Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Sherlock Holmes Toàn Tập - Tập 1 - Phần 2

CONAN DOYLE

SHERLOCK HOLMES

TOÀN TẬP

TẬP 1 – Phần 2

NĂM HẠT CAM KHÔ

Hạ tuần tháng chín. Những ngọn gió thu phân thổi

vào dữ dội, suốt ngày gió thét mưa gào. Khi buổi

chiều dần đến, cơn bão càng lồng lộn; trong ống

khói, gió kêu khóc như một đứa trẻ. Sherlock

Holmes ngồi trầm tư ở một phía lò sưởi, tra cứu

những hồ sơ hình sự. Tôi ngồi ở phía bên kia, chăm

chú đọc một cuốn truyện về biển cả cho đến khi

tiếng hú của gió từ ngoài đường như nhập vào trang

sách và tiếng mưa tạt kéo dài ra thành tiếng sóng

vỗ ì ầm. Nhà tôi đã về thăm mẹ nàng, nên tôi đến ở

1

với Holmes tại phố Baker.

- Anh Holmes, chắc chắn là có tiếng chuông reo. Ai

đến nhỉ? Một người bạn của anh chăng?

- Trừ anh ra, tôi không có người bạn nào.

- Vậy thì một thân chủ?

- Nếu thế, đây là trường hợp nghiêm trọng. Nhưng

cũng có thể đó là một người bạn thân của bà chủ

nhà.

Sherlock Holmes đã đoán sai, vì có tiếng bước chân

trên hành lang và một tiếng gõ trên cửa. Anh vươn

cánh tay dài ra để xoay đèn về phía cái ghế trống.

- Xin mời vào.

Người bước vào còn trẻ, khoảng hai mươi tuổi, ăn

mặc bảnh bao và gọn gàng, cử chỉ dáng điệu lịch sự

và tế nhị. Cái ô trên tay anh ta nước chảy ròng

2

ròng, áo mưa cũng óng ánh nước. Dưới ánh đèn, chàng

trai nhìn quanh một cách lo lắng, đôi mắt nặng

trĩu, giống như đôi mắt của một người đang bị nỗi

lo âu giày vò.

- Xin ông tha lỗi cho. Tôi tin rằng tôi không quấy

rầy ông. Nhưng tôi đã mang một vài dấu vết của mưa

bão vào trong căn phòng.

- Đưa áo khoác và ô cho tôi. Cứ đặt lên cái móc sẽ

khô ngay thôi. Anh mới từ phía Tây Nam đến, phải

không?

- Vâng, từ Horsham. Tôi đến để xin lời khuyên bảo.

- Dễ thôi.

- Và sự giúp đỡ̃.

- Điều đó thì không phải bao giờ cũng dễ dàng có

3

được.

- Thiếu tá Prendergast cho tôi biết, chính ông đã

cứu ông ta.

- À đúng đấy. Ông ta bị cáo buộc về tội bài bạc

lận.

- Ông ta bảo rằng, ông có thể giải quyết bất cứ

vấn đề gì.

- Ông ta nói hơi quá đấy.

- Và không bao giờ thất bại.

- Tôi đã bị đánh bại bốn lần rồi, ba lần do đàn

ông, và một lần do phụ nữ.

- Nhưng so với những thành công của ông, thì có

thấm tháp gì.

- Đúng là tôi thường thành công.

- Vậy thì có thể trường hợp của tôi cũng thế.

4

- Anh hãy kéo ghế tới gần lò sưởi, và cho tôi biết

vài chi tiết về trường hợp của anh.

Chàng trai kéo ghế đến gần lò sưởi và dang cái

chân ướt ra về phía ngọn lửa, rồi nói một cách rõ

ràng:- Tôi là John Openshaw. Ông nội tôi có hai

người con trai: Chú Elias và cha tôi là Joseph. Cha

tôi có một nhà máy nhỏ tại Coventry, làm ăn phát

đạt đến nỗi ông có thể bán cái nhà máy ấy đi để về

dưỡ̃ng già với một khoản thu nhập đáng kể.

Chú Elias đi sang Mỹ khi còn trẻ, và trở thành một

chủ đồn điền ở Florida. Vào thời kì chiến tranh,

chú tôi chiến đấu trong quân đội của tướng Jackson,

và sau đó, dưới quyền chỉ huy của tướng Hood, với

quân hàm đại tá. Khi tướng Lee đầu hàng, chú tôi

trở về đồn điền của ông. Vào khoảng năm 1869 hoặc

5

1870, chú trở lại châu Âu, mua một thái ấp nhỏ tại

Sussex, gần Horsham. Ông đã gây dựng một cơ nghiệp

đáng kể tại Mỹ, nhưng ông bỏ đi vì ghét những người

da đen và ghét chính sách của đảng Cộng hòa, vì

đảng này đã nới rộng quyền dân chủ cho dân da đen.

Ông là một người độc ác, hung hãn và nóng nảy; khi

nổi giận, ông ăn nói rất cộc cằn, tính không ưa

giao tiếp. Ông uống rượu mạnh, nghiện thuốc lá

nặng. Ông không giao tiếp với ai và không cần đến

bè bạn, ngay cả với cha tôi.

Ông có cảm tình với tôi vì khi ông gặp tôi lần đầu

tiên, tôi mới mười hai tuổi. Ông nài nỉ cha tôi

cho tôi sống với ông. Lúc không say sưa, ông thích

chơi cờ đam với tôi, và tôi thường thay mặt ông, để

giao thiệp với các tôi tớ và nhà buôn, vì thế vào

6

lúc mười sáu tuổi, tôi gần như là chủ của ngôi nhà.

Tôi giữ mọi chìa khóa. Tuy thế, có một ngoại lệ

đặc biệt: Ông có một căn phòng để chứa đồ đạc trên

căn gác thượng, bao giờ cũng khóa, và ông không bao

giờ cho phép bất cứ ai bước vào, kể cả tôi.

Một hôm vào tháng 3 năm 1883, có một lá thư với

con dấu nước ngoài nằm trên bàn.

- Từ Ấn Độ, - ông nói, khi ông nhặt nó lên, - Dấu

bưu điện Pondicherrry. Thế là thế nào?

Ông vừa mở ra thì từ trong đó, năm hạt cam rơi

xuống cái khay của ông. Tôi bắt đầu cười, nhưng

liền ngưng lại ngay vì thấy nét mặt ông thay đổi:

Môi ông mím lại, mắt sửng sốt nhìn vào cái phong bì

trong bàn tay run rẩy. Ông hét lên:

- K. K. K! Lạy Chúa, lạy Chúa, tội lỗi của tôi đã

7

bắt kịp tôi!

- Cái gì vậy chú?

- Tử thần!

Ông lui về phòng. Tôi cầm phong bì lên, thấy rõ ba

chữ K được viết nguệch ngoạc bằng mực đỏ trên nắp

bì thư, phía bên trong, ngay chỗ dán keo. Không có

gì khác, ngoài năm hạt cam khô? Tôi rời bàn điểm

tâm, và khi bước lên cầu thang, tôi gặp ông đi

xuống, một tay cầm chiếc chìa khóa gỉ sét, tay kia

là một cái hộp bằng đồng nhỏ.

- Chúng cứ làm những gì chúng thích, nhưng tao sẽ

đánh bại chúng! - Ông nói với một lời thề, - Nói

với Mary rằng tao cần một chút lửa trong phòng tao

đêm nay, và hãy mời ông luật sư Ford ở Horsham đến.

8

Khi luật sư đến, tôi được yêu cầu bước lên phòng.

Lửa đang cháy sáng, và nơi ghi lò sưởi có một đống

tro đen, giấy đã bị đốt, còn cái hộp thì mở toang

ra, trống rỗng. Khi liếc nhìn cái hộp, tôi giật

mình vì trên nắp được khắc ba chữ K.

- Này cháu, chú muốn cháu chứng kiến di chúc của

chú. Chú để lại thái ấp của chú cho anh, tức là cha

cháu, rồi về sau, chắc chắn sẽ truyền xuống cho

cháu. Mong sao cha cháu sẽ thừa hưởng nó một cách

êm đẹp! Nếu thấy bất lợi, thì cháu hãy giao lại cho

kẻ thù của chúng ta. Chú tiếc phải trao một con

dao hai lưỡ̃i lại cho cha cháu và cháu. Cháu hãy kí

vào bản di chúc.

Tôi kí tên và ông luật sư mang tờ di chúc theo

ông. Tôi cứ suy nghĩ mãi mà vẫn không hiểu gì cả.

9

Sau ngày đó, chú tôi uống rượu nhiều hơn bao giờ

hết, và hầu như ông luôn luôn ở trong phòng khóa

cửa từ bên trong. Nhưng đôi khi ông xuất hiện trong

trạng thái say sưa điên dại, nhảy xổ ra khỏi nhà,

đi sục sạo trong vườn với một cây súng ngắn, hét to

lên rằng ông chả sợ đứa nào, rằng ông không thể bị

nhốt như một con cừu trong chuồng. Nhưng khi cơn

cuồng nộ qua đi, ông chạy vụt vào phòng, khóa chặt

cửa lại, giống như một người không chịu được sự

khiếp đảm lâu hơn nữa. Một đêm kia, ông lại rơi vào

một cơn điên dại và không bao giờ trở về nữa. Khi

đi tìm, chúng tôi phát hiện ra ông nằm úp mặt trong

một cái ao nhỏ có váng màu xanh ở cuối khu vườn.

Không có dấu hiệu gì của sự hành hung, và nước chỉ

sâu hai feed, bởi vậy người bồi thẩm cho rằng đó là

10

một vụ tự tử. Cha tôi thừa hưởng thái ấp và mười

bốn nghìn đô-la đứng tên ông tại ngân hàng.

- Hãy ngừng một lát! - Holmes nói xen vào, - Hãy

cho tôi biết, chú anh nhận lá thư đó ngày nào, và

ông ta chết vào ngày nào?

- Lá thư đến ngày 10 tháng 3 năm 1883. Cái chết

của ông xảy ra bảy tuần sau đó, vào đêm mồng 2

tháng 5.

- Cám ơn. Xin kể tiếp.

- Khi cha tôi tiếp nhận tài sản tại Horsham, ông

đã xem xét kĩ gác thượng. Cái hộp bằng đồng vẫn nằm

tại đó, những thứ bên trong đã bị hủy đi. Phía

trong của nắp là một cái nhãn bằng giấy, có in ba

chữ K, và dưới nó là mấy chữ “Thư từ, sổ ghi nhớ,

biên lai” và một quyển sổ. Chúng tôi cho rằng những

11

thứ này cho biết tính chất của những thứ mà chú

tôi đã hủy đi. Những thứ còn lại trong căn phòng

trên gác không có gì quan trọng, trừ một số lớn

những tờ giấy vương vãi và những quyển sổ nói về

cuộc sống của chú tôi tại Mỹ.

Bước sang năm 1884, cha tôi đến sống tại Horsham

và mọi sự tiến hành tốt đẹp cho đến ngày 4 tháng

giêng năm 1885, tôi nghe cha tôi kêu lên một tiếng

khủng khiếp khi chúng tôi ngồi với nhau tại bàn

điểm tâm. Ông ngồi đó, trong tay cầm một bì thư vừa

mới mở, tay kia là năm hạt cam khô.

- Ồ, thế này là thế nào hả con? - Cha tôi lắp bắp

hỏi.

- Đó là K.K.K - Tôi đáp, lòng tê dại.

Ông nhìn trong phong bì.

12

- Đúng như thế. Chính là K.K.K. Nhưng phía trên nó

là cái gì thế? “Hãy đặt những tờ giấy trên cái

đồng hồ mặt trời!” - Tôi hé mắt nhìn qua vai ông và

đọc.

- Giấy tờ gì thế? Cái đồng hồ mặt trời nào?

- Cái đồng hồ mặt trời ở trong vườn. Không có cái

nào khác. Còn về giấy tờ, thì chắc đó là những giấy

tờ đã bị hủy đi.

- Úi chà! Chúng ta đang ở trong một vùng đất văn

minh, và không thể có cái chuyện vớ vẩn kiểu này.

Lá thư từ đâu đến? - Ông nói, ra vẻ gan dạ.

- Từ Dundee - Tôi đáp, nhìn vào dấu bưu điện.

- Cha có dính dáng gì tới những giấy tờ và cái

đồng hồ mặt trời? Cha không thèm quan tâm tới

chuyện bậy bạ như thế.

13

- Chắc là con nên báo cho cảnh sát biết. - Tôi

nói.

- Để người ta cười cho ấy à? Không nên làm rùm

beng về một chuyện vớ vẩn như thế!

Biện luận với ông thật vô ích, bởi vì ông là một

người rất độc tài. Tuy thế, tôi vẫn không yên lòng,

tâm trí bị ám ảnh bởi những chuyện chẳng lành. Ba

ngày sau khi nhận được lá thư, cha tôi đi thăm một

người bạn cũ, thiếu tá Freebody, ông này đang chỉ

huy một trong những đồn lũy trên đồi Portsdown. Tôi

mừng là ông đã đi, vì tôi thấy dường như càng đi

xa nhà, thì ông càng tránh được sự nguy hiểm. Sau

khi ông vắng nhà hai ngày, tôi nhận được điện tín.

Thiếu tá yêu cầu tôi đến ngay. Cha tôi đã ngã xuống

một trong những hố đá vôi ở quanh vùng đó, và đang

14

nằm bất tỉnh. Tôi vội vã đến, nhưng ông lịm đi và

không bao giờ tỉnh dậy nữa. Dường như ông đã từ

vùng Fareham trở về vào buổi hoàng hôn, vùng quê

thì lạ lẫm đối với ông, mà những hố đá vôi thì

không có hàng rào bao quanh, vì thế, người bồi thẩm

đã kết luận: “Chết vì tai nạn bất ngờ.”

Khi xem xét lại mọi sự kiện liên quan đến cái chết

của ông, tôi không tìm thấy một cái gì có thể gợi

lên ý tưởng về vụ mưu sát. Không có dấu hiệu của sự

hành hung, không có dấu chân, không có vụ cướp bóc

nào, cũng không có bằng chứng nào về sự xuất hiện

của những người lạ mặt trên những con đường. Thế

nhưng, tôi rất lo lắng, và chắc chắn đã có một âm

mưu gài bẫy ông.

Cái chết của cha tôi đến vào tháng giêng năm 1885,

15

và từ đó đến nay, 2 năm 8 tháng đã trôi qua. Trong

thời gian này, tôi bắt đầu hi vọng rằng những hạt

cam đã rời bỏ gia đình tôi, rằng nó đã chấm dứt với

đời cha tôi. Nhưng sáng hôm qua, cú đánh đã bổ

xuống.

Chàng thanh niên lấy ra từ áo gi-lê một cái phong

bì nhàu nát, và quay sang bàn, anh ta lắc nhẹ, làm

rơi xuống năm hạt cam khô.

- Đây là cái phong bì. Dấu bưu điện London, phía

Đông. Bên trong là những chữ y như trên cái thông

điệp cuối cùng mà cha tôi nhận được: “K.K.K”. Tiếp

theo đó là: “Hãy đặt những giấy tờ lên cái đồng hồ

mặt trời!”

- Anh đã làm gì?

- Không làm gì cả.

16

- Không làm gì cả à?

- Thật tình mà nói, - Anh ta áp mặt xuống hai bàn

tay gầy xanh của mình, - Tôi đã cảm thấy bất lực.

Tôi cảm thấy mình như một con thỏ khốn nạn khi con

rắn đang bò về phía nó. Mọi sự đề phòng đều chỉ

uổng công thôi.

- Anh phải hành động, chàng trai ạ, nếu không, anh

sẽ bị lâm nguy đấy. Chỉ có nghị lực mới cứu nổi

anh.

- Tôi đã gặp cảnh sát.

- À!

- Nhưng họ lắng nghe câu chuyện của tôi với một nụ

cười. Holmes vung hai tay nắm chặt của anh lên

không khí.

- Ngu xuẩn không chịu được! - Anh kêu lên.

17

- Tuy vậy, họ cho một cảnh sát đến ở trong nhà với

tôi.

- Ông ta có đi theo anh tới đây không?

- Không, ông ta được lệnh lưu lại trong nhà.

Một lần nữa Holmes bực tức, nói lầm bầm:

- Tại sao lúc ấy anh không đến với tôi? Và trên

hết, tại sao anh không đến ngay?

- Tôi cũng không biết nữa. Chỉ mới hôm qua, tôi kể

cho thiếu tá Prendergast nghe những rắc rối của

tôi, và ông ta khuyên tôi tìm đến ông.

- Vậy là đã hai ngày trôi qua từ khi anh nhận được

lá thư. Lẽ ra, chúng ta nên hành động sớm hơn. Anh

không còn bằng chứng nào, một chi tiết gợi ý nào

khác, khả dĩ giúp chúng tôi?

- Có một cái này, - Người thanh niên nói, lục lọi

18

trong túi áo khoác và kéo ra một tờ giấy có đường

kẻ xanh, phai màu, và đặt nó lên bàn, - Vào hôm chú

tôi đốt giấy tờ, tôi có thấy những cái mép nhỏ

không bị cháy, nằm giữa đống tro, nó có cái màu đặc

biệt lắm. Tôi thấy nó nằm ở trên sàn phòng ông và

tôi đoán rằng, có lẽ nó là một trong những tờ giấy

bay ra, nhờ thế mà khỏi bị cháy.

Holmes di chuyển cái đèn, và cả hai chúng tôi cúi

xuống nhìn vào tờ giấy. Cái mép xơ ra, cho thấy nó

được xé từ một quyển sổ. Đầu đề là: “Tháng 3,

1869”, và dưới đó là những dòng chữ khó hiểu.

“Ngày 4, Hudson đến. Nhà ga cũ ấy.

Ngày 7, đặt những hạt cam lên McCauley, Paramore,

và John Swain, của St. Augustine.

Ngày 9, McCauley giải tỏa. Ngày 10, John Swain

19

giải tỏa.

Ngày 12, Viếng thăm Paramore. Tất cả đều tốt đẹp.”

- Cám ơn anh! - Holmes nói, gấp mảnh giấy lại và

trả cho người khách, - Và bây giờ anh không thể vì

lí do gì để mất một khắc. Anh phải về nhà và hành

động ngay.

- Tôi sẽ làm gì?

- Chỉ có một việc để làm và phải làm ngay lập tức.

Anh hãy đặt tờ giấy này vào trong cái hộp bằng

đồng ấy. Anh cũng nên viết vài dòng chữ, nói rằng

tất cả những giấy tờ khác đã bị chú anh đốt rồi, và

đây là mảnh giấy duy nhất còn lại. Anh phải khẳng

định điều đó bằng những lời lẽ có sức thuyết phục

đối với họ. Rồi, anh phải lập tức đặt cái hộp lên

trên cái đồng hồ mặt trời. Anh hiểu rồi chứ?

20

- Tôi hiểu rõ.

- Hiện tại, đừng có nghĩ tới chuyện trả thù. Việc

đầu tiên là phải loại bỏ cái nguy hiểm đang đe dọa

anh. Việc thứ hai là làm sáng tỏ cái bí mật và

trừng trị thủ phạm.

- Cám ơn ông! - Chàng trai nói và đứng lên, mặc áo

khoác vào,

- Ông đã cho tôi một niềm hi vọng mới. Tôi sẽ làm

theo lời ông.

- Đừng bỏ mất một khắc. Và hãy cẩn thận giữ mình,

một mối nguy hiểm đang rình rập anh. Anh về nhà

bằng gì?

- Bằng xe lửa từ Waterloo.

- Chưa đến 9 giờ. Phố xá còn đông đúc, nên tôi tin

chắc là anh sẽ được an toàn.

21

- Tôi có vũ khí.

- Tốt lắm. Ngày mai, tôi sẽ bắt tay vào trường hợp

của anh.

- Vậy tôi sẽ gặp ông tại Horsham?

- Không. Sự bí mật của anh nằm tại London. Tôi sẽ

tìm kiếm nó ngay tại đây.

- Vậy trong một, hai ngày nữa, tôi sẽ đến chỗ ông,

với những tin tức về cái hộp và những giấy tờ.

Anh ta bắt tay chúng tôi rồi giã từ. Bên ngoài gió

vẫn gào thét và mưa tạt lộp độp vào các cửa sổ.

- Anh Watson, trong tất cả những vụ án của chúng

ta, chưa có vụ nào quái lạ hơn vụ này.

- Có lẽ thế, trừ vụ “Truy tìm dấu hiệu bộ tứ”.

- Vâng, có lẽ. Thế nhưng chàng trai này dường như

đang bước đi giữa những mối nguy hiểm lớn hơn cả

22

những nguy hiểm của gia đình Sholto.

- Nhưng anh đã xác lập được một quan niệm rõ ràng

nào về những mối nguy hiểm này chưa?

- Bản chất của chúng thì đã rõ.

- Vậy những nguy hiểm ấy như thế nào? K.K.K là ai?

Tại sao hắn theo đuổi gia đình này?

Sherlock Holmes nhắm mắt lại và đặt hai cùi chỏ

tay lên ghế, những đầu ngón tay chụm vào nhau.

- Khi đã có trong tay một sự kiện riêng lẻ trong

toàn bộ tình huống, nhà lí luận tưởng sẽ suy diễn

không chỉ tất cả những chuỗi biến cố dẫn đến nó, mà

còn suy diễn ra được những kết quả xuất phát từ

nó. Xưa kia tôi đã nói rằng, một người phải dự trữ

trong trí óc anh ta những đồ đạc mà anh ta có thể

phải dùng đến, và những thứ còn lại anh ta có thể

23

cất đi vào kho chứa, nơi mà anh ta có thể lấy, khi

cần. Bây giờ, đối với trường hợp này, chúng ta phải

trưng dụng tất cả những tài nguyên sẵn có. Làm ơn

đưa cho tôi quyển vần “K” của bộ Bách khoa từ điển

nằm trên kệ. Cám ơn. Bây giờ, hãy xem ta có thể suy

diễn ra từ nó được cái gì. Trước hết, chúng ta có

thể bắt đầu bằng một giả thiết rằng ông đại tá có

một lí do rất mạnh mẽ để rời nước Mỹ. Những con

người ở vào thời đó không dại gì mà đổi cái khí hậu

dễ chịu của Florida để lấy cuộc sống cô đơn tại

một thị trấn Anh quốc. Điều này gợi ra ý tưởng

rằng, ông đã sợ hãi một ai đó, hoặc một cái gì đó.

Về chuyện ông ta sợ cái gì, chúng ta chỉ cần suy

diễn từ những lá thư khủng khiếp đã đến với ông ta

và những người thừa kế của ông ta. Anh có để ý con

24

dấu bưu điện trên những lá thư này không?

- Lá thư đầu tiên đến từ Pondicherry, lá thư thứ

hai từ Dundee, lá thứ ba từ London.

- Hai lần đầu đến từ phía Đông của London. Anh suy

diễn ra điều gì về chi tiết đó?

- Ở phía Đông toàn là những hải cảng. Người viết

thư đã ở trên một con tàu.

- Tuyệt diệu! Chúng ta đã có một đầu mối. Rất có

thể là người viết thư đã ở trên một con tàu. Và bây

giờ, chúng ta hãy xem xét một điểm khác. Trong

trường hợp lá thư đến từ Pondicherry, thời gian

trôi qua giữa lời đe dọa và sự thực hiện là bảy

tuần lễ; trong trường hợp thư đến từ Dundee thì

khoảng cách ấy chỉ còn lại bốn, năm ngày. Sự chênh

lệch ấy nói đến điều gì?

25

- Một khoảng cách xa hơn để đi.

- Nhưng, lá thư cũng phải có một khoảng cách xa

hơn để đến.

- Tôi không hiểu điểm ấy.

- Rất có thể cái thuyền mà trên đó người ấy có

mặt, là một thuyền buồm. Hình như họ thường gửi lá

thư báo hiệu trước khi họ hành động. Anh thấy,

trong trường hợp thư đến từ Dundee, hành động đã

đến chóng vánh sau khi có báo hiệu: Chỉ có năm

ngày. Nếu họ đến từ Pondicherry bằng tàu thủy, họ

đã có thể đến cùng lúc với lá thư. Nhưng thực ra,

họ đến sau lá thư bảy tuần. Tôi nghĩ rằng thời gian

bảy tuần này nói lên sự khác biệt giữa tốc độ của

cái tàu đưa thư (chở lá thư) và cái tàu buồm (chở

người gửi thư).

26

- Có thể.

- Và bây giờ, tại sao tôi lại thúc giục chàng trai

phải giữ mình cẩn thận. Ngón đòn thường giáng

xuống vào cuối khoảng thời gian mà người gửi thư

phải dùng để vượt khoảng cách. Nói cách khác, ông

ta cho thư đi trước, còn mình thì đi sau, nhưng hễ

vừa tới nơi là ra tay liền. Nhưng lá thư này đến từ

London, vì thế mà chúng ta không thể trì hoãn

được.

- Trời ơi!

- Những thứ giấy tờ mà ông đại tá mang theo, rõ

ràng là rất quan trọng đối với người ở trên thuyền

buồm. Đó là một nhóm người, chứ không phải một

người. Một kẻ đơn thương độc mã không tài nào giết

chết hai mạng người một cách khéo léo đến mức đánh

27

lừa được cả điều tra viên của ban hội thẩm. Chắc

chắn bọn chúng phải là những con người tháo vát và

cương quyết. Chúng muốn lấy cho bằng được những

giấy tờ, bất kể ai đang cất giữ. Như thế, “K.K.K”

không còn là tên viết tắt của một cá nhân mà đã trở

thành tên của một hội đoàn.

- Nhưng hội đoàn nào?

- Anh chưa bao giờ nghe nói đến bọn Ku Klux Klan

sao?

- Chưa bao giờ cả.

Holmes lật những trang giấy của quyển Bách khoa

đặt lên đầu gối anh.

- Đây rồi! Ku Klux Klan. “Một cái tên xuất phát từ

âm thanh phát ra khi lên đạn một khẩu súng trường.

Cái hội kín khủng khiếp này được thành lập bởi

28

những cựu chiến binh Liên bang tại những tiểu bang

Miền Nam, sau Nội chiến, và nó nhanh chóng thành

lập những chi nhánh địa phương tại nhiều vùng khác

nhau của nước Mỹ, nhất là tại Tennssee, Louisiana,

Carolinas, Georgia và Florida. Quyền lực của nó

được sử dụng vào những mục đích chính trị, chủ yếu

là để khủng bố cử tri da đen, để ám sát và trục

xuất những kẻ nào chống đối với các quan điểm của

nó. Trước lúc hành động, nó thường báo trước cho

nạn nhân bằng một hình thức quái dị nào đó, nhưng

thường dễ nhận ra. Tại một vài vùng, kẻ bị trừng

phạt nhận được một nhánh lá sồi, tại những vùng

khác, là những hạt dưa hay những hạt cam. Khi nhận

được tín hiệu này, nạn nhân có thể công khai từ bỏ

lối sống cũ của mình, hoặc có thể chạy trốn sang

29

nước khác. Nếu nạn nhân liều lĩnh thách đố, thì

chắc chắn Tử thần sẽ đến viếng anh ta, và thường là

dưới những hình thức quái dị và không thể đoán

trước. Cách tổ chức của hội kín này quá hoàn hảo và

phương pháp hành động của họ quá hệ thống, đến nỗi

chưa có ai chống lại nó mà không bị trừng trị và

các thủ phạm của những cuộc khủng bố này chưa bao

giờ bị phát hiện. Tổ chức này thịnh hành trong một

vài năm, mặc dù chính phủ Mỹ và những giai cấp tiến

bộ hơn trong cộng đồng tại Miền Nam đã cố công dập

tắt. Sau cùng, vào năm 1869, phong trào xẹp xuống

một cách đột ngột, mặc dù từ thời điểm đó về sau,

thỉnh thoảng lại nổ ra một vụ khủng bố kiểu như

thế.”

- Anh sẽ thấy, - Holmes nói, đặt quyển sách xuống

30

- Rằng sự tan rã đột ngột của hội kín này trùng hợp

với việc ông đại tá Elias trốn khỏi nước Mỹ cùng

với những giấy tờ của ông ta. Thảo nào mà luôn luôn

có những “cái bóng” theo đuổi ông ta và gia đình

ông ta - một cuộc săn đuổi quyết liệt và dai dẳng.

Quyển sổ và quyển nhật kí kia có dính líu đến một

vài người đầu tiên tại Miền Nam và nó đã làm cho

nhiều người mất ăn mất ngủ khi nào họ chưa lấy lại

được.

- Vậy là cái trang mà chúng ta đã thấy...

- Nếu tôi nhớ đúng, thì nội dung của nó như thế

này: “Đã gởi những hạt cam tới A, B và C”, nghĩa là

đã gởi tín hiệu đến cho những người ấy. Rồi tiếp

theo đó là những đề mục nói rằng A và B được giải

tỏa, hoặc rời đất nước và sau cùng C đã được thăm

31

viếng, nghĩa là C đã bị trừng phạt. Tôi tin rằng cơ

may duy nhất mà chàng trai Openshaw có được trong

lúc này, là làm theo lời tôi khuyên. Đêm nay không

còn gì để nói nữa, vậy hãy đưa cho tôi cây vĩ cầm.

Sương mù đã tan đi vào buổi sáng. Mặt trời tỏa ánh

sáng dìu dịu xuyên qua màn sương mờ giăng qua

thành phố London. Holmes đã ngồi tại bàn điểm tâm

khi tôi đi xuống.

- Cả ngày nay tôi sẽ bận rộn để xem xét trường hợp

của chàng trai.

- Anh sẽ đi những bước nào?

- Có thể là tôi phải đi xuống Horsham.

- Anh sẽ không đến đó trước?

- Không. Tôi sẽ bắt đầu với thành phố London. Cứ

rung chuông, chị giúp việc sẽ mang cà-phê lên cho

32

anh.

Trong khi chờ đợi, tôi nhặt tờ báo mới lên và liếc

qua. Mắt tôi dừng lại trên một cái tít, nó làm tôi

lạnh cả người.

- Holmes ạ, anh chậm mất rồi! - Tôi kêu lên.

- Ồ! Tôi cũng đã e ngại điều đó. Sự việc diễn ra

như thế nào?

- Anh nói bằng giọng trầm tĩnh, nhưng tôi có thể

thấy rằng anh đang xúc động mạnh mẽ. Mắt tôi đập

vào cái tên Openshaw và cái tít: Thảm kịch gần cầu

Waterloo. Bài tường thuật như sau:

“Khoảng từ 9 giờ 11 phút đêm qua, cảnh sát thuộc

Phân khu H, trực gần cầu Waterloo, đã nghe một

tiếng kêu cứu và tiếng nước tung tóe. Song, đêm quá

tối và cơn bão quá dữ dội, nên dù có sự trợ giúp

33

của dăm bảy người qua đường, vẫn không thể cứu được

kẻ bị đắm. Tuy vậy, lời báo động được truyền đi,

và nhờ sự trợ lực của đội cảnh sát trên sông, sau

cùng tử thi được vớt lên. Bằng cái tên trên phong

bì tìm thấy trong túi áo nạn nhân, ta biết đó là

chàng trai John Openshaw, cư trú gần Horsham. Người

ta đoán rằng, có thể là anh ta đang vội vã đi

xuống để bắt kịp chuyến xe lửa cuối cùng phát xuất

từ Waterloo, và rằng trong cơn vội vã và đêm đen

như mực, anh ta đã lạc lối mà bước lên mép của một

cầu tàu. Đây là một tai nạn rủi ro; tai nạn này sẽ

có tác dụng kêu gọi chính quyền lưu ý tới tình

trạng của những cầu tàu ven bờ sông.”

Chúng tôi ngồi ùn lặng trong một vài phút. Chưa

bao giờ Holmes xúc động như vậy.

34

- Biến cố này làm thương tổn tự ái của tôi. Bây

giờ nó là một vấn đề của chính bản thân tôi. Tôi

nhất định sẽ tóm cổ bọn này.

Khốn nạn thay, anh ta đến cầu cứu tôi, thế mà tôi

lại đưa anh ta vào chỗ chết!

Holmes nhảy ra khỏi ghế và bước đi quanh phòng

trong trạng thái xúc động không thể kiềm giữ, hai

bàn tay khẳng khiu nắm vào, mở ra.

- Bọn chúng quả là một lũ quỷ tinh ranh. Làm thế

nào chúng có thể nhử anh ta xuống đó? Đi tới nhà ga

thì đâu cần phải qua lối đó. Cho dù vào một đêm

tối tăm và mưa bão thì trên cầu vẫn đông đúc người

qua lại, chúng không dễ gì thực hiện âm mưu. Ừ, để

rồi xem. Bây giờ tôi đi đây!

- Đến cảnh sát?

35

- Không. Tôi sẽ là cảnh sát của chính tôi!

Suốt ngày tôi bận rộn với việc khám bệnh và khi

tôi trở lại phố Baker thì đã xế chiều. Holmes vẫn

chưa về. Gần đêm, anh mới về tới, trông có vẻ xanh

xao và mệt rã rời. Anh bước lại bên cái tủ buýp-

phê, xé một miếng bánh mì nhai ngấu nghiến, rồi

uống một ngụm nước.

- Anh đang đói?

- Đói meo. Từ sáng tới giờ, chưa có gì trong bụng

cả.

- Công việc ra sao?

- Tốt.

- Anh đã có một đầu mối?

- Bọn chúng đang ở giữa lòng bàn tay tôi. Chẳng

bao lâu nữa, chàng trai sẽ rửa được mối thù. Ừ,

36

chúng ta sẽ dán cái phù hiệu của chúng nó lên chúng

nó. Kể cũng hay đấy?

- Anh muốn nói gì?

Holmes lấy từ trong chạn ra một quả cam, xé thành

từng mảnh, rồi bóp cho những hạt cam rơi xuống bàn.

Anh lấy năm hạt và nhét chúng vào một phong bì. Ở

phía bên trong nắp phong bì, anh viết: “A.H gởi cho

J.C”. Rồi anh dán lại, đề địa chỉ người nhận:

Thuyền trưởng James Calhoun, tàu Lone Star, tiểu

bang Georgia.

- Lá thư sẽ đợi hắn khi hắn vào hải cảng - Anh

cười khúc khích, nói: - Lá thư sẽ cho hắn một đêm

không ngủ. Hắn sẽ thấy rằng mọi sự vùng vẫy đều vô

ích, như điều mà chàng trai Openshaw đã cảm nhận

xưa kia.

37

- Thuyền trưởng Calhoun là ai?

- Là thủ lĩnh của bọn đó. Tôi sẽ tóm cổ những tên

khác, nhưng hắn là người đầu tiên.

- Anh tìm ra tung tích bọn chúng như thế nào?

Holmes lấy từ trong túi ra một tờ giấy lớn, đầy

những cái tên và những con số chỉ ngày tháng.

- Tôi đã mất cả một ngày để xem xét nhiều tập hồ

sơ cũ, theo dõi lộ trình sẽ đi của tất cả những tàu

thủy đã cập bến Pondicherrry vào tháng Giêng và

tháng Hai năm 1883. Có ba mươi sáu tàu trọng tải

khá lớn được báo cáo là có mặt ở đó, trong những

tháng này. Trong số đó, có một chiếc tên là Lone

Star đã lôi cuốn sự chú ý của tôi, bởi vì nó mang

tên của một tiểu bang ở Mỹ.

- Tôi nghĩ là tiểu bang Texas.

38

- Cho đến giờ, tôi cũng không biết chắc là tiểu

bang nào. Nhưng tôi đã biết chắc rằng đó là một

chiếc tàu gốc tại Mỹ.

- Sau đó, anh làm gì?

- Tôi lục soát những hồ sơ về Dundee và khi tôi

thấy rằng, chiếc thuyền buồm Lone Star có mặt tại

đây vào tháng giêng năm 1885, thì tôi không còn

nghi ngờ gì nữa. Rồi tôi điều tra về những con tàu

hiện đang nằm tại cảng London.

- Gì cơ?

- Tuần trước, con tàu Lone Star đã đến đây. Tôi đi

xuống bến tàu và thấy rằng nó đã nhổ neo từ sáng

sớm hôm nay, trên đường đến Savannah. Tôi đánh điện

tới Gravesend, và được biết rằng nó đã đi qua một

thời gian trước đó, vì gió đang thổi về hướng đông,

39

tôi chắc chắn rằng bây giờ nó đã đi quá Goodwins,

và cách đảo Wight không xa.

- Rồi anh sẽ làm gì?

- Ồ, tôi sẽ tóm cổ hắn. Theo tôi biết, trên tàu

chỉ có ba người gốc Mỹ, là hắn và hai tên khác nữa.

Số còn lại là người Phần Lan và người Đức. Tôi

cũng biết đêm qua, cả ba đứa đều rời khỏi tàu:

Chúng đi giết anh chàng của chúng ta. Tôi lấy được

tin này từ người công nhân bốc xếp đã chất hàng cho

chúng. Vào lúc chiếc tàu buồm của chúng đến

Savannah, tàu đưa thư hẳn đã mang lá thư đến đó

rồi, và điện tín hẳn đã báo cho cảnh sát tại

Savannah biết rằng, cần phải bắt giữ ba tên này về

tội mưu sát.

Tuy thế, kẻ mưu sát chàng trai Openshaw không bao

40

giờ nhận được những hạt cam. Năm ấy, những cơn gió

Thu phân kéo dài rất lâu và khắc nghiệt. Chúng tôi

mòn mỏi chờ tin con tàu Lone Star của Sanvannah,

nhưng bặt bóng chim tăm cá. Sau cùng, chúng tôi

nghe nói rằng, ở một nơi nào đó xa ngoài khơi Đại

Tây Dương, người ta thấy một cái cột buồm phía đuôi

tàu bị vỡ̃ tan, đang lắc lư trên sóng. Trên đó, có

khắc “L.S”.

41

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát