu như có thể làm được, hẳn Rhyme đã chộp

lấy cổ áo của người đàn ông và hét vào mặt ông ta

rằng: Hãy nhanh lên đi. Nhưng anh chỉ thể hiện một

cái cau mày bình thường. “Và cuộc tranh luận đấy là

4

gì?”

“Một chút về lịch sử chứ?”, vị giáo sư ướm hỏi.

Rhyme thở dài. Sachs nhìn anh một cách u ám và

nhà tội phạm học nói: “Tiếp tục đi xem nào”.

“Tài liệu về Hiến pháp Hoa Kỳ - Tổng thống, Quốc

hội và Tòa án Tối cao. Nó vẫn kiểm soát cách chúng

ta vận hành và thay thế từng luật, điều lệ trong

nước.

Giờ đây, trên đất nước này, chúng ta luôn muốn

một sự cân bằng: một chính phủ đủ mạnh để bảo vệ

chúng ta khỏi ngoại bang và để chỉnh đốn, làm hài

hòa cuộc sống của người dân, nhưng không quá mạnh

để đàn áp. Khi những người thành lập đất nước đọc

lại bản Hiến pháp sau khi nó được ký, họ đã lo lắng

rằng nó có quá nhiều quyền lực - có thể dẫn đến

5

một chính phủ chuyên chế. Nên họ sửa đổi nó - thông

qua mười bản sửa đổi, bản Tuyên ngôn Nhân quyền

Hoa Kỳ. Tám bản đầu tiên là những bản thực sự thiết

yếu. Chúng liệt kê những quyền cơ bản về bảo vệ

công dân khỏi sự lạm dụng của chính quyền liên

bang. Ví dụ: FBI không thể bắt ta mà không có

nguyên nhân chính đáng. Quốc hội không thể lấy đi

ngôi nhà của bạn để xây một con đường cao tốc liên

bang mà không có khoản đền bù. Ta có được một tòa

án công bằng với bồi thẩm đoàn chí công vô tư. Ta

không thể bị đối xử một cách dã man và những hình

phạt bất thường,… Nhưng, các cậu có nắm được điểm

quan trọng ở đây không?”

Rhyme nghĩ rằng ông ta thực sự đang kiểm tra họ.

Nhưng Mathers tiếp tục nói trước khi ai đó có thể

6

mở miệng. “Liên bang. Chúng ta được điều hành bởi

hai chính phủ khác nhau ở nước Mỹ: Chính phủ liên

bang ở Washington và chính quyền bang mà chúng ta

sinh sống. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền chỉ giới hạn

những điều mà chính phủ liên bang có thể làm với

chúng ta: Quốc hội và các sở, cục liên bang, như

FBI hay DEA. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền hầu như mang

lại cho chúng ta không một sự bảo vệ nào chống lại

những vi phạm về quyền con người và quyền dân sự

từ chính quyền bang. Và luật pháp của bang chính là

thứ ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta trực tiếp

hơn hẳn với chính phủ liên bang - phần lớn các vấn

đề liên quan tới cảnh sát chống tội phạm, các công

việc công cộng, bất động sản, ô tô, các quan hệ

đối nội, mong muốn, các vụ tố tụng dân sự là những

7

vấn đề của bang.”

“Hiểu chứ? Hiến pháp và bản Tuyên ngôn Nhân quyền

chỉ bảo vệ chúng ta ở Washington mà thôi; chứ

không phải từ New York hay Oklahoma.”

Rhyme gật đầu.

Người đàn ông di chuyển thân hình mảnh khảnh của

mình tới một chiếc ghế đẩu trong phòng thí nghiệm,

nhìn một cách không chắc chắn vào chiếc đĩa thí

nghiệm đang đựng những mẩu đất tơi xốp màu xanh, và

tiếp tục: “Hãy ngược lại những năm 1860. Miền Nam

ủng hộ chế độ nô lệ thua trong cuộc Nội chiến, do

đó chúng ta ban hành Bản sửa đổi số 13, cấm các

hình thức nô lệ. Đất nước tái thống nhất, các hình

thức nô lệ không tự nguyện là vi phạm pháp luật…

chỉ còn tự do và hòa bình bao trùm. Đúng vậy

8

không?”

Một tiếng cười giễu cợt vang lên. “Sai rồi. Cấm

chế độ nô lệ là không đủ. Thậm chí những người da

đen còn chịu nhiều cảm xúc tồi tệ hơn so với trước

chiến tranh - ngay cả ở miền Bắc - bởi có quá nhiều

thanh niên trẻ đã phải chết vì sự nghiệp giải

phóng họ. Các cơ quan lập pháp cấp bang đã thông

qua hàng trăm luật phân biệt đối xử với người da

đen. Họ bị ngăn cản các quyền như: bầu cử, nắm giữ

các cơ quan, có tài sản riêng, sử dụng các trang

thiết bị công cộng, không được ra làm chứng trước

tòa… Cuộc sống của phần lớn những người đa đen gần

tồi tệ như thời nô lệ.

“Nhưng đó là luật pháp của bang, nên nhớ điều đó;

bản Tuyên ngôn Nhân quyền không thể ngăn điều đó.

9

Bởi vậy Quốc hội quyết định rằng các công dân cần

có sự bảo hộ của chính quyền bang. Họ đưa ra Bản

sửa đổi số 14 để sửa chữa điều đó.” Mathers nhìn

vào một chiếc máy tính. “Các vị có phiền không nếu

tôi sử dụng internet một chút?”

“Không, hoàn toàn không vấn đề gì.” Rhyme nói với

ông ta.

Vị giáo sư gõ vào trang tìm kiếm Alta Vista và

một lát sau ông đã tải xuống được một đoạn văn. Ông

cắt và dán đoạn văn ấy vào một cửa sổ riêng biệt,

mà tất cả mọi người trong phòng có thể thấy trên

những chiếc màn hình phẳng trong phòng.

Không một bang nào có thể tạo ra hay củng cố bất

cứ một điều luật nào có thể tước đi hoặc hạn chế

quyền lợi hay quyền bất khả xâm phạm của các công

10

dân Hoa Kỳ; cũng như không có một bang nào tước

đoạt mạng sống của bất cứ một ai, quyền tự do, hay

tài sản, mà không qua một quá trình xét xử theo

đúng luật pháp; cũng như không thể phủ nhận quyền

được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng của một cá

nhân trong phạm vi thẩm quyền tài phán của bang

đó…

“Đây là một đoạn trong phần thứ nhất của Bản sửa

đổi số 14”, ông ta giải thích. “Nó hạn chế một cách

triệt để những gì mà các bang có thể làm với công

dân. Một phần khác, mà tôi đã không in ra, lại

khuyến khích các bang trao cho những người da đen,

những người đàn ông da đen, quyền được bầu cử. Vậy,

các vị đã hiểu chứ?” Vị học giả hỏi.

“Chúng tôi vẫn lắng nghe.” Sachs nói.

11

“Giờ thì, cách thức mà bản sửa đổi trình tới Quốc

hội có hiệu lực là nó phải được Quốc hội thông qua

ở Washington rồi phải được ba phần tư các bang

chấp nhận. Quốc hội thông qua Bản sửa đổi số 14 vào

mùa xuân năm 1866, và được chuyển tới các bang để

phê chuẩn. Hai năm sau, cuối cùng nó đã được thông

qua bởi đủ số lượng bang cần thiết.” Ông lắc đầu

mình. “Nhưng ngay sau đó đã có những lời đồn đại

rằng nó chưa bao giờ chính thức được thông qua và

ban hành. Đó là cuộc tranh cãi mà tôi đang đề cập

đến. Rất nhiều người cho rằng nó không có hiệu

lực.”

Rhyme cau mày. “Thật vậy sao? Họ nói có vấn đề gì

với việc ban hành nó?”

“Có hàng tá luận điểm khác nhau. Một vài bang đã

12

rút lại sự ủng hộ sau khi họ bỏ phiếu cho việc

thông qua nhưng Quốc hội lờ đi điều này. Một số

người thì nói rằng nó không thực sự được trình hay

thông qua ở Washington. Cũng có những tranh cãi cho

rằng có những phiếu thuận giả ở các cơ quan lập

pháp các bang, hối lộ và thậm chí cả đe dọa.”

“Đe dọa?” Sachs hất về phía bức thư. “Như là

Charles nói.”

Mathers giải thích: “Đời sống chính trị khi đó rất

khác. Đó là thời đại mà J. P. Morgan nắm trong tay

một quân đội riêng để chiến đấu với những đội quân

được thuê bởi Jay Gould và Jim Fisk trong cuộc

tranh giành đường sắt. Cảnh sát và chính quyền chỉ

ngồi yên và quan sát những gì xảy ra”.

“Và các vị cũng phải hiểu rằng mọi người hoàn toàn

13

nhiệt huyết với Bản sửa đổi số 14: Đất nước của

chúng ta đã gần như bị phá hủy, một nửa triệu người

chết - bằng với số người mà chúng ta đã mất trong

tất cả các cuộc chiến tranh khác cộng lại. Không có

Bản sửa đổi số 14, miền Nam sẽ nắm quyền trong

quốc hội, và chúng ta có thể một lần nữa nhìn thấy

đất nước bị chia cắt. Có thể sẽ là một cuộc nội

chiến thứ hai.”

Ông ta vẫy vẫy bàn tay trên những đồ vật ở phía

trước. “Ngài Singleton của các vị rõ ràng là một

trong những người đàn ông đi tới các bang để vận

động sự ủng hộ bản sửa đổi. Sẽ thế nào nếu như ông

ta phát hiện ra rằng bản sửa đổi không có hiệu lực?

Đó hẳn phải là điều bí mật đã giày vò ông ta.”

“Có thể là thế”, Rhyme suy đoán: “Một nhóm những

14

người ủng hộ bản sửa đổi đã tạo ra vụ trộm giả để

làm mất uy tín của ông ấy. Để nếu như ông ấy có nói

ra những gì mình biết thì sẽ chẳng một ai tin điều

đó”.

“Tất nhiên, không phải là một nhà lãnh đạo vĩ đại

lúc bấy giờ, không phải Federic Douglass hay

Stevens hoặc Sumner. Nhưng, đúng vậy, chắc chắn

rằng sẽ có hàng loạt các chính trị gia mong muốn

bản sửa đổi được thông qua, và họ sẽ làm bất cứ

điều gì để nó thành sự thật.” Vị giáo sư quay về

phía Geneva. “Và điều đó có thể lý giải tại sao cô

bé này đang gặp nguy hiểm.”

“Tại sao?”, Rhyme hỏi. Anh đã lắng nghe lịch sử

nhưng sự ám chỉ rộng hơn có lẽ là hơi khó nắm bắt.

Thom liền nói: “Tất cả những gì ta phải làm là mở

15

tờ báo ra”.

“Và nó có nghĩa là gì?”, Rhyme ngắt lời.

Mathers trả lời: “Anh ta ám chỉ rằng, hằng ngày có

hàng đống câu chuyện về việc Bản sửa đổi số 14 đã

tác động đến cuộc sống của chúng ta như thế nào.

Anh có thể không nghe việc nó được nói đến một cách

cụ thể nhưng nó vẫn là một trong những vũ khí mạnh

nhất trong kho vũ khí nhân quyền của chúng ta.

Ngôn từ rất mập mờ - quá trình xét xử theo đúng

luật là gì? Hay là pháp luật bảo vệ một cách bình

đẳng?, quyền lợi hoặc quyền bất khả xâm phạm? Tất

nhiên, sự mập mờ đó là có chủ đích, nên Quốc hội và

tòa án tối cao có thể tạo ra sự bảo vệ mới để đáp

ứng những hoàn cảnh của mọi thế hệ.”

“Bên ngoài những câu chữ ngắn gọn đó là hàng trăm

16

điều luật về bất cứ điều gì có thể tưởng tượng

được, không đơn thuần chỉ là sự phân biệt chủng

tộc. Nó đã được sử dụng để làm mất hiệu lực các

điều luật về thuế có tính phân biệt, để bảo vệ

những người vô gia cư, những người lao động không

đủ tuổi, để bảo đảm các dịch vụ y tế căn bản cho

người nghèo. Nó là nền tảng cho các quyền dành cho

người đồng tính và cho hàng ngàn vụ án về quyền lợi

của tù nhân hằng năm. Có lẽ vấn đề gây nhiều tranh

cãi nhất là sử dụng bản sửa đổi để bảo vệ quyền

được phá thai?”

“Không có nó, các bang có thể quyết định rằng các

bác sĩ phá thai là những kẻ giết người chủ yếu. Và

bây giờ, sau sự kiện ngày 11 tháng 9, trong tư

tưởng về An ninh quốc gia, chính Bản sửa đổi số 14

17

đã ngăn các bang truy lùng những người đạo Hồi và

giam giữ họ cho đến khi nào cảnh sát chán thì

thôi.” Khuôn mặt của ông thể hiện một nỗi buồn.

“Nếu như nó không có hiệu lực, bởi vì điều gì đó mà

ông Charles Singleton đã biết được, nó có thể là

kết thúc của sự tự do mà chúng ta vẫn biết.”

“Nhưng mà”, Sachs nói: “Cứ cho là ông ấy đã tìm ra

điều đó, và nó không có hiệu lực. Bản sửa đổi có

thể đơn giản được thông qua lần nữa, đúng không?”.

Lần này thì tiếng cười của vị giáo sư thật sự mỉa

mai. “Sẽ không xảy ra đâu. Một điều duy nhất mà tất

cả các học giả đồng ý là Bản sửa đổi số 14 được

thông qua chỉ trong khoảng thời ngắn trong lịch sử.

Không, nếu như Tòa án Tối cao làm vô hiệu hóa bản

sửa đổi, chúng ta có thể tái thông qua một số điều

18

luật, nhưng vũ khí chủ yếu cho quyền dân sự và

quyền tự do dân sự có thể sẽ biến mất mãi mãi.”

“Nếu như đó là động cơ”, Rhyme hỏi. “Ai là kẻ đứng

sau vụ tấn công Geneva? Chúng ta nên tìm kiếm ai?”

Mathers lắc đầu. “Chà, danh sách sẽ dài vô tận.

Hàng chục trong hàng ngàn người sẽ muốn bảo đảm

rằng bản sửa đổi vẫn có hiệu lực. Họ có thể là

những người cấp tiến về chính trị, thành viên của

một nhóm nhỏ - về chủng tộc hoặc về khuynh hướng

tình dục - hoặc là vì lợi ích của các chương trình

xã hội, các dịch vụ y tế dành cho người nghèo,

quyền phá thai, quyền dành cho người đồng tính,

quyền lợi của tù nhân, và quyền lợi của công nhân

lao động… Chúng ta nghĩ tới những kẻ cực đoan,

những thành phần quá khích vì lợi ích tôn giáo -

19

những người mẹ có những đứa con nằm trên bàn trong

các phòng phá thai - hay là những kẻ đánh bom các

tòa nhà thị chính. Nhưng họ không có độc quyền sát

hại người khác vì đức tin của mình. Hầu hết chủ

nghĩa khủng bố ở phương Tây được thực hiện bởi

những kẻ theo đảng cấp tiến cánh tả.” Ông ta lắc

lắc đầu mình. “Tôi thậm chí không thể đoán được ai

đứng đằng sau sự việc.”

“Kiểu gì thì chúng ta cũng phải thu hẹp phạm vi

tình nghi”, Sachs nói.

Rhyme gật đầu một cách chậm rãi và nghĩ: Tâm điểm

chính trong vụ án này là phải bắt được Nghi phạm

109 và hy vọng rằng hắn sẽ nói ra kẻ đã thuê mình,

hoặc tìm ra các bằng chứng có thể đưa manh mối tới

kẻ đó. Nhưng anh cũng cảm nhận một cách rất bản

20

năng rằng đây cũng là một manh mối quan trọng. Hiện

tại, nếu như không có một câu trả lời rõ ràng về

việc kẻ nào đứng sau các vụ tấn công Geneva Settle,

họ sẽ phải xem xét tới quá khứ. “Dù kẻ đó là ai đi

chăng nữa, hắn rõ ràng phải biết về những gì xảy

ra vào năm 1868 hơn chúng ta. Nếu chúng ta có thể

tìm ra điều đó - điều mà Charles nhận ra, ông ấy

phụ thuộc vào điều gì, bí mật của ông ấy, và vụ

trộm - nó có thể chỉ cho chúng ta đến một nơi nào

đó. Tôi muốn có nhiều thông tin hơn về thời gian

lúc đó ở New York, Gallows Heights, Potter’s Field,

bất cứ gì mà chúng ta có thể tìm thấy.” Anh nhíu

mày như thể một ký ức bất chợt trở về và nói với

Cooper: “Khi tìm cái tên Gallows Heights lần đầu

tiên, anh đã tìm ra một bài viết về địa điểm đó ở

21

gần đây, Tổ chức Sandford”.

“Đúng thế.”

“Anh vẫn giữ nó chứ?”

Mel Cooper lưu trữ lại mọi thứ. Anh nhớ lại về bài

báo của tạp chí Times trên chiếc máy tính của

mình. Những dòng chữ hiện lên trên màn hình của

anh. “Nó đây rồi.”

Rhyme đọc bài báo và biết được rằng tổ chức

Sandford này có lưu trữ tổng thể về lịch sử khu

Upper West Side. “Liên lạc với giám đốc nơi này -

William Ashberry. Nói với ông ta chúng ta cần làm

việc với thư viện của ông ấy.”

“Tôi sẽ làm như vậy.” Cooper nhấc điện thoại lên.

Anh có một cuộc nói chuyện ngắn gọn, rồi dập máy và

báo cáo. “Họ rất vui lòng được giúp đỡ. Ashberry

22

sẽ đưa chúng ta tới người quản lý các kho lưu trữ.”

“Sẽ phải có một ai đó đi tìm hiểu việc này”, Rhyme

nói, nhìn Sachs với đôi lông mày nhướn cao.

“Ai đó? Em phải làm cái công việc chán ngắt đó

sao.”Cô ấy còn nghĩ được ra ai nữa? Pulaski thì

đang nằm trong viện. Bell và đội của anh ta đang

bảo vệ Geneva. Cooper là một chuyên gia trong phòng

thí nghiệm. Sellito thì thừa tầm để thực hiện

những công việc đơn giản dành cho lính mới kiểu

này. Rhyme trách cô: “Không có những hiện trường

nhỏ, chỉ có những cuộc điều tra hiện trường nhỏ mà

thôi”.

“Hài hước đấy”, cô nói một cách chua chát. Mặc áo

khoác vào, cô cầm lấy chiếc túi xách của mình.

23

“Một điều nữa”, Rhyme nói, lúc này giọng nghiêm

trọng.Cô nhướn lông mày lên.

“Chúng ta biết rằng hắn sẽ nhắm vào chính chúng

ta.”Cảnh sát, ý anh là thế.

“Ghi nhớ những mẩu sơn màu vàng đó trong đầu. Quan

sát các công trình hoặc các công nhân thi công

đường cao tốc… Chà, đối với gã này, cần phải đề

phòng bất cứ ai.”

“Em biết rồi”, cô nói. Rồi lấy địa chỉ của tổ chức

và rời đi.

Sau khi cô đi khỏi, Giáo sư Mathers nhìn qua những

bức thư và các tư liệu khác một lần nữa rồi đưa

chúng cho Cooper. Ông nhìn Geneva. “Khi ta ở tuổi

của cháu, họ thậm chí còn chưa đưa các nghiên cứu

về lịch sử Mỹ - Phi vào chương trình học. Chương

24

trình hiện tại thế nào rồi? Cháu phải học hai kỳ

à?”

Geneva cau mày: “Chương trình học Mỹ - Phi? Cháu

không học môn này”.

“Vậy thì bài nghiên cứu của cháu là về nội dung

gì?”“Nghệ thuật ngôn ngữ.”

“Chà. Vậy là cháu sẽ học môn nghiên cứu lịch sử Mỹ

- Phi năm tới?”

Do dự một lúc. “Cháu không định học môn đó chút

nào hết.”

“Thật sao?”

Geneva rõ ràng cảm nhận được sự trách móc trong

câu hỏi của ông ta. “Nó đơn giản là qua và trượt.

Tất cả những gì ta phải làm là có mặt trong lớp.

Cháu không muốn kiểu đánh giá như vậy có trong hồ

25

sơ học bạ của mình.”

“Nó không thể làm cháu đau lòng.”

“Vậy vấn đề ở đây là gì?” Cô hỏi một cách thẳng

thừng bất lịch sự. “Chúng cháu đã nghe đi nghe lại

suốt rồi... Bộ phim Amistad, các nô lệ, John Brown,

các điều luật Jim Crow, vụ kiện tụng Brown chống

lại Hội đồng giáo dục, Martin Luther King, Jr.,

Malcolm X...”, rồi cô bé im lặng.

Không đứng trên vai trò một giảng viên, Mathers

hỏi: “Chỉ là rên rỉ về quá khứ thôi à?”.

Geneva cuối cùng cũng gật đầu. “Cháu cho rằng đó

chính là cách mình nhìn nhận về nó. Ý cháu là, bây

giờ là thế kỷ hai mươi mốt rồi. Thời đại để chúng

ta tiếp tục bước đi. Tất cả những trận chiến ấy đã

kết thúc.”

26

Vị giáo sư mỉm cười, rồi ông nhìn Rhyme. “Chà,

chúc may mắn. Hãy cho tôi biết nếu tôi có thể giúp

gì hơn.”

“Chúng tôi sẽ làm vậy.”

Người đàn ông mảnh khảnh bước tới cánh cửa. Ông ta

dừng lại và quay đầu.

“À, Geneva?”

“Vâng?” “Hãy nghĩ tới điều này - từ một người có

kinh nghiệm sống nhiều hơn cháu một vài năm. Đôi

khi chú vẫn tự hỏi nếu như cuộc chiến thực sự vẫn

chưa kết thúc như vậy.” Ông ta hất đầu về phía tấm

bảng chứng cứ và những lá thư của Charles. “Có lẽ

điều đó chỉ là khó nhận biết được kẻ thù hơn mà

thôi.”

27

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát