Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Phần 3 - Hàn Quốc - Đất Nước Và Con Người

HÀN QUỐC ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI

Hội chợ thương mại quốc tế, khách hàng nước ngoài

và các mặt hàng xuất khẩu gia tăng, bao gồm xe ô tô

là dấu hiệu phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc.

TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Hàn Quốc đã đạt được một thành tích nổi bật về

phát triển kinh tế mặc dù những điều kiện ban đầu

không được thuận lợi cho sự phát triển như nguồn

tài nguyên thiên nhiên hạn chế, thị trường nội địa

nhỏ hẹp, lượng tiết kiệm trong nước không đáng kể

và thiếu kinh nghiệm phát triển.

Kể từ khi Hàn Quốc phát động kế hoạch 5 năm phát

triển kinh tế lần thứ nhất vào năm 1962, GNP trên

thực tế đã tăng trưởng trung bình hàng năm là 8%.

Kết quả là, tổng thu nhập quốc dân của Hàn Quốc đã

1

tăng từ 2,3 tỉ đô la năm 1962 lên 170 tỉ đô la vào

năm 1988, và tổng sản lượng quốc gia tính theo đầu

người đã tăng từ 87 đô la lên 4000 đô la. Mặt khác,

cơ cấu công nghiệp của Hàn Quốc đã biến đổi một

cách mạnh mẽ. Khu vực sản xuất này đã mở rộng phần

đóng góp của mình vào tổng sản lượng quốc gia từ

14,4% năm 1962 đến 31,6% vào năm 1988. Giao dịch

thương mại đã tăng từ 500 triệu đô la lên 112,5 tỉ

đô la và tỉ lệ lượng dự trữ nội địa trên GNP đã

tăng từ 3,3% đến 37,7% trong cùng thời kỳ.

Sự phát triển mà Hàn Quốc đã trải qua còn đáng chú

ý hơn do những thành tựu mà nó đạt được cho đến

đầu thập niên 60. Trong phần lớn lịch sử lâu dài,

Triều Tiên thường bị tụt hậu về kinh tế. Các ngành

công nghiệp quan trọng hầu như không phát triển

2

trước khi giành được độc lập từ tay Nhật Bản. Sau

này, nền kinh tế còn bị tàn phá bởi những tác động

của cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953. Sự

phục hồi sau chiến tranh đòi hỏi một thời gian dài.

Do đó mãi đến năm 1961, Hàn Quốc vẫn còn phải chịu

rất nhiều khó khăn giống như những quốc gia kém

phát triển hiện nay. Thêm vào đó là sự nghèo đói

cùng cực, mật độ dân số tăng 3% hàng năm, tình

trạng thất nghiệp, thiếu việc làm lan tràn khắp đất

nước. Nguồn tiết kiệm trong nước không đáng kể,

Hàn Quốc không có ngành xuất khẩu đáng chú ý nào và

còn phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu cả về nguyên

liệu thô lẫn các mặt hàng sản xuất. Ngoài những vấn

đề trên, đất nước còn thiếu nền tảng then chốt cho

3

sự phát triển là năng lực lãnh đạo. Trong thập

niên 50, chính phủ đã thất bại trong việc tạo ra sự

ổn định và hướng đi cho những vấn đề trong nước.

Trong những hoàn cảnh đó, Hàn Quốc không thể huy

động được năng lực sáng tạo của nhân dân để xây

dựng nền kinh tế.

NHỮNG CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TRONG THẬP NIÊN 60

Khởi đầu của sự phát triển

Sự thay đổi bắt đầu vào đầu thập niên 60 khi Hàn

Quốc phát động kế hoạch 5 năm đầu tiên. Khi đó,

chính phủ đã phải lựa chọn một trong hai phương

hướng phát triển kinh tế: một chiến lược hướng nội

dựa trên việc thay thế nhập khẩu hay một chiến lược

hướng ngoại đặt trọng tâm vào xuất khẩu và tham

gia nền kinh tế thế giới. Hàn Quốc đã lựa chọn

4

chiến lược thứ hai vì tài nguyên nghèo nàn và thị

trường trong nước nhỏ hẹp. Với tư tưởng biệt lập

truyền thống lâu đời, quyết định này thật táo bạo

nhưng hoàn toàn phù hợp với khả năng kinh tế của

Hàn Quốc.

Điều cốt lõi của chiến lược phát triển hướng ngoại

là khuyến khích việc xuất khẩu những sản phẩm

thông thường mà Hàn Quốc có lợi thế. Khi chiến lược

này được thực hiện, chính phủ đã phụ thuộc nhiều

vào cơ chế thị trường. Chẳng hạn, để huy động nguồn

tiền dự trữ trong nước, chính phủ đã cho phép các

ngân hàng thương mại tăng lãi suất lên mức 26% một

năm. Sau năm 1965, khi chính phủ thực hiện bước đi

đó, lượng tiền gửi tiết kiệm ngân hàng ở Hàn Quốc

đã tăng gần gấp đôi mỗi năm trong ba năm liên tục.

5

Để khuyến khích nguồn đầu tư nước ngoài vào trong

nước, chính phủ đã ban hành Luật Huy động vốn nước

ngoài, nhờ đó đã khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ

của các nhà đầu tư nước ngoài.

Như một phần của chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu,

chính phủ đã giảm giá trị đồng won gần như 100% và

thay thế hệ thống tỷ lệ hối đoái trước đây với một

tỉ lệ hối đoái thống nhất. Chính phủ cũng cung cấp

nguồn tài chính xuất khẩu ngắn hạn, cho phép hạ

thuế các nguyên vật liệu được nhập khẩu để sử dụng

tái xuất và đơn giản hóa các thủ tục hải quan.

Những thay đổi về chính sách này đã loại bỏ xu

hướng trước đây là chống lại bộ phận xuất khẩu, cho

phép các hãng xuất khẩu trong nước hoạt động kinh

doanh như thể họ đang hoạt động dưới một cơ chế tự

6

do thương mại.

Chiến lược phát triển mới của chính phủ cũng đã

tác động đến quan điểm đối với hàng nhập khẩu.

Chính phủ đã nhận thức việc không đủ khả năng để

đặt nền tảng phát triển vào sự tự cung tự cấp những

mặt hàng chính yếu nên lần đầu tiên đã cho phép

nhập khẩu quy mô lớn các mặt hàng này. Ngoài ra,

chính phủ còn điều chỉnh các biện pháp kiểm soát

nhập khẩu theo hướng cởi mở, tích cực hơn để nhấn

mạnh vấn đề bảo hộ hàng hóa nhập khẩu. Điều này đã

đánh dấu bước đi đầu tiên đối với việc tự do hóa

nhập khẩu.

Ban đầu, chiến lược hướng ngoại của chính phủ đã

không nhận được sự ủng hộ ở trong nước. Nhiều nhà

kinh tế học bảo thủ thậm chí còn cho rằng chiến

7

lược này có thể gây nguy hiểm cho nền độc lập của

quốc gia vì sự phụ thuộc quá mức vào vốn đầu tư

nước ngoài. Thực vậy, vốn đầu tư nước ngoài chiếm

83% tổng số vốn đầu tư của Hàn Quốc năm 1962, và

đến cuối thập niên này Hàn Quốc đã nâng lượng xuất

khẩu lên đủ để có khả năng chi trả các khoản nợ một

cách đáng khích lệ. Tuy nhiên những thay đổi khác

vẫn khó được chấp nhận. Trong thập niên 50, Hàn

Quốc đã lệ thuộc vào những nguồn viện trợ và các

khoản cho vay ưu đãi, chủ yếu là từ Mỹ, nơi đã tài

trợ các mặt hàng nhập khẩu và các dự án nội địa.

Mặc dù vấn đề này trước mắt tỏ ra hữu ích nhưng về

cơ bản sẽ khiến Hàn Quốc trở nên lệ thuộc vào những

sự viện trợ như vậy trong quá trình phát triển dài

hạn.

8

Thành quả của các chính sách

Thành quả của chính sách hướng ngoại thật phi

thường. Giai đoạn giữa năm 1961 và 1971, lượng xuất

khẩu của Hàn Quốc đã vượt hơn 36%

. Tổng sản lượng quốc gia đã tăng trưởng với tỉ lệ

trung bình hàng năm là 8,7%. Sự tăng trưởng này

cũng đi kèm với vấn đề lạm phát, nhưng trên thực tế

giá cả chỉ tăng khiêm tốn so với thập niên trước

đó. Giá bán sỉ tăng trưởng trong giai đoạn

1962-1971 với mức trung bình 12% một năm.

Thành tích này không hoàn toàn là do chính sách

định hướng của chính phủ, bởi có 3 yếu tố khác nữa

mang lại thuận lợi cho Hàn Quốc. Thứ nhất, rất may

mắn là người dân Hàn Quốc được thụ hưởng một nền

giáo dục tốt. Trải qua nhiều thế kỷ, người dân Hàn

9

Quốc luôn xem trọng vấn đề giáo dục. Đầu thập niên

60, tỉ lệ biết đọc biết viết là gần 80% và ngày nay

thì hầu hết những người dưới độ tuổi 50 đều biết

đọc biết viết. Di sản truyền thống hiếu học này đã

làm cho Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia

có học nhất, góp phần vào hiệu quả lao động.

Thứ hai, chiến lược hướng ngoại sẽ không thành

công nếu thiếu vắng những nhà doanh nghiệp, những

người giàu nghị lực và cống hiến cho việc khai thác

những cơ hội mới. Về phương diện này, Hàn Quốc đã

được lợi từ một nguồn nhân lực quản lý được đào tạo

rất tốt. Nhiều người tốt nghiệp cao đẳng có được

những bằng cấp cao ở những quốc gia phát triển, và

quân đội cũng là một nguồn cung cấp kinh nghiệm và

tài năng quản lý. Nhiều viên chức về hưu đã thành

10

công khi chuyển sang sự nghiệp quản lý kinh doanh

tư nhân. Thứ ba, môi trường kinh tế quốc tế trong

thập niên 60 đã đẩy mạnh sự phát triển của Hàn

Quốc. Trong thập niên này, lượng buôn bán mậu dịch

của thế giới đã mở rộng 8% hàng năm, mức độ bảo hộ

nền công nghiệp trong nước cũng tương đối thấp và

sự phát triển của nền kinh tế thế giới cũng chưa bị

ngăn trở bởi sự thiếu hụt trầm trọng về dầu mỏ hay

những nguồn nguyên liệu thô quan trọng khác.

CHÍNH SÁCH LUÂN PHIÊN TRONG THẬP NIÊN 70

Đầu thập niên 70, môi trường thuận lợi trên đây đã

trở nên xấu hơn ở một số khu vực. Năm 1971, chính

quyền Nixon đã giảm bớt số binh sĩ ở Hàn Quốc xuống

còn 1/3, một quyết định được xem là sự khởi đầu

của kế hoạch rút toàn bộ các lực lượng Mỹ. Do đó,

11

chính phủ đã quyết định phát triển nền công nghiệp

quốc phòng để Hàn Quốc có thể tự lực đứng vững khi

cần thiết.

Một diễn biến quan trọng khác vào năm 1971 là sự

chấm dứt của hệ thống tiền tệ Bretton Woods. Trải

qua một phần tư thế kỷ, hệ thống đó đã bảo đảm sự

ổn định tương đối về tỉ lệ hối đoái và thương mại

quốc tế. Tuy nhiên, nó được xem là đã khuyến khích

chế độ bảo hộ vì đã ngăn cản các nước điều chỉnh

cán cân thanh toán thông qua những thay đổi về tỉ

giá hối đoái. Sự xuất hiện của một hệ thống tỷ giá

hối đoái linh hoạt đã thất bại trong việc đảo ngược

khuynh hướng bảo hộ. Trái lại, những hạn chế trong

thương mại quốc tế lại gia tăng. Nhiều nước công

nghiệp đã không sẵn sàng thực hiện những điều chỉnh

12

cơ cấu cần thiết và thay vào đó lại áp đặt thêm

những hạn chế thương mại khiến cho những biến động

trong tỉ giá hối đoái và cán cân thanh toán càng

trở nên xấu hơn.

Sự thiếu hụt hàng hóa trên toàn thế giới trong

giai đoạn 1972-1973 và việc giá dầu tăng lên gấp

bốn lần trong hai năm 1973-1974 cũng tác động đến

Hàn Quốc rất nhiều. Sự gia tăng giá dầu nói riêng

đã buộc Hàn Quốc phải phản ứng một cách nhanh chóng

trước sự sụt giảm đáng báo động trong cán cân

thương mại. Tương tự, giá nhập khẩu ngũ cốc tăng đã

gây thêm sức ép cho cán cân thanh toán, ủng hộ cho

luận điểm cho rằng Hàn Quốc phải đảm bảo tự cung

tự cấp trong những mặt hàng thực phẩm ngũ cốc

chính.

13

Do đó, chính phủ đã điều chỉnh chiến lược phát

triển hướng ngoại bằng cách đặt tầm quan trọng vào

sự thay thế nhập khẩu. Giải pháp ứng phó của Hàn

Quốc được chia làm ba loại: tái cơ cấu thành phần

hàng hóa xuất khẩu theo hướng xem trọng những sản

phẩm có giá trị gia tăng cao hơn và công phu hơn;

đa dạng hóa các đối tác thương mại; tăng cường sản

xuất nông nghiệp trong nước. Khi thực hiện bước

chuyển đổi này trong chiến lược, chính phủ đã can

thiệp sâu rộng vào chức năng của cơ chế thị trường.

Để nâng cao cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, Hàn Quốc đã

hướng về các ngành công nghiệp nặng và hóa học.

Được xác định là một ưu tiên quan trọng của kế

hoạch phát triển 5 năm lần III (1972-76), những

14

ngành công nghiệp này đã có tầm quan trọng lớn hơn

do những thay đổi của môi trường bên ngoài. Năm

1973, chính phủ đã công bố Kế hoạch Phát triển công

nghiệp Hóa học và Công nghiệp Nặng, đặt ra một lộ

trình phát triển thúc đẩy các ngành công nghiệp kỹ

thuật cao. Để tạo nguồn tài chính cho các ngành

công nghiệp này phát triển nhanh hơn, chính phủ đã

thành lập Quỹ Đầu tư quốc gia. Quỹ này huy động các

quỹ hưu trí và một phần tiền tiết kiệm đáng kể

trong các cơ quan ngân hàng thường trực.

Sự đầu tư vào các ngành công nghiệp mới đã mang

lại những

thành quả quan trọng đã nhanh chóng phát triển

thành công các lĩnh vực về điện tử, tàu thuyền và

những lĩnh vực khác. Chẳng hạn, tỉ lệ của tàu

15

thuyền xuất khẩu so với tổng lượng xuất khẩu của

Hàn Quốc đã tăng từ 0,06% năm 1973 đến 16% vào năm

1984. Tuy nhiên, Kế hoạch Phát triển Công nghiệp

nặng và hóa học đã có một số ảnh hưởng tiêu cực đối

với nền kinh tế. Do những dự án nói trên có thời

gian thu lợi nhuận lâu dài, chính phủ đã đặt ra

những mức lãi suất thấp đối với các khoản cho vay

của Quỹ Đầu tư quốc gia. Những tỉ lệ này cùng với

những dự đoán quá lạc quan về sự phát triển thương

mại thế giới đã dẫn đến sự đầu tư quá mức vào những

ngành công nghiệp đòi hỏi vốn lớn, chẳng hạn như

thiết bị phát năng lượng, máy móc công nghiệp nặng

và các động cơ diesel. Nhiều công ty đã phải gánh

các món nợ rất lớn.

Ngoài ra, nhu cầu rõ rệt về các khoản cho vay lãi

16

suất thấp đã làm tăng lượng tiền được cung cấp

trong nước. Cùng lúc đó, chính sách tỉ lệ lãi suất

thấp đã làm cho các ngân hàng khó có thể đưa ra các

tỉ lệ lãi suất cao để thu hút các nguồn tiền tiết

kiệm, gây cản trở sự phát triển ở khu vực này của

nền kinh tế. Rốt cuộc, các nhà sản xuất các mặt

hàng công nghiệp nhẹ nhận thấy bản thân họ mất đi

tính cạnh tranh trong thập niên 70 do sự tập trung

của chính phủ vào việc tạo ra những ngành công

nghiệp mới đã lấy đi nguồn quỹ đầu tư của các ngành

công nghiệp nhẹ đang tồn tại.

Các nỗ lực của Hàn Quốc để đa dạng hóa thị trường

hướng vào tất cả các khu vực và đã đạt được thành

công đáng kể ở Trung Đông và châu Âu. Phần đóng góp

của Trung Đông vào tổng sản lượng hàng hóa xuất

17

khẩu đã tăng lên từ 1,8% năm 1973 đến 11,7% vào năm

1976, tỉ lệ tương ứng ở châu Âu là 11,8% và 17,5%.

Tuy nhiên, có rất ít tiến triển ở thị trường châu

Mỹ La Tinh và châu Phi.

Một khía cạnh quan trọng của sự đa dạng hóa thị

trường là sự phát triển của công nghiệp xây dựng.

Đặc biệt là ở Trung Đông, Hàn Quốc đã bán những

dịch vụ xây dựng như hàng hóa. Tổng lợi nhuận từ

các hợp đồng xây dựng ở vùng này gần đạt 15 tỉ đô

la vào cuối năm 1978, có khoảng 122.000 công nhân

Hàn Quốc làm việc trong các dự án ở vùng Trung Đông

vào thời gian đó.

Mặc dù các công ty và công nhân Hàn Quốc có được

kinh nghiệm vô giá từ những dự án này, kết quả

trước mắt của những công việc này ở Trung Đông là

18

một niềm vui lẫn lộn. Sự ra đi của một số lượng lớn

các công nhân có tay nghề đã đẩy mức lương trong

nước lên cao, vốn đã chịu nhiều sức ép bởi nhu cầu

về lượng công nhân có tay nghề của các ngành công

nghiệp nặng ngày càng tăng. Kết quả là khoảng cách

về tiền lương giữa các công nhân có tay nghề và

không có chuyên môn đã mở rộng trong thập niên này.

Hơn nữa, sự gia tăng đột ngột của lượng tiền được

chuyển về từ Trung Đông đã mở rộng nguồn tiền cung

cấp trong nước, đem lại một tác nhân kích thích

khác cho sự lạm phát.

Để cải thiện sự cân bằng về thu nhập giữa công

nhân ở thành thị và nông thôn, chính phủ đã khởi

xướng phong trào tự lực Saemaul để cải thiện năng

19

suất và mức sống ở nông thôn đồng thời thông qua

một chương trình hỗ trợ giá ngũ cốc. Những chương

trình này đã thành công trong việc tăng sản lượng

thu hoạch và thu nhập của nông dân và giảm bớt sự

thiếu cân bằng về mức sống ở Hàn Quốc. Tuy nhiên,

những chương trình trợ giá ngũ cốc lại làm cho

chính phủ hao tốn tiền bạc rất nhiều, dẫn đến việc

ngân sách bị hao hụt đáng kể góp phần vào sự lạm

phát. Chính sách trợ giá đã khuyến khích việc sản

xuất ngũ cốc trong khi ở thời điểm đó nhu cầu tiêu

thụ đang chuyển sang những thực phẩm phi ngũ cốc.

Kết quả là chương trình đã góp phần gây ra sự thiếu

cân bằng giữa cung và cầu các sản phẩm nông

nghiệp.

Dù sao đi nữa thì những sự thay đổi về chính sách

20

đã thực hiện ở những khu vực này cũng đã dẫn đến

những kết quả rất ấn tượng: sự tăng trưởng tổng sản

lượng quốc gia từ 1972-1978 đạt mức trung bình

hàng năm là 10,8%, tỉ lệ tăng trưởng hàng năm từ

1976-1978 đạt 11,2%. Phần đóng góp của các sản phẩm

công nghiệp nặng và hóa học trong tổng sản lượng

xuất khẩu đã tăng từ 21,3% năm 1972 lên 34,7% vào

năm 1978. Tuy nhiên, sự phát triển này phải trả giá

bằng tình trạng lạm phát cao. Giá cả mua bán đã

tăng nhanh đến gần 18% mỗi năm từ năm 1972 đến 1979

so với khoảng 12% ở giai đoạn 1962-1971. Ngoài ra,

cơ cấu công nghiệp của Hàn Quốc đã bị bóp méo bởi

sự đầu tư quá mức vào những ngành công nghiệp nặng

và sự thiếu đầu tư ở các ngành công nghiệp nhẹ. Mặt

khác, những biện pháp kiểm soát của chính phủ đã

21

làm thay đổi giá cả và kiềm chế sự cạnh tranh. Đồng

thời, tiền lương thực tế đã tăng lên nhanh hơn so

với khả năng sản xuất, làm suy yếu tính cạnh tranh

của hoạt động xuất khẩu.

Tình trạng suy thoái và sự cải cách

Vào năm 1979, chính phủ đã thấy rõ sự nguy hiểm ở

những sự thiếu cân bằng này. Vì vậy, chính phủ đã

bắt đầu một chương trình tái ổn định quy mô lớn để

kiểm soát trạng thái lỏng lẻo quá mức, tổ chức lại

những khoản vay ưu đãi, loại trừ tình trạng lộn xộn

về giá cả và đẩy mạnh sự cạnh tranh. Chương trình

này đã có những hiệu quả tích cực về giá cả, nhưng

những kết quả của nó đã sớm bị phủ nhận bởi một

loạt những cú sốc từ trong và ngoài nước. Việc tăng

giá dầu lần thứ hai của OPEC đã làm tăng gần gấp

22

đôi giá trị nhập khẩu dầu của Hàn Quốc chỉ trong 12

tháng, và kết quả là sự suy thoái trên toàn thế

giới đã hạn chế xuất khẩu.

Cái chết của tổng thống Park Chung Hee vào tháng

10/1979 đã khiến cho sự bất ổn về chính trị và xã

hội trở nên tồi tệ hơn, làm giảm bớt sự đầu tư và

chi tiêu của người tiêu dùng, làm suy giảm sự đấu

tranh đòi tăng lương của người lao động. Tình trạng

suy thoái kinh tế càng tồi tệ hơn sau một vụ mùa

thất bát năm 1980. Do những yếu tố này, năng suất

kinh tế của Hàn Quốc năm 1980 là tệ nhất trong vòng

hơn 20 năm. Tăng trưởng kinh tế đã thu nhỏ lại chỉ

còn khoảng 5,2%, giá cả tăng vọt hơn 38% và sự

thiếu hụt tài khoản hiện thời tăng lên đến 5,3 tỉ

đô la, mức cao nhất trong lịch sử Hàn Quốc.

23

Tình trạng khủng hoảng kinh tế này rõ ràng cần

phải có những chính sách đối phó kiên quyết, và vào

cuối năm 1980, với sự thiết lập một chính quyền

mới dưới sự lãnh đạo của tổng thống Chun Doo Hwan,

các cải cách đã được bắt đầu, chủ yếu tập trung vào

các chính sách kinh tế với ba phạm vi chính: ổn

định giá cả, tiếp tục phát triển kinh tế, cải thiện

sự phân phối thu nhập.

Tầm quan trọng của sự ổn định giá cả là rõ ràng,

đặc biệt là với những gì mà Hàn Quốc đã trải qua

trong những năm 70. Nếu muốn phân phối nguồn tài

nguyên một cách có hiệu quả, Hàn Quốc phải dựa trên

hoạt động của thị trường tự do hơn là dựa vào

những quyết định tập trung của chính phủ trong quá

khứ. Tuy nhiên, sự điều phối thị trường tự do như

24

vậy chỉ có thể thực hiện được nếu như lạm phát chỉ

ở mức thấp đủ để tránh khỏi những biến động về giá

cả.

Nhu cầu phát triển cao của Hàn Quốc cũng là hiển

nhiên. Trong thập niên 80, lực lượng nhân công tăng

khoảng 2% mỗi năm, hàng năm khoảng 320.000 công

nhân mới tham gia thị trường lao động. Để tạo ra

việc làm cho những công nhân mới này, tổng sản

lượng quốc dân (GNP) phải phát triển đạt mức 7-8%

hàng năm. Hơn nữa, nếu muốn duy trì mức chi phí

quốc phòng cao và cải thiện phúc lợi xã hội thì nền

kinh tế Hàn Quốc cần phải tiếp tục phát triển.

Về lĩnh vực phân phối thu nhập, Hàn Quốc cần phải

bảo đảm rằng tất cả người dân sẽ được hưởng lợi ích

từ sự phát triển của đất nước. Ngoài ra, đó còn là

25

nhu cầu để khẳng định chiến lược thị trường tự do

để phát triển kinh tế của Hàn Quốc. Để đạt được

những mục tiêu này, chính phủ Hàn Quốc đã hành động

để tự do hóa các chính sách kinh tế đối ngoại và

thúc đẩy sự cạnh tranh trong tất cả lĩnh vực kinh

tế trong nước.

Những cải cách về chính sách kinh tế đối ngoại

Về mặt đối ngoại, Hàn Quốc đã tăng cường mở rộng

thị trường một cách mạnh mẽ. Cuối năm 1979, chỉ có

68% tổng lượng sản phẩm có thể được nhập khẩu mà

không cần chính phủ cho phép trước. Chính phủ đã

từng bước tăng dần tỉ lệ tự do hóa nhập khẩu này và

đến năm 1989 đã đạt 94,8%.

Một chương trình mở rộng tự do tương tự đã loại bỏ

tỉ lệ thuế xuất nhập khẩu ra khỏi bảng thuế. Các

26

mức thuế đánh vào những mặt hàng sản xuất đã giảm

xuống rõ rệt, từ 31,8% năm 1980 xuống 12,1% vào năm

1989 và dự tính sẽ đạt mức 6,2% vào năm 1993.

Hàn Quốc cũng đã mở rộng tự do trong những quy

định về đầu tư nước ngoài, cho phép các nhà đầu tư

nước ngoài có được những cơ hội lớn hơn ở Hàn Quốc

và giúp cho nền kinh tế giảm bớt sự lệ thuộc vào

việc vay mượn. Kể từ tháng 9/1980, các nhà đầu tư

nước ngoài đã được đầu tư 100% vào nhiều ngành công

nghiệp. Năm 1984, chính phủ đã mở cửa cho sự đầu

tư hơn nữa bằng cách rút ngắn và đơn giản hóa quy

trình cấp phép cho những dự án không nằm trong danh

sách các lĩnh vực hạn chế đầu tư. Chính phủ hàng

năm đã giảm số ngành công nghiệp trong danh sách

này, từ 34% xuống còn 20% vào năm 1988. Đặc biệt

27

lĩnh vực sản xuất hầu hết đã được mở rộng hoàn toàn

cho sự đầu tư nước ngoài.

Những cải cách nội địa

Những thay đổi về chính sách đối ngoại của Hàn

Quốc đã được hỗ trợ bởi những cải cách trong cơ cấu

của nền kinh tế nội địa. Những chính sách mới của

chính phủ tập trung vào việc ổn định giá cả và gia

tăng sự cân đối của nền kinh tế.

Trong quá trình duy trì sự ổn định giá cả, chính

phủ đã hoạt động để giảm bớt sức ép lạm phát với

tất cả các lĩnh vực kinh tế. Chính phủ đã ban hành

các chính sách tài chính và tiền tệ chặt chẽ, kéo

giảm tỷ lệ M2 hàng năm từ 27% năm 1980 xuống 8% vào

năm 1984. Chính phủ cũng giảm gia tăng chi tiêu và

ổn định toàn vẹn ngân sách năm 1984. Việc chú

28

trọng giảm bớt chi tiêu cùng với những cải cách về

hệ thống ngân sách đã loại bỏ sự mở rộng ảnh hưởng

của chính phủ đối với nguồn cung cấp vốn của đất

nước, bắt đầu từ năm 1983.

Căn nguyên cố hữu của lạm phát trong thập niên 70

là sự đầu cơ bất động sản, điều này đã làm chệch

hướng nguồn vốn đầu tư khan hiếm sang những dự án

sử dụng không hữu ích và đã đẩy giá đất tăng cao

quá mức. Kể từ năm 1980, chính phủ đã đấu tranh với

sự lạm dụng kinh tế này. Một loạt những biện pháp

kiểm soát về giao dịch bất động đã làm cho việc mua

bán đầu cơ dễ bị phát hiện hơn, chẳng hạn như việc

tin học hóa tất cả các hồ sơ sở hữu nhà đất và sự

nâng cấp hệ thống mua bán căn hộ. Tuy nhiên những

khó khăn vẫn còn tiếp diễn cho đến cuối thập niên

29

80. Trong khi đó, chính phủ đã tấn công vào những

sức ép gây nên sự lạm phát. Thúc đẩy tăng năng suất

kinh doanh và hạn chế tăng lương, chính phủ đã tìm

cách chấm dứt cái vòng luẩn quẩn của sự tăng giá

và tăng lương. Chính phủ cũng kiểm soát chặt chẽ

các xu hướng cung cầu đối với những sản phẩm nông

nghiệp chính, điều này cho phép chính phủ có thể

nhập khẩu khi cần thiết để ngăn ngừa giá cả tăng

vọt. Thành công của những nỗ lực này đã được hỗ trợ

bởi sự giảm giá cả hàng hóa trên toàn thế giới và

những vụ mùa thu hoạch nông nghiệp tốt đẹp.

Năm 1980, lần đầu tiên chính phủ đã thiết lập một

cơ chế thương mại công bằng chính thức. Luật Quy

định về Độc quyền và Thương mại công bằng đã giúp

hạn chế sự lũng đoạn và lạm dụng thị trường. Ngoài

30

ra, cơ chế thương mại công bằng không cho phép

những hiệp hội công nghiệp có các hoạt động gây ra

sự cạnh tranh hạn chế và nhấn mạnh sự chính xác

trong quảng cáo. Một đạo luật có liên quan nêu ra

các điều khoản hợp đồng phụ để cải thiện sự hợp tác

giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ, củng cố những

điều khoản này với các hình phạt và các biện pháp

khắc phục khác. Phạm vi các ngành công nghiệp được

điều chỉnh bởi những quy định về công bằng thương

mại đã được đều đặn mở rộng trong tám năm qua với

sự thực thi kiên định và chắc chắn.

Với một biện pháp khác nhằm cân bằng cơ cấu kinh

tế, chính phủ đã đẩy mạnh các ngành công nghiệp nhỏ

và vừa của đất nước. Những ngành công nghiệp này

thường có vốn đầu tư thấp, cơ sở thị trường yếu,

31

công nghệ lỗi thời. Điều này đã ngăn chúng tận dụng

khả năng phát triển những hợp đồng nhỏ về các sản

phẩm gồm nhiều loại khác nhau. Để khai thác khả

năng phát triển tiềm tàng của những ngành công

nghiệp này, chính phủ đã khuyến khích hiện đại hóa

các doanh nghiệp này bằng cách tăng việc cung cấp

các khoản cho vay và đẩy mạnh việc nghiên cứu và

chuyển giao công nghệ.

Các biện pháp của chính phủ cũng đã cải thiện mạng

lưới thông tin thị trường cho những doanh nghiệp

nhỏ hơn và đã tổ chức tốt hơn các kênh phân phối và

tiếp thị. Bằng cách khuyến khích các công ty nhỏ

hoạt động như những bộ phận phân phối cho các công

ty lớn, hệ thống thương mại công bằng đã đem lại

lợi ích đặc biệt cho khu vực kinh tế này. Được trợ

32

giúp bởi tất cả những yếu tố này, các doanh nghiệp

nhỏ đã có vai trò quan trọng tăng lên đáng kể trong

nền kinh tế, mang lại nhiều cơ hội việc làm và

tăng cường khả năng cạnh tranh của đất nước.

Để khắc phục sự thiếu hiệu quả gây ra bởi sự hỗ

trợ phân biệt đối xử đối với những ngành công

nghiệp đặc thù, chính phủ đã điều chỉnh lại hệ

thống các biện pháp khuyến khích kinh tế. Hệ thống

mới hỗ trợ đồng đều đối với tất cả các lĩnh vực

công nghiệp trong việc huấn luyện nhân lực và phát

triển công nghệ cũng như thông qua việc giúp đỡ tìm

kiếm thị trường và phát triển mạng lưới bán hàng.

33

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát