Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Phương Pháp Giáo Dục Montessori - Sức Thẩm Thấu Của Tâm Hồn - P2

SỨC THẨM THẤU CỦA TÂM HỒN – P2

Người dịch: Lê Nhật Minh

Nhà xuất bản ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

CHƯƠNG 14: ĐÔI TAY VÀ TRÍ TUỆ

Sự phát triển của vận động gồm có hai mặt. Một mặt

vận động tuân thủ quy luật của sinh vật, mặt khác

vận động có liên quan mật thiết với thế giới nội

tâm của con người, và cả hai phương thức đều phụ

thuộc vào việc sử dụng cơ bắp. Đối với việc nghiên

cứu trẻ nhỏ, chúng ta phải tuân thủ cả hai lộ trình

phát triển, một là sự phát triển của tay, hai là

sự phát triển của khả năng giữ thăng bằng hay là

khả năng đi lại.

Nghiên cứu sự phát triển khả năng vận động là công

việc vô cùng thú vị, không chỉ bởi vì đó là một

1

công việc phức tạp mà còn bởi mỗi giai đoạn của quá

trình phát triển đó đều có thể được nhìn thấy rõ

ràng.

Trong hình (9), tôi minh họa sự phát triển của vận

động thông qua hai đường thẳng song song, phía

dưới mỗi đường có khá nhiều các đường nhỏ hơn. Vạch

đậm nhất đánh dấu thời gian 1 năm, vạch mờ hơn một

chút biểu thị khoảng cách 6 tháng. Đường kẻ phía

dưới biểu thị sự phát triển của tay, đường kẻ phía

trên biểu thị sự phát triển khả năng giữ thăng bằng

và đi đứng. Vì vậy, hai đường thẳng này mô tả lại

sự phát triển của tứ chi theo hai nhóm.

Sự phát triển tứ chi của động vật bậc thấp diễn ra

cùng lúc, còn ở con người thì sự phát triển của

tay và chân diễn ra lần lượt, đồng thời thỏa mãn

2

những mục đích khác nhau. Cũng có nghĩa là chân và

tay có những chức năng khác nhau. Sự phát triển khả

năng đi đứng và giữ thăng bằng của con người rất

có quy luật mà chúng ta cho rằng đó là một hiện

tượng bình thường trong sự phát triển của con

người. Chúng ta có thể đảm bảo rằng, mỗi đứa trẻ ra

đời rồi sẽ biết đi, con người sẽ biết học cách đi

đứng của nhau. Nhưng không ai dám nói chắc chắn

rằng, đôi tay của con người trong tương lai sẽ biết

làm những gì. Có ai dám chắc rằng một đứa trẻ

trong tương lai sẽ có những kĩ năng đặc biệt nào?

Tổ tiên của chúng ta đã có vô vàn các kĩ năng khác

nhau. Căn cứ vào việc nghiên cứu chân và tay của

con người, hai đường thẳng trong hình sẽ có những ý

nghĩa khác nhau.

3

Chức năng của chân – không còn nghi ngờ gì nữa –

có cơ sở sinh học nhất định. Thậm chí những chức

năng này có liên quan đến sự phát triển bên trong

bộ não. Ngoài ra, con người là loài duy nhất trong

số các loài động vật có vú có khả năng đi lại chỉ

bằng hai chân, còn các loài khác phải đi lại bằng

bốn chân.

Khi đã nắm vững khả năng giữ thăng bằng, con người

có thể đứng thẳng trên hai chân. Nhưng có được khả

năng giữ thăng bằng này không phải là một việc dễ

dàng, đó là kĩ năng đòi hỏi một quá trình luyện tập

lâu dài. Để đạt được mục đích đó, con người phải

đặt hoàn toàn hai bàn chân xuống đất chứ không chỉ

có ngón chân tiếp xúc với mặt đất như ở các loài

động vật khác. Tất nhiên động vật bốn chân chỉ cần

4

dùng móng tiếp xúc với mặt đất là đã có thể nâng đỡ

trọng lượng của toàn bộ cơ thể. Chúng ta có thể

nghiên cứu bàn chân của con người dưới ba góc độ:

Sinh lí học, sinh vật học và giải phẫu học. Việc

nghiên cứu này rất thú vị.

Nếu như bàn tay thiếu đi sự chỉ đạo sinh vật giống

như bàn chân, nếu sự vận động của tay là không thể

quyết định trước, vậy thì điều gì đang quyết định

sự phát triển của đôi tay? Do không có sự chỉ đạo

sinh vật và tâm lí nên chắc chắn sự chỉ đạo đó là

do đại não nắm giữ. Đôi tay có mối liên hệ trực

tiếp với tâm lí của con người, không những có sự

liên hệ với tâm lí của một cá thể nào đó, mà còn có

liên hệ với phương thức sống khác nhau ở thời điểm

và không gian hiện tại. Bàn tay gắn bó chặt chẽ

5

với sự phát triển tâm lí của con người, xét từ góc

độ lịch sử thì đôi tay có mối liên hệ chặt chẽ với

sự phát triển của các nền văn minh. Đôi tay thể

hiện tư tưởng của con người, các sản phẩm thủ công

của con người đều đã được ghi dấu trong lịch sử.

Mỗi nền văn minh vĩ đại đều sẽ sản sinh ra những

tác phẩm điển hình. Có rất nhiều sản phẩm thủ công

của Ấn Độ mà con người ngày nay khi mô phỏng lại

cũng gặp rất nhiều khó khăn. Chúng ta cũng có thể

phát hiện ra những tác phẩm tinh xảo như vậy ở Ai

Cập. Đương nhiên cũng có thể tìm thấy một số di

tích ở những nền văn minh thấp hơn, chỉ có điều là

những tác phẩm đó vẫn còn ở trình độ thô sơ hơn mà

thôi.

Sự phát triển kĩ năng của đôi tay đồng bộ với sự

6

phát triển tâm lí. Tất nhiên, các tác phẩm càng

tinh xảo thì trí tuệ đầu tư vào đó càng nhiều. Ở

châu Âu thời trung cổ có một thời kì thức tỉnh tâm

lí, rất nhiều sách vở và bản thảo viết tay thể hiện

tư tưởng đương thời được chế tác rất đẹp, thậm chí

những thứ thể hiện tinh thần rời xa thế tục cũng

được làm rất tinh xảo. Chúng ta không khỏi thán

phục trước những nhà thờ được tạo nên bởi bàn tay

của các nghệ nhân thời bấy giờ. Ở bất cứ nơi nào có

nhu cầu tâm linh thì đều có những giáo đường tuyệt

đẹp như vậy.

Thánh Francis thành Assisi Francesco d’Assisi (có

lẽ là tâm hồn tinh khiết nhất của nhân loại) từng

nói: “Hãy nhìn những công trình kiến trúc vĩ đại

đó, chúng không chỉ là giáo đường, mà còn là ngọn

7

lửa của tâm hồn chúng tôi!”

Có một ngày, thánh Francis và những người đồng

hành được mời xây dựng một nhà thờ. Vì bọn họ đều

rất nghèo nên đã tận dụng các nguyên liệu sẵn có,

đất đá, cuối cùng xây dựng nên một nhà thờ. Chỉ cần

trong tâm hồn con người còn cồn tại tinh thần tự

do, anh ta sẽ bộc lộ nó qua các tác phẩm của mình

và điều đó được hỗ trợ bởi sức mạnh của đôi tay. Ở

bất cứ nơi đâu có những tác phẩm thủ công của con

người, chúng ta cũng có thể cảm nhận được tư tưởng

của thời đại và tinh thần của những con người làm

nên các tác phẩm đó.

Nếu không tìm được xương cốt còn lại của con người

thời cổ đại, chúng ta làm sao có thể tái hiện lại

hình dáng con người thời đó, làm sao tái hiện lại

8

cuộc sống thời kì đó? Chỉ có một cách duy nhất là

thông qua những tác phẩm nghệ thuật còn sót lại từ

thời kì đó mà thôi. Ngày nay chúng ta có thể tìm

thấy một số di tích của nền văn minh bậc thấp từ

thời tiền sử. Những tác phẩm đó hầu hết đều được

làm từ những khối đá lớn. Chúng ta không khỏi thắc

mắc rằng những con người thời đó làm thế nào mà

hoàn thành được công việc ấy? Các tác phẩm nghệ

thật tinh xảo ở những nơi khác cũng chứng minh

những nền văn minh cao hơn. Vì vậy chúng ta có thể

nói rằng đôi tay của con người chịu ảnh hưởng bởi

trí tuệ của người đó; đời sống tinh thần, tình cảm

và những di tích còn sót lại đã phản ánh tình trạng

cuộc sống của con người đương thời. Tạm gác vấn đề

tâm lí sang một bên, chúng ta vẫn có thể phát hiện

9

rằng, sự thay đổi môi trường sinh tồn của con

người là kết quả của đôi bàn tay. Những sản phẩm

của con người dường như chịu sự dẫn dắt của trí

tuệ, bởi nếu như con người chỉ dùng ngôn ngữ để thể

hiện tư tưởng, nếu trí tuệ của con người chỉ thể

hiện qua ngôn ngữ, thì tổ tiên của loài người đã

không để lại cho chúng ta bất cứ di tích nào. Chúng

ta phải cảm ơn đôi tay – người bạn của bộ não, bởi

những dấu tích của nền văn minh của con người đều

được lưu lại nhờ đôi bàn tay. Đôi tay chính là tài

sản tốt nhất mà chúng ta được thừa hưởng.

Tay và tâm lí con người có mối liên hệ chặt chẽ.

Thuật xem tay cổ xưa đã nhận định rằng trên bàn tay

con người còn lưu lại lịch sử của chủng tộc, tay

là một cơ quan tinh thần. Vì vậy, việc nghiên cứu

10

sự phát triển tâm lí của trẻ phải kết hợp với việc

nghiên cứu hoạt động của đôi tay trẻ, bởi vì tay

chịu sự kiểm soát của bộ não. Tay và bộ não gắn

liền với nhau, hoạt động của đôi tay là biểu trưng

tốt nhất cho hoạt động của bộ não.

Chúng ta có thể nhận định rằng, nếu không có sự

trợ giúp của đôi tay, trí lực của trẻ vẫn sẽ phát

triển tới một trình độ nhất định, nhưng nếu có sự

hỗ trợ của đôi tay thì trí tuệ của trẻ sẽ phát

triển tới một trình độ cao hơn, tính cách của trẻ

cũng mạnh mẽ hơn. Vì vậy, mặc dù hiện tại chúng ta

chỉ muốn nói về vấn đề tâm lí thì trên thực tế, nếu

trẻ không tìm được cơ hội phát huy khả năng vận

động trong môi trường, nhân cách của trẻ sẽ chỉ

dừng lại ở một trình độ rất thấp. Theo kinh nghiệm

11

của chúng tôi, nếu trẻ không thể sử dụng đôi tay,

nhân cách cũng sẽ chững lại ở trình độ thấp, thể

hiện ở việc trẻ không nghe lời, không nhiệt tình,

lười biếng và trầm cảm. Những đứa trẻ có cơ hội vận

động đôi tay sẽ phát triển nhanh hơn, tính cách

cũng kiên cường hơn những đứa trẻ không biết sử

dụng đôi tay.

Điều này khiến chúng ta nhớ lại lịch sử Ai Cập. Ở

đất nước này còn lưu lại rất nhiều tác phẩm thủ

công trên tất cả các lĩnh vực như nghệ thuật, kiến

trúc, tôn giáo. Những hình khắc trên các lăng mộ cổ

cho thấy phần thưởng có ý nghĩa nhất đối với người

đương thời là gọi họ là “người có nhân cách”. Vì

vậy sự phát triển tính cách đối với những người có

trình độ tay nghề cao là rất quan trọng. Điều này

12

lại một lần nữa chứng tỏ, hoạt động của đôi tay và

sự phát triển của tính cách và văn minh là đồng bộ

với nhau, đồng thời đôi tay có mối liên hệ với cá

tính.

Chúng ta có thể giả thiết ngược lại với những điều

đã nói ở trên. Tất cả mọi người đều chỉ có thể

dùng đôi chân để đứng và duy trì thăng bằng. Cách

họ nhảy và chạy có thể sẽ khác với chúng ta, nhưng

họ vẫn chỉ dùng chân để đi lại.

Sự phát triển của vận động gồm có hai mặt. Một mặt

vận động tuân thủ quy luật của sinh vật, mặt khác

vận động có liên quan mật thiết với thế giới nội

tâm của con người, và cả hai phương thức đều phụ

thuộc vào việc sử dụng cơ bắp. Đối với việc nghiên

cứu trẻ nhỏ, chúng ta phải tuân thủ cả hai lộ trình

13

phát triển, một là sự phát triển của tay, hai là

sự phát triển của khả năng giữ thăng bằng (hay là

khả năng đi lại). Từ hình (9), chúng ta có thể nhìn

thấy, khi trẻ lên 1 tuổi rưỡi thì mối liên hệ giữa

hai phương diện này mới bắt đầu xuất hiện. Khi

tròn 1 tuổi rưỡi, trẻ bắt đầu mong muốn dùng tay

cầm được một số vật nặng, và cần có đôi chân nâng

đỡ. Đôi chân – công cụ hoạt động của con người – có

thể đưa anh ta đi bất cứ nơi đâu anh ta muốn,

nhưng sau khi tới đích thì công việc còn lại do đôi

tay đảm trách. Con người có thể đi rất xa, bất cứ

nơi đâu trên thế giới đều có dấu chân của con

người. Đi là một việc con người phải làm từ khi

sinh ra cho tới lúc qua đời. Nhưng sau khi chết đi,

con người để lại được gì? Điều gì có thể chứng

14

minh cho sự tồn tại của một con người trên thế giới

này? Đó chính là những sản phẩm do đôi tay làm ra.

Qua những nghiên cứu về ngôn ngữ, chúng tôi phát

hiện ra rằng, sự phát triển ngôn ngữ của con người

có liên hệ với thính lực, còn hành vi thì có liên

quan đến thị giác, bởi vì chúng ta phải dùng mắt

quan sát thì mới biết được phải đi đến đâu. Khi đôi

tay làm việc, chúng ta cũng phải dùng mắt để quan

sát công việc. Thính giác và thị giác có quan hệ

mật thiết với sự phát triển tâm lí của trẻ. Trong

quá trình phát triển tâm lí, đầu tiên trẻ phải

thông qua quan sát thế giới xung quanh rồi mới có

thể phát huy tiềm năng của bản thân. Tất nhiên,

trước khi học đi, trẻ cũng phải tìm hiểu thế giới

15

xung quanh mình. Vì vậy trước khi vận động, trẻ

buộc phải tiến hành quan sát. Sự hiểu biết về thế

giới có thể dẫn dắt hành vi của trẻ. Những kiến

thức về thế giới xung quanh và sự vận động đều phụ

thuộc vào trình độ phát triển tâm lí, đó chính là

lí do vì sao một đứa trẻ sơ sinh lại nằm bất động ở

một chỗ. Sau khi có thể đi lại, trẻ sẽ chịu sự chỉ

đạo của bộ não.

Cầm hoặc nắm là động tác vận động đầu tiên mà trẻ

học được. Trước khi động tác cầm nắm xuất hiện, trẻ

đã biết hướng sự chú ý vào đôi bàn tay. Năng lực

lí giải vô thức giờ đây đã chuyển thành có ý thức.

Qua quan sát, chúng tôi phát hiện thấy thứ đầu tiên

thu hút sự chú ý của trẻ là đôi tay chứ không phải

đôi chân. Sau đó động tác cầm nắm có bước phát

16

triển mới, không còn là động tác mang tính bản năng

nữa mà đã trở nên có ý thức. Khi trẻ được 10 tháng

tuổi, việc quan sát môi trường xung quanh khiến

nội tâm trẻ nảy sinh hứng thú cao độ, từ đó kéo

theo ham muốn mãnh liệt. Động tác của trẻ lúc này

không còn là động tác nắm đơn thuần nữa mà qua động

tác cầm nắm đã cho thấy đầy đủ năng lực của đôi

tay trẻ. Khi đã hiểu rõ về môi trường xung quanh,

trẻ bắt đầu hành động. Trẻ bắt đầu không ngừng

đóng, mở ngăn kéo hay các loại hộp, lôi quần áo

trong tủ ra, bỏ nút chai ra khỏi chai, bày các thứ

trong giỏ ra sàn nhà, sau đó lại cất đi. Thông qua

những hoạt động này, khả năng kiểm soát đôi tay của

trẻ ngày càng trở nên mạnh hơn.

Vậy trong lúc đó, đôi chân có gì thay đổi không?

17

Lúc này ở đôi chân vẫn chưa xuất hiện sự kiểm soát

trí lực và kiểm soát ý thức. Ở góc độ giải phẫu

học, tiểu não lúc này đang phát triển nhanh chóng,

nhưng tiểu não lại là cơ quan kiểm soát sự cân bằng

cơ bắp.

Cơ thể mỗi đứa trẻ dường như có một chiếc đồng hồ

báo thức sẽ đánh thức khả năng giữ thăng bằng. Ở

đây môi trường không có bất cứ tác dụng gì, mà tất

cả mệnh lệnh, tín hiệu đều đến từ bộ não. Sau rất

nhiều nỗ lực và kiên trì, cuối cùng trẻ đã có thể

ngồi dậy và chập chững học đi. Các chuyên gia tâm

lí nói rằng, để có thể đứng dậy, con người cần trải

qua bốn giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là ngồi dậy.

Giai đoạn thứ hai là lật người, sau đó là bò. Nếu

trong giai đoạn này, bạn cho trẻ bám lấy hai ngón

18

tay của mình, trẻ sẽ dùng chân bước đi nhưng chỉ có

ngón chân là tiếp xúc với mặt đất. Sau đó trẻ có

thể tự mình đứng dậy, đồng thời cả bàn chân tiếp

đất và có tư thế đứng thẳng bình thường, đương

nhiên là trẻ vẫn cần bám vào những thứ khác, ví dụ

như áo của mẹ. Không lâu sau đó, trẻ bước vào giai

đoạn thứ tư, không cần sự giúp đỡ của người khác

nữa mà có thể tự mình bước đi. Tất cả những điều

này có thể được coi là kết quả của quá trình thành

thục bên trong con người trẻ. Sau đó, trẻ có thể sẽ

nói: “Con đã tự đi được rồi, con đã được tự do!”

Lúc này trẻ đã đạt đến một mức độ độc lập mới, bởi

vì ý nghĩa của độc lập chính là bản thân có thể tự

làm mọi việc. Khái niệm độc lập trong triết học

là: “Con người bằng nỗ lực đạt được sự độc lập”. Có

19

thể làm được một việc gì đó mà không cần nhờ đến

sự trợ giúp của người khác chính là độc lập. Nếu

như vậy thì trẻ sẽ nhanh chóng phát triển. Nếu

không sự phát triển của trẻ sẽ bị chậm lại. Nếu nhớ

rõ quan điểm này, các bạn sẽ biết cần phải đối xử

với trẻ như thế nào. Quan điểm này sẽ là một chỉ

dẫn hữu ích cho chúng ta trong cách đối đãi với

trẻ. Dù cho che chở và giúp đỡ trẻ là bản năng của

cha mẹ, nhưng những lí luận nói trên nói với chúng

ta rằng, không cần phải mang lại cho trẻ quá nhiều

sự trợ giúp cũng như những trợ giúp không cần

thiết. Nếu trẻ muốn tự mình bước đi, chúng ta cần

để trẻ được làm như vậy, bởi vì tất cả năng lực

phát triển chỉ có thể phát huy thông qua thực hành.

Sau khi đã chuẩn bị tất cả các loại năng lực thì

20

vẫn cần sự trợ giúp của thực hành. Nếu như trẻ đã

lên 3 tuổi mà chúng ta vẫn ôm trẻ trong lòng (tình

trạng này thường xuyên xảy ra), sự phát triển của

trẻ sẽ bị hạn chế. Nếu trẻ đã thực sự trở nên độc

lập thì sự giúp đỡ của người lớn thậm chí chỉ trở

thành chướng ngại đối với trẻ.

Rõ ràng chúng ta không nên giữ trẻ khư khư cả ngày

mà hãy cho trẻ được tự bước đi. Nếu đôi tay của

trẻ muốn làm gì đó, chúng ta hãy cho trẻ làm, cho

trẻ có cơ hội rèn luyện trí lực. Chỉ những hành vi

của bản thân trẻ mới dẫn trẻ bước vào con đường độc

lập.

Kết quả các quan sát cho thấy còn có một nhân tố

khác có vai trò rất quan trọng đối với sự phát

triển tứ chi của trẻ 1 tuổi rưỡi, đó chính là nhân

21

tố sức mạnh. Sau khi có được một kĩ năng nhất định,

trẻ cảm thấy mình đã đủ khỏe mạnh rồi. Mục đích

chính của trẻ lúc này là tiến hành luyện tập, thực

hành, phát huy năng lực của mình một cách tối đa,

điều này quả thật rất khác so với người lớn chúng

ta!

Tạo hóa dường như nói với trẻ rằng: “Con đã đủ

nhanh nhẹn, đủ kĩ năng, bây giờ con còn cần phải

trở nên khỏe mạnh, nếu không thì sự nhanh nhẹn và

kĩ năng cũng chẳng có nghĩa lí gì”.

Sau khi sự khéo léo của đôi tay và khả năng đứng

vững của đôi chân được kết hợp lại, trẻ không chỉ

bước đi mà còn đi được một quãng đường rất dài,

trong khi trong tay cầm những vật tương đối nặng.

Trên thực tế, mục đích đi của phần lớn con người là

22

nhằm lấy một đồ vật nào đó. Bàn tay đã học được

cách cầm nắm của trẻ giờ đây bắt đầu phải học cách

giữ được vật nặng, đồng thời di chuyển những vật

đó. Có trẻ sẽ biết cách dùng cánh tay ôm lấy bình

nước, cố gắng giữ thăng bằng và chầm chậm bước đi.

Đó cũng là một quá trình khắc phục ảnh hưởng của

trọng lực. Trẻ nhỏ thường thích leo trèo, thích vịn

vào một vật gì đó để leo cao hơn. Mục đích cầm nắm

một vật của trẻ bây giờ không còn là để sở hữu vật

đó nữa, mà là dựa vào vật đó để leo lên cao hơn.

Đó chính là quá trình rèn luyện sức khỏe. Toàn bộ

thời kì này của trẻ đều nhằm phục vụ cho mục đích

rèn luyện cơ thể. Điều này phù hợp với logic của tự

nhiên, một người muốn trưởng thành phải có một cơ

thể đủ khỏe mạnh.

23

Sau đó trẻ đã biết đi, đồng thời tự tin vào sức

mạnh của bản thân. Lúc này trẻ bắt đầu chú ý tới

động tác của mọi người xung quanh mình và cố gắng

bắt chước theo. Trẻ bắt chước người khác không phải

vì người khác dạy trẻ làm, mà bởi nhu cầu mãnh

liệt nội tại của trẻ. Vì vậy, chúng ta có thể tổng

kết nên mấy quy luật dưới đây của tự nhiên:

1. Để cho trẻ đứng thẳng;

2. Trẻ có thể tự bước đi và trở nên mạnh mẽ.

3. Cho trẻ tham gia vào môi trường sống xung

quanh.

Chúng ta có thể thấy, để trưởng thành, trẻ phải

trải qua khá nhiều giai đoạn chuẩn bị. Đầu tiên là

chuẩn bị bản thân và các cơ quan trong cơ thể. Sau

đó, trẻ dần dần trở nên khỏe mạnh, liền sau đó tiến

24

hành quan sát người khác, cuối cùng là có thể tự

mình làm việc gì đó. Đó đều là yêu cầu của tự

nhiên, tạo hóa còn yêu cầu trẻ phải tiến hành luyện

tập, ví dụ như leo lên ghế, leo lên cầu thang...

Chỉ sau khi tất cả những công đoạn này đã được hoàn

tất thì trẻ mới có thể bước vào một thời kì mới,

sản sinh nhu cầu tâm lí muốn tự mình làm mọi thứ –

“Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng rồi. Tôi muốn tự do.”

Bây giờ trẻ đã có thể đi được và có nhu cầu đi

lại. Nhưng các chuyên gia tâm lí không dành đủ sự

quan tâm cho điều này. Bình thường nếu không bế ẵm

trẻ thì chúng ta cũng sẽ đặt trẻ vào xe tập đi.

Chúng ta tưởng rằng lũ trẻ vẫn chưa thể đi được và

cần phải giúp đỡ chúng. Trong thời điểm mấu chốt

trước khi trẻ bước vào thế giới người lớn, việc

25

chúng ta làm như vậy sẽ mang lại cho trẻ cảm giác

tự ti.

26

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát