Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Phương Pháp Giáo Dục Montessori - Sức Thẩm Thấu Của Tâm Hồn - P1

SỨC THẨM THẤU CỦA TÂM HỒN – P1

Người dịch: Lê Nhật Minh

Nhà xuất bản ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LỜI NÓI ĐẦU

Sức thẩm thấu của tâm hồn là cuốn sách được yêu

thích nhất của Maria Montessori, đồng thời thể hiện

rõ nét nhất tư tưởng giáo dục có ý nghĩa cải cách

của bà. Cuốn sách liên tục được tái bản bằng nhiều

thứ tiếng khác nhau trên toàn thế giới, cho thấy

tiếng nói của bà trong các cuộc luận bàn liên quan

đến giáo dục và tiềm năng của con người đã nhận

được sự coi trọng của toàn thế giới. Những nghiên

cứu của Montessori về sự phát triển của trẻ và giáo

dục truyền thống có giá trị to lớn đối với các bậc

phụ huynh, các nhà công tác giáo dục, chuyên gia

1

tâm lí và tất cả những người nghiên cứu về trẻ em

và xã hội.

Cuốn sách này được biên soạn dựa trên những tư

liệu bằng tiếng Italy của Montessori khi bà giảng

dạy tại Ahmedabad (Ấn Độ) - nơi bà sinh sống trong

thời kì Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuốn sách Sức

thẩm thấu của tâm hồn thể hiện tư tưởng giáo dục

thời kì sau của Maria Montessori. Trong thời kì

này, bà đã dự đoán được những lí luận về trẻ em của

mình sẽ được toàn thế giới quan tâm. Điều khiến

người ta ngạc nhiên là những tư tưởng của

Montessori vượt xa những đồng nghiệp trong giới tâm

lí học và giáo dục cùng thời với bà. Ví dụ, “giáo

dục không phải là giáo viên làm gì, mà là kết quả

của sự phát triển tự thân và tự nhiên của con

2

người. Giáo dục không có được thông qua việc nghe

giảng, mà có được thông qua việc trẻ tích lũy kinh

nghiệm trong môi trường đặc biệt.”

Lí luận nói trên có thể coi là căn cứ lí luận của

các nhà giáo dục theo chủ nghĩa kết cấu - những

người đang có ảnh hưởng sâu rộng đến giáo dục ngày

nay. Sức ảnh hưởng của Montessori cũng tương tự như

vậy, giáo dục chủ nghĩa kết cấu đã có ảnh hưởng to

lớn đến giáo dục trước tuổi đến trường, hơn nữa

hiện nay đã bắt đầu có tác động rất lớn đến giáo

dục tiểu học. Giáo dục trung học - dưới ảnh hưởng

của lí luận này - có từ bỏ phương thức giáo dục coi

nội dung là trung tâm, bài trừ việc hướng dẫn,

không coi trọng sự khác biệt hay không thì còn đang

được tiếp tục theo dõi.

3

Nếu có lí luận nào gần với hạt nhân lí luận của

Montessori hơn lí luận “quan tâm đến trẻ và hành vi

của trẻ” thì đó chính là “tư tưởng giáo dục phải

bắt kịp với thời đại” của bà. Các nhà công tác giáo

dục trong các hoạt động như xây dựng giáo trình

thì chỉ quan tâm tới bản thân giáo trình, và trong

thi cử chỉ chú ý tới mục đích có được thành tích

tốt mà coi nhẹ trình độ phát triển của cá nhân trẻ.

Khi đọc những tài liệu có liên quan đến cải cách

giáo dục, bạn sẽ phát hiện ra rằng, trong việc

chuẩn hóa các kì thi thì “thành tích xuất sắc“ đã

trở thành mục đích duy nhất của giáo dục.

Montessori nói: “Giáo dục không nên dừng lại ở giáo

trình và thời khóa biểu, giáo dục phải phù hợp với

nhu cầu thực tế của bản thân con người.”

4

Việc xuất bản cuốn sách của Mark Bernstein: Thời

kì phát triển mấu chốt - quan điểm liên ngành đã

một lần nữa chứng minh quan điểm mà Montessori luôn

kiên trì cho đến nay đã được sự ủng hộ rộng rãi

của các nhà xã hội học.

Dan Robbins thuộc Đại học California cũng viết một

số tài liệu liên quan đến thời kì học ngôn ngữ

quan trọng của trẻ. Ông cho rằng tính phức tạp của

quá trình học ngôn ngữ khiến giả thiết “bộ não của

trẻ tiến hành công việc dựa vào một phương thức đã

được định trước, căn cứ vào đặc điểm kết cấu ngôn

ngữ con người” trở nên có vẻ đúng nhưng thật ra là

sai. Ông tiến tới nhận định rằng, những bằng chứng

gián tiếp của quá trình này bắt nguồn từ thực tế

“thời kì quan trọng trong quá trình học ngôn ngữ

5

của con người dường như được quyết định bởi đặc

tính sinh vật”.

Một chủ đề lớn trong cuốn sách này của Dan chính

là việc học ngôn ngữ của trẻ. Trong cuốn sách này,

trải qua quá trình quan sát tỉ mỉ và suy ngẫm thấu

đáo, Montessori đã hình thành nên một mô thức rất

gần với Lí thuyết tương tác ngày nay. Tư tưởng của

bà không giống với chủ nghĩa hành vi và lí thuyết

học tập mô phỏng lúc đó, cũng hoàn toàn khác với

quan điểm của Noam Chomsky 20 năm sau đó.

Khi nói về sự phát triển của ngôn ngữ (chứ không

phải là việc dạy ngôn ngữ), Montessori đã cho rằng,

sự phát triển của ngôn ngữ của tất cả trẻ nhỏ đều

tuân theo nguyên tắc cố định. Bà cảm thấy mỗi đứa

trẻ đều học ngôn ngữ, cú pháp và quy tắc ngữ pháp

6

từ môi trường sống của mình, cho dù những thứ đó

đơn giản hay phức tạp, bởi vì bất cứ ai, bao gồm cả

người lớn, cũng đều không thể trình bày tường tận

và chính xác hoàn toàn quy tắc ngữ pháp. Chúng ta

phải giả thiết Montessori cho rằng, khi trẻ nói

dường như trẻ đã hiểu quy tắc ngữ pháp.

Đồng thời bà cho thấy, việc học tập ngôn ngữ thời

kì thơ ấu ảnh hưởng đến khả năng phân biệt phát âm

của chúng ta. Ví dụ, nếu sự khác biệt giữa S và Z

trong tiếng Tây Ban Nha quan trọng như trong tiếng

Anh, trẻ sẽ học cách phân biệt chúng, để rồi cuối

cùng học được cách phát âm hai chữ cái này. Nhưng

một người trưởng thành trong môi trường toàn tiếng

Tây Ban Nha có thể sẽ nhầm lẫn cách phát âm hai chữ

này.

7

Montessori cho rằng, hành vi học ngôn ngữ của trẻ

không diễn ra trong trạng thái có ý thức, mà tâm

hồn trẻ vừa sinh ra đã có khả năng học ngôn ngữ từ

môi trường một cách vô thức. Những học giả sẽ

nghiên cứu những lí luận được đề cập đến trong cuốn

Sức thẩm thấu của tâm hồn và những lí luận khác

của Montessori sẽ nghiên cứu việc học ngôn ngữ thời

kì đầu như thế nào, đồng thời ảnh hưởng đến tâm lí

của trẻ ở một mức độ lớn hơn. Đối với những người

này, việc nghiên cứu này là vô cùng thú vị.

Montessori cũng dùng quan điểm phân tích và chứng

minh cho những mô tả của của mình về việc học ngôn

ngữ của trẻ. Đối với Montessori, chủ động thúc đẩy

trẻ học ngôn ngữ là điều hoang đường. Ngoài ra,

những quan điểm của bà rất giống với lí luận chủ

8

nghĩa kết cấu, nhưng hoàn toàn khác với chủ nghĩa

hành vi.

Montessori cho rằng, trong thiên tính của con

người vốn sẵn có khả năng học tập bất cứ ngôn ngữ

nào (ngôn ngữ trong môi trường mà con người sinh

sống). Trẻ nhỏ không phải vừa sinh ra đã có khả

năng học tập một ngôn ngữ nhất định nào đó. Dựa vào

suy luận này, đồng thời với việc suy ngẫm về quan

điểm nói trên, bà cho rằng chắc chắc trẻ nhỏ đặc

biệt nhạy cảm với phát âm. Vì vậy bà nhận định

rằng, ngay từ đầu trẻ đã có khả năng nhận thức -

sớm hơn rất nhiều so với độ tuổi mà các nhà tâm lí

học trẻ em thời đó cho rằng trẻ nhỏ bắt đầu có khả

năng nhận thức. Bà cho rằng, khi có thể phát ra âm

thanh và bắt chước người khác nói chuyện, trẻ đã

9

bước vào thời kì này. Cho dù loại khả năng nhận

thức này hay là những biểu hiện cụ thể của nó thì

cũng đều đã được hình thành trong thời kì sơ sinh.

Đối với các hành vi liên quan đến ngôn ngữ và

những biểu hiện của chúng, Montessori đã phân giai

đoạn và mô tả như sau: Giai đoạn sớm nhất - khi trẻ

chưa đầy 8 đến10 tháng tuổi, lúc này đối với trẻ,

ngôn ngữ vẫn thuộc về giai đoạn sơ khai; khi trẻ 1

tuổi, trẻ vô cùng mong muốn cho người khác biết cảm

giác và nhu cầu của mình; khi trẻ 18 tháng tuổi,

chúng phát hiện ra rằng mỗi sự vật đều có tên gọi

riêng.

Không lâu sau đó, chúng có thể sử dụng “câu một từ

đơn” hoặc “một vài từ đơn không quy phạm”.

Montessori đã đưa ra ví dụ sau:

10

Khi nhìn thấy bữa tối đã sẵn sàng, trẻ nói

“mupper”, có nghĩa là “mẹ ơi (mummie), con muốn ăn

tối (supper)”. Đặc điểm điển hình của kiểu ngôn ngữ

này là từ đơn đã bị trẻ cải biên nguyên dạng.

Những từ đơn này thường do những phát âm tượng

thanh tổ hợp thành, như tiếng chó sủa “gâu gâu”

hoặc một số từ đơn khác do trẻ tự “phát minh”.

Sự phân chia giai đoạn của Montessori dường như

chưa có được nhiều sự hỗ trợ của kinh nghiệm thực

tế, nhưng đúng như Robbins đã viết trong cuốn sách

của mình, trực giác của Montessori dường như lại

một lần nữa vượt trước thời đại.

Montessori gọi 2 tuổi là “thời kì bùng nổ từ

vựng”. Trước thời điểm này là thời kì số lượng từ

vựng của trẻ tăng lên rất nhiều. Sau 2 tuổi, khả

11

năng sử dụng câu của trẻ nhanh chóng tăng lên, đồng

thời có thể tiến hành sắp xếp những từ đơn mới học

một cách có trật tự. Lúc này trẻ đã có được khả

năng vận dụng cú pháp. Montessori cho rằng, nếu

trong thời kì quan trọng này, trẻ tiếp nhận hai

loại ngôn ngữ, ví dụ như cha và mẹ của trẻ nói hai

thứ tiếng khác nhau, khả năng sáng tạo sẵn có trong

tâm lí sẽ cho phép trẻ đồng thời học được cả hai

ngôn ngữ đó, cũng có nghĩa là trẻ lần lượt nói từng

thứ tiếng với cha và mẹ.

Vào năm 1970, Robbins cùng với đồng sự của mình

tại Berkeley đã tiến hành một lần thực nghiệm liên

ngành mang tính chất dấu mốc - tiến hành nghiên cứu

việc học ngữ pháp của trẻ. Trong số những trẻ tham

gia cuộc thực nghiệm này có cả trẻ em da trắng và

12

da đen, có những trẻ thuộc tầng lớp nghèo khổ, cũng

có trẻ thuộc tầng lớp trung lưu, có trẻ thuộc các

nước khác nhau như Đức, Nga, Phần Lan, Kenya và

Samoa. Trong lần thực nghiệm này, Robbins định

nghĩa từ “ngữ pháp” là “công cụ có liên quan đến

phát âm và ngữ nghĩa”. Kết quả báo cáo cho thấy,

các giai đoạn phát triển ngôn ngữ thông thường rất

giống với các giai đoạn mà Montessori đã đưa ra.

Cũng có nghĩa là đối với những đứa trẻ thuộc các

bối cảnh văn hóa khác nhau tham gia vào cuộc thực

nghiệm này thì giai đoạn bập bẹ học nói đều kết

thúc ở thời gian khoảng 18 tháng tuổi. Robbins còn

giới hạn giai đoạn trẻ nói “1, 2 từ đơn”, giai đoạn

này thông thường bắt đầu từ khi trẻ được 18-24

tháng. Nghiên cứu cũng phát hiện thời gian trẻ nói

13

“1, 2 từ đơn” rất ngắn, nhưng đứa trẻ nào cũng đều

phải trải qua giai đoạn này. Kết luận mà Robbins

cùng đồng sự có được là sự tồn tại phổ biến của

thời kì “1, 2 từ đơn” cho thấy sự thành thục của

“công cụ học tập ngôn ngữ” có một “giai đoạn tương

đối cố định”.

Cũng giống như Montessori, Robbins đã nhận thức

được sự phức tạp và đặc biệt của quá trình học ngôn

ngữ và tầm quan trọng của nó trong việc truyền thụ

và kế thừa văn minh. Ông cho rằng, thế hệ trẻ em

này nối tiếp thế hệ trẻ em khác tiến hành làm mới

ngôn ngữ. Montessori nói rằng: “Nếu không có khả

năng cảm nhận ngôn ngữ đặc biệt này, trẻ sẽ không

thể tự nhiên nắm vững ngôn ngữ, vậy thì tất cả

những việc mà nhân loại đã làm được đều vô dụng.

14

Hiện tượng này không thể xuất hiện trong quá trình

truyền thụ văn minh. Chúng ta cần nhìn nhận trẻ từ

góc độ chân thực này, điều này vô cùng quan trọng.

Trẻ khiến tất thảy hành vi của chúng ta trở nên có

ý nghĩa. Hành vi của trẻ dựa trên nền tảng là nền

văn minh của nhân loại.”

Montessori không đồng ý việc trẻ nhỏ học ngôn ngữ

giống như người lớn. Những người ủng hộ quan điểm

lí luận học tập ngôn ngữ kiểu “kích thích - phản

ứng” của người lớn hiện nay vẫn có những phản ứng

nhất định, nhưng những người ủng hộ quan điểm này

đã trở nên ngày càng ít đi.

Noam Chomsky có thể sẽ đồng ý với quan điểm “ngôn

ngữ không được học tập bằng phương thức chủ nghĩa

hành vi” của Montessori.

15

Trong cuốn sách nổi tiếng của mình xuất bản năm

1965, ông viết: “Kiến thức về cấu trúc ngôn ngữ

không thể có được bằng bất cứ hình thức ứng dụng

dần dần những hướng dẫn nào do các môn khoa học như

ngôn ngữ học, tâm lí học hay triết học nào phát

triển thành. Hiển nhiên việc học ngôn ngữ dường như

dựa trên cơ sở là trẻ lĩnh hội ngữ pháp tạo sinh

mà mình đã học được, lí luận này xem ra khá thâm

thúy và trừu tượng. Khá nhiều lí luận và nguyên tắc

của nó chỉ có chút liên hệ với những kinh nghiệm

có được nhờ sự đan cài phức tạp của những bước tiến

vô thức, tương tự suy lí.

Hoạt động thực nghiệm cũng chứng minh quan điểm

“bùng nổ” ngôn ngữ. Phân chia giai đoạn và quan

điểm sự phát triển mang tính không liên tục dường

16

như là sự miêu tả thích hợp nhất về sự phát triển

ngôn ngữ của trẻ, đặc biệt là ở phương diện từ

vựng. Ngoài ra, Montessori cũng mô tả về toàn bộ

quan điểm ngữ pháp của mình, bà nói: “Chúng ta cần

biết rằng trẻ tự học những kiến thức ngữ pháp,

nhưng điều này không thể trở thành lí do của việc

khi nói chuyện với trẻ, chúng ta có thể không tuân

theo quy tắc ngữ pháp, cũng không thể trở thành lí

do chúng ta không giúp trẻ học cấu trúc ngữ pháp.”

Tóm lại, lí luận học ngôn ngữ thời kì sơ sinh của

Montessori đã định hình. Nếu bạn nói rằng lí luận

này không đủ chi tiết thì đó là vì nó đang nằm

trong giai đoạn dần dần hoàn thiện.

Cuốn sách nổi tiếng của Montessori đưa ra một chủ

đề vẫn đang còn gây tranh cãi không dứt: Vai trò

17

của chính phủ trong quá trình hỗ trợ gia đình và

giáo dục trẻ em. Những vấn đề chúng ta phải đối mặt

như tội phạm, bạo lực, nghiện hút và sự thất bại

của giáo dục nhà trường... đều có thể bắt nguồn từ

gia đình. Trước những vấn đề này, Montessori vẫn tỏ

rõ lập trường của bà: “Bộ máy xã hội phải thích

ứng với quan niệm mới về nhu cầu cố hữu - 'bảo vệ

con người' và phải huy động sự trợ giúp của toàn

nhân loại. Cha mẹ phải hoàn thành trách nhiệm của

mình. Nếu gia đình không thể lãnh trách nhiệm này,

xã hội phải đưa ra hướng dẫn cho những người có nhu

cầu, đồng thời trợ giúp việc nuôi dưỡng trẻ.“

Tóm lại, Sức thẩm thấu của tâm hồn là một cuốn

sách rất đáng đọc. Cuốn sách này cho thấy quan điểm

của Montessori đã vượt xa so với những đồng nghiệp

18

của bà. Cuốn sách là sự kết hợp giữa những nghiên

cứu của Montessori về sự phát triển của trẻ và

những đánh giá về việc “làm thế nào thiết lập được

một phương pháp giáo dục mới nhằm thay thế phương

pháp giáo dục cũ”. Ngày nay, quan điểm này của bà

tất yếu phải phát triển và biến đổi cùng với những

lí luận mới về việc học tập và trưởng thành của

trẻ, đồng thời giữ được sự quan tâm và yêu mến của

bà dành cho trẻ em.

Tiến sĩ John Chattin-McNichols

(Hội trưởng Hiệp hội Montessori Hoa Kỳ)

19

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát