Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Phần 2 - Phía Đông Mặt Trời

PHẦN 2 - PHÍA ĐÔNG MẶT TRỜI

Tác giả: Julia Gregson

Người dịch: Hồ Anh Quang

Nhà xuất bản: Nxb văn học

Nhà phát hành: Phương Đông

Chương 29

Khi Frank gọi cho Viva thông báo anh đã trở lại

Bombay, và đang nóng lòng muốn được gặp cô, trong

khoảnh khắc, Viva không thể thốt nổi thành lời.

“Frank trên tàu Kaiser ấy”, anh giải thích. “Cô

còn nhớ tôi chứ?”.

“Tất nhiên là tôi vẫn nhớ”, cô nói. Viva mỉm cười,

một cơn xúc động vụt thoáng qua khiến cô nóng ran

mặt mày.

“Tôi muốn đến thăm cô và kể cho cô nghe về Guy

1

Glover”.“Tối nay tôi bận rồi”, cô dứt khoát. “Ngày

mai thì sao?”.

Anh bảo ngày mai cũng không sao.

Cô đọc địa chỉ cho anh, rất nhanh sau đấy anh gác

máy. Khi những ngón tay của cô rời khỏi ống nghe

điện thoại, cô cảm nhận rõ ràng những giọt mồ hôi

ẩm ướt túa ra trên những đầu ngón tay đã in dấu

trên ống nghe điện thoại, những dấu vân ướt át hệt

như những con sao biển tí hon lằn mình trên cát.

Sau cuộc trò chuyện với Frank qua điện thoại, cô

đứng dậy nhìn quanh căn phòng của mình, cố gắng đặt

mình vào vị trí của anh. Một tháng trước, khi đặt

chân vào căn phòng chật chội này, cô đã ngán ngẩm

đến tột cùng, những tưởng trước đây đã rơi xuống

tận cùng của thế giới, ấy vậy mà khi đứng giữa căn

2

phòng kinh khủng này, cô lại có cảm giác mình đang

tiếp tục rơi sâu hơn nữa.

Căn phòng miễn phí, đúng như Daisy đã hứa, nằm

trên tầng áp mái của cửa hiệu ông Jamshed đóng trên

phố Jasmine, một con phố trung tâm, nhưng đêm đêm

trên bốn bức tường tróc vôi nham nhở, lũ thằn lằn

vẫn phóng mình đuổi nhau ràn rạt trên đầu cô, trơ

trọi một bóng đèn mất chụp, thảm trải nhà mỏng tang

xơ xác, chiếc bếp ga rỉ sét nằm nép mình dưới tấm

rèm cửa cũ kỹ đong đưa vật vờ ngay trên đầu. Căn

phòng gợi cho cô nhớ đến những phòng ngủ tồi tàn

nhất ở London, ẩm thấp và nóng nực. Đêm đầu tiên

trong căn phòng miễn phí này, cô đã ngồi hàng giờ

trên ban công chật chội, nhẩn nha hút thuốc và nhìn

ngắm những hình thù mờ ảo ẩn hiện trên con đường

3

tăm tối không xa ngay dưới chỗ cô ngồi, tự hỏi

không biết điều tồi tệ nào đã dẫn mình đến với nơi

đây. Hôm sau, cô dành trọn một ngày để cọ rửa căn

phòng sạch như lau. Cô đốt một chút trầm hương để

xua đi mùi thức ăn kinh khủng lâu ngày đang ám ảnh

quanh căn phòng, rồi cô mang tấm chăn của bố mẹ ra

trải lên giường, những mảnh vải đủ sắc màu đỏ,

xanh, hồng... chắp vá trên tấm chăn khiến nó chợt

bừng sáng lấp lánh như một tấm kính màu khổng lồ

khi mặt trời lên cao, rót vào căn phòng chật chội

của cô mấy vạt nắng rồi nhẹ nhàng đậu xuống sàn

nhà.

Đêm thứ hai, Daisy đến thăm cô mang theo một chiếc

đệm được thêu hoa văn sặc sỡ, một tờ giấy in một

bài thơ Ba Tư cổ cùng một nhánh dạ lan hương trên

4

tay.Khi gia sản tan thành mây khói

Ta nhận ra mất mát đã nhiều

Chỉ còn lại cửa hàng trống rỗng

Với hai ổ bánh mỳ im lặng giữa cô đơn.

Bán một ổ, với chút tiền ít ỏi

Mua nhánh dạ lan hương, ta nuôi dưỡng tâm hồn.

Viva đã đóng khung bài thơ và treo lên đầu giường

ngủ của cô.

Tuần tiếp theo, cô cùng Daisy đến khu phố chợ Chor

Bazaar tìm mua một bộ dao kéo nĩa thìa, một chiếc

ấm đun nước và một chiếc ghế hãy còn mới, về sau

được cô bọc lại bằng một tấm khăn choàng Kashmiri

đã cũ. Ở đấy cô còn tìm được một tấm gương tráng

men xanh ngọc cũ kỹ, Viva mua nó và treo trên bồn

rửa mặt. Cuối cùng, căn phòng nom đã sáng sủa hơn

5

một chút, giống như cô.

Đêm đầu tiên ở nhà mới, ông Jamshed, một tín đồ

Bái hỏa giáo có học thức, to lớn, vui vẻ và lúc nào

cũng ồn ào huyên náo đã sốt sắng vẫy cô trên

ngưỡng cửa khu nhà như thể cô là một đứa con gái

chậm chạp. Khi cô đến bên cạnh, ông nhiệt tình mời

cô ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh cửa sổ, từ đây cô

có thể thấy rõ mồn một những cánh bồ câu đang chao

lượn trên trời chiều thẫm màu hoa đào, lấy nước mời

cô uống và giới thiệu với Viva các cô con gái của

ông, Dolly và Kaniz, những cô gái xinh xắn với mái

tóc buộc túm trên đầu, son môi tươi rói chơi cút

bắt nhau như chong chóng quanh ông bố. “Chúng

thường xuyên quấy rầy tôi”, ông kể với Viva, khuôn

mặt ông bừng sáng, ánh mắt rạng ngời lấp lánh niềm

6

hạnh phúc.

Bà Jamshed, một phụ nữ đẫy đà, lúc nào cũng thẹn

thùng e lệ, cố năn nỉ mời bằng được cô ở lại và

dùng bữa tối với gia đình ông bà. Viva cùng gia

đình ông Jamshed quây quần bên bàn ăn trước hiên

nhà, bữa tối có cá nhồi lá, cơm trắng, rau và cuối

cùng tráng miệng bằng sữa trứng ngọt. Bà Jamshed

nhiệt tình nhồi đồ ăn vào đĩa của Viva cho đến khi

cô có cảm giác bụng mình sắp nổ tung. Cuối bữa ăn,

ông Jamshed giới thiệu với cô từ russa, một thuật

ngữ trong tiếng Ấn chỉ phương pháp nấu nướng và bày

biện đồ ăn thức uống bằng tất cả tình yêu của

người đầu bếp; và rằng trong bữa ăn ở một gia đình

Ấn Độ, trừ khi cô để lại một chút đồ ăn thừa trong

đĩa, còn nếu không thì cô vẫn tiếp tục được chủ

7

nhân phục vụ cho đến khi cô cảm thấy bụng mình sắp

nổ tung vì quá no mới thôi.

Công việc của Viva ở mái ấm tình thương Tamarind

đã bắt đầu hai ngày sau đấy. Cô chấp nhận công việc

này chỉ với mục đích duy nhất: lấy ngắn nuôi dài,

kiếm đủ tiền để có thể viết lách, có thể cô sẽ viết

được vài câu chuyện hay ho khi làm việc ở đây, rồi

Viva sẽ đến Simla để nhận lại món đồ do bố mẹ cô

để lại, món đồ giờ đây được cô chua chát gọi bằng

cái tên “chiếc rương bị nguyền rủa”.

Sáng nay cô bước xuống xe buýt, tâm trạng đầy ắp

lo âu. Nhìn từ xa, mái ấm Tamarind nhỏ bé và liêu

xiêu trong nắng, ngôi nhà trước đây thuộc về một

thương gia buôn hoa giàu có. Khi đến gần, Tamarind

vẫn phảng phất đâu đó những nét yêu kiều một thời

8

đã phai tàn theo năm tháng, là những ô cửa sổ tinh

xảo, những chấn song được trau chuốt tỉ mỉ, những

nét chạm trổ tinh vi... tất cả đã nhờ nhờ một màu

hoen rỉ, trầm mặc và cô lẻ.

Joan, một bà đỡ vui tính người Xcốt-len, vừa dẫn

cô đi một vòng qua những hành lang tăm tối để giới

thiệu về mấy phòng ngủ tập thể sơ sài. Vừa đi Joan

vừa hào hứng kể cho cô nghe về chuyến công tác vào

sâu trong nội địa mới đây của bà để điều tra tình

hình về các bà đỡ tại những ngôi làng ở khu vực

nông thôn cùng tỉ lệ tử vong của bọn họ.

Nhà tình thương được mở cửa để đón nhận những trẻ

em Hindu và trẻ Hồi giáo, mục đích cuối cùng vẫn là

đưa các em về nhà hoặc tìm cho chúng một gia đình

thích hợp.

9

“Đừng bao giờ có ý nghĩ chúng ta đang ban ơn khi

làm những việc ấy”, Joan nói. “Nếu lũ trẻ đang chết

đói, chúng sẽ biết ơn nếu chúng ta cho thức ăn.

Nhưng cũng có nhiều đứa ghét cay ghét đắng kiểu đối

xử nặng tính nhân ái bao dung nơi đây, bởi chúng

cảm thấy mất tự do, đặc biệt là những đứa lớn tuổi.

Có những đứa thậm chí còn muốn ở lại trong các khu

ổ chuột dột nát nhất hơn là chuyển đến sống tại

đây”.

Những vách tường tróc lở nham nhở, những căn phòng

trống tênh không một chút đồ đạc đáng giá nói lên

sự thiếu thốn nơi đây. Số tiền ủng hộ dôi dư của

các nhà hảo tâm được dành cho việc điều trị chữa

chạy y tế cho những đứa trẻ đau ốm. Khi Joan dẫn

Viva ngang qua khoảng sân trong, một toán bé gái

10

bất ngờ túa ra xuất hiện bên cạnh hai người, ồn ào

và thân thiện, chúng chạy đến nắm tay Joan, mỉm

cười với Viva. “Chúng muốn hát tặng cô một bài”,

Joan giải thích. Khi những đứa trẻ bắt đầu cất

nhịp, Viva nhủ thầm, mình sẽ không bao giờ nhìn

thấy những nụ cười rạng rỡ, những ánh mắt trong

sáng này trên khuôn mặt của người châu Âu. Cuộc

sống nghèo nàn vất vả, nhưng bọn trẻ nơi đây mới

yêu đời biết bao.

Bữa trưa được dọn ra trên những chiếc bàn kê trên

niễng đặt ngoài mảnh sân con con trước hiên nhà,

Viva dùng bữa cùng bọn trẻ, cô được giới thiệu với

Clara, một nữ y tá người Ai-len to lớn, làn da nhợt

nhạt lấm tấm tàn nhang, khuôn mặt mờ tối, có vẻ là

một người khó tính. Clara múc những muôi dhal(1)

11

to tổ chảng đổ đánh bẹt vào từng chiếc đĩa, trong

khi bọn trẻ bắt đầu cắm mặt vào ăn, cô ta đứng ở

bên kia dãy bàn, càu nhàu với Viva rằng, cô từng

làm việc trong một trại trẻ mồ côi khác ở Bombay,

và rằng “chắc chắn chỗ này là Ritz(2) nếu đem so

với nơi đấy”.

Joan giải thích với cô, rằng nhiều trung tâm nuôi

dạy trẻ mồ côi ở Ấn Độ thực chất chỉ là những trại

buôn người khủng khiếp không hơn không kém, ở đấy

bọn trẻ bị đánh đập, bóc lột, thậm chí nhiều bé gái

còn bị bán cho những lão già có tiền thích chơi

trống bỏi. “Chúng ta phải mất rất nhiều thời gian

để tạo dựng niềm tin từ phía người dân bản xứ.

Chúng ta phải rất, rất thận trọng, phải vậy không

Clara?”. Mặt Clara vẫn khó như đăm. Cô ta ném về

12

phía Viva một cái nhìn đầy giễu cợt như thể muốn

nói “cô không thích hợp với chỗ này đâu”. Những

ngày sau đấy, khi Viva được phân làm việc cùng ca

với Clara, cô luôn cảm nhận được thái độ e dè kín

kẽ đến khó chịu của người đồng nghiệp, có lẽ trong

mắt Clara, Viva chỉ là một kẻ học việc không bao

giờ thích nghi được với hoàn cảnh nơi đây.

Cô đang làm gì ở đây? Không phải y tá, lại càng

không phải là người làm từ thiện, thậm chí cô còn

không chắc mình có yêu trẻ hay không nữa. Điều duy

nhất cô nghĩ trong những ngày đầu tiên đến làm ở

đây chỉ là phải làm sao cho mọi việc thật xuôi chèo

mát mái.

Ban đầu người ta chỉ phân công cho cô làm những

việc hết sức đơn giản, khá dễ dàng. Joan sắp xếp

13

cho cô ngồi cạnh một người phụ nữ gốc Maharashtra,

sau một chiếc bàn đặt giữa sân, chờ đón bọn trẻ đến

với trung tâm Tamarind. Viva có nhiệm vụ ghi lại

họ tên những đứa trẻ đã được người phụ nữ gốc

Maharashtra phỏng vấn vào một cuốn sổ bọc da cỡ

lớn, chú thích ngày tháng đến với nhà tình thương

của từng đứa, địa chỉ của chúng. Nếu có thể, ai đã

từng chữa trị cho chúng, loại thuốc nào chúng đã sử

dụng và liệu bác sĩ có muốn chúng quay lại để kiểm

tra lần thứ hai hay không. Hầu như tất cả bọn trẻ

đều chưa từng được điều trị trước đấy.

Không bao giờ có đủ bác sĩ để khám chữa cho chúng,

Joan, Clara và thỉnh thoảng cả Daisy cũng có mặt

để xắn tay áo vào công việc nhằm giảm bớt những vất

vả cho bác sĩ và những thiếu thốn thuốc thang điều

14

kiện y tế, họ chỉ gửi những trường hợp nặng nhất,

cấp thiết nhất đến bệnh viện để điều trị.

Mới sáng nay thôi, một nhóm trẻ em với những ánh

mắt năn nỉ cầu xin đã trở thành những cá nhân riêng

biệt. Cô gặp Rahim, một nam thiến niên Hồi giáo

cộc lốc, luôn sẵn sàng nổi giận với bất kỳ ai, gầy

trơ xương với khuôn mặt rỗ hoa chằng chịt, có ông

bố bị hắt xăng vào người và cuối cùng chết cháy

trong một cuộc tranh giành mà Clara cho là dính

dáng đến các băng đảng xã hội đen. Rahim muốn gửi

đứa em gái lên sáu của nó ở đây để rảnh rang ra

ngoài kiếm chút tiền. Cô còn gặp Sumati, mười hai

tuổi. Sau khi mẹ con bé qua đời bởi bệnh lao, nó

trở thành trụ cột của gia đình gồm bốn chị em, lay

lắt qua ngày bằng nghề moi rác, nhưng cuối cùng con

15

bé cũng kiệt sức.

Giữa trưa, ngôi nhà gần như nổ tung bởi mấy thằng

bé ồn ào từ ngoài đường ùa vào, chân trần bẩn thỉu,

gần như trần truồng chỉ với mảnh khố quấn quanh

bẹn, chí chóe tranh giành nhau món xúp được cung

cấp miễn phí ở trung tâm từ tay những người phụ nữ

địa phương làm việc trong trường. Chúng ngủ tạm bợ

trong những thùng giấy bìa cứng vẫn được người dân

thẳng tay vứt đi cạnh đường ray xe lửa, Daisy giải

thích. Chúng lang thang cả ngày hàng dặm đường để

xin chút cơm thừa canh cặn, vài muỗng dhal và dăm

ba mẩu trái cây, tắm gội rửa ráy qua loa từ vòi

nước lắp trong sân trung tâm Tamarind, dùng những

ngón tay làm bàn chải răng. Daisy bảo chúng luôn có

suy nghĩ mình là những đứa trẻ may mắn nhất còn

16

tồn tại trên đời này bởi được phép làm những việc

ấy ở Tamarind.

“Chúng khiến chị phải bận tâm, đúng không?”, Viva

hỏi. Tất nhiên là vậy rồi.

“Cô biết đấy, một ngày nào đấy”, Daisy lên tiếng

trước khi cô đứng dậy, “có thể cô sẽ có nhiều

chuyện để viết hơn là những cái tên của chúng trong

mấy cuốn sách của mình. Cô có thể viết về những

câu chuyện đời thường của bọn trẻ”.

Buổi sáng thứ hai của tuần tiếp theo, mọi việc lại

thay đổi. Joan với khuôn mặt đỏ gay, phục phịch

vừa chạy qua mảnh sân con vừa hổn hển thông báo

“địa ngục lại tiếp tục mở toang cánh cửa” tại một

khu ổ chuột hình thành sau nhà máy sản xuất bông

gần đấy.

17

Một đường ống dẫn nước bị vỡ, hai mươi người đã

chết đuối. Nửa tiếng sau, một đám đông quần áo

người ngợm bám đầy bùn đất hôi hám ùa tới, chạy bộ

có, đi bằng xe kéo tay có, thậm chí cả bằng xe bò

kéo và trên những chiếc taxi ọp oẹp. Tất cả đều kêu

gào khóc lóc cầu mong sự giúp đỡ.

Người lớn được chuyển đến bệnh viện địa phương, ở

đấy họ sẽ có một chỗ nương tựa tạm thời; đám trẻ

con một thân một mình không có người lớn đi kèm đã

kéo nhau về đây. Những bồn tắm bằng thiếc bắt đầu

được mang ra giữa sân, thêm mấy chiếc bếp dầu được

châm lửa để hâm nóng đồ ăn thức uống.

“Tốt hơn hết cô nên dừng công việc của mình lại và

đến đây giúp chúng tôi một tay”. Clara nhanh chóng

gấp cuốn sổ của Viva lại, trước khi dúi vào tay cô

18

một chiếc tạp dề còn kịp trao cho Viva một cái

nhìn nửa châm chọc, nửa hằn học. “Cô đang ở tận

cùng của thế giới rồi đấy”.

Một bé gái có tên là Talika được moi ra từ đám

đông trẻ con đang dúm dó trước cổng trường

Tamarind. Con bé chừng bảy tuổi, gầy trơ xương

trông đến thảm hại, đôi mắt nâu to tròn ngơ ngác và

mái tóc rối bù, cả cơ thể của con bé lọt thỏm

trong chiếc váy hoa quá khổ. Trên cổ Talika đeo một

vòng giấy với dòng chữ “Hari kiti” - Làm ơn giúp

cháu.

Khi Talika kiệt sức khụy ngã dưới chân Viva, con

búp bê bằng vải bé nhỏ của con bé rơi xuống vũng

bùn bên cạnh. Viva có cảm giác đầu tóc rối bù của

nó vừa đập nhẹ lên mũi giày của cô, Viva rúng động,

19

những cảm xúc khác nhau chợt ùa về: Nhói đau bởi

hình ảnh thê lương cảm động đang diễn ra trước mắt,

giận dữ bởi hoàn cảnh khó khăn mà cô đang vấp

phải; cả nỗi khiếp sợ dành cho đứa bé, đang rũ rượi

thò lò mũi xanh rỉ lên tất cô như dòng nhớt nhãi

của lũ ốc sên do bị cảm lạnh. Viva sợ hãi với nỗi

ám ảnh giờ đây cô trở thành người duy nhất được hy

vọng có thể làm điều gì đấy cho con bé.

Một dãy lều vải dã chiến nhanh chóng được dựng lên

ngay giữa khoảng sân chật chội. Daisy và Clara tất

bật chạy vòng quanh nhét những chiếc bồn tắm bằng

thiếc cùng một mẩu xà phòng tắm, một chiếc khăn

bông vào từng túp lều.

Viva dìu Talika vào sau một túp lều. Không anh chị

em, nên trước đây cô chưa bao giờ phải chăm sóc ai

20

như thế. Cả hai đều lúng túng.

“Cởi đồ ra”. Cô chỉ vào chiếc váy bám đầy bùn đất

của đứa bé, cặp mắt tròn xoe của Talika vẫn dán vào

cô, im lặng. Rồi nó chậm rãi đặt con búp bê bằng

vải của mình xuống, từ từ trút bỏ chiếc váy đang

khoác trên người. Con bé khẽ rùng mình khi bước

chân vào bồn nước lạnh, nhưng rồi nó cũng ngoan

ngoãn dùng xà phòng chà xát, gột rửa toàn bộ cơ

thể. Những ngón tay của Viva miệt mài kỳ cọ trên cơ

thể con bé, vừa làm cô vừa cúi gằm mặt nhìn chằm

chằm xuống đất. Từ túp lều bên cạnh vọng sang tiếng

hát và tiếng cười đùa vui vẻ của Daisy khi cô giúp

bọn trẻ tắm. Viva có cảm giác đông cứng cả cơ thể.

Cô dội nước lên mái đầu nhỏ bé của Talika, nhăn

21

mặt khi nhìn thấy những dòng bùn bẩn xám xịt trôi

từ đầu tóc con bé xuống mặt đất. Cô dùng bánh xà

phòng đặc biệt được Daisy đưa sang dùng để diệt

chấy rận mạnh tay cọ xát trên đầu tóc con bé.

Talika vẫn không khóc, ngay cả khi xà phòng bắn vào

mắt nó. Con bé đứng yên, tê cứng vì choáng váng.

Sau khi được lau khô, Joan xuất hiện mang cho

Talika một chiếc váy khác vừa vặn hơn với con bé

cùng một con búp bê bằng vải hãy còn khá mới - con

búp bê cũ của Talika đã được mang đi giặt giũ và

xông nước cho thơm. Sau đấy con bé được sắp xếp vào

phòng ngủ tập thể dưới tầng một cùng mười bé gái

khác, nó sẽ ở đây cho đến khi có người thân đến đón

hoặc khi Talika muốn được tự do ra ngoài đường phố

để sinh sống. Con bé được phát một tấm nệm, một

22

cuốn vở và một chiếc bút chì.

Cuối ngày hôm ấy, khi Viva đang đứng bên cạnh cổng

trung tâm, đầu óc choáng váng, mệt mỏi bởi những

gì vừa trải qua, cô lại nhìn thấy Talika. Con bé

được phát một cái chổi gấp đôi chiều cao cơ thể của

nó, đang chậm rãi lia những nhát chổi gom lớp lá

me vương vãi trên sân trường. Có vẻ con bé rất chăm

chú và tuân thủ nghiêm ngặt công việc được giao.

Cô cũng đã có một công việc để làm, và cô sẽ làm

thật tốt. Nếu con bé nắm giữ được vận mệnh cuộc đời

nó, thì mình cũng làm được, Viva tự nhủ, và cô cảm

thấy phấn chấn với ý nghĩ vừa chớm hình thành

trong đầu.

Tối nay Frank đã hẹn sẽ đến thăm cô, sáng nay trên

đường đến chỗ làm, cô đã tự hỏi không biết bao

23

nhiêu lần tại sao Frank lại tỏ vẻ nghiêm trọng đến

thế, giọng anh có gì đấy hơi khác thường khi trò

chuyện với cô qua điện thoại. Có thể đấy là một tin

vui, cô nghĩ, phấn chấn bước chân khỏi vỉa hè trầy

vỡ gạch lát để trèo lên xe buýt, rằng Guy không

phải là lý do duy nhất được anh đưa ra để gặp cô,

có thể anh đã kịp gây nhớ nhung quyến luyến cho vài

cô gái ở Lahore. Giữa cô và anh chưa xảy ra chuyện

gì để được gọi là lưu luyến và gắn bó, Viva tự

nhủ, khẽ đưa tay vẫy chào người đàn ông trong tiệm

rượu vang vẫn vui vẻ chào cô mỗi sáng mai khi Viva

ngang qua đây. Guy đã gắn kết cô và Frank lại với

nhau, trong những đêm chong đèn thức bên nhau canh

cho Guy ngủ trong căn buồng của nó trên con tàu

Kaiser, cả hai có cảm giác như bị bỏ rơi, cô độc

24

bên nhau giữa đảo hoang không một bóng người. Chính

những thời khắc ấy đã thôi thúc trí tò mò, cũng có

thể chỉ là những suy nghĩ viển vông khi muốn được

hiểu cặn kẽ về anh, được anh quan tâm một cách đặc

biệt, tin cậy và nồng ấm.

Sau tám tiếng tắm rửa cho bọn trẻ, dọn giường cho

chúng và làm vài công việc lặt vặt trong văn phòng,

Viva trở về nhà trong ánh nắng chiều nhuốm màu bụi

hồng. Frank! Hình ảnh anh cứ lởn vởn trong đầu cô

suốt cả ngày hôm nay, nhưng giờ đây, trên đôi chân

bước những bước vội vã, với nửa vạt váy sau dính

bết vào lưng, Viva bỗng hoảng sợ khi nghĩ đến việc

có thể Frank sẽ đến quá sớm, cô cần thời gian để

tắm rửa, để chợp mắt một chút, để trấn tĩnh lại,

thôi không nghĩ đến những điều có thể khiến cô bị

25

tổn thương.

Cô mệt mỏi trèo lên những bậc cầu thang, thầm hy

vọng Jamshed không bất ngờ từ đâu đó vọt ra như

thỉnh thoảng ông vẫn làm, rồi khăng khăng năn nỉ

mời bằng được cô vào nhà uống chút gì đấy, cùng gia

đình ông “chuyện trò huyên thuyên”.

Như mọi ngày, sau khi tắm rửa và ăn nhẹ một chút

gì đấy, cô sẽ châm đèn bắt đầu ngồi viết, nhưng tối

hôm nay thì khác, cô nằm dài trên giường, mắt khép

hờ. Sau một hồi mông lung, cô chợt nhận ra mình

cần phải chọn một bộ quần áo thích hợp để chào đón

Frank. Chiếc váy màu đỏ - quá nổi, không hợp với

buổi tối hôm nay. Vậy thì áo và váy màu cánh đào

thì sao - quá tẻ nhạt. Khi đã gần như lựa chọn được

một bộ, thì chính cô lại quyết định gạt phắt nó

26

đi. Không cần quan tâm đến chuyện Frank sẽ thích

mình mặc gì là ý nghĩ cuối cùng thoảng qua trong

đầu trước khi Viva chìm vào giấc ngủ.

Viva bật dậy khi nghe thấy tiếng gõ cửa từ ngoài

vọng vào, cô nhìn thẳng về phía cửa phòng. Qua tấm

kính mờ cũ, Viva thấy thấp thoáng một bóng người

đang nhấp nhô bên ngoài. Cô mặc vội chiếc áo khoác

vào người, lóng ngóng bật đèn.

“Chờ một chút”. Cô dò dẫm tìm cây nến. “Mất điện”.

Ở đây bao giờ chẳng thế.

“Viva”. Giọng anh nghèn nghẹn sau cánh cửa.

“Frank, chờ một chút”.

Khi cô mở cửa, anh đứng đấy, trong ánh sáng vàng

vọt của ngọn đèn được ông Jamshed để một đầu cầu

thang. Trông anh gầy hơn so với một Frank mà cô

27

từng nhớ, có vẻ cao lớn hơn trước, nhưng mái tóc

màu kẹo bơ ấy, nụ cười ấy, không thể khác được.

“Tôi đến muộn”, anh nói. “Có một ca khẩn cấp ở

bệnh viện và không có ai giúp tôi xử lý nó cả”.

Frank nhìn cô như thể không dám tin cô đang đứng

trước mặt anh.

“Tôi vào được chứ?”, anh hỏi.

“Chờ một chút”. Cô giữ chặt chiếc khoác đang mặc

trên người. “Tôi thấy buồn ngủ. Tôi...”.

Cô ghét cay ghét đắng suy nghĩ rằng anh sẽ bóc

trần cô chỉ sau vài cái nhìn. “Ôi, chờ một chút”.

Nói xong cô đóng chặt cánh cửa, cuống cuồng tìm

kiếm trong bóng tối, va chân vào thành giường khi

chui đầu vào chiếc váy lụa đỏ. Cô cài một chiếc

trâm bằng bạc lên tóc rồi thắp thêm hai cây nến

28

nữa.

“Xong”, cô thở phào, mở cửa trở lại, “giờ thì anh

có thể vào, hơi lộn xộn một chút, tôi nghĩ thế”.

Anh vẫn đứng im trước ngưỡng cửa như thể đang chần

chừ không biết có nên bước chân vào. Cô có thể cảm

nhận được ánh mắt anh đang lướt lên mọi đồ vật

trong căn phòng: chiếc giường, cái máy đánh chữ,

bức tranh Talika đã vẽ tặng cô treo trên tường nhà,

phía trên bàn làm việc của cô.

“Cô không khóa cửa sao?”, anh hỏi.

“Thỉnh thoảng thôi, không phải lúc nào cũng khóa.

Chủ nhà đã làm một cái then cài ở cửa dưới”. Ánh

mắt đầy hoài nghi của anh khi Frank quan sát căn

phòng khiến Viva cảm thấy khó chịu. Căn phòng của

cô không có gì khiến anh phải tò mò cả.

29

“Cô có thường xuyên bị cắt điện không?”.

“Mọi lúc”, cô trả lời. “Nhưng ông Jamshed bảo với

tôi thời tiết đang dần nóng lên, lũ chuột cống

thường gặm nhấm cáp điện sẽ bắt đầu chết mòn do

thời tiết. Nghe có vẻ cường điệu nhỉ?”.

Cô hơi huyên thuyên. Toàn những điều bậy bạ không

đâu.“Có thể”. Cái cách anh mấp máy môi khi thốt ra

hai tiếng “có thể” rồi giả vờ im lặng suy nghĩ

khiến cô có ý nghĩ anh cũng đang có cảm giác thẹn

thùng, và không hiểu vì lý do nào đấy, ý nghĩ ấy

khiến cô bức bối. Không khí thoải mái giữa hai

người đột nhiên biến mất, và Viva không chắc liệu

cô có muốn nó trở lại hay không.

Ánh sáng bập bùng của mấy ngọn nến càng khiến

không khí giữa hai người trở nên gượng gạo, mong

30

manh, và rồi khi cả hai quyết định sẽ ra ngoài,

Viva cảm thấy nhẹ nhõm. “Tôi không thể nghĩ được

điều gì khi ở trong bóng tối nhập nhòa như thế

này”, Frank nói. “Để tôi mời cô ra ngoài ăn tối

nhé”.

Hôm ấy là một buổi tối ấm áp ở phố Jasmine, ánh

sáng vàng vọt từ những ô cửa sổ vuông vắn trên

những mái nhà xiêu vẹo hắt xuống đường, vây quanh

hai người, đường phố ngập tràn bước chân người thơ

thẩn trở về nhà sau khi những cửa hàng đã cửa đóng

then cài. Ở một góc đường, dăm ba cô gái làm tiền -

cô nào cũng lòe loẹt son phấn và lấp lánh trang

sức quấn quanh người - lượn lờ tìm khách.

“Nếu anh không ngại phải cuốc bộ chừng mười phút”,

cô nói, “có một quán cà phê tên là Moustafa’s cách

31

đây vài phố. Ở đấy có món pani puri(1) nổi tiếng

nhất Bombay”.

“Nghe có vẻ hấp dẫn đấy chứ”, anh nói. Nụ cười của

anh dành cho cô khiến Viva bỗng chốc rụt rè e thẹn

đến lạ, bao nhiêu tự tin như những ngày còn đi

chung trên chuyến tàu giờ lũ lượt kéo nhau biến

mất.

Tại góc đường kế tiếp, một toán đàn ông đang ngồi

trong một tiệm cà phê ven đường rôm rả chuyện trò

trà thuốc, mùi thuốc lá ẩm mốc dậy khắp không gian,

tràn ra tận ngoài phố. Khi một người trong đám bọn

họ quay đầu ra ngoài nhìn chằm chằm vào cô, Viva

cảm nhận được cái nắm tay chặt cứng của anh bao bọc

bên ngoài bàn tay cô.

“Cô vẫn đến đấy một mình à?”, anh hỏi.

32

“Vâng”, Viva trả lời, “tôi chẳng sợ gì cả”.

“Có thể cô nên biết sợ”.

“Tại sao lại phải sợ những điều mà anh không kiểm

soát được?”, cô nói. Khi mà điều tồi tệ nhất cũng

đã xảy ra, cô tự nhủ. “Nhưng dù sao thì tôi cũng

không tin có chuyện tất cả mọi người ở đây đều là

những người tốt”, cô cao giọng. “Bọn họ khiến chúng

ta phải cảm thấy hổ thẹn”.

“Cô chỉ có một thân một mình”, anh nói, “đừng có

mang tất cả ra mà ban phát cho bọn họ”.

Mấy lời cuối của anh khiến cô cảm thấy bực mình.

Anh chẳng có quyền gì để nói với mình bằng cái

giọng ấy cả, cô nghĩ, rồi dợm chân bước nhanh lên

trên, vượt qua anh hai bước chân hướng đến quán ăn.

Cô đã mệt mỏi với đám đàn ông lúc nào cũng giả vờ

33

tỏ ra quan tâm lo lắng - chính William đã gieo vào

trong cô mầm mống ấy - khi mà những gì bọn họ thực

sự hành động chỉ là quăng quật cái cơ thể to lớn

của mình ra xung quanh, hay chỉ ham muốn những điều

khác nữa.

“Xem này”, anh hổn hển nói khi đã bắt kịp cô, “tôi

đã rất lo lắng, cô sẽ hiểu khi nghe tôi giải

thích. Guy Glover có liên lạc với cô không?”.

“Không”. Cô dừng chân dưới một cột đèn đường mù

mờ, đám thiêu thân vo ve quanh quầng sáng nhạt nhòa

trên đầu cô. “Nhưng Rose viết thư cho tôi bảo cô

ấy và Tor đã chạm trán nó tại Câu lạc bộ du thuyền

Bombay. Tôi nghĩ thằng nhóc đã nói gì đấy về việc

sẽ trả khoản tiền mà nó đã nợ tôi”.

Frank quay lại nhìn cô.

34

“Đừng nhận”, anh nói nhanh.

Cô nhìn vào mắt anh. “Tại sao lại không? Tôi đã

làm việc vì khoản tiền đó. Và nó nợ tôi. Có thể

thằng nhãi ấy sẽ có đủ khả năng để trả nợ - Rose

bảo hiện tại nó đang làm công việc của một thợ chụp

ảnh cho một số xưởng phim”.

“Đừng nhận khoản tiền ấy”, anh nhắc lại với cô.

“Hứa với tôi là cô sẽ không nhận nó. Nếu cô cần

tiền, tôi sẽ cho cô vay hoặc cô có thể hỏi xin bố

mẹ mình”.

“Tôi không có bố mẹ”, cô nói. “Họ đã chết từ nhiều

năm trước”.

“Tôi xin lỗi”.

“Không phải lỗi của anh”, một câu trả lời trơn tru

quen thuộc bao năm qua của cô.

35

“Tất nhiên tôi biết đấy không phải là lỗi của

tôi”, anh nói, khuôn mặt Frank bỗng chốc buồn bã.

Anh định nói với cô điều gì đấy, nhưng Viva đã ra

hiệu cho anh dừng lại. “Đến nơi rồi”, cô hớn hở.

“Xin giới thiệu, đây là Moustafa’s”.

Cô thích Moustafa’s bởi những bộ bàn ghế cũ kỹ nơi

đây, cả những bức tranh phố phường uốn lượn xưa cũ

của thành Acropolis(1). Chủ quán cà phê, một người

đàn ông Hy Lạp râu ria bờm xờm, nhiệt tình và hài

hước. Tối nay ông chủ mặc một chiếc áo dài chui đầu

kiểu Casơmia, khi nhìn thấy Viva và Frank bước

vào, người đàn ông lập tức tươi cười bước tới, mang

cho hai người một chai rượu vang, cẩn thận rót vào

hai chiếc ly, rồi lại xăng xái chạy vào trong mang

ô-liu, quả hạnh và mấy miếng bánh ngọt ra phục vụ.

36

“Nếu cô chia sẻ với tôi về gia đình, tôi nghĩ cô

sẽ cảm thấy nhẹ lòng hơn”, Frank nói với cô khi chỉ

còn lại cả hai bên bàn cà phê.

“Cảm ơn”, cô trả lời. Cô cảm thấy đôi chút hối

tiếc vì đã khiến anh trở nên thận trọng hơn trước.

“Nhưng thực sự không có gì nhiều để kể”. Cô nhớ lại

cảm giác choáng váng đến lạnh người khi cô kể cho

William nghe tất cả, và rồi chuyện gì đã xảy ra

ngay sau đấy. Váy áo của cô vương vãi trên sàn nhà

anh ta, còn quần áo của William được treo thẳng

thướm trên móc, một sự thật chứa đựng quá nhiều sai

lầm.

“Kể cho tôi nghe về Guy đi”, cô đề nghị. “Tôi nghĩ

đấy là lý do vì sao chúng ta có mặt tại đây”.

37

Frank im lặng trong chốc lát. “Thôi được”, cuối

cùng anh cũng lên tiếng, “tôi sẽ kể với cô những gì

tôi biết”.

Anh tiếp thêm rượu vào ly của cô, kiên nhẫn chờ

đợi trong lúc cô uống cạn ly rượu.

“Tháng trước, bố mẹ của Guy đã tống cổ nó ra khỏi

nhà, tôi nghĩ bọn họ đã quá ngán ngẩm với nó. Mẹ

của thằng bé viết thư cho tôi, một bức thư thống

thiết, kèm theo cả những lời xin lỗi nữa. Bà ta bảo

vợ chồng mình mù tịt về tình trạng của cậu con

trai. Sau khi Guy đi, bà đã dọn dẹp phòng nó và

phát hiện ra một số thứ lặt vặt: bản đồ, những cuốn

nhật ký. Bà ta bảo những cuốn nhật ký đề cập khá

nhiều về cô - theo kiểu giống như một thiên thần

báo thù trong bóng tối”.

38

“Ôi Chúa ơi!”, Viva cảm thấy kiệt sức. “Điều ấy có

nghĩa là gì? Nó bị điên?”.

“Tôi không chắc. Tôi đã tham khảo một số tài liệu

chuyên ngành tâm thần kể từ khi gặp Guy, bởi cô

biết đấy, nó đã gây ấn tượng cho tôi. Cả những âm

thanh nó nghe thấy... Có một khái niệm chuyên môn

mới được gọi là bệnh tâm thần phân liệt, một gã tên

là Freud đã sáng tác ra nó. Nó có nghĩa tâm trí bị

chia tách ra thành nhiều vùng. Trước đây, tất cả

những liệu pháp điều trị cho những người mắc chứng

tâm thần phân liệt đều có chung quan điểm khi xem

bọn họ là những kẻ sa đọa, yếu đuối, nhưng gần đây

người ta đã đánh giá lại, bắt đầu cho đấy là một

dạng bệnh lý thuộc về tinh thần. Tất cả những điều

đấy có thể chỉ là những phán đoán vớ vẩn, cũng có

39

thể thằng nhóc đơn giản chỉ là một đứa hoạt đầu,

một kẻ luôn thay đổi chính kiến và hành vi ứng xử

sao cho thích hợp với tình hình, với thời cuộc.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, thực tình tôi không muốn

làm cô sợ hãi, nhưng tôi nghĩ nó có thể là một

thằng nhóc nguy hiểm. Cô còn nhớ đến hình ảnh về

người đàn ông bị nó đánh trên tàu chứ?”.

Cô nhìn anh bằng ánh mắt nghi ngờ, tự hỏi không

biết liệu anh có đang cố gắng nghiêm trọng hóa vấn

đề để gây ấn tượng với cô hay không.

William từng thể hiện rất tốt chiêu bài này: lôi

tuột cô vào một góc tối ven đường, nơi không hề có

mặt một chiếc xe hay một con ngựa, hoặc thuyết

giảng cho cô nghe hàng giờ liền về đám đàn ông

quanh cô cùng những thứ đê tiện liên quan đến bọn

40

họ - bất giác cô cảm thấy buồn cười khi hồi tưởng

lại những gì đã qua.

“Tôi hút thuốc có làm phiền cô không?”, Frank hỏi,

anh nhìn thẳng vào mắt cô.

“Không sao đâu”, cô điềm tĩnh trả lời.

“Cũng có thể không có gì nghiêm trọng cả”, anh

nói. “Đơn giản tôi chỉ muốn nói với cô sự thật”.

“Anh có nghĩ bố mẹ của thằng bé đã biết nó bị

điên?”, cô hỏi.

“Cũng có thể. Điều đấy giải thích vì sao bọn họ

lại cần một người bảo mẫu đi theo trông nom cho một

thiếu niên ở độ tuổi như nó”.

“Thôi được”, sau một hồi im lặng cô tiếp tục lên

tiếng, “nhưng tôi vẫn chưa biết mình nên xử sự như

thế nào trong chuyện này”.

41

“Đầu tiên cô phải nhớ luôn khóa cửa, cẩn thận hỏi

thăm bất cứ ai đến gõ cửa phòng trước khi quyết

định mở. Một trong những tấm bản đồ mà bà mẹ tìm

thấy chính là sơ đồ của một ngôi nhà ở phố Jasmine.

Bà ta có linh cảm Guy sẽ thuê cho nó một phòng gần

đây. Có thể thấy nó đang cố gắng tiếp cận gần hơn

với cô”.

“Ôi lạy Chúa”. Viva lắc đầu. “Lộn xộn quá. Chắc

chắn tôi sẽ không tiếp khách trong phòng mình”, cô

nói, nhìn thẳng vào mắt anh.

Ánh mắt anh nhìn cô lạ lẫm.

“Tốt”, anh nói.

“Tất cả chỉ có thế?”, cô hỏi.

“Không, không hẳn. Còn một chuyện nữa. Cảnh sát

cũng đã đến tìm tôi. Tôi không biết sao họ lại tìm

42

mình, nhưng họ bảo nếu tôi biết bất kỳ thông tin gì

về cái tổ chức liên hiệp Hồi giáo toàn Ấn, một

đảng phái chính trị đang vận động thành lập một đất

nước Hồi giáo độc lập ngay trong lòng Ấn Độ, thì

phải thông báo cho họ biết”.

“Sao Guy lại can dính vào mấy thứ đấy? Nó chưa bao

giờ thốt ra một lời liên quan đến chính trị”.

“Không? Ừm, có thể nó không nhưng rất nhiều thanh

niên người Anh ở đây đang làm việc cho tổ chức ấy,

một số thanh thiếu niên tự coi mình là những kẻ cực

đoan, số khác lại có tư tưởng xem đấy như một

đường lối để thành lập một khối độc lập ngay chính

trong lòng Ấn Độ. Một số đồng nghiệp mới của nó ở

hãng phim không đơn giản như mọi người vẫn nghĩ: họ

là những nhà cách mạng, những cái đầu cực nhạy với

43

chính trị, có lẽ mục đích của bọn họ là tìm cách

thâm nhập vào thế giới nơi có khá nhiều người châu

Âu và người Ấn Độ đang chung sống tự do bên nhau.

Một số trong bọn họ là những kẻ chống đối kịch liệt

những tư tưởng chính trị phi bạo lực của Gandhi.

Cô có hiểu gì về chuyện này không?”.

“Không nhiều lắm”.

“Ừm, nghĩa là đến một thời điểm thích hợp nào đấy,

toàn bộ người Anh sẽ bị tống cổ khỏi Ấn Độ, những

kẻ thuộc cái tổ chức liên hiệp nói trên sẽ hoan hỉ

khi thấy chúng ta cuốn gói khỏi đất nước này với

những cái mũi nhòe nhoẹt máu”.

“Tôi vẫn không biết mình sẽ phải làm gì với những

điều anh vừa kể”, Viva nói.

Frank phả một ngụm khói thuốc ra ngoài. Vẻ lo lắng

44

hiện rõ trên mặt anh.

“Tôi cũng thế, cũng có thể tôi đã sai khi nhận xét

về tình hình chung, nhưng rõ ràng Guy đã trở thành

nỗi ám ảnh và cô đã ở trong danh sách của nó, tôi

sợ nếu nó đã quyết định tìm đến cô, thì nó sẽ không

bao giờ bỏ cuộc, và rồi cảnh sát có thể nghĩ cô có

can dính với nó”.

Trong lúc trò chuyện, Viva chợt nhìn thấy Moustafa

đang ngồi trong một góc quán gần như khuất khỏi

tầm nhìn của cô, phe phẩy tờ thực đơn, câu chuyện

giữa Viva và Frank đột nhiên bị ông ta xen ngang

khi Moustafa bước đến bên cạnh khăng khăng năn nỉ

bằng được hai người thử dùng món ăn tuyệt vời nhất

trong buổi tối hôm nay của tiệm ông, bánh mì dẹt

làm từ bột mì trắng ăn cùng thịt sốt viên cay xé

45

lưỡi.

“Cô thấy đấy, ông ta đã đúng”, Frank mỉm cười.

“Hãy gạt thằng nhóc quỷ tha ma bắt ấy sang một bên

và thưởng thức đồ ăn ở đây”.

Cả hai cùng vui vẻ thưởng thức đồ ăn, sau đấy bước

ra phố với tách cà phê trên tay. Không gian về đêm

khá ấm áp và dễ chịu. “Ai đấy đang hát”, anh thì

thầm, rồi một giọng hát mỏng tang lọt vào tai cô,

tiếng hát từ ngôi nhà bên đường lọt ra, có cả những

âm thanh dồn dập của tiếng trống Ấn Độ phụ họa. Là

một giọng nữ, hát bằng giọng mũi trầm buồn, nhịp

nhàng lên xuống theo từng quãng âm.

“Tôi bắt đầu thấy yêu mảnh đất này”, cô nói với

anh. “Nó đã thực sự khiến tôi phải chú ý thêm một

lần nữa”.

46

“Tôi cũng thế”, anh nói. “Mà không thể biết vì

sao”.Điều cô từng cảm nhận thực sự không còn là

vấn đề nữa - những ngại ngần thẹn thùng ban đầu

giữa hai người đã biến mất. Theo những dòng rượu

tuôn chảy trong buổi tối hôm nay, khi anh kể cho cô

nghe về Chekhov và những chuyện liên quan đến ông

ta mà anh vừa phát hiện ra, khuôn mặt Frank trở nên

rạng rỡ. Nhìn thái độ hài lòng đầy ắp niềm vui của

anh, Viva tự nhủ không biết liệu cô có đánh giá

sai về Frank. Anh là một người đàn ông thông minh,

tràn trề tình yêu cuộc sống. Viva thích cái cách

Frank giãi bày những luồng mạch tâm tư trong đầu

với cô, cả cái cách anh chín chắn phân tích đánh

giá những ý nghĩ hệt như một triết gia trước khi

Frank nói lên chính kiến. Hàng cúc lỏng chỉ trên

47

chiếc áo khoác vải lanh của anh khiến cô cảm thấy

thích thú khi nghĩ đến hình ảnh tự tay mình sẽ khâu

chúng lại thật chặt cho anh, những cảm xúc dịu

dàng mà cô đã cố chôn chặt trong lòng bấy lâu nay.

Thái độ dửng dưng không mảy may suy chuyển của

Frank trước những đợt tấn công lả lơi ong bướm của

các cô gái trên tàu Kaiser đã khiến cô có suy nghĩ

khác, có thể nói, gần như là một cơn xúc động thực

sự.

Cô muốn cứ mãi giữ chặt những cảm xúc đang tràn

ngập trong mình.

Rất nhanh, Viva cũng quay trở về với thực tại, cô

hỏi Frank về những công việc anh đang làm ở bệnh

viện.

“Nó giống như những điều xuất hiện trong tầm nhìn

48

của Blake(1) về thiên đường và địa ngục ấy”, anh ví

von. “Có những việc giống như từ thời nguyên thủy

để lại, nhưng rất thú vị. Mới chỉ hai tháng ở bệnh

viện, tôi phải cáng đáng trách nhiệm nhiều hơn công

việc mười hai năm ở nước Anh”.

Rồi anh đã làm cái việc mà William chưa bao giờ

làm được: chấm dứt huyên thuyên về mình và chuyển

sang hỏi han về cuộc sống của cô.

“Cô đã đến Simla chưa?”, anh hỏi.

Viva kinh ngạc, cô nhớ từng có lần kể cho anh nghe

chuyện về chiếc rương nhưng lại không đề cập đến

bố mẹ mình. Đôi khi thật khó khăn để lảng tránh sự

thật, ngay cả chỉ trong suy nghĩ.

“Chưa”, cô trả lời, “vẫn chưa”.

“À”, anh cao giọng. “Đấy là nơi bố mẹ cô từng

49

sống”. Như một lời thăm hỏi, hơn là một câu chất

vấn; qua ánh mắt rạng ngời của Frank, cô có thể nắm

bắt được những suy nghĩ đang hình thành trong đầu

anh và cố gắng để hòa nhịp.

“Vâng”, cô trả lời, “từ nhiều năm về trước”.

“À”. Khi anh cứ mãi nhìn cô, Viva bắt đầu cảm thấy

lúng túng, thêm một chút sợ hãi, cô nhanh chóng

hướng sự sự chú ý của anh bằng cách kể cho Frank

nghe về những đứa trẻ cô gặp ở trung tâm nuôi dạy

trẻ tình thương Tamarind, về niềm lạc quan yêu đời,

về lòng dũng cảm đến kinh ngạc của chúng, cả bản

năng sinh tồn mãnh liệt tồn tại trong từng đứa trẻ

nơi đây.

“Cô sẽ viết về chúng chứ?”, anh hỏi. Frank vẫn còn

nhớ đến công việc yêu thích của cô, niềm hạnh phúc

50

bất chợt trào dâng trong lòng Viva. Cô không biết

phải nói thế nào với anh. “Đấy là điều cô từng nói.

Đi để viết”.

“Giá tôi có thể làm được điều đấy”, cô nói, “sẽ

tốt biết bao”.

“Cô sẽ làm được”, anh quả quyết. “Tôi có thể cảm

nhận được điều ấy. Cô sẽ làm được”.

Tất cả chỉ có thế. Ngay cả khi anh không hề có ý

định hôn cô trên đường quay về nhà, Viva vẫn không

lấy làm thất vọng.

Frank nói đúng, cô tự nhủ, mình sẽ làm được.

Một tiếng sau, cô nằm dài trên chiếc giường quen

thuộc, buồn bã dán mắt lên tấm rèm cửa sổ đang che

khuất những vì sao nhạt nhòa ngoài trời đêm, Viva

hiểu hơn bao giờ hết, rằng cô chỉ cần một công

51

việc, không phải một người đàn ông.

52

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát