Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Sherlock Holmes Toàn Tập - Tập 3 - Phần 1

CONAN DOYLE

SHERLOCK HOLMES TOÀN TẬP

TẬP 3 – PHẦN 1

Nhóm dịch giả: Lê Khánh, Đỗ Tư Nghĩa, Vương Thảo,

Ngô Văn Quỹ, Lê Nhân, Hoàng Cường,

Phạm Quang Trung, Hải Thọ, Bùi Nhật Tân, Thanh

Lộc, Minh Phụng

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

TỤC LỆ Ở DÒNG HỌ MUSGRAVE

Các phòng của chúng tôi luôn chứa đầy những vật kì

quặc liên quan đến Hóa học hoặc đến tội hình sự

nào đấy. Những dị vật này thường ở những nơi không

ngờ tới nhất, như trong chiếc bình đựng bơ chẳng

hạn. Tuy nhiên, giấy tờ của Holmes là những thứ

hành hạ tôi hơn cả. Hiện giờ anh chưa thể đốt

1

chúng. Nhưng việc sắp xếp lại giấy tờ, đưa chúng

vào trật tự ngăn nắp thì Holmes chỉ có dũng khí làm

việc đó một, hoặc quá lắm là hai lần trong một

năm. Thế là từ tháng này qua tháng khác, hàng đống

giấy tờ chép tay ngồn ngộn trong tất cả các góc

nhà.

Vào một chiều mùa đông, chúng tôi cùng ngồi cạnh

lò sưởi. Tôi nói bóng gió với Holmes rằng, chừng

nào anh thôi không ghi chép trên cuốn sổ tay của

mình, và giá như anh bỏ ra khoảng một tiếng đồng hồ

ghi chép để làm cho căn phòng có vẻ sinh động hơn

thì tốt biết mấy! Anh thừa nhận sự đúng đắn trong

yêu cầu của tôi. Với vẻ mặt buồn bã, anh lê bước

vào phòng ngủ, lát sau kéo ra một chiếc hòm sắt tây

to tướng. Anh đặt nó giữa phòng, mở nắp ra: Chừng

2

một phần ba chiếc hòm chứa đầy những bó giấy được

thắt bằng dải băng màu đỏ.

- Trong này không ít những điều thú vị! - Anh vừa

nói vừa thân ái nhìn tôi.

- Đó là các bản phúc trình về những vụ việc trước

đây của anh phải không? Nhiều lần tôi mong muốn anh

đừng giữ lại những bản ghi chép đã quá lâu ngày.

- Đây thuộc về những trường hợp đã xảy ra trước

khi tôi có riêng một người chép sử.

Rồi bằng những cử chỉ nhẹ nhàng đến âu yếm, anh

rút từng bó giấy ra.

- Không phải mọi vụ việc đều kết thúc tốt đẹp đâu.

Có một vài vụ khó đến lạ lùng. Chẳng hạn như bản

phúc trình về vụ giết Tarleton; công việc liên quan

tới một người buôn rượu vang; câu chuyện về chiếc

3

đinh nhôm và bản tường trình chi tiết về cô gái

chân cong. Còn đây... một trường hợp tuyệt vời!

Anh lôi tận đáy hòm ra một chiếc hộp gỗ nhỏ có nắp

xoay, và lấy ra một mảnh giấy nhàu nát, chiếc chìa

khóa cỡ bằng đồng tiền cũ, thanh gậy gỗ được quấn

bằng một cuộn dây nhỏ và ba chiếc vòng sắt gỉ.

- Thế nào! Những báu vật này làm anh thích thú

chứ? - Holmes hỏi và mỉm cười.

- Đây là bộ sưu tập thú vị?

- Rất thú vị! Và lịch sử gắn liền với nó còn khiến

anh thú vị hơn nữa!

- Chẳng lẽ các vật này lại có lịch sử sao?

- Hơn thế nữa, chính chúng là lịch sử.

- Anh muốn nói gì thế?

Sherlock Holmes gom tất cả những đồ vật đó sang

4

một bên, buông mình xuống ghế bành rồi bắt đầu nhìn

chúng bằng cặp mắt sáng lên vì hài lòng:

- Đó là tất cả những gì tôi lưu lại trong kí ức về

một việc xảy ra có liên quan tới tục lệ của gia

đình Musgrave.

- Tôi rất muốn biết chuyện này.

Holmes nhạo báng:

- Lưu lại cái thứ đồ bỏ này làm chi? Anh ngăn nắp

lắm kia mà? Tuy vậy, chính tôi cũng muốn đưa nó vào

cuốn biên niên sử của mình. Bởi vì trong đó chứa

những tình tiết làm câu chuyện trở thành độc nhất

vô nhị đối với các ghi chép tội hình sự, không cứ ở

Anh mà còn ở nhiều nước khác nữa. Giờ đây tên tuổi

của tôi đã được nhiều người biết đến. Không chỉ

công chúng mà cả những nhà chức trách cũng coi tôi

5

là cấp cuối cùng để giải quyết các vấn đề còn đang

khúc mắc. Ngay từ khi mới quen anh, tôi đã có một

phạm vi hoạt động đáng kể, mặc dầu không thật sinh

lợi nhiều lắm. Cho nên chắc anh không thể tưởng

tượng được là vào thời kì đầu, tôi phải sống thiếu

thốn như thế nào, và tôi phải chờ đợi ngày thành

đạt lâu ra sao! Lần đầu tiên đến London, tôi ở

đường Montague cạnh bảo tàng Anh. Tại đây, tôi dùng

thời gian rảnh rỗi nghiên cứu hết tất cả các lĩnh

vực tri thức có thể giúp ích trong nghề nghiệp.

Thường nhiều người cũng nhờ tôi khuyên bảo, họ tới

do sự giới thiệu của những bạn hữu, vốn cũng là

sinh viên trước đây. Chả là vào những năm sống ở

trường Đại học, người ta đã nói nhiều đến các

phương pháp làm việc của tôi. Công việc của gia

6

đình Musgrave là việc người ta nhờ tôi.

Reginard Musgrave cùng học cao đẳng với tôi. Anh

không có gì nổi bật cả. Nhìn bề ngoài, anh quả là

một nhà quý tộc điển hình: Nét mặt thanh tú với cái

mũi cao và đôi mắt mở to. Thật ra anh là người của

một chi trong những dòng họ hoàng gia. Lâu đài

Hurlstone của gia đình anh là một trong những tòa

nhà cổ kính nhất của vùng.

Đã bốn năm chúng tôi không gặp nhau. Thế là một

lần vào buổi sáng, anh đến chỗ tôi ở.

- Anh có khỏe không, Reginard Musgrave? - Tôi hỏi,

sau khi chúng tôi bắt tay nhau.

- Có lẽ anh đã biết về cái chết của cha tôi cách

đây hai năm. Cố nhiên khi ấy tôi buộc phải cai quản

thái ấp Hurlstone. Ngoài ra tôi còn là Dân biểu

7

của địa hạt mình. Tôi không được rảnh rỗi là vì

vậy. Thế còn anh, nghe nói anh đã ứng dụng vào thực

tiễn những khả năng tuyệt vời từng làm chúng tôi

kinh ngạc phải không?

- Vâng. Tôi có ý định kiếm sống bằng trí tuệ.

- Tôi rất mừng khi biết điều này. Hơn lúc nào hết,

bây giờ những lời khuyên của anh sẽ rất quý giá

đối với tôi. Ở chỗ tôi vừa xảy ra những chuyện kì

quặc, cảnh sát không làm rõ được điều gì hết.

- Kể cho tôi nghe đi!

Tôi mời Musgrave một điếu thuốc lá. Anh ngồi đối

diện với tôi và bắt đầu hút.

- Mặc dầu chưa cưới vợ, tôi vẫn buộc lòng phải

quản lí cả một đống đầy tớ. Ổ khoá lớn được thiết

kế rất vụng về nên cần thường xuyên để mắt tới.

8

Thêm vào đó, tôi có một khu rừng cấm. Vào mùa săn

chim trĩ, trong nhà rất đông người, số người phục

vụ khá đông. Tôi có cả thảy tám nữ hầu, một người

nấu bếp, một quản gia, hai đầy tớ và một chú bé để

sai vặt. Ngoài ra, trong vườn và ở các tàu ngựa còn

có thợ làm việc.

Phục vụ ở gia đình chúng tôi lâu hơn cả là viên

quản lí Brunton. Lúc mới vào làm, anh ta chỉ là một

giáo viên trẻ. Chẳng bao lâu, do tính khí và nghị

lực mạnh mẽ của mình, anh trở thành một người không

thể thiếu được trong gia đình chúng tôi.

Đó là một người đàn ông có vầng trán rộng, cao to

và điển trai. Mặc dầu đã sống ở chỗ chúng tôi tới

gần hai mươi năm, nhưng hiện giờ anh vẫn chưa đầy

bốn mươi tuổi.

9

- Có thể coi là lạ lùng vì với vẻ ngoài hấp dẫn và

khả năng phi thường như thế - Holmes nói những lời

này du dương tựa như đang chơi nhạc cụ - Anh ta

lại hài lòng với cương vị khiêm tốn của mình lâu

đến thế ư?

Musgrave nói tiếp:

- Brunton sống khấm khá và không mong mỏi một sự

thay đổi nào. Anh ta luôn luôn chú ý tới tất cả các

vị khách của chúng tôi.

Brunton đã kết hôn với Rachel Howells, cô hầu

phòng của chúng tôi. Rachel là một người hầu tốt.

Nhưng sau đấy Brunton lại yêu con gái một người thợ

săn lành nghề và ruồng rẫy vợ. Sau chuyện này,

Rachel bị viêm màng não. Chẳng bao lâu sau, cô ấy

bình phục và giờ đây thì đã đi lại được, nhưng chỉ

10

còn có một mắt... Tấn thảm kịch đầu tiên là như vậy

đó. Thế nhưng tấn kịch thứ hai mới là một sự kiện

lớn lao.

Như trên đã nói, ngôi nhà của chúng tôi có quá

nhiều đường ngang ngõ tắt. Một ngày của tuần trước,

tôi dại dột uống cạn một li cà-phê đặc sau bữa ăn,

và kết quả là tôi thao thức đến 2 giờ sáng. Cuối

cùng, tôi dậy thắp nến để tiếp tục đọc cuốn tiểu

thuyết. Hóa ra tôi để quên cuốn sách ở phòng chơi

billiard.

Muốn tới phòng billiard, tôi phải xuống một cầu

thang, băng qua hành lang thư viện và kho chứa vũ

khí. Tôi đi vào hành lang, bỗng thấy có những tia

sáng yếu ớt hắt ra từ cánh cửa để ngỏ của thư viện.

Tôi nhớ rất rõ là trước khi đi ngủ, chính tay tôi

11

đã tắt cây đèn và đóng cửa lại rồi! Cố nhiên, ý

nghĩ đầu tiên đến với tôi là kẻ trộm đã đột nhập

vào đây. Vớ lấy chiếc rìu trên một bức tường, đặt

cây nến xuống, tôi rón rén đi theo hành lang và ghé

mắt nhìn qua cánh cửa của thư viện.

Brunton đang ngồi trên ghế bành. Một tờ giấy tựa

như tấm bản đồ địa lí được trải rộng trên đầu gối

anh ta. Hết sức kinh ngạc, tôi đứng yên, quan sát

anh ta từ trong bóng tối. Đột nhiên, Brunton đứng

dậy, tới gần bàn giấy đặt cạnh tường, dùng chìa

khóa mở một ngăn bàn ra. Sau khi lấy một mảnh giấy

gì đó, anh ta lại ngồi vào chỗ cũ, vuốt phẳng phiu

và bắt đầu chăm chú đọc.

Tôi giận đến mức không kìm mình được nữa. Tôi bước

về phía Brunton, anh ta nhỏm phắt dậy, vội vàng

12

nhét tấm bản đồ vào túi.

- Thật tuyệt! Anh đã biện minh cho lòng tin của

chúng tôi như thế đấy! Anh bị nghỉ việc ngay từ

sáng mai.

Anh ta cúi gằm mặt xuống, len lén đi ngang qua

tôi, không nói một lời. Trong ánh sáng yếu ớt của

ngọn nến, tôi liếc nhìn mảnh giấy mà Brunton đã lấy

ra từ bàn làm việc. Hóa ra đó chỉ là một thứ giấy

tờ không quan trọng gì cả: Nó chỉ là bản sao những

câu hỏi và câu trả lời được nói trong khi tiến hành

một tục lệ độc đáo cổ xưa mà chúng tôi gọi là “Tục

lệ ở gia đình Musgrave”.

Số là từ vài thế kỉ nay, mỗi khi đến tuổi trưởng

thành, mỗi người đàn ông trong dòng họ chúng tôi

đều phải tiến hành một nghi thức không ai không

13

biết. Nghi thức này chỉ gợi sự quan tâm của các

thành viên trong gia đình chúng tôi, hoặc quá lắm,

nó có thể gợi sự chú ý của các nhà khảo cổ muốn

lượm lặt các hiểu biết về những dòng họ xa xưa.

Tuyệt nhiên nó không thể có một ý nghĩa thực tế nào

cả.

- Chúng ta sẽ quay lại mảnh giấy này! - Tôi nói

với Musgrave.

- Nếu anh cho rằng việc đó thực sự cần thiết. Tôi

xin được tiếp tục trình bày tiếp - Musgrave trả lời

với nỗi do dự thoáng qua

- Sau khi khoá ngăn bàn giấy (chìa khóa Brunton để

lại tại đó), tôi sắp sửa bước ra thì lạ thay,

Brunton đã quay trở lại, đứng ngay trước mặt tôi.

- Ông Musgrave! - Anh ta kêu lên, giọng khò khè vì

14

xúc động

- Tôi không chịu đựng được sự ô nhục này! Tuy ở

địa vị thấp hèn, tôi cũng có lòng tự trọng. Tôi van

ông, hãy gia hạn cho tôi một tháng để tôi có thể

nói là tôi rời khỏi đây một cách tự nguyện. Còn bị

đuổi đi trước cái nhìn của tất cả mọi gia nhân là

điều quá sức chịu đựng của tôi.

- Vì anh đã phục vụ nhiều năm nên tôi sẽ không bắt

anh chịu nỗi ô nhục này một cách công khai. Vậy

sau một tuần, anh phải rời khỏi đây với lí do nào

đấy tùy anh!

- Chỉ một tuần thôi sao, thưa ông? - Anh ta kêu

lên tuyệt vọng

- Hãy cho tôi hai tuần!

- Chỉ một tuần thôi.

15

Anh ta cúi đầu xuống, chậm chạp lê chân đi. Tôi

tắt nến và đi về phòng mình.

Trong hai ngày sau đó, Brunton làm bổn phận của

mình một cách chu đáo. Thế nhưng sang ngày thứ ba,

trái với nếp bình thường, anh ta không tới chỗ tôi

nữa. Sau buổi sáng, lúc đi từ phòng ăn ra, tôi vô

tình nhận ra cô hầu phòng Rachel, vợ cũ của anh ta.

Bây giờ cô có vẻ suy kiệt đến nỗi tôi phải quở

trách cô vì cô đi làm quá sớm.

- Cô đừng làm việc khi vừa mới bình phục!

Cô ta nhìn tôi với vẻ là lạ, khiến tôi chợt nghĩ

có lẽ cơn bệnh đang ảnh hưởng tới đầu óc của cô ta

chăng?- Tôi khỏe rồi, thưa ông!

- Rồi xem bác sĩ sẽ nói như thế nào! Còn bây giờ

thì hãy bỏ công việc, đi xuống nhà dưới, nhân thể

16

bảo Brunton rẽ vào chỗ tôi!

- Anh ta biến mất rồi!

- Biến mất! Thế nghĩa là thế nào?

- Thật mà! Không ai còn nhìn thấy anh ta nữa. Anh

ta cũng không ở trong phòng. Anh ta đã biến mất.

Đúng! Đúng! Đã biến mất!

Cô ta tựa vào tường và bắt đầu cười khanh khách.

Tôi phát hoảng, chạy tới chiếc chuông nhỏ, gọi

người giúp việc. Người ta đưa cô gái vào phòng. Cô

vẫn vừa cười rộ vừa tức tưởi khóc. Tôi bắt đầu hỏi

về Brunton. Không còn nghi ngờ gì nữa, anh ta đã

biến mất thật. Tuy vậy, thật khó mà hình dung nổi

anh ta ra khỏi nhà bằng cách nào? Bởi vì vào buổi

sáng, mọi cửa sổ và cửa ra vào vẫn còn được khóa từ

phía bên trong, áo quần, đồng hồ, ngay cả tiền bạc

17

của Brunton vẫn còn nguyên ở trong phòng, chỉ

thiếu đôi giày vải đi trong nhà, nhưng đôi ủng thì

lại có. Xin nhắc lại, đôi khi tôi có cảm giác như

nhà mình là một “mê cung” thật sự. Chúng tôi tìm

kiếm từng phòng một, thậm chí các tầng thượng.

Không có kết quả. Tôi mời cảnh sát khu vực đến. Họ

cũng không phát hiện được gì hơn. Đêm hôm trước có

mưa, không thể tiến hành xem xét các bãi cỏ và con

đường quanh nhà. Tình hình vẫn như thế cho tới khi

một sự kiện mới lại xảy ra.

Trong vòng hai ngày đêm, Rachel chuyển từ tình

trạng mê sảng sang những cơn co giật thần kinh. Sức

khỏe của cô xấu đi đến mức ngay ban đêm chúng tôi

cũng phải mời hộ lí đến chăm sóc cô. Sang đêm thứ

ba kể từ lúc Brunton biến mất, người hộ lí đã ngủ

18

trên ghế bành khi thấy bệnh nhân chìm trong giấc

ngủ ngon lành. Sáng sớm, bà ta nhận ra giường trống

không, cửa sổ mở toang, còn bệnh nhân thì biến

mất. Lập tức người ta đánh thức tôi dậy. Dẫn theo

hai gia nhân, tôi bắt đầu tìm kiếm. Chúng tôi dễ

dàng xác định hướng cô ta chạy ra: Bắt đầu từ cửa

sổ đến chỗ dừng ngay sát mặt nước. Ao chỉ sâu chừng

tám feet. Chúng tôi dùng câu liêm bắt tay vào việc

tìm kiếm xác chết nhưng chỉ khều được một chiếc

bao nhét đầy những mẩu sắt vụn cũ kĩ gỉ sét cùng

những mảnh đá lửa và thủy tinh. Cảnh sát hoàn toàn

lúng túng, và bây giờ, niềm hi vọng cuối cùng của

tôi là đặt ở anh, anh Holmes.

- Anh Watson! Sau khi nghe xong câu chuyện, tôi

muốn liên kết một khối thống nhất, và rất muốn phát

19

hiện ra sợi chỉ dẫn đường đưa đến lời giải đáp cho

việc viên quản lí biến mất, nữ gia nhân cũng biến

mất. Có một lúc nào đấy, cô ả yêu anh chàng, nhưng

sau đấy lại oán ghét anh ta. Ngay sau khi Brunton

đột nhiên mất hút, cô ta đã bị kích động mạnh. Cô

ném bao tải chứa những đồ vật lạ lùng xuống ao. Mỗi

sự kiện đều đáng được lưu ý, song ở đây có một sự

kiện không giải thích được thực chất của công việc.

Tôi cần tìm hiểu cái khởi đầu của chuỗi sự việc

này nằm ở đâu? Bởi vì trước mắt tôi chỉ có mắt xích

cuối cùng của nó...

- Anh Musgrave, tôi cần tài liệu mà Brunton nghiên

cứu nó - Tôi nói với Musgrave.

- Thật ra “tục lệ” này là một chuyện hoàn toàn

nhảm nhí. Điều duy nhất có thể biện minh cho nó là

20

ở chỗ “Tính cổ xưa” của nó.

Anh ta chìa cho tôi coi một mảnh giấy nhỏ (Có thể

nhìn trong tay tôi đây, Watson!). Cái tục lệ đó tựa

như một bài thi vấn đáp. Bây giờ tôi sẽ đọc cho

anh nghe những câu hỏi và những câu trả lời theo

trình tự được ghi lại ở đây:

- Cái này thuộc về ai ?

- Thuộc về người đã đi khỏi đây.

- Cái này sẽ thuộc về ai?

- Thuộc về người sẽ đến đây.

- Mặt trời ở đâu ?

- Trên cây sồi.

- Bóng râm ở đâu?

- Dưới cây du.

- Cần đi bao nhiêu bước?

21

- Đi về phía bắc mười và mười, về phía đông năm và

năm, về phía nam hai và hai, về phía tây một và

một và phía dưới.

- Chúng ta hiến những gì?

- Cho tất cả những gì chúng ta có.

- Chúng ta hiến thân cho điều đó để làm gì?

- Vì bổn phận.

- Trong nguyên bản không có ngày tháng - Musgrave

lưu ý.

- Song nếu phán đoán theo quy tắc chính tả thì

chúng ở vào giữa thế kỉ XVII. Vả chăng, chúng sẽ

giúp ta quá ít trong việc khám phá ra bí mật này.

- Tuy vậy, chúng đặt trước mặt chúng ta các điều

bí ẩn thứ hai. Điều bí ẩn này rất thú vị - Tôi trả

lời - Hi vọng anh sẽ không phật ý vì tôi, anh

22

Musgrave, nếu tôi nói rằng Brunton có một trí tuệ

và một linh cảm lớn hơn mười thế hệ những người chủ

của anh ta.

- Thú thật là tôi chưa hiểu anh định nói gì -

Musgrave trả lời - Tôi cảm thấy mẩu giấy này không

hề mang một ý nghĩa thực tế nào cả.

- Trái lại nó cực kì quan trọng. Chính Brunton

cũng cho là như vậy. Có lẽ anh ta đã nhìn thấy nó

trước cái đêm anh bắt gặp anh ta đang phạm lỗi.

- Rất có thể như vậy! Chúng tôi chưa khi nào cất

giấu nó.

- Hơn nữa, vào lần đó, Brunton chỉ muốn nhớ lại

nội dung của nó thôi. Bởi hắn đã cầm trong tay tấm

bản đồ hoặc sơ đồ gì đó để đối chiếu với bản chép

tay, và nhanh chóng bỏ vào túi lúc nhìn thấy anh,

23

phải không?

- Hoàn toàn đúng. Nhưng anh ta cần “cái tục lệ” ấy

để làm gì?

- Chúng ta sẽ giải thích được.

Ngày hôm sau chúng tôi có mặt ở Hurlstone. Tòa lâu

đài cổ kính này được xây dựng theo hình chữ “L”

với cái mái dài có vẻ hiện đại, còn mái ngắn thì cổ

lỗ, nhưng tất cả những gì còn lại đều mọc lên từ

đấy. Trên cánh cửa nặng nề, con số chỉ năm 1607

được chạm khắc, thể hiện rõ nét tính cổ xưa của tòa

nhà. Thế nhưng những người am hiểu lại cho rằng,

các xà ngang bằng gỗ và những khối đá xây còn cổ

xưa hơn nhiều. Bao quanh khu nhà là một công viên

lớn với những hàng cây cổ thụ.

Còn cái hồ mà Musgrave gọi là cái ao thì nằm cuối

24

con đường có cây trồng, cách tòa nhà khoảng hai

trăm yard.

Anh Watson, vào thời gian này, trong tôi hình

thành một niềm tin chắc chắn rằng ở đó không hề có

tới ba điều bí ẩn riêng rẽ mà chỉ có một mà thôi:

Nếu khám phá được ý nghĩa của tục lệ nhà Musgrave

thì cũng sẽ tìm ra viên quản lí và cô hầu. Tại sao

Brunton lại cố gắng thâm nhập vào bản chất của công

thức cổ xưa này? Rõ ràng anh ta nhận ra trong đó

có một cái gì đấy lọt qua sự chú ý của tất cả các

thế hệ chủ nhân. Từ cái đó, anh ta hi vọng sẽ kiếm

chác món lợi riêng. Nó là cái gì vậy? Khi đọc xong

mảnh giấy, tôi được sáng tỏ hoàn toàn. Thì ra tất

cả các con số đều liên quan tới một nơi cất giấu

những thứ được nói đến trong phần đầu của tài liệu.

25

Và giá như tôi tìm thấy nơi này, thì tôi sẽ có cơ

sở phát hiện ra bí mật mà tổ tiên Musgrave đã che

đậy dưới hình thức vô cùng độc đáo. Hai vật chuẩn,

cây sồi và cây du đã cho tôi đầu mối của sự truy

tìm. Ngay trước ngôi nhà về phía trái con đường có

một cây sồi tộc trưởng.

- Khi “tục lệ” của các anh được ghi lại, cây sồi

đã có chưa? - Tôi hỏi.

- Chắc nó đã có ở đấy vào thời Công tước xứ

Normandy xâm lược Anh(1) , chu vi thân nó lên tới

hai mươi ba feet - Musgrave trả lời.

- Ở chỗ anh có cây du nào không? - Tôi hỏi tiếp.

- Có một cây du rất lâu đời, nhưng mười năm trước

nó bị sét đánh. Chúng tôi buộc phải chặt tận gốc.

- Chắc anh biết chỗ nó đã mọc lên chứ?

26

- Tất nhiên.

- Có những cây du khác mọc cạnh nó không?

- Những cây du lâu năm thì không, còn những cây du

mới lớn thì nhiều lắm.

Chúng tôi đi đến đó bằng xe hai bánh. Người khách

hàng không rẽ vào nhà mà dẫn tôi theo bãi cỏ đến

chỗ cây du đã bị đốn. Chỗ này nằm ở trong khoảng từ

cây sồi đến tòa nhà. Vậy là bước đầu tôi đã thành

công.

- Có lẽ giờ đây không còn có cách nào để xác định

chiều cao của cây du này? - Tôi hỏi.

- Nó cao sáu mươi tư feet.

- Sao anh biết? - Tôi kinh ngạc kêu lên.

- Khi ra những bài tập lượng giác, vị gia sư

thường thiết lập trên sự đo lường các độ cao khác

27

nhau. Cho nên lúc còn bé, tôi đã đo chiều cao của

từng cái cây, từng công trình xây dựng tại đây.

1. Cuộc chinh phạt Anh của người Norman ở thế kỉ

XI.

Một thành công bất ngờ! Các dữ liệu cần thiết được

thu lượm nhanh hơn so với dự tính của tôi.

- Có bao giờ viên quản lí hỏi anh về chuyện đó

không? - Tôi hỏi. Musgrave nhìn tôi kinh ngạc:

- Cách đây vài tháng, Brunton quả có hỏi về chiều

cao của cây du này. Hình như có một cuộc tranh luận

giữa anh ta và một gia nhân về việc đó.

- Anh Watson, như thế có nghĩa là tôi đã đi đúng

hướng. Tôi liếc nhìn mặt trời. Nó đã khuất, và tôi

ước tính một giờ trước đây, mặt trời đã ở trên

những nhánh cây cao của cây sồi già. Như vậy là một

28

điều kiện được nhắc đến trong tài liệu đã được

thực hiện.

Còn cái gì liên quan tới bóng râm từ cây du? Rõ

ràng người ta ngụ ý nói về điểm xa nhất của nó.

Thật ra bây giờ tôi chỉ cần trả lời câu hỏi này:

“Vào lúc mặt trời nằm trên cây sồi thì điểm cuối

cùng của bóng cây du nằm ở đâu?” Tôi cùng với

Musgrave đến phòng làm việc của anh ta. Tôi vót một

cây gậy dài sáu feet có thắt nút, đánh dấu từng

tấc một rồi cùng người khách hàng trở lại chỗ cây

du. Đúng vào lúc mặt trời đang “nằm trên đỉnh” cây

sồi, tôi cắm cây sào xuống đất: Bóng của cây gậy

dài chín feet.

Nếu cây gậy có chiều cao là sáu feet có bóng dài

chín feet thì cây du có chiều cao sáu mươi tư feet

29

sẽ có bóng dài chín mươi sáu feet.

Tôi đo khoảng cách này, nó đưa tôi đến chính ngay

bức tường nhà. Tôi cắm cọc vào chỗ đó và nhận ra

trên mặt đất có một hố sâu hình nón, cách chiếc cọc

chừng hai inch! Tôi hiểu rằng đây là chỗ Brunton

đánh dấu trong lúc đo; tôi tiếp tục đi theo dấu vết

của anh ta. Từ điểm này, tôi tính các bước chân:

Mười bước rồi mười bước nữa theo hướng bắc, tôi

được dẫn đi song song với bức tường ngôi nhà. Đo

xong, tôi lại đánh dấu bằng gậy của mình. Thế rồi

tôi lại tỉ mỉ đo năm rồi năm bước nữa về phía đông,

hai và hai bước nữa về phía tây.

Thế nhưng lúc đó tôi buộc phải bỏ qua những bước

này vì phải đi theo hành lang bằng đá phiến.

Tôi nhìn thấy những phiến đá xám cũ kĩ được đính

30

chặt với nhau bằng xi măng, và trong nhiều năm nay,

nó không bị suy suyển. Vậy là Brunton không hề

đụng vào chúng. Tôi gõ gõ một đôi chỗ trên nền hành

lang. Song âm thanh nhận được chỗ nào cũng như chỗ

nào. Không có dấu hiệu của sự rạn nứt hoặc kẽ hở,

hoặc chỗ rỗng nào cả.

May thay, Musgrave đã hiểu ý nghĩa những hành động

của tôi.

Bấy giờ anh ta xúc động không kém tôi. Anh rút tài

liệu ra để kiểm tra bài toán của tôi.

- Và phía dưới! - Anh ta kêu lên - Anh quên những

từ này: Và phía dưới. Tôi ngỡ ba chữ đó có nghĩa là

phải đào xuống đất. Nhưng bây giờ ngay tức khắc

tôi biết mình đã lầm.

- Nghĩa là nhà anh có tầng hầm phải không? - Tôi

31

kêu lên.

- Vâng. Nó ở ngay phía dưới cánh cửa kia kìa!

Chúng tôi lần theo cầu thang đá xoáy trôn ốc đi

xuống dưới.

Nhà quý tộc bật diêm, thắp đèn rồi đặt trên thùng

trong góc. Tầng hầm này dùng để chứa củi, nhưng các

thanh củi trước đây vốn phủ kín nền hầm, giờ được

xê dịch sang hai bên tường, chừa ra một lối đi ở

giữa. Tại đây có một phiến đá rộng và nặng. Ngay

chính giữa phiến đá có một vòng sắt gỉ.

- Một chiếc khăn quàng của Brunton! - Musgrave la

lên - Đã có nhiều lần tôi trông thấy chiếc khăn này

ở cổ hắn. Tên vô lại này làm gì ở đây?

Hai cảnh sát khu vực được mời tới. Trước sự chứng

kiến của họ, tôi túm lấy chiếc khăn và toan ra sức

32

lật phiến đá lên. Thế nhưng phiến đá quá nặng. Với

sự giúp sức của một cảnh sát, chúng tôi cố gắng

dịch nó về một phía. Một hố đen hiện ra. Tất cả mọi

người đều nhìn vào đó. Musgrave quỳ xuống, đưa

ngọn đèn soi xuống phía dưới.

Chúng tôi trông thấy căn phòng hẹp, hình vuông,

sâu chừng bảy feet và rộng chừng bốn feet. Cạnh

tường có một chiếc hòm gỗ bọc đồng thấp lè tè. Nắp

hòm mở. Chiếc chìa khóa cũ trồi ra ngoài lỗ khóa.

Một lớp bụi dày phủ phía ngoài hòm. Độ ẩm làm mặt

gỗ bị mốc meo cả. Một vài vành kim khí nằm bẹp dưới

đáy. Trong hòm không còn gì nữa.

Tuy nhiên, ngay từ phút đầu tiên, chúng tôi không

để ý tới chiếc hòm cũ kĩ mà cứ dán mắt vào vật nằm

cạnh nó: Một người đàn ông trong bộ áo quần màu

33

đen, ngồi xổm, gục đầu vào rìa hòm, hai tay ôm chặt

lấy nó. Khi chúng tôi khẽ nâng anh ta lên thì

Musgrave nhận ra ngay viên quản lí Brunton mất tích

vài ngày trước. Trên thi thể không thấy thương

tích hoặc vết bầm tím nào, và lúc kéo cái xác chết

ra khỏi tầng hầm thì một vấn đề nan giải khác lại

đến với chúng tôi...

Quả là tôi đã tìm thấy Brunton, song bây giờ tôi

sẽ phải giải thích tại sao anh ta lại làm như vậy,

và người đàn bà bị mất tích giữ một vai trò như thế

nào? Tôi ngồi xuống chiếc thùng nhỏ đặt ở góc nhà

và bắt đầu soát xét lại trong trí óc tất cả những

gì đã xảy ra...

Tôi đặt mình vào vị trí nhân vật hành động, tôi

tưởng tượng ra như chính mình nhập vào tình cảnh

34

tương tự. Trong trường hợp như vậy, sự việc hóa ra

đơn giản thế này: Brunton biết ở một nơi nào đó có

cất giấu những vật quý giá. Anh ta xác định địa

điểm này, biết tảng đá che cửa ra vào của tầng hầm

quá nặng so với sức vóc của một người. Vậy anh ta

đã làm gì? Không thể trông cậy vào sự giúp đỡ của

người lạ được. Tiện lợi hơn cả là tìm người trợ

giúp ở bên trong ngôi nhà. Brunton có thể nhờ cậy

ai đây? Có một thời gian cô gái kia trung thành với

anh ta. Sau khi bị đuổi, anh ta bèn làm lành với

cô gái và rủ rê cô thành kẻ tòng phạm của mình. Họ

cùng xuống tầng ngầm vào ban đêm. Hai người đã

nhích được tảng đá che cửa ra.

Nhưng lẽ nào đấy lại là một công việc của hai bàn

tay cô gái với hai bàn tay thanh niên. Thậm chí

35

chúng tôi - tôi và viên cảnh sát khỏe mạnh - phải

khá chật vật mới lay nổi phiến đá này.

Tôi đứng lên, chăm thú quan sát đống củi xếp trên

nền. Một thanh củi dài chừng ba feet đã bị gãy xơ ở

phía cuối và một vài thanh củi khác thì bị bẹp gí:

Rõ ràng chúng đã chịu một sức mạnh thật đáng kể.

Có lẽ lúc nâng phiến đá lên, Brunton và cô gái đã

nhét những thanh củi này vào kẽ hở khi nó không đủ

rộng để cho anh ta chui vào. Khi chống phiến đá ép

vào với một lực rất mạnh, thanh củi này có thể đã

bị gãy.

Tôi cần tiếp tục hình dung một cách đầy đủ cảnh

diễn ra ban đêm sau đó như thế nào? Chắc chắn chỉ

có một mình Brunton chui xuống. Cô gái chờ phía

trên. Brunton cạy hòm ra, chuyển lên cho cô những

36

thứ chứa trong đó. Điều này quá rõ rệt vì chiếc hòm

đã trống không. Và sau đấy... Cái gì đã xảy ra? Có

thể nỗi khát vọng trả thù vốn âm ỉ trong tâm hồn

cô gái đã bùng cháy dữ dội khi cô ta nhìn thấy tính

mạng kẻ đã xúc phạm cô đang nằm trong tay mình,

nên đã đẩy cột chống ra, làm cho phiến đá úp xuống,

mà cũng có thể thanh củi bị gãy và phiến đá đã xây

bít Brunton trong chiếc quan tài bằng đá này. Nếu

đúng như vậy, thì Rachel có lỗi do cô không nói về

sự cố đã xảy ra. Hoặc như thế này, hoặc như thế

kia, và tôi cứ như là trông thấy người đàn bà nọ ở

trước mặt mình: Ôm chặt vật báu vào ngực, chạy lên

phía trên theo cầu thang hình xoáy trôn ốc, chạy

thoát khỏi những tiếng rên rỉ và tiếng đập tuyệt

vọng vào phiến đá của người tình không chung thủy

37

đang lịm dần đi.

Có thể giải thích cho vẻ mặt tái nhợt của cô ta

cũng như sự kích động và những trận cười của cô ta

vào sáng hôm sau là như thế. Tuy nhiên, vật gì ở

trong hòm? Đó chính là các mẩu sắt cũ và những mảnh

vụn mà cô ta đã ném xuống ao để che đậy dấu tích

tội lỗi của mình.

Tôi ngồi bất động tới hai mươi phút trong những

suy tưởng sâu sắc. Musgrave với vẻ nhợt nhạt vẫn

còn đứng lắc lư cây đèn, nhìn xuống phía dưới hố

sâu.- Đây là những đồng xu của Charles I - Anh nói

và chìa cho tôi coi một vài mẩu nhặt từ chiếc hòm

- Anh hãy xem, chúng ta sẽ xác định thời gian xuất

hiện tục lệ của gia đình chúng tôi.

- Phải rồi! Chúng ta sẽ xác định được một cái gì

38

đó còn lại từ thời Charles I - Tôi kêu lên khi đột

nhiên nhớ lại hai câu hỏi đầu tiên của tài liệu -

Hãy cho tôi xem những thứ trong bao mà chúng ta đã

lấy được từ dưới ao đi!

Chúng tôi lên phòng làm việc của Musgrave, anh rải

những mảnh vụn ra trước mặt tôi. Những mẩu sắt thì

hầu như đen sì, còn những mảnh đá thì mất màu và

đục. Nhưng tôi xát một mẩu vào tay áo. Đột nhiên nó

lóe lên như những tia lửa trong lòng bàn tay tôi.

Các mảnh sắt có hình dạng của đai thùng gập đôi,

song chúng cong và xoắn lại. Tôi nói với Musgrave:

- Chắc anh còn nhớ vị vua kế tiếp Charles I chứ!

Rất có thể trước khi tháo chạy, các cận thần của

nhà vua đã cất giấu những vật dụng có giá trị nhất

vào chỗ này đấy, định bụng sẽ trở lại lấy chúng,

39

vào lúc yên ổn hơn.

- Ngài Ralph Musgrave, cụ tổ của tôi, từng giữ vai

trò quan trọng trong triều và là cánh tay phải của

vua Charles II trong thời gian Người bị truy lùng.

- Ồ! Thật là tuyệt vời! Xin chúc mừng anh,

Musgrave ạ! Anh đã trở thành chủ nhân của một di

vật có giá trị to lớn và có ý nghĩa quan trọng hơn,

tựa như một vật hiếm hoi, có tính lịch sử.

- Vậy nghĩa là thế nào? - Anh xúc động hỏi.

- Đó là cái vương miện cổ xưa của các nhà vua.

- Vương miện?

- Đúng! Vương miện. Hãy nhớ lại điều được nói

trong tài liệu: “Cái này thuộc về ai?” “Thuộc về

người đã đi khỏi đây”; điều này được biết sau khi

40

Charles I bị hành quyết. “Cái này sẽ thuộc về ai?”

“Thuộc về người sẽ đến đây”: Lời này ngụ ý nói về

Charles II mà sự kế vị của ông ấy đã được nhìn thấy

trước. Đó, chiếc vương miện nhàu nát này dự định

dùng để đăng quang cho một trong số những nhà vua

thuộc triều đại Stuart.

- Nhưng nó rơi xuống ao bằng cách nào?

- Tôi không trả lời ngay bây giờ được.

Và tôi trình bày cho Musgrave nghe toàn bộ quá

trình phán đoán và xác minh của tôi. Trời sập tối.

Tôi kết thúc câu chuyện vào lúc mặt trăng tỏa sáng

trên bầu trời.

- Nhưng lạ thay! Vì lẽ gì mà Charles II không nhận

lại vương miện của mình khi trở về? - Musgrave

hỏi, trong lúc nhét di vật của mình vào bao tải.

41

- Rất có thể trước lúc chết, một Musgrave nào đó

đã thổ lộ điều bí mật cho người kế vị bằng tư liệu

dưới dạng chép tay này. Và bởi một lí do nào đấy,

vị đó đã không giải thích tho người kế vị hiểu được

ý nghĩa của văn bản. Từ ngày ấy cho đến nay, tài

liệu được lưu truyền từ đời cha sang đời con để

cuối cùng nó nằm đây.

Anh Watson, câu chuyện “Tục lệ ở gia đình

Musgrave” là như thế! Hiện giờ vương miện đang nằm

ở Hurlstone. Nếu anh muốn nhìn thấy nó, thì họ sẽ

vui lòng chỉ cho anh biết, chỉ cần anh nhắc đến tên

tôi.

Còn điều gì liên quan tới người phụ nữ đã không

cánh mà bay? Chắc có lẽ là cô ta đã từ biệt nước

Anh, cố quên đi kí ức về tội lỗi của mình nơi hải

42

ngoại.1.Tin báo

THUNG LŨNG KHỦNG KHIẾP

I. TẤN BI KỊCH Ở LÂU ĐÀI BIRLSTONE

Holmes không đụng một tí nào đến bữa điểm tâm, cứ

ngồi chống tay xuống bàn, ngắm nghía mãi một tờ

giấy vừa lôi ở một bì thư ra. Anh đưa bì thư ra ánh

sáng, chăm chú xem xét cả trong lẫn ngoài:

- Kiểu chữ của thằng Porlock! Mặc dầu tôi chưa

nhìn thấy kiểu chữ của nó đến hai lần, nhưng chắc

chắn đây là của nó. Nhưng thằng này mà phải gửi thư

cho tôi thì nhất định là có chuyện quan trọng.

- Porlock là ai vậy? - Tôi tò mò, hỏi.

- Porlock chỉ là một cái tên giả, một loại kí hiệu

để nhận ra nhau thôi. Đằng sau cái tên ấy là một

thằng tinh như ma. Đã có lần nó viết thư nói thẳng

43

thừng rằng, Porlock đâu có phải tên thật của nó, và

nó thách tôi tìm xem nó là ai. Sở dĩ tôi chú ý

nhiều đến nó, không phải vì bản thân nó, mà chính

vì nó có liên quan đến một “đại nhân” mà tôi đang

theo dõi. Thằng này cũng giống như kiểu con chó

rừng đi trước con sư tử, một thằng người tí hon hợp

tác với một tên khổng lồ vậy. Mà cái tên khổng lồ

đó, chẳng những rất ghê gớm, mà còn khủng khiếp nữa

kia. Watson, đã có lần nào tôi nói với anh về giáo

sư Moriarty chưa?

- Tên tội phạm khoa học trứ danh ấy chứ gì?

- Chết, anh mà gọi hắn như vậy, thì anh sẽ phải ra

tòa. Mà chính cái chỗ đó mới là tuyệt đấy. Hắn!

Một thằng chủ mưu của tất cả những gì bẩn thỉu nhất

đã xảy ra từ trước đến nay. Một bộ óc chỉ huy tất

44

cả các tầng lớp cặn bã nhất của xã hội. Thế nhưng

không hề có một mối nghi ngờ, thậm chí không có cả

một lời phê bình nhỏ nào có thể đụng đến lông chân

hắn. Hắn đã che giấu những thủ đoạn của hắn khéo

đến mức hắn có thể lôi anh ra tòa chỉ vì mấy câu

nói vừa rồi, và tòa sẽ tịch thu hết số tiền lương

hưu trí của anh để đền bù danh dự cho hắn. Nhưng

rồi thế nào chúng ta cũng phải đấu với hắn thôi.

Tôi bốc lên:

- Mong rằng lúc ấy, tôi sẽ có mặt bên cạnh anh.

Nhưng mà anh đang nói về tên Porlock kia mà.

- À, Porlock chính là một mắt xích trong sợi dây

xích, gần cái mốc trung tâm đó. Cho đến bây giờ,

Porlock là mắt xích chủ yếu nhất của sợi xích.

- Thì mức bền của một dây xích tùy thuộc vào mắt

45

yếu nhất của nó.

- Chính vì thế mà thằng Porlock là rất quan trọng

đối với tôi, thằng này đôi lúc cũng có ý định trở

lại con đường lương thiện, hơn nữa, lâu lâu tôi lại

gửi cho hắn mươi bảng, thành ra đã có hai, ba lần,

hắn có báo cho tôi một vài tin tức có giá trị, các

loại tin tức có thể giúp tôi biết trước và ngăn

ngừa được tội ác, nhưng không trừng phạt được kẻ

gây ra nó. Chắc chắn là nếu có chìa khóa giải được

mật mã, thì lá thư này cũng là loại tin tức ấy đấy.

Holmes trải tấm giấy lên bàn, tôi đứng dậy đi lại

đằng sau, nhìn qua trên vai anh và đọc được những

dòng chữ này:

534 C2 13 127 36 31 4 17 21 41

46

DOUGLAS 109 203 5 37 BIRLSTONE 26 BIRLSTONE 9 127

171- Anh nghĩ gì thế, Holmes?

- Tất nhiên đây là một cách để hắn báo tin cho tôi

đấy.

- Nhưng viết mật mã mà không cho chìa khóa giải

thì có ích lợi gì?

- Trong trường hợp cụ thể này, thì bức mật mã đúng

là không dùng làm gì được.

- Tại sao lại nói rằng “trong trường hợp cụ thể

này”?

- Bởi vì có nhiều bức mật mã ta có thể đọc dễ dàng

cũng như đọc tin rao vặt trong báo vậy. Nhưng lần

này... tôi đứng trước một cái gì đó khác đây. Rõ

ràng nó có liên hệ đến các chữ trong một trang của

một cuốn sách nào đó.

47

- Thế tại sao có hai chữ Douglas và Brilstone?

- Tại vì trong trang sách đó không có hai chữ này.

- Thế thì tại sao hắn lại không nói rõ tên cuốn

sách?

- Có ai cho cả mật mã lẫn chìa khóa giải vào trong

cùng một phong bì thư? Vì nếu thư bị đưa nhầm

người thì tiêu ngay. Cho nên chắc không lâu đâu, sẽ

có một bức thư thứ hai nữa.

Những dự đoán của Holmes đều đúng cả. Chỉ vài phút

sau, người giúp việc mang đến cho chúng tôi bức

thư chờ đợi. Holmes vừa xé bì thư vừa nhận xét:

- Cũng cùng một thứ chữ, nhưng lần này thì lại kí

tên nữa! - Holmes vừa trải tờ giấy ra vừa nói một

cách đắc thắng - Này Watson ơi, chúng ta tiến lên

48

được rồi!

Nhưng vừa đọc được vài dòng, trán Holmes bỗng nhăn

lại:

- Thế là bao hi vọng tan vỡ như bọt xà phòng, chỉ

mong thằng Porlock không bị gay go.

Holmes đọc to bức thư cho tôi nghe:

“Ông Holmes thân mến, trong vụ này tôi sẽ không

mạo hiểm thêm nữa. Nó nguy hiểm quá. Thình lình lão

đến, vào lúc tôi đã viết xong phong bì này với ý

định báo cho ông biết cách giải mã. Tôi đã giấu

được cái bì thư đi, nhưng tôi đọc trong mắt lão,

thấy lão nghi ngờ tôi. Tôi xin ông hãy đốt bức mật

mã đi, vì bây giờ nó chẳng còn có ích lợi gì cho

ông nữa. Fred Porlock.”

Holmes ngồi xuống vò nát bức thư trong tay, mắt

49

sửng sốt nhìn vào ngọn lửa trong lò sưởi.

- Có lẽ hắn tự biết hắn đã phản bội chủ, nên hắn

tưởng tượng ra lời buộc tội trong mắt của lão kia.

- “Lão kia” là lão giáo sư Moriarty? - Tôi hỏi.

- Khi một tên trong cái băng này nói đến “lão ta”

thì mọi người đều hiểu là ai rồi. Đối với bọn

chúng, chỉ có một “lão ta” mà thôi.

- Nhưng lão có thể làm gì được?

- Khi người ta là một trong những bộ óc lớn nhất

của châu Âu và được quyền lực đen tối nhất sùng

bái, thì người ta đã nắm trong tay những khả năng

vô hạn. Porlock đang hoảng sợ. Anh so sánh chữ

trong bức thư với thư trên phong bì mà xem. Chữ ở

cái phong bì thì viết rắn rỏi, còn trong bức thư

thì run quá.

50

- Thế hắn viết thư làm gì? Hắn chỉ việc bỏ rơi tất

cả là xong!

- Hắn sợ rằng, nếu đột nhiên hắn lại câm bặt đi

thì rồi mình sẽ đi điều tra xem tại sao, và điều đó

có thể gây phiền phức cho hắn.

- Anh nói có lí, lẽ dĩ nhiên là...

Tôi cầm bức mật mã lên quan sát cẩn thận:

- Bực thật, một điều bí mật rất quan trọng đã được

viết trên mảnh giấy này, mà lại không làm sao đọc

được.Holmes đẩy đĩa thức ăn ra, rồi đốt cái tẩu

thuốc.- Anh thử xem lại đi! Liệu có một vài chi

tiết nào đó mà cái bộ óc quỷ quái của anh đã để lọt

lưới chăng? - Tôi đề nghị.

- Nào, ta hãy xét bài toán này về phương diện lí

trí thuần túy xem nào! Thằng Porlock chỉ cho ta là

51

phải chiếu vào một cuốn sách nào đó. Đấy! Điểm bắt

đầu là từ đấy.

- Cũng mơ hồ quá đi thôi.

- Thì chúng ta làm cho rõ hơn? Chúng ta có những

chỉ dẫn gì về cuốn sách này?

- Chẳng có gì cả.

- Ồ, ồ, bản mật mã bắt đầu từ con số 534, phải

không? Ta đặt giả thiết đây là con số của trang

sách. Như thế thì cuốn sách này khá dày đấy. Thử

xem có còn những chỉ dẫn nào nữa về cuốn sách này

không? Mã hiệu thứ nhì là chữ C2 này.

- Chương 2, chắc thế.

- Tôi ngờ là không phải, vì đã ghi số trang, thì

số chương không cần thiết nữa. Vả lại nếu trang 534

mà lại mới chỉ ở chương 2, thì bề dày của cuốn

52

sách là không thể tưởng tượng được.

- Không phải chương, mà là cột! - Tôi kêu lên.

- Hoan hô, sáng nay óc anh sáng chói như một ánh

chớp vậy. Ta đã hình dung ra một cuốn sách dày, in

hai cột, mỗi cột khá dài. Vì trong bản mật mã của

ta có một chữ mang đến con số 203.

Nếu đây không phải là một cuốn sách thường dùng,

thì hắn đã gửi cho mình cuốn đó. Theo trong thư thì

trước khi bị “lão kia” bắt gặp, hắn có ý định gửi

cho ta cái chìa khóa giải mã ở ngay trên bì thư

này. Điều này có nghĩa đây là một cuốn sách mà mình

có thể dễ dàng có được ngay. Một cuốn sách mà hắn

có, và hắn nghĩ rằng mình cũng có, nghĩa là một

cuốn sách rất phổ biến.

- Có lí lắm.

53

- Vậy diện điều tra sẽ được giới hạn vào một cuốn

sách dày, in hai cột, và thông dụng.

Tôi kêu lên một cách đắc thắng:

- Cuốn Kinh Thánh.

- Tốt, tốt. Nhưng mà không tốt lắm. Kinh Thánh thì

có biết bao nhiêu là bản in khác nhau, làm sao

Porlock biết được là bản của nó với bản của mình có

cùng một số trang như nhau. Không. Đây phải là một

cuốn sách in đồng loạt, và Porlock phải biết chắc

chắn rằng số trang 534 là có trong cuốn sách của

mình kia. Như thế có thể thu nhỏ diện tìm kiếm lại

nữa .

- Đúng thế. Cuộc tìm kiếm của chúng ta hướng về

những cuốn sách in hàng loạt mà nhà nào cũng có.

- Cuốn Chỉ dẫn giờ tàu hỏa.

54

- Ngôn ngữ trong cuốn này quá khô khan. Không dễ

gì dùng những chữ ở trong đó để tạo nên một bức

thư. Chúng ta loại bỏ cuốn Chỉ dẫn giờ tàu hỏa.

Cũng loại bỏ cuốn Tự điển vì những lí do đó.

Thế thì còn gì nữa nào?

- Một cuốn Lịch niên giám.

- Xuất sắc! Nào ta thử xét cuốn Lịch niên giám

xem, nó rất thông dụng, nó có đủ số trang đòi hỏi,

nó in trên hai cột, ở quãng đầu thì ngôn ngữ của nó

có hạn chế thật, nhưng phần cuối nó cũng hùng biện

lắm đấy...

Holmes giật lấy cuốn sách để trên bàn.

- Đây trang 534, cột 2, mình thấy một bài văn

tràng giang đại hải nói về nền thương mại và những

tài nguyên của xứ Ấn Độ, thuộc Anh. Watson, anh ghi

55

các chữ này đi. Số 13 là chữ “ma”. Hứ, cái bắt đầu

này có vẻ bất lợi rồi, chữ số 127 là “Chính phủ”,

cũng còn có ý nghĩa một chút, nhưng chẳng có liên

quan gì đến chúng ta và giáo sư Moriarty cả. Bây

giờ cứ thử nữa xem. Chính phủ làm gì? Than ôi, chữ

sau là “lông lợn”, thế thôi là hết. Chúng ta đã

thua cuộc!...

Holmes nói với một giọng hài hước nhưng cay đắng.

Nản lòng, tôi cũng ra ngồi cạnh lò sưởi. Sự im lặng

kéo dài bỗng nhiên bị phá vỡ bởi một tiếng kêu của

Holmes. Anh chạy vội đến chiếc tủ đứng và moi ra

một cuốn sách dầy cộm khác, bìa màu vàng.

- Tại vì chúng ta muốn đi trước thời đại. Hôm nay

là ngày mùng 7 tháng Giêng, cho nên chúng ta mới đi

tra cứu một cuốn mới. Nhưng chắc chắn là Porlock

56

đã dùng một cuốn lịch năm ngoái, và có lẽ đã nói rõ

cho chúng ta biết điều này nếu như hắn viết được

lá thư chỉ dẫn. Nào, thử xem cái trang 534 có cái

gì nào? Số 13 là chữ “một”. A, có vẻ hứa hẹn rồi.

Số 127 là “nguy hiểm”.

Mắt của Holmes long lanh lên. Những ngón tay thon

nhọn của anh cứng đơ ra trong lúc anh lẩm bẩm đếm

chữ.- À. Một nguy hiểm... Ghi đi Watson, ghi “một

nguy hiểm... cấp bách... đe dọa một người tên

là”... Ở đây chúng ta có chữ “Douglas”, một người

tỉnh lẻ giàu có tại Birlstone. “Xác thực. Nguy

hiểm. Khẩn cấp...”. Đó, Watson! Nếu anh bán tạp hóa

ở đầu phố mà có bán hoa thì tôi sẽ cho đi mua về

để tự tặng thưởng cho mình.

Tôi đọc lại bức thư kì lạ mà mình đã ghi nguệch

57

ngoạc trên giấy khi Holmes đang giải mã, và thở

dài:- Vì sao lại tìm một cách phức tạp đến thế này

để viết vài câu?

- Trái lại, thằng Porlock đã hành động xuất sắc

đấy. Nếu định tìm chữ trong một cột thôi thì sẽ khó

mà tìm cho đủ chữ để nói hết ý nghĩ, ở đây trái

lại, nội dung bức thư là hoàn toàn rõ ràng. Người

ta đang âm mưu chống lại một người nào đó tên là

Douglas, chắc chắn là một tay địa chủ giàu có ở

tỉnh. Porlock biết đích xác là sự nguy hiểm cấp

bách (hắn không tìm thấy chữ “đích xác” trong cột

chữ in nên phải dùng chữ “xác thực”).

- Chúng ta vừa làm được một công trình kiệt tác về

phân tích.

Holmes vui như một nghệ sĩ chân chính trước một

58

tác phẩm thành công nhất của mình, và anh đang còn

giữ một nụ cười trên môi, khi Billy mở cửa để cho

viên thanh tra mật thám McDonald bước vào.

Chuyện này xảy ra vào những năm 80. Vào thời ấy,

McDonald là một trinh thám trẻ, năng nổ, cũng đã có

đôi chút thành tích trong một vài vụ án... cả cái

vóc người to lớn, cũng chứng tỏ sức mạnh phi thường

của anh ta. Trán rộng, đôi mắt sáng nằm sâu trong

hai hốc mắt, lông mày rậm rì. Đó là một chàng trai

ít nói, tính tình nghiêm nghị, đứng đắn. Holmes đã

có dịp giúp anh ta thành công một đôi lần và không

chịu nhận bất cứ một ơn huệ nào. Điều này giải

thích được tại sao người thanh tra xứ Ecosse này

kính trọng và yêu mến anh bạn đồng nghiệp tài tử

của mình.

59

Holmes đon đả chào hỏi:

- Ông là một loài chim dậy sớm, xin chúc ông nhiều

may mắn trong khi đi săn bọ sáng nay. Nhưng tôi sợ

rằng ông đến vào giờ này không khéo lại có một

chuyện chẳng lành xảy ra.

McDonald trả lời với một nụ cười tâm lí:

- Ông Holmes, nếu ông thay chữ “tôi sợ rằng” bằng

chữ “tôi mong rằng” thì có lẽ ông sẽ gần sự thật

hơn. Không, tôi không hút thuốc đâu, cám ơn. Tôi

phải lên đường ngay bây giờ, vì những giờ đầu tiên

của một vụ án là những giờ có ích lợi nhất,

nhưng...

Viên thanh tra bỗng ngừng bặt, ông ta vừa thấy tờ

giấy trên đó tôi đã ghi lại lời giải mã, ông ta há

hốc mồm nhìn tờ giấy.

60

- Douglas, Birlstone, thế này là thế nào, ông lấy

những cái tên này ở đâu ra vậy?

- Đây là một bức mật mã mà bác sĩ Watson và tôi

vừa giải ra. Nhưng tại sao những cái tên này làm

ông phải bối rối?

- Một ông tên là Douglas ở lâu đài Birlstone vừa

bị ám sát sáng hôm nay - McDonald nói.

2. SHERLOCK HOLMES DIỄN THUYẾT

Nói rằng một cái tin kì lạ như vậy làm anh ta phải

bối rối hay xúc động thì là nói ngoa. Mặc dù là

người không có tính độc ác, nhưng vì sống mãi trong

những cái “giật gân”, thành ra cũng chai người đi

rồi. Và nếu những xúc cảm của anh có bị cùn nhụt đi

thì trái lại sự thông minh của anh lại tăng thêm.

Holmes nói lớn:

61

- Phi thường! Thật phi thường!

- Hình như ông không ngạc nhiên gì thì phải?

- Tại sao tôi lại phải ngạc nhiên? Tôi nhận được

một bức thư nặc danh, báo cho biết là có một sự

nguy hiểm đang đe dọa một người nào đó. Rồi một giờ

sau, tôi hay tin rằng sự nguy hiểm đó đã thành sự

thật và người kia đã chết. Vậy thì tôi có chú ý,

chứ không hề ngạc nhiên.

Holmes kể lại cho viên thanh tra nghe chuyện chúng

tôi vừa giải mã bức thư. McDonald ngồi xuống, hai

tay đỡ lấy cằm, và hai con mắt chỉ còn như hai cái

khe màu vàng. Ông ta nói:

- Tôi định sáng hôm nay sẽ đi xuống lâu đài. Tôi

rẽ vào đây để hỏi xem ông có cùng đi không? Nhưng

bây giờ làm việc ở London có lẽ có kết quả hơn?

62

- Tôi không nghĩ thế - Holmes nói.

- Ông hãy xem, chỉ ngày mai hay ngày kia thôi, báo

chí sẽ làm rùm beng lên về câu chuyện bí mật ở lâu

đài đó. Nhưng bí mật ở đâu kia chứ, vì ngay tại

London, đã có người báo tin trước khi án mạng xảy

ra. Vậy chúng ta hãy tóm cổ cái vị tiên tri ấy, thì

mọi việc còn lại sẽ tuồn tuột theo cả ra thôi.

- Chắc chắn là thế. Nhưng làm cách nào mà ông tóm

cổ được cái tên Porlock này?

McDonald lật ngược lá thư mà Holmes vừa đưa cho

anh ta.

- Thùng thư ở trạm bưu điện Camberwell. Điều này

cũng không giúp được gì? Theo ông thì cái tên này

là tên giả? Có phải ông nói rằng ông có gửi tiền

cho hắn phải không?

63

- Hai lần.

- Bằng cách nào?

- Gửi qua bưu điện.

- Ông không bao giờ đi xem mặt người lĩnh số tiền

đó?

- Không.

Viên thanh tra tỏ ra hơi ngạc nhiên và khó chịu.

- Tại sao lại không?

- Bởi vì bao giờ tôi cũng giữ đúng lời hứa. Khi

hắn viết thư cho tôi lần đầu tiên, tôi đã hứa với

hắn là sẽ không tìm cách theo dõi hắn. Ông có nghĩ

rằng có một người nào khác đằng sau hắn không?

- Tôi không nghĩ, mà tôi biết chắc kia. Cái vị

giáo sư mà ông đã nói với tôi?

- Đúng đấy.

64

McDonald mỉm cười và nháy mắt với tôi.

- Ông Holmes ạ. Chính tôi đã đích thân điều tra về

ông ta: Mọi cái đều cho thấy rằng đây là một con

người đáng kính, một nhà bác học đầy tài năng.

- Tôi thật sung sướng thấy ông nêu lên những tài

năng của ông ta.

- Thật vậy, người ta chỉ còn biết cúi đầu kính

chào ông ta mà thôi. Tôi có ngồi nói chuyện với ông

ta về nguyệt thực, nhật thực. Mà thật quái quỷ!

Tôi không hiểu bằng cách nào câu chuyện lại quay

sang vấn đề đó. Nhưng thực tình chỉ với một cái đèn

và một quả địa cầu, ông ta đã cắt nghĩa tất cả cho

tôi hiểu trong có một phút đồng hồ. Ông ta có cho

tôi mượn một cuốn sách, nhưng nó quá cao siêu đối

với tôi. Ông ta có một bộ mặt nhẵn nhụi, mái tóc

65

hoa râm, và cách ăn nói hơi trịnh trọng, đủ để làm

một ông bộ trưởng.

Holmes phát ra một tiếng cười, xoa hai bàn tay vào

nhau:

- Thật là tuyệt, cuộc đàm đạo mê li và xúc động ấy

là ở ngay trong buồng làm việc của giáo sư phải

không?

- Đúng thế.

- Một căn phòng rất đẹp.

- Rất đẹp, đúng thế.

- Ông ngồi trước bàn làm việc của ông ta?

- Vâng.

- Mặt trời chiếu vào mắt ông, còn mắt của giáo sư

thì ở trong bóng tối?

- Lúc đó là vào buổi tối, cái đèn quay về phía

66

tôi.

- Tự nhiên là như thế. Ông có nhận thấy ở trên đầu

chỗ giáo sư ngồi có treo một bức tranh không?

- Vâng, bức tranh. Một người phụ nữ trẻ tuổi, hai

tay ôm đầu và liếc nhìn xuống người xem tranh.

- Bức tranh của họa sĩ Jean Baptiste Greuze đấy.

Viên thanh tra chăm chú nghe. Holmes ngả người vào

lưng ghế, chụm đầu các ngón tay vào nhau, nói

tiếp:- Jean Baptiste Greuze là một họa sĩ người

Pháp. Các nhà phê bình hiện đại đã đánh giá cao họa

sĩ này.

Hai mắt của viên thanh tra giãn ra:

- Có lẽ tốt hơn hết là chúng ta hãy...

Holmes cắt ngang ngay:

- Tất cả những điều tôi nói với ông đều có một mối

67

liên quan với cái bí mật lâu đài Birlstone đấy.

Thực ra, chúng ta đang đứng ở trung tâm của lối bí

này.

McDonald miễn cưỡng mỉm cười và nhìn tôi:

- Ông suy nghĩ có hơi nhanh quá. Ông nhảy mất một

hay hai bước, thành ra tôi không theo kịp ông nữa.

Làm sao lại có thể có một mối liên hệ giữa nhà họa

sĩ của thế kỉ trước với vụ án này được?

- Sự kiện một bức tranh của Greuze đem ra bán giá

bốn mươi nghìn bảng không đủ làm chuyển bánh cả một

đoàn tàu dài những suy nghĩ trong chất xám của ông

sao?

Không biết có phải là chuyển bánh không, nhưng

thấy viên thanh tra gãi đầu ghê quá, Holmes nói

tiếp:- Lương của giáo sư Moriarty là bảy trăm bảng

68

Anh một năm. Vậy thì làm sao mà ông ta có thể mua

được bức tranh?

Đoàn tàu của viên thanh tra bây giờ đang chạy hết

tốc lực: - Thật là hấp dẫn. Tôi rất thích nghe ông

nói chuyện.

Holmes mỉm cười. Anh ta rất khoái những sự tán

thưởng ngây thơ như vậy.

- Thế ở lâu đài đã xảy ra chuyện gì? - Holmes hỏi.

- Chúng ta có thì giờ ông ạ. Có một xe ngựa đợi

tôi ở dưới đường kia. Về chuyện bức tranh... Ông

Holmes ạ, có lần ông đã khẳng định với tôi là chưa

hề gặp mặt giáo sư bao giờ.

- Đúng. Tôi chưa hề gặp mặt ông ta.

- Thế thì làm sao ông biết được căn buồng của ông

69

ta?

- Tôi đã đến nhà ông ta ba lần: Hai lần tôi đã

kiếm cớ ngồi chờ ông ta, và tôi đã đi khỏi trước

khi ông ta về; còn một lần... chính lần đó tôi đã

tự cho phép tôi đọc qua những giấy tờ của ông ta,

và kết quả thật là bất ngờ.

- Ông có tìm thấy một cái gì phạm pháp không?

- Tuyệt đối không có. Chính điều đó làm tôi bối

rối. Nhưng mà ông đã thấy tầm quan trọng của chi

tiết bức tranh rồi chứ, chi tiết ấy nói lên rằng

ông giáo sư rất giàu. Nhưng ông ta làm gì mà lại

giàu đến thế? Ông ta không lấy vợ. Em ông ta là một

người xếp ga quèn ở miền Tây.

- Vậy thì sao?

- Suy luận ra cũng đơn giản thôi.

70

- Ông cho rằng ông giáo sư có những nguồn thu nhập

lớn và những nguồn này là bất hợp pháp phải không?

- Đúng là như thế. Cái ý nghĩ này, tất nhiên không

phải là chỉ dựa trên bức họa của Greuze thôi. Tôi

có cả tá những sợi tơ mong manh dẫn tôi đến trung

tâm của màng nhện, là nơi con vật đó đứng im rình

mồi. Sở dĩ tôi nêu lên chuyện bức họa, cũng chỉ vì

nó nằm trong giới hạn tầm mắt của ông mà thôi.

- Những điều ông vừa nói hết sức đáng chú ý.

Nhưng nếu có thể, chúng ta hãy thử đào sâu thêm một

tí xem nào. Có phải ông ta đã làm giàu bằng mánh

mung lừa đảo, làm bạc giả, trộm đạo?

- Ông đã bao giờ đọc một cái gì nói về Jonathan

Wild chưa?

71

- Có phải là tên của một nhân vật tiểu thuyết

không? Trong đó các ngài thám tử đều làm được những

việc rất kì diệu.

- Jonathan không phải là thám tử, cũng không phải

là một nhân vật tiểu thuyết. Đó là một tên tội phạm

bậc thầy, đã sống vào khoảng năm 1750. Ông

McDonald, ông nên đọc lại tất cả những tài liệu ghi

chép các vụ án. Tất cả mọi việc đều chỉ lặp đi lặp

lại mà thôi, kể cả lão giáo sư Moriarty nữa.

Jonathan là sức mạnh của những tên tội phạm ở

London. Hắn đã bán bộ óc cho bọn này lấy mười lăm

phần trăm hoa hồng trong mỗi vụ. Tất cả những

chuyện đã làm trước đây, sẽ còn được làm lại nữa.

Tôi sẽ kể cho ông nghe một vài việc về Moriarty mà

có lẽ sẽ làm ông vui thích.

72

- Tôi xin dỏng cả hai tai lên.

- Tôi đã tìm hiểu được ai là khâu đầu tiên của sợi

dây xích. Một sợi dây xích mà đầu này là một tên

tội phạm thượng thặng, còn đầu kia là cả trăm tên

ăn cắp, móc túi, những tên đi tống tiền, những tên

bợm cờ bạc. Ở giữa hai đầu sợi xích đó, là tất cả

các loại tội ác. Tham mưu trưởng của bọn chúng là

tên đại tá Sebastian Moran. Theo ông thì lão giáo

sư trả lương cho hắn bao nhiêu tiền?

- Tôi muốn biết điều đó lắm.

- Sáu nghìn bảng Anh một năm. Tôi cũng tình cờ mà

biết được chi tiết này thôi. Ngài đại tá Moran

lương còn cao hơn cả thủ tướng. Những tấm “séc”

bình thường để trả tiền sinh hoạt trong nhà thôi,

được trả vào tài khoản của sáu ngân hàng khác nhau.

73

Chi tiết này có làm cho ông phải suy nghĩ không?

- Tất nhiên cũng đáng chú ý thật. Nhưng từ đó ông

suy luận ra những gì?

- Những gì à, là hắn không muốn ai bép xép gì về

của cải của hắn, hắn có khoảng hai mươi tài khoản ở

ngân hàng, và phần lớn tài sản của hắn thì kí gửi

ở Pháp hoặc Đức.

McDonald ngồi lặng đi, chìm đắm trong một suy nghĩ

sâu lắng, nhưng rồi cái óc thực tế của xứ Scotch

lại kéo anh ta đứng lên.

- Hiện giờ, thì lão ta có thể cứ tiếp tục. Ông đã

kéo chúng tôi đi quá xa với những câu chuyện cổ

tích của ông rồi. Tôi chỉ còn ghi nhận được cái

điều cốt yếu là có một sự liên hệ nào đó giữa vị

giáo sư này với tội ác. Vậy xin hỏi ông, liệu chúng

74

ta có thể đi xa hơn thế không?

- Ông đã nói với chúng tôi rằng vụ án mạng này

hiện giờ chưa giải thích được. Nếu chúng ta giả

thiết rằng nguồn gốc của nó là như chúng ta đã nói,

thì có thể phải xét đến hai động cơ khác nhau này.

Trước hết, Moriarty cai quản cái thế giới của lão

bằng một cây roi sắt. Bộ luật hình của lão chỉ gồm

có một hình phạt thôi: Xử tử. Như vậy có thể

Douglas đã phản bội sếp của hắn. Hình phạt đã được

thi hành, và cái chết này sẽ thổi một luồng gió sợ

hãi vào những tên còn sống trong băng của lão.

- Đó là một gợi ý, thưa ông Holmes.

- Giả thiết thứ hai, là vụ án mạng được Moriarty

dựng lên như một dịch vụ thông thường mà thôi, ở đó

có mất gì không, ông McDonald?

75

- Tôi không nghe nói có mất gì cả.

- Nếu có mất đồ thì điều này chống lại giả thiết

thứ nhất của tôi và sẽ phù hợp hơn với giả thiết

thứ hai. Moriarty có thể đã bị đẩy đến chỗ phải gây

ra vụ án mạng này để chia phần, hoặc là hắn đã

được bọn nào đó thuê tiền để tổ chức vụ án. Cả hai

khả năng này đều có thể có cả. Nhưng dù sao thì

cũng phải đến đó mới tìm được lời giải.

McDonald bật đứng dậy, reo lên:

- Vậy thì phải đi tới lâu đài Birlstone thôi!

Holmes vừa thay áo vừa nói:

- Trong khi đi đường, xin ông McDonald kể lại cho

chúng tôi nghe tất cả.

Chữ “tất cả” này thật ra là quá ít ỏi. Nhưng cũng

đủ để cho Holmes phải chăm chú nghe. Những chi tiết

76

lặt vặt đã làm anh cứ xoa mãi hai tay vào nhau,

mặt hồng hào hẳn lên. Chúng tôi vừa mới sống mấy

tuần lễ quá tẻ nhạt, và hôm nay mới lại đứng trước

một bí mật xứng đáng với những tài năng của Holmes.

Viên thanh tra cũng nói rõ rằng, đây chỉ là những

chi tiết anh ta lấy ra từ một bản báo cáo vội vã

mới gửi theo chuyến tàu sớm nhất. Người trinh sát

của cơ quan công an địa phương đó là bạn của anh

ta. Vì vậy, anh ta được tin rất sớm, khác với mọi

lần. McDonald đọc to cho chúng tôi nghe bức thư của

White Mason.

“McDonald thân mến, những tài liệu chính thức cần

cho các bộ phận công tác của ông đã được gửi trong

một phong bì riêng. Thư này là gửi riêng cho một

mình ông. Hãy điện ngay cho tôi biết ông đi chuyến

77

tàu nào xuống đây để tôi ra đón. Đây là một bài

toán sẽ làm cho ông phải đau đầu. Xin ông hãy xuống

ngay! Nếu ông có thể mời được cả ông Holmes thì

hay quá. Thực tình, tôi thấy phức tạp quá.”

Holmes nhận xét:

- Gớm, ông bạn của ông có vẻ thắc mắc đấy!

- Vâng, đúng thế, thưa ông. Mason xưa nay vẫn là

người tích cực lắm.

- Được. Thế ông có tin gì khác nữa không, ông

McDonald?

- Không, khi nào đến nơi, Mason sẽ cho biết.

- Thế thì tại sao ông lại biết Douglas bị ám sát?

- Trong bản báo cáo chính thức có nêu tên Douglas,

và ghi rõ là đã bị giết bởi một viên đạn súng săn

bắn vào giữa đầu. Cũng có ghi cả giờ báo động là

78

trước lúc nửa đêm hôm qua một chút. Báo cáo nói

thêm, đây chắc chắn là một vụ án mạng rồi, nhưng

chưa bắt giữ ai, và vụ án này có một vài khía cạnh

kì lạ làm cho người ta phải bối rối.

- Vâng, ông McDonald, nếu ông cho phép thì chúng

ta hãy tạm ngưng ở đây. Hiện giờ thì tôi chỉ mới

thấy có hai điều là: Có một bộ óc lớn ở London và

một cái xác chết ở Sussex. Vấn đề là phải tìm được

sợi dây xích nối hai cái này lại với nhau.

3. TẤN BI KỊCH Ở BIRLSTONE

Làng Birlstone là một nơi thưa thớt những căn nhà

nhỏ bé nửa gỗ, nửa gạch ở bìa phía bắc quận Sussex.

Trong hàng thế kỉ trước, ngôi làng vẫn giữ nguyên

phong cách cổ xưa, nhưng vào khoảng hai năm gần

đây, đã có nhiều địa chủ giàu có đến dựng những

79

biệt thự ở xung quanh, trong các cánh rừng dọc theo

bờ của khu rừng lớn Weald chạy dài mãi đến tận

chân những ngọn đồi đá vôi ở bờ biển.

Lâu đài nằm cách làng khoảng nửa dặm Anh, trong

một khu vườn cũ nổi tiếng về những cây dẻ gai cực

lớn. Một phần của tòa lâu đài này đã được dựng lên

từ thời Đệ Nhất Thập tự chiến. Năm 1543, một trận

hỏa hoạn đã thiêu trụi tất cả. Một số gạch đã ám

khói còn sót lại đến thời Jacobean, đã được dùng để

xây nên một lâu đài khác trên nền của tòa lâu đài

cũ.

Tòa lâu đài mới này với những đầu hồi chi chít và

những khuôn cửa sổ có lắp những mảnh kính hình quả

trám, gợi lại hình ảnh của nền kiến trúc vào thế kỉ

thứ XVII. Về hai đường hào trước đây, thì nay chỉ

80

còn lại đường bên trong. Đường hào ngoài đã được

tát khô, và bây giờ trở thành một mảnh vườn trồng

rau. Đường hào còn lại bao quanh cả tòa lâu đài,

rộng đến bốn mươi feet nhưng sâu không quá vài

feet. Nước trong hào là từ một dòng sông nhỏ chảy

vào, nên không hôi thối. Những cửa sổ của tầng dưới

cũng chỉ cao hơn mặt nước khoảng một foot. Lối đi

duy nhất để vào lâu đài là đi qua cầu rút, đã hư

hỏng từ lâu. Những người chủ lâu đài hiện nay cho

sửa chữa lại để buổi sáng thì hạ xuống, đến chiều

tối lại rút lên. Sự phục hồi lại truyền thống của

thời phong kiến đã biến tòa lâu đài ban đêm trở

thành một hòn đảo. Khi gia đình Douglas đến làm chủ

tòa lâu đài này thì nó đang sắp đổ nát.

Gia đình chỉ gồm có hai người: Douglas và vợ ông

81

ta.Douglas khoảng năm mươi tuổi, có một cái quai

hàm thật khỏe, nét mặt rắn rỏi, một bộ râu hoa râm,

một đôi mắt xám rất sắc, vóc người lực lưỡng, dáng

điệu cứng cỏi. Những gia đình lân cận có học thức

hơn, đã tiếp đãi ông với một sự tò mò và có phần dè

dặt, nhưng ông thì lại rất được lòng của người dân

trong làng. Ông tham gia đóng góp rộng rãi vào tất

cả mọi hoạt động ở địa phương, phụ trách các buổi

hòa nhạc, và vốn có một giọng nam trầm, bao giờ

cũng sẵn sàng góp vui bằng một bài hát hay. Hình

như ông có khá nhiều tiền, và người ta đồn rằng ông

đã làm giàu trong các mỏ vàng ở xứ California.

Điều đó thì không biết có đúng không, nhưng chỉ

cần nghe ông nói chuyện cũng biết ông đã sống cả

một phần đời ở bên Mỹ, người ta lại càng kính trọng

82

ông hơn vì ông hoàn toàn coi thường sự nguy hiểm.

Mặc dù cưỡi ngựa rất tồi, nhưng mỗi khi có những

cuộc đua ngựa là thế nào ông cũng tham dự, và cái

tính bướng bỉnh đó đã đem lại cho ông mấy lần ngã

ngựa đến kinh hồn. Khi bên nhà thờ bị cháy, lính

cứu hoả địa phương đã bó tay, ông một mình xông vào

cứu những đồ đạc ra. Cứ như vậy, trong vòng năm

năm trời, Douglas trở thành một nhân vật nổi tiếng

ở Birlstone.

Vợ ông ta cũng được bạn bè kính nể. Ở đây, bà ít

đi lại chơi bời, nhưng số ít bạn bè này đã quá đủ

cho một bà chủ nhà vốn có tính dè dặt, và hình như

chỉ để hết thời gian chú ý, săn sóc chồng. Người ta

biết rằng bà phu nhân người Anh này thuộc vào tầng

lớp xã hội thượng lưu, và đã làm bạn với ông ở

83

London khi ông này góa vợ. Bà rất đẹp, vóc người

cao lớn, thanh mảnh, tóc màu nâu, trẻ hơn chồng đến

hai mươi tuổi, bà thường tỏ ra rất kín đáo về quá

khứ của chồng mình. Hình như bà ta không hiểu biết

gì nhiều lắm về ông ta. Một vài người còn thấy bà

vợ có vẻ bồn chồn, lo lắng mỗi khi ông chồng về

muộn. Trong một vùng nông thôn thanh bình như thế

này, người ta rất thích thú bàn tán về những câu

chuyện mách lẻo, và khi vụ án xảy ra thì dư luận

càng xôn xao và cho rằng những điều nhận xét ấy có

một ý nghĩa rất đặc biệt.

Trong lâu đài còn có một nhân vật nữa, tuy không

sống ở đó một cách thường xuyên. Đó là ông Cecil

James Barker, chủ biệt thự Hales ở Hampstead. Cái

dáng cao lênh khênh rất quen thuộc trong làng, vì

84

ông ta hay đến lâu đài, và được người ở đó quý mến

lắm. Người ta nói rằng, ông là nhân chứng duy nhất

biết về quá khứ của ông Douglas. Barker chắc chắn

là một người Anh, nhưng qua những câu chuyện của

ông ta, thì có thể hiểu được rằng, ông ta quen biết

ông Douglas trước đây là ở bên Mỹ, và lúc đó hai

người sống với nhau rất thân thiết. Hình như ông ta

cũng giàu có lắm thì phải, và hiện vẫn chưa lập

gia đình. Ông ta trẻ hơn ông Douglas, chỉ độ bốn

mươi lăm tuổi là cùng, người cao lớn, lưng thẳng,

thân mình nở nang, mặt mũi nhẵn nhụi, không để râu.

Ông ta có hai hàng lông mày đen nhánh, và nhất là

đôi mắt đen áp đảo người khác.

Ông ta không đi săn, không cưỡi ngựa, suốt ngày cứ

ngậm cái tẩu đi dạo xung quanh làng. Nếu không thì

85

lại dong xe đi vào các vùng nông thôn với ông chủ,

và khi nào ông này vắng, thì với bà chủ. Người đầu

bếp trong lâu đài nói “Đó là một vị thượng lưu vô

tư và hào phóng”, nhưng cũng bổ sung thêm, “Nhưng

thực tình, tôi không bao giờ dại dột muốn cãi lại

ông ta. Ông ta rất nhiệt tình với ông Douglas, và

cũng không kém nhiệt tình với vợ ông Douglas”.

Còn đối với những người khác cùng ở trong lâu đài,

thì tôi chỉ cần kể đến anh đầu bếp Ames, nhanh

nhẹn, đứng đắn đáng kính; bà Allen tươi tắn, phốp

pháp, một tay giúp việc đắc lực cho bà chủ nhà. Còn

sáu người gia nhân khác thì không có dính dáng gì

đến những sự kiện xảy ra trong đêm đó.

Đồn cảnh sát địa phương được báo tin vào lúc 12

giờ kém 15 phút đêm. Lúc đó là buổi trực của thượng

86

sĩ Wilson thuộc cảnh sát quận Sussex. Ông Barker

đến đập cửa và kéo chuông ầm ầm, báo tin ông

Douglas đã bị ám sát. Báo xong, ông lại vội vã trở

về lâu đài. Sau khi đã báo lên thượng cấp, thượng

sĩ Wilson đến ngay hiện trường. Khi đến nơi, Wilson

thấy chiếc cầu đã được hạ xuống, các cửa sổ đều

sáng đèn, và toàn thể lâu đài ở trong một tình

trạng rối loạn. Các gia nhân, mặt mũi xám ngoét,

đứng sát vào nhau ở phòng ngoài, còn anh đầu bếp cứ

đứng vặn hai bàn tay vào nhau trên bậc cửa, chỉ

một mình ông là có vẻ tự chủ và kìm được sự xúc

động. Ông mở cửa ở phòng ngoài, và mời thượng sĩ đi

theo.

Cùng lúc đó, bác sĩ Wood ở trong làng cũng đến. Cả

ba người bước vào căn phòng đã xảy ra tấn thảm

87

kịch. Anh đầu bếp theo vào, đóng cửa lại.

Nạn nhân nằm ngửa, chân tay duỗi thẳng ở giữa

buồng, trên người chỉ có một cái áo choàng màu

hồng, phủ ra ngoài bộ quần áo ngủ, chân đi giày

vải. Vị bác sĩ cầm cây đèn đặt lên bàn và quỳ xuống

bên cạnh xác chết, thoáng nhìn qua, ông lắc đầu:

Douglas đã chết. Một thứ vũ khí kì lạ được đặt chéo

lên ngực ông ta. Đó là một khẩu súng săn mà nòng

đã được cưa ngắn, chỉ cách cò súng khoảng một foot.

Rõ ràng là ông đã bị bắn rất gần vào ngay giữa

mặt. Cả hai cò súng đã được nối tiếp liền với nhau

bằng một sợi dây thép, để lúc bóp cò cả hai nòng

đều bắn một lượt, làm cho sức công phá càng ghê

gớm.

Viên cảnh sát nói thất thanh:

88

- Không ai được sờ mó vào một tí gì ở đây, trước

khi cấp trên của tôi đến!

Ông Barker nói dứt khoát:

- Chưa có ai đụng gì vào đây cả, tất cả mọi vật

đều vẫn y nguyên như lúc đầu.

- Vào lúc mấy giờ? - Viên thượng sĩ đã rút cuốn sổ

tay ra.

- Vào lúc 11 giờ rưỡi. Lúc đó tôi vẫn đang ngồi

trước lò sưởi ở trong phòng thì nghe thấy tiếng nổ.

Tiếng nổ không to lắm. Hình như có cái gì bịt kín

lại vậy. Tôi vội đâm bổ xuống dưới nhà. Tôi nghĩ

rằng từ trên đó xuống đến đây không quá ba mươi

giây đồng hồ.

- Lúc đó cửa có mở không?

- Cửa mở, ông Douglas thì nằm đúng như hiện giờ.

89

Ngọn nến trong buồng vẫn cháy sáng ở trên bàn làm

việc. Sau đó một chút thì chính tôi đã thắp cây đèn

lên.

- Ông có trông thấy ai không?

- Không. Tôi nghe tiếng bà Douglas ở trên lầu chạy

xuống sau tôi, và tôi đã ngăn bà lại để cho bà

khỏi trông thấy cảnh thương tâm này. Bà hầu phòng

Allen cũng chạy đến và đã dìu bà chủ đi lên. Rồi

anh đầu bếp Ames đến, và tôi với anh ta cùng đi vào

trong phòng.

- Tôi tưởng rằng cây cầu rút đêm nào cũng kéo lên

kia mà?

- Đúng thế. Nhưng chính tôi đã hạ nó xuống để đi

báo cho ông.

- Như vậy thì tên sát nhân làm sao trốn ra được?

90

Phải đặt vấn đề khác đi thôi: Có thể là ông Douglas

đã tự tử chăng?

- Chúng tôi cũng đã có nghĩ đến điều đó. Nhưng ông

xem đây này...

Ông Barker kéo tấm rèm để lộ ra một khuôn cửa sổ

cao mở toang. - Và mời ông hãy xem cái này nữa.

Ông Barker đưa đèn lại gần thành cửa sổ, nơi đó có

một vết máu giống hệt như hình đế một chiếc giày.

- Rõ ràng là có người đã trèo qua đây.

- Có phải ông muốn nói rằng, có người đã chạy trốn

bằng cách vượt qua con hào này, phải không? Nhưng

mà nếu chưa đầy nửa phút sau vụ án, ông đã có mặt ở

đây, thì người ấy lúc đó còn phải đang lội nước.

- Chắc chắn là như vậy. Ôi, tiếc quá! Không hiểu

sao lúc đó tôi không nhảy bổ ngay qua cửa sổ. Bị

91

cái rèm cửa này che khuất, thành ra tôi không nghĩ

ra nữa.

Vị bác sĩ cũng lẩm bẩm nói khẽ:

- Tôi chưa bao giờ trông thấy một vết thương nát

bấy ra như vậy. Viên thượng sĩ vẫn cứ đứng ngắm mãi

khuôn cửa sổ mở rộng.

- Nhưng mà này, câu chuyện có người lội qua hào

nghe thì thú vị thật, nhưng hắn làm cách nào để vào

được lâu đài, vì chiếc cầu rút đã bị kéo lên rồi

kia mà?

- À vâng. Đó, tất cả vấn đề là ở chỗ đó! - Ông

Barker nói.

- Thế mấy giờ thì người ta kéo cầu lên?

- Lúc đó là gần 6 giờ chiều - Đầu bếp Ames trả

lời.

92

- Tôi nghe nói là ở đây vẫn thường rút cầu lên vào

lúc mặt trời lặn. Như thế vào mùa này thì gần 4

giờ rưỡi đúng hơn là gần 6 giờ chứ! - Viên thượng

sĩ lại nhấn mạnh.

- Hôm nay bà chủ tiếp khách. Tôi không thể đụng

đến cây cầu khi các vị khách chưa ra về. Chính tay

tôi đã rút cây cầu lên - Anh Ames giải thích.

- Nếu như có những người từ bên ngoài vào lâu đài

thì họ phải đi qua cầu trước 6 giờ, rồi trốn ở

trong này, vì ông chủ mãi sau 11 giờ đêm mới bước

vào căn phòng này.

- Đúng như thế. Đêm nào, trước khi đi ngủ, ông

Douglas cũng đi một vòng quanh lâu đài để xem đã

tắt hết đèn chưa. Chính trong khi đi vòng như vậy,

ông đã vào căn buồng này. Tên sát nhân đã đợi ông

93

ta ở đây, và bắn thẳng vào ông ta. Rồi hắn trốn

bằng cách leo qua cửa sổ, bỏ lại cây súng - Barker

giải thích.

Viên thượng sĩ cúi đầu xuống nhặt một mẩu bìa cứng

ở bên cạnh xác chết, trên có ghi chữ “V.V.” và một

con số “341”, chữ viết rất thô kệch. Ông ta giơ

mẩu bìa lên hỏi:

- Cái gì thế này?

Ông Barker nhìn mẩu bìa một cách tò mò:

- Tôi cũng không để ý thấy nó. Có lẽ tên hung thủ

lúc chạy trốn đã bỏ rơi lại.

- V.V. 341. Tôi chẳng hiểu gì cả.

Viên thượng sĩ cứ xoay đi xoay lại mãi mẩu bìa.

- V.V? Có lẽ là những chữ đầu tên của một người

nào đấy chăng? Bác sĩ Wood, bác sĩ có cái gì đó?

94

Ông bác sĩ đã nhặt được một chiếc búa khá to trước

lò sưởi. Ông Barker chỉ vào một hộp dính dầu bằng

đồng đặt trên mặt lò sưởi, giải thích:

- Ngày hôm qua, ông Douglas có thay đổi chỗ treo

mấy bức tranh. Tôi thấy ông ta đứng trên chiếc ghế

này để treo bức tranh lớn bên trên. Việc đó cắt

nghĩa tại sao lại có chiếc búa trên đây.

Viên thượng sĩ gãi đầu ra vẻ khó nghĩ.

Có lẽ chúng ta nên để lại chiếc búa ở nơi tìm thấy

nó thì hơn. Phải những cái đầu giỏi nhất ở

Scotland Yard mới hiểu thấu đáo được mọi việc.

Rồi ông ta cầm lấy chiếc đèn từ từ đi quanh căn

phòng. - Có người đã trốn ở đây, chắc chắn là như

thế...Ông thượng sĩ hạ cây đèn thấp xuống: Ở một

góc, thấy những vết giày có dính bùn rất rõ.

95

- Việc phát hiện này là phù hợp với giả thiết của

ông, ông Barker ạ. Có thể là tên hung thủ đã vào

lâu đài sau 4 giờ chiều, khi những tấm rèm cửa sổ

đã được buông xuống; và trước 6 giờ, khi cây cầu

được rút lên. Hắn lẩn ngay vào đây, và trốn đằng

sau bức rèm này. Rất có thể ý định của hắn là vào

ăn trộm, nhưng chẳng may ông Douglas lại bắt gặp

hắn, thế là hắn giết ông ta và chạy trốn.

- Tôi cũng nghĩ gần giống như vậy. Nhưng ông có

thấy rằng chúng ta đã mất bao nhiêu thời giờ quý

báu rồi không? Tại sao chúng ta không kéo cả mọi

người ra đi lùng sục khám xét khắp xung quanh,

trước khi hung thủ có thể trốn thoát được? - Barker

đề nghị.

Viên thượng sĩ cắn môi suy nghĩ một lát:

96

- Không có chuyến tàu nào chạy trước 6 giờ sáng.

Vậy hắn không thể trốn thoát đi bằng tàu hỏa. Nếu

hắn đi đường bộ thì với cái quần ướt sũng, thế nào

hắn cũng bị người ta để ý. Nhưng dù sao tôi cũng

không thể rời khỏi đây được trước khi có người đến

thay tôi.

Vị bác sĩ cầm lấy cây đèn để khám lại tử thi một

lần nữa. Ông bỗng hỏi:

- Cái vết này là cái gì đây? Nó có liên quan gì

đến vụ án này không?

Cánh tay áo bên phải của người chết đã được kéo

lên khuỷu tay, ở giữa cánh tay thấy nổi lên trên da

hình màu nâu của một tam giác nằm trong một vòng

tròn.Bác sĩ Wood nói:

- Đây không phải là một vết xăm. Tôi nghĩ hình như

97

người này đã bị đánh dấu bằng một cái khuôn nung

đỏ, giống như người ta đánh dấu đàn gia súc vậy -

Bác sĩ nói thêm - Thế này là thế nào?

- Tôi không hiểu được. Có điều là từ mười năm nay,

tôi đã nhiều lần nhìn thấy cái dấu này trên tay

ông Douglas - ông Barker nói.

- Tôi cũng đã thấy nhiều lần khi ông chủ xắn tay

áo lên - Anh đầu bếp bảo.

- Nếu như vậy thì nó không dính dáng gì đến vụ án

mạng này rồi. Nhưng dù sao thì nó cũng thật kì lạ.

Trong vụ này không có cái gì là bình thường cả. Tôi

cũng không hiểu bây giờ còn xảy ra những gì nữa

đây - Viên thượng sĩ kết luận.

Anh đầu bếp vừa thét lên kinh ngạc và chỉ vào bàn

tay duỗi thẳng ra của người chết, nói lắp bắp:

98

- Hắn tháo mất chiếc nhẫn cưới của ông ấy rồi!

- Cái gì?

- Ông chủ tôi đeo một chiếc nhẫn bằng vàng ở bên

trong một chiếc nhẫn khác có gắn một hạt ngọc;

chiếc nhẫn có hạt ngọc còn đây, nhưng chiếc nhẫn

cưới thì biến mất rồi.

- Anh ấy nói đúng đấy! - Barker lên tiếng.

- Ông vừa khai là chiếc nhẫn cưới đeo ở trong

chiếc nhẫn có gắn ngọc? - Viên thượng sĩ hỏi lại.

- Thưa vâng.

- Thế thì hung thủ đã tháo chiếc nhẫn có ngọc ra,

rồi sau đó hắn mới đoạt lấy chiếc nhẫn cưới, rồi

lại đeo chiếc nhẫn có hạt ngọc vào tay người chết.

- Như vậy đó.

Viên thượng sĩ lắc đầu lia lịa:

99

- Chúng ta hãy báo cáo tất cả về London. Ông Mason

là một tay cừ khôi. Chưa bao giờ có một vụ án nào

làm ông ấy phải lúng túng cả. Còn về phần tôi, tôi

xin thú thật là vụ này vượt quá sức hiểu biết của

tôi.

4. TỐI MÒ

Ông Mason trông có vẻ bình tĩnh và thoải mái. Ông

mặc một bộ quần áo vải tuýt rộng thùng thình, chân

đi ghệt. Trông ông giống như một ông chủ trại cỡ

nhỏ, một người gác rừng đã về hưu, hơn là giống một

người đại diện của cơ quan cảnh sát hình sự cấp

tỉnh. Ông không ngừng nhắc đi nhắc lại:

- Đây là một vụ án làm đau đầu đây, thưa ông

McDonald. Tôi mong rằng chúng ta sẽ làm tốt được

nhiều việc, trước khi bọn kí giả nhúng mũi vào cuộc

100

điều tra và làm hỏng hết các dấu vết. Có nhiều chi

tiết có lẽ sẽ làm ông vui lòng, thưa ông Holmes.

Cả đối với ông cũng thế, thưa ông bác sĩ Watson.

Buồng của các ông đã được đăng kí trước ở khách sạn

Westville Arms. Thôi để bác khuân vác trông coi

hành lí, và xin mời các ông vui lòng đi theo tôi.

Chỉ sau mười phút là chúng tôi đã có phòng ở, và

mười phút sau nữa, chúng tôi đã ngồi cả trong phòng

khách của khách sạn. McDonald giở sổ tay ra ghi.

Còn Holmes thì có dáng điệu của một nhà thực vật

học, vừa ngạc nhiên vừa ngắm nghía một bông hoa.

Sau khi nghe xong câu chuyện, anh reo lên:

- Tuyệt! Thật là tuyệt! Chưa có một vụ nào kì lạ

như vụ này. Ông Mason hớn hở:

- Vâng, tôi đã trình bày với các ông tất cả những

101

gì mà thượng sĩ Wilson báo cáo với tôi. Thượng sĩ

đã nắm được hết mọi sự kiện. Tôi đã có kiểm tra

lại, suy nghĩ, và có bổ sung thêm chút ít.

- Thế ông có biết thêm điều gì mới nữa không? –

Holmes hỏi.

- Trước hết, tôi xem xét chiếc búa, không tìm thấy

một dấu vết gì của bạo lực cả.

Ông thanh tra McDonald lưu ý:

- Trong nhiều vụ án mạng, nạn nhân bị đập bằng

búa, mà trên chiếc búa có thấy dấu vết gì đâu.

- Đúng như vậy. Sau đó, tôi xem xét đến khẩu súng.

Súng được lắp đạn ghém, hai cò súng được buộc với

nhau, chỉ cần bóp cò sau thì cả hai viên đạn ở hai

nòng đều nổ một lúc. Nòng súng bị cưa ngắn đi, như

vậy có thể dễ dàng mang nó theo dưới một áo khoác.

102

Toàn bộ tên của nhà sản xuất thì không thấy có,

nhưng trên những đường góc giữa hai nòng súng thấy

còn lại chữ “pen”, các chữ khác thì bị cưa đi mất

rồi.

Holmes hỏi luôn:

- Một chữ “p” hoa, có vẽ hoa lá bên trên, và một

chữ “e”, một chữ “n” nhỏ hơn có phải không ạ?

- Đúng đấy ạ.

- Hãng sản xuất súng Mỹ tên là “Pensylvania Small

Arms Company”.

Ông Mason nhìn Holmes với cặp mắt của một ông thầy

lang ở nông thôn nhìn một đại chuyên gia trong

ngành y tế.

- Không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là một khẩu súng

Mỹ rồi. Tôi có đọc ở đâu đấy rằng súng săn cưa

103

nòng chính là một loại vũ khí thường dùng trong một

số vùng nào đó ở Mỹ. Như vậy, có rất nhiều khả

năng là cái tên đã lọt vào trong lâu đài và giết

ông chủ nhà ở đây là một tên Mỹ.

McDonald gật gù:

- Ông đi mau quá đấy, tôi chưa có chứng cớ gì để

tin rằng có một kẻ lạ mặt đã lọt vào trong này.

- Cửa sổ mở toang, vết máu trên thành cửa, mẩu bìa

cứng, vết giày ở góc nhà, khẩu súng...

- Mấy thứ đó chẳng có gì mà không bố trí trước

được. Ông Douglas vốn là một người Mỹ, ông Barker

cũng thế, vậy thì đâu nhất thiết phải đưa một người

Mỹ khác từ ngoài lọt vào để giải thích những chi

tiết Mỹ đó.

- Ames, người đầu bếp...

104

- Anh ta có đáng tin cậy không?

- Anh ta ở với gia đình Douglas từ năm năm nay.

Anh ta chưa hề trông thấy khẩu súng này trong nhà.

- Khẩu súng này không phải là thứ đem trưng bày

cho mọi người thấy. Chính vì thế người ta mới đem

cưa nòng của nó đi. Nó có thể đem cất giấu vào bất

cứ một cái hộp nào. Làm sao Ames lại có thể đoán

chắc được rằng trong nhà không có một khẩu súng

loại này?

- Nhưng dù sao tôi cũng chưa trông thấy nó bao

giờ. McDonald vẫn lắc đầu không chịu:

- Tôi vẫn chưa tin là có một người lạ mặt vào

đây. Tôi xin các ông hãy thử suy nghĩ xem, hậu quả

sẽ như thế nào khi giả thiết rằng, khẩu súng này là

do một người từ bên ngoài mang vào, và người này

105

đã hành động như các ông vừa nói?

Holmes lấy cái giọng rất “chánh án” chỉ McDonald,

nói:- Ông McDonald, tòa nghe lời khai của ông.

- Hung thủ không phải là một tên ăn trộm tầm

thường. Chuyện chiếc nhẫn và mẩu bìa cứng đã chứng

tỏ rằng, đây là một vụ giết người có âm mưu, vì một

lí do cá nhân nào đó mà ta chưa rõ.

- Vậy hung thủ đã lẩn vào trong nhà với ý định gây

ra một vụ án - Mason nói - Hắn biết sẽ gặp khó

khăn khi muốn thoát ra, vì lâu đài được bao bọc bởi

một đường hào đầy nước. Vậy thì hắn sẽ chọn thứ vũ

khí gì? Chắc các vị sẽ trả lời tôi: Một vũ khí

thầm lặng, hắn có thể hi vọng chui nhanh qua cửa

sổ, lội qua con hào, rồi bình tĩnh chạy trốn đi.

Như vậy, thì tôi có thể chấp nhận được. Còn nói hắn

106

chọn một khẩu súng, trong khi hắn biết tiếng nổ sẽ

làm cho mọi người trong nhà đổ xô đến, và hắn sẽ

bị phát hiện trước khi lội qua con hào, liệu luận

cứ này có lí không thưa ông Holmes?

Anh bạn tôi suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Tất nhiên là ông đã trình bày sự việc một cách

không thể chối cãi được. Nhưng mà phải có chứng

minh. Tôi xin phép được hỏi ông Mason, không biết

ông có xem xét ngay bờ bên kia của đường hào để tìm

những dấu vết của người từ dưới nước lội lên

không?

- Ở đó không có một dấu vết nào. Bờ bên kia xây

bằng đá, thành ra cũng khó thấy.

- Không có một cái vết, không có một dấu in nào,

không có gì cả hay sao?

107

- Tuyệt đối không.

- À, nếu thế thì bây giờ tất cả chúng ta cùng đi

ngay ra đấy xem lại!

- Tôi cũng định đề nghị như vậy. Nhưng có lẽ tốt

hơn cả là tôi thông báo hết mọi chuyện để ông nắm

trước khi ra đấy.

Mason nhìn Holmes, không tin tưởng gì lắm. Ông

thanh tra McDonald nói:

- Tôi đã có làm việc với ông Holmes, và ông đã

chịu vào cuộc với chúng ta rồi.

Holmes cười tủm tỉm:

- Tôi vào cuộc nhưng với quan niệm riêng của tôi

về cách chơi. Tôi có chú ý đến một vụ nào, cũng cốt

là để giúp đỡ công lí và công việc của cảnh sát mà

thôi. Nếu tôi có đứng ngoài cơ quan cảnh sát thì

108

cũng chỉ vì cơ quan này gạt tôi ra ngoài. Nói rõ

như thế rồi, tôi đòi hỏi quyền được làm việc theo

những phương pháp riêng, và khi nào thấy có thể

được, tôi sẽ xin thông báo với ông những kết quả

toàn bộ làm một lần, chứ không phải từng phần một.

Ông Mason nói:

- Chúng tôi rất hân hạnh về sự có mặt của ông, bác

sĩ Watson, chúng tôi hi vọng rằng sau này, chúng

tôi sẽ được dành cho một chỗ trong những tác phẩm

của ông.

Chúng tôi đi xuôi xuống con đường làng giữa hai

cây dương đã hớt ngọn, ở phía dưới hai cây cột bằng

đá phủ rêu, còn dấu vết của con sư tử đá ngày xưa.

Sau một khúc quẹo gấp cuối cùng, chúng tôi trông

thấy tòa nhà cổ thấp xây bằng gạch cũ. Tòa lâu đài

109

đã qua ba thế kỉ, chứng kiến biết bao sự ra đời,

bao lần đi xa trở về tổ ấm, bao nhiêu cuộc khiêu

vũ, bao nhiêu cuộc hẹn hò. Nay những bức tường cổ

kính này lại phải chứng kiến một tấn thảm kịch

thương tâm.

Mason chỉ cho chúng tôi:

- Đó, cửa sổ đó. Cái cửa sổ ngay bên phải, sát cây

cầu rút. Nó được mở toang ra đúng như trong đêm

hôm qua.

- Nó hẹp quá, làm sao một người chui qua được?

- Tên hung thủ chắc không mập lắm. Ông và tôi,

chúng ta đều chui qua được một cách dễ dàng.

Holmes đi tới con hào, xem xét bãi cỏ cùng bờ đá.

Mason nhắc lại:

- Tôi đã xem kĩ lắm rồi, không có bất cứ một dấu

110

vết gì chứng tỏ có một người từ dưới nước đi lên.

- Ở đây cứ luôn luôn đục bùn thế này?

- Thường thì nước có màu này. Dòng nước sông đưa

phù sa vào.

- Nó sâu bao nhiêu?

- Ở gần bờ thì khoảng hai feet, còn giữa thì ba

feet.

- Như vậy chúng ta có thể loại bỏ giả thiết là hắn

đã bị chết đuối khi lội qua hào.

- Trẻ con cũng không chết đuối.

Chúng tôi bước qua chiếc cầu rút, và một nhân vật

gầy gò ra mở cửa cho chúng tôi: Đó là Ames. Anh

chàng vẫn còn run rẩy. Thượng sĩ ngồi cạnh trong

căn phòng xảy ra án mạng. Ông bác sĩ Wood đã về.

Ông Mason hỏi:

111

- Có gì mới không, thượng sĩ Wilson?

- Thưa ông, không có gì.

- Thế thì anh có thể về nhà. Khi nào cần anh, sẽ

báo sau. Anh bảo anh đầu bếp hãy đi báo cho ông

Barker, bà Douglas và bà hầu phòng rằng chúng tôi

cần gặp họ. Bây giờ, tôi xin trình bày quan điểm

riêng của tôi, sau đó các ông sẽ nói lên quan điểm

của các ông...

Cái ông cảnh sát ở tỉnh lẻ này xem ra mới đàng

hoàng làm sao. Ông ta nắm rất vững mọi sự kiện và

có một bộ óc sáng suốt, lạnh lùng, nhất định ông ta

sẽ tiến rất xa về nghề nghiệp. Holmes nghe ông ta

nói một cách chăm chú.

- Đây là một vụ tự sát? Hay một vụ ám sát? Nếu đây

là một vụ tự sát thì chúng ta phải tin rằng, người

112

này bắt đầu tháo chiếc nhẫn cưới của mình ra, đem

giấu đi. Rồi người đó đi xuống đây, đặt đôi giày có

dính đầy bùn vào đằng sau bức rèm cửa để làm cho

người ta tưởng là có ai đứng đợi ở đó, sau đó mở

toang cửa sổ, bôi máu lên thành...

Ông McDonald cắt ngang:

- Chúng ta có thể gạt bỏ giả thiết này.

- Vậy thì đã xảy ra một án mạng. Chúng ta phải tìm

xem hung thủ là người trong nhà hay từ ngoài vào.

- Chúng tôi xin nghe lập luận của ông.

- Trong cả hai trường hợp đó, chúng ta đều vấp

phải những khó khăn lớn. Nhưng không thể có một giả

thiết thứ ba. Chỉ một trong hai giả thiết đó thôi.

Trước hết chúng ta hãy giả thiết: Hung thủ là

người ở ngay trong lâu đài này. Chúng đã hạ ông

113

Douglas trong một thời điểm mà tất cả mọi sự đều

yên tĩnh, nhưng chưa ai đi ngủ cả. Mặt khác, chúng

đã gây án mạng bằng một vũ khí kì lạ nhất và ầm ĩ

nhất, để sau đó mọi người đều biết. Một vũ khí mà

trước đó chưa ai nhìn thấy ở trong nhà. Như vậy

thật cũng khó tin quá.

- Vâng, khó tin thật.

- Tất cả mọi lời khai đều khớp với sự kiện này.

Sau khi báo động, chỉ chưa đầy một phút, mọi người

đã có mặt ở hiện trường. Như vậy thì liệu các ông

có tin được rằng, trong một khoảng thời gian rất

ngắn mà hung thủ đã làm rất nhiều việc: In các dấu

chân trong góc nhà, mở cửa sổ, làm vấy máu lên

thành cửa, rút chiếc nhẫn cưới ra rồi lại gắn

vào...

114

Holmes tán thành:

- Ông đặt vấn đề một cách rất rõ ràng. Tôi ngả

theo quan điểm của ông.

- Như vậy, chúng ta bắt buộc phải trở lại giả

thiết vụ án mạng do một người ở ngoài gây ra. Tên

sát nhân đã lọt vào nhà trong khoảng thời gian từ 4

giờ rưỡi đến 6 giờ chiều. Hôm đó có tiếp khách,

cửa mở rộng, nên không có gì ngăn được hắn. Cũng có

thể hắn chỉ là một tên ăn trộm tầm thường thôi.

Cũng có thể hắn là một người có hận thù riêng gì

với ông Douglas. Hắn đã chui vào căn phòng này và

đã trốn ở đằng sau rèm cửa. Hắn đứng ở đó đến quá

11 giờ đêm. Vào giờ này, ông Douglas bước vào

phòng. Cuộc đối thoại với tên sát nhân rất ngắn

ngủi, vì bà Douglas khai rằng, chồng bà mới đi

115

xuống chừng vài phút thôi là bà đã nghe tiếng súng

rồi.

- Cây nến cũng phù hợp với điều đó - Holmes nói.

- Đồng ý. Cây nến còn mới, chỉ cháy khoảng nửa

inch, chắc ông ta đã đặt nó lên bàn trước khi bị

tấn công, nếu không, nó đã rơi xuống đất khi ông ta

ngã. Điều này công chứng tỏ là ông ta không bị tấn

công ngay khi vừa bước vào phòng.

- Tất cả đều rõ ràng.

- Bây giờ chúng ta có thể hình dung lại diễn biến

của vụ án: Ông Douglas bước vào phòng, đặt cây nến

lên bàn. Một người từ sau bức rèm hiện ra. Hắn có

mang cây súng. Hắn đòi chiếc nhẫn cưới. Ông Douglas

đưa nhẫn cho hắn. Thế là hắn bắn ông Douglas vì

ông này đã vớ được cái búa để trên thảm. Hắn bỏ rơi

116

khẩu súng xuống, và cả mẩu bìa cứng có mang chữ

“V.V. 341”. Rồi hắn chạy trốn qua cửa sổ và lội qua

hào giữa lúc ông Barker phát hiện ra vụ án mạng.

Ông nghĩ thế nào, ông Holmes?

- Rất hay, nhưng chưa thuyết phục được người nghe.

Ông McDonald kêu lên:

- Ông bạn thân mến, tôi sẽ chứng minh cho ông thấy

là hắn sẽ hành động theo một cách khác. Tại sao

hắn không sợ bị người khác bắt gặp khi chạy trốn?

Tại sao hắn dám dùng một khẩu súng khi hắn biết

rằng, muốn thoát thì phải dùng một vũ khí thầm

lặng?

- Nào, ông Holmes, bây giờ xin ông cho ý kiến.

Holmes hết liếc mắt từ phải sang trái rồi từ trái

117

sang phải. Anh đứng dậy, đến quỳ bên xác chết.

- Tôi muốn có thêm một vài sự kiện bổ sung, trước

khi đi vào một giả thiết, thưa ông McDonald. Những

vết thương này thật là khủng khiếp. Có thể cho anh

đầu bếp vào đây một lát được không, các ông? Anh

Ames, tôi chắc rằng anh đã được nhìn thấy nhiều lần

cái hình rất kì lạ này, một tam giác trong một

đường tròn, áp bằng sắt nung đỏ lên cẳng tay của

ông Douglas phải không?

- Vâng, thưa ông, nhiều lần ạ.

- Anh có bao giờ nghe thấy một lời nói nào có thể

giải trình được ý nghĩa của cái dấu ấy không?

- Thưa ông, không.

- Chắc lúc mới áp vào phải đau đớn lắm đấy. Rõ

ràng là một vết bỏng. Này anh Ames, bây giờ tôi

118

trông thấy một miếng băng dính ở dưới cằm ông

Douglas. Anh có nhận thấy không?

- Thưa ông, có ạ. Sáng hôm qua, ông ấy đã bị đứt

khi cạo mặt.

- Ông ấy có hay bị đứt như vậy khi cạo mặt không?

- Thưa ông, hầu như không.

- Rất hay. Tất nhiên đây chỉ là một sự ngẫu nhiên

thôi. Nếu không thì điều ấy chứng tỏ, ông ta đang

lo lắng về một mối nguy hiểm nào đó. Anh Ames, ngày

hôm qua anh có nhận thấy có điều gì khác thường

trong sinh hoạt của ông chủ không?

- Ông chủ tôi có hơi bồn chồn và cáu gắt.

- À, thế thì hình như chúng ta đã tiến thêm được

vài bước. Ông McDonald, ông có muốn đích thân hỏi

thêm gì nữa không?

119

- Không, xin nhường cho những người cao minh hơn.

- Nếu vậy thì chúng ta quay sang mẩu bìa “V.V.

341”. Đây là một loại bìa cứng hạng tồi, ở trong

nhà có thứ bìa nào giống thế này không?

- Thưa ông, không ạ.

Holmes đi lại bên bàn giấy, lấy mỗi lọ mực, đổ một

vài giọt trên giấy thấm.

- Những chữ này không phải viết ở đây rồi. Viết

bằng mực đen, còn mực ở đây màu đỏ gạch, vả lại

viết bằng một ngòi bút to nét, còn những ngòi bút ở

đây đều nhỏ nét cả.

- Không, những chữ này đã được viết ở nơi khác

rồi. Anh Ames, anh có cho rằng những chữ này có ý

nghĩa gì không?

- Thưa ông, tôi không biết.

120

- Ông nghĩ thế nào, ông McDonald?

- Nó làm tôi nghĩ đến một hội kín. Cái dấu ở trên

cánh tay kia cũng thế.

- Tôi cũng nghĩ như vậy - ông Mason lên tiếng.

- Chúng ta chọn giả thiết đó. Một thành viên của

một hội kín lọt vào trong lâu đài, chờ ông Douglas

và bắn vỡ sọ ông ta, rồi trốn ra bằng đường hào,

sau khi đã vứt lại bên cạnh nạn nhân một mẩu bìa

cứng, có ghi những chữ mà khi báo chí đăng lên sẽ

báo tin cho các thành viên khác của hội biết rằng,

việc trả thù đã hoàn thành. Tất cả mọi cái đều

khớp.

- Nhưng tại sao lại dùng súng mà không dùng bất cứ

một thứ vũ khí nào khác?

- Đúng thế.

121

- Và tại sao chiếc nhẫn cưới lại biến mất?

- Đồng ý.

- Tại sao người ta lại chưa bắt gặp được người

nào? Bây giờ là 2 giờ chiều rồi, tôi chắc rằng từ

rạng đông đến giờ, tất cả cảnh sát đang truy lùng

một người lạ mặt quần áo ướt và lấm bùn.

- Vâng, ông không nhầm, ông Holmes ạ.

- Nếu hắn không có một nơi ẩn nấp ở gần đây, và

nếu hắn không thay được quần áo, thì cảnh sát không

để lọt lưới. Ấy vậy mà cho đến giờ này, hắn đã lọt

lưới thật...

Holmes đi lại phía cửa sổ, và rút chiếc kính lúp

ra, xem xét vết máu trên thành cửa.

- Đúng là vết in của một bàn chân. To hơn bình

thường. Phải nói là giống như một bàn chân phẳng.

122

Một điều kì lạ khác nữa: Cái vết chân dính bùn ở

góc nhà kia lại có vẻ bình thường hơn vết này. Nói

cho ngay ra, thì tất cả đều mờ nhạt không rõ ràng.

Còn cái gì ở dưới gầm chiếc bàn con thế kia?

- Những quả tạ của ông Douglas - Ames đáp.

- Chỉ thấy có một quả thôi. Còn quả kia đâu?

- Thưa ông, tôi không biết. Có thể là chỉ có một

quả thôi. Đã hàng tháng nay tôi không nhìn xuống

đó.

Holmes nói một cách trầm ngâm: - Một quả tạ...

Một tiếng gõ cửa đã ngắt lời anh. Một người đàn

ông cao lớn, mặt cạo nhẵn nhụi, da rám nắng, trông

thông minh, lanh lẹ bước vào. Đó là Barker. Đôi mắt

quen ra lệnh của ông ta đảo nhìn chúng tôi một

lượt.

123

- Tôi xin lỗi đã làm gián đoạn cuộc họp của các

ông, nhưng tôi muốn báo cho các ông một tin cuối

cùng.

- Đã bắt được rồi ư?

- Chưa. Nhưng người ta đã tìm thấy chiếc xe đạp,

hung thủ đã bỏ nó lại. Xin mời các ông ra xem. Chỉ

cách cửa ngoài không đầy một trăm yard thôi.

Mấy gia nhân cùng những người hiếu kì đang ngắm

nghía một chiếc xe đạp mà người ta vừa lôi ở trong

một bụi cây ra. Cái túi sau yên xe đựng một chiếc

cờ-lê và một lọ dầu nhớt, nhưng không có một chỉ

dẫn nào về người chủ của nó. Ông thanh tra thở dài,

nói:

- Công việc sẽ đơn giản biết bao nếu xe này có

mang biển số, chúng ta sẽ biết được chủ nó đi từ

124

đâu đến. Nhưng mà tại sao hắn lại vứt bỏ chiếc xe

đạp? Làm thế, hắn không đi xa được. Ông Holmes này,

hình như chúng ta chưa có được một tia sáng nào.

- Chính tôi cũng đang tự hỏi như vậy - Holmes đáp.

5. NHỮNG NHÂN VẬT CỦA TẤN THẢM KỊCH

Khi chúng tôi bước ra khỏi phòng, ông Mason còn

hỏi lại:

- Các ông đã xem xét kĩ căn phòng này chưa?

- Hiện nay thì đủ rồi - Ông thanh tra đáp. Holmes

cũng gật đầu đồng ý.

- Bây giờ thì chắc các ông muốn nghe lời khai của

một vài người ở trong lâu đài này. Anh Ames, chúng

tôi sẽ làm việc ở trong phòng ăn. Trước hết, anh

hãy nói cho chúng tôi nghe tất cả những gì mà anh

125

biết.

Câu chuyện của anh đầu bếp kể lại đã thuyết phục

được người nghe. Anh ta đã được nhận vào làm năm

năm trước đây, khi ông Douglas vừa đến ở Birlstone.

Ông Douglas là một người có của và đàng hoàng, đã

từng làm giàu ở bên Mỹ, ông tỏ ra là một ông chủ

tốt và hào phóng. Ông Douglas ra lệnh mỗi buổi

chiều phải kéo cây cầu lên để nối tiếp lại một

phong tục cũ của tòa lâu đài cổ này. Ông rất ít khi

đi London, và cũng ít khi rời khỏi làng. Nhưng một

ngày trước hôm xảy ra án mạng, ông đi lên

Tunbridge Wells để mua sắm một ít đồ vật. Ngày hôm

sau, chính Ames nhận xét thấy ông Douglas có vẻ hơi

nóng nảy, cáu gắt và điều này thật là khác thường.

Lúc xảy ra án mạng, Ames đang ở trong bếp, cất dọn

126

đồ chén bát bằng bạc. Chính lúc đó anh nghe tiếng

kéo chuông thật mạnh, nhưng không nghe thấy tiếng

súng nổ, vì từ bếp lên đến căn phòng ấy, còn phải

qua một dãy hành lang dài và mấy lớp cửa đóng.

Tiếng chuông quá mạnh cũng làm cho bà hầu phòng

phải chạy ra, và hai người cùng chạy lên nhà trên.

Khi đến chân cầu thang thì bà Douglas ở trên lầu

đang đi xuống. Không, bà không có dáng vội vàng. Và

Ames có cảm giác là bà không bối rối. Khi bà

Douglas xuống đến bậc thang cuối cùng, thì ông

Barker từ trong căn phòng chạy ra, ngăn và xin bà

đi trở lại. Ông ấy kêu lên:

- Bà hãy trở lên phòng ngay đi. Ông ấy đã chết

rồi. Bà lên đi!

Ông Barker phải nói mãi bà Douglas mới chịu lên

127

phòng. Bà không khóc. Bà không làm ồn ào. Bà hầu

phòng Allen đã dìu bà lên và ở trong phòng với bà.

Ames và ông Barker lúc đó mới đi vào trong căn

phòng. Bấy giờ ngọn nến không cháy, mà cây đèn lại

cháy. Cả hai người nhìn qua cửa sổ, nhưng đêm tối

đen như mực, và không nghe thấy gì cả. Họ đổ xô ra

buồng ngoài, và Ames đã hạ cây cầu rút xuống để ông

Barker chạy đi báo cảnh sát.

Lời khai của bà hầu phòng Allen cũng khớp với lời

khai của Ames. Buồng riêng của bà hầu phòng ở gần

phía nhà trên hơn là chỗ bếp của Ames. Bà đang đi

ngủ, thì nghe tiếng chuông kéo thật mạnh. Bà có hơi

nặng tai. Không biết có phải vì thế mà bà không

nghe thấy tiếng súng chăng? Khi anh Ames chạy lên

nhà trên, thì bà cũng chạy theo anh ta. Bà có trông

128

thấy ông Barker mặt bối rối từ trong phòng đi ra.

Ông ta chạy đến trước mặt bà Douglas, lúc đó ở trên

cầu thang đi xuống. Ông ta năn nỉ mời bà Douglas

đi lên, và bà ta có trả lời điều gì đó mà bà Allen

nghe không rõ. Ông Barker ra lệnh cho bà:

- Bà đưa bà chủ lên lầu đi. Và ở luôn đó với bà

chủ.Bà đưa bà chủ lên lầu, về phòng và cố khuyên

bà chủ bình tĩnh lại. Bà Douglas, chân tay run bắn,

nhưng cũng không muốn đi xuống nữa. Bà mặc chiếc

áo khoác, ngồi vào bên lò sưởi, hai tay ôm lấy đầu.

Bà Allen đã ở lại đó cả đêm với bà.

Còn các gia nhân khác, thì họ đều đi ngủ cả, và

chỉ được báo động dậy trước lúc cảnh sát đến một

chút thôi.

Đến lượt ông Barker. Về những sự việc xảy ra đêm

129

hôm qua, ông cũng khai y như đã khai với thượng sĩ

Wilson. Riêng ông, ông tin chắc tên sát nhân đã

trốn qua cửa sổ. Theo ông thì vết máu trên thành

cửa sổ không cho phép người ta nghi ngờ điều đó.

Nhưng ông không hiểu vì sao hung thủ lại có thể

biến đi được, hoặc tại sao lại không chịu trốn bằng

xe đạp, nếu chiếc xe ấy là của hắn.

Về vụ án mạng này, ông có một quan điểm rất rõ

ràng. Ông Douglas là người kín đáo, di cư sang Mỹ

từ thời còn thanh niên, đã làm ăn phát đạt và

Barker đã quen biết ông ta ở California. Hai người

chung vốn khai thác một cái mỏ, kết quả rất tốt

đẹp. Đột nhiên Douglas bán lại phần của ông ta và

trở về Anh. Lúc đó Barker vừa góa vợ. Ít lâu sau,

Barker chuyển hết tài sản ra thành tiền mặt rồi về

130

London, vì thế hai người lại nối lại tình bạn cũ.

Douglas làm cho Barker có cảm giác rằng, có một mối

nguy hiểm nào đó đang treo trên đầu mình, và

Barker tưởng tượng một hội kín nào đó, có mối thù

không đội trời chung với Douglas đã lần theo và

định thủ tiêu Douglas. Chính một vài câu nói của

Douglas đã làm nảy sinh ý nghĩ này trong đầu

Barker, chứ bản thân Barker thì chưa bao giờ hỏi về

cái hội kín này. Barker đoán rằng những chữ viết

trên mẩu bìa cứng là có liên quan đến hội kín.

Ông thanh tra McDonald hỏi:

- Ông đã sống với ông Douglas trong bao lâu ở

California?

- Khoảng năm năm.

- Lúc đó Douglas sống độc thân?

131

- Góa vợ.

- Bà vợ thứ nhất của Douglas là người nước nào?

- Thuỵ Điển. Tôi có thấy ảnh của bà ta. Đó là một

phụ nữ rất đẹp, chết trước khi chúng tôi quen nhau

một năm.

- Liệu ông có thể xác định được quá khứ của bà ta

ở một vùng nào cụ thể bên Mỹ không?

- Douglas có nói với tôi là ở Chicago. Ông ta biết

rất rõ thành phố này và đã làm việc ở đó. Ông ta

cũng có nói với tôi về những vùng mỏ khai thác than

và sắt.

- Ông Douglas có làm chính trị không? Cái hội kín

này có mục đích chính trị không?

- Không. Ông ấy không bao giờ để ý đến chính trị.

- Ông có nghĩ rằng đây là một cái hội phạm pháp

132

không?

- Tuyệt đối không. Tôi chưa thấy một người nào lại

thẳng thắn, dứt khoát như ông Douglas.

- Ông có thể cho chúng tôi biết những chi tiết gì

đặc biệt về cuộc đời của Douglas ở California được

không?

- Lúc đó, ông ta sống ru rú trong khu mỏ và chỉ đi

đến những nơi đông người khi nào bắt buộc lắm mà

thôi. Khi ông ta đột ngột bỏ về châu Âu, thì một

tuần lễ sau có sáu người đến tìm ông ta.

- Loại người như thế nào?

- Những người trông có vẻ bất trị lắm. Họ kéo đến

khu mỏ và muốn biết Douglas đang ở đâu. Tôi nói là

ông ta đã trở về châu Âu, và tôi không biết địa

chỉ.

133

- Họ là người Mỹ? Người California?

- California thì tôi không biết. Nhưng người Mỹ

thì chắc chắn rồi, không phải là dân thợ mỏ.

- Cách đây có đến sáu năm không?

- Gần bảy năm.

- Thế mà hai ông đã sống với nhau năm năm ở

California. Vậy thì cái vụ hội kín này phải cách

đây ít nhất đến mười một năm.

- Đúng thế!

- Một mối thù dai dẳng.

- Tôi nghĩ rằng mối thù này lúc nào cũng lởn vởn

trong đầu ông ta.

- Khi một người cảm thấy mình bị đe dọa, thì người

đó phải nhờ cảnh sát bảo vệ chứ?

- Có thể đây là một mối nguy hiểm mà các cơ quan

134

cảnh sát không làm gì được cũng nên. Nhưng có một

điều này các ông cần phải biết: Ông Douglas không

khi nào đi ra ngoài mà lại không mang vũ khí. Nhưng

hôm qua ông ấy mặc chiếc áo khoác ở nhà, và để

khẩu súng ở trong buồng. Có lẽ vì thấy chiếc cầu

rút đã kéo lên, nên ông ấy cho thế là an toàn

chăng?

Ông McDonald hỏi thêm:

- Sáu năm trước, ông Douglas đã rời California.

Đến năm sau thì ông cũng bỏ đi nốt phải không?

- Vâng, đúng thế.

- Ông ta lấy vợ khác từ năm năm nay. Vậy thì ông

trở về Anh vào lúc ông ta cưới vợ chứ?

- Một tháng trước ngày cưới. Tôi là người làm

chứng của ông ta.

135

- Thế ông có quen biết bà Douglas trước khi cưới

không?

- Không. Tôi đã rời khỏi nước Anh từ mười năm rồi.

- Nhưng từ đó đến nay ông đã gặp bà ta nhiều lần

rồi chứ? Barker nhìn ông thanh tra một cách hết sức

nghiêm trang:

- Tôi đã gặp ông ta nhiều lần, từ ngày cưới đến

giờ. Còn nếu tôi có gặp bà ta đi nữa, thì bởi vì

không thể ở trong nhà một người mà lại không biết

đến vợ người đó - nếu ông tưởng tượng rằng có mối

liên quan nào.

- Tôi chẳng tưởng tượng gì cả. Tôi có nhiệm vụ

phải tìm tất cả những gì có thể liên quan đến vụ

án. Nhưng tôi không muốn làm mất lòng ai.

136

Barker đáp một cách khô khốc:

- Có những cái tìm kiếm làm mất lòng người đấy,

ông thanh tra à!

- Chúng tôi chỉ muốn có các sự kiện. Nếu những sự

việc này được trình bày ra đây một cách sáng tỏ,

thì điều này chỉ có lợi cho ông, và cho mọi người.

Ông Douglas có hoàn toàn tán thành tình bạn của ông

đối với vợ ông ta không?

Barker tái mặt, hai bàn tay nắm chặt vào nhau, nói

to tiếng:

- Ông không có quyền hỏi tôi những câu như vậy.

Việc này có liên quan gì đến vụ án mà ông đang điều

tra?

- Tôi có phải nhắc lại câu hỏi này không, thưa

ông?

137

- Ông cứ nhắc lại, còn tôi, tôi không trả lời.

- Ông có thể không trả lời, nhưng ông phải biết

rằng, chính cái việc từ chối đã là một câu trả lời

rồi. Bởi vì ông sẽ chịu trả lời nếu ông không có

điều gì phải giấu giếm.

Barker ngồi im lặng một lát, nét mặt căng thẳng.

Rồi ông ta trở lại thư thái hơn, nhìn chúng tôi,

mỉm cười:

- Thôi được, tôi thấy thật ra các ông cũng chỉ làm

nhiệm vụ của mình thôi. Tôi muốn nói với các ông

rằng, Douglas có một tính xấu là hay ghen. Ông ta

rất quý mến tôi. Và ông ta cũng quý vợ ông ta lắm.

Mỗi lần tôi đến đây, ông ấy đều vui lòng. Lâu tôi

không đến là ông liền cho người đi gọi. Tuy vậy,

khi ông ta thấy vợ mình và tôi ngồi nói chuyện với

138

nhau thì ông ta nổi nóng đến mức nói chẳng ra gì

nữa. Đã nhiều lần tôi thề rằng sẽ không đặt chân

đến đây nữa. Nhưng khi tôi hờn dỗi thì ông ấy lại

viết thư cho tôi, những bức thư rất dễ thương làm

tôi không thể giận lâu hơn được nữa. Và sau đây là

lời nói khẳng định của tôi: Không có một người phụ

nữ nào lại yêu chồng và chung thủy như bà Douglas.

Ông thanh tra McDonald hỏi:

- Ông có biết chiếc nhẫn cưới của nạn nhân đã bị

rút ra khỏi ngón tay của người ấy không?

- Hình như thế.

- Tại sao ông lại nói là “hình như thế”? Ông biết

rõ đây là một việc có thật kia mà.

Barker có vẻ lúng túng:

- Khi tôi nói “hình như thế” là tôi muốn nói rằng,

139

cũng có thể chính nạn nhân đã tự mình rút chiếc

nhẫn đó ra.

- Việc chiếc nhẫn cưới biến mất đã gợi ý cho mọi

người thấy rằng có một mối liên quan nào đó giữa

đám cưới của ông Douglas và vụ án này. Có phải

không ông?

Barker nhún vai trả lời:

- Tôi sẽ không đi tìm xem nó gợi ý cái gì, nhưng

nếu ông muốn ám chỉ rằng việc đó làm tổn thương đến

danh dự của bà Douglas thì... - Hai mắt ông ta

long lanh sáng quắc, và ông ta phải dùng tất cả

nghị lực để kìm hãm xúc cảm - ... Thì ông đã đi lầm

đường rồi đấy. Có thế thôi.

Ông thanh tra McDonald lạnh nhạt nói:

- Tạm thời bây giờ tôi không hỏi thêm ông nữa...

140

Holmes vội bác ngay:

- Xin ông một chi tiết nhỏ, thưa ông Barker. Khi

ông bước vào trong phòng, thì chỉ có một ngọn nến

thắp để trên bàn, có phải không?

- Vâng.

- Chính nhờ ánh sáng của ngọn nến đó mà ông đã

trông thấy có một việc khủng khiếp vừa xảy ra, phải

không?

- Đúng thế.

- Ông đã tức khắc kéo chuông ngay để báo động?

- Vâng.

- Và mọi người đã đổ ngay đến đấy chỉ sau một

khoảng thời gian rất ngắn. Có phải không?

- Chỉ sau không đầy một phút.

- Ấy thế mà khi mọi người vào đây lại thấy ngọn

141

nến được tắt đi và ngọn đèn thì đã được thắp lên,

như vậy có lạ lùng không ông?

Một lần nữa, Barker lại tỏ ra hơi lúng túng. Ông

ta im lặng một lát rồi mới trả lời:

- Thưa ông, tôi không thấy có gì lạ lùng. Ngọn nến

chiếu sáng lu mờ quá. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là

phải có một ánh sáng tốt hơn. Cái đèn lúc đó để

trên bàn, tôi đã thắp nó lên.

- Và ông đã tắt ngọn nến đi?

- Vâng.

Holmes không hỏi thêm, và Barker sau một cái nhìn

thách thức về phía mỗi người chúng tôi, đã rời căn

phòng đi ra.

McDonald viết một mảnh giấy nhỏ, báo cho bà

Douglas biết là ông sẽ lên gặp bà, nhưng bà đã trả

142

lời rằng: Bà sẽ xuống.

Đó là một phụ nữ khoảng ba mươi tuổi, cao lớn, rất

đẹp, dáng điệu chín chắn và hết sức tự chủ, khác

hẳn với hình ảnh một người bi thảm và rã rời mà tôi

hình dung ra trong đầu. Bà lần lượt nhìn chúng

tôi, với một biểu hiện dò hỏi. Rồi đôi mắt dò hỏi

đó nhường chỗ cho một câu hỏi đột ngột:

- Các ông đã tìm ra gì chưa?

Trong giọng nói của bà chứa đựng sự sợ sệt nhiều

hơn là niềm hi vọng.

- Thưa bà, chúng tôi đã làm những việc cần làm.

Xin bà cứ yên tâm - McDonald trả lời.

- Xin các ông đừng ngại tốn kém tiền bạc - Bà

Douglas nói, giọng thều thào.

- Không biết bà có đem lại cho chúng tôi một chút

143

ít ánh sáng nào không?

- Thưa, tôi sẵn sàng làm tất cả những gì mà các

ông cần.

- Ông Barker cho biết rằng, bà không bước chân vào

căn phòng xảy ra án mạng...

- Vâng. Ông ta đã bắt tôi phải đi lên và trở về

phòng riêng.

- Bà nghe tiếng súng nổ, và bà đã tức khắc xuống

ngay?

- Tôi mặc áo khoác ngoài và chạy xuống.

- Từ lúc bà nghe tiếng nổ đến lúc ông Barker ngăn

bà lại, mất khoảng bao lâu?

- Có lẽ độ hai phút. Trong những lúc như vậy thật

khó tính được thời gian.

- Bà có thể dự tính được khoảng thời gian từ lúc

144

chồng bà đi xuống nhà, đến lúc bà nghe thấy tiếng

súng nổ không?

- Thưa ông, chồng tôi đi từ buồng tắm ra nên tôi

không nghe thấy tiếng anh ấy đi xuống.

- Bà đã quen biết ông ấy ở Anh có phải không?

- Thưa ông, đã năm năm rồi.

- Bà có bao giờ nghe thấy ông ấy nói về một chuyện

gì đã xảy ra ở bên Mỹ và dự cảm về một mối nguy

hiểm nào không?

Bà Douglas suy nghĩ lung lắm trước khi trả lời.

Mãi một lát sau bà mới nói:

- Thưa có. Tôi vẫn có linh tính là có một sự nguy

hiểm đang đe dọa chồng tôi. Anh không chịu bàn luận

gì với tôi về việc này cả, vì anh ấy muốn tránh

cho tôi mọi sự sợ hãi.

145

- Vậy làm sao bà lại biết được?

Nét mặt bà Douglas hồng tươi hẳn lên trong một nụ

cười:- Tôi biết sự bí mật này là nhờ vào nhiều dấu

hiệu: Vì anh ấy không chịu nói gì với tôi về quãng

đời của anh khi còn ở bên Mỹ; vì thấy anh ấy có

những biện pháp tự vệ riêng; vì đôi lúc anh ấy

không kiềm chế được và nói lỡ vài lời; vì thấy cái

cách anh ấy nhìn những người lạ mặt bất chợt đến

đây. Tôi hoàn toàn chắc chắn là anh ấy có những kẻ

thù ghê gớm, mà anh ấy cho là có kẻ đang dò tìm

tung tích của anh, và anh luôn luôn cảnh giác đề

phòng.

- Ông ấy đã lỡ mồm nói ra điều gì làm bà phải chú

ý? – Holmes hỏi.

- “Thung lũng khủng khiếp”. Có một lần anh ấy dùng

146

hình tượng này để nói với tôi. Khi tôi thấy anh

nghiêm nghị hơn bình thường, tôi có hỏi: “Có bao

giờ chúng ta ra khỏi được cái ‘Thung lũng khủng

khiếp’ ấy không?” Và anh ấy đã trả lời rằng: “Có lẽ

chúng ta không bao giờ ra khỏi được.”

- Tất nhiên là bà có hỏi ông nhà xem ông muốn nói

gì bằng hình tượng “Thung lũng khủng khiếp”?

- Vâng, tôi có hỏi. Nhưng anh ấy sa sầm mặt lại và

lắc đầu nói: “Cầu trời cho cái bóng ấy không bao

giờ phủ cả lên em nữa.” Đó là cái thung lũng thật

sự chứ không phải một hình tượng. Anh ấy đã sống ở

đó mà một sự việc khủng khiếp đã xảy ra có liên

quan đến anh ấy.

- Thế ông ấy có nêu tên một người nào không?

- Cách đây ba năm, anh ấy bị sốt cao. Trong cơn

147

mê, anh ấy luôn luôn nhắc đến một tên người. Cái

tên ấy là McGinty Toán trưởng. Lúc anh ấy bình

phục, tôi có hỏi Toán trưởng McGinty là ai. Anh ấy

cười trả lời: “Nhờ trời, hắn chưa bao giờ làm

trưởng cái toán của anh.” Nhưng chắc có một mối

liên hệ nào đó giữa người Toán trưởng đó và Thung

lũng khủng khiếp.

Ông thanh tra McDonald nói:

- Bà đã gặp ông Douglas trong nhà trọ một gia đình

ở London và hai ông bà đã hứa hôn với nhau cũng ở

đó. Trong việc lập gia đình, có một yếu tố nào bí

mật hay cần phải giữ kín không? Hay một yếu tố lãng

mạn?

- Lãng mạn à? Vâng, thưa có. Bao giờ thì cũng có

yếu tố lãng mạn. Không có cái gì là bí mật cả.

148

- Ông ấy có tình địch không?

- Thưa không. Lúc đó tôi hoàn toàn tự do.

- Việc mất chiếc nhẫn cưới có gợi cho bà một ý

nghĩ gì không? Nếu kẻ thù cũ đã đến đây và ám hại

ông, thì có lí nào chúng tháo lấy chiếc nhẫn?

Trong một thoáng, tôi chợt thấy dường như là một

nụ cười rất kín đáo hiện lên trên môi bà Douglas.

Bà ta bình tĩnh trả lời:

- Tôi tuyệt đối không hiểu gì cả. Thật là kì lạ.

Ông thanh tra nói:

- Thưa bà, chúng tôi không giữ bà lâu hơn nữa, và

rất tiếc đã quấy rầy bà. Tất nhiên còn một số điều

nữa phải xem xét thêm, nhưng chúng tôi sẽ xin kêu

gọi sự giúp đỡ của bà khi nào cần thiết.

Bà ta đứng lên, và tôi lại bất chợt một lần nữa

149

thấy đôi mắt sắc sảo nhìn chúng tôi một cách dò

hỏi. Rồi bà ta bước ra khỏi phòng ăn.

Khi hai cánh cửa phòng đã khép lại, ông thanh tra

McDonald khe khẽ nói một cách trầm ngâm:

- Một người đàn bà đẹp! Một người đàn bà rất đẹp!

Cái tay Barker là một người được phụ nữ yêu thích.

Ông ta công nhận rằng Douglas có tính hay ghen.

Biết đâu sự ghen tuông này không phải là vô căn cứ.

Rồi lại còn chuyện cái nhẫn cưới nữa. Chúng ta

không thể coi thường chi tiết ấy được. Một người mà

đã rút cái nhẫn cưới ra khỏi bàn tay của một xác

chết. Ông nghĩ thế nào, ông Holmes?

Holmes ngồi yên lặng, hai tay ôm đầu. Anh đứng

dậy, ra giật chuông, và khi người đầu bếp vào, anh

hỏi:- Anh Ames, ông Barker hiện giờ ở đâu?

150

- Thưa ông, để tôi đi xem.

Một lát sau, anh ta trở lại báo cáo, ông Barker

hiện đang ở ngoài vườn.

- Anh Ames, anh cố nhớ lại xem, đêm hôm qua khi

anh vào gặp ông Barker thì ông ta đi gì ở chân?

- Ông ta đi giày vải. Tôi đã mang giày da đến cho

ông ta thay để đi báo cảnh sát.

- Thế đôi giày vải ấy bây giờ đâu rồi?

- Dưới gầm ghế phòng ngoài.

- Rất tốt, việc phân biệt giữa những vết chân của

ông Barker và của một người ở ngoài lọt vào lâu đài

là cực kì quan trọng. Anh đồng ý không?

- Thưa ông, vâng, tôi nhận thấy các vết chân của

ông Barker đều đầy dấu máu. Nhưng cả những vết chân

của tôi cũng thế.

151

- Đó là điều bình thường, nếu căn cứ vào tình

trạng căn buồng lúc đó. Chúng tôi lại sẽ gọi chuông

khi nào cần đến anh.

Vài phút sau, chúng tôi đã trở lại căn buồng có án

mạng. Holmes đã nhặt mang theo đôi giày vải để ở

buồng ngoài, đôi giày đỏ lòm máu.

Holmes cầm đôi giày ra đứng trước cửa sổ chăm chú

xem xét, vừa xem vừa nói khẽ một mình:

- Kì lạ! Thật là kì lạ!

Anh nhẹ nhàng cúi xuống và đặt chiếc giày vải lên

vết máu trên khung thành cửa sổ: Khớp đúng như in.

Anh mỉm cười, nhìn mọi người.

Ông thanh tra bối rối đến cực độ, hét lên như

người điên:

- Chính tay Barker này đã in cái dấu giày trên

152

thành cửa sổ. Nó rộng hơn một dấu chân bình thường.

Tôi nhớ rằng ông đã có nói đây là một bàn chân

phẳng. Bây giờ mới hiểu tại sao. Nhưng này ông

Holmes, thế hắn định chơi cái trò gì đây?

Holmes cũng nhắc lại một cách trầm ngâm: - Vâng,

vâng. Trò gì nào?

Mason tủm tỉm cười, xoa mãi hai bàn tay vào nhau

với một niềm vui thích hoàn toàn có tính cách nghề

nghiệp:- Tôi đã báo trước cho các ngài biết mà.

Gay go hóc búa lắm chứ có phải chơi đâu.

6. TIA SÁNG TRONG ĐÊM ĐEN

Trong khi ba nhà thám tử đi thẩm tra lại một số

chi tiết, tôi đi dạo một vòng khu vườn ở bên hông

lâu đài. Được bao quanh bởi những hàng thùy dương

uy nghi, khu vườn có một bãi cỏ rất đẹp, ở giữa là

153

một chiếc đồng hồ mặt trời cổ kính. Sự yên tĩnh ở

đây làm cho thần kinh tôi thư giãn hẳn.

Đi về phía xa nhất của tòa lâu đài, những lùm cây

mọc sát vào nhau làm thành một thứ hàng rào rất

kín. Đằng sau hàng rào, có một chiếc ghế đá kê

khuất hẳn, người đi từ phía lâu đài lại không thể

nhìn thấy được. Đi gần đến đó, tôi chợt nghe tiếng

nói của đàn ông, và một tiếng nhỏ của phụ nữ. Một

lát sau, khi đã đi vòng quanh hàng rào, tôi trông

thấy bà Douglas đang ngồi với ông Barker. Vẻ mặt

của bà ta làm tôi phải kinh ngạc. Lúc nãy bà tỏ ra

nghiêm nghị và dè dặt bao nhiêu thì bây giờ bà ta

yêu đời bấy nhiêu, khuôn mặt vẫn còn rung lên trong

sự thích thú vì câu nói vừa rồi của ông Barker.

Ông ngồi nghiêng người ra phía trước, hai tay đan

154

vào nhau, một nụ cười tươi tắn làm rạng rỡ bộ mặt

rắn rỏi. Khi trông thấy tôi, họ lấy lại nét mặt

trang nghiêm, thì thầm với nhau câu gì đó, rồi

Barker đứng dậy và tiến về phía tôi:

- Thưa ông, có phải tôi đang được hân hạnh nói

chuyện với bác sĩ Watson không?

Tôi chào lại một cách lạnh nhạt.

- Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ đúng là ông, người mà

ai ai cũng biết là bạn thân của ông Holmes. Bà

Douglas mong muốn được thưa với ông một đôi điều.

Tôi cau mày và đi theo ông ta. Hình ảnh của người

chết lại hiện ra trong trí tôi. Chỉ vài giờ sau tấn

thảm kịch thì vợ và bạn của kẻ xấu số đã cười đùa

vui vẻ với nhau. Tôi chào bà Douglas một cách dè

dặt.

155

- Tôi sợ rằng ông sẽ coi tôi là một người đàn bà

không tốt.

- Đó không phải là việc của tôi - Tôi nhún vai,

nói.

- Có thể một ngày nào đấy, ông sẽ hiểu được

rằng...

- Cũng không cần thiết là bác sĩ Watson phải hiểu.

Đúng như ông ấy nói, đây không phải là việc của

ông - Ông Barker nói.

- Đúng thế. Vì vậy tôi xin phép được tiếp tục đi

dạo.

- Xin hãy khoan, bác sĩ Watson! - Bà Douglas kêu

lên - Ông hiểu biết ông Holmes và những mối quan hệ

của ông ta với cơ quan cảnh sát hơn ai hết. Nếu có

một sự việc nào đó đem nói riêng với ông ta, thì

156

ông ta có luôn luôn đem báo cáo lại các thám tử của

chính quyền không?

- Xin hỏi ông Holmes làm việc riêng cho ông ta,

hay ông ta làm việc cho cảnh sát? - Barker cũng

nhấn mạnh thêm.

- Tôi không biết mình có đủ thẩm quyền để bàn về

vấn đề này không.

- Tôi van ông. Nếu ông mách bảo cho chúng tôi điều

này, thì ông sẽ giúp đỡ cho tôi nhiều lắm.

Trong giọng nói của bà chứa đựng một cái gì nghe

thành thật quá đến nỗi lúc đó tôi quên hết chuyện

vô tâm của bà, và chỉ nghĩ cách làm sao cho bà vui

lòng:- Ông Holmes là một nhà điều tra độc lập. Ông

ấy tự chủ đối với những việc của mình và hoạt động

theo suy nghĩ riêng của ông ấy. Mặt khác, ông ấy

157

cũng phải tỏ ra trung thực với những thám tử của

nhà nước từng làm việc trong một vụ án, và ông ấy

sẽ không giấu giếm họ bất cứ một điều gì có thể

giúp họ đưa các tội phạm ra trước công lí. Như vậy

bà và ông nên hỏi thẳng ông Holmes.

Nói thế rồi, tôi nhấc mũ lên chào và bỏ đi, để mặc

họ ngồi đằng sau lùm cây.

Khi tôi đi khỏi hàng rào và quay lại thì thấy họ

vẫn đang bàn cãi và trông theo tôi.

Khi tôi kể lại cho Holmes nghe câu chuyện vừa rồi,

Holmes trả lời:

- Tôi không mong ước được nghe những lời tâm sự

của họ.

Sau đó Holmes làm việc với hai đồng nghiệp suốt

buổi chiều ở lâu đài và mãi 5 giờ mới trở về.

158

Anh còn nhắc lại lần nữa :

- Này Watson, không có tâm sự gì cả đấy nhé. Những

tâm sự này sẽ trở nên rất khó xử nếu sau này có sự

bắt bớ về tội đồng lõa.

- Sắp tiến đến bước đó rồi à?

- Khi nào tôi tiêu diệt xong cái quả trứng thứ tư

này, tôi sẽ nói cho anh biết tình hình hiện nay.

Tôi không nói rằng chúng ta đã giải được bài toán.

Còn xa đấy. Nhưng khi nào chúng ta tìm thấy quả tạ

còn thiếu kia thì...

- Quả tạ à?

- Tất cả vụ án này quay xung quanh cái quả tạ vắng

mặt kia. Một quả tạ. Một quả tạ duy nhất. Anh hãy

tưởng tượng, nếu có một nhà lực sĩ nào chỉ tập với

một quả tạ thôi, thì anh ta sẽ trẹo cột sống.

159

Anh nhai nhồm nhoàm một cái bánh ngọt, hai mắt

long lanh tinh nghịch. Trông anh ăn ngon như thế

cũng đủ hiểu là công việc tiến hành tốt rồi. Ăn

xong, anh đến ngồi bên góc chiếc lò sưởi của quán

trọ, bắt đầu nói:

- Nói dối! Một sự dối trá hoàn toàn. Tất cả câu

chuyện của Barker là nói dối. Nhưng câu chuyện của

Barker lại được bà Douglas công nhận. Vậy thì bà

Douglas cũng nói dối. Bởi vậy, giờ đây chúng ta

đứng trước bài toán này: Tại sao họ lại nói dối, và

cái sự thật mà họ đã cố gắng che giấu là cái gì?

Theo họ kể lại thì tên sát nhân chỉ có một khoảng

thời gian chưa đầy một phút để tháo chiếc nhẫn thứ

nhất ra, lấy chiếc nhẫn cưới, rồi đeo lại chiếc

nhẫn thứ nhất vào ngón tay nạn nhân. Chắc chắn là

160

không bao giờ hắn làm như vậy đâu. Sau đó hắn lại

còn nhớ để một mẩu bìa cứng bên cạnh xác chết nữa.

Không thể làm kịp! Anh có nói rằng: Chiếc nhẫn cưới

đã được rút ra khỏi tay Douglas trước khi ông ta

chết. Sự kiện cây nến cháy ít như vậy, chứng tỏ

cuộc đối thoại chắc phải là ngắn ngủi. Hơn nữa một

người can đảm, liều lĩnh như Douglas liệu có tháo

ngay chiếc nhẫn cưới của mình đưa cho tên sát nhân

khi tên này mới đòi lấy không? Không, tên sát nhân

đã ở lại một mình với xác chết một thời gian nữa

sau khi cây nến được thắp lên. Nhưng phát đạn là

nguyên nhân đã gây ra cái chết. Vậy thì phát đạn

này phải được bắn sớm hơn là người ta khai báo với

chúng ta, vết máu ở trên thành cửa sổ, chính là do

Barker cố tình tạo nên ở đó để đánh lừa cảnh sát.

161

Hôm ấy, gia nhân trong lâu đài còn đi lại đến 10

giờ rưỡi đêm, vậy thì vụ án không thể xảy ra trước

giờ đó được. Đến 11 giờ kém 15 phút thì họ đi ngủ,

chỉ trừ có Ames lúc đó đang ở trong bếp.

Chiều nay, sau khi anh đi về rồi, tôi có tiến hành

một vài thí nghiệm: Khi tôi đóng kín các cửa lại,

McDonald gây ra nhiều tiếng động trong căn phòng có

án mạng; ở dưới bếp không ai nghe thấy cả. Nhưng

đứng ở căn buồng riêng của bà hầu phòng thì lại

khác: ở trong buồng của bà này, tôi vẫn nghe loáng

thoáng tiếng người thật to ở nhà trên. Tiếng nổ của

một phát súng chắc không lớn lắm, nhưng trong cái

im lặng của ban đêm, thì ở căn buồng của bà Allen

cũng có thể nghe thấy. Bà ấy có nói là hơi nặng

tai, nhưng mặc dầu vậy, bà ấy lại khai là có nghe

162

thấy tiếng một cánh cửa đập nửa giờ trước khi có

báo động. Nửa giờ trước khi báo động, nghĩa là vào

lúc 11 giờ kém 15, chắc chắn cái tiếng mà bà ta cho

là tiếng cánh cửa đập ấy, chính là tiếng súng và

thời điểm 11 giờ kém 15 ấy chính là giờ xảy ra vụ

án. Vậy ông Barker như thế nào trong khoảng thời

gian từ 11 giờ kém 15 (là lúc họ nghe thấy tiếng

súng và chạy từ trên lầu xuống) tới 11 giờ 15 (lúc

họ giật chuông để báo động với gia nhân)? Tại sao

họ lại không báo động ngay? Khi trả lời được câu

này, thì đã tiến được một bước lớn.

- Tôi tin chắc là có sự đồng lõa giữa hai con

người này. Một người đàn bà phải tàn nhẫn đến thế

nào thì mới có thể cười cợt như vậy khi chồng mới

chết có vài tiếng đồng hồ.

163

- Đúng thế. Ta ít thấy có người phụ nữ yêu chồng

mà lại chỉ mới nghe một lời khuyên đơn giản như thế

đã không vào nhìn xác của chồng. Đó, chỗ này đạo

diễn có phần “yếu” quá, vì bất luận một nhà điều

tra nào dù ngu muội đến đâu cũng phải chú ý đến

việc, ở đây thiếu hẳn những lời than khóc của phụ

nữ.

- Vậy thì Barker và bà Douglas là những thủ phạm

của vụ án này phải không?

Holmes rút cái tẩu thuốc ở mồm ra, dứ dứ vào tôi

và thở dài:

- Nếu anh muốn nói rằng, bà Douglas và Barker biết

sự thật về vụ án mạng nhưng họ cố che giấu thì tôi

đồng ý. Nhưng còn câu kết luận của anh, thì tôi

thấy chưa đủ chứng minh. Phải chăng họ đã yêu nhau

164

và đã quyết định phải ra tay? Không! Những người

trong làng đã nói là tuyệt đối không thể. Tất cả

mọi cái đều chứng minh rằng, gia đình Douglas rất

thuận hòa êm ấm.

Tôi nhanh chóng nhớ lại nét mặt tươi cười mà tôi

đã bắt gặp trong khu vườn, nên cãi lại:

- Về vấn đề này thì anh đã sai rồi.

- Ừ thì ít nhất họ cũng cho ta cái cảm giác là họ

thuận hòa với nhau. Như thế phải giả thiết rằng,

cái đôi thủ phạm kia gian giảo đến mức vừa giết

chồng, vừa đánh lừa được mọi người. Và trên đầu

người bị giết đang treo lơ lửng một mối nguy hiểm

nào đó...

- Ồ, giả thiết về mối nguy hiểm này chỉ do một

mình họ gợi ra mà thôi.

165

Holmes có vẻ suy nghĩ.

- Theo anh thì chẳng có mối nguy hiểm nào đe dọa

Douglas, chẳng có “Thung lũng khủng khiếp”. Họ bịa

ra những chuyện đó để giải thích vụ án mạng. Rồi họ

lại nghĩ ra việc bố trí một cái xe đạp giấu trong

bụi cây để chứng tỏ có sự hiện diện của một kẻ lạ

mặt. Cả vết máu trên thành cửa sổ cũng nằm trong ý

nghĩ đó. Rồi lại cả mẩu bìa cứng, đáng lẽ ra có thể

chuẩn bị ngay ở trong lâu đài. Từ cả những cái ấy

đều khớp với giả thiết của anh. Nhưng ác cái là lại

có những góc cạnh khác cứ lòi ra. Tại sao có súng

cưa nòng? Tại sao lại là súng Mỹ? Tại sao họ tin

chắc là không ai nghe tiếng súng? Anh có thể giải

thích được cho tôi nghe không, Watson?

- Xin chịu.

166

- Nếu một người đàn bà cùng tình nhân âm mưu giết

chồng, thì liệu họ có dại dột đến mức tháo chiếc

nhẫn cưới ở tay người chết ra để “lạy ông tôi ở bụi

này” không? Điều này liệu có thể xảy ra được

không?

- Không?

- Lại còn thế này nữa: Nếu chính họ là những người

giấu chiếc xe đạp trong bụi cây, thì tất họ cũng

đủ tinh khôn để nghĩ rằng, bất cứ một viên thám tử

nào cũng hiểu đây là một động tác giả, vì chiếc xe

đạp chính là cái mà một người chạy trốn cần đến đầu

tiên để tẩu thoát.

- Chịu thôi.

- Vậy chúng ta hãy giả thiết, tay Douglas này có

một bí mật đáng xấu hổ trong đời. Bí mật này đưa

167

đến chỗ hắn bị ám sát bởi một người đi báo thù.

Người này, vì một động cơ nào đó đã tháo chiếc nhẫn

cưới của hắn. Ta cũng có thể giả thiết rằng, mối

thù này có từ thời Douglas lấy người vợ trước kia,

thì mới giải thích được việc tháo chiếc nhẫn cưới.

Trước khi hung thủ trốn thoát, thì Barker và bà

Douglas ập vào phòng. Tên sát nhân nói với họ rằng

nếu họ bị bắt, thì bí mật ghê gớm của Douglas sẽ bị

đưa ra ánh sáng. Hai người buộc lòng phải để hắn

chạy trốn. Có lẽ họ đã hạ chiếc cầu xuống để cho

hắn chạy đi rồi lại kéo lên. Tên sát nhân biết rằng

đi bộ tốt hơn là dùng chiếc xe đạp nên đã để lại

chiếc xe đạp ở chỗ mà người ta khó phát hiện ra

trước khi hắn đã đi xa. Đến đây thì chúng ta vẫn

còn ở trong phạm vi những điều có thể được, đúng

168

không?

Tôi trả lời một cách không tin tưởng lắm:

- Tất nhiên là có thể được.

- Tiếp tục nhé! Sau khi đã để cho tên sát nhân

trốn thoát, hai người kia biết mình bị lâm nguy,

bởi vì làm sao chứng minh được rằng họ không giết

Douglas hay không phải là đồng lõa của tên sát

nhân. Thế rồi họ chọn một quyết định: Barker lấy

chiếc giày vải, thấm máu in vết lên thành cửa sổ để

gợi ý là tên sát nhân đã trốn theo con đường đó.

Chắc chắn là họ để chậm nửa giờ sau khi sự việc xảy

ra, rồi mới báo động.

Làm cách nào để chứng minh được những điều đó?

- Một mình tôi ở lại đây một đêm thì sẽ có kết

quả.

169

- Ở một mình suốt đêm trong căn phòng xảy ra án

mạng?

- Tôi đã thu xếp với anh bạn Ames rồi. Tôi sẽ tới

ngồi ở đó, và không khí trong phòng có lẽ sẽ gợi

cho tôi nhiều ý nghĩ hay. À, mà này, anh có mang

theo cái ô to gộc của anh đi đấy chứ?

- Có, kia kìa.

- Thế thì xin cho tôi mượn.

- Được thôi. Nhưng... nó có phải là một vũ khí

đâu.

- Không có gì nguy hiểm đâu. Bây giờ tôi chỉ còn

chờ các vị đồng nghiệp chúng ta ở Tunbridge Wells

về, họ lên đấy để xác minh chủ nhân của chiếc xe

đạp đó.

Trời tối mịt mới thấy ông thanh tra McDonald và

170

Mason trở về. Họ vui mừng ra mặt, vì họ đã tiến lên

một bước khá dài.

- Chúng tôi đã xác minh được chiếc xe đạp và đã có

được nhận dạng của người chủ nó - McDonald nói.

- Tôi xin hết lòng ca ngợi hai vị! - Holmes nói.

- Cậu Ames khai là bữa trước hôm xảy ra án mạng,

ông Douglas từ Tunbridge Wells về, có tỏ ra cáu

kỉnh khác thường. Vậy chắc là khi ở đó, ông được

biết có một nguy hiểm đang đe dọa mình. Như thế,

nếu có ai đến đây bằng xe đạp, thì người đó xuất

phát từ Tunbridge Wells. Bọn tôi mang cái xe đạp

đến đó cho các khách sạn xem. Chủ khách sạn Eagle

Commercial nhận ngay ra đó là chiếc xe của một

người Mỹ tên là Hargrave đến thuê phòng ở đó đã hai

ngày rồi. Tất cả hành lí chỉ có chiếc xe đạp với

171

một cái va-li nhỏ. Anh ta khai trong sổ đăng kí là

từ London đến, nhưng không nói rõ địa chỉ.

Holmes kêu lên sung sướng:

- Hô hô. Hai ông đã làm được một công việc hết sức

tốt, trong khi tôi và ông bạn Watson cứ ngồi đây

mà xây dựng hết giả thiết nọ đến giả thiết kia.

Đấy, óc thực tiễn có lợi là như thế đó, ông

McDonald ạ!

Ông thanh tra nở mày nở mặt, vui vẻ nói:

- Vâng, ông nói đúng đó. Tôi nói với Holmes:

- Nhưng sự phát hiện này cũng khớp với giả thiết

của anh kia mà?

- Khớp mà không khớp. Ông McDonald, ông có tìm

thấy cái gì để xác minh được người ấy không?

- Không có bất cứ một thứ giấy tờ, thư từ, dấu vết

172

gì trên quần áo. Trên bàn của hắn, có một tấm bản

đồ của vùng này. Sáng hôm qua, sau khi ăn điểm tâm

xong, hắn ở khách sạn ra, lên xe đạp đi, thế là

biến luôn. Không ai thấy hắn nữa.

Mason ngắt ngang:

- Đó! Chính chỗ này làm tôi thắc mắc đây ông

Holmes ạ. Nếu tên này muốn làm cho người ta không

chú ý đến hắn, thì hắn nên trở lại khách sạn và ở

đây như một người du lịch bình thường. Hắn thừa

biết người chủ khách sạn phải báo cáo với cảnh sát

về sự mất tích của hắn, và tất nhiên là người ta sẽ

nghĩ đến sự liên quan của hắn với vụ án mạng.

- Tất nhiên rồi, nhưng cho đến bây giờ hắn vẫn

chưa bị bắt. Mà các ông có nắm được đặc điểm nhận

dạng của hắn không?

173

McDonald mở cuốn sổ tay ra:

- Tôi đã ghi được những gì người ta nói với chúng

tôi đây. Hắn cao khoảng gần sáu feet, khoảng năm

mươi tuổi, tóc hơi hoa râm, râu cũng hoa râm, mũi

diều hâu. Về bộ mặt của hắn, mọi người đều mô tả là

dữ dằn và đáng ngại.

- Trời đất! Trừ điểm cuối cùng ra, thì phải nói là

giống hệt một bức chân dung của chính Douglas. Tay

này cũng khoảng hơn năm mươi tuổi một tí, tóc cũng

hoa râm, râu cũng hoa râm, và cũng cao cỡ đó. Các

ông có chi tiết nào khác nữa không?

- Hắn mặc bộ quần áo màu xám rộng thùng thình, một

cái áo khoác màu vàng, ngắn, và đội một cái mũ

mềm.

- Còn về khẩu súng?

174

- Một khẩu súng dài khoảng hai feet có thể xếp

được hoàn toàn trong chiếc va-li, và giấu dưới áo

khoác.

- Thế bây giờ các ông định liên kết những tin tức

mới này vào khung cảnh của vụ án như thế nào?

Mac McDonald trả lời:

- Hiện nay, chúng ta chỉ mới biết có một người Mỹ,

tên là Hargrave, ngày hôm kia đến Tunbridge Wells

với một chiếc xe đạp và một cái va-li. Trong va-li

có một khẩu súng săn cưa nòng. Sáng hôm qua, hắn đi

xe đạp tới làng Birlstone và đã giấu khẩu súng

dưới áo khoác. Theo chỗ chúng ta biết, thì không ai

trông thấy hắn đến đây. Nhưng hắn cũng không cần

đi qua làng vẫn có thể đến được cổng sắt của lâu

đài. Con đường hắn đi cũng có nhiều người đi xe đạp

175

như hắn. Tôi đoán rằng, hắn đã giấu ngay chiếc xe

đạp trong những bụi cây trúc đào. Bản thân hắn cũng

nấp ở đó để rình ông Douglas ở lâu đài ra. Ở trong

nhà thì khẩu súng săn đúng là bất lợi, nhưng ở

ngoài trời thì có hai ưu điểm rõ ràng: Trước hết,

nó giết được người một cách chắc chắn, sau nữa sẽ

không có ai để ý đến tiếng nổ, trong một vùng nông

thôn có nhiều người đi săn.

- Rất rõ ràng! - Holmes nói.

- Nhưng ông Douglas lại không ra khỏi lâu đài. Vậy

thì tên sát nhân có thể làm gì được bây giờ? Hắn

bỏ chiếc xe đạp ở đó và chờ sẩm tối mới lần mò vào

gần lâu đài. Hắn thấy cây cầu rút vẫn còn hạ xuống

và xung quanh thì vắng vẻ. Hắn liều đi vào và chắc

là có chuẩn bị trước một lí do gì đó để xin lỗi nếu

176

có gặp người trong nhà. Hắn không gặp ai cả. Hắn

lẻn vào cái phòng gần nhất và trốn sau bức rèm cửa.

Ở đó, hắn trông thấy cây cầu được rút lên, và hắn

hiểu rằng sẽ phải lội qua hào để trốn. Hắn đợi đến

11 giờ 15. Đến giờ này ông Douglas bước vào buồng.

Hắn giết ông ta và chạy trốn. Hắn biết rằng chiếc

xe đạp của hắn có thể bị những người trong khách

sạn nhận ra được, vì thế hắn đã bỏ nó lại, và dùng

một phương tiện giao thông khác để trở về London.

- Rất rõ ràng. Nhưng tôi lại tin án mạng đã xảy ra

sớm hơn nửa giờ so với thời điểm người ta đã nói

với chúng ta. Rằng bà Douglas và ông Barker đã cùng

nhau che giấu một cái gì đó, đã giúp đỡ cho tên

sát nhân trốn thoát, đã tạo ra những dấu vết để làm

cho người ta tưởng là hắn đã trốn qua đường cửa

177

sổ, và có nhiều khả năng là họ đã hạ cây cầu rút

xuống cho hắn trốn.

Hai nhà thám tử của nhà nước gật gù. Ông thanh tra

McDonald nói:

- Nếu cách nhìn của ông mà đúng, thì chúng ta chỉ

chuyển từ một bí mật này sang một bí mật khác thôi.

Mason bổ sung:

- Nhưng về một số mặt nào đó thì lại vấp phải một

bí mật gay go hơn nữa. Bà Douglas chưa hề sang Mỹ.

Vậy thì bà ta có thể liên hệ như thế nào với một

tên sát nhân người Mỹ?

- Tôi công nhận là có rất nhiều khó khăn. Tôi dự

tính tối nay sẽ tiến hành một cuộc điều tra theo

cách riêng của tôi.

- Chúng tôi có thể giúp ông được không, ông

178

Holmes?

- Không. Chỉ cần bóng tối và chiếc ô của bác sĩ

Watson thôi, ông Ames sẽ giúp tôi một vài điều.

*

* *

Khi Holmes trở về phòng trọ thì đêm đã khuya lắm

rồi. Lúc Holmes mở cửa vào phòng, tôi hỏi nhỏ:

- Thế nào Holmes, có thấy gì không?

Holmes cầm một ngọn nến, cúi xuống thì thầm vào

tai tôi:

- Anh có sợ khi phải ngủ chung phòng với một thằng

điên không?

- Không.

- Ồ, thế thì hạnh phúc cho anh đó.

Thế rồi không nói thêm một lời nào nữa, anh chui

179

vào chăn.

7. GIẢI ĐÁP

Sáng hôm sau, chúng tôi đi gặp ông thanh tra

McDonald và thám tử Mason. Họ đang họp trong cơ

quan cảnh sát địa phương. Phía trước mặt họ, trên

bàn có cả xấp những thư và điện tín đã được xếp thứ

tự cẩn thận.

Holmes vui vẻ nói:

- Vẫn trên đường đi tìm vận động viên đua xe đạp

chứ? Tin tức cuối cùng như thế nào?

McDonald buồn rầu chỉ tập thư tín, nói:

- Người ta đã bắt hai chục người mặc áo khoác màu

vàng ở khắp nơi.

Holmes kêu lên với một giọng chân thành:

- Sáng nay, tôi đến đây để khuyên các bạn một lời.

180

Lời khuyên này có thể tóm tắt trong ba chữ: “Bỏ vụ

án”.

McDonald và Mason vô cùng kinh ngạc. Mãi rồi ông

thanh tra mới kêu lên được:

- Ông thấy vụ án này tuyệt vọng đến thế kia à?

- Theo cách điều tra của các ông, thì sẽ không đi

đến đích. Nhưng chúng ta không được phép tuyệt vọng

trong khi đi tìm chân lí.

- Thế cái tên đi xe đạp ấy thì sao? Hắn có phải là

một vật tưởng tượng ra đâu. Nhất định hắn phải ở

một nơi nào chứ?

- Vâng, hắn phải ở một nơi nào đó, và chúng ta sẽ

tìm thấy hắn trong một phạm vi hẹp hơn nhiều.

Ông thanh tra phản đối với một giọng bực tức rõ

ràng:- Ông giấu chúng tôi điều gì vậy, ông Holmes?

181

- Ông McDonald! Tôi chỉ giấu ông trong một thời

gian ngắn thôi - những gì tôi chưa thể cho ông biết

được. Tôi muốn thẩm tra lại một số chi tiết. Việc

thẩm tra xong, lúc đó tôi sẽ trở về London sau khi

đã thông báo với các ông tất cả kết quả tôi đã thu

lượm được.

- Chiều hôm qua ông đồng ý đối với những nét chính

của những kết quả của chúng tôi. Nhưng hôm nay thì

hình như có chuyện gì đó đã xảy ra làm ông thay

đổi hoàn toàn.

- Vâng. Tối hôm qua tôi đã đến ở lâu đài mấy tiếng

đồng hồ.

- Thế thì sao?

- Tôi có đọc một tài liệu ngắn về tòa lâu đài. Tôi

182

mua nó mấy xu ở quán bán thuốc lá trong làng.

Holmes rút ở túi áo ngoài ra một tờ giấy nhỏ có vẽ

một bức hình thô sơ của tòa lâu đài cũ.

- Những loại tài liệu như thế này mang đến nhiều

điều hấp dẫn cho cuộc điều tra. Tôi xin phép đọc

ông nghe một đoạn sau này:

“Được dựng lên trong năm thứ năm của triều đại vua

James I trên vị trí của một lâu đài cũ cổ xưa hơn,

lâu đài Birlstone là một trong những hình ảnh rất

đẹp còn nguyên vẹn của loại phủ thất có hầm vào

thời các vua Jacobean...”

- Ông định chế nhạo chúng tôi ư, ông Holmes?

- Đây là lần đầu tiên tôi thấy ông nổi cáu đấy.

Thôi tôi không đọc nữa. Nhưng nếu tài liệu này nói

đến việc một ông đại tá của Quốc hội đã chiếm lấy

183

tòa lâu đài này vào năm 1644; việc nhà vua Charles

có trốn tránh ở đây vài ngày trong thời kì Nội

chiến; và nhà vua George II cũng đã có ở đây... thì

chắc ông sẽ đồng ý với tôi là những việc này có

thể gợi cho chúng ta nhiều ý nghĩ liên hệ lắm.

Nhà thám tử sốt sắng trả lời ngay:

- Tôi đồng ý với ông về điều đó, ông sắp đến đích,

nhưng ông quá kín đáo.

- Tối hôm qua, tôi có tới lâu đài. Tôi không gặp

ông Barker, cũng không gặp bà Douglas, nhưng tôi

được biết rằng, bà chủ lâu đài đã dùng bữa tối một

cách rất ngon miệng. Tôi chỉ cần gặp anh Ames thôi,

anh ta đã đồng ý cho tôi ở lại một mình trong căn

buồng xảy ra án mạng và Ames cam đoan sẽ giữ kín về

việc này.

184

- Thế nào? Ở lại cạnh cái...

- Không! Mọi vật đã được dọn dẹp cả rồi. Vì vậy

tôi đã sống một vài giờ rất có ích ở đó.

- Có ích thế nào, thưa ông?

- Tôi đi tìm quả tạ còn thiếu. Và tôi sắp thấy nó.

- Ở đâu vậy?

- Xin để tôi tiếp tục tìm kiếm. Ông thanh tra càu

nhàu:

- Ông muốn thế nào, chúng tôi cũng phải theo thế

thôi. Nhưng bắt buộc bỏ vụ án này đi thì... Mà, tại

sao lại phải bỏ?

- Bởi mục đích cuộc điều tra về vụ ám sát ông

Douglas. Các ông đừng mất công đi tìm cái tên đi xe

đạp nữa. Chuyện đó không đi đến đâu cả.

185

- Chúng tôi phải làm gì?

- Tôi xin nói cặn kẽ, nếu các ông muốn.

- Tôi sẽ làm theo lời khuyên của ông.

- Thế còn ông, ông Mason?

Nhà thám tử địa phương có phần hơi ngơ ngác,

phương pháp làm việc của Holmes hoàn toàn mới lạ

đối với ông ta.

- Vâng, ông thanh tra đã đồng ý, thì tôi cũng đồng

ý.

- Hoan hô! Vậy cả hai ông hãy tổ chức một cuộc dạo

chơi cho thật thoải mái. Người ta có nói với tôi

là đứng từ trên cao nhìn xuống, sẽ thấy phong cảnh

của cánh rừng Weald tuyệt đẹp.

McDonald nổi cáu, đứng phắt lên:

- Ông Holmes, ông đã đi quá giới hạn của sự bông

186

đùa rồi đó! Holmes vỗ nhè nhẹ vào vai ông ta:

- Thôi được! Thế thì xin tùy các ông, nhưng nhất

định phải đến tìm tôi ở đây, trước buổi tối nay.

- Thật là quá lắm!

- Bây giờ, trước khi tôi đi, tôi nhờ ông viết mấy

chữ cho ông Barker.

- Viết gì kia?

- Xin mời ông viết: “Thưa ông, chúng tôi nghĩ

rằng, chúng tôi có nhiệm vụ phải tát cạn con đường

hào để hi vọng có thể tìm thấy...”

Ông thanh tra phản đối ngay:

- Tôi đã đích thân tìm xem có cách gì để tát cạn

đường hào hay không, nhưng thấy không thể được.

- Xin ông cứ viết.

- Thôi được, ông đọc tiếp đi.

187

- “... một yếu tố mới có liên quan đến cuộc điều

tra. Chúng tôi đã sắp sẵn cả. Sáng sớm mai, công

nhân sẽ bắt tay vào việc đổi hướng dòng nước...”

- Tôi nhắc lại với ông rằng không thể được mà!

- “... Chúng tôi thấy nên báo để ông biết trước.”

Vào khoảng độ 4 giờ chiều, ông hãy cho người đưa

thư tận tay ông Barker. Đó cũng là giờ chúng ta sẽ

gặp lại nhau ở đây. Trong khi chờ đợi, ai muốn giải

trí thế nào thì xin tùy thích, vì cuộc điều tra

đang giậm chân tại chỗ.

Buổi chiều tối, chúng tôi gặp lại nhau như đã dự

định, vẻ mặt Holmes rất nghiêm trang. Tôi thì tò

mò, còn hai vị thám tử thì nghi ngờ ra mặt.

Holmes bắt đầu một cách trịnh trọng:

- Thưa các ông, bây giờ chúng ta phải tới được chỗ

188

đứng quan sát trước khi trời tối hẳn. Chúng ta nên

đi ngay bây giờ.

Chúng tôi đi dọc theo bờ ngoài khu vườn của lâu

đài và đến trước một lỗ hổng trên hàng rào. Chúng

tôi chui qua lỗ đó. Holmes dẫn chúng tôi đến đằng

sau một bụi cây nhìn chếch sang phía cổng chính và

cây cầu, lúc đó còn chưa rút lên. Holmes ngồi xổm

sau bụi cây. Chúng tôi cũng làm theo anh ta.

McDonald hỏi bằng một giọng bực tức:

- Làm gì bây giờ đây?

- Hãy kiên nhẫn và đừng gây ra tiếng động.

- Ông nên thành thật với chúng tôi hơn. Holmes bật

cười:

- Ông McDonald, tôi xin ông kiên nhẫn một chút,

rồi tất cả sẽ sáng tỏ thôi.

189

Đêm xuống dìm cả tòa lâu đài vào bóng tối. Một màn

sương lạnh từ đường hào bay lên làm chúng tôi rét

thấu xương. Trên khung cửa chính chỉ có một ngọn

nến được thắp, và trong căn buồng có án mạng cũng

có một ngọn đèn khác đang cháy, còn tất cả xung

quanh tối đen như mực. Đột nhiên ông thanh tra lại

cất tiếng hỏi:

- Phải chờ bao lâu nữa, và chờ cái gì?

- Tôi không biết phải chờ bao lâu. Nếu những tên

tội phạm hoạt động đúng giờ giấc như những chuyến

tàu chạy, thì đỡ cho chúng ta biết bao. Còn việc

chúng ta chờ... À mà kia, việc chúng ta chờ kia

kìa!

Trong khi Holmes nói, thì ánh sáng trong căn buồng

đã bị che khuất đi bởi một người đi đi lại lại

190

trước nó. Sau đó, cửa sổ mở toang và bóng một người

đàn ông nhô ra quan sát bóng tối. Hắn nhìn ngược

nhìn xuôi trong mấy phút rồi cúi xuống, và trong

đêm khuya yên lặng, chúng tôi nghe thấy tiếng nước

vỗ nhè nhẹ. Tôi có cảm giác là người đó đang dìm

một vật gì cầm trong tay xuống đường hào. Sau cùng

anh ta kéo vật gì lên: Một vật gì đó to, tròn, khi

được đem qua cửa sổ, nó che khuất cả ánh sáng ngọn

đèn.

Holmes kêu lên:

- Nào, bây giờ. Ta vào đi!

Chúng tôi chồm lên, líu tíu chạy theo Holmes.

Holmes đã chạy tới chiếc cầu rút và giật chuông ầm

ĩ. Ở phía bên kia cửa, các chốt được tháo ra. Ames

hiện ra trong khung cửa, vẻ mặt ngơ ngác. Holmes

191

chẳng nói chẳng rằng, gạt anh ta sang bên, rồi cùng

ba chúng tôi xông vào căn buồng.

Ngọn đèn dầu hỏa để trên bàn là nguồn ánh sáng mà

chúng tôi trông thấy từ bên ngoài. Lúc này, nó đang

ở trong tay của Barker, và ông ta đang hướng về

phía chúng tôi. Nó chiếu lên khuôn mặt cả quyết

cương nghị và cặp mắt đe dọa thách thức.

- Thế này là thế nào? Các ông tìm gì?

Holmes nhìn xung quanh, rồi nhảy bổ tới một cái

gói ướt sũng có buộc dây để trên bàn.

- Chúng tôi tìm cái này đây. Cái gói có một quả tạ

mà ông vừa kéo dưới đáy hào lên.

Barker kinh ngạc:

- Vì sao ông lại biết có quả tạ trong ấy?

- Bởi vì chính tôi đã để quả tạ ấy vào đó.

192

- Ông đã để quả tạ vào đó? Holmes chữa lại:

- Ông còn nhớ chứ, ông thanh tra, việc thiếu một

quả tạ ngay từ đầu đã đập vào trí tôi. Khi nước thì

gần kề ngay bên, mà lại thấy thiếu một vật nặng,

thì có lẽ có một vật gì đó đã được nhấn chìm xuống

nước. Với sự giúp sức của Ames, tôi đã vào được căn

phòng này, và với cái ô của bác sĩ Watson, tôi đã

vớt vật này lên và xem xét nó. Nhưng điều cơ bản là

phải chứng minh được rằng ai đã dìm cái gói đó.

Bức thư của ông McDonald báo trước ngày mai sẽ tát

hào. Tin này bắt buộc người đã giấu cái gói đó phải

chờ đêm tới, lôi nó lên. Vậy ông Barker, đã đến

lúc ông phải giải thích.

Holmes đặt cái gói còn ướt sũng lên bàn, và tháo

dây ra. Đầu tiên anh lôi ra một quả tạ, kế đó là

193

một đôi giày da mũi vuông.

- Giày kiểu Mỹ, như các ông thấy đấy! - Holmes

nói.Sau đó anh để lên bàn một con dao dài còn nằm

trong bao. Rồi anh giở ra một mớ quần áo, gồm một

bộ quần áo lót, một đôi tất, một bộ quần áo bằng

vải tuýt xám, và một áo khoác màu vàng.

- Quần áo thì thường thôi. Chỉ có cái áo khoác là

đáng chú ý - Holmes nói.

Anh nhẹ nhàng trải nó ra trước ánh sáng, những

ngón tay dài lần theo các đường khâu.

- Xem đây, túi trong của nó kéo dài mãi trong lần

lót để có thể giấu được một khẩu súng cưa nòng. Tên

hiệu của người thợ may dính trên cổ áo đây: “Neal,

thợ may, Vermissa, USA”. Tôi đã ở cả chiều hôm nay

trong căn phòng đọc sách của ông hiệu trưởng

194

trường, và đọc thêm được một điều mới nữa:

“Vermissa” là tên của một thành phố nhỏ, trong

thung lũng nổi tiếng về các mỏ sắt và mỏ than tại

Mỹ. Nếu tôi không quên, thì thưa ông Barker, chính

ông đã có nói đến mối liên quan giữa những khu mỏ

và người vợ trước của ông Douglas. Cho nên tôi suy

luận từ đó ra rằng, mấy chữ “V.V.” trên miếng bìa

cứng tìm thấy bên cạnh người chết là chữ viết tắt

của

“Vermissa Valley” (Thung lũng Vermisa), và chính

cái thung lũng này đã cử một người mang cái chết

đến tận đây. Tất cả những điều ấy đã đủ rõ ràng. Và

bây giờ, đến lượt ông, thưa ông Barker.

Trong lúc nghe Holmes trình bày, gương mặt Barker

lần lượt hiện lên nét căm giận, kinh ngạc, buồn

195

rầu, lúng túng. Cuối cùng, ông ta lẩn trốn trong

một thái độ mỉa mai và cười gằn:

- Ông biết nhiều đến thế, thì xin ông cứ nói thêm

cho chúng tôi nghe.

- Tôi có thể nói thêm được nữa, nhưng sẽ lịch sự

hơn, nếu ông nói tiếp hộ cho tôi.

- Ồ, ông tưởng thế à? Nếu ở đây có một bí mật gì,

thì cái đó không phải là bí mật của tôi, và tôi

không thể nói ra bí mật của người khác.

Ông thanh tra bình tĩnh:

- Nếu ông nghĩ như vậy, thì bắt buộc chúng tôi

phải canh giữ ông cho đến khi chúng tôi nhận được

trát bắt ông.

Barker trả lời bằng một giọng đầy thách thức: -

Ông cứ làm.

196

Sự đối chất hình như đã kết thúc. Bộ mặt rắn như

đá hoa cương của Barker cho thấy rằng, không có một

sự đe dọa nào có thể bắt được ông ta nói. Nhưng bà

Douglas đã bước vào phòng.

- Anh Barker, anh đã giúp chúng tôi quá nhiều rồi.

Sherlock Holmes tán thành với một giọng nói rất

trang nghiêm:

- Tôi rất thông cảm với bà, và tôi xin khuyên bà

nên tự giác báo cáo với cảnh sát. Chính tôi cũng có

lỗi vì đã không đáp ứng lời thỉnh cầu của bà, khi

bà nói với bác sĩ Watson đây. Lúc đó tôi tin rằng,

bà là người có dính líu trực tiếp đến án mạng. Bây

giờ tôi biết là không phải thế.

Bà Douglas thốt ra một tiếng kêu kinh ngạc khi

nghe những lời nói cuối cùng của Holmes.

197

Hai nhà thám tử và cả tôi nữa có lẽ cũng đã kêu

lên như thế, khi chúng tôi trông thấy một người tựa

như từ trong bức tường hiện ra, đang bước dần ra

khỏi bóng tối, tiến về phía ánh đèn. Bà Douglas

nhào vào, ôm lấy cổ người đó. Barker cũng nắm chặt

một cách trìu mến bàn tay của người đó. Bà Douglas

nhắc đi nhắc lại:

- Anh yêu quý, có lẽ thế này tốt hơn anh ạ! Holmes

gật đầu tán thành:

- Vâng, đúng đấy, thưa ông Douglas.

Ông Douglas chớp chớp đôi mắt màu xám, một bộ râu

cứng đã hoa râm, một cái cằm vuông nhô ra, và một

cái miệng nhạy cảm. Ông ta lần lượt nhìn chúng tôi,

rồi bỗng tiến về phía tôi và đưa cho tôi một tập

giấy, làm tôi hết sức ngạc nhiên.

198

Ông ta nói bằng một giọng hết sức dễ chịu:

- Tôi biết ông, bác sĩ Watson, chưa bao giờ ông có

một câu chuyện giống như câu chuyện này. Tôi đã tự

giam mình trong hai ngày, và đã lợi dụng những giờ

có ánh sáng, trong cái lỗ chuột ấy, để viết lại

toàn bộ sự việc. Đó là câu chuyện về “Thung lũng

khủng khiếp”.

Holmes xen vào:

- Ông Douglas, đó là câu chuyện về quá khứ. Bây

giờ chúng tôi muốn biết câu chuyện của hiện tại

kia.- Ông sẽ được nghe ngay bây giờ. Tôi có thể

vừa hút thuốc, vừa đọc được không? Xin cám ơn ông

Holmes.Ông ta đứng dựa lưng vào lò sưởi, kéo những

hơi thuốc dài.

- Tôi có được nghe nhiều về ông, ông Holmes. Tôi

199

không nghĩ rằng có ngày tôi lại được làm quen với

ông. Nhưng khi ông đã đọc xong tất cả những cái

này... - Ông ta chỉ vào tập giấy vừa đưa cho tôi -

Thì chắc chắn ông sẽ nói rằng tôi có đem lại cho

ông một điều gì mới lạ.

Ông thanh tra McDonald vẫn không rời mắt nhìn

Douglas, mãi rồi mới nói lên được:

- Chuyện này thật vượt quá sức hiểu biết của tôi!

Hai ngày nay chúng tôi điều tra về cái chết của

ông, vậy mà bây giờ ông như một bóng ma từ dưới mồ

chui lên vậy.

Holmes trách móc, chỉ về phía ông thanh tra:

- Trong tài liệu mà tôi đã đưa cho ông, có mô tả

cái cách vua Charles đã ẩn náu trong lâu đài này.

Một chỗ trú ẩn dùng trong thế kỉ thứ XVII, rất có

200

thể còn dùng được cho đến ngày nay.

Ông thanh tra nổi giận thật sự, hỏi lại:

- Thế ông đã đóng kịch với chúng tôi từ bao lâu

rồi, ông Holmes?

- Chỉ mới từ tối hôm qua thôi. Vì phải đợi đến tối

nay mới có thể chứng minh được điều này, nên tôi

có mời quý ông nghỉ xả hơi một ngày. Khi đã thấy

gói quần áo trong đường hào, tôi biết rằng xác chết

kia không phải là xác của ông Douglas mà là người

đi xe đạp. Vì vậy tôi phải đi tìm nơi ông Douglas

ẩn nấp, ông ấy đã ẩn nấp được với sự yểm trợ của vợ

và bạn ông ta.

- Ông lí luận rất đúng. Tôi hài lòng vì đã gạt bỏ

được những con chó vẫn đi tìm dấu chân tôi. Ông

thanh tra, tôi sẽ nói hết: Có một vài người có

201

nhiều lí do để căm thù tôi và sẵn sàng giết tôi.

Chừng nào mà chúng còn sống, thì tôi không hề có an

ninh. Chúng đã theo tôi từ Chicago đến California,

rồi còn bắt buộc tôi phải rời khỏi châu Mỹ. Khi

tôi cưới vợ và về sống ở đây, tôi đã tưởng những

năm cuối cùng của đời tôi là vô sự. Tôi chưa bao

giờ nói rõ cho nhà tôi hiểu mọi chuyện, vì nếu

biết, nhà tôi cũng sẽ luôn luôn sống trong lo sợ...

Douglas nắm chặt lấy tay vợ:

- ... Thưa các ông, một ngày trước hôm xảy ra sự

việc, tôi có đi Tunbridge Wells, và có gặp một

người ở ngoài phố. Chỉ thoáng nhìn hắn thôi, tôi

cũng biết hắn là kẻ thù tệ hại nhất của tôi. Tôi

trở về đây và tiến hành những biện pháp tự vệ.

202

Tôi đã cảnh giác không bước chân ra đến ngoài

vườn. Khi cây cầu đã được kéo lên, tôi mới yên tâm

hơn, tôi không ngờ rằng hắn đã lẻn vào trong tòa

lâu đài và chờ tôi ở đây. Khi đi kiểm tra, vừa đặt

chân vào căn buồng này thì tôi đã cảm thấy ngay có

sự nguy hiểm. Tôi thấy một đôi giày thò ra dưới bức

rèm cửa sổ, và một giây đồng hồ sau, tôi thấy cả

con người đang nấp ở đó. Lúc đó tôi chỉ có một cây

nến cầm ở tay, nhưng cây đèn ở buồng ngoài cũng

chiếu sáng khá tốt. Tôi để cây nến xuống bàn, và

nhảy đến chộp lấy cây búa trên lò sưởi. Cùng lúc

đó, hắn nhảy bổ vào tôi. Tôi trông thấy ánh lên một

lưỡi dao nhọn, và tôi đã đập hắn bằng một nhát búa

quay ngang. Con dao rơi xuống sàn. Hắn đã lanh lẹ

vòng qua chiếc bàn và lôi ra một khẩu súng giấu

203

dưới chiếc áo khoác. Tôi nghe thấy hắn lên đạn,

nhưng tôi đã nắm được khẩu súng. Tôi nắm được nòng

súng. Tôi với hắn vật lộn trong khoảng một hai phút

gì đó. Hắn không rời khẩu súng, nhưng đã để báng

súng chúc xuống đất. Không biết là tôi đã bóp cò,

hay chính hắn đụng phải cò. Chỉ biết rằng hắn đã

nhận đủ cả hai viên đạn vào mặt.

Tôi đang đứng bám vào thành bàn thì anh Barker

chạy vào. Tôi cũng nghe thấy tiếng chân nhà tôi

chạy đến nữa. Tôi ngăn nhà tôi lại. Tôi hứa với nhà

tôi là sẽ lên với bà ấy ngay. Tôi nói đôi câu với

anh Barker, và chỉ thoáng nhìn qua là anh đã hiểu

hết tất cả mọi chuyện. Chúng tôi chờ gia nhân trong

lâu đài chạy đến. Nhưng chẳng thấy ai đến cả. Lúc

đó chúng tôi mới biết rằng không ai nghe thấy tiếng

204

súng nổ, và chỉ có chúng tôi biết việc gì vừa mới

xảy ra thôi.

Chính vào lúc này tôi chợt có một ý kiến. Tôi vén

cánh tay áo của hắn lên, và chúng tôi thấy ngay cái

dấu hiệu của hội kín ở trên đó. Đây, các ông

xem...Douglas cũng vén tay áo ngoài và tay áo

sơ-mi lên, chỉ cho chúng tôi thấy một cái hình tam

giác màu nâu nằm trong một đường tròn, giống như

cái hình chúng tôi đã thấy trên tay xác chết.

- Khi tôi nhìn thấy cái dấu hiệu đó, tôi bắt đầu

xếp đặt kế hoạch. Hắn cũng cỡ người như tôi, cũng

tóc hoa râm và dáng dấp cũng gần giống tôi. Còn về

bộ mặt thì chẳng còn ai phân biệt rõ được nữa. Tôi

trở về phòng để lấy một bộ quần áo, và mười lăm

phút sau thì Barker và tôi đã mặc vào cho hắn một

205

cái áo khoác ngoài của tôi, rồi đặt hắn nằm như các

ông đã thấy. Chúng tôi bọc hết quần áo của hắn vào

trong một cái gói, rồi buộc thêm vào đó quả tạ -

vật nặng duy nhất mà tôi tìm thấy lúc bấy giờ, sau

đó đem ném cả gói qua cửa sổ. Mẩu bìa cứng mà hắn

định để cạnh xác tôi, thì nay tôi đem để cạnh xác

hắn. Tôi đeo mấy cái nhẫn của tôi vào ngón tay hắn,

nhưng đến cái nhẫn cưới thì...

Douglas chìa ra một bàn tay to lớn.

- Từ ngày cưới nhà tôi đến giờ, tôi chưa hề tháo

nó ra, và bây giờ có lẽ phải có một cái giũa thì

mới lấy nó ra được. Tôi phải bóc cả miếng băng dính

dưới cằm của tôi và dán vào cùng một chỗ trên phần

còn lại của đầu kẻ thù. Ông Holmes, mặc dù ông là

người tinh khôn, nhưng ông cũng đã có lúc sơ ý, vì

206

nếu ông giở miếng băng dính ấy lên, thì ông sẽ thấy

ở dưới không có một dấu đứt nào cả.

Tôi định ẩn náu ít lâu, rồi đi đến một nơi nào đó,

nhà tôi sẽ đến sau, như thế may ra tôi còn có thể

sống yên ổn được trong những ngày cuối cùng của đời

mình.

Bây giờ tôi có một điều muốn hỏi các ông: Đối với

luật pháp nước Anh, thì tội của tôi sẽ như thế nào?

Tất cả mọi người đều yên lặng. Mãi sau, Holmes mới

lên tiếng:

- Luật pháp nước Anh, nói chung, là một luật pháp

đúng đắn. Luật pháp này sẽ công bằng đối với ông.

Nhưng tôi muốn biết tại sao người đó lại biết ông ở

đây, và hắn làm cách nào mà lọt được vào căn buồng

207

này?

- Tôi hoàn toàn không biết.

Holmes tái nhợt, rất nghiêm trọng, nói như thì

thầm:- Như thế thì câu chuyện này chưa kết thúc

đâu. Ông sẽ còn phải đương đầu với những mối nguy

hiểm còn ghê gớm hơn cả những kẻ thù của ông ở bên

Mỹ nữa kia. Xin ông hãy theo lời khuyên của tôi:

Hãy hết sức cảnh giác.

Và bây giờ, xin mời các bạn độc giả hãy theo tôi

rời lâu đài Birlstone, lùi về quá khứ hai mươi năm,

vượt qua vài ngàn cây số về phía Tây, để nghe một

câu chuyện lạ lùng và khủng khiếp. Và sau đó chúng

ta sẽ trở lại gian buồng ở đường Baker, là nơi sẽ

viết chương cuối cùng của câu chuyện này.

II. NHỮNG NGƯỜI TIÊN PHONG

208

1. CON NGƯỜI ẤY

Ngày 4 tháng 3 năm 1875, tuyết phủ đầy các đường

đèo của ngọn núi Gilmerton. Chiếc xe quét tuyết đã

dọn sạch được con đường tàu hỏa nối liền các trung

tâm mỏ than và sắt. Một con tàu đang ì ạch leo lên

con đường đèo chạy từ tỉnh Stagville lên thị trấn

Vermissa ở ngay đầu thung lũng Vermissa. Từ đó,

đường tàu lại đổ xuống đến giao điểm của Barton và

vùng nông nghiệp Merton. Hàng dãy dài những toa xe

goòng chất đầy than hoặc quặng sắt đã lôi kéo đến

đây cả một số lớn những người nhiều ý chí.

Mà vùng này hiểm ác thật. Những ngọn núi trọc,

trắng xóa tuyết nhô lên từ những cánh rừng tối tăm,

rậm rạp đã tạo ra một thung lũng dài ngoằn ngoèo

và lộng gió. Chính trong thung lũng này, con tàu

209

đang bò dần lên, vừa đi vừa thở phì phò.

Mấy ngọn đèn dầu hỏa mới vừa được thắp lên, trên

toa hành khách thứ nhất có khoảng độ hai mươi hay

ba mươi người. Phần đông họ là những thợ thuyền đi

làm việc ở dưới thung lũng về. Ít nhất cũng có đến

mười, mười hai người mặt mũi nhem nhuốc, có đeo

những cây đèn bảo hộ. Họ hút thuốc và nói chuyện rì

rầm, thỉnh thoảng liếc nhìn về phía hai người cảnh

sát mặc sắc phục đang đứng ở đầu toa. Có cả một số

nữ công nhân và vài ba người buôn bán ở địa

phương. Nhưng ở một góc toa tàu, có một người trẻ

tuổi đang ngồi một mình.

Anh ta gần ba mươi tuổi, nước da tươi tắn, vóc

người trung bình. Đôi mắt màu xám mở to vừa khôn

ngoan, vừa tinh nghịch, lóng lánh sau cặp kính. Rõ

210

ràng đây là một con người cởi mở và giản dị, nụ

cười sẵn sàng nở trên môi. Mới thoạt nhìn thì như

vậy. Nhưng quan sát kĩ thêm nữa, sẽ thấy một cái

quai hàm rắn chắc và xung quanh đôi môi có những

vết nhăn nghiêm nghị, chứng tỏ cái anh chàng trẻ

tuổi xứ Ireland này cũng không phải tay vừa.

Sau một, hai lần thử bắt chuyện với người thợ mỏ

gần nhất và chỉ nhận được vài tiếng càu nhàu trả

lời, anh chàng đành ngồi yên, buồn bã nhìn qua cửa

kính, ngắm phong cảnh chẳng có gì hấp dẫn. Đêm

xuống dần, những tia lửa đỏ của các lò đúc lập lòe

trên các sườn núi, soi sáng những đống than và xỉ

quặng cùng những giếng mỏ. Rải rác đó đây, dọc theo

đường tàu, những xóm nhà gỗ nhỏ đã bắt đầu lên

đèn. Tàu dừng lại ở nhiều nơi, ở mỗi nơi lại có

211

những toán thợ thuyền bước xuống. Người hành khách

trẻ tuổi ngắm nhìn xứ sở u buồn này một cách vừa

chăm chú vừa ghê sợ. Thỉnh thoảng anh ta lại lôi từ

trong túi ra một phong thư dày cộm, đọc một vài

đoạn rồi lại hí hoáy ghi vài chữ lên đó. Có một

lần, anh ta lôi từ đằng sau chiếc thắt lưng ra một

khẩu súng lục. Khi anh ta nghiêng nó về phía ánh

sáng đèn, thì thấy rõ là súng đã lên đạn. Anh ta

lại vội nhét nó vào trong túi áo. Một người thợ

nói:

- Này anh bạn, anh có vẻ chuẩn bị dữ quá đấy!

Người trẻ tuổi mỉm cười, hơi lúng túng:

- Đúng, ở chỗ tôi sống trước đây, đôi lúc cần đến

nó.

- Thế anh ở đâu đến?

212

- Ở Chicago.

- Anh chưa đến đây bao giờ?

- Chưa.

- Rồi sẽ thấy, ở đây anh cũng cần nó.

- Thật không?

- Anh chưa nghe gì ở đây à?

- Chưa.

- Thế mà tôi cứ tưởng là chuyện đã lan ra khắp xứ

rồi chứ. Nhưng không lâu đâu, rồi anh sẽ biết hết.

Thế tại sao anh lại đến cái thung lũng này?

- Tôi tìm việc làm.

- Anh có vào nghiệp đoàn không?

- Có chứ.

- Thế thì anh sẽ được toại nguyện. Anh có bạn bè

không?

213

- Chưa, nhưng sẽ có.

- Nhờ đâu?

- Tôi là hội viên của “Hội những Người Tự Do”,

trong mỗi tỉnh đều có một chi hội.

Người thợ sửng sốt, liếc nhìn những người cùng

ngồi trong toa với cặp mắt ngờ vực.

Nhưng những người thợ mỏ vẫn rì rào nói chuyện.

Hai người cảnh sát thì ngủ gà ngủ gật. Người thợ

liền đứng dậy đi lại gần người trẻ tuổi, ngồi xuống

bên cạnh anh ta, chìa tay ra và nói:

- Vậy hãy bắt tay tôi đi.

Họ trao đổi nhau một cái bắt tay theo một kiểu

riêng nào đó.

- Được rồi. Anh đã nói thật. Nhưng tôi muốn chắc

chắn hơn kia...

214

Người thợ giơ tay phải lên ngang tầm mắt phải. Anh

trẻ tuổi vội giơ ngay tay trái lên ngang tầm mắt

trái. Người thợ nói:

- Những đêm đen tối rất khó chịu.

Anh kia trả lời:

- Phải, nhất là cho những người lạ mà phải đi lại.

- Thôi đủ rồi. Tôi là Scanlan, chi nhánh 341,

thung lũng Vermissa. Rất vui mừng được gặp anh

trong vùng này.

- Cám ơn. Tôi là McMurdo, chi nhánh 29, Chicago.

Toán trưởng: J.H.Scott. Tôi may mắn gặp được một

môn huynh như anh.

- Không ở đâu mà Hội lại phồn thịnh như trong

thung lũng này. Có điều tôi không hiểu được là tại

215

sao một hội viên năng nổ như anh mà lại không tìm

được việc làm ở Chicago?

- Ở đó tôi có thể làm được bất cứ công việc nào mà

tôi muốn - McMurdo trả lời.

- Thế thì tại sao anh lại bỏ đi?

McMurdo mỉm cười chỉ người cảnh sát:

- Hai ông cố nội này mà biết được lí do thì hẳn là

vui lắm.

- Chuyện lôi thôi à? - Scanlan thì thào.

- Nặng.

- Tù được không?

- Chưa đủ.

- Không phải là án mạng chứ?

McMurdo trả lời như một người vừa chợt nhận thấy

rằng mình đã nói quá nhiều:

216

- Tôi có những lí do để ra đi. Anh nghe đến thế là

đủ rồi nhé.

- Tôi không hỏi nữa. Tôi không muốn làm mất lòng

anh mà. Các bạn ở đây sẽ không đánh giá xấu anh

đâu. Thế bây giờ anh định đi đâu?

McMurdo rút ra một chiếc bì thư, đưa đến gần ngọn

đèn:- Địa chỉ đây: Jacob Shafter, Đường Sheridan.

Đây là một nhà trọ. Có người ở Chicago mách cho

tôi.

- Tôi không biết cái nhà trọ này. Vermissa không

nằm trong khu của tôi. Tôi ở Hobson’s Patch, ga sau

là đến. Nhưng mà này, nếu anh có chuyện gì lôi

thôi ở Vermissa, thì cứ đi thẳng đến nhà Hội quán

và vào tìm ông chủ McGinty. Ông ta là Toán trưởng

của chi nhánh Vermissa. Thôi tạm biệt, sẽ gặp lại

217

nhau ở chi Hội.

McMurdo ngồi lại một mình với những ý nghĩ quay

cuồng trong đầu. Đêm đã xuống hẳn. Trong khung cảnh

tranh tối tranh sáng đó, những dáng người đen sẫm

cúi xuống co kéo, quay đi quay lại với những động

tác của người máy, theo nhịp điệu những tiếng gầm

gừ của sắt thép.

Một tiếng nói bỗng cất lên:

- Địa ngục có lẽ cũng giống như thế này thôi!

McMurdo quay lại: Một người cảnh sát đã đến ngồi

bên cạnh anh và đang ngắm nhìn cái cảnh tượng khủng

khiếp đó. Người cảnh sát kia gật đầu đáp lại.

- Đúng. Nếu ở địa ngục mà có những con quỷ sứ dữ

tợn hơn một số kẻ ở đây thì tôi sẽ rất ngạc nhiên.

Anh mới đến vùng này phải không?

218

- Phải! - McMurdo trả lời.

- Tôi khuyên anh hãy cẩn thận trong việc chọn bạn.

Không nên kết bạn với Scanlan hay cái băng của

hắn.

- Đó là chuyện riêng của tôi, các anh dự vào làm

gì? - McMurdo cười.

Hai người cảnh sát ngạc nhiên khi thấy thiện chí

của mình bị đáp lại một cách thô bạo. Một người

nói:- Đấy là một lời báo động chỉ có lợi cho anh

thôi. McMurdo vẫn cứ tái đi vì tức giận, hét lên:

- Tôi không biết vùng này thật, nhưng tôi biết

rằng mỗi lần mở miệng là các anh cứ khuyên với răn.

- Thôi được, chúng tôi sẽ được biết anh rõ hơn,

anh có vẻ “chịu chơi” lắm.

219

Người cảnh sát kia bồi thêm:

- Đúng, rồi chúng ta sẽ gặp lại nhau, không lâu

đâu.

- Đừng hòng dọa dẫm tôi, tôi không sợ các anh đâu!

- McMurdo quát lên – Tôi là Jack McMurdo, biết

chưa! Nếu các anh muốn tìm tôi thì cứ việc đến quán

trọ Jacob Shafter ở đường Sheridan, tôi sẽ không

thèm trốn tránh các anh đâu, rõ chưa hả? Đừng có

hòng làm điều gì vớ vẩn nghe chưa!

Hai người cảnh sát nhún vai và quay ra nói chuyện

với nhau. Mấy phút sau, tàu từ từ đi vào một cái ga

tối tăm, và nhiều người bước xuống, vì Vermissa là

thị trấn lớn nhất trên tất cả tuyến đường. McMurdo

cầm cái bọc lên. Khi anh sắp đi vào trong bóng tối

của sân ga, thì một người thợ mỏ đến nắm tay anh:

220

- Được lắm, anh bạn! Anh biết cách đối đáp bọn cớm

ra trò đấy! - Anh ta nói với giọng kinh ngạc - Đưa

cái bọc đây tôi mang cho, và để tôi chỉ đường cho

anh.Khi hai người đi đến sân ga, ngang qua đám thợ

mỏ, hàng loạt tiếng chào nổi lên. Thế là trước khi

đặt chân xuống Vermissa, McMurdo đã trở thành một

nhân vật nổi tiếng ở đó rồi.

Đứng dưới thung lũng nhìn thấy mấy đống lửa ngất

trời cùng những đám khói dày đặc thì còn thấy có

một cái gì đó hùng vĩ, ở đấy con người nhờ sức hai

bàn tay và bộ óc đã đẽo gọt những ngọn núi bằng máy

và dựng lên những công trình. Trái lại, về đến thị

trấn, thì chỉ thấy toàn một sự nhớp nhúa và xấu

xí. Đường phố chính đã bị xe cộ đi lại biến thành

một thứ tuyết pha bùn nhão như hồ. Những cây đèn

221

chỉ dùng để làm lộ ra những dãy nhà bằng gỗ, mặt

tiền có một hàng lan can, tất cả đều nhếch nhác bẩn

thỉu. Vào đến trung tâm thì một vài cửa hàng có

thắp đèn sáng hơn, nhưng cả một đám nhà chỉ là

những quán cà-phê và sòng bạc, để cho thợ mỏ vung

phí tiền lương.

Người đưa đường chỉ một cái quán rượu to, nói:

- Đấy là nhà Hội quán đấy, McGinty là ông chủ.

- Ông ta như thế nào?

- Anh chưa bao giờ nghe nói đến ông ta?

- Tôi mới đến.

- Thế mà tôi cứ tưởng là khắp xứ này phải biết đến

ông ta. Ông ta được đăng báo hoài mà.

- Tại sao lại đăng tên ông ta?

- Ờ chỉ vì... - Người thợ mỏ hạ giọng xuống nói

222

nhỏ - Vì “các vấn đề” ấy mà.

- “Vấn đề” gì?

- “Vấn đề” của những “Người Tiên Phong”.

- Ừ, ở Chicago tôi cũng có đọc thấy đôi điều gì

đấy về những “Người Tiên Phong”. Chúng nó là một

bọn sát nhân, phải không?

Người thợ mỏ hoảng hốt, nói lạc cả tiếng:

- Anh muốn sống thì im ngay đi. Này anh, ở đây mà

ăn nói kiểu đó, thì không được đâu, đi mò tôm đó!

- Không, tôi chỉ biết được đôi chút thôi.

Anh ta liếc xung quanh, nhìn những bóng đen và đêm

tối, dường như sợ hãi một sự nguy hiểm nào đó.

- Nếu giết người có nghĩa là ám sát, thì ở đây

những vụ ám sát đem bán mớ cũng không hết. Nhưng

anh đừng có dại dột mà đem cái tên của McGinty đi

223

kèm với các vụ ám sát. Bởi vì ông ta không tha thứ

cho bất cứ ai xì xào về ông ta. Đây, căn nhà mà anh

tìm ở lùi vào đằng sau đường phố một chút đó.

McMurdo bắt tay người bạn mới: - Xin cám ơn anh.

Rồi anh đi lên con đường dẫn vào nhà, và gõ cửa.

Hai cánh cửa mở ngay ra: Trước mặt anh là một phụ

nữ còn trẻ, đẹp, kì lạ. Cô ta có dáng người xứ Thụy

Điển, bộ tóc vàng óng lộng lẫy tương phản với đôi

mắt đen nhánh. Cô ngạc nhiên nhìn người thanh niên

lạ mặt, và sự lúng túng làm sắc mặt đỏ hồng lên,

thực là một đóa hoa tươi thắm nở trên một đống than

xỉ. Anh mê mẩn ngắm cô gái, không nói được nên lời

và cuối cùng cô ta phải lên tiếng:

- Tôi tưởng là ba tôi về. Ông đến tìm ba tôi? Ba

tôi lên phố, cũng sắp về.

224

McMurdo vẫn cứ ngắm say sưa:

- Thưa cô. Tôi không vội lắm, tôi đến đây để xin ở

trọ.

- Vậy xin mời ông vào. Tôi là Ettie Shafter, con

gái ông Shafter. Mẹ tôi đã mất, và chính tôi trông

nom cái nhà trọ này. Ông có thể ngồi cạnh lò sưởi

để chờ ba tôi về. À, mà kìa, ba tôi về tới rồi!

Một người đàn ông nặng nề bước vào nhà, McMurdo

giải thích ngắn gọn lí do anh đến đây. Ông già

Shafter nhanh chóng đồng ý giá mười hai đô-la mỗi

tuần, trả trước cả tiền ăn, tiền phòng.

2. NGƯỜI TRƯỞNG TOÁN

McMurdo là một người muốn ai cũng phải để ý đến

mình. Chỉ sau một tuần lễ, anh ta đã trở thành nhân

vật quan trọng nhất trong nhà trọ. Buổi tối, khi

225

những người ở trọ tại đây ngồi với nhau, thì anh

chàng này luôn luôn có những chuyện khôi hài làm

cho họ phải phá lên cười. Sức hấp dẫn riêng của anh

lan tỏa sự vui vẻ ra xung quanh. Đối với những

người đại diện cho pháp luật, anh tỏ thái độ khinh

thường, làm cho những người trong nhà trọ hoặc là

thích thú hoặc là lo ngại.

Ngay từ khi mới đến trọ, anh đã công khai bộc lộ

sự ngưỡng mộ đối với cô thiếu nữ trong nhà từ phút

đầu tiên, cô gái đã chiếm hoàn toàn trái tim anh.

Trong ngày thứ hai, anh nói thẳng rằng anh đã yêu

cô ta, và từ đó, anh không ngừng nhắc đi nhắc lại

cái điệp khúc ấy.

- Cô có người khác rồi à? Cô hãy bảo cái người ấy

lo công việc riêng của anh ta đi. Còn tôi, tôi sẽ

226

không để lỡ dịp may duy nhất của đời tôi. Ettie,

hiện giờ cô có thể nói: “Không”, nhưng một ngày nào

đó, rồi cô sẽ trả lời là: “Có”. Tôi còn trẻ, tôi

đợi được.

Đó là một gã si tình nguy hiểm với tác phong trắng

trợn Ireland, và những cử chỉ dịu dàng âu yếm đến

mê người. Thêm nữa, anh ta được bao bọc trong hào

quang của những chuyện phiêu lưu và bí mật, vòng

hào quang dễ làm cho một người phụ nữ phải chú ý,

và từ đó dẫn đến tình yêu thì nào có xa xôi gì. Anh

ta kể về những thung lũng thanh bình, về hòn đảo

xa xăm và đẹp như trong những chuyện thần tiên, về

những ngọn núi hiền lành, những cánh đồng xanh

mướt. Người ta có cảm giác là nhiều chuyện kì lạ đã

xảy đến với anh ta trong cái thành phố Chicago quá

227

kì lạ, quá bí mật. Anh ta gợi lại với một vẻ trầm

ngâm buồn rầu, một cuộc ra đi đột ngột, một cuộc

chạy trốn vào nơi tận cùng của cái thung lũng âm u

này. Ettie lắng nghe từng lời, đôi mắt nhung đen

ánh lên một niềm thương xót và thông cảm.

McMurdo làm kế toán. Anh bận suốt ngày, và cũng

chưa có thì giờ đến trình diện ở chi nhánh của “Hội

những Người Tự Do”. Scanlan đến nhà trọ của cụ

Shafter vào một buổi tối. Scanlan là một mẫu người

nhỏ bé láu táu, mặt lưỡi cày. Anh ta có vẻ vui lòng

khi gặp lại McMurdo. Sau vài ngụm, anh ta đi vào

lí do của cuộc viếng thăm:

- Này McMurdo, sao anh chưa trình diện ông Toán

trưởng?

- Tôi bận.

228

- Làm gì thì làm, nhưng phải tới gặp McGinty ngay

đi. Lẽ ra ngay sau ngày anh đến, anh phải trình

diện ở trụ sở Hội rồi, anh không được làm ăn bê bối

với ông ta.

McMurdo có vẻ ngạc nhiên.

- Tôi là một Hội viên đã hơn hai năm rồi. Sao lại

phải đi trình diện gấp đến thế?

- Ở Chicago thì có lẽ cũng không cần gấp như thế

đâu.

- Ở đây cũng là một Hội ấy chứ?

- Cùng một Hội à? - Scanlan nhìn McMurdo trừng

trừng, mắt ánh lên một tia sáng đe dọa.

- Thế không phải là cùng một Hội sao? - McMurdo

hỏi lại.

- Một tháng nữa, chúng ta sẽ trở lại chuyện cùng

229

hay không cùng này. Tôi nghe nói là bữa nọ trên

tàu, anh có đối đáp gì đó với mấy tay cảnh sát.

- Sao anh biết?

- Ồ, tin tức bay đi mà. Ở đây tin tức bay đi nhiều

lắm, tốt cũng có, xấu cũng có. Ồ! Anh sẽ là người

lí tưởng của McGinty đó.

- Sao vậy? Ông ta cũng ghét cảnh sát ư?

Scanlan bật cười, đứng dậy:

- Hãy đi gặp ông ta ngay đi. Nếu không, thì không

phải ông ta ghét cảnh sát, mà là ghét anh đó.

Cũng đêm đó, ông già Thụy Điển mời anh chàng trẻ

tuổi vào phòng ông.

- Tôi có cảm giác là anh đang ve vãn con gái tôi.

- Cháu yêu cô ấy.

- Thế thì anh tốn công vô ích. Có người đã đến

230

trước anh rồi.

- Cô ấy đã nói với cháu như thế.

- Con bé có nói với anh là ai không?

- Cháu có hỏi, nhưng cô ấy không nói.

- Có lẽ nó không muốn làm anh phải sợ hãi đấy.

- Làm cháu sợ hãi à?

McMurdo đã bắt đầu nóng mặt.

- Đúng đó, anh bạn. Nó là thằng Teddy đó.

- Cái thằng Teddy Baldwin ấy là một thứ ma quái dữ

dằn hay sao?

- Nó là một trong những thằng chủ của bọn “Người

Tiên Phong” đấy.

- “Người Tiên Phong” à? Tại sao mọi người ở đây

lại phải sợ chúng đến thế?

Ông chủ trọ hạ thấp ngay giọng xuống.

231

- ”Người Tiên Phong” là hội viên của “Hội những

Người Tự Do”.

Người trẻ tuổi giật mình.

- Cháu cũng là Hội viên của Hội ấy đấy.

- Anh à? Nếu tôi biết thế, thì tôi không cho anh

vào nhà. Dù anh có trả đến một trăm đô-la một tuần

đi nữa.

- Hội lập ra cốt để giúp đỡ lẫn nhau, và gây tình

bạn tốt. Bác hãy đọc điều lệ của nó mà xem.

- Ở nơi khác thì như thế đó. Nhưng ở đây thì

không.

- Ở đây nó thế nào?

- Một bọn sát nhân. Thế thôi.

McMurdo đáp lại bằng một nụ cười hoài nghi:

- Bác chứng minh được điều đó không?

232

- Cả năm mươi vụ án mạng ở đây chưa đủ để chứng

minh hay sao? Trong vùng thung lũng này, không ai

không biết những việc ấy.

McMurdo nói rất nghiêm trang:

- Thưa bác, cháu muốn bác rút lại những lời vừa

nói, nếu không thì bác phải giải thích.

- Tôi chỉ nhắc lại cho anh những gì mà tất cả mọi

người ở đây đều nói. Những người chủ của Hội, thì

cũng là những người chủ của bọn “Tiên Phong”. Nếu

ai làm gì phật ý của Hội, thì bọn “Tiên Phong” sẽ

ra tay ngay.

- Cháu muốn có những chứng cớ thực sự kia.

- Nếu anh còn ở lại Vermissa này, thì rồi anh sẽ

có những chứng cớ. Nhưng tôi quên mất rằng anh cũng

ở trong cái băng ấy, thì rồi anh cũng chẳng hơn gì

233

bọn chúng đâu. Trong khi chờ đợi, thưa ông, xin

ông đi tìm một nơi trọ khác.

Thế là McMurdo bị kết án phải đi đày đến hai lần:

Đi đày khỏi căn buồng ấm cúng và đi đày xa người

thiếu nữ. Anh đi tìm Ettie.

- Ba em mới vừa đuổi anh. Nếu chỉ là chuyện căn

buồng thôi thì anh có cần gì. Nhưng mà, anh không

thể sống không có em được!

- Ồ, ông McMurdo. Xin ông đừng nói thế. Ông đã đến

quá muộn. Em chưa hứa hôn với hắn nhưng em cũng

không thể hứa hôn với người khác được.

- Thế nếu anh là người đến trước, thì liệu anh có

một tia hi vọng nào không?

Cô gái úp mặt vào hai bàn tay, khóc nức nở:

- Em thề trước Thượng đế, em muốn anh là người đầu

234

tiên đến với em.

McMurdo quỳ ngay xuống bên cô gái, thốt lên:

- Anh van em, em hãy làm theo tiếng gọi của trái

tim mình. McMurdo nắm lấy bàn tay cô gái.

- Em hãy nói rằng em là của anh, và chúng ta sẽ

cùng nhau xây dựng cuộc đời.

- Nhưng không phải ở đây chứ?

- Ở đây, ngay ở đây em ạ.

- Không, không, anh...

McMurdo ôm chặt cô gái trong vòng tay. Cô gái

không chống cự.

- Ở đây thì không được đâu anh. Nhưng... anh có

thể đi với em được không?

Một trận bão nội tâm làm rung động nét mặt người

thanh niên. Môt lát sau, khuôn mặt anh đanh lại.

235

- Không. Anh ở đây để bảo vệ em và chống lại cả

thế giới.

- Thế tại sao chúng ta không đi nơi khác?

- Không, anh không thể đi được.

- Tại sao?

- Nếu chúng ta yêu nhau thì ai dám ngăn cản?

- Anh mới đến đây nên anh không biết cái thằng

Teddy đâu. Anh cũng không biết McGinty và bọn “Tiên

Phong”.

- Anh đã sống giữa những con người dữ tợn, và bao

giờ rồi cuối cùng chính chúng phải kiềng anh. Nếu

bọn chúng đã phạm tội thì tại sao không ai đưa

chúng ra trước pháp luật?

- Không có ai dám ra làm chứng chống lại chúng.

Người nào làm như vậy, thì ngay trong tháng đó sẽ

236

chết.

- Có thể người ta tìm cách làm hại chúng và chúng

không có cách gì khác để tự vệ chăng?

- Ôi, em không muốn nghe anh nói như vậy. Hắn cũng

nói đúng như vậy đó... cái thằng ấy.

- Thằng Teddy ấy à? À, nó nói như vậy có phải

không?

- Và vì vậy mà em ghét hắn. Em ghét hắn, nhưng em

sợ hắn. Cho nên em cứ phải tìm cách tránh né bằng

những lời hứa nửa vời. Nhưng nếu anh chịu đi với

em, thì chúng ta sẽ đưa ba em đi, và sống mãi mãi

với nhau.

Một lần nữa nét mặt người thanh niên lại hiện lên

cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội, và một lần nữa, một

quyết định không gì lay chuyển.

237

- Sẽ không có gì nguy hại xảy đến cho em và ba em

đâu. Còn về cái bọn độc ác kia, anh tự hỏi không

biết rồi em có ngạc nhiên khi thấy rằng anh còn độc

ác hơn cả đứa độc ác nhất trong bọn chúng không,

trước khi chúng ta lấy nhau.

- Không, em tin anh... tin suốt đời.

Trên môi McMurdo nở một nụ cười cay đắng.

- Em biết anh còn ít quá, em không thể đoán biết

được những gì diễn ra trong tâm hồn anh đâu. Này,

ai đến kia?

Hai cánh cửa bỗng bật mở toang ra, và một người

trẻ tuổi bước vào với dáng điệu dương dương tự đắc,

hắn đẹp trai, ăn mặc đẹp đẽ. Vóc dáng và tuổi tác

cũng vào cỡ của McMurdo. Dưới chiếc mũ phớt đen

vành rộng, cặp mắt dữ tợn nhìn chăm chăm vào đôi

238

trai gái đang ngồi cạnh lò sưởi.

Ettie vội vàng đứng bật dậy, hoảng hốt.

- Tôi rất hân hạnh được ông đến chơi, ông Teddy.

Xin mời ông ngồi.

Ted hai tay chống nạnh, nhìn thẳng vào mặt

McMurdo, hỏi:

- Người này là ai?

- Một người khách trọ mới. Ông McMurdo, ông cho

phép tôi giới thiệu với ông, ông Teddy.

Hai người thanh niên trao đổi một cái gật đầu lạnh

nhạt:

- Cô đây đã cho anh biết mối quan hệ của cô ta với

tôi rồi chứ?

- Tôi chẳng biết mối quan hệ nào giữa cô ta với

anh cả.

239

- Cô gái này là của tôi, và bây giờ thì anh đi

chơi đi, ngoài kia trời dễ chịu lắm đấy.

- Cám ơn. Lúc này tôi không thích đi thơi.

- Lại thế nữa kia! - Đôi mắt của Teddy rừng rực

tức giận - Thế chắc ông thích đánh nhau có phải

không, thưa ông khách trọ?

McMurdo nhảy dựng lên:

- Anh đã đoán đúng đấy. Chưa bao giờ anh lại nói

một lời đúng hơn như thế nữa!

Cô thiếu nữ kêu lên, sợ hãi:

- Ôi, anh McMurdo! Ôi, anh McMurdo!

- Ồ, người ta gọi nhau bằng anh rồi, nhanh quá

nhỉ?

- Ông Teddy Baldwin, ông có thấy hứng thú đi dạo

một vòng ngoài đường kia không? Trời ban đêm đẹp

240

lắm, đúng như ông đã nói, ở đằng sau nhà bên cạnh

này có một cái bãi trống tiện lợi lắm, ông ạ.

- Tôi sẽ trả món nợ này, mà không cần phải bẩn

tay. Anh sẽ hối hận là đã đặt chân vào nhà này.

- Sẽ à? Có ngay vẫn hơn chứ!

- Tôi sẽ chọn giờ. Anh có thể để tôi thu xếp việc

ấy. Này, nhìn đây! - Teddy kéo ống tay áo lên và

chỉ vào một dấu hiệu đặc biệt: Một hình tam giác

nằm trong một đường tròn.

- Anh có biết cái này là cái gì không?

- Tôi không biết và cũng chẳng cần biết.

- Thế thì rồi anh sẽ biết. Ettie sẽ chỉ dẫn cho

anh. Con kia, mày sẽ quỳ xuống và van xin trở về

với tao. Sau đó, mày sẽ biết tao trừng phạt mày như

thế nào. Mày đã gieo... thì tao sẽ cho mày gặt...

241

Hắn giận dữ, nhìn hai người một lần cuối, rồi quay

gót đi ra và sập cửa lại.

Trong giây lát, McMurdo và người thiếu nữ đứng

lặng đi. Nhưng rồi người thiếu nữ nhào tới ôm chặt

lấy anh:

- Ôi, anh McMurdo, anh can đảm biết bao nhiêu.

Nhưng anh phải trốn ngay tối nay, nó sẽ giết anh.

Em đã nhìn thấy trong mắt nó. Làm sao mà anh chống

cự được với cả băng của chúng!

McMurdo dịu dàng hôn thiếu nữ và dìu cô ngồi xuống

ghế.

- Em đừng có lo. Anh cũng là một hội viên trong

“Hội những Người Tự Do”, anh đã nói với ba em rồi,

và bây giờ anh cũng nói cho em biết nữa, đừng ghét

bỏ anh .

242

- Em không thể nào ghét bỏ anh được. Nhưng nếu anh

cũng là một Hội viên, tại sao anh không đến lấy

lòng ông McGinty. Ôi, anh đi ngay đi.

- Anh cũng có ý đó. Em có thể nói với ba em là đêm

nay anh còn về ngủ ở đây, nhưng ngày mai anh sẽ đi

tìm một căn phòng khác.

Quầy rượu của quán McGinty đông nghẹt khách gồm

toàn những bọn hạ lưu của thị trấn.

McGinty là một nhân vật nổi tiếng, bên ngoài được

che đậy bằng tác phong của một người vui tính, xởi

lởi. Nhưng bên trong, sự sợ hãi mà hắn gieo rắc

không những ở Vermissa, mà cả trên năm mươi cây số

vuông của cái thung lũng này, cũng đủ lôi kéo khách

đến quán rượu của hắn rồi.

McGinty đã được bọn cướp, bọn lưu manh, bầu hắn

243

giữ chức vụ ủy viên Hội đồng Thành phố, và Quận

trưởng cảnh sát giao thông. Thuế má và các khoản

tiền đóng góp rất lớn, những công trình công cộng

thì bị bỏ bê, báo cáo trước nhân dân thì bị bóp méo

sự thật. Người dân thường bị bắt buộc phải câm

miệng vì sợ bị tai họa. Thế là năm này qua năm

khác, quán rượu của ông ta đã phình ra đến mức đe

dọa nuốt hết cả một góc của phố chợ.

McMurdo đẩy cửa bước vào, chen giữa đám đông ồn

ào, trong một bầu không khí dày đặc khói thuốc và

sặc sụa mùi rượu. Căn phòng được thắp đèn sáng

choang. Những tấm gương lớn, khung mạ vàng treo

trên bốn bức tường phản chiếu và nhân lên gấp bội

không biết bao nhiêu là đèn. Những người bồi rượu,

tay áo sơ-mi xắn lên đến khuỷu tới tấp pha rượu cho

244

những khách hàng. Ở một đầu, đứng dựa mình vào

quầy là một người đàn ông cao lớn. Đó là McGinty.

Ông ta có bộ tóc đen nhánh, dài như một cái bờm rủ

xuống đến tận cổ, bộ râu nham nhở hai bên má, nước

da mai mái của một người Italia, đôi mắt đen nhìn

không chớp, trông rất dữ tợn. Tất cả phần còn lại,

một thân hình cân đối, nét mặt thanh tú, tác phong

cởi mở, phù hợp với cái dáng điệu vui tính và chịu

chơi mà ông ta cố làm cho mọi người thấy rõ. Một

người khách lạ sẽ nghĩ rằng, đây là một tay làm ăn

lương thiện. Nhưng khi đôi mắt hung bạo kia nhìn

trừng trừng vào người khác, thì người này sẽ bắt

đầu run sợ, và cảm thấy mình đang đứng trước một

thiên tai thực sự.

Sau khi đã quan sát kĩ con người đó, McMurdo huých

245

cùi tay gạt một đám xu nịnh đang bao quanh. Đôi

mắt táo bạo của người thanh niên như đóng đinh vào

đôi mắt đen đang soi mói nhìn anh.

- Này anh, tôi chưa hề thấy cái bản mặt anh ở đây.

- Tôi mới đến, thưa ông McGinty.

- Nhưng không vì thế mà không biết thưa gửi với

một người có chức vụ.

Một người trong bọn xu nịnh vội giải thích: - Này

anh, đây là ông Hội đồng McGinty đó.

- Rất tiếc, thưa ông Hội đồng. Tôi chưa biết hết

các tập quán ở đây. Nhưng người ta có khuyên tôi

đến gặp ông.

- Thế thì anh gặp tôi rồi đó. Anh thấy tôi thế

nào?

246

- Ồ, nói ra bây giờ còn sớm quá. Nhưng nếu trái

tim của ông cũng to như thân hình ông, và nếu tâm

hồn ông cũng đẹp như bề ngoài của ông, thì tôi tự

thấy là bằng lòng rồi.

Nghe câu trả lời đó, tên chủ quán đâm ra ngỡ

ngàng, không biết nên cười cợt hay giữ một vẻ

nghiêm trang với tên thanh niên này. Một lát sau,

hắn mới quyết định.

- Hừ, đúng là kiểu ăn nói Ireland rồi. Thế là tôn

ông đã hài lòng về phần người ngợm của tôi rồi,

phải không?

- Chắc chắn thế.

- Và người ta bảo anh đến gặp tôi?

- Vâng.

- Ai nói?

247

- Môn huynh Scanlan, chi nhánh 341, của Vermissa.

Tôi xin nâng li mừng sức khỏe của ông, ông Hội

đồng.

McMurdo vừa uống vừa giơ ngón tay út lên. McGinty

chăm chú theo dõi anh ta và bỗng nhíu cặp mày đen

rậm lại nói:

- Ồ, ra thế đấy. Vậy thì tôi phải xét trường hợp

của ông một cách cặn kẽ hơn, thưa ông...

- ... McMurdo

- Một cách cặn kẽ hơn nữa, thưa ông McMurdo, vì ở

đây không ai tin lời nói của ai cả. Xin mời qua

đằng sau quầy này.

Ở đó có một căn phòng nhỏ với những thùng rượu xếp

dọc theo tường. McGinty đóng cửa rồi ngồi lên một

thùng, vừa cắn vào điếu xì-gà vừa quan sát người

248

thanh niên. Hai phút trôi qua như thế.

McMurdo chịu đựng cuộc thẩm tra này một cách vui

vẻ. Anh ta đút một tay trong túi áo vét, còn một

tay thì vân vê râu mép.

Đột nhiên McGinty chồm người về phía trước và chìa

ra một khẩu súng lục.

- Này, thằng kia! Nếu mày định chơi tao thì cái

này sẽ đưa mày sang thế giới bên kia ngay.

McMurdo bình tĩnh trả lời:

- Đón tiếp một môn huynh như thế này thì quả thật

là kì cục, nhất là khi người ta lại là một Toán

trưởng trong chi nhánh của “Hội những Người Tự Do”.

- Anh được nhập hội ở đâu?

- Chi nhánh 29, Chicago.

249

- Bao giờ?

- Ngày 24 tháng 6 năm 1871.

- Tên Toán trưởng?

- J.H.Scott.

- Ai chịu trách nhiệm toàn khu?

- Bartholomew Wilson.

- Đến Vermissa làm gì?

- Tôi cũng đi làm như ông.

- Anh đối đáp trơn tru lắm nhỉ?

- Vâng, tôi không bị ngọng.

- Thế trong hành động, anh có được lanh lẹ không?

- Tôi nổi tiếng về việc ấy.

- Rất tốt, anh sẽ được thử thách. Anh đã nghe nói

đến chi nhánh ở đây bao giờ chưa?

- Người ta nói với tôi rằng trước tiên phải là một

250

con người đã, rồi sau mới thành một môn huynh ở

đây được.

- Đúng thế. Tại sao anh lại bỏ Chicago ra đi?

- Ông đừng hòng bắt tôi khai.

McGinty trố mắt ra nhìn. Hắn không quen nghe những

câu trả lời như vậy. Câu này, hắn thấy nó thật ngộ

nghĩnh.

- Tại sao vậy?

- Vì một môn huynh không được phép nói dối với một

môn huynh khác.

- Nghĩa là sự thật không được tốt lắm chứ gì?

- Nếu ông muốn hiểu như vậy, thì xin tùy ông.

- Một người Toán trưởng như tôi, chắc sẽ không đưa

một ai vào trong chi nhánh Hội, khi chưa biết quá

khứ của anh ta.

251

McMurdo tỏ vẻ lúng túng. Sau cùng, anh ta lôi ở

túi áo ra một mảnh báo cũ, và còn hỏi lại:

- Ông không phản thùng tôi chứ?

- Mày mà còn nói cái kiểu ấy thì tao đập vỡ mặt

mày ra bây giờ. McMurdo tỏ vẻ hối tiếc:

- Tôi xin lỗi ông. Tôi nói mà không suy nghĩ. Tôi

biết rằng ở trong tay ông thì tôi sẽ được an toàn.

Ông hãy đọc mảnh báo này đi.

McGinty đọc lướt qua bài báo đưa tin về vụ án mạng

Jonas Pinto ở quán rượu Lake, phố Market, tại

Chicago, đêm mồng 1 tháng 1 năm 1874. Hắn đưa trả

lại mảnh báo cũ, hỏi:

- Anh làm cái việc ấy à?

McMurdo trả lời bằng một cái gật đầu.

- Tại sao anh lại hạ nó?

252

- Tôi giúp đỡ nhà nước đúc ra các đồng đô-la. Có

lẽ những đồng đô-la của tôi làm ra, vàng không đủ

tuổi như đồng đô-la của nhà nước, nhưng trông nó

vẫn có vẻ dùng được. Cái tên Pinto này giúp tôi

tiêu thụ những đồng ấy. Một hôm hắn nói rằng sẽ đi

tố cáo tôi. Tôi hạ hắn ngay, rồi đến đây...

- Tại sao lại đến cái xứ than này?

- Thấy báo nói ở đây người ta không khó tính lắm.

McGinty bật cười.

- Thế là trước hết anh là một thằng làm bạc giả,

rồi sau là một tên giết người, và anh nghĩ rằng đến

đây, anh sẽ được người ta đón tiếp tốt có phải

không?

- Vâng, đại khái là như vậy.

- Thế bây giờ anh còn làm được những đồng đô-la ấy

253

không? McMurdo móc túi lấy ra mấy đồng tiền vàng

đưa cho McGinty.

- Đây ông xem.

- Thật không?... Không nói đùa đấy chứ?

McGinty soi các đồng tiền ra ánh sáng, để nó trên

bàn tay to tướng.

- Không thấy có gì khác cả. Cha mẹ ơi, thế này thì

anh sẽ là một môn huynh đắc lực đây. Ở đây chúng

tôi cũng có thể nhận một vài tay đầu bò đầu bướu.

- Thưa ông, tôi sẽ giữ được vị trí của tôi, trong

cuộc tự vệ đó.

- Thần kinh của anh có vẻ vững vàng lắm. Anh không

xao động khi tôi chĩa súng vào anh?

- Lúc đó không phải tôi đang bị nguy hiểm.

- Thế thì ai vậy?

254

- Ông.

McMurdo rút trong túi áo vét ra một khẩu súng sáu

đã lên đạn.

- Tôi vẫn nhắm vào ông suốt trong thời gian vừa

qua, tay tôi cũng nhanh không kém gì ông đâu.

Ông Hội đồng đỏ mặt tía tai nhưng rồi bỗng phá lên

cười.

- Tôi có cảm giác một ngày nào đó, chi nhánh Hội

ta sẽ được kiêu hãnh về anh đó... Cái gì thế này?

Chúng mày không thể để yên cho tao được nói chuyện

đến năm phút với một vị khách quý hay sao?

Người hầu bàn cúi đầu:

- Xin lỗi ông Hội đồng, có ông Teddy Baldwin. Ông

ấy muốn gặp ông gấp.

Lời báo ấy là vô ích, Teddy đã hiện ra trong khung

255

cửa.

Hắn gạt người hầu ra rồi đóng cửa lại, và nhìn

McMurdo bằng một cặp mắt nảy lửa.

- Thế là mày đã đến đây trước tao rồi hả? Được,

ông Hội đồng, tôi có câu chuyện muốn nói với ông về

cái tên này.

McMurdo nói như hét:

- Thì mày nói ngay đi, nói trước mắt tao đây này.

- Tao sẽ nói lúc tao cần nói, và nói theo cách của

tao. McGinty từ trên thùng rượu nhảy xuống, can

thiệp.

- Teddy, đây là môn huynh mới đến, chúng ta không

được đón tiếp anh ta như vậy. Hãy chìa tay ra làm

lành với nhau đi.

- Không đời nào! - Teddy hét lên.

256

- Tôi đã mời anh ta đấu với tôi bằng tay không,

hoặc bằng bất cứ thứ vũ khí nào. Thưa ông Hội đồng,

bây giờ tôi xin để ông phân xử cho chúng tôi.

- Thế giữa hai anh có chuyện gì vậy?

- Một cô gái trẻ tuổi.

- Tự do à? - ông Toán trưởng nói tiếp - Vì đây là

giữa hai môn huynh trong cùng một chi nhánh Hội,

nên cô gái đó hoàn toàn tự do.

- Ồ! Luật lệ của ông là như thế đấy hả?

- Đúng, luật lệ của tao là như thế đấy, Teddy!

McGinty nhìn hắn một cách hiểm ác, tiếp luôn: -

Phải chăng mày định chống lại luật lệ ấy?

- Ông gạt ra ngoài một người vẫn đứng bên ông từ

năm năm nay, để ôm vào lòng một tên mà ông chưa bao

giờ gặp mặt. Mẹ kiếp, đến kì bầu phiếu sắp tới...

257

Ông Hội đồng chồm lên như một con hổ, khép chặt

hai bàn tay vào quanh cổ tên kia và vật ngửa hắn

lên một thùng rượu. McMurdo can thiệp. Anh kéo ông

Hội đồng lại, làm ông ta thả tay ra. Teddy bị khuất

phục. Hắn ngồi lên trên thùng rượu.

- Teddy, đã từ lâu mày đáng được một trận như thế

này. Ngày hôm nay thì mày nếm mùi sơ sơ rồi đó. Mày

tưởng rằng nếu tao không được bầu lại làm Toán

trưởng thì mày sẽ chiếm chỗ của tao phải không? Rồi

đây chi nhánh Hội sẽ định đoạt về việc này. Nhưng

chừng nào tao còn là Toán trưởng, thì không một đứa

nào được mở mồm ra chống lại những điều tao đã

quyết định, nghe rõ chưa?

Teddy vừa xoa bóp cổ vừa lắp bắp nói: - Tôi có

chống ông cái gì đâu.

258

Thế là McGinty đột ngột trở lại ngay cái kiểu cách

ra vẻ hồ hởi thường ngày của hắn.

- Ồ, nếu thế thì thôi. Chúng ta đều là bạn tốt với

nhau cả. Và việc này coi như đã xong.

Lão lấy từ trong hốc tủ ra một chai sâm-panh, bật

nút mở rượu, rót đầy vào ba cốc có chân:

- Nào, chúng ta hãy uống li rượu hòa giải. Sau

tuần rượu này, không có một cuộc cãi lộn nào nữa.

Vậy thì bây giờ Teddy, hãy để tay trái của anh lên

cổ tôi đi.

Rồi lão nói tiếp:

- Thưa ông. Ông nghĩ sao khi bị xúc phạm?

- Những đám mây đều nặng nề.

- Nhưng chúng sẽ tan đi, để không bao giờ trở lại

nữa.

259

- Và điều đó tôi xin thề.

Hai người uống cạn li rượu và nghi lễ đó lại diễn

ra giữa Teddy và McMurdo.

McGinty xoa tay vui vẻ nói:

- Được rồi. Thế là cuộc cãi lộn đã kết thúc. Nếu

nó còn tái diễn thì các anh sẽ phải chịu sự trừng

phạt của Hội.

McMurdo chìa tay ra cho Teddy bắt:

- Tôi thật không dám thế. Tôi dễ gây lộn, nhưng

cũng dễ tha thứ. Người ta bảo đó là dòng máu

Ireland. Nhưng đối với tôi thế là xong, và tôi

không thù hằn gì cả.

Teddy đành phải giơ tay ra bắt, vì đôi mắt của ông

Toán trưởng không rời hắn.

McGinty ôm lấy vai của hai người, thở dài:

260

- Thật không thể tưởng tượng được là mảnh gấu váy

ấy lại có thể làm cho hai chàng trai của tôi đến

phải trở thành đối thủ của nhau. Nhưng những chuyện

này vượt ra ngoài thẩm quyền của người Trưởng toán

rồi. Môn huynh McMurdo, anh được nhập vào chi

nhánh 341. Chúng tôi thường hội họp vào tối thứ

bảy. Nếu anh đến dự, anh sẽ mãi mãi là một người Tự

Do ở cái thung lũng này.

3. CHI NHÁNH 341 Ở VERMISSA

Ngày hôm sau, McMurdo dọn đến nhà một bà góa chồng

tên là Widow McNamara ở ven thị trấn. Scanlan ít

lâu sau cũng có việc về Vermissa nên hai người đến

ở chung với nhau.

Bà chủ trọ đã già, tính kín đáo và biết điều.

Ngoài McMurdo và Scanlan ở, không có ai khác cùng

261

trọ, nên họ có thể ăn nói, hoạt động rất tự do. Cụ

Shafter cũng đồng ý để McMurdo khi nào muốn, cứ đến

nhà dùng cơm, thành ra quan hệ của anh với Ettie

không bị đứt đoạn, mà trái lại cứ ngày càng chặt

chẽ, thân thiết hơn.

McMurdo bày những cái khuôn dập bạc giả ra. Một

vài môn huynh của chi nhánh được phép bí mật đến

nhà anh, và khi ra về thì túi nặng những đồng bạc

mới. Những người cùng làm với anh thường thắc mắc

tại sao anh có tài như vậy, mà lại chịu hạ mình đi

làm công. Anh trả lời rằng nếu anh không có những

nguồn thu nhập chính đáng, thì cảnh sát sẽ điều tra

về đời sống của anh ngay. Sau cuộc gặp mặt lần đầu

tiên với McGinty, anh thường lui tới quán rượu để

biết “những chàng trai”. Đó là cái tên rất dễ

262

thương mà bọn quỷ sứ trong khắp vùng này tự đặt cho

mình. McMurdo nổi tiếng trong bọn vì sự nóng nảy

và về cách ăn nói táo tợn của anh. Một buổi tối,

khi quán rượu đang đông khách, thì có một người

bước vào. Người đó mặc binh phục màu xanh và đội mũ

lưỡi trai của cảnh sát vùng mỏ. Đây là một đơn vị

đặc nhiệm đã được ban điều hành của các công ty xe

lửa, mỏ than và mỏ sắt cùng dựng lên để hỗ trợ cho

cảnh sát dân sự. Khi người đó vừa mở cửa bước vào

thì cả căn phòng bỗng im bặt, cả mấy trăm con mắt

đều đổ dồn nhìn như xiên vào mặt anh ta. McGinty

đứng sau quầy rượu, không tỏ ra một chút ngạc nhiên

nào khi thấy viên thanh tra ngồi vào giữa đám

khách quen của ông ta.

- Một li whisky nguyên chất. À, ông Hội đồng, hình

263

như chúng ta chưa gặp nhau lần nào thì phải?

- Anh là đại úy mới đến đây phải không?

- Chính tôi. Chúng tôi kêu gọi ông và tất cả mọi

công dân, hãy giúp đỡ chúng tôi giữ vững luật pháp

và trật tự trong thị trấn này. Tôi là đại úy Marvin

của Công ty Than và Sắt.

- Không có ông, chúng tôi thu xếp còn tốt hơn đấy.

Bởi vì chúng tôi có đội cảnh sát riêng. Ông chỉ là

một công cụ tư bản, đến đây để quất roi gân bò và

bắn giết những người công dân nghèo mà thôi.

Viên sĩ quan cảnh sát cười: - Không nên cãi vã với

nhau.

Anh ta uống cạn li rượu và sắp đi ra thì chợt

trông thấy McMurdo đang đứng cười gằn gần đó. Anh

ta vừa nhìn McMurdo từ trên xuống dưới vừa vui vẻ

264

gọi:- À, một người quen cũ đây. McMurdo lảng ra.

- Tôi chưa bao giờ là bạn của ông. Đại úy Marvin

phá lên cười.

- Một người quen không nhất thiết phải là một

người bạn. Anh là McMurdo, ở Chicago.

McMurdo nhún vai, đáp lời ngay:

- Tôi không chối tên tôi. Anh tưởng tôi xấu hổ vì

cái tên tôi à?

- Nếu anh có cảm thấy xấu hổ về cái tên của anh,

thì cũng có lí thôi.

McMurdo đã nắm chặt tay lại thành hai nắm đấm và

gầm lên:

- Tôi yêu cầu ông giải thích những điều ông vừa

mới nói?

- Đừng có lên mặt anh chị với tôi. Trước khi tôi

265

đến đây, tôi là một quan chức ở Chicago, và khi tôi

trông thấy một thằng lưu manh của Chicago, tôi

phải nhận ra được nó chứ.

McMurdo tái nhợt người, thốt lên:

- Chắc ông không phải là Marvin của Sở cảnh sát

Trung ương ở Chicago chứ?

- Tôi luôn luôn vẫn là Marvin ấy đấy. Chúng tôi

cũng vẫn chưa quên được cái thằng Pinto đã bị giết.

- Tôi không giết nó.

- Thật à? Thế thì cũng hơi lạ đó. Bởi vì cái chết

của nó đỡ cho anh biết mấy. Nó mà khai ra được

trước tòa, thì anh đã vào chảo rang lâu rồi. Nhưng

thôi, không nói chuyện quá khứ nữa. Này, tôi nói

riêng với anh một chuyện đáng lẽ tôi không được

266

phép nói ra: Cái vụ ấy mà, về phần anh không có gì

là rõ ràng đâu. Ngày mai anh có thể trở về Chicago,

nếu anh muốn. Anh sẽ không bị phiền đâu.

- Tôi ở đây rất tốt, chẳng phải đi đâu cả.

- Ờ thì tùy, tôi đã mách nước cho anh, đáng lẽ anh

nên có một lời cảm ơn mới phải.

McMurdo trả lời một cách lạnh nhạt:

- Thì cứ cho là ông muốn làm cho tôi vui lòng đi,

cảm ơn.

- Chừng nào mà tôi còn thấy anh trên con đường tốt

thì tôi sẽ không nói gì. Nhưng nếu anh lại muốn

giở trò, thì lúc đó sẽ là câu chuyện khác đấy.

Thôi, chào anh. Chào ông, ông Hội đồng!

Marvin bước ra khỏi quán. Tin tức nhanh chóng loan

ngay đi rằng McMurdo đã tác yêu tác quái ở

267

Chicago. Trước đây, khi có người hỏi anh về việc

này, anh ta chỉ tránh nó với nụ cười của một người

không muốn ai làm rùm beng một câu chuyện chẳng

đáng gì. Bây giờ câu chuyện đó đã được chính thức

xác nhận. Những khách quen đến bao quanh anh và âu

yếm bắt tay anh ta.

Từ nay trở đi, anh đã có một địa vị xứng đáng

trong tập thể.

Một tối thứ Bảy, McMurdo được đưa ra trình diện

trước Hội viên trong chi nhánh.

Cuộc họp được triệu tập trong một căn buồng rộng ở

nhà hội quán. Khoảng sáu mươi hội viên có mặt. Họ

chỉ là một phần rất nhỏ của tổ chức thôi, vì có

nhiều chi nhánh khác hoạt động ở trong thung lũng

cũng như ở phía sườn núi bên kia. Trong tất cả khu

268

mỏ này, tổng số hội viên như vậy không dưới năm

trăm tên.

Những người tới họp tập trung quanh một chiếc bàn

dài trong căn buồng hoàn toàn trơ trụi, không có

bất cứ một thứ đồ vật trang trí nào. Ở một phía, có

một cái bàn khác, trên xếp đầy rượu và li. Một số

môn huynh đã để mắt liếc nhìn về phía đó.

McGinty ngồi ở một đầu bàn, đầu đội một cái mũ

hình bình thiên bằng nhung đen, vai khoác một tấm

áo choàng bằng nhung đỏ.

Những vị chức sắc cao cấp nhất của chi nhánh,

trong số đó có Teddy, bao quanh ông ta. Người nào

cũng có đeo một cái cuống hay một huy chương chỉ rõ

ngôi thứ và chức vụ. Phần đông trong số họ là

những người đã có tuổi, số còn lại gồm những thanh

269

niên từ mười tám đến hai lăm tuổi làm những tay

chân thừa hành. Trông mặt các hội viên già, người

ta cũng đoán thấy bên trong là những tâm hồn tàn

bạo và bất trị, nhưng khi nhìn đến những người trẻ

tuổi, thì không ai có thể ngờ được rằng những thanh

niên này lại họp thành những băng tội phạm đồi

trụy đến gốc rễ. Chúng cho rằng có thể xin xung

phong đi thủ tiêu những người chưa bao giờ đụng

chạm gì đến chúng, thì mới gọi là có can đảm và có

tinh thần hiệp sĩ. Hồi đầu, chúng còn giữ bí mật về

những hành động của chúng, nhưng vào thời xảy ra

câu chuyện này thì chúng công khai khoe khoang

thành tích. Trong mười năm, chưa một đứa nào trong

bọn chúng phải chịu một án phạt nào.

McMurdo đã được báo trước là sẽ có những lễ nghi

270

chờ đợi anh ta. Anh được hai môn huynh đưa vào một

căn buồng biệt lập. Qua tấm vách ngăn bằng ván, lọt

vào tiếng ồn ào của nhiều người nói trong căn

buồng hẹp. Một hay hai lần gì đó, anh nghe nói đến

tên anh. Hình như người ta đang nói với nhau về sự

chấp nhận anh vào chi nhánh Hội. Rồi một người bảo

vệ, bước vào căn phòng anh đang đứng đợi và truyền

cho hai người môn huynh biết.

- Ngài Toán trưởng ra lệnh hãy trói người này lại,

bịt mắt và đưa vào trình diện.

Cả ba người lột áo anh ra, vén tay áo sơ-mi bên

phải lên và trói giật cánh khuỷu anh ra đằng sau.

Rồi họ đội lên đầu anh một chiếc mũ lưỡi trai bằng

thứ vải đen dày, và ấn sâu xuống cho đến che hết

phần trên của mặt, anh được dẫn vào phòng họp.

271

Anh có cảm giác là đêm tối đen như mực. Anh nghe

tiếng thì thào của những người dự họp, rồi tiếng

nói của McGinty.

- McMurdo, anh đã là hội viên của “Hội những Người

Tự Do” chưa?

McMurdo gật đầu.

- Chi nhánh của anh có phải là số 29 của Chicago

không? McMurdo lại gật đầu.

- Những đêm đen tối rất khó chịu...

- ... Cho những người lạ mặt phải đi lại.

- Những đám mây đều nặng nề.

- Một cơn bão sắp lại gần.

- Các môn huynh đã thỏa mãn chưa?

Có một tiếng rì rầm chứng tỏ sự đồng ý.

- Môn huynh, anh đã đáp đúng được mật hiệu, chúng

272

tôi biết anh thật sự là người trong Hội. Nhưng

chúng tôi cũng muốn anh biết rằng trong khu vực

này, chúng tôi có những nghi lễ và những điều bắt

buộc đòi hỏi phải có lòng dũng cảm. Vậy, anh có sẵn

sàng để chịu đựng không?

- Có.

- Anh có can đảm không?

- Có.

- Hãy tiến lên một bước.

Vừa nghe đến đây thì anh cảm thấy có hai mũi nhọn,

cứng ở đằng trước mắt. Hai mũi nhọn này ấn vào hai

mắt anh khiến anh có cảm giác là nếu tiến lên thì

hai mắt sẽ bị đâm thủng. Mặc dầu vậy, anh vẫn tiến

lên một bước, và hai mũi nhọn biến mất. Anh nghe

thấy những tiếng khen ngợi kín đáo.

273

- Anh can đảm đấy. Nhưng liệu có chịu được sự đau

đớn không?

- Không kém bất kì ai.

- Hãy thử thách.

McMurdo đã phải sử dụng tất cả nghị lực mới không

kêu thét lên: Một sự đau đớn khủng khiếp vừa xiên

ngang qua cánh tay anh, suýt làm anh ngất xỉu.

- Tôi có thể chịu được hơn thế nữa.

Lần này thì tiếng vỗ tay nổ vang lên. Chưa bao giờ

chi nhánh ở đây thấy một người mới nhập hội cương

quyết hơn thế. Người ta nhấc cái mũ ở trên đầu anh

xuống, và vỗ vào lưng anh đồm độp. Anh vẫn đứng im,

chớp chớp mắt cười trong khi các môn huynh tới

chúc mừng anh.

McGinty nói:

274

- Môn huynh McMurdo. Anh đã tuyên thệ giữ bí mật

và trung thành, nhưng chắc anh biết rằng ai phản

bội lời thề đó sẽ bị án tử hình tức khắc chứ?

- Tôi biết.

- Và anh có tuân theo lệnh của người Toán trưởng

trong bất kì hoàn cảnh nào không?

- Có.

- Vậy thì, nhân danh chi nhánh 341 của Vermissa,

tôi mời anh được tham dự vào những nghi lễ và những

đặc quyền của Hội. Môn huynh Scanlan, hãy cho

chúng ta uống rượu đi.

Có một người đem trả lại cho McMurdo chiếc áo vét.

Trước khi mặc vào, anh xem xét lại chỗ cánh tay

phải vẫn còn đau như xé: Một cái ấn bằng sắt nung

đỏ đã in lên đấy hình một tam giác nằm trong một

275

đường tròn. Những người đứng xung quanh anh cũng

vén tay lên và chỉ cho anh xem dấu ấn của họ.

- Chúng tôi cũng đã được nhận dấu ấn này, nhưng

không ai dũng cảm được bằng anh đâu.

- Ồ, cũng không có gì ghê gớm lắm - McMurdo trả

lời.

Mấy tuần rượu mừng lễ nhập hội đã xong, chi Hội

bắt đầu bàn đến một số vấn đề thường vụ.

McGinty tuyên bố.

- Việc thứ nhất của buổi họp hôm nay là bức thư

của vị trưởng hạt Windle ở Merton, chi nhánh 249.

Bức thư như sau:

“Quý vị thân mến, có một công việc nhỏ cần làm đối

với Andrew Rae, ở công ty Rae & Sturmash, chủ

những mỏ bên cạnh. Chắc các vị chưa quên là chi

276

nhánh các vị còn nợ chúng tôi về việc chúng tôi đã

cử hai môn huynh đến để giúp các vị trong vụ tên

cảnh sát, mùa thu vừa qua. Nếu các vị cử đến cho

chúng tôi hai người tình nguyện, thì họ sẽ được

người thủ quỹ Higgins của chi nhánh chúng tôi trông

nom chu tất và sẽ hướng dẫn họ cách hành động, ở

đâu và lúc nào. Chào huynh đệ.

J. W. Windle D.M.A.O.F.”

- Ông Windle chưa bao giờ từ chối cho chúng ta vay

một hoặc hai người khi chúng ta cần, thì bây giờ

chúng ta cũng không thể từ chối ông ta.

McGinty ngừng lại, đưa mắt nhìn khắp căn phòng. -

Ai xung phong đi làm công việc vặt này?

Mấy thanh niên cùng giơ tay một lượt. Ông Toán

trưởng mỉm cười đồng ý.

277

- Tiger Cormac, anh sẽ đi. Nếu anh cũng làm ăn tốt

như lần trước thì mọi việc sẽ bình thường cả thôi,

cả anh nữa, Wilson.

Người xung phong đó thắc mắc:

- Nhưng tôi không có súng lục.

- Đây là trận đầu tiên của anh, có phải không? Thế

thì phải bắt đầu bằng lễ chịu lửa đã. Còn súng

lục, đến nơi sẽ có. Khi nào trở về, sẽ có ăn mừng

trọng thể.

- Thế còn tiền thưởng, lần này thì sao? - Cormac

hỏi.

- Tiền thưởng không phải là thứ quan trọng. Anh ra

tay vì danh dự mà. Khi nào công việc xong xuôi,

người ta cũng sẽ vét được trong ở két bạc đấy một

đôi đồng đô-la cũ rích nào đó để trao cho anh.

278

Wilson hỏi:

- Cái người đó đã làm gì?

- Chuyện đó không dính gì đến chúng ta. Công việc

của chúng ta là thay họ thanh toán hắn, cũng như họ

đã thay ta ở đây vậy. À nhân đây cũng nói luôn:

Tuần lễ sau sẽ có hai môn huynh của chi nhánh

Merton đến đây để làm thay chúng ta một công việc

nhỏ.

Có người hỏi:

- Ai đến thế?

- Đừng nên đặt những loại câu hỏi như vậy. Anh chỉ

cần biết đây là những người rất chịu chơi.

Teddy kêu lên:

- Ở đây đang cần có những loại người ấy đấy. Dân

chúng ở đây đã bắt đầu hơi coi thường rồi đó. Trong

279

tuần trước, ba người của chúng ta đã bị tên đốc

công Blaker đuổi không cho làm nữa. Chúng ta mắc nợ

với cái thằng này từ lâu rồi, bây giờ phải hoàn

lại đủ cả vốn lẫn lãi cho nó thôi.

McMurdo thì thầm vào tai người ngồi bên hỏi:

- Hoàn vốn như thế nào? Người này phá lên cười:

- Bằng một viên đạn súng săn chứ còn bằng cái gì

nữa. Anh thấy những phương pháp của chúng tôi thế

nào, môn huynh?

McMurdo có vẻ tán thành những phương pháp của cái

hội giết người này:

Phương pháp hay quá. Một chàng trai không phải

thỏ đế thì

- đây tốt quá đi chứ!

Những người ngồi bên vỗ tay tán thưởng, ở đầu bàn

280

đằng kia, ông Toán trưởng hỏi với lại:

- Cái gì thế?

- Thưa ông – Vị môn huynh nói - McMurdo thấy

phương pháp làm việc của chúng ta hợp với khẩu vị

của anh ấy lắm.

McMurdo đứng phắt lên, trịnh trọng nói:

- Thưa ông kính mến, tôi muốn nói rằng, nếu thấy

cần đến một người để làm một việc gì đó thì tôi sẽ

tự coi như có danh dự lớn nếu được ông cho làm.

Viên thư kí Harraway - một lão già râu xám ngồi

bên cạnh Toán trưởng, can thiệp ngay:

- Tôi đề nghị là để môn huynh McMurdo chờ đợi khi

nào chi nhánh cần đến.

- Tất nhiên. Đó chính là điều mà tôi muốn nói. Tôi

hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của chi nhánh -

281

McMurdo đáp lại.

Toán trưởng nói một cách an ủi:

- Rồi sẽ đến lượt anh thôi, môn huynh. Chúng tôi

nhận thấy anh là một con người cương nghị, và tin

chắc rằng anh sẽ làm được những việc xuất sắc. Tối

nay, nếu anh muốn, anh có thể tham dự vào một công

việc nho nhỏ thôi.

- Tôi xin chờ.

- Bây giờ, trước hết tôi yêu cầu thủ quỹ cho chúng

ta biết bản hạch toán tiền nong. Phải trả một số

tiền tuất kha khá cho người vợ góa của Jim

Carnaway.

Một người ngồi bên McMurdo giải thích cho anh ta

hiểu:- Jim đã bị giết tháng trước trong khi đang

định hạ sát Chester Wilcox.

282

Thủ quỹ mở sổ sách ra trước mặt, nói:

- Quỹ hiện nay rất phong phú, Max Linder & Co. đã

trả năm trăm đô-la. Hai anh em Walker gửi đến một

trăm đô-la, nhưng tôi đã tự ý gửi trả lại họ, để

đòi năm trăm đô- la kia. Nếu từ nay đến thứ Tư sau

mà tôi không có tin tức gì, thì bộ cần trục của họ

có thể sẽ bị tai nạn. Năm ngoái chúng ta đã bắt

buộc phải đốt cháy cái máy nghiền quặng của họ.

Hiện nay chúng ta có vốn đủ để có thể đương đầu với

bất cứ một yêu cầu nào.

- Thế còn cái vụ Wilcox thì sao?

- Hắn đã bán hết gia sản và đi khỏi khu vực rồi.

Cái thằng quỷ già đó có để lại cho chúng ta một bức

thư nói rằng, thà hắn đi làm nghề quét đường ở New

York còn thú vị hơn là làm một chủ mỏ để bị một

283

băng cướp tống tiền khống chế. Quân chó đẻ, cũng

may là hắn đã đi khỏi đây trước khi bức thư đến tay

chúng ta.

Một người đã đứng tuổi, mặt mũi nhẵn nhụi có dáng

hiền lành hỏi:

- Thưa ông thủ quỹ, tôi có được phép xin ông cho

chúng tôi biết ai đã mua cái lô đất của người mà ta

vừa đuổi chạy khỏi khu vực này không?

- Được, môn huynh Morris. Lô đất ấy đã do Công ty

Hỏa xa ở Merton mua.

- Và ai đã mua lại những mỏ của Todman và của Lee

đem bán đấu giá năm ngoái, cũng vì những lí do như

trên?

- Cũng lại Công ty Hỏa xa.

- Và ai đã mua lại những lò rèn của Manson, của

284

Shuman, của Van Deher, rồi cả của Atwood, khi họ bỏ

lại để chạy trốn?

- Tất cả đều được Công ty mỏ tổng hợp West

Gilmerton mua lại hết.

Toán trưởng can thiệp, hỏi lại:

- Môn huynh Morris, tên tuổi của những người đã

đứng tên mua không làm cho chúng ta phải quan tâm,

vì không thể bê những cái bể lò đó ra khỏi vùng này

được kia mà.

- Thưa ngài kính mến, với tất cả lòng tôn kính của

tôi đối với ngài, tôi vẫn nghĩ rằng vấn đề này

phải được chúng ta quan tâm nhiều hơn nữa. Như thế

là trong mười năm nay, chúng ta vẫn tiếp tục dùng

có một phương pháp thôi. Đó là chúng ta dần dần

đuổi hết những nhà thầu nhỏ ra khỏi nơi đây. Kết

285

quả là thế nào? Họ được thay thế bởi những công ty

lớn, mà những giám đốc của các công ty đó thì ngự ở

New York hay Philadelphia, và hoàn toàn coi thường

những đe dọa của chúng ta. Nhưng, khi những công

ty lớn thấy chúng ta là những vật chướng ngại giữa

họ và số tiền lãi, thì họ sẽ không từ bất cứ một cố

gắng nào, để đưa chúng ta ra trước pháp luật.

Mọi người im bặt, nét mặt sa sầm xuống. Từ trước

đến giờ họ vẫn cảm thấy họ có uy lực đến mức không

ai dám khiêu khích họ, và họ cho rằng họ vững như

thành đồng. Ý kiến của môn huynh này đã làm dựng

chân lông những con người bất trị nhất.

Diễn giả nói tiếp:

- Vì vậy ý kiến của tôi là, chúng ta nên nới bớt

tay đối với các chủ nhỏ. Ngày nào mà họ bắt buộc

286

phải trốn chạy đi hết, thì ngày ấy quyền lực của

Hội sẽ bị tan vỡ.

Không phải sự thật nào cũng nên nói ra. Khi môn

huynh Morris ngồi xuống, những tiếng kêu giận dữ đã

nổi lên. McGinty đứng dậy, vầng trán bừng bừng:

- Này môn huynh Morris, anh từ trước đến nay vẫn

là người chuyên nói những điều gở dại. Chừng nào mà

tất cả những Hội viên trong chi nhánh vẫn sát cánh

với nhau, thì không có một thế lực nào làm hại đến

chúng ta, những công ty lớn cũng sẽ thấy được là

trả tiền cho chúng ta sẽ đơn giản hơn là chọi với

chúng ta. Và rồi họ cũng sẽ làm theo như các công

ty nhỏ thôi. Còn bây giờ, thưa các môn huynh...

McGinty bỏ cái mũ nhung đen và tấm đai xuống.

- Chi hội chúng ta đã bàn xong mọi công việc tối

287

nay, chúng ta chỉ còn một việc nhỏ nữa cần phải nói

trước lúc chia tay. Nhưng bây giờ đã đến lúc chúng

ta nghỉ xả hơi giải khát một chút và vui hát với

nhau, như anh em trong một nhà.

McMurdo có một giọng nam cao rất hay, anh hát bài

I’m sitting on the stile, Mary và bài On the banks

of Allan water, và hốt hết tình cảm của khán giả.

Ai cũng đoán rằng, rồi đây, anh ta sẽ tiến bước lên

những chức vụ cao nhất trong Hội. Nhưng muốn làm

một “Người Tự Do” trong cái Hội này, cũng đòi hỏi

phải có một vài đức tính khác nữa. McMurdo đã hiểu

ra được điều đó trước khi buổi họp tối hôm ấy kết

thúc. Chai rượu whisky đã được chuyền tay đi mấy

lần. Các chàng trai mặt đỏ như gấc, đã chín muồi để

có thể làm bất cứ một việc gì. Ông Toán trưởng

288

tiếp tục:

- Các chàng trai! Trong thành phố có một người

đang cần một bài học. Đó là lão già James Stanger

của tờ báo Vermissa Herald, gần đây hắn lại bắt đầu

há cái mồm to tướng ra để chống lại chúng ta.

Một tiếng rì rào đồng tình đáp lại, pha lẫn đây đó

là một vài câu chửi thề thô tục. McGinty rút ở

trong túi áo ra một mẩu nhật trình, đọc bài Pháp

luật và Trật tự.

“Sự khủng bố đang ngự trị trong vùng than và sắt.

Mười hai năm đã trôi qua từ khi xảy ra những vụ ám

sát đầu tiên chứng tỏ có sự hiện diện của một tổ

chức tội ác trong vùng chúng ta. Từ ngày đó đến

nay, những vụ án mạng không một lúc nào ngừng, và

bây giờ đã lên đến một quy mô làm cho chúng ta trở

289

thành một mối ô nhục của thế giới văn minh. Một

tình trạng khủng bố và vô chính phủ sẽ được thiết

lập dưới bóng thiêng liêng của lá cờ tự do hay sao?

Người ta biết rõ những tên cầm đầu. Chúng đã hoạt

động công khai trước mắt mọi người. Chúng ta sẽ còn

phải chịu đựng tình trạng này bao nhiêu lâu nữa.

Chúng ta sẽ sống...”

Ông Toán trưởng vứt mảnh báo xuống bàn.

- Thôi đọc cái thứ văn chương này như thế là đủ

rồi. Đó, hắn nói về chúng ta như vậy đó. Câu hỏi

tôi muốn đặt ra cho các bạn là: Chúng ta sẽ nói gì

với hắn?

Hàng tá tiếng thét hung dữ nổi lên:

- Giết mẹ nó đi!

Môn huynh Morris - cái người có bộ mặt hiền lành

290

đó lại đứng lên, cãi lại:

- Tôi đã nói với các môn huynh rằng: Chúng ta đạp

quá nặng xuống thung lũng này, và cũng chẳng còn

bao lâu nữa, sẽ đến cái ngày mà tất cả công dân

trong vùng họp nhau lại để đè bẹp chúng ta. James

là một ông già. Ông ta được người trong thành phố

và trong vùng kính trọng. Nếu các anh giết người

này, thì cả nước sẽ báo động, cho đến khi chúng ta

bị tiêu diệt hết mới thôi.

McGinty rống lên:

- Chúng tiêu diệt chúng ta bằng cách nào, thưa

ngài Thỏ Đế? Bằng cảnh sát chăng? Coi nào, một nửa

số cảnh sát ăn lương của chúng ta, nửa kia sợ chúng

ta như sợ cọp. Bằng tòa án chăng? Chúng ta đã thử

nhiều lần rồi đó, hỏi có đi đến đâu không?

291

Môn huynh Morris đáp lại:

- Có một “quan tòa” tên là “Lynch” có thể tuyên

án.

- Tôi chỉ cần giơ một ngón tay lên, là có thể đưa

về đây hai trăm người để dọn sạch thành phố này từ

đầu đến cuối! - McGinty nói. Rồi bỗng ông ta chồm

người về phía trước, vầng trán nhăn lại một cách dữ

tợn, nói dằn từng tiếng:

- Nghe đây, môn huynh Morris, tôi theo dõi anh từ

lâu rồi. Bản thân anh không có một chút can đảm

nào, nhưng anh lại cứ cố gắng phá hoại lòng can đảm

ở người khác. Môn huynh Morris, khi nào mà tên anh

được ghi trên chương trình nghị sự, thì ngày ấy sẽ

là một ngày không tốt cho anh.

Morris mặt nhợt nhạt, ngã ngồi xuống ghế, hai đầu

292

gối nhũn ra như bông. Ông chìa một tay run rẩy ra

cầm lấy li rượu uống cạn một hơi trước khi trả lời.

- Thưa ngài tôn kính, tôi xin ngài thứ lỗi cho.

Tôi xin tất cả các môn huynh thứ lỗi cho, nếu như

tôi đã quá lời. Tôi là một Hội viên trung thành và

trung thực, tất cả các môn huynh đều biết chính vì

sợ một biến cố có thể xảy ra, nên tôi mới phải phát

biểu ý kiến như vậy. Nhưng tôi tin tưởng ở sự phán

xét sáng suốt của ngài tôn kính, hơn là tin tưởng

ở sự nhận thức của tôi... Tôi xin hứa từ giờ trở

đi, tôi sẽ không bao giờ dám làm phật ý ngài nữa.

Những nếp nhăn trên trán của ngài Toán trưởng giãn

ra.

- Được rồi, môn huynh Morris, tôi sẽ buồn nếu phải

giảng cho anh một bài học, nhưng chừng nào mà tôi

293

còn giữ chức vụ, thì chúng ta sẽ giữ vững sự thống

nhất trong chi nhánh về lời nói và việc làm. Và bây

giờ, hỡi các chàng trai...

Ông Toán trưởng nhìn một vòng khắp mặt những người

đứng xung quanh.

- Nếu James lãnh đủ những gì mà hắn đáng nhận, thì

chúng ta sẽ bị phiền nhiễu. Những thằng nhà báo

gắn kết với nhau lắm đấy. Nếu James bị hạ, tất cả

các báo chí ở Hoa Kì sẽ đòi hỏi cảnh sát và quân

đội can thiệp. Vậy các anh chỉ nên cho hắn một lời

cảnh cáo nghiêm khắc mà thôi. Môn huynh Teddy, anh

có thể gánh vác việc này được không?

- Dĩ nhiên là được ạ! - Teddy phấn khởi trả lời.

- Anh cần bao nhiêu người?

- Độ sáu người. Thêm hai nữa để giữ cửa.

294

- Tôi đã hứa để cho vị môn huynh mới của chúng ta

được tham dự vào trận ra quân này - McGinty nói.

Teddy nhìn McMurdo với một cặp mắt chứng tỏ hắn

chưa tha thứ một tí gì. Hắn trả lời bằng một giọng

chua như giấm:

- Thì để anh ta đi. Công việc làm xong sớm chừng

nào, hay chừng ấy.

Hội nghị chia tay nhau giữa những tiếng la, hét và

những bài hát say rượu. Quầy rượu bên ngoài vẫn

còn đông khách, nhiều môn huynh cũng sà vào đó.

Toán đi làm nhiệm vụ thì chia nhỏ ra.

Bên ngoài rét cóng. Một mảnh trăng lưỡi liềm le

lói trên bầu trời giá buốt và đầy sao. Các chàng

trai tụ tập trong một mảnh sân đối diện với một tòa

nhà lớn, giữa hai cửa sổ sáng choang có khắc hàng

295

chữ vàng “Vermissa Herald”. Bên trong, các máy in

đang chạy đều đều.

Teddy xẵng giọng bảo McMurdo:

- Anh kia, đứng đấy. Anh sẽ ở dưới này canh cửa và

giữ đường thông suốt lúc chúng tôi ra. Còn những

người khác theo tôi. Đừng sợ gì cả.

McMurdo cùng một người khác đứng dưới nhà. Họ nghe

thấy ở tầng lầu một những tiếng thét, tiếng kêu

cứu, tiếng chân người chạy và tiếng đập phá đồ đạc.

Một lát sau, một người tóc hoa râm chạy ra cầu

thang. Nhưng chưa chạy xa được thì đã bị túm lại,

và cặp kính rơi xuống chân McMurdo. Một tiếng người

ngã, tiếp theo là những tiếng rên rỉ. Người đó nằm

sấp, mặt úp xuống. Sáu cây gậy cùng một lúc đánh

tới tấp xuống đất. Đánh chán, một lúc sau, chúng

296

mới ngừng tay, Teddy vẫn ra sức đánh vào đầu nạn

nhân. Máu đã chảy ra loang lổ cả vùng tóc bạc.

Teddy cúi xuống định đánh một đòn cuối cùng.

McMurdo nhảy bổ lên gác, gạt hắn ra.

- Mày định giết ông ta à? Thôi đi!

- Cút mẹ mày đi! Mày làm gì thế này, lùi ra!

Hắn giơ cao cây gậy lên. Nhưng McMurdo đã rút

súng, hét lên:

- Nếu mày động đến tao, tao bắn bể đầu mày ngay.

Lúc nãy ông Toán trưởng đã ra lệnh là không được

giết ông James.

Một đứa trong bọn chúng tán thành: - Anh ấy nói

đúng đó!

Người đứng gác dưới nhà gọi vọng lên:

- Thôi nhanh lên. Các anh muốn cả thành phố xông

297

ra hay sao?

Đúng là lúc ấy, ở ngoài đường đã nghe thấy nhiều

tiếng người kêu gọi nhốn nháo. Bọn lưu manh chạy

vội xuống và tẩu thoát ra lối cửa. Khi chúng về đến

Hội quán thì một vài đứa lẩn ngay vào đám khách và

thì thào vào tai McGinty. Những đứa khác, trong số

đó có McMurdo thì tản ra trong các ngõ hẻm để về

nhà.

4. THUNG LŨNG KHỦNG KHIẾP

Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, McMurdo thấy đầu nhức

như búa bổ. Cánh tay phải nơi dấu sắt nung đỏ in

vào rát bỏng và sưng phồng lên, anh ăn điểm tâm rất

muộn và không ra khỏi nhà. Rồi anh đọc lướt qua tờ

Vermissa Herald. Trong mục Tin giờ chót có đưa

tin:

298

“Tòa soạn báo Vermissa Herald, bị tấn công. Chủ

bút bị thương nặng.”

Theo sau là một bài tường thuật ngắn về những sự

việc mà anh biết rõ hơn ai hết. Bài báo kết thúc

như sau:

“Sự việc hiện nay đang được cảnh sát tra xét.

Nhưng người ta cũng không thể hi vọng có kết quả gì

hơn những vụ trước đây. Một số tên côn đồ không

phải là những người xa lạ. Chúng phải được kết tội.

Những bạn hữu rất đông đảo của James sẽ hết sức

vui mừng khi nghe tin tính mạng của ông không bị đe

dọa.”

Dưới bài báo, một mục tin nhỏ thông báo, một đội

canh gác của cảnh sát vùng mỏ được vũ trang bằng

súng, từ nay sẽ bảo vệ tòa soạn.

299

McMurdo ném tờ báo xuống và đang đưa một bàn tay

lên đốt thuốc thì có tiếng gõ cửa.

Bà chủ trọ vào đưa cho anh một bức thư mà một đứa

nhỏ vừa cầm đến. Thư không kí tên, viết như sau:

“Tôi muốn nói chuyện với ông, nhưng nói ở bên

ngoài nhà ông. Ông có thể gặp tôi ở cạnh cột cờ

trên đồi Miller. Nếu ông đến ngay bây giờ, tôi sẽ

nói cho ông hay một điều quan trọng đối với ông và

đối với tôi.”

McMurdo đọc đi đọc lại bức thư và không thể đoán

được ai là tác giả. Anh chần chừ suy nghĩ rồi quyết

định phải làm cho sáng tỏ vấn đề.

Đồi Miller là một công viên ở ngay trung tâm thành

phố. Mùa hè có đông người dạo chơi, nhưng mùa đông

thì vắng ngắt. Đứng trên đồi, người ta nhìn thấy

300

không những cả thành phố mà cả vùng thung lũng nữa.

McMurdo đi theo con đường dẫn lên một quán ăn, bên

cạnh quán có một cột cờ, và dưới chân cột cờ là

một người đàn ông mũ đội sụp xuống tận mắt, cổ áo

khoác bẻ cao lên. Khi người này quay lại, McMurdo

nhận ra môn huynh Morris. Hai người trao đổi với

nhau nghi thức của Hội.

Ông già ngập ngừng nói như người đang dò dẫm đi

lần từng bước:

- Tôi xin cám ơn ông đã đến.

- Tại sao ông không kí tên dưới bức thư?

- Thưa ông, trong cái thời buổi này, không ai biết

trước được hậu quả của bất cứ một việc gì. Mà cũng

không biết có thể tin cậy được vào ai.

- Dù sao cũng có thể tin cậy được ở các môn huynh

301

trong cùng một chi nhánh chứ?

- Không. Không thể tin được. Dù chúng ta có nói

gì, thì tất cả đều đến tai của McGinty cả.

McMurdo nói một cách trang nghiêm:

- Tối hôm qua, tôi thề trung thành với ngài Toán

trưởng. Mà hôm nay ông lại đòi tôi phản bội lời thề

đó hay sao?

Morris buồn rầu nói thều thào:

- Nếu ông nhìn sự việc như vậy, thì thôi, tôi rất

tiếc đã quấy rầy ông. Tình hình đã đi đến chỗ tồi

tệ đến nỗi hai “Người Tự Do” không dám trao đổi

những ý nghĩ của mình với nhau nữa.

McMurdo cảm thấy bớt căng thẳng hơn.

- Tôi là người mới tới đây, tôi không hay biết gì

hết, nếu ông tin rằng việc ông định nói với tôi là

302

có ích lợi thì tôi đến đây chính là để nghe ông.

Morris cay đắng tiếp theo:

- Để rồi mách lại tất cả với McGinty. Nhưng

McMurdo vội nói ngay:

- Ông đánh giá tôi không đúng. Tôi trung thành với

chi nhánh Hội. Tôi đã nói dứt khoát với ông như

vậy, nhưng tôi sẽ là một thằng khốn nạn nếu tôi đi

kể lại với một người nào khác những điều ông tâm sự

với tôi. Nhưng ông chớ có chờ mong ở tôi một sự

giúp đỡ hay cảm tình.

- Tối hôm qua tôi có cảm tưởng là ông đang cố dập

theo khuôn mẫu của những tên tệ hại nhất trong cái

băng này. Dù ông có xấu đến đâu đi nữa, thì ông

cũng vẫn là một hội viên mới, lương tâm của ông

chưa bị chai cứng lại. Vì vậy mà tôi muốn nói

303

chuyện với ông.

- Ông định nói gì với tôi?

- Khi ông gia nhập Hội ở Chicago, và khi ông tuyên

thệ giữ lòng nhân ái, trung thành thì có bao giờ

ông nghĩ rằng, điều đó sẽ dẫn ông đến tội ác không?

- Hãy giả thiết đó là một tội ác.

Morris la lên, giọng nói xúc động:

- Hãy giả thiết à?... Mới tối hôm qua đây thôi,

đánh một người già bằng tuối bố tôi, như thế có

phải là tội ác không? Nếu ông cho rằng đó không

phải là tội ác, thì là cái gì vậy?

- Có người nói đó là chiến tranh. Chiến tranh giữa

hai giai cấp. Một cuộc chiến tranh tốc lực, không

khoan nhượng.

304

- Thế khi ông xin gia nhập “Hội những Người Tự Do”

ở Chicago, lúc đó ông có nghĩ đến cuộc chiến tranh

ấy không?

- Không, lúc đó tôi không nghĩ như thế.

- Tôi cũng vậy, khi tôi gia nhập Hội ở

Philadelphia, Hội chỉ đơn giản là một hội ái hữu

tương tế, một nơi đến để gặp gỡ bạn bè. Rồi tôi

nghe nói đến vùng này. Tôi dọn đến đây với dự tính

cải thiện hoàn cảnh của tôi. Vợ tôi và ba con tôi

cũng theo tôi. Tôi mở một cửa hàng bán vải ở phố

chợ và phát đạt lên. Rồi người ta biết tôi là một

hội viên “Hội những Người Tự Do”, thế là tôi bắt

buộc phải gia nhập vào chi nhánh ở địa phương. Tôi

cũng có cái dấu hiệu ô nhục này trên cánh tay, và

một cái gì còn tệ hại hơn nữa in bằng sắt nung đỏ

305

vào tim. Tôi có thể làm gì được? Tất cả những gì

tôi nói ra để hòng sửa chữa tình trạng này, đều bị

coi như một sự phản bội. Tôi không thể chạy trốn đi

khỏi nơi này: Tất cả của cải của tôi là nằm trong

cửa hàng. Nếu tôi xin ra khỏi Hội, thì đó là tự kí

vào bản án tử hình, rồi còn vợ và các con tôi.

Morris úp mặt vào hai bàn tay và cả người đều run

lên trong những tiếng khóc nức nở.

- Ông quá mềm yếu đối với trò chơi này. Hoàn toàn

không phải loại người thích hợp...

- Trước đây tôi có một lương tâm và một tôn giáo.

Chúng đã biến tôi thành một tên tội phạm, tôi đã bị

chỉ định vào một vụ án mạng. Nếu tôi từ chối, tôi

biết cái gì sẽ chờ đợi tôi. Tôi đã tham gia vào vụ

án đó. Đó là một căn nhà hẻo lánh, ở cách đây ba

306

mươi cây số ở bên kia núi. Chúng cũng đặt tôi ngoài

cửa như ông đêm hôm qua. Và khi trở ra, thì tay

chúng đầy máu. Chúng tôi bỏ đi, nhưng đằng sau tôi

có một đứa trẻ la hét. Đó là một đứa bé trai,

khoảng lên năm, vừa chứng kiến bố nó bị giết ngay

trước mắt nó. Tôi muốn ngất đi vì khủng khiếp,

nhưng tôi vẫn giữ nụ cười trên môi, vì nếu không

thì lần sau, chúng sẽ từ nhà tôi trở ra với các bàn

tay đầy máu. Khi biết tôi là một hội viên, vị thầy

tu không muốn nghe tôi nói nữa. Tôi bị rút phép

thông công. Đó là tình trạng của tôi bây giờ. Thế

mà tôi thấy ông cũng đang trượt xuống cái dốc đó.

Ông có sẵn sàng trở thành một tên giết người như

chúng không, hay chúng ta có thể làm được một cái

gì để ngăn chặn bọn chúng lại?

307

- Thế ông định tố cáo chăng?

- Ai mà dám làm một việc như vậy. Chỉ nghĩ trong

đầu thôi cũng đã đủ mất mạng rồi.

- Được. Tôi thấy ông nghĩ ngợi quá nhiều.

- Ông hãy nhìn cái thung lũng này. Ông có thấy

những đám mây tỏa ra từ hàng trăm ống khói đang bao

phủ lên nó không? Những đám mây tội ác còn nặng nề

gấp hàng trăm lần đang bao phủ trên những người

dân. Đây là thung lũng của sự khủng khiếp.

- Thôi được, để khi nào tôi thấy nhiều hơn, tôi sẽ

nói cho ông biết tôi nghĩ gì. Nhưng có một điều

chắc chắn là ông nên dẹp cái cửa hàng của ông đi,

càng sớm càng tốt. Những điều ông nói với tôi chỉ

hai người, tôi với ông biết mà thôi. Nhưng, nếu tôi

nghĩ rằng ông là một người chỉ điểm...

308

- Không!

- Thế thì thôi, ta ngừng lại ở đây. Tôi tin rằng

ông đã nói với tôi vì có ý tốt. Bây giờ, tôi đi về

đây.

- Xin ông cho tôi nói với ông một điều nữa trước

khi ông về.

- Rất có thể là có người trông thấy chúng ta đứng

đây, và người ta muốn biết chúng ta đã nói gì với

nhau.

- Ồ! Đúng thế!

- Ông sẽ nói rằng tôi muốn mời ông vào làm công

trong cửa hàng của tôi.

- Và tôi từ chối. Thôi môn huynh Morris, thế nhé,

một ngày khác ta lại gặp nhau.

Buổi chiều hôm đó, trong lúc McMurdo đang ngồi hút

309

thuốc và tư lự bên cạnh lò sưởi thì cửa mở, và

trên khung cửa hiện lên cái bóng to tướng của

McGinty. Hắn làm dấu hiệu chào của Hội rồi đến ngồi

trước mặt McMurdo và nhìn anh trân trân không chớp

mắt. Cái nhìn đó đã được đáp lại bởi một cái nhìn

cũng không kém cường độ.

Một lát sau, McGinty mới nói:

- Tôi đến đây, không phải là để thăm anh, mà để

xác định với anh một việc.

McMurdo tỏ vẻ rất hân hoan về việc tới thăm bất

ngờ này. Anh đứng dậy, ra mở tủ lấy một chai rượu.

- Thưa ông Hội đồng, tôi vui mừng được đón tiếp

ông. Tôi không ngờ lại có vinh dự này.

- Cái tay thế nào?

McMurdo nhăn mặt:

310

- Tôi sẽ không thể nào quên được. Những việc đó

đáng ghi nhớ lắm.

- Đúng. Thật đáng ghi nhớ đối với những người

trung thành, những người hết lòng với Hội. Sáng nay

anh nói gì với Morris?

Câu hỏi đã được đặt ra một cách hết sức đột ngột

cho nên phải trả lời ngay. McMurdo phá lên cười

ngặt nghẽo:

- Morris không biết rằng tôi có thể làm ăn ở đây,

ngay trong nhà này thôi. Mà cũng không nên để cho

hắn biết, vì tôi thấy hắn thắc mắc nhiều quá. Nhưng

hắn là một lão già tốt bụng. Hắn tưởng tôi không

có công ăn việc làm, nên muốn mời tôi về làm công

trong cửa hàng bán vải.

- Ồ. Ra thế đấy.

311

- Vâng.

- Thế anh đã từ chối chứ?

- Dĩ nhiên. Tôi có thể kiếm được gấp mười lần thế

với bốn giờ làm việc.

- Đúng thế. Nhưng nếu tôi là anh, tôi sẽ không đi

lại với Morris.

- Sao thế?

- Bởi vì tôi bảo anh là không nên đến, giải thích

thế là đủ rồi.

- Có lẽ đối với phần đông những người khác thì đủ

đấy, nhưng đối với tôi thì chưa đủ đâu. Nếu ông là

một người biết người biết của, thì ông phải hiểu

điều đó.

McGinty như nhìn đóng đinh vào mặt McMurdo. bàn

tay hắn bóp chặt li rượu. Nhưng rồi hắn lại bật

312

cười.- Đúng, anh không phải là một loại người bình

thường. Anh muốn biết lí do tại sao không nên đi

lại với Morris phải không? Được. Thế Morris có nói

gì chống lại chi Hội không?

- Không.

- Có nói gì chống lại tôi không?

- Không.

- À. Vậy là hắn không tin anh. Hắn không phải là

một người trung thành. Chúng tôi biết rõ hắn, và

vẫn theo dõi hắn để chờ lúc nào đó sẽ cho hắn một

bài học xứng đáng. Trong đàn cừu, không thể để một

con cừu ghẻ lở như vậy được. Nếu anh đi lại với một

tên phản bội, thì chúng tôi có thể nghĩ rằng anh

cũng là một tên phản bội. Anh có thấy như vậy

không?

313

- Tôi không thể nào gắn bó với hắn được, vì tôi

không thích loại người như hắn. Còn cái chữ “phản

bội” ông vừa gắn cho tôi, nếu là một người khác thì

anh ta sẽ không nói được đến lần thứ hai nữa đâu.

McGinty uống cạn li rượu:

- Đủ rồi đó. Tôi đến để cho anh một lời khuyên.

Anh đã nghe lời khuyên đó rồi. Thế là xong.

- Tôi muốn biết, ông làm cách nào mà biết được

rằng tôi đã nói chuyện với Morris?

McGinty mỉm cười:

- Đừng bao giờ quên rằng, cuối cùng rồi tôi cũng

sẽ biết tất cả mọi việc. Thôi, đến giờ rồi, và...

Vừa lúc McGinty đứng lên định đi, thì hai cánh cửa

bị đẩy mạnh, bật tung ra, và ba cái đầu đội mũ

lưỡi trai của cảnh sát chăm chăm nhìn hai người.

314

McMurdo vùng đứng dậy, định rút súng ra nhưng hai

khẩu súng đã chĩa thẳng vào anh. Anh thả tay xuống.

Một người mặc binh phục bước vào.

Đại úy Marvin ngúc ngắc cái đầu và mỉm cười nhìn

McMurdo.- Tôi vẫn nghĩ rằng thế nào rồi ngài cũng

giở trò mà, ngài lưu manh McMurdo. Thôi lấy mũ đội

vào, rồi đi theo tôi.

McGinty can thiệp:

- Đại úy sẽ phải trả giá về cái trò bông đùa này.

Sao ông dám tự tiện xông vào nhà người ta để dọa

nạt những người lương thiện?

- Ông Hội đồng, ông không dính đến chuyện này.

Chúng tôi chỉ có chuyện đối với tên McMurdo này

thôi.

- Đây là một người bạn của tôi, và tôi bảo lãnh

315

cho anh ta về những hành vi của anh ấy.

- Theo tất cả những điều người ta nói về ông, thì

rồi một ngày nào đó, chính ông, ông cũng sẽ phải

trả lời trước pháp luật... Tên này là một tên lưu

manh trước khi đến đây. Hiện nay hắn cũng vẫn là

một thằng lưu manh. Thượng sĩ, hãy chĩa súng vào

hắn trong khi tôi tước vũ khí của hắn.

McMurdo lạnh lùng nói:

- Đây, súng của tôi đây.

- Trát bắt người của ông đâu? Tôi xin thề là ông

sẽ biết tay tôi!

- McGinty đe dọa.

- Ông cứ hành động.

- Tôi bị buộc tội gì? - McMurdo hỏi.

- Dính líu vào vụ hành hung ở tòa soạn báo

316

Vermissa Herald.

McGinty vừa cười vừa nói:

- Người này tối hôm qua ở trong quán rượu của tôi.

Anh ta đánh bài mãi đến nửa đêm mới ra về. Tôi có

cả tá những người làm chứng có thể xác nhận việc

này.

- Đó là việc của ông. Ngày mai ông sẽ trình bày

trước tòa. McMurdo, đi thôi!

McGinty cố thu xếp để nói riêng với McMurdo mấy

câu trước khi anh bị dẫn đi.

- Thế còn cái?...

McGinty giơ một ngón tay lên để ám chỉ cái máy dập

đô-la. McMurdo đã giấu kĩ nó dưới sàn nhà nên trả

lời:- Yên trí.

- Chúng ta sẽ sớm gặp nhau thôi. Tôi đi tìm thầy

317

cãi. Chúng sẽ không giữ được anh lâu đâu.

Đại úy Marvin xen vào:

- Thượng sĩ, ông hãy canh gác kĩ tên tù này, và

cho phép ông bắn bỏ nếu hắn định giở trò gì ra, tôi

đi khám buồng của hắn.

Người sĩ quan không tìm thấy cái máy làm bạc giả.

Khi ở trên lầu xuống, anh ta ra lệnh dẫn McMurdo về

đồn. Trời đã tối, gió thổi lạnh lẽo, đường sá vắng

tanh. Chỉ có một vài người hiếu sự đi theo, và

được bóng tối làm cho bạo dạn hơn, đã chửi bới tên

tù đang bị dẫn đi.

- Hãy đánh chết cái thằng “Tiên Phong” này đi!

Đánh chết đi!

Họ cười đùa và nói khôi hài khi thấy cả đám bước

vào trong đồn cảnh sát. Sau khi bị hỏi cung chiếu

318

lệ, McMurdo bị dẫn tới một phòng giam. Anh gặp lại

ở đây tên Teddy và ba tên tội phạm khác.

Nhưng ngay ở trong bức thành trì của luật pháp

này, bàn tay dài ngoằng của “Những Người Tự Do”

cũng vẫn vươn tới được. Một người cai ngục mang rơm

vào để chúng rải xuống sàn ngủ cho ấm. Chúng moi

từ bó rơm ra hai chai rượu, mấy cái li và một cỗ

bài.

Chúng đã qua một đêm vui vẻ, không cảm thấy có một

chút nào lo sợ đối với vụ xử án ngày hôm sau.

Tại tòa, trước những chứng cớ đưa ra, vị quan tòa

đành chịu không thể tuyên án. Những người thợ nhà

in công nhận rằng ánh sáng lúc đó nhập nhèm. Bản

thân họ cũng không được tỉnh trí, nên họ ở trong

tình trạng rất khó nói dứt khoát về nhận dạng của

319

những tên côn đồ... Đến khi họ bị ông luật sư hỏi

vặn lại, thì họ lại càng ấp úng hơn nữa. Nạn nhân

cũng đã khai rằng, ông ta bị tấn công quá đột ngột

nên không thể xác định được điều gì, ngoài việc mấy

tên đánh đầu tiên vào ông có bộ râu mép. Ông nói

thêm rằng, bọn chúng chỉ là “Những Người Tiên

Phong” thôi, vì ông ta không có ai khác là kẻ thù

trong thành phố.

Mặt khác, những lời làm chứng quả quyết của sáu

công dân, trong số đó có McGinty đã chứng minh

rằng, những người bị buộc tội ở đây đã đánh bài tại

Hội quán đến tận một thời điểm sau vụ hành hung

rất nhiều.

Chúng đã được tha bổng. Đại úy Marvin và ngành

cảnh sát bị khiển trách.

320

5. GIỜ ĐEN TỐI NHẤT

Sau phiên toà, McMurdo càng nổi tiếng hơn. Những

huynh trưởng trong chi nhánh bảo nhau: “Không ai có

thể thay thế anh ta được khi có những vụ gay go”.

McGinty cũng công nhận rằng, McMurdo là cánh tay

đắc lực nhất. Hắn có cảm giác là đang nắm ở trong

tay một con chó săn cực kì hung ác. Tất nhiên để

làm những việc lặt vặt thì hắn không thiếu những

con chó con, nhưng nhìn xa trông rộng, hắn đã thấy

được cái ngày mà hắn phải xua con chó dữ tợn này

vào một con mồi xứng đáng với nó kia. Một vài môn

huynh trong chi Hội, trong đó có Teddy đã đem lòng

ghen tức, nhưng thầm lặng trong bụng thôi.

Nếu McMurdo đã chiếm được cảm tình của các bạn

hữu, thì ở một nơi khác, anh lại mất hết. Bố của cô

321

Ettie không muốn trông thấy mặt anh nữa, và cũng

không cho anh bước chân vào nhà nữa. Ettie thì

không từ bỏ anh được, nhưng cô cũng tỉnh táo suy

nghĩ về những hậu quả của một cuộc hôn nhân với một

kẻ bị mọi người coi như một tên tội phạm. Một buổi

sáng, cô quyết định đi tìm gặp anh, cố gắng kéo

anh ra khỏi những ảnh hưởng độc hại đang hút anh ta

xuống vực thẳm.

McMurdo đang ngồi trước bàn, quay lưng ra ngoài,

trước mặt có một bức thư. Một ý nghĩ tinh nghịch

thoáng qua đầu óc cô bé mười chín tuổi này. Anh

không nghe thấy cô mở cửa, nên cô nhón gót yên lặng

đi đến sau lưng, nhẹ nhàng đặt hai tay lên vai

anh.

Anh ta nhảy chồm lên như một con hổ, tay phải thì

322

nắm lấy cổ cô, tay kia thì vò nát bức thư để trước

mặt. Lúc đó anh mới kịp nhìn ra cô. Thêm sự ngạc

nhiên và niềm vui tràn ngập đến thay sự hung bạo.

Nhưng, sự hung bạo đã làm cô khiếp đảm, phải lùi

mãi đến bức tường phía sau lưng.

McMurdo vừa lau mồ hôi trán vừa nói:

- Em đấy à, lại đây, em yêu... - McMurdo dang rộng

hai tay ra phía trước:

- Bắt đền anh đấy!

Ettie vẫn còn bàng hoàng vì nét mặt của McMurdo mà

cô vừa phát hiện: Tất cả linh tính của phụ nữ đã

mách bảo cho cô biết rằng, đó không phải là sự sợ

hãi bình thường của một người bị bất ngờ. Không! Rõ

ràng là sự sợ hãi của một người có tội. Cô la lên:

323

- Anh làm sao thế! Tại sao anh lại sợ em đến như

vậy?

- Anh đang mải suy nghĩ về hàng trăm việc thì em

đến nhẹ nhàng quá, như những bước chân của một nàng

tiên. Không. Có cái gì hơn thế nữa kia.

Một thoáng nghi ngờ xuyên qua tâm trí cô:

- Hãy đưa cho em đọc cái thư anh đang viết đó.

- Anh không thể đưa em đọc được.

- Anh viết thư cho một người đàn bà khác rồi. Nếu

không, tại sao anh lại không đưa cho em coi?

- Anh chưa có vợ, anh thề trên thánh giá.

- Thế tại sao anh không cho em coi thư?

- Anh đã có lời thề với những người khác là sẽ

không cho ai đọc bức thư đó, anh cũng không muốn

phản bội những người đã tin anh, như anh không muốn

324

phản bội em. Đây là một công việc của chi nhánh

Hội, một công việc bí mật, ngay cả đối với em nữa.

Và anh hoảng sợ vì tưởng đó là bàn tay của cảnh

sát...

Ettie tin lời McMurdo. Những chiếc hôn nồng cháy

của anh đã xóa sạch hết sợ hãi và nghi ngờ.

- Em hãy đến ngồi bên cạnh anh. Đây là một cái

ngai vàng thật không xứng đáng với một nữ hoàng như

em.

- Làm sao có thể yên tâm được khi biết rằng anh đã

nhập bọn với một lũ tội phạm.

- Hãy tin anh, anh không đến nỗi xấu xa như em

tưởng đâu. Bọn anh chỉ là những người đáng thương

đang cố sức, theo cách riêng của mình, bắt người

khác phải tôn trọng những quyền lợi của mình.

325

Ettie quàng hai tay vào cổ người yêu:

- Hãy bỏ hết đi anh! Vì tình yêu, hãy bỏ hết đi!

McMurdo ôm chặt cô vào lòng.

- Làm sao anh có thể bỏ được, vì như thế là anh sẽ

phản bội và bỏ rơi bạn hữu. Mà cho dù bây giờ anh

có muốn bỏ đi nữa thì cũng không thể được. Không

bao giờ chi nhánh Hội lại để cho một Hội viên rời

bỏ, mang theo tất cả những bí mật của Hội.

- Em đã lo trước tất cả rồi. Ba có một ít tiền để

dành. Ba cũng ngán nơi này lắm rồi. Em sẵn sàng đi

nơi khác. Ở đó, chúng ta sẽ được an toàn.

McMurdo bật cười:

- Chi nhánh Hội có cánh tay dài lắm. Em tưởng bọn

chúng không thể với tay từ đây tới Philadelphia hay

New York sao?

326

- Thì chúng ta đi về miền Tây, đi sang Anh, sang

Thuỵ Điển; đi bất kì đâu cũng được, miễn là ra khỏi

cái “Thung lũng khủng khiếp” này.

McMurdo chợt nghĩ đến môn huynh Morris:

- Đây là lần thứ hai anh nghe nói đến cái tên

“Thung lũng khủng khiếp” đó.

- Anh tưởng rằng Teddy đã tha chúng ta à? Nếu hắn

không sợ anh, thì hắn đã tiêu diệt chúng ta rồi.

Mỗi lần gặp hắn, chỉ cần nhìn đôi mắt hổ đói của

hắn là em phát run lên.

- Nếu mà anh bắt được những lúc đó, anh sẽ dạy cho

hắn biết lễ phép. Nhưng em gái bé bỏng! Anh không

thể đi khỏi nơi đây được. Nhưng anh sẽ tìm cách

thoát khỏi sự việc này một cách có danh dự.

- Không có danh dự trong một việc như thế này đâu.

327

- Trong vòng sáu tháng, anh sẽ tìm cách đi khỏi

nơi đây mà không phải xấu hổ khi nhìn mặt người

khác.

- Sáu tháng à? Chắc chắn nhé.

- Có thể là bảy, tám tháng, nhưng tối đa là trước

một năm.

Ettie không thể đòi hỏi thêm được. Cô ra về. Kể từ

khi McMurdo bước vào cuộc đời cô, chưa bao giờ cô

thấy trong lòng vui vẻ, nhẹ nhàng như hôm nay.

McMurdo tưởng rằng khi mình đã là một Hội viên

thực thụ, thì anh có thể biết được tất cả những

hoạt động của Hội, nhưng chẳng bao lâu sau, anh

khám phá ra rằng, tổ chức này rộng lớn và phức tạp

hơn một chi nhánh rất nhiều. Chính McGinty cũng có

328

nhiều chuyện không biết, vì có một vị chức sắc cao

cấp hơn gọi là ủy nhiệm vùng, đóng ở phía dưới

đường xe lửa, có toàn quyền đối với nhiều chi

nhánh.

McMurdo có gặp hắn một lần. Trông hắn như một con

chuột chù, dáng đi thì thậm thà thậm thụt, đôi mắt

gian giảo chuyên nhìn ngang. Tên hắn là Evans Pott.

Một hôm, Scanlan - người bạn cùng trọ với McMurdo,

nhận được mấy chữ của McGinty kèm theo một lá thư

của Evans. Ông “Đại vương” báo cho McGinty biết

rằng, ông ta phái đến Vermissa hai người tên là

Lawler và Andrews, với đầy đủ chỉ thị để hoạt động

trong vùng. Và ông Toán trưởng phải chịu trách

nhiệm bố trí cho hai người đó được ăn, ở chu đáo

cho đến giờ hành sự. McGinty viết thêm cho Scanlan

329

là ông sẽ biết ơn Scanlan và McMurdo nếu hai vị này

thu xếp để cho họ tới nhà trọ của bà quả phụ

McNamara.

Họ đến ngay chiều hôm đó, mỗi người mang theo một

cái bọc. Lawler là một người đứng tuổi, nét mặt

khắc khổ, ít nói và dè dặt, có dáng của một tay đi

giảng đạo rong. Andrews thì giống như một đứa trẻ

mới lớn lên, mặt mũi cởi mở, vui vẻ, không khác gì

một cậu học sinh đi nghỉ hè. Cả hai chỉ uống nước

lã, nhưng đều là những tên giết người có hạng.

Lawler đã thực hiện mười bảy vụ, Andrews ba vụ.

Chúng kể lại những thành tích cũ của chúng với một

thứ kiêu hãnh giống như những người đã làm được

nhiều việc tốt đẹp cho tập thể. Nhưng khi hỏi đến

công việc chúng sắp làm, thì chúng lại tỏ ra kín

330

đáo.

- Chúng tôi đã được chọn đi, vì cả tôi lẫn thằng

bé không ai biết uống rượu, vì thế chúng tôi sẽ

không nhỡ mồm nhỡ miệng. Vậy các anh đừng giận

chúng tôi, đó là vì phải tuân theo lệnh ngài ủy

nhiệm vùng - Lawler giải thích.

- Dĩ nhiên rồi.

McMurdo vừa chửi thề vừa nói:

- Ở trong vùng này có gần nửa tá những đứa mà tôi

sẵn sàng cho đi mò giun. Không biết có phải thằng

Jack Knox là mục tiêu của các anh không? Tôi muốn

trả giá rất đắt để được thấy nó lãnh đủ những gì mà

nó đáng được nhận.

- Không. Không phải nó đâu.

- Hay là thằng Herman Strauss?

331

- Cũng không phải nó.

- Ồ, thôi, chúng tôi không thể bắt buộc các anh

nói được. Nhưng mà đối với tôi nó ngứa ngáy chân

tay thế nào ấy.

Một buổi sáng, còn sớm lắm, McMurdo nghe thấy hai

thằng nhón gót bước nhẹ xuống cầu thang, anh vội

đánh thức Scanlan dậy và hai người nhanh chóng mặc

áo. Khi họ xuống đến nhà dưới thì thấy cửa mở và

hai thằng đi trước họ không xa. Họ liền thận trọng

bước theo.

Nhà trọ ở vùng gần ven thành phố, đi một lát thì

đến một ngã tư ở giữa nông thôn. Có ba người đã chờ

sẵn ở đó. Lawler và Andrews đứng nói chuyện với

chúng một lát, rồi cả bọn lại kéo nhau đi. Từ chỗ

đó có nhiều con đường dẫn đến những mỏ khác nhau.

332

Bọn chúng đi vào con đường dẫn đến đồi Crow là một

cái mỏ lớn của Josiah H. Dunn, người xứ New

England.

Bấy giờ trời đã sáng rõ. Thợ thuyền đang vội vã đi

làm, hoặc đi lẻ tẻ, hoặc nhập lại thành từng nhóm.

McMurdo và Scanlan đi lẫn vào với họ. Sương mù dày

đặc bao phủ tất cả. Một hồi còi xé tan bầu không

khí: Đó là hiệu lệnh mười phút trước khi những

thang máy đưa thợ xuống hầm mỏ.

Khi họ đến khoảng trống trước miệng giếng xuống mỏ

thì ở đó có khoảng một trăm thợ mỏ đang đứng đợi,

vừa đập chân vừa thổi các ngón tay cho đỡ rét. Bọn

hung thủ đứng túm lại trong bóng tối của nhà máy.

Scanlan và McMurdo trèo lên một đống xỉ than để có

thể nhìn rõ quang cảnh. Họ nhận ra kĩ sư mỏ tên là

333

Menzies từ trong nhà máy đi ra, thổi một tiếng còi

để ra lệnh cho thang máy xuống hầm. Vừa lúc đó, một

người trẻ tuổi, cao lêu nghêu, tiến lại gần miệng

giếng. Anh ta trông thấy đám người im lặng cạnh nhà

máy, mũ đội sụp xuống thấp, cổ áo thì kéo lên che

kín cả mặt. Anh ta hướng về những người lạ mặt khả

nghi và lớn tiếng hỏi:

- Các anh là ai? Tại sao lại vào đây làm gì?

Không có tiếng trả lời. Chỉ có thằng Andrews tiến

lên một bước và bắn một phát vào bụng người đó. Cả

trăm người thợ như vừa bị tê liệt hẳn. Người giám

đốc mỏ ấn hai tay vào vết thương ở bụng và gập đôi

người lại, chuệnh choạng định chạy đi, nhưng một

phát đạn nữa đã làm anh ta ngã nghiêng xuống, tay

chân quờ quạng trên mặt đất. Kĩ sư Menzies hét lên

334

một tiếng, tay cầm mỏ lết xông vào, nhưng anh cũng

lãnh hai viên đạn và chết ngay dưới chân chúng. Lúc

đó, đám đông thợ mỏ mới rùng rùng lên như một cơn

sóng. Một vài người xông về phía bọn sát nhân.

Nhưng hai khẩu súng bắn chỉ thiên như trút đạn phía

trên đầu họ. Thế là mọi người đứng sững lại, rồi

lùi dần và bắt đầu tản ra. Một số chạy thẳng về

nhà. Khi những người dũng cảm nhất tập hợp lại được

và chạy tới nhà máy, thì bọn sát nhân đã biến mất

trong đám sương mù.

Scanlan và McMurdo trở về nhà trọ. Scanlan có vẻ

buồn rầu, McMurdo im lặng suy nghĩ.

Tối hôm đó, có một buổi ăn mừng lớn ở chi nhánh

Hội. Không những ăn mừng vụ ám sát người giám đốc

và người kĩ sư mỏ ở đồi Crow, mà còn để ăn mừng một

335

thắng lợi khác mà chi nhánh đã thực hiện được ở

một nơi xa đây. Hóa ra là khi Evans cử hai người

xuống chỗ Vermissa, thì đồng thời hắn cũng đòi hỏi

Vermissa phải bí mật cử ba người lên trước hắn để

thủ tiêu William Hales, một trong những người chủ

mẫu mực. Anh ta chỉ có cái tội là cứ thích có năng

suất cao trong công việc nên đã đuổi một số tên sâu

rượu và lười biếng, mà những tên này lại là hội

viên của Hội.

Bản án được thi hành xong. Teddy hãnh diện ngồi

chễm chệ trên ghế danh dự bên phải ông Toán trưởng.

Bộ mặt đỏ dừ, hai con mắt đỏ sọc máu, chứng tỏ hắn

vừa qua một đêm trắng và uống nhiều rượu. Chúng đã

rình nạn nhân trong khi người này đi về nhà vào

buổi tối. Chúng phục trên đỉnh một quả đồi, đường

336

đi gập ghềnh nên bắt buộc ngựa phải đi bước một.

Nạn nhân mặc nhiều áo để chống rét quá nên không

rút súng ra kịp. Cái xác đẫm máu được vứt lại trong

đống tuyết để làm một lời cảnh cáo cho tất cả các

ông chủ có trái tim sắt đá.

Đó là một ngày trọng đại cho tất cả những “Người

Tiên Phong”. Bóng tối đè nặng hơn nữa lên “Thung

lũng khủng khiếp”. McGinty đã nghĩ đến một trận tấn

công mới, chống lại những kẻ thù của ông ta. Đêm

hôm đó, khi mọi người đã say sưa chia tay nhau ra

về, ông ta ngoắc McMurdo lại và đưa anh ta vào căn

phòng gặp nhau lần đầu tiên.

- Hãy nghe đây. Bây giờ tôi mới có một công việc

xứng đáng với anh.

- Tôi hãnh diện vì đã được ông chọn lựa.

337

- Chúng tôi không thể nào yên tâm chừng nào vụ

Chester Wilcox chưa được giải quyết xong.

- Hắn là ai vậy? Hắn ở đâu?

McGinty bỏ điếu xì-gà xuống, xé ở sổ tay ra một tờ

giấy, trên có vẽ một bản lược đồ.

- Hắn là thằng đốc công chính của công ty thép

Dike, cựu thượng sĩ, đã có đi đánh trận về. Chúng

ta đã hai lần định hạ hắn, nhưng không được may mắn

và Jim đã bị hắn hạ lại. Đây, nhà hắn đây, ở trơ

trơ một mình tại ngã tư của công ty. Không nên đi

đến đó ban ngày, hắn có vũ khí bắn nhanh và bắn

giỏi. Nhưng ban đêm...

Tóm lại, hắn ở đó với vợ, ba đứa con và một người

đầy tớ gái. Nếu đặt một gói chất nổ ở cửa nhà hắn

với một cái ngòi, thì xong hết mọi chuyện.

338

- Người này đã làm gì?

- Hắn đã giết Jim.

- Tại sao hắn giết Jim?

- Một buổi tối, Jim đi vào khu vực quanh nhà hắn,

thế là hắn giết thôi.

- Ở đó có hai người đàn bà và ba đứa trẻ con. Có

cần phải cho tất cả bọn này bay lên trời không?

- Tất nhiên rồi.

- Nhưng vợ con hắn có tội gì đâu?

- Anh xì hơi rồi hay sao?

- Hãy bình tĩnh, ông Hội đồng. Tôi đã từ chối đâu.

- Thế anh có thi hành lệnh không?

- Tất nhiên.

- Bao giờ?

339

- Xin ông cho tôi một hay hai đêm, để tôi dò địa

điểm cái nhà hắn và lập một kế hoạch.

McGinty chìa tay ra bắt tay McMurdo.

- Tôi trông cậy ở anh. Cái đòn cuối cùng này sẽ

bắt chúng nó phải quỳ gối hết.

Ngay đêm hôm ấy, một mình McMurdo đến đấy để

nghiên cứu địa hình. Mãi sáng bạch hôm sau mới trở

về. Ngày hôm sau, anh hội ý với hai người trợ thủ.

Ngày hôm sau nữa, cả ba người tụ họp ở ngoài thành

phố, mang theo đầy đủ vũ khí. Một đứa mang theo một

cái bọc đựng đầy thuốc nổ. Khoảng 2 giờ sáng thì

cả bọn đến trước nhà Wilcox. Hôm ấy gió rất to. Mây

bay như chạy dưới một mảnh trăng hạ huyền. Họ đã

được báo trước là phải đề phòng những con chó giữ

nhà nên rất thận trọng tiến lại gần. Nhưng không

340

thấy có tiếng động nào khác ngoài tiếng gió rít và

tiếng cây lá xào xạc. McMurdo ghé sát tay vào cửa

nghe, không thấy có động tĩnh gì bên trong. Anh đặt

gói thuốc nổ vào sát cửa, lấy dao thọc một lỗ và

buộc ngòi vào. Sau khi anh đã châm ngòi, cả bọn vắt

chân lên cổ mà chạy, được một quãng, vừa nằm rạp

xuống một cái rãnh, thì nghe thấy tiếng nổ long

trời lở đất, và căn nhà nọ sụp xuống. Công việc đã

hoàn thành. Chưa bao giờ một sự thành công trọn vẹn

như vậy được ghi nhận trong lịch sử biên niên Hội.

Nhưng than ôi! Bọc thuốc nổ chỉ làm sụp đổ một căn

nhà rỗng không, và người thượng sĩ già vẫn tiếp

tục giữ vững trật tự trong các mỏ của công ty Dike.

McMurdo vẻ bực tức lắm. Anh nói: - Tôi thề là tôi

341

sẽ hạ được hắn.

Toàn thể chi nhánh bỏ phiếu biểu quyết tín nhiệm

anh. Rồi vụ Wilcox cũng nguôi ngoai đi. Nhưng vài

tuần lễ sau, khi báo chí đăng tin Wilcox đã phải

đấu súng trong một vụ phục kích, thì ai cũng hiểu

rằng, đó là McMurdo quyết tâm hoàn thành một công

việc còn dang dở.

Đó! “Hội những Người Tự Do” đã lũng đoạn cả một

vùng bằng sự khủng bố.

Bóng tối trùm kín thung lũng khủng khiếp.

Rồi mùa xuân đến với những bông hoa tươi thắm và

tiếng hát của các con suối. Thiên nhiên bị bàn tay

nặng nề của mùa đông giam giữ nay đã trỗi dậy.

Nhưng không ở đâu đó có một tia hi vọng nào, cho

những người đàn ông và đàn bà bị khống chế trong sự

342

khủng bố. Trên đầu họ chưa bao giờ có những đám

mây dày đặc sự đen tối và hãi hùng như vào đầu mùa

hạ năm 1875 này.

6. NGUY HIỂM

McMurdo đã được tôn lên địa vị của một phụ tá

trong Hội. Anh đã trở thành tối cần thiết trong các

buổi họp của Hội. Nhưng anh càng nổi tiếng giữa

đám Người Tự Do bao nhiêu thì khi ra ngoài đường

phố ở Vermissa, anh càng phải chịu đựng những cái

nhìn có ngụ ý bấy nhiêu. Mặc dù vẫn khiếp sợ, nhưng

những người dân ở Vermissa bây giờ đã bắt đầu hợp

đoàn với nhau. Chi nhánh đã biết tin là có những

cuộc họp bí mật được triệu tập tại tòa soạn báo

Vermissa Herald, và những người bảo vệ pháp luật đã

được phát đầy đủ những tin tức này. “Chúng cậy

343

đông người, gan lì và vũ trang tốt. Địch thủ của

chúng thì tản mạn, lại không có thế lực.” Đó là ý

kiến đánh giá của McGinty, của McMurdo và của những

tay cứng khác trong chi nhánh.

Một buổi tối thứ Bảy của tháng 5, theo thường lệ,

chi nhánh họp ở nhà Hội quán, McMurdo đang sửa soạn

sắp đi, thì môn huynh Morris chợt đến tìm anh với

vừng trán lo âu, đôi mắt hoảng hốt.

- Tôi có thể nói chuyện tự do với ông được không,

ông McMurdo?

- Dĩ nhiên.

- Tôi không quên rằng, đã có lần tôi trút cả bầu

tâm sự với ông, và ông đã giữ kín cho tôi.

- Nhưng sự yên lặng của tôi không có nghĩa là một

sự tán thành những ý nghĩ của ông.

344

- Tôi biết. Nhưng tôi có một điều bí mật ở đây...

Ông ta để một tay lên ngực.

- Một bí mật ngày đêm gặm nhấm tim tôi. Nếu tôi

nói nó ra, thì chắc chắn nó sẽ gây thêm một vụ án

mạng nữa. Nhưng nếu không nói, thì nó sẽ là hồi

chuông báo tử của tất cả chúng ta.

Morris đang run bần bật. McMurdo rót một li rượu

whisky và đưa cho ông ta.

- Đây là một liều thuốc cho ông. Bây giờ, ông hãy

nói vì sao ông lo sợ đến thế.

Morris uống cạn li rượu, sắc mặt có hồng lên đôi

chút.- Tôi nói một câu thôi: Có một thám tử đang

dò theo dấu vết của chúng ta.

McMurdo nhìn ông ta, kinh ngạc:

- Thì ở đây lúc nào mà chẳng nhung nhúc những cảnh

345

sát và thám tử?

- Không. Đây không phải là một người ở trong vùng

này. Ông có nghe nói đến “Những người của

Pinkerton” không?

- Cái tên này có gợi cho tôi một cái gì đấy.

- Đó! Đây không phải là một tổ chức của chính phủ.

Đây là một tổ chức muốn làm được việc, muốn có kết

quả kia. Nếu một người của Pinkerton đang theo dõi

công việc của chúng ta, thì chúng ta chắc bị tiêu

diệt mất.

- Thế thì phải thủ tiêu cái thằng ấy đi.

- Ồ, mọi người cũng sẽ nghĩ thế thôi. Cho nên

chuyện này sẽ kết thúc bằng một án mạng.

- Tất nhiên.

- Nhưng tôi không phải là kẻ chỉ điểm người cần bị

346

giết. Ôi! Tôi biết làm gì bây giờ?

Morris đứng lên, đi đi lại lại trong phòng, dáng

điệu cực kì bối rối. Nhưng những lời nói của ông ta

đã làm McMurdo xúc động. Anh nắm lấy hai vai

Morris và lắc thật mạnh.

- Không làm được gì cả, nếu cứ than khóc như một

mụ già. Trước hết phải biết thằng đó là ai? Nó hiện

ở đâu? Bằng cách nào ông lại biết nó có ở đây? Tại

sao ông lại đến tìm tôi?

- Tôi đã nói với ông rằng trước khi đến đây, tôi

đã có một cửa hàng ở miền Đông, tại đó tôi có nhiều

bạn tốt. Một người trong bọn họ hiện làm việc ở sở

Bưu điện. Ngày hôm qua tôi nhận được thư của anh

ta. Đây, cái đoạn ở trên đầu trang này. Ông có thể

đọc được.

347

McMurdo cầm lấy bức thư:

“Ở vùng anh, bọn Tiên Phong hoạt động như thế

nào? Chúng tôi đọc báo thấy nói nhiều về bọn chúng

lắm. Chỗ quen biết với nhau, tôi trông đợi tin tức

anh. Năm tập thể lớn và hai công ty Hỏa xa đã đứng

ra gánh vác việc này, và họ làm đến nơi đến chốn

lắm. Họ muốn có kết quả thực sự. Theo lệnh của họ,

đích thân Pinkerton chỉ huy chiến dịch này và đã

phái đến đó thám tử giỏi nhất của ông ta là Birdy

Edwards. Người ta đang chờ đợi ngày một ngày hai,

cái bọc mủ ung nhọt ấy sẽ được chọc thủng ra.”

Bây giờ mời ông đọc thêm phần tái bút.

“Tất nhiên, tôi biết được những điều nói trên là

vì công việc của tôi, cho nên anh đừng cho ai biết

nhé. Họ dùng một thứ mã riêng, mà anh có thể đoán

348

cả ngày cũng không hiểu gì hết.”

McMurdo ngồi lặng đi một lát, tay vẫn không rời

bức thư. Màn sương mù vừa tan hết, để lộ ra một vực

thẳm trước mặt anh.

- Có ai biết việc này nữa không?

- Tôi không nói với ai cả.

- Người bạn của ông có viết thư cho ai nữa không?

- Anh ta có biết một hai người ở đây.

- Hội viên của Hội à?

- Hình như thế.

- Người bạn của ông có thể cho họ biết nhận dạng

của tên Birdy này, và nhờ đó chúng ta sẽ có thể tìm

ra hắn.

- Có thể lắm. Nhưng tôi tin rằng người bạn của tôi

không biết mặt tên Birdy đó. Anh ta chỉ cho tôi

349

biết những tin tức đã thu lượm được trong công việc

của anh ta thôi.

McMurdo bỗng nhảy dựng lên:

- Tôi nắm được hắn rồi. Chúng ta may mắn quá!

Chúng ta sẽ thanh toán hắn trước khi hắn có thể làm

hại được chúng ta. Này, ông Morris, ông có để tôi

đảm nhiệm việc này không?

- Tất nhiên rồi.

- Ông yên tâm, cứ để một mình tôi xử trí. Tôi coi

như cái thư này là gửi đến cho chính tôi. Như thế

đối với ông đã được chưa?

- Tôi không đám đòi hỏi gì thêm nữa.

- Thế thôi, chúng ta ngừng ở đây nhé. Bây giờ tôi

xuống Hội quán để dự họp đây, và rồi chúng ta sẽ

cho tên Pinkerton này có dịp than khóc.

350

- Ông không giết người thám tử ấy chứ?

- Ông biết càng ít càng tốt. Xin ông đừng hỏi tôi

nữa.

Morris lắc đầu buồn bã:

- Tôi có cảm giác là tay tôi đã vấy máu. McMurdo

đáp lại bằng một nụ cười ghê rợn:

- Tự vệ không phải là ám sát. Hoặc nó, hoặc chúng

ta.

McMurdo tuy mồm nói có vẻ cứng cỏi, nhưng những

hành động của anh lại tỏ ra là anh thấy sự đe dọa

rất nghiêm trọng. Trước khi ra khỏi nhà, anh đã hủy

hết những giấy tờ có thể buộc tội mình. Nhưng hình

như anh vẫn còn lo sợ một cái gì đó, nên trên

đường đến Hội quán, anh đã dừng lại trước cửa nhà

trọ của cụ Shafter, khi anh gõ khẽ vào cửa sổ thì

351

Ettie chạy ra. Nhìn dáng điệu trang nghiêm của anh,

cô biết rằng một mối nguy hiểm đang gần kề.

- Có gì thế, anh đang bị nguy hiểm à?

- Chưa nguy hiểm lắm. Nhưng chúng ta nên đi khỏi

nơi đây trước khi nó trở nên tệ hại hơn.

- Đi hả anh?

- Chiều hôm nay anh nhận được một số tin tức, và

thấy nhiều nguy hiểm đang chờ anh.

- Cảnh sát à?

- Không, anh đã dính líu quá sâu vào rồi, và bây

giờ anh muốn rút khỏi đây, không chậm trễ nữa.

- Đó là con đường cứu nguy cho anh đó!

Không một lời nói, Ettie đặt bàn tay mình vào tay

người yêu.

- Tốt lắm. Nhiều sự việc sắp xảy ra dồn dập trong

352

thung lũng này. Nhiều người trong bọn anh phải tự

lo lấy thân mình. Nếu anh ra đi, em phải đi ngay

với anh.

- Em sẽ theo anh sau.

- Không, em đi ngay cùng với anh. Anh có quen biết

một bà rất tốt, anh sẽ đưa em đến đó để chờ ngày

làm lễ cưới.

- Vâng, em sẽ đi.

McMurdo đi tới nơi Hội họp. Đến nơi, anh được chào

đón một cách vui vẻ. Phòng họp đầy nghẹt người.

Qua màn khói thuốc lá, anh trông thấy cái bờm tóc

đen của ông Toán trưởng, bộ mặt độc ác của thằng

Teddy, cái tướng diều hâu của thư kí Harraway, cùng

khoảng một tá những chức sắc cao cấp của chi

nhánh. Anh mỉm cười khi nghĩ rằng, tất cả bọn này

353

rồi sẽ phải cuống cuồng lên vì cái tin anh đem đến.

Ông chủ tọa cuộc họp tuyên bố:

- Chúng tôi vui mừng thấy anh đến họp, môn huynh

McMurdo. Chúng tôi đang bàn về một vụ rất khó phân

giải.Một người ngồi kế bên nói cho anh hay:

- Chuyện Lawler và Andrews đấy mà. Cả hai đều đòi

tiền thưởng. Ai mà biết được đứa nào đã bắn viên

đạn quyết định cơ chứ.

McMurdo đứng dậy và dang tay ra. Nét mặt bất

thường của anh chiếm hết sự chú ý của mọi người, cả

phòng họp im phăng phắc. McMurdo trịnh trọng nói:

- Thưa sư huynh tôn kính, tôi yêu cầu được thông

báo khẩn cấp. McGinty nhắc lại:

- Môn huynh McMurdo yêu cầu được thông báo khẩn

354

cấp.

Theo nội quy của chúng ta thì đây là một quyền ưu

tiên phải tôn trọng. Bây giờ, môn huynh, chúng tôi

nghe anh nói.

McMurdo rút cái thư ở trong túi ra.

- Thưa sư huynh tôn kính và thưa các môn huynh,

hôm nay tôi mang đến đây những tin tức không tốt.

Tin đó là: Những công ty có quyền lực nhất và giàu

có nhất của xứ này đã họp nhau lại để tiêu diệt

chúng ta. Ngay lúc này đây, một thám tử của

Pinkerton, một người mang tên Birdy đang hoạt động

trong thung lũng, thu thập những chứng cớ có thể

tiêu diệt hết chúng ta. Đó là tình trạng mà tôi yêu

cầu bàn bạc khẩn cấp.

Cả hội nghị ngồi chết lặng đi, không ai nói câu

355

nào. Một lát sau, chủ tọa mới lên tiếng:

- Anh có chứng cớ gì không?

- Chứng cớ ở trong bức thư này...

Anh đọc đoạn thư cần thiết, rồi nói tiếp:

- Đây là một vấn đề danh dự của tôi. Tôi không thể

cho biết chi tiết hơn về bức thư này, cũng không

thể để mọi người chuyền tay nhau đọc được.

Một môn huynh đã có tuổi đứng dậy, nói:

- Thưa ông chủ tọa, xin cho phép tôi được phát

biểu. Tôi đã có nghe nói đến cái tên Birdy. Hắn là

phụ tá đắc lực của Pinkerton.

- Ở đây ai biết mặt hắn? - McGinty hỏi.

- Có. Tôi biết! - McMurdo trả lời.

Một tiếng rì rầm ngạc nhiên truyền đi trong phòng

họp. McMurdo tiếp tục nói với một nụ cười đắc thắng

356

trên môi.

- Nếu chúng ta hành động khôn ngoan và nhanh chóng

thì có thể thoát ra được bước nguy hiểm này. Nếu

tôi có được sự tin tưởng và sự hỗ trợ của chi nhánh

thì các vị không có gì phải lo sợ nhiều nữa.

- Chúng ta có gì phải lo sợ. Hắn biết gì về công

việc của chúng ta cơ chứ!

- Thưa ông Hội đồng, ông có thể nói được như vậy

nếu như ai cũng thanh liêm như ông. Nhưng người này

có khả năng sử dụng hàng triệu bạc của bọn tư bản.

Vậy ông thử nghĩ xem, ở trong tất cả các chi

nhánh, họ lại không có một môn huynh nào sa ngã

trước bạc tiền? Tên thám tử này rồi cũng sẽ biết

hết những bí mật của chúng ta. Chỉ có một môn thuốc

để trị bệnh này mà thôi.

357

Teddy nói dằn từng tiếng:

- Không để cho hắn ra khỏi thung lũng. McMurdo tán

thành nhiệt liệt:

- Hoan hô môn huynh Teddy, anh đã nói rất đúng.

- Bây giờ làm sao nhận ra nó? McMurdo nói một cách

trang nghiêm:

- Thưa ông Toán trưởng. Đây là một vấn đề sinh tử,

quá quan trọng để có thể đem ra bàn bạc rộng rãi.

Tôi không nghi ngờ bất cứ một người nào trong chúng

ta ở đây, nhưng nếu một câu nói chợt lọt đến tai

người ấy, thì chúng ta không có một hi vọng nào

khống chế được hắn. Tôi xin đề cử chính ông, ông

chủ tọa, môn huynh Teddy và năm môn huynh khác nữa.

Lúc đó trước Ủy ban, tôi sẽ nói rõ về những gì tôi

biết và các biện pháp nên theo.

358

Đề nghị của McMurdo được chấp nhận ngay, và một Ủy

ban được chỉ định. Ngoài McGinty và Teddy còn có

Harraway, Carter, Tiger Cormac và hai anh em

Willaby. Buổi họp hàng tuần chấm dứt sớm hơn mọi

lần trong sự buồn rầu, lo sợ. Lần đầu tiên thấy

hiện lên bầu trời trong sáng của họ những đám mây

đen của pháp luật.

Khi mọi người đã ra về hết, trước mặt Ủy ban tín

nhiệm, McGinty ra lệnh:

- McMurdo, nói đi!

Bảy người trong ủy ban ngồi như những tượng đá

lạnh lùng trong các ghế bành.

- Birdy đang ở đây nhưng với cái tên khác. Hắn lấy

tên là Steve Wilson và hiện ở Hobson’s Patch.

- Sao anh biết?

359

- Tôi ngẫu nhiên có nói chuyện với hắn một lần mà

không biết. Hồi đó tôi không nghĩ gì nhiều về

Pinkerton, và có lẽ tôi cũng đã quên hẳn cái tên ấy

đi nếu không nhận được bức thư này. Nhưng bây giờ

thì tôi chắc chắn là hắn rồi. Tôi đã gặp hắn hôm

thứ Tư vừa rồi, trên chuyến tàu. Hắn nói hắn là kí

giả của tờ New York Times. Tôi

tin là thật. Hắn muốn biết về những Người Tiên

Phong, nói là để viết gửi về tòa soạn. Tất nhiên là

tôi không hở ra một chuyện gì. Hắn nói với tôi

rằng: “Tôi sẽ trả tiền, mà trả rất đắt để có những

chi tiết có thể làm vui lòng ông chủ báo của tôi.”

Tôi đã bịa ra cho hắn nghe những điều mà tôi cho là

hắn sẽ thích thú. Sau đó, hắn đưa cho tôi một tờ

giấy bạc hai mươi đô-la và nói rằng: “Anh sẽ có

360

mười lần hơn thế này, nếu anh tìm được cho tôi

những thứ gì mà tôi cần.”

- Thế anh đã kể những gì với hắn?

- Tất cả những gì đến trong đầu tôi lúc ấy.

- Tại sao anh biết hắn không phải là nhà báo?

- Khi xe chạy đến Hobson’s Patch thì hắn xuống

tàu. Tôi cũng xuống. Cũng ngẫu nhiên khi tôi bước

vào phòng bưu điện thì thấy hắn ở trong đó đi ra.

Người đánh điện tín nói với tôi rằng: “Coi này, tôi

nghĩ có lẽ phải bắt hắn trả gấp đôi mới đúng!” Tôi

trả lời: “Tôi cũng nghĩ như ông.” Thì ra hắn đã

viết đặc cả một tờ điện tín những câu đọc lên không

ai hiểu gì cả. Người đánh điện nói, ngày nào hắn

cũng đánh đi những bức điện tối mò như thế.

- Anh nói có lí. Thế bây giờ chúng ta phải làm gì?

361

- McGinty nói.

- Tại sao không xuống ngay dưới đó mà thanh toán

mẹ nó đi?

- Một người hỏi.

- Mà sớm chừng nào càng tốt chừng ấy.

- Tôi sẽ đi ngay tức khắc nếu tôi biết hắn ở đâu.

Hắn ở Hobson’s Patch, nhưng không biết ở nhà nào.

Nhưng tôi đã có sẵn một cái bẫy này, nếu các ông

chịu nghe tôi...

- Bẫy thế nào?

Ngày mai tôi sẽ đi Hobson’s Patch. Tôi sẽ nhờ

người đánh điện tín chỉ dẫn cho, và tôi sẽ tìm ra

hắn. Tôi sẽ nói với hắn rằng tôi cũng là một hội

viên của Hội Người Tự Do, và muốn bán những bí mật

của chi nhánh, hắn sẽ vồ ngay. Tôi sẽ nói rằng, các

362

tài liệu hiện để ở nhà tôi, nhưng nếu ban ngày mà

đến đấy lấy, thì thật là điên. Tôi sẽ hẹn đến mười

giờ đêm. Chắc hắn đến thôi.

- Rồi sao nữa?

- Sau đó thì phần các ông muốn xử trí thế nào thì

tùy. Nhà trọ của bà quả phụ McNamara là một căn nhà

hẻo lánh. Bà chủ trọ của tôi là người tin cẩn

được. Nếu hắn hứa chắc với tôi là sẽ đến, thì tôi

sẽ báo cho các ông biết, và tôi muốn vào khoảng

chín giờ tối mai, cả bảy ông phải có mặt ở nhà tôi.

Hắn sẽ sập bẫy.

McGinty kết luận:

- Đồng ý về tất cả kế hoạch. 9 giờ tối mai chúng

tôi sẽ đến nhà. Anh chỉ việc đóng cửa sau lưng nó,

còn để mặc chúng tôi.

363

7. BIRDY SẬP BẪY

Căn nhà nơi McMurdo ở trọ nằm ở ven thành phố và

xa đường cái đi lại. Trong những trường hợp khác,

bọn chủ mưu chỉ việc đưa con mồi đến đây, rồi trút

đạn lên nạn nhân. Nhưng đây là một trường hợp ngoại

lệ: Còn cần phải rõ người kia biết những gì, làm

cách nào mà biết và đã truyền đi những tin tức gì.

Nếu người thám tử đã làm xong công việc thu thập

tài liệu, thì cần phải biết ai đã phản bội để xử

trí tên ấy.

McMurdo đi xuống Hobson’s Patch như đã dự định

trước. Buổi sáng hôm đó, hình như cảnh sát lại đặc

biệt chú ý đến anh ta thì phải. Đại úy Marvin định

tới nói chuyện với anh, khi anh đứng đợi tàu ở sân

ga. Anh quay mặt đi không thèm trả lời. Đến chiều

364

thì McMurdo trở về và đến tìm ngay McGinty ở nhà

Hội quán để báo tin:

- Hắn sẽ đến.

- Hoan hô! - Ông Toán trưởng vỗ tay reo mừng - Cậu

có tin là hắn biết gì nhiều lắm không?

McMurdo buồn bã gật đầu:

- Hắn đã ở đây ít nhất là sáu tuần rồi. Nếu hắn cứ

vung tiền ra trong suốt thời gian vừa qua, thì hắn

cũng đã thu được không ít tin tức và đã gửi những

tin ấy đi rồi đó.

McGinty la lên:

- Nhưng trong chi nhánh, mọi người đều vững vàng

như thành đồng lũy thép cả. Chỉ có cái thằng Morris

ấy thôi. Nếu có một người nào đi tố giác chúng ta

thì chính là nó. Tôi muốn cho hai đứa đến nhà nó

365

ngay trước tối hôm nay để cho nó một trận và đồng

thời cũng tra hỏi nó xem có biết thêm gì không.

- Tôi không giấu ông là tôi cũng có thương hại lão

ấy, mà nếu lão ấy bị làm sao thì tôi cũng có phần

áy náy. Mặc dù lão có cách nhìn không giống ông và

tôi, nhưng tôi có cảm giác lão không phải là một

tên phản bội. Nhưng thôi, tôi đâu có dám can thiệp

vào chuyện giữa ông với lão.

- Tôi sẽ thanh toán nó.

- Nhưng xin ông hãy đợi cho đến mai, không nên để

cho người ta chú ý quá nhiều đến chúng ta trước khi

giải quyết xong vụ Pinkerton.

- Anh nói có lí. Và chúng ta sẽ bắt thằng Birdy

phải khai rõ là hắn đã nhận được những tin tức từ

người nào. Dù chúng ta có phải moi tim hắn ra để

366

bắt hắn nói, cũng phải làm cho kì được. Hắn có cảm

thấy là bị cài bẫy không?

- Tôi đã tóm được điểm yếu của hắn. Hắn sẵn sàng

đi từ đây đến New York, nếu có được những tài liệu

tốt. Tôi đã cầm tiền của hắn... - McMurdo rút ở

trong túi ra một xấp giấy đô-la.

- Hắn sẽ đưa cho tôi chừng này nữa khi nào hắn

thấy những tài liệu của tôi.

- Tài liệu nào?

- Tất nhiên tôi làm gì có tài liệu. Nhưng tôi đã

cho hắn thèm nhỏ nước dãi ra khi nói đến những nội

quy, những sổ thanh toán, những đơn xin nhập hội.

Hắn tin chắc rằng, trước khi đi khỏi nơi đây, hắn

sẽ mò được đến tận đáy của vấn đề.

McGinty thì thầm với giọng dễ sợ:

367

- Ừ, hắn cũng không nghĩ sai đâu. Thế hắn có hỏi

anh tại sao không mang những tài liệu đó đi theo

luôn không?

- Ai dại gì mang theo trong mình từng ấy tài liệu?

Ngay mới buổi sáng hôm nay, đại úy Marvin còn muốn

nói chuyện với tôi ngoài sân ga nữa kia.

- Ừ, người ta cũng đã có thuật lại với tôi như

vậy. Tôi sợ rằng, không khéo rồi cuối cùng chỉ có

một mình anh sẽ phải gánh chịu tất cả sức nặng của

vụ này. Sau khi thủ tiêu hắn trong một cái giếng

cũ, chúng ta không thể gạt bỏ được hai sự kiện là

hắn thì ở Hobson’s Patch, mà hôm nay chính anh cũng

đi Hobson’s Patch.

- Ban đêm thì sẽ không có một ai trông thấy hắn

vào nhà tôi, và tôi cuộc rằng cũng sẽ không ai

368

trông thấy hắn ở trong nhà tôi đi ra. Bây giờ xin

ông Hội đồng nghe kĩ tôi nói đây. Các ông sẽ đến

đây đúng giờ đã quy định. 10 giờ thì hắn đến. Hắn

sẽ gõ cửa ba lần.

Chính tôi sẽ ra mở cửa cho hắn vào. Tôi đi đằng

sau hắn và sẽ khóa cửa lại. Thế là xong.

- Ừ, dễ như trở bàn tay thôi.

- Nhưng chuyện tiếp theo mới là cần suy nghĩ. Hắn

có vũ khí, ai cấm hắn không được cảnh giác và đề

phòng. Ông hãy cứ tưởng tượng rằng, tôi đưa hắn vào

ngay một căn buồng khi hắn tưởng chỉ có một mình

tôi thôi. Thế là sẽ nổ ra một cuộc đọ súng, và có

thể có những cái không may xảy đến cho một vài anh

em chúng ta.

- Đúng.

369

- Và tiếng súng có thể làm cho tất cả bọn cớm

trong thành phố này đổ xô đến đây.

- Anh nói có lí lắm.

- Cho nên tôi định xếp đặt mọi việc như thế này.

Các ông sẽ ngồi tất cả ở căn phòng lớn. Tôi mở cửa

ngoài đường, đưa hắn vào buồng khách nhỏ bên cạnh

cửa. Tôi sẽ để hắn ngồi đó trong khi tôi đi vào lấy

tài liệu. Tôi sẽ trở lại với một vài tài liệu giả.

Trong khi hắn đọc, tôi sẽ nhảy vào ôm chặt tay

hắn. Các ông sẽ nghe thấy tiếng tôi gọi và chạy ùa

sang, xin các ông chạy nhanh nhanh cho một chút.

- Kế hoạch thế tốt đấy. Chi nhánh Hội ta sẽ mang

nợ anh nhiều lắm đây.

- Thưa ông Hội đồng, dĩ nhiên tôi không còn là một

tên lính mới tò te nữa.

370

Khi về đến nhà, anh bắt tay vào việc chuẩn bị cho

cái buổi tối ghê gớm này. Trước hết anh đem khẩu

súng ra lau chùi, bôi mỡ và lắp đạn. Rồi anh kiểm

tra lại căn buồng, nơi sẽ giương bẫy. Cuối cùng,

anh kể hết mọi chuyện cho Scanlan nghe và nói thêm:

- Này Scanlan, đêm nay anh nên đi ngủ ở nơi khác.

Trước sáng ngày mai, nơi đây sẽ có nhiều máu đấy.

- Tôi sợ chi nhánh đánh giá tôi không tốt, chứ tôi

rất muốn theo lời khuyên của anh.

Bọn sát nhân đến đúng giờ quy định. Nhìn bề ngoài

chúng có vẻ là những công dân ăn mặc đẹp đẽ, sạch

sẽ. Nhưng nếu người nào biết xem tướng mặt, thì sẽ

hiểu rằng Birdy ít có khả năng sống sót được.

Chủ nhà có để chai whisky trên bàn, nên chúng vội

371

vã nốc rượu ngay cho ấm bụng. Teddy và Cormac đã

chếnh choáng say. Rượu hun đốt thêm sự độc ác tự

nhiên của chúng. Cormac để tay gần cái bếp lò sưởi

đã được đốt lên. Hắn nói:

- Nóng thế này, được đấy.

Thằng Teddy hiểu ngay ý nghĩa của câu nói đó, gật

đầu tán thành:

- Ừ, được! Đem trói hắn vào đây thì sự thật nào

cũng phải khạc ra hết.

McMurdo nói:

- Đừng lo. Chúng ta sẽ bắt hắn phải khai.

McMurdo, con người này có lẽ có những dây thần

kinh bằng thép hay sao ấy. Tất cả công việc khó

khăn nguy hiểm này đặt trên hai vai anh ta, mà anh

ta vẫn bình tĩnh, như không có gì xảy ra cả.

372

Tên Toán trưởng nói với McMurdo:

- Một mình anh thu xếp riêng với hắn. Chừng nào mà

tay anh còn chưa nắm được vào cổ hắn, thì hắn sẽ

chưa biết sự có mặt của chúng tôi.

- Có thể hắn sẽ không đến. Có thể hắn cảm thấy có

nguy hiểm

- Tên thư kí nói.

- Thế nào hắn cũng đến. Hắn ao ước được đến đây

cũng không kém gì các ông ao ước được thấy hắn. Này

nghe xem! - McMurdo chợt nói.

Chúng sững người lại, đứng im lặng như tượng đá.

Ba tiếng gõ vang lên ở cánh cửa ngoài đường.

McMurdo giơ một tay lên để căn dặn phải thận

trọng, cả bảy cặp mắt cùng lóng lánh chung một ánh

đắc thắng, cả bảy bàn tay đều đặt lên vũ khí.

373

- Không được gây tiếng động nữa - McMurdo thì

thầm.Rồi anh bước ra khỏi phòng và đóng cửa kĩ

lưỡng. Bọn sát nhân căng tai nghe ngóng. Chúng nhận

thấy bước chân của McMurdo đi trên hành lang, rồi

thấy anh mở cửa ngoài. Có vài lời chào đón trao đổi

qua lại, sau đó chúng nghe thấy bước chân của một

người đi rụt rè trong nhà và một giọng nói mà chúng

không quen biết. Một lát sau, một cánh cửa đập

mạnh và có tiếng chìa khóa xoay. Thế là xong, con

mồi đã sập bẫy. Tiger Cormac phá lên cười ghê rợn.

McGinty vừa bắt nó im, vừa thì thào:

- Đồ ngu. Mày làm hỏng việc bây giờ!

Ở buồng bên, nghe có tiếng người nói chuyện, nói

rất lâu. Rồi cửa mở. McMurdo hiện ra, một ngón tay

để lên môi ra hiệu.

374

Anh ta đi đến một đầu bàn và nhìn kĩ từng bộ mặt.

Một sự thay đổi rất tế nhị xuất hiện ở anh ta,

gương mặt lạnh lùng, rắn đanh lại, đôi mắt sâu đậm,

long lanh. Rõ ràng anh ta đã lột xác thành một

người có uy quyền đối với người khác. Bọn sát nhân

nhìn anh ta không chớp mắt, nhưng anh ta vẫn không

nói gì. Chỉ nhìn chúng bằng cặp mắt kì lạ.

Cuối cùng McGinty phải lên tiếng:

- Thế nào. Thằng Birdy có ở đây không? McMurdo

chậm rãi trả lời, dằn từng tiếng:

- Có. Tao là Birdy đây.

Mười giây đồng hồ trôi qua, sự im lặng nặng nề đến

nỗi người ta tưởng căn phòng này không có người.

Bảy bộ mặt xám ngoét, quay nhìn về hướng con người

đang chế ngự chúng. Trong tiếng kính bị bể vỡ, rèm

375

cửa bị rớt tung ra và qua mỗi khung cửa sổ, những

họng súng đen ngòm chĩa vào. McGinty rống lên như

một con gấu bị thương, nhảy bổ ra phía cửa. Hắn

chạm ngay vào mũi súng và đôi mắt xanh của đại úy

Marvin. Tên Toán trưởng lùi lại, ngã ngồi xuống

ghế.

McMurdo gật đầu tán thành:

- Ông Hội đồng, ông ngồi chỗ ấy tốt đấy. Còn mày,

Teddy, nếu mày không cất tay ra khỏi khẩu súng thì

mày sẽ không được gặp mặt người đao phủ đâu. Bỏ tay

ra. Đó. Thế được đấy. Có bốn mươi tay súng xung

quanh ngôi nhà này. Marvin, hãy tước hết súng của

chúng nó đi.

Bọn giết người bị tước hết vũ khí. Kinh ngạc, sợ

hãi, buồn rầu, chúng vẫn ngồi cả xung quanh bàn.

376

Người giương bẫy dõng dạc nói lớn:

- Tao muốn nói với chúng mày một vài lời trước khi

chia tay. Tao chính là Birdy của tổ chức Pinkerton

đây, tao đến đây là để tiêu diệt chúng mày. Tao đã

phải chơi một ván bài khó khăn và nguy hiểm.

Bảy bộ mặt tái nhợt, sững sờ. Bảy cặp mắt trong đó

cháy bỏng một mối căm hờn không bao giờ có thể dập

tắt được.

- Chúng mày tưởng là ván bài chưa kết thúc phải

không? Nó kết thúc rồi: Ở đây bảy đứa và ngay đêm

nay, sáu mươi tay chân của chúng mày sẽ ngủ trong

nhà tù. Khi đảm nhiệm vụ án này, tao không tin rằng

trên đời này lại có một cái hội như hội của chúng

mày. Tao tưởng đó chỉ là những chuyện phóng đại của

một số nhà báo. Người ta nói với tao rằng, tao sẽ

377

phải chạm trán với những “Người Tự Do”, vì thế tao

đã đi đến Chicago để trở thành một “Người Tự Do”. Ở

đó, tao thực sự tin rằng đúng là những chuyện

phóng đại của báo chí, vì tao thấy Hội không có gì

xấu xa, mà trái lại đằng khác. Vì phải làm cho trọn

vẹn cuộc điều tra, nên tao đã đến thung lũng này.

Khi đến đây tao mới hiểu rằng tao đã lầm. Cho nên

tao đã ở lại đây để nghiên cứu vấn đề cho cặn kẽ.

Tao chưa hề giết người nào ở Chicago. Tao chưa bao

giờ làm bạc giả. Những đồng đô-la tao đưa cho chúng

mày tiêu, tuy tao nói là bạc giả nhưng chính là

bạc thật. Thế là tao được chấp nhận vào cái chi

nhánh địa ngục của chúng mày và cùng chúng mày bàn

bạc những chuyện giết người. Cái đêm hôm tao được

nhập vào chi nhánh, chúng mày đi hành hung cụ

378

James. Tao không báo kịp cho cụ biết, nhưng tao đã

giữ tay mày lại, Teddy, khi mày định giết ông cụ.

Tao không cứu được anh bạn Menzies, vì tao không

biết rõ sự việc, nhưng tao sẽ treo cổ những tên

giết hai người đó. Tao đã báo tin cho Wilcox, để

ông ta có thể cùng vợ và các con thoát đi khỏi

trước khi tao đặt thuốc nổ. Cũng có nhiều vụ tao

không thể báo trước cho nạn nhân biết. Nhưng rõ

ràng đã có biết bao nhiêu lần, những người mà chúng

mày định ám hại đã trốn thoát.

McGinty rít lên giữa hai hàm răng:

- Thằng phản bội!

- McGinty! Mày gọi tao là “phản bội”, nhưng sẽ có

hàng nghìn người khác gọi tao là “người tốt”, người

đã xuống tận địa ngục để cứu họ lên. Trong cái địa

379

ngục này, tao cố sống cho đến khi nắm được tất cả

từng đứa một, từng bí mật trong lòng bàn tay này.

Nhưng một bức thư đã khiến tao sắp bị lộ. Vì vậy

tao phải hành động ngay tức khắc. Tao không còn gì

nói thêm với chúng mày nữa. Thôi, bây giờ ông

Marvin, ông hãy đem giam bọn này lại. Chuyện còn

lại ta sẽ làm sau.

Scanlan được giao một chiếc phong bì dán kín mà

anh ta có nhiệm vụ phải đưa đến địa chỉ của Ettie.

Sáng hôm sau, một cô gái trẻ đẹp và một người đàn

ông khăn áo trùm kín người bước lên một chuyến tàu

đặc biệt của Công ty Hỏa xa dành riêng cho họ, chạy

hết tốc lực rời khỏi một vùng đất lầy nguy hiểm.

Mười ngày sau, họ làm lễ cưới ở Chicago. Cụ Shafter

là người làm chứng trong cuộc hôn nhân đó.

380

Vụ xử án “Những Người Tiên Phong” được tổ chức cực

kì cẩn mật. Chúng cố chối cãi, nhưng vô ích.

McGinty và tám tên phụ tá chết trên đoạn đầu đài,

năm mươi đứa khác ngồi tù. Thắng lợi của Birdy trọn

vẹn hoàn toàn. Nhưng thằng Teddy Baldwin không

phải lên đoạn đầu đài. Anh em thằng Willaby cũng

thế. Và một vài thằng hung thần khác cũng thoát.

Chúng bị giam giữ trong mười năm, rồi chúng tìm lại

được tự do. Ngày chúng ra khỏi nhà tù, Birdy biết

rằng ông bắt đầu gặp khó khăn. Chúng ám sát hai

lần, nhưng ông đều thoát. Ông phải rời Chicago, đổi

tên để sinh sống ở California. Tại đây Ettie từ

trần. Một lần khác ông đã suýt bị giết. Mang một

cái tên mới là Douglas, ông làm việc trong một hầm

mỏ với một người hùn vốn tên là Barker, và trở nên

381

giàu có. Có người báo rằng: Bọn khát máu đã lại

đánh hơi thấy dấu vết của ông rồi. Thế là ông vội

vã xuống tàu trở về Anh, đổi tên là John Douglas,

lấy vợ và sống như một nhà quý tộc nông thôn tại

vùng Sussex, rồi sau đó tại lâu đài cổ này – nơi

xảy ra câu chuyện như ta đã thấy.

8. TÁC PHẨM BẬC THẦY

Trước tòa Đại hình, Douglas được trắng án vì đã

hành động trong hoàn cảnh tự vệ.

Holmes viết thư cho bà vợ ông ta: “Bằng mọi giá,

bà hãy đưa ông đi khỏi nước Anh. Ở đây có những tổ

chức còn mạnh hơn gấp bội những tổ chức mà ông đã

thoát được. Không thể nào có an toàn cho ông ở nước

Anh này.”

Hai tháng đã trôi qua. Vụ án chìm dần vào dĩ vãng.

382

Một buổi sáng, có một bức thư khó hiểu được nhét

vào hòm thư của chúng tôi.

“Ông Holmes đáng thương của tôi ơi! Ôi... ôi...”

Bức thư nặc danh chỉ có mấy chữ đó thôi. Tôi bật

cười. Holmes thì trở nên nghiêm trang:

- Quỷ quái thật!

Và anh ngồi lặng đi, vầng trán cau lại.

Tối khuya hôm đó, bà chủ nhà trọ bước vào, nói

rằng có một vị khách muốn được gặp ông Holmes về

một vấn đề quan trọng. Người khách được mời vào

ngay: Đó là ông Barker. Với gương mặt căng thẳng,

đôi mắt hoảng hốt, ông nói:

- Tôi mang đến những tin tức xấu.

- Đó là điều tôi đang sợ đây - Holmes nói.

- Ông nhận được một bức điện?

383

- Thư của người nhận được bức điện đó.

- Chuyện của ông Douglas. Người ta nói với tôi

rằng, tên thật của ông ta là Birdy. Hai ông bà đã

xuống tàu Palmyra đi Nam Phi từ ba tuần lễ nay rồi.

Tối hôm qua, tàu nghỉ ở Cape Town. Sáng nay, tôi

nhận được bức điện này của bà Douglas:

“Douglas mất tích dưới biển trong một trận bão

ngoài khơi St. Helena. Không ai biết tai nạn xảy ra

như thế nào.

IVY DOUGLAS”

Thì ra như vậy đó. Việc bố trí và dàn cảnh thật là

tuyệt vời! - Holmes nói.

- Ông không tin đây là một tai nạn?

- Phải.

- Thế thì Douglas đã bị mưu sát?

384

- Phải.

- Tôi cũng nghĩ thế. Bọn “Người Tiên Phong”.

Holmes ngắt lời:

- Không phải đâu. Đây là một bàn tay bậc thầy kia.

Đây không còn là chuyện một khẩu súng săn cưa

nòng, một khẩu súng lục. Mà là tác phẩm vĩ đại của

một bậc thầy. Trông những nét bút tuyệt vời này,

tôi có thể nhận ra ngay đây là một tác phẩm của

Moriarty. Vụ án mạng này không phải là sản phẩm của

nước Mỹ mà chính là của London đó.

- Vì sao vậy?

- Vì nó đã được thực hiện bởi một người “bất bại”.

Một bộ óc lớn và một tổ chức khổng lồ dùng để thủ

tiêu một người mà thôi. Khác nào dùng búa tạ để đập

một hạt dẻ: Một sự vung phí năng lực quá cỡ, hạt

385

dẻ đã bị đập nát bét.

- Nhưng bậc thầy ấy sao lại dính líu vào vụ này

được?

- Thằng Porlock chính là một trong những tay chân

của bậc thầy đó. Người Mỹ rất khôn ngoan. Khi họ dự

định đánh một trận ở Anh, thì họ nghĩ ngay đến

việc hợp tác với một chuyên gia lớn về tội ác ở

Anh. Mới đầu Moriarty chỉ huy hoạt động bộ máy của

hắn để tìm ra Douglas. Rồi hắn chỉ dẫn cho hung thủ

cách tiến hành công việc như thế nào cho tốt.

Nhưng Teddy đi từ Mỹ sang đây đã thất bại. Bấy giờ

Moriarty tự đứng ra đảm nhận việc này, và đã giải

quyết nó bằng một tác phẩm bậc thầy.

Barker đùng đùng nổi giận, nắm chặt bàn tay, tự

đấm vào trán.

386

- Chúng ta bắt buộc phải chấp nhận điều đó ư? Sẽ

không có ai lên đến ngang tầm của tên ma vương này

sao?Holmes chậm rãi trả lời:

- Không. Tôi không nói rằng tên ma vương ấy sẽ

không thể bị đánh bại. Nhưng ông phải để cho tôi có

thời gian... Vâng, phải có thời gian.

Chúng tôi ngồi lặng đi. Đôi mắt tiên tri của

Holmes vẫn như đang muốn chọc thủng bức màn tương

387

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát