Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Sherlock Holmes Toàn Tập - Tập 3 - Phần 2

CONAN DOYLE

SHERLOCK HOLMES TOÀN TẬP

TẬP 3 – PHẦN 2

Nhóm dịch giả: Lê Khánh, Đỗ Tư Nghĩa, Vương Thảo,

Ngô Văn Quỹ, Lê Nhân, Hoàng Cường,

Phạm Quang Trung, Hải Thọ, Bùi Nhật Tân, Thanh

Lộc, Minh Phụng

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

BÀN CHÂN QUỶ

Con người mình đồng da sắt đã bắt đầu biểu lộ vài

triệu chứng mệt mỏi. Tháng 3 năm đó, bác sĩ Agar ở

đường Harley ra lệnh cho Holmes phải nghỉ ngơi hẳn

nếu muốn tránh một sự suy thoái tâm thần nghiêm

trọng. Holmes có bao giờ để ý đến sức khỏe của

mình, nhưng khi nghe dọa sẽ vĩnh viễn mất khả năng

1

làm việc, anh liền đi thay đổi không khí. Do vậy,

vào đầu mùa xuân năm 1897, hai chúng tôi đến ngụ

trong một biệt thự nhỏ bé gần vịnh Poldhu, ở mỏm

cực của đảo Cornwall.

Nơi đây rất thích hợp cho tính khí u buồn của con

bệnh. Qua các cửa sổ của ngôi nhà nhỏ, tường trắng,

chúng tôi nhìn thấy trọn cái vòng bán nguyệt thê

lương của vịnh Núi Đồi, từ lâu đã là tử địa của các

thuyền buồm với những mỏm đá ngầm.

Ở phía đất liền, quang cảnh cũng khá ảm đạm. Đó là

một vùng rừng chồi màu nâu. Xa xa, tháp chuông của

một nhà thờ đánh dấu vị trí của một ngôi làng cổ.

Khắp nơi trên rừng chồi này, người ta tìm thấy các

dấu vết của một chủng tộc diệt vong với những kiến

trúc quái dị bằng đá, những mô đất hình thù kì lạ

2

chứa đựng tro của người chết và những công trình

quái đản có thể là những đài tưởng niệm tử sĩ trong

thời kì xa xưa. Cái nơi huyền bí này kích thích

mạnh mẽ tư tưởng của Holmes. Anh dành khá nhiều

thời giờ để đi dạo và suy ngẫm, lưu tâm đến ngôn

ngữ xưa ở vùng Cornwall. Đối với anh, nó cùng tộc

với ngôn ngữ của người Chaldea mà các thương nhân

Phoenicia đưa vào đó trên đường đi bán thiếc. Trước

đây, khi Holmes vừa nhận được một bưu kiện sách

triết và đang bắt đầu viết luận án thì ngẫu nhiên

chúng tôi lọt vào mảnh đất thơ mộng này. Tôi rầu

rĩ, nhưng Holmes thì vui vẻ vô cùng: Một bài toán

với nhiều diễn biến và nhiều bí hiểm đang chờ đợi

anh.

Chúng tôi lọt vào một chuỗi biến cố làm rung

3

chuyển không chỉ ở vùng Cornwall mà ở cả nước Anh

nữa. Người ta gọi đó là “Sự kinh tởm tại Cornwall”.

Tôi có nói rằng tại vùng đất này, rải rác đó đây

có những cái tháp làm dấu vị trí các ngôi làng.

Thôn Tredannick Wollas có nhà cửa quy tụ quanh một

nhà thờ cổ rêu phong. Linh mục chánh xứ Roundhay

bốn mươi tuổi, có biết chút ít về khảo cổ học. Ông

là một người dễ thương, hiểu tất cả các ngõ ngách

của địa phương. Ông mời chúng tôi uống trà tại một

chánh xứ. Nơi đây chúng tôi được giới thiệu với nhà

quý tộc Mortimer. Ông này thuê một căn hộ trong

tòa nhà mênh mông của chánh xứ. Ông Mortimer gầy,

da màu nâu, mang kính và còng lưng như bị tật. Tôi

nhớ hôm đó, trong cuộc thăm viếng ngắn ngủi tại tòa

chánh xứ, nhân vật này ít nói, u buồn, rụt rè và

4

hình như đang ưu tư về chuyện riêng.

Ngày thứ ba, 16 tháng 3, không lâu sau bữa cơm

sáng, lúc chúng tôi đang hút một điếu thuốc trước

khi ra rừng dạo chơi theo lệ thường thì hai người

đàn ông ấy đến. Linh mục chánh xứ nói với giọng xúc

động:

- Thưa ông Holmes, đêm hôm qua xảy ra sự việc bi

thảm, làm chấn động nhất từ trước đến nay. Chúng

tôi xem sự có mặt của ông tại họ đạo này là phước

lành, vì kiểm lại trên toàn nước Anh, ông là người

duy nhất mà chúng tôi cần trong giây phút này.

Tôi nhìn nhà tu hành với cái nhìn thiếu thiện cảm.

Nhưng Holmes vứt thuốc, ngồi ngay ngắn lại. Anh

chỉ cái ghế dài. Hai người khách ngồi sát bên nhau.

Ông Mortimer tự chủ hơn nhà tu, nhưng đôi mắt u

5

buồn rực sáng và hai bàn tay run rẩy cho thấy rằng

ông ấy cũng xúc động như người chủ nhà.

- Ai nói, cha hay là tôi? - Ông Mortimer hỏi cha

xứ.

- Thưa cha - Holmes nói - Vì chính cha phát hiện

sự việc, nên tôi đề nghị cha trình bày.

Tôi lần lượt quan sát nhà tu, rõ ràng ông đã rất

vội vã khi mặc quần áo, còn người ở trọ ăn mặc rất

chỉnh tề. Vị mục sư nói:

- Đêm qua, anh bạn Mortimer đến chơi nhà của hai

anh Owen, George và cô em Brenda của Mortimer tại

thôn Tredannick Wartha, trên rừng chồi. Ông

Mortimer ra về lúc hơn 10 giờ. Ba người anh em tiếp

tục đánh bài trong phòng ăn. Mọi người đều khỏe

mạnh và vui vẻ. Sáng nay, ông Mortimer thức dậy

6

sớm, đang đi dạo về hướng đó thì xe của bác sĩ

Richards đuổi theo, cho biết rằng mình vừa nhận

được một lời mời khẩn cấp từ thôn Wartha. Tất nhiên

ông Mortimer liền leo lên xe cùng đi. Khi tới đó,

ông thấy tình trạng dị thường. Hai anh trai và cô

em gái vẫn còn ngồi tại bàn, y hệt như lúc ông ra

về. Các con bài vẫn ở trước mặt họ, đèn nến cháy

cạn chén, nhưng cô em gái tựa lưng vào ghế, chết

cứng. Còn hai người anh trai thì ngồi la, cười và

hát như hai thằng điên; cả ba (một chết và hai

điên) đều biểu lộ trên mặt họ cùng một sự kinh

hoàng vô cùng ghê rợn. Trong nhà không có ai, trừ

bà già Porter, người nấu bếp kiêm lao công. Bà này

khai rằng mình ngủ ngon lành, chẳng nghe tiếng động

nào trong đêm.

7

Không vật gì bị đánh cắp hoặc bị dời chỗ. Người ta

đoán mò lung tung về tính chất của sự kinh hoàng.

Holmes lặng thinh hồi lâu, chìm đắm trong cái thảm

kịch quái dị.

- Tôi sẽ đảm trách nội vụ. Ông tới đó chưa, ông

mục sư?

- Chưa. Khi ông Mortimer tường thuật các chi tiết

đó, ngay tức khắc chúng tôi chạy tới đây.

- Nơi xảy ra thảm kịch cách đây bao xa?

- Khoảng một dặm.

- Như vậy thì chúng ta đi bộ. Nhưng trước khi đi,

tôi muốn hỏi ông Mortimer vài câu.

Ông này ngồi im, mặt tái xanh, đường nét căng,

nhìn Holmes một cách âu lo, hai bàn tay co giật

liên hồi. Đôi môi trắng bệch run rẩy từ khi nghe kể

8

về biến cố hãi hùng giáng xuống đầu các anh em của

ông. Ông ta nói một cách nhiệt thành:

- Tôi sẽ thành thật trả lời ông.

- Xin ông hãy nói về tối hôm qua.

- Tối hôm qua, tôi ăn cơm tối với linh mục chánh

xứ và anh cả của tôi là George đề nghị đánh bài.

Chúng tôi bắt đầu chơi lúc 9 giờ. Tôi đứng dậy ra

về lúc 10 giờ kém 15. Lúc tôi về, anh George và hai

anh em của tôi vẫn ngồi quanh bàn vui tươi hớn hở.

Bà Porter đã đi ngủ. Do đó chính tôi mở và đóng

cửa chính, cửa sổ cạnh bàn họ đánh bài thì đóng

rồi. Nhưng bức rèm cửa không kéo xuống. Cửa lớn và

cửa sổ sáng nay vẫn như cũ. Vậy là không có lí do

để nói rằng có một kẻ vô danh đã lẻn vào nhà. Nhưng

hai anh trai của tôi đã điên vì sợ, còn em Brenda

9

thì đã chết.

- Theo như ông tường thuật thì các sự kiện này quả

là phi thường. Nếu tôi không lầm thì ông không thể

giải thích được cái thảm kịch này? - Holmes nói.

- Quỷ sứ, thưa ông Holmes. Chỉ có thể là quỷ sứ -

Mortimer la lớn - Sức mạnh của con người không thể

làm được như thế!

- Nếu câu chuyện thuộc bình diện siêu nhân, tôi

phải bó tay. Nhưng chúng ta thử vận dụng tất cả các

giả thiết tự nhiên trước khi chấp nhận giả thiết

huyền bí. Ông Mortimer, dù ít nhiều ông đã không

sống chung với gia đình phải không? Những người kia

sống chung với nhau, còn ông thì ở riêng?

- Vâng, thưa ông Holmes, chúng tôi là một gia đình

thợ mỏ thiếc ở Redruth. Chúng tôi đã bán cái xí

10

nghiệp của mình cho một công ty và kiếm được một số

tiền khá lớn dành cho tuổi già. Tôi không phủ nhận

rằng sự chia chác có gây ra vài bực dọc trong một

thời gian. Nhưng giờ đây, tất cả đã đi vào quên

lãng và anh em chúng tôi đã trở lại thân thiết với

nhau.

- Hãy suy nghĩ thêm về cái đêm đoàn tụ! Ông không

nhớ một sự kiện nào có thể soi sáng cái bi kịch

sao? Cố nhớ đi ông, chỉ cần một chỉ dẫn nhỏ cũng có

ích cho tôi.

- Tôi không thấy gì cả.

- Không khí của gia đình cũng bình thường như mọi

ngày.

- Chưa bao giờ họ vui như thế!

- Các anh và em gái của ông có vẻ gì lo lắng

11

không? Họ có biểu lộ một mối lo sợ mơ hồ về một mối

hiểm nguy nào đó không?

- Tuyệt đối không!

- Vậy là ông không có chi tiết gì để giúp tôi.

Mortimer suy nghĩ nghiêm túc trong giây lát.

- Tôi có nhớ một điều. Trong lúc chúng tôi ngồi

quanh bàn, tôi quay lưng ra cửa sổ, còn anh George

nhìn ra cửa sổ. Có một lần tôi thấy anh nhìn đăm

đăm qua vai tôi đến nỗi tôi phải quay ra sau và

cùng nhìn. Bức rèm thì kéo lên, cửa sổ thì đóng

kín. Tôi không thấy gì xa hơn các bụi cây trên bồn

hoa. Và hình như tôi thấy một cái gì đó đang di

động. Tôi không thể nói chính xác đó là một con

người hay một con thú, nhưng tôi tin là có một sự

lạ. Tôi có hỏi xem anh ấy nhìn cái gì thì anh cho

12

biết cũng có cảm giác như tôi.

- Ông không kiểm chứng tại chỗ?

- Không. Câu chuyện ngừng tại đó.

- Ông đã rời họ mà không cảm thấy có điều gì sắp

xảy ra chứ?

- Tuyệt đối không!

- Tôi không hiểu rõ nhờ đâu ông hay tin sớm thế?

- Tôi luôn luôn thức dậy sớm, và thường thường tôi

đi bộ một lúc trước khi dùng điểm tâm. Sáng nay,

mới vừa ra khỏi nhà thì bác sĩ đuổi kịp tôi bằng

xe. Ông cho biết rằng bà lão Porter sai một thằng

bé chạy tới mời tôi. Tôi nhảy tót lên cạnh ông và

cùng đi. Ngay khi tới nơi, chúng tôi đến cái căn

phòng ghê rợn. Nến và lửa lò sưởi đã tắt từ lâu. Họ

ngồi trong bóng tối cho tới khi mặt trời mọc. Bác

13

sĩ cho tôi biết, em gái tôi chết cách đó ít nhất là

sáu giờ. Không thấy có dấu vết nào của bạo hành.

Cô ấy cúi đầu, ngồi chết trong ghế bành, George và

Owen đang ca hát và thốt ra những âm thanh rời rạc

như hai con khỉ khổng lồ. Tôi không thể chịu đựng

được cảnh tượng này. Chính gương mặt bác sĩ cũng

trắng bệch như tấm ga giường, gần như ngất xỉu và

chúng tôi còn phải lo chăm sóc ông ấy nữa.

- Quái dị! - Holmes đứng dậy và lấy mũ - Thực là

quái dị! Tôi nghĩ rằng ta nên tức tốc đi tới

Tredannick Wartha. Tôi thú thật là ít khi gặp một

bài toán quái dị như vậy.

Chúng tôi đã chọn một con đường hẹp, ngoằn ngoèo

quanh co để đến hiện trường. Nghe tiếng lộc cộc của

xe ngựa trước mặt chạy tới, chúng tôi nép sát lề.

14

Khi xe đó chạy ngang qua, chúng tôi thấy một khuôn

mặt nhăn nhó, bị biến dạng một cách kinh dị, mắt

trợn trắng, răng nghiến ken két.

- Anh và em tôi - Mortimer la to, mặt mày tái mét

- Họ được chở đi Helston!

Nhìn chiếc xe gập ghềnh xa dần, chúng tôi tiếp tục

lộ trình.

Căn nhà rộng và sáng sủa, khu vườn mênh mông được

tô điểm bằng hoa xuân. Cái cửa sổ của phòng khách

nhỏ nhìn ra vườn. Chính từ thửa vườn đó, ông

Mortimer đã nhìn thấy cái quỷ quái nào đó. Holmes

chậm rãi và nghĩ ngợi, đi dạo qua các bồn hoa trên

lối đi, trước khi vào nhà. Anh trầm tư đến nỗi vấp

phải bình tưới, lật nhào nó, làm ướt chân chúng

tôi. Vào bên trong, bà lão lao công Porter đón tiếp

15

chúng tôi. Bà ta mau mắn trả lời tất cả các câu

hỏi của Holmes: Suốt đêm bà không hề nghe tiếng

động nào. Đến sáng, lúc vào xa-lông, bà ngất xỉu

trước cảnh rùng rợn quanh cái bàn. Sau khi hoàn

hồn, bà mở cửa sổ cho khí trời của buổi sáng tràn

vào, rồi bà đi dọc lối đi, sai một thằng bé trong

trang trại đi mời bác sĩ.

Bà không còn muốn ở thêm tại đây một ngày nào nữa.

Ngay chiều nay bà sẽ ra đi, trở về với gia đình.

Chúng tôi leo lên cầu thang để nhìn xác cô gái.

Trước đây chắc chắn cô rất đẹp. Người ta vẫn còn

thấy vết tích của sự co giật hoảng sợ. Từ phòng của

cô, chúng tôi xuống xa-lông, hiện trường của bi

kịch. Tro còn trong lò sưởi. Trên bàn có bốn khúc

đèn nến cháy dở và bộ bài. Ghế dựa thì đã được xếp

16

sát tường. Ngoại trừ chuyện đó, tất cả còn y

nguyên. Holmes đi qua đi lại trong phòng. Anh liên

tiếp ngồi vào cái ghế sau khi đặt chúng trở lại vị

trí của đêm qua. Anh kiểm chứng những cái gì có thể

thấy được ngoài vườn, khám nghiệm sàn trước và lò

sưởi.

- Tại sao lại đốt lò sưởi? Chật chội như thế này

mà lại đốt lò sưởi, nhất là vào một đêm mùa xuân.

Ông Mortimer giải thích rằng đêm đó lạnh và ẩm. Đó

là lí do lửa được đốt lên sau khi ông ta về.

- Ông sẽ làm gì bây giờ, thưa ông Holmes? - Ông ta

hỏi. Holmes nhoẻn miệng cười rồi đặt bàn tay anh

trên vai tôi:

- Watson! Có lẽ tôi phải chơi lại cái thuốc lá,

độc dược mà anh đã bài bác. Giờ đây chúng ta đi về,

17

bởi vì tại đây tôi không tìm được yếu tố nào mới

mẻ và hữu ích. Ông Mortimer, tôi sẽ liên lạc với

ông và với ông mục sư. Trong khi chờ đợi, tôi chúc

cả hai ông một buổi sáng an lành.

Về tới biệt thư Poldhu, Holmes nằm co ro trong ghế

bành, chung quanh khói thuốc mịt mù, lặng thinh,

chân mày cau lại, trán nhăn, mắt nhìn vu vơ. Cuối

cùng anh đặt tẩu thuốc xuống và đứng lên.

- Anh Watson! Chúng ta cùng nhau đi dạo dọc các

tảng đá vôi và tìm những mũi tên bằng đá lửa có kết

quả hơn là đi tìm đáp số cho bài toán này. Bắt trí

óc làm việc mà không có đủ nguyên liệu thì giống

hệt như cho máy nổ chạy mà không đổ xăng vào!

Chúng ta hãy rà soát lại tình hình một cách bình

tĩnh trong lúc đi dạo. Tôi bắt đầu khẳng định rằng

18

cả anh lẫn tôi, không ai chấp nhận cái giả thiết có

quỷ sứ. Chỉ còn lại cái sự kiện ba người là nạn

nhân của sự can thiệp của người trần mắt tục. Vậy

thì thảm kịch xảy ra lúc nào? Nếu tin theo lời

thuật lại của người kể chuyện thì tai họa xảy ra

ngay sau khi Mortimer về. Đó là một điểm quan

trọng. Trong tất cả các sự phỏng đoán thì phải vài

phút sau: Các lá bài hãy còn trên bàn, giờ đi ngủ

đã qua lâu rồi. Tuy nhiên họ vẫn ngồi nguyên tại

chỗ, bàn ghế vẫn y nguyên. Tôi lặp lại rằng tai

biến đã xảy ra ngay sau khi ông ta ra về và trước

11 giờ đêm.

Như vậy là chúng ta phải kiểm lại các hành động

của Mortimer sau khi ông rời xa-lông. Các hành động

của ông này đều có vẻ thoát khỏi mọi ngờ vực. Anh

19

hiểu rằng qua việc lật đổ cái bình tưới, tôi lấy

được dấu chân rất rõ của ông ta. Cát ẩm ướt của lối

đi tạo thuận lợi cho công việc này. Đêm trước cũng

ẩm, anh nhớ không, nhờ vậy, dựa vào một dấu vết,

tôi có thể phân biệt và theo dõi đường đi của anh

chàng. Anh chàng có vẻ đi nhanh về hướng tòa chánh

xứ.

Vậy thì khi anh chàng này mất dạng rồi, ai đã đến

đó hốt hồn các tay bài? Làm sao nhận dạng người này

và xác định nguyên nhân gây ra tội ác? Ta có thể

loại trừ bà lão Porter ra? Có thể nào chứng minh

rằng có một người bò sát cửa sổ và tạo ra hiệu quả

làm ai cũng sợ phát điên? Cái gợi ý độc nhất về

hướng này xuất phát từ anh chàng Mortimer rằng anh

của ông ta thấy một cái gì động đậy ngoài vườn. Đó

20

là điều nực cười, vì đêm đó có mưa, có mây, tối đen

như mực. Bất cứ ai tới đó với ý định hù dọa cũng

đều phải dán mặt vào cửa kính. Phía ngoài, dưới cửa

sổ có một bồn hoa bề ngang một thước. Tôi không

tìm ra một dấu chân nào. Trong trường hợp này, khó

tưởng tượng một kẻ vô danh đã có thể tạo một cảm

giác hãi hùng như thế.

Mặt khác, cho tới nay, chúng ta chưa tìm ra một

động cơ nhỏ nhoi nào giải thích được một mưu toan

vừa quái đản vừa rắc rối. Anh thấy rõ các khó khăn

của chúng ta chứ, anh Watson?

- Rõ ràng là khó! - Tôi đáp.

- Tuy nhiên, tôi tin rằng trong hồ sơ lưu trữ của

anh, anh có thể tìm ra vài vụ án cũng tối tăm tương

tự. Trong khi chờ đợi, chúng ta tạm gác lại vụ

21

này, chờ có thêm tin tức chính xác và dùng thời

gian còn lại của buổi sáng nay để săn đuổi con

người thời đồ đá mới.

Có lẽ tôi đã ca tụng cái khả năng siêu thoát tâm

thần của Holmes. Tuy nhiên chưa bao giờ anh làm tôi

kinh ngạc hơn buổi sáng mùa xuân đó tại vùng

Cornwall. Trong suốt hai giờ liền, Holmes thuyết

trình về người Celt, về các đầu mũi tên, về cái

mảnh vỡ của lọ hũ một cách lưu loát như không hề

bận tâm về một bài toán hóc búa. Khi chúng tôi về

nhà vào lúc xế chiều, một người khách tìm đến.

Chúng tôi nhận ra khách từ xa. Thân hình khổng lồ,

khuôn mặt xương, đôi mắt hung ác, mũi quặp, bộ tóc

muối tiêu, râu quai nón vàng óng ở đuôi. Tướng mạo

này quen thuộc tại London, cũng như tại Phi châu.

22

Chúng tôi có nghe tin ông ta hiện diện trong vùng

và đôi lần có thấy thoáng qua cái dáng dong dỏng

cao của ông nổi bật trong rừng chồi. Ông không làm

quen với chúng tôi, chúng tôi cũng không làm quen

với ông ta vì ai cũng trọng sự thanh vắng của nhau.

Ông ta sống đời ẩn dật tại một nơi sâu trong khu

rừng Beauchamp Arriance, chìm đắm trong sách vở và

bản đồ, ông ta tự lo việc nội trợ, và có vẻ không

để ý đến việc của người chung quanh. Do đó, tôi rất

kinh ngạc khi nghe ông hỏi Holmes một cách nồng

nhiệt xem có tiến được bước nào trong việc giải

thích cái thảm kịch.

- Ông Holmes, cảnh sát quận hoàn toàn bối rối.

Nhưng do kinh nghiệm dồi dào của ông, ông có thể

đưa ra một giả thiết hợp lí. Về phần tôi, lí do độc

23

nhất khiến tôi tò mò là vì trong nhiều lần lui tới

vùng này, tôi có quen gia đình Mortimer. Có thể

nói rằng tôi khá thân thiết với họ. Sự bất hạnh đó

không khỏi làm tôi đau buồn. Tôi đã đến cảng

Plymouth để chuẩn bị xuống tàu đi châu Phi. Nhưng

sáng nay khi nghe tin, tôi vội vàng quay trở về để

tiếp tay với các nhà điều tra.

Holmes trố mắt:

- Ông bỏ vé tàu vì chuyện này?

- Tôi đi chuyến sau.

- Ông thật là tốt bụng.

- Chúng tôi là bà con mà.

- Đúng vậy! Các nạn nhân có họ hàng với ông. Hành

lí của ông đều đã lên tàu rồi chứ?

- Chỉ một phần, phần lớn vẫn còn tại khách sạn.

24

- Tôi hiểu rồi. Biến cố này chưa được báo chí đăng

tải?

- Chưa, nhưng tôi có nhận một điện tín.

- Tôi xin phép được biết tên người gửi?

Một bóng mờ thoáng qua trán của nhà thám hiểm.

- Ông quá tò mò, thưa ông!

- Nghề nghiệp mà!

Phải cố gắng lắm, bác sĩ Sterndale mới lấy lại

bình tĩnh.

- Tôi không thấy có lí do để giấu ông, ông mục sư

là người đánh điện cho tôi.

- Cám ơn, để trả lời câu hỏi của ông, tôi xin nói

rõ với ông rằng tôi chưa giải thích được trọn vẹn

nội vụ. Tuy nhiên, tôi hi vọng sẽ đi tới một kết

luận.

25

- Ông có thể nói chính xác rằng các ngờ vực của

ông có hướng hẳn về một phía nào không?

- Không, tôi không thể nói chính xác với ông được.

- Như vậy là tôi đã mất thời giờ vô ích. Tôi không

còn lí do để kéo dài cuộc thăm viếng này.

Nói xong người khách chia tay chúng tôi. Không đầy

năm phút sau, Holmes cũng ra đi, bám theo ông ta.

Mãi cho tới tối, anh mới quay về bằng bước chân uể

oải. Qua diện mạo, tôi đoán biết không có gì tiến

bộ hơn. Holmes liếc qua điện tín nằm chờ, rồi ném

nó vào lửa, nói:

- Của khách sạn Plymouth. Tôi biết tên của khách

sạn qua ông mục sư và tôi đánh điện để nắm chắc

rằng bác sĩ Sterndale không nói dối. Hình như ông

26

ta có ngủ đêm tại đó, và có cho một số hành lí lên

tàu trong khi ông quay về đây để chứng kiến cuộc

điều tra. Anh nghĩ gì, anh Watson?

- Tại sao ông ấy để ý đến cuộc điều tra một cách

tha thiết thế?

- Đúng! Đó là một sợi chỉ mà chúng ta chưa phăng

đến. Vì tôi tin rằng chúng ta chưa quy tụ đủ các

yếu tố. Khi đủ rồi thì các khó khăn của chúng ta

chỉ còn là một kỉ niệm.

Sáng hôm sau, tôi đang cạo râu ở cửa sổ thì nghe

tiếng vó ngựa chạy vội vã. Đến cửa nhà chúng tôi,

xe ngừng lại. Mục sư nhảy ngay xuống đất, lao vào

lối đi trong vườn hoa. Chúng tôi chạy ra đón. Ông

rối trí đến nỗi không nói được rõ ràng và câu

chuyện bị đứt đoạn:

27

- Chúng tôi hiện là nạn nhân của quỷ dữ. Xứ đạo

của tôi luôn bị quỷ phá, Satan thân chinh. Chúng

tôi lọt vào quyền năng của quỷ dữ...

Ông lăng xăng khua chân múa tay. Cuối cùng ông đưa

cái tin bất ngờ.

- Ông Mortimer đã chết đêm qua. Triệu chứng giống

hệt như những người trước.

Holmes nhảy dựng lên.

- Cho chúng tôi quá giang!

- Vâng.

- Ông mục sư! Chúng tôi hoàn toàn thuộc quyền sử

dụng của ông. Nhanh lên! Nhanh lên! Tôi phải tới đó

trước khi người ta xáo trộn hiện trường.

Người ở trọ chiếm hai căn phòng trên gác, cả hai

đều ở một góc. Căn dưới là phòng khách. Bên trên là

28

phòng ngủ. Hai phòng nhìn ra sân gôn nhỏ trải dài

cho tới tận cửa sổ. Chúng tôi tới đó trước cả pháp

y và cảnh sát. Chưa có cái gì bị đụng tới hoặc dời

chỗ.

Phòng bốc mùi mốc rất khó chịu. Cô gái làm công

vào trước mở cửa sổ, nếu không thì không tài nào

thở nổi. Có thể do cái đèn dầu đang cháy dở bốc

khói mịt mù trên cái bàn giữa phòng. Cạnh bàn, xác

chết được đặt ngồi dựa vào ghế. Chòm râu quai nón

nhọn chĩa ra phía trước, cặp mắt kính lật ngược

trên trán; cái khuôn mặt gầy gò màu nâu hướng ra

cửa sổ và cũng bị méo mó vì kinh hoàng y hệt như

khuôn mặt xác chết của cô em. Tay chân bị còng queo

và các ngón tay cong lên như thể ông ấy đã trải

qua một cơn khiếp đảm cùng cực. Ông mặc áo quần đầy

29

đủ nhưng chúng tôi được biết ông đã ngủ trên

giường và cái chết thê thảm xảy ra vào sáng sớm.

Ngay khi vượt ngưỡng cửa của căn hộ, Holmes hoạt

động năng nổ. Anh đi ra ngoài bồn hoa nhảy cửa sổ

rồi trở vào, đi vòng quanh xa-lông; leo lên phòng

ngủ trên gác như con chó săn hùng hổ khi đã tìm ra

con mồi. Holmes nhìn nhanh vào phòng rồi mở cửa sổ,

có điều gì như kích thích anh thêm vì anh chồm ra

ngoài và thốt ra những lời thích thú! Rồi anh tụt

xuống cầu thang và nhảy qua cửa sổ, úp mặt sát cỏ,

leo trở lên phòng một lần nữa. Holmes tỉ mỉ khám

xét cái đèn thuộc loại làm theo chuẩn, rồi dùng bàn

chân đo đạc. Anh dùng kính lúp khám nghiệm tấm

thiếc bên trên cái bóng đèn, cào cào một tí tro còn

dính ở phần trên vào một phong bì rồi kẹp vào cuốn

30

sổ khi pháp y và cảnh sát xuất hiện. Anh ra hiệu

cho mục sư rồi tất cả chúng tôi đi ra ngoài. Anh

nói:

- Tôi sung sướng loan báo rằng các cuộc điều tra

của tôi không hoàn toàn tiêu cực. Tôi không thể nán

lại để thảo luận nội vụ với cảnh sát. Tôi thỉnh

cầu ông mục sư chuyển lời chào của tôi đến viên

thanh tra và lưu ý ông ta về cái cửa sổ phòng ngủ

và cái đèn trong xa-lông. Hai cái đó tách riêng ra

gợi cho ta nhiều ý. Gộp lại, chúng đưa ta tới kết

luận. Nếu cảnh sát muốn biết rõ hơn, tôi sẵn sàng

gặp bất cứ người đại diện nào của họ. Còn bây giờ,

Watson à, chúng ta sẽ có việc làm ích lợi hơn tại

chỗ khác.

Có thể cảnh sát không thích sự chõ mũi của một tay

31

nghiệp dư, hoặc có thể vì họ tự cho đã đi đúng

hướng, nên trong hai ngày đầu, chúng tôi không nghe

nói về họ.

Trong khi đó, Holmes hút thuốc liên tục và suy

ngẫm miên man, nhất là anh thường một mình đi bộ

ngoài đồng. Một thí nghiệm hé lộ cho tôi thấy hướng

đi của cuộc điều tra. Anh mua một cái đèn giống y

như cái đèn chiếu sáng phòng của Mortimer, đổ vào

đó loại dầu giống hệt dầu dùng tại tòa chánh xứ rồi

kĩ lưỡng đo thời gian dầu cháy. Anh lại làm một

thí nghiệm khác có tính chất khó chịu hơn, tôi còn

nhớ mãi.

- Anh có nhớ không, Watson? Chỉ có một điểm tương

đồng duy nhất giữa các lời tường thuật mà chúng ta

được nghe. Đó là sự tác động của không khí trong

32

phòng lên người đầu tiên bước vào. Anh còn nhớ

Mortimer có nói rằng bác sĩ gần như ngất xỉu, ngã

xuống ghế bành. Anh cũng còn nhớ rằng bà lão lao

công có nói rằng chính bà cũng xỉu khi bước vào

phòng. Còn trong trường hợp mới đây, chắc chắn anh

chưa quên cái không khí cực kì khó chịu của căn

phòng Mortimer khi chúng ta đến, dù cô người làm đã

mở cửa rồi. Cô này, như tôi được biết đã nhuốm

bệnh vì chuyện này. Watson à, anh hãy nhìn nhận

rằng, những sự kiện này rất có ý nghĩa. Trong cả

hai trường hợp, không khí đều bị nhiễm độc. Trong

cả hai trường hợp đều có sự cháy đang tiếp diễn

trong phòng. Trong trường hợp thứ nhất, có bếp lửa;

trong trường hợp thứ hai có cái đèn. Bếp là cần vì

trời quá lạnh. Nhưng mà đèn, nếu dựa vào số dầu

33

tiêu thụ thì được thắp khá lâu sau khi mặt trời

mọc. Chắc chắn có một tương quan giữa ba chuyện: Sự

cháy, không khí, ngạt thở và cuối cùng là hai cái

điên và hai cái chết. Sáng tỏ chưa nào?

- Hình như đã sáng tỏ.

- Chúng ta có thể chấp nhận nó làm giả thiết xuất

phát. Theo đó ta có thể cho rằng trong cả hai

trường hợp, một chất gì đó đã cháy và tạo ra một

chất khí cực kì độc hại.

Đúng thế! Trong vụ việc thứ nhất, liên quan tới

gia đình Mortimer, chất này được bỏ vào bếp lửa.

Cửa sổ đóng, lửa đương nhiên theo khói vào trong

ống khói. Hiệu quả chắc chắn kém độc hại hơn so với

trường hợp thứ hai, trong đó chất độc không có lối

thoát. Kết quả thực tế cho thấy rằng sự suy đoán

34

của ta không sai. Trong trường hợp thứ nhất, chỉ có

người đàn bà có lẽ vì thể chất yếu nhất nên gục

chết, còn hai người anh thì chỉ phát điên, tạm thời

hay vĩnh viễn chịu hậu quả sơ khởi của chất độc.

Trong trường hợp thứ hai, có một chất độc dễ cháy

đã giết chết người.

Theo hướng này, tôi lục lọi trong phòng của

Mortimer với hi vọng tìm ra chất đó. Đương nhiên

phải khám nghiệm cái miếng thiếc che hoặc cái bóng

đèn. Tại hai nơi này, tôi thấy có tro trắng viền

bột nâu chưa cháy hết.

- Tôi có lấy phân nửa số bột nâu này bỏ vào một

bì.

- Tại sao chỉ phân nửa vậy Holmes?

- Tôi không có quyền thọc gậy bánh xe của cảnh

35

sát.

- Tôi có để lại cho họ toàn thể bằng chứng của

những gì tôi đã thấy. Với một chút xíu thông minh,

họ sẽ tìm ra. Giờ đây, chúng ta sẽ thắp cái đèn của

chúng ta. Phải nhớ mở cửa sổ để khỏi chết sớm. Anh

hãy ngồi gần cửa sổ...

- À, anh muốn tận mắt thấy rõ mọi việc ư? Được

lắm. Tôi để cái ghế dựa này trước cái ghế bành của

anh để hai đứa mình cùng cách đều với chất độc, mặt

đối mặt. Cửa lớn hả? Ta để nó hé mở. Giờ đây,

chúng ta có thể canh chừng lẫn nhau và hãy ngưng

cuộc thí nghiệm nếu các triệu chứng có vẻ báo động.

Hiểu rõ không? Tốt.

Vậy thì tôi lấy cái bột trong phong bì và rắc nó

trên cái đèn đang cháy. Xong rồi! Giờ đây, Watson!

36

Ta hãy ngồi xuống chờ các biến cố diễn biến.

Vừa ngồi vào ghế bành thì mũi tôi ngửi mùi xạ

hương, vừa nặng vừa khó chịu, muốn buồn nôn. Ngay

cái hít đầu tiên, tôi mất hẳn sự kiểm soát của não

bộ và trí tưởng tượng. Một đám mây đen ngòm và dày

cộm bắt đầu quay trước mắt tôi. Tâm trí tôi nhắc

tôi có một đám mây. Những hình thù mờ ảo quay cuồng

trong đám mây đen đó. Mỗi một hình thù có vẻ báo

hiệu về một cái gì hung tợn sẽ tới, báo trước rằng

một quái vật khó tả xâm nhập vào tôi. Một cơn kinh

hoàng lạnh xương sống xâm chiếm tôi. Tôi cảm thấy

tóc dựng đứng lên, mắt muốn lồi khỏi tròng, mồm há

hốc, lưỡi cứng lại như da thuộc. Tôi thử kêu lên.

Tôi nghe thấy tiếng nói của tôi như xa xôi và lạ

tai. Cùng lúc đó, tôi thấy mặt của Holmes trắng như

37

ma, cứng như xác chết, đầy đủ các triệu chứng của

nỗi kinh hoàng, đầy đủ các đường nét tôi đã thấy

trên các nạn nhân.

Thấy được Holmes thì tôi hơi tỉnh. Tôi nhảy khỏi

ghế bành, ôm chầm lấy Holmes, khập khiễng dìu nhau

ra cửa, nhảy lăn xuống bồn cỏ, nằm sát bên nhau,

đăm đăm nhìn mặt trời sáng rực. Sự tỉnh trí trở về

với chúng tôi. Ngồi trên cỏ, chúng tôi lau trán ướt

đẫm mồ hôi và khám nghiệm lẫn nhau, không khỏi

rùng mình về cuộc thí nghiệm vừa qua.

- Lấy danh dự mà nói, Watson à! - Holmes nói có

phần ấp úng

- Tôi vừa cám ơn vừa xin lỗi anh. Cuộc thử nghiệm

đó đối với một người đã nguy hiểm rồi, đằng này đến

hai người. Tôi xin lỗi.

38

- Anh dư biết rằng - Tôi nói với sự xúc động -

Được tiếp tay cho anh làm cho tôi vui và hãnh diện

vô cùng.

- Có người liệt chúng ta vào hạng người điên ngay

từ khi chúng ta chưa lao mình vào cái thí nghiệm

hãi hùng ấy. Thú thực tôi không ngờ hiệu quả có thể

đột ngột và nghiêm trọng đến thế.

Anh chạy vào nhà, trở ra với cái đèn đang cháy

sáng trên tay rồi ném nó vào bụi gai.

- Nên làm cho phòng thoáng khí! Tôi nghĩ rằng bây

giờ anh đã thấy rõ ràng diễn biến của các thảm

kịch?

- Rõ rồi.

- Tuy nhiên, nguyên nhân hãy còn mịt mù. Hãy đi

tới vòm cây và nghiêm chỉnh thảo luận về nội vụ.

39

- Cái chất độc dường như vẫn còn trong cuống họng

của tôi...

Tóm lại, Mortimer là thủ phạm trong thảm kịch thứ

nhất, và là nạn nhân trong thảm kịch thứ hai. Ta

hãy nhớ lại rằng chuyện tranh chấp trong gia đình

được nối tiếp bằng một sự hòa giải. Cuộc tranh chấp

đạt tới mức độ nào và cuộc giải hòa có thành thật

không? Chúng ta không biết gì cả. Tôi nhớ lại

Mortimer với cái đầu chồn, đôi mắt gian giảo đằng

sau cặp kính và theo tôi thì y không phải là loại

người dễ dàng tha thứ cho bất cứ ai. Ngoài ra, anh

còn nhớ các lời khai của y về cái gì đó quậy quọ

ngoài vườn! Chính lời khai này đã một thời đánh lạc

hướng chúng ta về nguyên nhân đích thực của thảm

kịch. Chắc chắn y phải có một động cơ. Cuối cùng,

40

nếu không phải y ném chất độc đó vào lửa thì ai

khác đây? Thảm kịch xảy ra ngay sau khi y ra về.

Nếu có ai khác vào nhà thì gia đình đã phải rời

bàn... Mặt khác, tại cái vùng Cornwall thanh tịnh

này, khách không đến sau 10 giờ đêm. Do đó, chúng

ta có thể công nhận rằng tất cả các yếu tố đều quy

kết Mortimer là thủ phạm.

- Rồi sau đó y tự tử?

- Suy luận của anh không nghịch lí đâu. Người bị

lương tâm cắn rứt vì tội tày đình có thể do ăn năn

lại giáng cho chính mình cái vận đen mình đã đem

lại cho kẻ khác. Tuy nhiên, những mâu thuẫn vững

chãi bác bỏ giả thiết này. May thay, có một người

độc nhất tại nước Anh này biết rõ sự thật và tôi đã

thu xếp để chiều nay chúng ta được nghe đích thân

41

ông ấy nói chuyện. A, ông ấy tới hơi sớm đó.

- Bác sĩ Sterndale, hãy vào đây. Hai chúng tôi mới

tiến hành một thí nghiệm hóa học, do đó phòng

khách của chúng tôi không xứng đáng để tiếp đón một

khách quý.

Tôi nghe cửa vườn kêu kẽo kẹt: Dáng vóc đồ sộ của

nhà thám hiểm châu Phi nổi tiếng xuất hiện trên lối

đi. Với vẻ ngạc nhiên, ông đi về hướng cái vòm

cây, nơi chúng tôi đang ngồi.

- Ông có cho mời tôi, thưa ông Holmes? Hồi nãy tôi

có nhận miếng giấy và tôi đã đến đây. Tôi không

hiểu tại sao tôi phải tuân lời ông?

- Sau khi cuộc nói chuyện này chấm dứt, chúng ta

sẽ hiểu rõ cái điểm đó. Trong khi chờ đợi, tôi hết

sức cám ơn sự thuận tình đầy lễ độ của ông. Mong

42

ông miễn chấp sự tiếp đãi ông giữa trời, vì ông bạn

thân Watson của tôi và tôi gần hoàn tất một chương

phụ cho cái mục mà báo chí gọi là “Sự kinh tởm

vùng Cornwall”. Do đó, trong tạm thời chúng tôi

chọn một bầu không khí thuần khiết. Vì vấn đề mà

chúng ta phải thảo luận liên quan đến ông một cách

rất riêng tư, nên ta tìm chỗ vắng vẻ, tránh “tai

vách mạch rừng”.

Nhà săn thú gỡ điếu xì-gà ra khỏi miệng rồi nhìn

Holmes đăm đăm.

- Thưa ông, chuyện gì lại liên quan đến tôi một

cách rất riêng tư?

- Về việc giết Mortimer - Holmes đáp.

Gương mặt ông Sterndale đỏ như gạch, mắt tóe lửa,

các mạch máu nổi u và sôi sục, cái trán căng phồng,

43

ông ta tiến bước về phía Holmes, hai nắm tay siết

chặt... May thay, ông ngừng lại và qua một cố gắng

vượt bậc, lấy lại bình tĩnh. Nhưng cái bình tĩnh mà

ông biểu lộ đối với tôi có vẻ còn nguy hiểm hơn sự

nổ bùng của giận dữ.

- Tôi sống giữa bọn mọi và xa luật pháp quá lâu,

đến nỗi trong một chừng mực nào đó, tôi thay trời

làm luật! Ông Holmes nên nhớ điều đó! Trong thâm

tâm, tôi không muốn hại ông.

- Thưa bác sĩ, tôi cũng không muốn hại ông. Bằng

chứng là tuy có nắm một cái gì đó thì tôi thưa

chuyện với bác sĩ, chứ không với cảnh sát - Holmes

từ tốn đáp.

Sterndale ngồi xuống, có lẽ đây là lần đầu tiên

trong cuộc đời phiêu lưu của ông, ông bị chế ngự.

44

Nhìn thái độ của Holmes, ông thấy Holmes có một sự

tự tin và một cái quyền lực bất khả bại. Trong khi

nói chuyện, hai bàn tay to kềnh của ông liên tục

xòe ra và nắm lại.

- Ông muốn sao? Nếu ông muốn hù dọa tôi thì ông đã

chọn sai đối tượng. Đập quanh quanh bụi cây là vô

ích, thẳng vào đề đi, ông muốn nói gì?

- Ông sẽ biết thôi. Lí do khiến tôi nói là vì tôi

hi vọng sự thành thật của tôi được bác sĩ đáp lại.

Bước thứ hai của tôi hoàn toàn tùy thuộc vào tính

chất và sự biện minh của ông.

- Sự biện minh của tôi?

- Vâng, thưa ông.

- Biện minh về việc gì?

- Để khỏi bị cáo buộc về tội giết chết Mortimer.

45

Sterndale lấy mùi soa lau trán.

- Xưa nay ông thành công là nhờ cái khả năng hù

dọa phi phàm?

- Hù doạ - Holmes cương quyết trả lời - Là từ phía

ông, chứ không phải từ phía tôi, thưa bác sĩ. Để

chứng minh điều đó, tôi sẽ kể cho ông nghe vài dữ

kiện làm cơ sở cho cái kết luận của tôi. Dựa trên

việc ông rời Plymouth mà về đây và trên sự gửi một

phiếu hành lí đi Phi châu trước, tôi kết luận tức

khắc rằng ông là một trong các yếu tố mà tôi phải

xét tới, khi diễn lại tấn thảm kịch.

- Tôi đã trở về vì...

- Tôi còn nhớ các lí do ông nêu ra. Nhưng đối với

tôi, các lí do đó không có sức thuyết phục. Ông có

tới đây hỏi xem tôi ngờ vực ai, tôi từ chối trả

46

lời. Ông đứng ngoài chờ đợi một lúc rồi đi về nhà.

- Làm thế nào ông biết được?

- Tôi đi theo ông.

- Tôi có thấy ai đâu?

- Nghề nghiệp mà! Ông ngủ một đêm không ngon lành

tại biệt thự của ông. Và ông đã nghĩ ra vài kế

hoạch mà ông bắt đầu thực hiện sáng hôm sau. Sáng

hôm sau, lúc mở cửa, ông lượm một mớ sỏi gần cổng

sắt.

Sterndale rùng mình và rồi nhìn Holmes một cách

kinh ngạc.

- Rồi ông nhanh bước về tòa chánh xứ, cách nhà ông

khoảng một ngàn năm trăm yard. Tôi xin nói thêm

rằng hôm đó ông mang đôi giày ten-nít như đôi này.

Tới tòa chánh xứ, ông băng qua vườn cây ăn trái và

47

hàng rào ngang để đến dưới cửa sổ của phòng

Mortimer. Sáng trưng rồi, nhưng chưa ai thức cả.

Ông móc sỏi trong túi và ném lên cửa sổ bên trên.

Sterndale nhảy dựng lên.

- Tôi tin rằng ông là hiện thân của quỷ sứ! - Ông

ấy la to.

- Phải ném hai hoặc có thể ba đợt thì Mortimer mới

ra cửa sổ. Ông ra dấu kêu xuống. Y lật đật mặc

quần áo, đi xuống xa-lông. Ông leo cửa sổ mà vào.

Một cuộc nói chuyện ngắn ngủi xảy ra; trong lúc đó

ông đi tới đi lui. Rồi ông ra ngoài, đóng cửa sổ

lại, đứng ở bồn cỏ, hút xì-gà và chờ cái điều chắc

chắn phải xảy ra. Sau chót, khi Mortimer chết rồi,

ông rút lui bằng con đường đã dùng để đi tới. Giờ

đây, thưa bác sĩ Sterndale, làm sao biện minh cho

48

việc làm của ông? Động cơ nào thúc đẩy ông vậy? Nếu

ông dối tôi, tôi quả quyết rằng nội vụ sẽ không

tùy thuộc vào một mình tôi đâu.

Khuôn mặt người khách tái xám, ông lấy tay ôm đầu.

Rồi trong một cử chỉ bốc đồng, ông rút từ túi

trong một cái ảnh, ném nó trên chiếc bàn thô sơ

dưới vòm lá.

- Đó là lí do tại sao tôi đã giết người!

Ảnh bán thân của một người đàn bà đẹp. Holmes cúi

xuống nhìn kĩ.

- Cô Brenda?

- Vâng, chính nàng. Từ mấy năm nay, tôi yêu nàng.

Từ mấy năm nay, nàng cũng yêu tôi. Đó là lí do tôi

lui tới nghỉ ngơi tại Cornwall khiến nhiều người

thắc mắc, tôi muốn gần thần tượng của tôi. Tôi

49

không thể cưới nàng, vì tôi có vợ, vợ tôi bỏ tôi

lâu rồi, tuy nhiên vì pháp luật Anh quốc lằng nhằng

quá, tôi không li dị được. Trong nhiều năm ròng

rã, nàng vẫn chờ. Trong nhiều năm ròng rã, tôi cũng

chờ.

Một cơn thổn thức làm rung rinh dáng bộ đồ sộ của

ông. Ông ta lấy tay để lên cuống họng rồi tiếp tục

kể:- Ông mục sư có biết. Hai chúng tôi có tâm sự

với ông ta. Ông ta có thể cho ông biết rằng Brenda

đúng là một thiên thần. Đó là lí do vì sao ông ấy

đã đánh điện cho tôi, và tại sao tôi quay về. Một

mớ hành lí hoặc cuộc sống giàu sang ở châu Phi có ý

nghĩa gì trước cái tin nàng đã thọ nạn! Đó là động

cơ mà ông thiếu, ông Holmes à!

- Ông hãy nói tiếp đi!

50

Bác sĩ rút trong túi ra một cái gói, rồi đặt nó

trên bàn. Trên gói có mấy chữ: “Radix pedis

diaboli” (Rễ chân quỷ). Bên dưới thì có nhãn đỏ cho

biết nó là thuốc độc. Ông đẩy cái gói đó về phía

tôi.

- Tôi đoán rằng ông là bác sĩ, thưa ông! Ông có

nghe về tên thuốc này chưa?

- Rễ chân quỷ? Chưa, chưa bao giờ!

- Không có quan hệ chi đến kiến thức nghề nghiệp

của ông - Ông ta nói - Tôi tin rằng ngoài cái mẫu

mà tôi gặp tại Buda, không có mẫu nào khác tại châu

Phi đâu. Nó chưa được ghi vào sách thuốc hay sách

độc dược. Loại rễ cây này có một cái tên ngông do

một nhà truyền đạo kiêm nhà thực vật học đặt ra. Nó

được các phù thủy Tây Phi sử dụng làm thuốc độc để

51

trừng phạt và họ giữ bí mật về cách điều chế. Cái

mẫu này tôi kiếm được tại Ubangi trong một trường

hợp rất đặc biệt.

Ông mở cái gói và để lộ một mớ bột màu đỏ nâu

giống thuốc lá.

- Rồi sao nữa, thưa ông? - Holmes lãnh đạm hỏi.

- Do tình yêu đối với cô em mà tôi trở thành bạn

của ba anh em họ. Một cuộc thảo luận về tiền đã làm

cho Mortimer bực bội. Tuy nhiên, mối bất hòa đã

được dàn xếp nhanh chóng. Sau này tôi vẫn tới lui y

hệt như đối với mấy người kia. Y xảo quyệt già

dặn, những đặc điểm khiến tôi nghi ngờ sự trung tín

của y. Nhưng không có lí do gì để tôi cãi lộn công

khai với y. Một ngày nọ, cách đây hai tuần, y đến

thăm tôi và tôi cho y xem vài vật lạ ở châu Phi.

52

Trong số này có bột rễ chân quỷ. Tôi tiết lộ cho y

cái tính chất dị thường của nó, đặc biệt là cái khả

năng kích thích tế bào não bộ nắm quyền chỉ huy

các cảm xúc sợ sệt. Tôi có nói với y rằng sự điên

loạn hoặc cái chết chắc chắn sẽ đến với người thổ

dân xui xẻo bị thầy cúng của bộ tộc trừng phạt bằng

thứ này. Tôi có giải thích cho y rằng khoa học

châu Âu không thể phát hiện ra lối hại người này.

Bằng cách nào y đã lấy cắp được nó, tôi không biết.

Tôi không rời phòng giây lát nào cả, nhưng tôi

chắc chắn vào một lúc nào đó, có thể vào lúc tôi mở

ngăn kéo hoặc cúi xuống cái tủ kính. Tôi nhớ y có

hỏi về hiện tượng và thời gian thuốc ngấm. Tôi

không ngờ y có những ý đồ đen tối. Tôi quên hẳn

cuộc thăm viếng này cho tới khi nhận bức điện tín

53

của linh mục chánh xứ. Thằng khốn tưởng rằng tôi đã

lên tàu và sẽ ở châu Phi vài năm. Nhưng tôi quay

trở lại ngay tức khắc. Khi tôi dò qua các chi tiết,

tôi biết ngay rằng thuốc độc của tôi đã bị y sử

dụng. Tôi đến thăm ông lần đó là để chắc chắn rằng

không thể có giả thiết khác được. Quả nhiên đúng

thế. Mortimer là thủ phạm. Có lẽ y nghĩ rằng nếu

tất cả anh em trong gia đình đã phát điên thì một

mình y hưởng hết tài sản của họ. Y đã sử dụng bột

chân quỷ làm cho hai anh trai điên và giết em gái

của y. Brenda, người yêu độc nhất của tôi đã chết

vì bàn tay y. Phải trị tội y bằng cách nào? Đưa ra

luật pháp ư?

Bằng chứng đâu? Tôi biết rằng các dữ kiện là đúng

nhưng làm sao thuyết phục một đoàn hội thẩm quê mùa

54

dốt nát. Tâm hồn tôi khát khao một sự phục thù.

Sau một đêm trằn trọc, tôi rời nhà rất sớm. Tiên

liệu sẽ khó đánh thức y, tôi mới lấy một mớ sỏi để

ném lên cửa sổ. Y đã đi xuống và để cho tôi vào nhà

y, qua cửa sổ phòng khách. Tôi đã trình bày cho y

biết cái tội ác của y. Tôi cho y biết tôi đến với

tư cách vừa làm phán quan, vừa làm người đao phủ.

Tên khốn kiếp sụp xuống ghế khi thấy cái súng lục

của tôi. Tôi thắp đèn, bỏ thuốc độc lên trên, rồi

đứng bên ngoài cửa sổ, sau khi nói với y rằng: “Nếu

mi rời căn phòng, ta sẽ bắn mi ngay”. Năm phút sau

y chết.

Holmes ngồi lặng thinh một hồi.

- Ông có những dự định gì? - Cuối cùng Holmes hỏi.

55

- Tôi dự định chết già tại Trung Phi. Tôi chỉ muốn

hoàn thành nửa công trình tại đó.

- Bác sĩ hãy đi đi và hoàn tất cái phân nửa còn

lại - Holmes nói

- Tôi không phải là người phá rối bác sĩ.

Bác sĩ Sterndale đứng dậy, cúi đầu một cách cung

kính, rời khỏi vòm lá.

- Anh Watson, cuộc điều tra của chúng ta có tính

độc lập, lối xử thế của ta cũng phải độc lập. Anh

có muốn tố cáo người đó không?

- Chắc chắn là không!

- Tôi chưa bao giờ yêu, Watson à! Tuy nhiên nếu

tôi yêu và người đàn bà tôi yêu chết thê thảm như

thế, có thể tôi cũng xử sự giống hệt người săn sư

tử của chúng ta! Biết đâu được?

56

CUNG ĐÀN SAU CUỐI

Lúc đó là 9 giờ tối ngày 2 tháng 8, cái tháng 8

khủng khiếp nhất trong lịch sử thế giới. Có thể nói

rằng cơn giận dữ của Thượng đế đang đè mạnh lên

một thế giới suy đồi. Sự yên lặng nặng nề và sự hồi

hộp ngóng trông đang trôi bồng bềnh trong không

trung oi bức và im lìm.

Mặt trời đã lặn, nhưng ở chân trời phía Tây kéo

dài một màu đỏ giống một vết thương còn chảy máu.

Bên trên, vô vàn ngôi sao đang rực sáng và bên

dưới, ánh đèn của tàu bè nhấp nháy ở ngoài vịnh.

Hai người Đức đứng dựa vào bao lơn bằng đá của sân

thượng. Cái nhà thấp nằm thườn thượt sau lưng họ.

Họ nhìn cái vòng cung to của bờ biển dưới chân bờ

đá vôi kì vĩ, châu đầu trao đổi các câu chuyện bí

57

mật. Đứng từ dưới nhìn lên, đầu đỏ rực của hai điếu

xì-gà giống như đôi mắt của quỷ dữ đang rình rập

lúc đêm về.

Một con người siêu việt, tay Von Bork đó! Có thể

nói đó là tay cao thủ trong đám điệp viên của Hoàng

đế Đức quốc. Hắn được giao phó một số sứ mạng quan

trọng ở Anh. Tài ba của hắn nổi bật trong tâm trí

đám người quyền thế, nhất là người bạn đồng hành

của hắn lúc đó, Hầu tước Von Herling, chánh thư kí

sứ quán. Chiếc xe Benz một trăm mã lực của Hầu tước

đang chễm chệ đậu trên đường chờ chở hắn về

London. Người thư kí nói:

- Theo dự đoán của tôi, trong tình hình này, có lẽ

ông nên quay về Berlin trong tuần này. Khi về tới

đó, ông sẽ ngạc nhiên trước các cuộc đón tiếp, bởi

58

vì tôi biết rõ cấp cao nhất đánh giá thế nào về

công việc mà ông đã thực hiện được tại nước Anh.

Hầu tước là một người cao to, nói năng chậm rãi,

đầy tự tin, nên đã thành công lớn trong sự nghiệp

chính trị.

Von Bork cười vang.

- Họ rất dễ gạt. Không thể kiếm đâu ra một dân tộc

ngây ngô hơn dân tộc này.

- Tôi không biết - Gã kia đáp với vẻ vô tư - Họ có

những giới hạn kì quặc mà ta không nên vượt qua.

Vẻ ngây ngô bên ngoài của họ là một cái bẫy đối với

người lạ đó. Cảm giác ban đầu là người Anh mềm như

bún. Nhưng khi vấp phải một cái gì chắc như đá, ta

mới biết ta đã chạm mức rồi. Thí dụ, các quy ước

về đảo quốc của họ, chúng ta không thể coi thường

59

được.

- Ông muốn nói đến cái “nghi thức” và những cái

tạp nham cùng loại? - Von Bork hỏi rồi thở dài.

- Tôi muốn nói đến cái định kiến của người Anh

trong tất cả những biểu hiện kì quặc của nó. Đây,

tôi xin kể cho ông nghe một ngộ nhận tai hại nhất

của tôi. Ông đã thấy tôi thành công tới mức nào

rồi. Tôi vừa nhậm chức thì liền được dự tiệc tại

biệt thự đồng quê của một ông bộ trưởng. Mọi người

không ai giữ mồm giữ miệng cả.

Von Bork gật đầu:

- Tôi có dự.

- Đúng thế. Và đương nhiên tôi có gửi về Berlin

một bản tóm lược tin tức đã thu nhặt được trong

buổi tiệc đó. Khốn nạn cho tôi, ông Thủ tướng của

60

chúng ta lại chuyển qua một nhận xét cho biết rằng

ông đã biết những gì đã được nói tại buổi chiêu

đãi. Ai có thể mường tượng đầy đủ cái nỗi khổ mà

tôi phải chịu do vụ này. Do đó, tôi có thể cam đoan

với ông rằng, người Anh không mềm đâu. Phải hai

năm sau tôi mới quên được cái xì-căng-đan này. Còn

ông... nhà đóng kịch...

- Không, đừng gọi tôi là người đóng kịch. Đóng

kịch dính liền với giả tạo. Ngược lại, tôi hoàn

toàn tự nhiên. Tôi bẩm sinh là một vận động viên

mà. Tôi thích thể thao.

- Là một nhà thể thao, hiệu năng của ông tăng rõ

ràng. Ông chơi du thuyền với họ. Ông đi săn với họ.

Ông ngang tài với họ trong bất cứ môn nào, Ráp vào

bộ bốn, ông đoạt giải nhất. Tôi còn nghe ông chấp

61

nhận đánh quyền Anh với các sĩ quan trẻ của họ. Kết

quả là gì? Người ta phần nào coi nhẹ ông. Ông trở

thành ông già ghiền thể thao: Một người Đức uống

rượu mạnh nguyên chất, đêm nào cũng đi nhảy, trác

táng, truỵ lạc. Cái biệt thự ở đồng quê của ông là

một trung tâm phát sinh phân nửa tệ đoan cho nước

Anh. Còn nhà thể thao là một tay điệp viên tài ba

nhất...

- Ông Hầu tước ơi! Tôi tin chắc chắn rằng bốn năm

làm việc tại Anh không thể là bốn năm vô ích. Tôi

chưa cho ông xem cái kho của tôi. Vui lòng vào đây!

Cửa lớn của phòng làm việc mở ngay ra sân chơi.

Von Bork đẩy cửa bước vào trước, vặn đèn. Sau khi

cái dáng vóc đồ sộ đi sau đã vào thì cửa đóng chặt,

62

tấm màn dày trên cửa sổ có lưới được kéo kĩ. Sau

khi các biện pháp an toàn đã được thực hiện và kiểm

tra lại, hắn quay về phía khách:

- Một số giấy tờ không còn tại đây. Hôm qua, vợ

tôi và lũ gia nhân đã mang đi một số không quan

trọng. Phần còn lại, tôi yêu cầu tòa đại sứ bảo vệ

chúng.

- Tên của ông đã nằm trong danh sách đoàn tùy tùng

riêng của ông đại sứ thì có khó khăn gì đối với

ông và hành lí còn lại. Nhưng, có thể chúng ta khỏi

phải đi. Anh quốc có thể bỏ mặc Pháp. Chúng ta

chắc chắn giữa hai nước không có một hiệp ước ràng

buộc nào?

- Còn với Bỉ thì sao?

- Đúng, còn có nước Bỉ nữa! - Von Bork lắc đầu.

63

- Tôi tiên đoán Anh quốc không thể ngồi yên. Họ

liên minh với Bỉ bằng một hiệp ước đàng hoàng. Cái

nhục đó, họ không quên được đâu!

- Ít ra họ có hòa bình một thời gian.

- Còn vấn đề danh dự?

- Hừ, ông bạn thân mến, chúng ta hiện sống trong

thời đại thực dụng. Danh dự là một quan niệm thời

Trung cổ. Mặt khác, Anh quốc chưa sẵn sàng. Cái dự

chi đến năm mươi triệu đủ để làm họ sáng mắt. Thỉnh

thoảng có người tuyên bố sẽ lưu tâm giải quyết mối

hiểm họa. Rải rác có những sự bực dọc và tuyên bố

sẽ tìm cách xoa dịu nước Đức hiếu chiến. Nhưng ông

có thể tin lời tôi rằng các điểm chính như tích trữ

quân nhu, chuẩn bị đối phó với chiến tranh tàu

ngầm, tổ chức làm chất nổ mạnh thì chưa rục rịch gì

64

cả. Làm sao Anh quốc có thể can thiệp được khi

chúng ta làm họ mất thì giờ vào vụ Ireland, vụ phụ

nữ đòi quyền bầu cử và... một ngàn lẻ một chuyện

khác?

- Họ càng phải nghĩ tới tương lai nữa chứ?

- À, đó là vấn đề khác rồi. Tôi đoán rằng ta đã có

kế hoạch cụ thể về Anh quốc nên tin tức mà ông nắm

được có tầm quan trọng sinh tử. Đối với nước Anh

thì hoặc là hôm nay, hoặc là ngày mai. Nếu họ thích

hôm nay, chúng ta đã sẵn sàng. Nếu là ngày mai,

chúng ta lại càng sẵn sàng hơn. Theo ý tôi thì đánh

giặc mà có đồng minh thì hay hơn là đơn thương độc

mã. Thôi, đó là chuyện của họ. Tuần lễ này là tuần

lễ quyết định. Anh có nói về mớ tài liệu...

Trong góc phòng đầy kệ sách, một bức màn phủ kín.

65

Von Bork vén màn lên, một tủ sắt có đóng đai đồng

lộ ra. Người Đức lấy một chìa khóa nhỏ khỏi dây

chuyền đồng hồ, rọ rạy ổ khóa hồi lâu và cánh cửa

nặng nề mở ra.

- Hãy nhìn đây! - Hắn nói và lui lại một bước. Ánh

đèn chiếu sáng bên trong và ông thư kí sứ quán

nhìn đăm đăm các ngăn đầy ắp tài liệu. Mỗi ngăn đều

có mang nhãn. Mắt ông chạy từ ngăn này qua ngăn

khác. “Chỗ cạn lội qua được”, “Phòng vệ duyên hải”,

“Portsmouth”, “Biển Manche”, “Rosythe”. Mỗi ngăn

đầy ắp bản đồ và tài liệu.

- Vĩ đại! - Viên thư kí sứ quán thì thầm, ông để

xì-gà xuống, vỗ tay nhè nhẹ.

- Chỉ trong bốn năm thôi, thưa Hầu tước, không tệ

đối với một kẻ nhậu nhẹt, chơi bời, thể thao, phải

66

không? Tuy nhiên cái quý nhất là bộ tài liệu sẽ

đến, và chúng ta đã sẵn sàng để đón tiếp nó.

Y chỉ tay vào một ngăn có ghi năm chữ: “Truyền tin

trong hải quân”.

- Hình như ông đã có một hồ sơ về vấn đề này?

- Đã lỗi thời rồi! Bộ tư lệnh hải quân đã được báo

động, không biết do đâu mà họ đã đổi tất cả các

mật mã. Cú nặng quá, thưa Hầu tước. Đó là thất bại

tệ hại nhất của tôi từ trước tới nay. Tuy nhiên,

nhờ xấp chi phiếu và nhờ chàng Altamont gan dạ, mọi

việc sẽ biến đổi ngay đêm nay.

Vị Hầu tước nhìn đồng hồ đeo tay rồi thở ra thất

vọng.- Nói thật là tôi không thể chờ lâu hơn được

nữa. Tôi hi vọng đem cái tin vui ấy về. Altamont

không hẹn giờ sao?

67

Von Bork đưa cho ông xem một điện tín.

“Sẽ đến đúng hẹn tối nay và sẽ mang các bu-gi lửa

mới, Altamont”.

- Bu-gi lửa?

- Y đóng kịch làm chuyên viên về xe hơi, còn tôi

là chủ ga-ra. Theo mật mã của chúng tôi thì mỗi tin

tức hắn mang lại đều được đặt tên theo các phụ

tùng của xe hơi. Nếu hắn nói ra-đi-a-tơ thì hiểu là

thiết giáp hạm; bơm dầu thì hiểu là tuần dương

hạm; và bu-gi lửa thì hiểu là các tín hiệu của hải

quân.

Điện tín đánh đi từ Portsmouth lúc 12 giờ. Viên

chánh thư kí xem xét điện tín rồi nói

- Nhân tiện xin hỏi: Anh cho hắn bao nhiêu?

- Năm trăm bảng cho cái công tác đặc biệt này.

68

Đương nhiên hắn còn có lương nữa.

- Thằng đó là con hạm. Bọn phản quốc rất hữu ích

nhưng tôi luôn chi trả cho chúng một cách miễn

cưỡng.

- Tôi thì luôn rất hào phóng với Altamont. Hắn làm

việc rất đạt. Nếu tôi hậu hĩ, hắn sẽ giao hàng

tốt. Mặt khác, hắn đâu phải là kẻ phản quốc. Chúng

ta ghét Anh quốc không thấm vào đâu so với mối thù

của thằng Mỹ gốc Ireland này.

- Ủa, hắn gốc Ireland sao?

- Cứ nghe hắn nói chuyện thì biết được nguyên quán

của hắn. Đôi khi tôi cũng không hiểu hắn lắm. Hắn

ghét tiếng Anh lẫn vua Anh. Ông nhất định ra về

sao? Chờ thêm vài phút nữa thôi!

- Rất tiếc, tôi đã nán lại quá lâu rồi, hẹn anh

69

vào sáng sớm ngày mai. Lấy được bộ mật mã truyền

tin của hải quân Anh, anh có thể đề bốn chữ “kết

thúc quang vinh” cho nhiệm kì phục vụ của anh tại

đây. Sao? Đây là rượu Tokay à?

Ông ta chỉ một chai đóng nút kĩ và đầy bụi đặt

trên một cái mâm cùng với hai chiếc ly.

- Xin mời ông nhâm nhi trước khi lên đường.

- Không đâu, cám ơn nhiều! Liên hoan à?

- Altamont rất sành rượu chát và hắn rất thích

rượu Tokay. Thằng cha này khó tính, tôi phải điếu

đóm cho hắn kĩ lắm. Dày công lắm đó!

Hai người đã ra tới sân. Cuối sân, tài xế của Hầu

tước đã cho máy nổ rồi.

- Tôi đoán kia là đèn của Harwich - Viên chánh thư

kí vừa mặc áo mưa vừa nói - Thật là im vắng! Có

70

thể trước 8 giờ, tại đây sẽ có những đèn khác và bờ

biển Anh quốc là một nơi kém yên lành hơn. Bầu

trời cũng sẽ không hoàn toàn thanh bình nếu các

“Zeppelin” dũng cảm của ta không sai hẹn. Này, ai ở

đằng kia vậy?

Đằng sau họ, một cửa sổ duy nhất còn thắp đèn. Bên

cái đèn để trên bàn, một bà lão khuôn mặt hồng

hào, đội mũ trùm, đang cặm cụi đan len. Thỉnh

thoảng bà dừng tay để vuốt ve con mèo đen to ngồi

trên ghế đẩu gần kề.

- Đó là Martha, nữ gia bộc độc nhất mà tôi còn

giữ. Viên chánh thư kí cười nhẹ.

- Bà ta vô tư lự! Sung sướng thật! Thôi chào Von

Bork.

Vẫy tay từ giã, ông ta leo lên xe và sau đó hai

71

đèn trước của xe chiếu sáng trong đêm khuya. Ông ta

ngả lưng dựa vào cái gối ở băng sau của chiếc xe

hơi lộng lẫy và tâm trí mê mải tưởng tượng đến cái

thảm kịch gần kề tại châu Âu, không để ý chiếc Ford

con mà ông gặp trong làng.

Von Bork từ từ về văn phòng. Đi ngang qua sân, hắn

thấy bà lão bộc đã tắt đèn đi ngủ. Không khí lúc

này mới lạ đối với hắn. Ngôi nhà bao la này chưa

bao giờ im vắng và tối đen như thế này. Hắn luôn

sống cùng gia đình với một đoàn gia nô rình rang.

Nhưng hắn cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi nghĩ rằng họ

đều đang ở nơi an toàn, ngoại trừ người lão bộc.

Hắn bắt đầu đốt sạch một mớ tài liệu cho tới khi

gương mặt thanh tú ửng đỏ. Rồi hắn lấy một va-li

da, xếp vào đó mớ tài liệu quý giá trong tủ sắt.

72

Khi hắn vừa bắt đầu thì có tiếng xe dừng trước nhà.

Hắn không nén được một tiếng la vì khoái chí, gài

va-li lại, khóa tủ sắt rồi hối hả chạy ra sân. Hắn

tới nơi đúng vào lúc một chiếc xe con dừng lại

trước cổng sắt. Một người đàn ông bước xuống, nhanh

chân tiến về phía hắn. Trong xe chỉ còn người tài

xế to con, râu kẽm, đang chờ.

- Sao? - Von Bork nóng lòng hỏi.

Thay vì trả lời, người khách chỉ hãnh diện huơ huơ

một gói nhỏ bọc giấy nâu.

- Tối nay ông có thể hồ hởi bắt tay tôi. Này, tôi

mang cái bánh cho ông.

- Các tín hiệu?

- Như đã nói trong bức điện, tất cả các cách

truyền tin quang báo, mật mã bằng đèn Marconi...

73

Bản sao, không phải bản chính! Nguy hiểm lắm! Nhưng

hàng tốt, hàng đúng quy cách, ông cứ tin vào tôi!

Người mới tới vỗ thật mạnh vào vai người Đức với

một sự thân thiện thô lỗ khiến người này nhăn nhó.

- Mời vào. Tôi ở nhà có một mình, chỉ còn chờ anh.

Đương nhiên chỉ nên lấy bản sao! Nếu một bản chính

mà thiếu thì toàn bộ sẽ như không. Nhưng ông có

chắc đúng là chính hiệu hay không?

Người Mỹ gốc Ireland đã bước vào văn phòng và thả

mình, sải tay, sải chân trên ghế bành: Con người

gầy, khoảng sáu mươi tuổi, mặt xương và râu dê

ngắn. Có thể làm là bức kí họa chú Sam. Ở một bên

mép ngậm một điếu xì-gà tắt nửa chừng. Sau khi ngồi

xuống, tay này quẹt một que diêm để mồi lại.

- Một sự di chuyển nhỏ đang được chuẩn bị chăng? -

74

Người Mỹ nhìn quanh, vừa suy nghĩ vừa nói - Này,

ông...Mắt ông ta rơi vào cái tủ sắt mà bức màn

đang không che kín.

- Tất cả tài liệu đều cất vào đây à?

- Đương nhiên.

- Kềnh càng kệch cỡm vậy à? Ông sẽ được liệt vào

hạng gián điệp tầm cỡ sao? Ồ! Bất cứ một tên trộm

tầm thường nào của Hoa Kì cũng mở được với đồ khui

hộp! Nếu tôi biết trước rằng thư từ tôi viết đều bị

tống vào chỗ quái quỷ này, tôi đã không dại mà

viết một dòng.

- Dù có tài ba đến mấy, không một thằng ăn trộm

nào mở được tủ sắt này - Von Bork đáp.

- Không một dụng cụ nào làm suy suyển loại kim khí

này ư? Có ổ khóa không?

75

- Khóa đôi! Ông có hiểu tôi muốn nói gì không?

- Cho tôi biết một chút - Người Hoa Kì mỉm cười,

nói.

- Muốn mở tủ, phải biết một chữ và một con số...

- À, à! Tuyệt vời!

- Đâu có đơn giản như ông. Tôi đặt thợ cách đây

bốn năm. Ông có biết lúc đó tôi chọn chữ gì và số

gì không?

- Chịu thua!

- Tôi đã chọn “Tháng 8” và “1914”. Đúng y chang

với thực tế bây giờ!

Khuôn mặt của người Mỹ gốc Ireland biểu lộ một sự

ngạc nhiên, thán phục.

- Tuyệt diệu, ông là một nhà tiên tri kì tài.

- Tại nước tôi, ít người có khả năng tiên đoán cái

76

ngày này! Tuy nhiên, nó chình ình đây này, ngày

mai tôi đóng lại và chuồn êm.

- Này, ông còn phải lo cho tôi nữa chứ. Tôi sẽ

không lưu lại cái xứ sở chết toi này đâu. Theo tôi

dự kiến, nước Anh sẽ nhảy dựng lên và phát điên

trong vòng tám ngày. Tôi thích đi qua bên kia biển

Manche ngay từ bây giờ.

- Nhưng mà ông là công dân Hoa Kì?

- Đúng vậy, James cũng là công dân Hoa Kì nhưng

vẫn bị bỏ tù. Không thể kêu gọi tình cảm của cảnh

sát Anh với cái lí rằng mình là công dân Hoa Kì. “Ở

đây, luật Anh chi phối”- Tôi sẽ được trả lời như

vậy. Nhân tiện nói luôn, hình như quý ông không làm

gì để che chở cho các điệp viên của mấy ông?

- Ông muốn nói sao? - Von Bork hỏi lại một cách

77

cáu kỉnh.

- Quý ông là chủ nhân phải không nào? Quý ông phải

thu xếp sao cho họ khỏi bị kẹt. Họ bị sụp và quý

ông làm gì để kéo họ ra, như trường hợp của James?

- Hoàn toàn do lỗi của hắn. Ông không hiểu rõ hắn

bằng tôi đâu.

- James có cái đầu lợn, tôi đồng ý với ông! Còn

trường hợp

Hollis?

- Hắn là một thằng điên.

- Tội nghiệp! Những ngày chót, hắn có hơi điên.

Làm sao không loạn trí khi phải đóng kịch từ sáng

tới chiều với cả một trăm người sẵn sàng tố cáo hắn

với cảnh sát. Giờ đây còn có Steiner.

Von Bork rùng mình tái mét:

78

- Chuyện gì xảy ra với Steiner?

- Bị tóm rồi! Cảnh sát lục soát kho của y đêm qua.

Nếu may mắn thì thoát được án tử hình. Đó là lí do

tại sao tôi muốn đào thoát qua lục địa cùng với

ông.

Von Bork là một người sắt đá, luôn tự chủ, nhưng

cái tin này tác động mạnh đến hắn:

- Làm sao chúng ta biết sự thật về Steiner được?

Quả là một vố nặng.

- Rồi đây ông còn gặp một vố nặng hơn bội phần vì

tôi linh cảm rằng chúng đang bám sát tôi.

- Không thể nào!

- Tôi tin chắc như thế! Bà chủ trọ của tôi đã được

cảnh sát viếng thăm. Họ hỏi thăm bà ấy về tôi. Tôi

không còn đường nào khác hơn là chuồn càng sớm

79

càng tốt. Nhưng tôi muốn biết tại sao cảnh sát hay

biết Steiner là điệp viên thứ năm bị tóm kể từ khi

tôi cộng tác với ông. Tôi biết ai sẽ là người thứ

sáu, ông giải thích sự việc đó ra sao? Ông không hổ

thẹn khi người của ông bị tóm cổ liên tiếp như vậy

sao?

Von Bork đỏ sẫm mặt.

- Ông dám nói chuyện với tôi bằng cái giọng như

vậy à?

- Nếu tôi không dám nói thẳng, thưa ông, tôi sẽ

không cộng tác với ông đâu. Tôi sẽ nói thẳng với

ông những gì tôi nghĩ. Đối với các ông, những chính

trị gia người Đức, thì khi điệp viên đã hoàn tất

công tác, họ có vào nhà đá thì quý ông cũng không

chút áy náy nào cả!

80

Von Bork nhảy xổm lên.

- Ông dám ngầm nói rằng tôi giao nộp điệp viên của

tôi?

- Tôi chưa nói tới đó, thưa ông! Nhưng có một

thằng mách lẻo đâu đây, ông có trách nhiệm nhận

dạng hắn. Tôi chuẩn bị đi về nước Hà Lan bé nhỏ của

tôi càng sớm càng tốt.

Von Bork đã đè nén cơn giận, nói:

- Chúng ta liên minh với nhau quá lâu. Giờ đây,

lúc sắp chiến thắng thì sao lại cãi lộn? Ông đã

hoàn thành một công tác tuyệt vời. Ông đã chịu

nhiều rủi ro mà tôi không thể quên. Bằng mọi cách,

hãy qua Hà Lan. Tại đó ông có thể đáp tàu thủy để

đi New York. Trong vòng một tuần nữa thì không còn

tuyến đường nào an toàn cả. Giờ đây, tôi xin tiếp

81

nhận cuốn sách và xếp vào hành lí.

- Còn tiền?

- Sao?

- Phần thưởng năm trăm bảng Anh! Chàng pháo thủ

này vô cùng ham ăn. Tôi phải cho y thêm một trăm

đô-la phụ trội. Do đó tôi chỉ trao cái gói khi có

thêm tiền.

Von Bork cười một cách cay độc:

- Hình như ông cho rằng tôi là người không có danh

dự! Ông muốn lấy tiền trước khi trao sách?

- Ông muốn sao bây giờ? Chúng ta ăn cho buôn so

mà!

- Được thôi, tùy ý ông!

Hắn ngồi vào bàn, viết một chi phiếu, xé nó khỏi

tập, nhưng vẫn cầm trên tay:

82

- Suy cho cùng, bởi vì chúng ta đã đi tới cái mức

cạn tàu ráo máng nên tôi không thể tin ông, cũng

như ông không tin tôi.

Hắn quay lại phía người Mỹ:

- Chi phiếu ở trên bàn, tôi xin xem nội dung trong

cái gói, trước khi ông cầm chi phiếu.

Người Mỹ làm thinh, trao cái gói cho y. Von Bork

tháo dây, gỡ hai lớp giấy gói rồi trố mắt trước

cuốn sách nhỏ màu xanh bìa mang mấy chữ mạ vàng:

Sách dạy nuôi ong.

Tên trùm gián điệp không có thời gian để ngắm

nghía lâu: Một bàn tay sắt bóp cổ y và một miếng

bọt biển thấm thuốc mê đập vào khuôn mặt đang nhăn

nhó của y.

- Thêm một cốc nữa, Watson? - Sherlock Holmes đưa

83

chai Tokay lên mời.

- Rượu ngon, Holmes à!

- Ngon tuyệt! Ông bạn trên ghế dài kia cho biết nó

được lấy ra từ hầm rượu riêng của hoàng đế Franz

Josef. Vui lòng mở cửa sổ vì mùi thuốc mê làm mất

ngon.

Cửa tủ sắt hé mở. Holmes rút ra tất cả các bộ hồ

sơ, xem xét kĩ lưỡng, rồi xếp chúng vào va-li của

Von Bork. Người Đức nọ vẫn nằm dài trên trường kỉ,

ngáy khò khò, tay chân đều bị trói.

- Chúng ta không cần gấp gáp. Watson! Không có ai

quấy rầy ta cả. Anh muốn nhấn chuông? Đâu có ai

khác trong nhà, ngoài trừ bà lão Martha, người đã

đóng trọn vai trò của mình. Chính bà ta làm mật báo

viên cho tôi. À, bà Martha, bà sẽ sung sướng khi

84

hay tin mọi chuyện đã kết thúc tốt đẹp!

Bà lão xuất hiện tại ngưỡng cửa. Bà cúi mình và

nhoẻn miệng cười, rồi quay về phía người đang nằm

sõng soài trên trường kỉ.

- Ông ta ổn mà, không đau ốm gì đâu!

- Tôi cũng mừng cho ông ấy. Ông Holmes à! Ông ấy

là một ông chủ tốt bụng. Ông ấy muốn tôi đi theo vợ

ông ấy qua Đức hôm qua. Nhưng điều đó sai với kế

hoạch của ông.

- Nếu bà đi, tôi sẽ không hài lòng tí nào! Bà lưu

lại tôi mới an tâm, nhờ bà thông tin đó!

- Viên chánh thư kí sứ quán hôm nay có đến đây ông

ạ!

- Đúng, chúng tôi có gặp xe của y.

- Tôi những tưởng hắn sẽ ngồi mãi và ông sẽ vướng

85

khi gặp y.

- Không hề gì! Hai chúng tôi đã chờ suốt nửa giờ

mới thấy đèn bà tắt và biết rằng đường sá đã thông

thương. Bà có thể lên London thăm tôi tại khách sạn

Claridge.

- Tốt lắm, thưa ông.

- Bà đã chuẩn bị đầy đủ?

- Vâng, thưa ông, Von Bork đã bỏ bưu điện bảy lá

thư. Như thường lệ, tôi có ghi các địa chỉ.

- Tốt lắm! Mai tôi sẽ xem xét vấn đề đó. Chúc bà

ngủ ngon! Sau khi bà lão đã đi khuất, Holmes nói

tiếp:

- Mớ tài liệu này không quan trọng lắm đâu.

- Như vậy chúng vô dụng?

- Tôi không nói thế! Tài liệu này sẽ cho phe ta

86

biết người Đức biết được cái gì. Một số lớn tài

liệu này có được là do bàn tay của tôi, toàn là tài

liệu giả mạo. Tuổi già của tôi sẽ có niềm vui nho

nhỏ nếu tôi thấy được một tuần dương hạm của Đức

ngược dòng Solent dựa theo bản đồ mìn mà tôi cung

cấp. Còn anh, Watson!...

Holmes ngừng lại, nắm vai người bạn cố tri, nói:

- Hồi nãy tôi làm lơ, để anh ở lại xe. Nhìn anh

kĩ, tôi thấy qua năm tháng, anh vẫn khỏe. Anh vẫn

là cậu thanh niên luôn luôn vui tính mà tôi đã

quen.

- Tôi cảm thấy trẻ hơn hai mươi năm, Holmes à. Ít

ra tôi cảm thấy sung sướng lúc nhận được điện tín

của anh bảo đem xe hơi đợi anh tại Harwick. Về phần

anh, anh cũng đâu có thay đổi gì nhiều, trừ cái

87

râu dê gớm ghiếc.

- Đó là sự hi sinh cho đất nước, bạn ơi! - Holmes

vừa đáp vừa vuốt chòm râu dê dưới cằm - Ngày mai

thì con dê này chỉ còn là một kỉ niệm, cắt tóc đàng

hoàng, chăm sóc thẩm mĩ cái mặt và xuất hiện lại ở

khách sạn Claridge.

- Nhưng anh đã tự ý hưu trí rồi mà. Chúng tôi được

tin anh đã sống đời ẩn dật bên bầy ong mật và sách

vở tại một nông trại nhỏ thuộc South Downs mà!

- Quả vậy. Đó là thành quả của cuộc đời bình lặng

của tuổi vãn niên... - Holmes lấy cuốn sách trên

bàn và đọc nguyên cái tựa: Sách dạy nuôi ong với

một vài quan sát về sự sẻ đàn của ong chúa.

- Đó là kết quả của nhiều đêm suy tư và nhiều ngày

làm việc. Tôi đã theo dõi thế giới nhỏ của ong mật

88

cũng như đã theo dõi thế giới lưu manh tại London.

- Nhưng do đâu mà anh phải tái xuất giang hồ?

- À, tôi vẫn còn chưa hết ngạc nhiên! Tôi đã dễ

dàng cưỡng lại các sự vận động của ông bộ trưởng

ngoại vụ. Nhưng khi Thủ tướng đích thân xuống ngôi

nhà hèn mọn của tôi!... Watson à! Anh chàng nằm

trên trường kỉ có phần cao tay hơn người của ta. Y

thuộc loại thượng thặng. Tình hình rối beng và

không ai biết tại sao. Ở phía ta, có điệp viên bị

nghi ngờ, có điệp viên bị bắt, nhưng bí ẩn vẫn còn

đó. Cần phải khẩn cấp phanh phui. Vì đất nước, tôi

ra nhận công tác. Tôi tốn hai năm cố gắng nhưng đó

là hai năm đầy thích thú.

Tôi khởi sự bằng việc đi hành hương qua Chicago,

89

gia nhập hội kín Skibbareen. Nhờ đó tay chân của

Von Bork để ý và đề bạt tôi lên. Từ đó tôi được y

tin cậy. Và nhờ đó, phần lớn các kế hoạch của y bị

phá vỡ và các điệp viên kì tài của y lần lượt sa

lưới. Tôi canh chừng, Watson à, tôi chờ lúc trái

chín... Này ông ơi, tôi hi vọng rằng ông không thấy

mệt lắm.

Von Bork, sau cái ngáp, chớp mắt, có nghe câu chót

của Holmes. Y tuôn một dây chửi thề bằng tiếng

Đức. Trong lúc người tù chửi thề, Holmes tiếp tục

khui các tài liệu.

- Tuy không có nhiều nhạc tính, nhưng tiếng Đức là

ngôn ngữ có khả năng thể hiện cao độ nhất. À, à! -

Holmes tiếp tục nói trong lúc nhìn một bức vẽ -

Đây là đầu mối để bắt thêm một con mồi khác! Tôi

90

không ngờ rằng uỷ viên hải quân là thằng chó chết

đó. Tuy nhiên, y cũng có bị tôi rình rập từ lâu.

Người tù ngồi dậy một cách khó khăn, rồi nhìn kẻ

chiến thắng với một thái độ thù hận và kinh ngạc.

- Ông sẽ biết tay tôi, Altamont. Sự nghiệp cả đời

tôi! Ông sẽ biết tay tôi.

- Cũng cái bài hát cũ rích, biết bao lần tôi đã

nghe nó. Thế mà tôi vẫn sống nhăn, vẫn lo cho con

ong mật.

Người tù vùng vẫy mưu thoát khỏi dây trói, nhìn

Holmes với cặp mắt sát nhân và la lớn:

- Đồ trời tru đất diệt, đồ phản bội!

- Không đúng đâu, tôi không tệ đến thế đâu! -

Holmes cười và nói - Nếu ông có thể đã đoán ra tôi!

Altamont nguyên quán Chicago không bao giờ có mặt

91

trên đời này. Đó là tên giả của tôi.

- Vậy ông là ai?

- Tôi là ai? Điều này đâu có gì là quan trọng. Tuy

nhiên vì ông muốn biết thì tôi phải cho ông biết.

Đây không phải là lần đầu tôi gặp các thành viên

của gia đình ông. Trước đây, tôi có một số giao

dịch làm ăn tại Đức và tên tôi có lẽ khá quen thuộc

với ông.

- Tôi rất muốn biết cái tên đó!

- Chính tôi đã tiếp tay hoàn thành sự li thân giữa

Irene Adler và Quốc vương Bohemia quá cố, khi

Hoàng đế (Đức) gửi người anh họ Heinrich của ông

đến gặp tôi. Cũng chính tôi tránh cho anh cả của mẹ

ông khỏi bị giết chết. Chính tôi là...

Von Bork ngồi ngay dậy.

92

- Người đó quả là độc nhất vô nhị trên đời này!...

- Xin cám ơn! - Holmes nghiêng người nói.

Von Bork than thở, rồi nằm xuống ghế dài, nói

tiếp.- Vậy mà phần lớn tin tức lại đến với tôi qua

ông! Chúng có giá trị gì đâu? Tôi đã đóng góp được

gì? Cuộc đời tôi bị tiêu tan một cách vĩnh viễn.

Vì tuyệt vọng, Von Bork tự bóp cuống họng mình.

- Ông Von Bork, suy cho cùng, ông đã làm hết mình

cho đất nước ông, tôi đã hết mình cho đất nước tôi!

Còn gì hợp lí tự nhiên hơn? Ngoài ra...

Holmes đặt nhẹ tay mình lên vai con người ngã quỵ.

- Ngoài ra, dù sao cũng đỡ hơn việc bị quật ngã

bởi một đối thủ không tương xứng. Tài liệu hiện ở

trong va-li, Watson à! Nếu có thể, anh giúp đưa

93

người tù đi. Chúng ta về London ngay bây giờ.

Mỗi người nắm một cánh tay, chúng tôi đưa Von Bork

xuôi con đường trong vườn, con đường mà cách đó

vài giờ hắn đã đi một cách rất tự hào.

- Tôi hi vọng rằng ông đã được an vị đúng mức tiện

nghi mà hoàn cảnh cho phép - Holmes nói, khi tất

cả đã sẵn sàng chờ khởi hành - Tôi xin phép mồi một

điếu xì-gà đặt vào miệng ông.

Tất cả những cái xoa dịu đều đụng phải cơn thịnh

nộ của người Đức.

- Ông Sherlock Holmes, nếu chính phủ ông bao che

các hành vi của ông thì đó là một hành động chiến

tranh!

- Ông muốn nói sao về hành vi của tôi và chính phủ

Anh?

94

- Ông là một thám tử tư. Ông không có giấy phép

bắt tôi. Cách làm việc của ông đều hoàn toàn bất

hợp pháp và có tính lăng nhục.

- Hoàn toàn bất hợp pháp ư? Bắt cóc một công dân

Đức? Và tước đoạt giấy tờ cá nhân của ông ta?

- Đúng thế, tôi thấy rằng hai ông đã nhận ra sự

việc. Đi ngang qua làng tôi sẽ kêu...

- Ông bạn thân mến! Nếu ông làm một điều ngu xuẩn

như thế, có thể ông sẽ tăng số lượng bảng hiệu quán

ăn trong làng: “Quán của thằng Phổ bị treo cổ”.

Người Anh chúng tôi thì kiên nhẫn lắm. Nhưng hiện

nay có hơi nổi nóng đó, tốt hơn là đừng trêu chọc

nó! Ông Von Bork, ông sẽ đi theo chúng tôi một cách

êm thấm và nhẹ nhàng cho tới Scotland Yard. Tại

đó, ông có thể ở cùng với bạn Hầu tước Von Herling,

95

rồi hai ngài xem xét lại coi hai ngài có tên trong

đoàn tùy tùng riêng của đại sứ Đức không? Về phần

anh, Watson! London không quá xa đối với cái xe già

cỗi của anh. Tôi có một chi phiếu năm trăm bảng

Anh trong túi, tôi muốn lãnh càng sớm càng tốt, vì

người viết phiếu hoàn toàn có quyền chống đối, nếu

y được tự do đến ngân hàng!

NGƯỜI KHÁCH HÀNG NỔI TIẾNG

Holmes và tôi đều thích tắm hơi. Trên lầu của cao

ốc tại đại lộ Northumberland có một cái góc tách

biệt chứa hai trường kỉ sóng đôi. Chúng tôi choán

hai ghế này vào ngày 3 tháng 9 năm 1902.

Tôi hỏi Holmes ở đây có gì vui không? Để trả lời,

anh thò cánh tay dài ra khỏi các tấm ga để lấy một

cái bì thư trong áo choàng treo gần đó.

96

- Cái này là của một người gây rối. Tuy nhiên,

cũng có thể đây là một vấn đề sống chết. Tôi không

biết gì, ngoài nội dung của nó. Nội dung bức thư

như sau:

“Ngài Damery ngợi khen và sẽ tới nhà ông Sherlock

Holmes vào lúc 4 giờ 30 chiều mai. Ngài muốn tham

khảo ý kiến ông Holmes về một vấn đề rất tế nhị và

quan trọng. Do đó, ngài hi vọng ông Holmes cố gắng

thu xếp để được rảnh rỗi và xác nhận sự đồng ý qua

điện thoại tại câu lạc bộ Carlton”.

- Đương nhiên là tôi đã đồng ý tiếp đón ông ta.

Anh có biết gì về cái ông Damery này không?

- Tên ông ta là chìa khóa vạn năng để bước vào xã

hội thượng lưu.

- Tôi thì biết nhiều hơn một chút. Ông ta nổi

97

tiếng về cái tài thu xếp những việc tế nhị mà báo

chí không đề cập. Là một người hào hoa phong nhã và

có thiên khiếu về ngoại giao, và ông ta cũng thực

sự cần chúng ta.

- Chúng ta?

- Đúng thế, nếu anh đồng ý.

- Tôi rất hân hạnh!

- Vậy đúng 4 giờ 30 nhé.

Lúc đó tôi ngụ tại một căn hộ ở đường Hoàng hậu

Anne, nhưng tôi tới đường Baker sớm hơn giờ hẹn.

Ngài Damery tỏ ra rất đúng giờ. Đó là một người to

béo, lương thiện, hơi đua đòi một chút, khuôn mặt

cạo nhẵn, có giọng nói dễ nghe. Đôi mắt sáng tỏa ra

sự trung thực, đức tính hòa nhã lộ rõ trên đôi môi

tươi cười. Cái mũ màu lợt, áo vét đen ngòm. Tất cả

98

các chi tiết của y phục, từ hột trân châu trên

cà-vạt cho đến đôi ghệt màu xanh tím bên trên đôi

giày bóng loáng đã minh họa tính tỉ mỉ trong cách

ăn mặc. Căn phòng nhỏ hẹp có vẻ bị đè bẹp khi nhà

đại quý tộc bước vào.

- Đương nhiên tôi cũng muốn gặp cả bác sĩ Watson!

- Ông vừa nói vừa cúi đầu lễ độ - Sự hợp tác của

ông ấy sẽ cực kì hữu ích, bởi vì lần này, thưa ông

Holmes, chúng ta phải đương đầu với một kẻ nguy

hiểm nhất châu Âu.

- Tôi đã gặp nhiều đối thủ từng được gán cái danh

hiệu “cao thủ” - Holmes trả lời và cười - Mời ngài

dùng thuốc! Vậy ngài cho phép tôi nhé. Đối thủ của

ngài có nguy hiểm hơn cả cố giáo sư Moriarty hoặc

hơn cả đại tá Moran không?

99

- Ông đã nghe nói đến Hầu tước Gruner?

- Tên sát nhân người Áo?

Ngài Damery tháo bao tay và cười to:

- Ông là bậc kì tài. Như vậy là ông đã biết thành

tích của y?

- Nghề nghiệp bắt tôi phải theo dõi kĩ các vụ án

tại lục địa. Tôi tin chắc rằng hắn đã giết vợ trong

cái gọi là “Tai nạn tại đèo Splugen”. Tôi cũng

biết hắn hiện ở Anh và chẳng chóng thì chầy hắn

cũng tạo ra việc làm cho tôi. Nhưng Hầu tước Gruner

đã giở trò gì mới? Tôi đoán là không phải cái thảm

kịch xưa diễn lại.

- Không đâu, chuyện khác nghiêm trọng hơn. Trừng

trị kẻ gây tội ác là quan trọng, nhưng ngăn ngừa

một tội ác lại càng quan trọng hơn. Thật là khủng

100

khiếp, thưa ông Holmes! Khi chứng kiến sự chuẩn bị

một biến cố ghê tởm, một tình huống bẩn thỉu, thấy

trước kết quả tai hại mà ta không làm gì được để

ngăn ngừa. Có ai lọt vào một cảnh ngộ đau đớn như

thế chưa?

- Chuyện hiếm có!

- Vậy là ông cảm thông với người khách hàng mà tôi

làm đại diện.

- Tôi không ngờ ông chỉ là người trung gian. Vậy

ai là đương sự chính?

- Tôi khẩn khoản xin ông đừng hỏi thêm. Tên ông ấy

cần được giữ bí mật. Tất nhiên ông sẽ được thù lao

trọng hậu.

- Tôi rất tiếc - Holmes nói - Thưa Ngài, tôi sợ

rằng tôi phải từ chối đề nghị của Ngài.

101

Người khách vô cùng bối rối. Gương mặt tối sầm vì

thất vọng.

- Ông Holmes! Ông đặt tôi vào một hoàn cảnh khó

xử. Nhưng tôi đoán chắc rằng ông sẽ hãnh diện mà

đảm nhiệm công việc, nếu tôi cung cấp đầy đủ chi

tiết của nội vụ. Nhưng vì tôi đã hứa là tôi sẽ

không để lộ tên nhân vật. Và vì vậy, tôi chỉ xin

trình bày tất cả những gì tôi được phép tiết lộ.

- Nếu ông muốn! Nhưng ông nên nhớ, tôi không hứa

hẹn gì cả.

- Đồng ý, chắc ông đã nghe nói về tướng Merville?

- Có.

- Ông ấy có một cô con gái tên là Violet, trẻ đẹp

vẹn toàn. Chính cô gái ngây thơ này cần được đưa ra

khỏi nanh vuốt của loài quỷ dữ.

102

- Vậy là Hầu tước Gruner hớp hồn con bé rồi?

- Hắn đẹp trai, có giọng nói đường mật, dáng vẻ

tiểu thuyết và kì dị của hắn làm mê hoặc con bé.

Người ta đồn hắn đã chinh phục không biết bao nhiêu

cô gái.

- Nhưng làm thế nào hắn lại quen được với cô gái

ấy?

- Họ gặp nhau trong một chuyến đi chơi bằng tàu

trên biển Địa Trung Hải. Gruner bám sát và cuối

cùng chinh phục được con chim non. Con bé mê mệt

hắn. Ngoài hắn ra, con bé không thiết đến cái gì

khác. Mọi phương cách đã được thử để chữa bệnh,

nhưng vô ích. Tóm lại, con bé dự trù lấy hắn vào

tháng tới. Con bé đã trưởng thành và có ý chí sắt

đá. Vậy ta làm sao ngăn cản chuyện này?

103

- Con bé có biết những chuyện hắn làm hồi còn ở

nước Áo không?

- Hắn có kể cho con bé nghe những điều tai tiếng

trong quá khứ của hắn, nhưng luôn luôn trong chiều

hướng của một vị thánh tử vì đạo. Con bé chỉ nghe

có một chiều.

- Tiếc thay, vì vô ý, ông đã tiết lộ danh tính của

vị khách hàng của ông. Đó là tướng Merville.

Người khách nhỏm mạnh trên ghế:

- Tôi không phủ nhận, nhưng chuyện buồn này đã làm

ông tướng mất hẳn tinh thần. Gân cốt cứng cáp tại

trận địa đã rệu rã, ông đã trở thành một người bất

lực trước thằng người Áo này. Tôi là bạn tri kỉ của

ông ấy. Tôi xem con bé đó như là con tôi ngay từ

hồi nó còn mặc váy ngắn. Tôi thấy không có lí do để

104

cho Scotland Yard can thiệp vào. Chính do ông

tướng gợi ý mà tôi tới tìm ông và điều kiện là ông

ta không xuất đầu lộ diện trong nội vụ.

Gương mặt Holmes sáng rực với một nụ cười tinh

nghịch:- Tôi cam kết với ông điều đó. Tôi sẵn sàng

ra tay. Nhưng làm sao tiếp xúc với ông, khi cần?

- Luôn luôn có thể tìm ra tôi qua trung gian của

câu lạc bộ Carlton. Trong trường hợp khẩn cấp, đây

là số điện thoại riêng của tôi: XX-31.

Holmes ghi chép, vẫn ngồi yên và cười ranh mãnh.

Cuốn sổ tay vẫn còn đang trên đầu gối.

- Địa chỉ hiện tại của Gruner, xin ông vui lòng?

- Biệt thự Vernon, gần Kingston. Nhà lớn lắm. Hắn

ta phất trong mấy cú đầu cơ tài chính gần đây. Do

đó bội phần nguy hiểm.

105

- Hiện hắn ở tại London?

- Vâng.

- Ngoài những điều vừa mới nói, ông có thể cho

thêm những thông tin dồi dào hơn về anh chàng này

không?

- Hắn mê ngựa, mê gái! Hắn sưu tập sách và tranh.

Hắn lại có ý thức thẩm mĩ cao nên hắn rất có uy

tín trong việc đánh giá các đồ sứ Trung Hoa và có

viết một cuốn sách về nghệ thuật này.

- Một bộ óc phức tạp! - Holmes nói - Tất cả các

tội phạm lừng lẫy đều có bộ óc phức tạp. Ngài có

thể thông báo với khách hàng của Ngài rằng tôi đích

thân chăm lo vụ này. Tôi tin rằng chúng ta sẽ tìm

ra cách giải quyết.

Sau khi vị khách ra về, Holmes chìm đắm trong suy

106

tư, làm như không biết có sự hiện diện của tôi.

Cuối cùng anh trở về với thực tại.

- Anh Watson, anh đoán được gì nào?

- Tôi đoán anh sẽ đi gặp con bé đó ngay.

- Ông tướng còn không làm cô bé động lòng thì tôi,

một người xa lạ, sẽ làm được gì? Tuy nhiên, nếu

mọi phương cách đều thất bại thì tôi sẽ tính sau.

Còn bây giờ, ta phải bắt đầu dưới một góc cạnh

khác. Có thể Shinwell sẽ giúp được tôi.

Cho tới nay, tôi chưa có dịp nêu tên Shinwell bởi

vì tôi chưa nói đến các vụ án bị phanh phui trong

giai đoạn cuối của cuộc đời Holmes. Vào các năm đầu

của thế kỉ này, Shinwell trở thành một phụ tá có

tài năng. Trước đó, Shinwell bị để ý dưới dạng một

thằng ác ôn nguy hiểm, bị nằm nhà đá hai năm tại

107

Parkhurst. Sau đó anh ta ăn năn hối cải và liên

minh với Holmes. Anh ta trở thành người được gài

trong bọn côn đồ khét tiếng của London, Shinwell

cung cấp cho Holmes những tin tức đôi khi có tính

quyết định. Nếu anh ta làm mật báo cho cảnh sát thì

sẽ bị lột mặt nạ ngay. Nhưng vì anh ta hợp tác

trong những vụ việc mà kết quả sau cùng không phải

là việc truy tố ra tòa nên các bạn cũ của anh ta

không hề hay biết. Nhờ “hào quang” hai năm khổ sai,

Shinwell lọt vào tất cả các hộp đêm, các sòng bài.

Với bộ óc phong phú cũng như năng khiếu quan sát,

Shinwell trở thành một mật báo viên lí tưởng.

Khó mà theo dõi tất cả các xoay xở của Holmes, bởi

vì về phần tôi, tôi cũng có những nhiệm vụ nghề

nghiệp phải chu toàn. Anh ấy hẹn sẽ gặp tôi tại

108

Simpson. Tại đây, ngồi trước một bàn nhỏ gần cửa

sổ, anh báo cho tôi vài tin tức đồng thời quan sát

làn sóng người đi đường trong khu náo nhiệt Strand.

- Shinwell đã đi săn mồi - Holmes nói với tôi - Có

thể y sẽ mang về vài thứ rác rưởi móc từ những xó

xỉnh tối tăm nhất của xã hội đen. Chính trong cái

mớ rác rưởi đó, chúng ta sẽ sục sạo và khám phá ra

các bí mật của đối tượng.

- Cô bé đã không nhìn nhận những sự việc đã có,

thì cái phát hiện mới mẻ của anh liệu có tác dụng

gì?

- Biết đâu, Watson? Tâm trí của người đàn bà là

những bài toán khó hiểu. Tội giết người có thể được

bỏ qua, nhưng một vi phạm vặt vãnh có thể làm đau

109

nhói con tim. Hầu tước Gruner có nói với tôi...

- Hắn có nói chuyện với anh?

- Ồ, tôi chưa thông báo các dự định của tôi cho

anh! Thì đây, tôi thích cận chiến. Tôi thích mặt

đối mặt với đối thủ để tận mắt nhìn rõ xem “cái

cốt” của hắn là con gì. Sau khi giao việc cho

Shinwell, tôi đã kêu một chiếc xe ngựa, đến

Kingston và phải nói rằng Hầu tước rất khả ái.

- Hắn nhận ra anh?

- Trước đó, tôi đã đưa ra danh thiếp. Đó là một

đối thủ tuyệt hảo, lạnh như băng, nói năng ngọt

lịm, nhưng nọc độc thì như nọc rắn hổ mang. Theo

tôi, hắn thực sự thuộc giai tầng quý tộc và tội ác.

Hắn lịch sự mời bạn uống trà nhưng sẵn sàng bỏ

110

thuốc độc hại bạn. Vâng, tôi khoái nghiên cứu Hầu

tước Gruner.

- Anh nói hắn rất dễ thương?

- Dễ thương như mèo, dễ thương mà giết người như

ngóe. Cái cách hắn đón tiếp tôi làm tỏ lộ bản chất

của hắn.

- Tôi cũng đoán rằng thế nào tôi cũng gặp ông, ông

Holmes à! Hắn nói với tôi - Có thể tướng Merville

đã thuê ông để ngăn cản đám cưới giữa tôi với con

gái ông ta?

Tôi đáp:

- Vâng!

- Thưa ông - Hắn nói tiếp với tôi - Ông chỉ làm

tổn hại cái danh tiếng khá xứng đáng của ông. Ông

không thể nào thành công trong vụ này. Ông lao mình

111

vào một việc vô bổ, lại nguy hiểm. Ông cho phép

tôi mạnh mẽ khuyên ông nên rút lui tức khắc!

- Lạ chưa - Tôi đáp - Đó lại chính là lời tôi dự

định khuyên ông. Tôi kính trọng cái khối óc của

ông, thưa Hầu tước, và mấy phút sơ giao cũng chưa

làm sút giảm sự kính trọng đó. Chúng ta hãy nói

chuyện giữa người lớn với nhau. Không ai muốn lùi

về quá khứ và gây phiền hà cho ông. Quá khứ là quá

khứ! Ông hiện đang bơi trong một khúc sông trong

lành. Nếu ông ngoan cố tiến hành đám cưới, ông sẽ

đụng chạm tới một số người có quyền thế. Họ sẽ ra

tay phá ông cho tới khi ông bị đuổi khỏi nước Anh

này. Ông khôn thì nên để yên cho cô bé. Ông đâu có

được thoải mái khi mà một vài giai đoạn trong quá

khứ của ông được tiết lộ cho cô ta?

112

Vị Hầu tước có vài sợi lông thẩm mĩ lòi dưới mũi

như ăng-ten của một côn trùng. Chúng lay động vì

khoái trá khi ông ta nghe tôi nói và ông ta cười

nhẹ rồi trả lời.

- Xin tha thứ cho sự hả hê của tôi, ông Holmes.

Tuy nhiên làm sao không cười khi thấy ông đánh bài

mà không cầm bài, không một lá bài, thưa ông

Holmes! Ông tuyệt đối không có một lá bài, nói chi

đến nước bài!

- Ông tin như vậy à?

- Theo tôi biết là như vậy! Ông cho phép tôi giảng

giải đầy đủ. Bài tôi tốt đến nỗi tôi có thể bày ra

giữa bàn. Tôi có cái may mắn là chinh phục trọn

vẹn tình yêu của cô bé. Cô ta yêu tôi, mặc dù tôi

đã cho cô biết tất cả các giai đoạn rủi ro trong

113

quá khứ của tôi. Tôi cũng có dặn cô ta rằng vài kẻ

mưu mô, vài kẻ nguy hiểm sẽ tới gặp và kể cho cô ta

nghe các chuyện đó. Tôi đã cảnh giác cô ta và chỉ

cách cho cô ta tiếp đón bọn đó. Ông có nghe đến cái

hiệu quả sau thôi miên không, thưa ông Holmes! Ông

sẽ thấy nó một cách cụ thể. Tôi chắc chắn cô ta

không từ chối tiếp ông đâu. Cô ta nuông chiều tất

cả ý muốn của cha... ngoại trừ một chi tiết nhỏ.

Anh Watson, sau đó tôi cáo từ với tất cả sự bình

tĩnh và lạnh lùng. Nhưng khi vừa nắm lấy hột xoài

mở cửa, tôi bị chặn lại:

- Nhân tiện nói luôn, thưa ông Holmes, ông có quen

ông Le Brun, thám tử người Pháp không?

- Có!

- Ông có biết việc gì đã xảy ra cho y không?

114

- Hình như y bị vài thằng du đãng ở Montmartre

đánh đòn và bị tật suốt đời.

- Đúng. Một trùng hợp lạ lùng, y xen vào công

chuyện của tôi cách đó một tuần! Đừng xen vào

chuyện của tôi, thưa ông Holmes, sẽ xui xẻo cho

ông! Lời khuyên chót của tôi. Ông đi đường ông, tôi

đi đường tôi, chúc một đêm an lành!

- Thế nào! Anh nắm được câu chuyện chứ, Watson?

- Tay Hầu tước này có vẻ nguy hiểm!

- Cực kì nguy hiểm! Tôi từng biết rõ nhiều tên

khoác lác, nhưng thằng này thuộc loại ít nói.

- Anh có bị bắt buộc phải bận tâm về hắn đâu? Hắn

lấy cô bé đó thì có sao đâu?

- Vì chắc chắn hắn đã giết chết người vợ sau cùng,

nên ta cần phải ngăn cản cuộc hôn nhân mới này.

115

Mặt khác, phải làm theo lệnh của khách hàng. Nhưng

thôi, đừng có thảo luận điều này. Khi uống cà-phê

xong, anh đi theo tôi, bởi vì Shinwell sẽ đến báo

cáo công việc.

Shinwell đã đến phố Baker khi chúng tôi tới nơi.

Đó là một tên khổng lồ, mặt hơi đỏ và thô: Đôi mắt

cực kì linh hoạt là dấu hiệu độc nhất của bộ óc xảo

quyệt. Chắc chắn anh ta đã lặn ngụp trong giai

tầng cặn bã.

Thật thế, cạnh Shinwell, trên ghế dài còn có một

thiếu phụ trẻ trung mảnh khảnh, tóc đỏ hoe, khuôn

mặt thê lương, tái mét, bị tội lỗi và ưu phiền tàn

phá đến nỗi người ta mường tượng được những năm

tháng khủng khiếp mà nàng đã trải qua.

- Tôi xin giới thiệu cô Kitty - Shinwell nói và

116

lay động bàn tay béo phị - Những gì cô ấy biết...

Cô ấy sẽ tự động nói ra. Tôi chộp được cô ấy, thưa

ông Holmes, không đầy một giờ sau khi nhận được

giấy của ông.

- Tìm tôi không khó - Cô gái nói - Ai cũng có thể

tìm ra tôi tại địa ngục của London... Chúng tôi là

những bạn tâm giao. Nhưng mà, quỷ thần ơi, còn một

thằng nữa. Thằng này lẽ ra phải ở một tầng địa ngục

tệ hơn, nếu có công lí trên cõi trần này. Đó là

cái thằng mà ông đang bận tâm, thưa ông Holmes.

Holmes cười:

- Tôi xin dự phần vào nguyện ước của cô, cô Kitty.

- Nếu tôi có thể giúp ông tống hắn đến cái nơi mà

hắn phải ở theo luật, thì tôi rất sẵn sàng - Người

117

khách nữ nói một cách hăng hái.

Sự hận thù cao độ thoáng qua trên các đường nét

căng thẳng và trong đôi mắt rực sáng.

- Ông khỏi phải bận tâm về quá khứ của tôi, thưa

ông Holmes.

Quá khứ của tôi chẳng có gì hay ho. Tôi chỉ là con

chuột nhắt trong nanh vuốt của con mèo Gruner. Chờ

khi tôi có thể kéo hắn... - Cô vung hai bàn tay

một cách điên dại - ... kéo hắn xuống một cái hố,

nơi mà hắn đã đạp quá nhiều người xuống...

- Cô biết chuyện gì rồi?

- Shinwell đã nói với tôi. Thằng điếm hiện chạy

theo một con ngốc đáng thương và lần này thì hắn

muốn cưới cô ta làm vợ. Phần ông, ông chắc đã biết

quá nhiều về con quỷ cái này?

118

- Cô bé mất trí rồi. Cô ấy yêu hắn như điên như

dại. Cô ấy đã được cho hay, nhưng cô ấy không chịu

nghe tí gì.

- Được cho hay về vụ ám sát?

- Vâng.

- Chúa ơi! Con bé cừ thật!

- Ông không nhét bằng chứng vào cặp mắt ngu đần

của cô ta?

- Cô có chịu giúp chúng tôi soi sáng cô ta không?

- Còn gì nữa! Tôi chưa phải là bằng chứng bằng

xương bằng thịt sao? Tôi sẽ kể cho cô ta nghe cái

cách tôi bị Gruner đối xử.

- Cô sẽ nói?

- Nên thử làm coi! Thằng khốn đó đã thú nhận phần

lớn các tội lỗi của hắn và cô ta đã tha thứ cho hắn

119

rồi. Tôi không tin rằng cô ta chịu trở lại vấn đề.

- Tôi sẽ chứng minh rằng hắn chưa thú hết tội - Cô

Kitty nói lớn tiếng - Tôi có biết sơ qua về hai

hoặc ba vụ án mạng chưa bị phanh phui. Hắn nói với

cái giọng êm như nhung, rồi thản nhiên nhìn tôi và

tiết lộ: Nó chết được một tháng rồi. Hắn không nói

nhiều và tôi cũng không chú ý lắm. Vì yêu hắn, bất

cứ cái gì hắn làm, tôi cũng thích thú, y hệt như

con bé ngu đần đáng thương kia! Chỉ có một chuyện

làm cho tôi kinh hoảng. Quỷ thần ơi! Hắn có một

cuốn sách đóng bằng da nâu, có ổ khóa đóng kín và

có huy hiệu của hắn trên bìa. Hình như đêm đó hắn

say, nếu không thì hắn đâu có cho tôi xem!

- Sách gì?

120

- Hắn sưu tập đàn bà. Hắn hãnh diện về bộ sưu tập

đàn bà của hắn như người ta hãnh diện về những bộ

sưu tập tiền cổ hoặc các loại tem. Hắn ghi đầy đủ

trong sách đó những hình chụp lén, tên họ, và biết

bao chi tiết khác. Đủ hết! Một cuốn sách mà không

một người đàn ông nào, ngay cả giới cặn bã cũng

không nhẫn tâm làm thế. Nhưng Gruner đã viết: “Các

linh hồn mà tôi đã hủy diệt”. Nhưng thôi, tôi không

bình luận nữa, bởi lẽ cuốn sách đó không ích gì

cho ông. Còn nếu nó hữu dụng thì làm sao lấy nó

được?

- Nó ở đâu?

- Làm sao mà biết, bởi vì tôi đã tuyệt giao với

hắn hơn một năm rồi. Khi còn sống chung thì tôi

biết nó được giấu ở đâu. Về nhiều phương diện, hắn

121

giống một con mèo, hắn có cái tính sạch sẽ và chính

xác của mèo. Do đó, có thể quyển ấy ở trong tủ đồ

gỗ cổ trong văn phòng riêng của hắn.

- Tôi đã vào đó rồi - Holmes đáp.

- Ủa, rồi hả? Vậy ông đâu phải là tay mơ. Có lẽ

hắn đang gặp phải một tay kì phùng địch thủ rồi.

Văn phòng mà ông vào có cái tủ buýp-phê lớn chứa đồ

sứ Trung Hoa đặt giữa hai cửa sổ. Sau cái bàn, có

cái cửa đi qua văn phòng riêng, nơi hắn cất giấy tờ

và một ngàn lẻ một thứ khác.

- Ông ta không sợ ăn trộm à?

- Gruner đâu phải đồ thỏ đế. Đương nhiên hắn dư

sức bảo vệ mạng sống và tài sản của hắn. Ban đêm

thì có cả một hệ thống chuông báo động. Mặt khác,

trong nhà hắn có cái thứ gì đáng giá để quyến rũ

122

bọn ăn trộm đâu? Ngoại trừ mớ đồ sứ Trung Hoa.

- Đồ vô giá trị! - Shinwell mạnh mẽ nói lớn -

Không một thằng cha, con mẹ chợ trời nào chịu mua

một món đồ của hắn.

- Đồng ý! - Holmes nói - Nào cô Kitty, đề nghị cô

quay lại chiều mai lúc 5 giờ. Để tôi suy nghĩ về đề

nghị đi gặp con bé của cô. Tôi sẽ xem xét xem có

thể thu xếp một cuộc hẹn được không? Tôi thành thực

cám ơn sự cộng tác của cô. Có lẽ tôi khỏi cần phải

nhắc lại rằng người khách hàng của tôi rất hào

phóng.

- Không! - Cô gái la to - Tôi không đến đây vì

tiền! Lôi được thằng khốn đó xuống bùn là tôi hả

dạ. Nhét hắn sâu xuống bùn và chân tôi đạp lên để

giẫm nát cái mặt đáng nguyền rủa của hắn! Tôi không

123

muốn cái gì khác. Tôi sẽ gặp ông vào ngày mai và

bất cứ lúc nào. Shinwell biết cách tìm ra tôi.

Phải tới chiều hôm sau, tôi mới gặp Holmes tại

quán ăn quen thuộc ở Strand. Anh nhún vai khi được

hỏi xem cuộc hội ngộ có kết quả không. Holmes kể

lại:- Ông tướng điện thoại cho hay rằng mọi sự đã

chuẩn bị xong. Kitty rất đúng hẹn, leo lên xe ngựa

đi chung với tôi. Xe cho chúng tôi xuống lúc 5 giờ

30 tại tư dinh đồ sộ của ông tướng. Một người hầu

mặc đồng phục đưa chúng tôi vào phòng khách lớn.

Con bé đang ngồi đợi. Mặt cô ta tái xanh, nghiêm

trang, sắt đá và lạnh lùng như tuyết.

Tôi không biết cách mô tả cô bé, anh Watson! Có

thể trước khi câu chuyện kết thúc, anh sẽ gặp cô

ta, chừng đó anh sẽ sử dụng năng khiếu văn sĩ của

124

anh. Cô bé đẹp, cái đẹp thanh thoát. Trong các kiệt

tác của những nhà danh họa Trung cổ, tôi gặp những

khuôn mặt giống khuôn mặt của cô ta. Làm thế nào

một con thú dữ có thể đặt vuốt của nó trên một con

người như thế? Chuyện đó khó hiểu đối với tôi. Anh

biết rằng những cái khác cực thì hút lẫn nhau,

người thiên về tâm linh bị cuốn hút bởi người có

thú tánh. Đương nhiên là cô ta biết lí do cuộc thăm

viếng của chúng tôi. Sự có mặt của cô Kitty làm

cho cô ta ngạc nhiên một chút. Tuy vậy, cô ta vẫn

chỉ hai ghế bành với vẻ mặt của một bà trưởng tu

viện tiếp nhận hai người hủi trước đây đi ăn mày.

Cô ta nói giọng như vang dội từ một tảng băng.

- Thưa ông, tôi có được nghe nhiều về thanh danh

của ông. Ông tới đây, theo tôi hiểu là để vu khống

125

vị hôn phu của tôi, Hầu tước Gruner. Chỉ vì chiều

theo ý cha tôi mà tôi tiếp ông, và tôi xin báo cho

ông biết trước rằng không một lời nào của ông sẽ có

ảnh hưởng đến các quyết định của tôi.

Cô ta làm tôi đau nhói. Ngay lúc đó, tôi coi cô ta

như con gái của tôi. Tôi hăng say biện giải, mô tả

cho cô ta cái tình huống địa ngục của một người

đàn bà chỉ biết rõ tính người đàn ông sau khi đã

lấy nhau, một người đàn bà phải chịu sự khốn khổ

của đôi bàn tay đẫm máu và đôi môi tanh tưởi. Tất

cả những lời nói của tôi không thể đem lại một chút

xúc động trên cái nhìn xa xăm của cô ta. Tôi nhớ

lại những gì thằng ác ôn nói về cái tác động sau

thôi miên. Quả vậy, ta có thể tưởng tượng rằng cô

bé đang sống bên trên trái đất trong sự mê sảng.

126

- Tôi đã nhẫn nại nghe ông nói, thưa ông Holmes.

Hiệu quả của lời ông là đúng như hiệu quả mà tôi đã

cho ông biết trước. Tôi biết rằng chồng chưa cưới

của tôi đã trải qua rất nhiều cơn dông tố của những

phê phán rất bất công. Ông là người cuối cùng

trong một loạt người vu khống. Có thể ông có mĩ ý

với tôi, mặc dù tôi biết ông là người làm việc có

thù lao, ông có thể bảo vệ quyền lợi của Hầu tước

cũng như quyền lợi các kẻ thù của Hầu tước. Nhưng

đó là quyền tự do của ông. Phần tôi, tôi muốn ông

hiểu dứt khoát rằng, tôi yêu anh ấy, anh ấy cũng

yêu tôi, còn dư luận đối với tôi thì chỉ như chó

sủa lỗ không. Nếu bản chất quý phái của anh ấy đôi

khi có sai sót, thì có thể Chúa đã thu xếp để tôi

đến nâng anh ấy lên “vai vế cũ” - Quay qua phía cô

127

Kitty, cô ta nói thêm - Tôi không hiểu tại sao có

sự hiện diện của thiếu phụ trẻ tuổi này?

Tôi sắp trả lời thì con bé bụi đời xen vào như cơn

lốc. Anh hãy tưởng tượng cảnh lửa gặp băng, mặt

đối mặt.

- Tôi sẽ nói với cô tôi là ai! - Kitty nhảy dựng

khỏi ghế và la lớn, miệng méo xẹo vì điên tiết -

Tôi là tình nhân cuối cùng của thằng đó. Tôi là một

trong một trăm người đàn bà bị thằng đó cám dỗ, mê

hoặc, tàn phá cuộc đời rồi ném vào đống rác. Đống

rác, đối với cô có thể là nấm mồ, có lẽ lại hay

hơn. Tôi nhắc lại, đồ ngu như chó, lấy hắn, cô sẽ

tiêu đời! Hoặc hắn đập nát tim cô, hoặc hắn vặn cổ

cô, kết quả sẽ là cái chết chắc chắn. Hôm nay,

không phải vì thương cô mà tôi nói. Cô sống hay cô

128

chết mặc xác cô. Tôi làm điều này chính vì muốn

phục thù rửa hận. Không nên nhìn tôi một cách miệt

thị như thế, người đẹp ơi! Bởi vì người đẹp có thể

sa sút một cách tệ hại hơn, không lâu lắm đâu!

- Tôi không muốn phải nói những chuyện như thế

này. Tôi lặp lại một lần chót rằng tôi biết ba giai

đoạn của cuộc đời vị hôn phu của tôi. Trong đó anh

ấy đã vướng phải thành phần đa mưu và tôi vững tin

rằng anh ấy thành thật hối cải những sai trái cũ.

- Ba giai đoạn! - Người nữ đồng hành của tôi thét

to - Đồ ngu! Đồ ngu cực kì!

- Ông Holmes, tôi yêu cầu ông chấm dứt cuộc nói

chuyện này. Tôi vâng lệnh bố tôi mà tiếp ông, chứ

tôi đâu bị bắt buộc phải nghe các lời nói mê sảng

của người này.

129

Cô Kitty chửi thề như bắp rang, nhào ra phía

trước, nếu tôi không nắm được cổ tay cô, thì cô

Kitty đã chụp tóc con gái ông tướng. Tôi kéo cô ta

ra hướng cửa và nhanh nhẹn đẩy cô ta lên xe ngựa,

tránh được một sự tụ tập của những người hiếu kì.

Về phần tôi, tuy tỉnh táo hơn, nhưng tôi cũng muốn

phát điên khi vấp phải một thái độ cao ngạo của

người đàn bà tôi đang cố cứu mạng. Vậy là tôi đã

báo cáo tình hình đầy đủ rồi đó. Đương nhiên, tôi

phải mở ra một hướng đi khác. Tôi vẫn phải giữ liên

lạc với anh, anh Watson! Có phần chắc là tôi dành

cho anh một vai trong vở kịch tới. Tôi đoán biết

màn tới do chúng chủ động đó.

Holmes đã đoán đúng đòn thù của chúng giáng trả.

Đúng ra là của thằng điếm đó! Tôi điếng người khi

130

đọc tin nhỏ trên một tờ nhật báo. Sự việc xảy ra

giữa đại khách sạn Grand Hotel và nhà ga Charing

Cross. Một anh què giò bày một tờ báo buổi chiều in

hàng tít rất lớn bằng chữ đen trên nền vàng:

“Sherlock Holmes bị mưu sát”

Tôi đứng như phỗng đá một lúc lâu. Sau đó, hình

như tôi giật tờ báo từ tay người bán, và không trả

tiền báo rồi tức tốc chui vào trước cửa một tiệm

thuốc tây để đọc:

“Chúng tôi đau đớn hay tin ông Sherlock Holmes là

nạn nhân của một cuộc mưu sát. Hiện tại mọi dự đoán

về tình trạng sức khỏe của ông là quá sớm. Biến cố

xảy ra khoảng 12 giờ tại đường Regent, gần quán

cà-phê Royal. Hai người dùng gậy đập tới tấp trên

thân và đầu ông Holmes. Các bác sĩ cho rằng đây là

131

trường hợp nghiêm trọng. Ông được chở vào nhà

thương Charing Cross nhưng ông nằng nặc đòi chở về

nhà riêng tại đường Baker. Những kẻ tấn công ăn mặc

rất đàng hoàng. Họ thoát thân bằng cách chạy vào

quán cà-phê Royal rồi đi ra bằng cửa sau và tan

biến trên đường phố đông người. Đương nhiên họ

thuộc giai tầng tội ác đã biết bao lần bị khốn khổ

bởi tài năng của ông Sherlock Holmes”.

Tôi nhảy lên một xe ngựa, bảo chạy tới phố Baker.

Tại cửa có xe của Ngài Leslie đang chờ. Khi vào

hành lang, tôi gặp nhà giải phẫu nổi tiếng này.

- Bệnh không có gì nguy kịch - Bác sĩ Leslie nói

với tôi - Rách da đầu hai chỗ, trầy trụa tứ tung.

Phải khâu vá nhiều. Tôi có chích mooc-phin. Cần để

ông ấy nghỉ ngơi, nhưng ông có thể vào gặp vài

132

phút.

Tôi hối hả bước vào căn phòng tối om. Holmes gọi

tôi. Bức ri-đô được kéo xuống ba phần tư nhưng có

một tia sáng mặt trời lọt vào, nhờ đó tôi thấy rõ

có vết máu thoát ra lớp băng trắng trên đầu Holmes.

Tôi ngồi gần anh, lắc đầu.

- Không sao đâu, Watson! Đừng giữ cái bộ mặt đưa

ma đó - Holmes nói với giọng yếu ớt - Không nặng

như người ta nói đâu! Thật là may!

- Tôi đánh gậy cũng không tệ, như anh biết, tôi đỡ

được nhiều cú. Chúng gồm hai người, tôi thua là do

cái người thứ hai này.

- Đương nhiên là do tên Hầu tước khốn nạn đó giật

dây. Nếu anh cho phép, tôi sẽ xé xác hắn ngay!

- Ta không thể làm gì trước khi cảnh sát tóm cổ

133

mấy tên đồng phạm của hắn. Chúng chuẩn bị kế hoạch

chuồn hay lắm. Hãy chờ một lúc. Tôi có kế hoạch

mới. Việc thứ nhất phải làm là tung tin rằng bệnh

trạng của tôi rất nguy kịch. May mắn lắm thì sống

thêm một tuần. Hãy phao tin rằng tôi đã nói sảng

nói điên.

- Còn ngài Leslie?

- Ồ, khỏi lo, ông ấy phịa còn dữ hơn nữa. Tôi lo

chuyện đó cho.

- Còn gì nữa không?

- Còn chứ. Cảnh báo Shinwell, bảo hắn đem cất giấu

con bé bụi đời vào nơi an toàn. Bọn chúng sẽ làm

thịt con bé. Khẩn trương lên, ngay đêm nay nhé!

- Tôi đi ngay. Còn gì nữa không?

- Để cái tẩu và bao thuốc trên bàn giùm. Tốt lắm!

134

Mỗi sáng anh tới đây, chúng ta sẽ hoạch định kế

hoạch hành động.

Ngay đêm đó, tôi thu xếp với Shinwell để gửi cô

Kitty qua vùng ngoại ô Paris chờ tới lúc sóng lặng

gió yên.

Trong suốt sáu ngày, công chúng lầm tưởng Holmes

đang thoi thóp chờ chết. Các bản thông báo sức khỏe

rất là bi quan, còn báo chí thì công bố những tin

tức ảm đạm. Trong khi đó Holmes bình phục nhanh

chóng.

Ngày thứ bảy, người ta tháo chỉ các chỗ khâu. Cũng

tối hôm đó, họ loan một tin mà tôi phải thông báo

ngay cho Holmes: Trong đám hành khách trên con tàu

rời Liverpool vào sáng thứ sáu có tên của Hầu tước

Gruner. Hắn có những việc tài chính quan trọng phải

135

giải quyết tại Hoa Kì trước ngày kết hôn đang gần

kề. Sau khi nghe tin này, nét mặt Holmes tái mét.

- Thứ sáu! - Holmes kêu lên - Vậy chỉ còn có ba

ngày thôi. Thằng ác ôn này muốn chạy trốn. Không

được đâu, Watson! Tôi muốn anh làm một việc giúp

tôi.

- Thì tôi tới đây là để giúp anh.

- Vậy anh dành hai mươi tư giờ tới để nghiên cứu

kĩ lưỡng các đồ sứ Trung Hoa.

Holmes không giải thích thêm. Tôi cũng không đặt

một câu hỏi nào. Mấy năm sống với anh tập cho tôi

thói quen răm rắp vâng lời. Nhưng khi đã rời phòng

của anh, đi dọc đường Baker, tôi không biết làm sao

chấp hành mệnh lệnh. Cuối cùng tôi đi đến thư viện

ở quảng trường Saint James, trình bày dự định của

136

tôi cho người bạn thân tên là Lomax, phó quản thủ

thư viện và quay về nhà với một cuốn sách đồ sộ kẹp

ở nách. Suốt đêm và suốt sáng hôm sau, tôi học

được cả ngàn chuyện và nhồi nhét vào đầu cả ngàn

cái tên. Đầu óc tôi nặng trĩu dưới gánh nặng của

tài liệu này. Chiều hôm sau, tôi đến nhà Holmes.

Anh đang ngồi trên chiếc ghế bành, đầu quấn băng.

- Nếu tin theo các báo chí thì anh đang hấp hối!

- Đấy chính là điều tôi muốn phổ biến rộng rãi,

còn anh đã học bài kĩ chưa?

- Ít ra tôi có thể hiểu một số điều.

- Hoan nghênh! Anh thấy đủ sức tranh luận một cách

khôn ngoan về đề tài đó chưa?

- Dư sức.

- Vậy vui lòng lấy giúp tôi cái hộp trên lò sưởi!

137

Holmes mở nắp, để lộ ra một đồ vật nhỏ được gói kĩ

trong miếng lụa Đông phương.

- Phải cầm cho cẩn thận. Đây là đĩa sứ vỏ trứng

đời nhà Minh. Cho tới nay chưa có ai làm hay hơn.

Có đủ bộ. Hình như không có bộ thứ hai, ngoài bộ ở

Hoàng cung Bắc Kinh. Nhìn đồ vật này, một người

sành điệu sướng phát điên.

- Tôi phải làm gì?

Holmes đưa cho tôi một danh thiếp trên đó có in

hàng chữ:

“Bác sĩ Hill Barton, 369 Half Moon Street”.

- Đêm nay anh mang tên này và đến nhà Hầu tước

Gruner. Tôi biết vài thói quen của hắn. Lúc 8 giờ

30 có thể hắn rảnh. Anh hãy gửi danh thiếp báo

trước. Anh nói với hắn rằng anh mang tới một mẫu

138

của bộ sứ đời nhà Minh, hiếm có. Anh đóng vai bác

sĩ thì dễ thôi, nhưng anh cần đóng vai người sưu

tập nhiều hơn. Bộ đồ sứ này tình cờ lọt vào tay

anh, anh có nghe đồn hắn thích đồ sứ, và anh sẵn

sàng bán với giá cao.

- Bao nhiêu?

- Câu hỏi khôn ngoan đó. Anh sẽ bị lộ diện mau

chóng nếu không biết giá trị của món hàng. Mẫu này

do ông tướng của chúng ta mang lại. Anh không nói

ngoa khi khẳng định là không có cái thứ hai trên

thế giới này.

- Tôi có thể đề nghị bộ đồ sứ được đánh giá bởi

một chuyên viên?

- Anh tuyệt hảo hôm nay. Vì tế nhị, anh không định

giá, mà đề nghị mời chuyên viên.

139

- Nhưng chắc gì hắn tiếp tôi?

- Tiếp chứ. Hắn là một tay chơi đồ cổ, anh quên

rồi sao? Hãy ngồi xuống, tôi đọc cho anh chép! Khỏi

cần xin hồi âm, chỉ báo đến và cho biết lí do.

Ngay đêm đó, với cái đĩa quý giá trên tay và tấm

danh thiếp mang tên bác sĩ Barton trong túi, tôi

lao mình vào một cuộc phiêu lưu.

Ngôi nhà và khoảnh đất chung quanh cho thấy rằng

Hầu tước Gruner giàu sụ, đúng như ngài James đã

nói. Những con đường dài uốn khúc giữa các bồn hoa

lạ đưa tới một cái sân vuông rải sỏi, có dựng nhiều

bức tượng. Cơ ngơi này được sắp đặt bởi một ông

vua vàng của Nam Mỹ vào thời cực kì phát đạt.

Một quản gia ăn mặc nghiêm chỉnh mở cửa cho tôi,

rồi giao cho một gia nhân mặc toàn đồ nhung sang

140

trọng. Cuối cùng Hầu tước tiếp tôi.

Hắn ta đứng gần cái tủ cao đặt giữa hai cửa sổ,

chứa một phần bộ sưu tập đồ sứ Trung Hoa. Khi tôi

vào, hắn quay mặt về hướng tôi, tay cầm một lọ nhỏ

màu nâu.

- Mời bác sĩ ngồi! Tôi đang ngắm nghía các báu vật

của tôi và tự hỏi không biết có thể thực sự thêm

vào đó một cái nữa không? Cái mẫu nhỏ đời Đường này

thuộc thế kỉ thứ VII có thể làm ông thích. Tôi

chắc chắn ông chưa bao giờ thấy một sự khéo tay nào

và một sự pha trộn màu nào hài hòa hơn. Ông có

mang theo cái đĩa đời Minh đấy chứ?

Tôi mở gói một cách cẩn thận và đưa cái đĩa ra.

Hắn liền ngồi vào bàn, kéo cái đèn lại gần và quay

đĩa qua lại, xem xét mọi khía cạnh. Trong lúc đó,

141

ánh sáng màu vàng chiếu sáng khuôn mặt hắn cho phép

tôi ngắm hắn một cách thoải mái.

Hắn thực sự đẹp trai, chiều cao trung bình nhưng

dáng người thanh nhã, mềm mại. Khuôn mặt sạm nắng,

vẻ Đông phương, đôi mắt to đen nhánh, mơ màng, có

sức cuốn hút đàn bà một cách dễ dàng. Tóc và râu

màu đen, râu kẽm, ngắn, mảnh mai, chải chuốt. Giọng

nói hấp dẫn, điệu bộ sang trọng. Tôi đoán hắn chỉ

ngoài ba mươi, nhưng thực ra, như sau này mới biết,

hắn đã bốn mươi hai rồi.

- Rất đẹp! Rất là đẹp! - Hắn khen luôn miệng - Ông

có một bộ sáu cái? Có một điều là tôi chưa bao giờ

nghe nói về cái bộ đĩa tuyệt trần này. Tôi biết

tại Anh quốc có một bộ có thể sánh với bộ này.

Nhưng chắc chắn họ không bán. Thưa bác sĩ, bác sĩ

142

vui lòng tha thứ cho sự tò mò của tôi và cho tôi

biết do đâu bác sĩ có được bộ này?

- Ông thích nó thật à? - Tôi hỏi với một vẻ bình

thản - Tôi đã biết nó là thứ thiệt, về trị giá của

nó, tôi đành phó thác cho sự định giá của một

chuyên gia.

- Rất là bí hiểm - Hắn thì thầm, với đôi mắt đen

lấp lánh một tia sáng ngờ vực - Khi muốn mua những

đồ vật có giá trị lớn như thế này, ai cũng muốn

phăng cho tới ngọn ngành. Cái đĩa đẹp, quý, là điều

không ai chối cãi. Tôi không mảy may ngờ vực.

Nhưng tôi phải cân nhắc nhiều điều... Bác sĩ không

có quyền bán nó.

- Tôi bảo đảm.

- Thế thì tôi phải xét lại giá trị của lời bảo đảm

143

này.

- Các ngân hàng của tôi sẽ trả lời cho ông về uy

tín của tôi.

- Được thôi! Dù vậy việc buôn bán này có hơi dị

thường!

- Ông mua hay không, tùy ông - Tôi nói với vẻ cực

kì bất cần - Tôi tới ông trước tiên, tại vì tôi

được biết ông là người sành sỏi, chứ việc buôn bán

này đâu có khó gì?

- Ai nói với ông rằng tôi là người sành sỏi?

- Tôi biết ông có viết một cuốn sách về đề tài

này.

- Ông đọc rồi?

- Chưa.

- Chúa ơi! Càng lúc tôi càng rối trí hơn. Ông là

144

người sành sỏi kiêm nhà sưu tập. Ông có một đồ vật

giá trị lớn trong bộ sưu tập, thế mà ông không chịu

khó đọc cuốn sách độc nhất giúp ông tìm hiểu ý

nghĩa và giá trị của cái đồ vật này. Ông giải thích

điều đó như thế nào?

- Tôi rất bận. Tôi là thầy thuốc. Tôi có khách

hàng phải phục vụ.

- Đó không phải là lời giải đáp. Nếu ham chơi đồ

cổ, người ta luôn dành thời gian cho nó bằng mọi

cách. Trong thư, ông có nói ông là người sành sỏi.

- Đúng vậy.

- Vậy tôi hỏi ông vài câu để kiểm nghiệm. Tôi buộc

lòng phải nói với bác sĩ rằng cái màn buôn bán này

mỗi lúc mỗi tù mù. Nào, ông biết gì về nhà Bắc

ngụy và vị trí của họ trong lịch sử đồ gốm?

145

Tôi nhảy dựng khỏi cái ghế bành và giả vờ nổi

giận:- Điều này không còn dung thứ được nữa. Ông

à! - Tôi la lớn

- Tôi tới đây vì dành ưu tiên cho ông, chứ không

phải để bị hạch hỏi. Kiến thức của tôi về đồ sứ có

thể thua kém ông, nhưng tôi từ chối trả lời những

câu hỏi được đặt ra một cách xấc xược!

Hắn nhìn tôi đăm đăm, cái tính thơ mộng trong đôi

mắt của hắn đã biến mất. Rồi đột ngột, đôi mắt này

rực lửa. Tôi thấy sự ngời sáng của bộ răng trắng

của hắn giữa cặp môi tàn nhẫn:

- Ông chơi trò gì? Ông tới đây để dò xét tôi, ông

mưu toan gạ gẫm tôi. Hình như Holmes đã gần chết và

y sai ông đến đây canh chừng tôi. Ông vào đây dễ

dàng, nhưng ông sẽ thấy ra khỏi đây rất khó.

146

Hắn nhảy dựng lên, tôi lùi lại, chuẩn bị đối phó.

Có lẽ lúc đầu hắn có nghi ngờ, qua cuộc thẩm vấn,

hắn thấy rõ hơn. Hắn thọc tay vào hộc tủ, lục lọi

túi. Thình lình một tiếng động vang lên làm hắn

dừng lại để nghe.

- A! - Hắn la lên rồi chạy vào căn phòng phía sau

lưng. Tôi chạy ra đến cửa. Cửa sổ của căn phòng thứ

hai nhìn ra vườn bị mở toang hoác. Bên cạnh cửa sổ

này, Sherlock Holmes xuất hiện như một con quỷ,

sau đó, Holmes nhảy ra ngoài. Tôi nghe tiếng chân

anh giẫm lên các nhánh nguyệt quế ngoài vườn. Chủ

nhà nhảy theo, miệng gào thét như con cọp dữ.

Và lúc đó, chỉ trong một giây, tôi thấy rõ một

cánh tay đàn bà ló ra khỏi các cành nguyệt quế.

Thình lình Gruner kêu thất thanh. Tiếng kêu rợn

147

người. Hắn lấy hai bàn tay ôm lấy mặt, vừa gào vừa

chạy vào phòng, đụng đầu vào tường, ngã sụm xuống

thảm, cuộn tròn, quằn quại, tiếng rên la vang dội

trong căn nhà mênh mông.

- Cho tôi nước! Cho tôi nước! - Hắn la liên tục.

Tôi vớ lấy bình nước trên bàn, hối hả chạy tới.

Cùng lúc, viên quản gia và nhiều người bồi phòng

khác cũng chạy tới. Tôi còn nhớ rằng một người

trong bọn ngất xỉu khi nhìn thấy gương mặt của hắn

bị tàn phá một cách dữ dội. A-xít đang gặm nhấm

khuôn mặt hắn, đang chảy thành giọt xuống tai và

xuống cằm. Một con mắt đã trắng đục, con kia thì đỏ

và sưng lên. Cái diện mạo mà ban nãy tôi tấm tắc

khen thầm thì giờ đây nó giống như một bức tranh

đẹp bị nhòe tèm nhem, trông rất gớm ghiếc!

148

Một cách ngắn gọn, tôi trình bày những gì đã xảy

ra. Vài người bồi phòng nhảy qua cửa sổ, lục lọi

ngoài vườn nhưng trời tối đen và mưa bắt đầu rơi.

- Chính là Kitty! Ồ, con quỷ cái đó sẽ phải đền

tội! Đúng, nó sẽ phải đền tội. Ôi! Đau quá, không

thể nào chịu nổi! - Hầu tước Gruner la vang.

Tôi rửa mặt hắn bằng dầu, áp bông gòn vào da cháy

rồi chích cho hắn một mũi thuốc giảm đau. Hắn bấu

vào tay tôi, như thể tôi có quyền năng đem lại sự

sống cho đôi mắt đang nhìn tôi chòng chọc. Có thể

tôi đã khóc trước cái đại họa này, nếu tôi quên

được cái lòng lang dạ thú của hắn. Chính cái dã tâm

của hắn là nguồn gốc của mối đại họa hôm nay. Tôi

ghê tởm khi cảm thấy đang bị hắn bấu víu để cầu

cứu... Bác sĩ chuyên môn của gia đình hắn đã đến,

149

tôi được nhẹ nhõm. Tất nhiên, một thanh tra cảnh

sát không thể chậm chân. Tôi trình cái danh thiếp

thật của tôi. Ở Scotland Yard, mọi người đều biết

tôi y như biết Sherlock Holmes. Rồi tôi rời cái nhà

xui xẻo này. Không đầy một giờ sau, tôi đã về tới

đường Baker. Holmes đang ngồi trong ghế bành quen

thuộc, lắng tai nghe một cách kinh hoàng. Tôi mô tả

sự thay đổi hình dạng của Gruner.

- Có vay thì phải trả! Vay sao, trả vậy! - Nói

xong Holmes với tay lấy cuốn sách nâu để trên bàn.

- Đây là cuốn sách mà con bé bụi đời đã nói với

ta. Nếu Violet khăng khăng không hủy bỏ sự đính hôn

thì ta chịu thua thôi. Nhưng cô ta sẽ hủy bỏ cuộc

đính hôn! Bắt buộc thôi, bất cứ người đàn bà nào có

lòng tự trọng cũng đều phải khuất phục lẽ phải.

150

- Cuốn sổ tình yêu?

- Cuốn sổ tình dục thì đúng hơn! Ngay khi con bé

Kitty cho biết, tôi hiểu ngay đó là một vũ khí lợi

hại. Tôi lặng yên, không phát biểu gì vì sợ con bé

không giữ miệng được. Tuy nhiên tôi suy đi tính lại

mãi. Tiếp đến tôi bị tấn công: Đó là cơ hội để làm

cho Gruner lầm tưởng mà không đề phòng gì về phía

tôi. Mọi việc trôi qua êm đẹp. Tôi tưởng đâu mình

còn phải chờ lâu. Không ngờ hắn dự định đi Mỹ. Tôi

phải khẩn trương vì hắn sẽ không chịu để cuốn sổ

này tại đây. Rất khó mà ăn trộm ban đêm, bởi vì hắn

có một hệ thống báo động. Nhưng cướp đoạt vào ban

ngày thì được, với điều kiện phải làm sao cho tâm

trí của hắn bị chi phối. Đó chính là lí do tại sao

anh và cái đĩa phải nhập cuộc.

151

Khổ nỗi tôi phải biết chính xác cuốn sách nằm ở

đâu. Mặt khác, tôi không có nhiều thời gian, bởi vì

kiến thức của anh về đồ sứ Trung Hoa không có bao

nhiêu. Đó là lí do tôi cho mời con bé bụi đời vào

phút chót. Có Chúa mới đoán được con bé giấu vật gì

trong áo choàng của nó! Tôi lầm tưởng nó chỉ đến

vì công việc của tôi, đâu có dè nó còn nghĩ tới

chuyện riêng tư của nó.

- Thằng ác ôn biết chính anh sai tôi đi!

- Tôi cũng khá lo. Nhưng anh đã cầm cự đủ thời

gian để tôi chộp được cuốn sách!

- Kìa! Ngài James tới - Tôi mừng hét lớn.

Huân tước James thích thú nghe kể lại tất các biến

cố.

- Một kì công! Đại kì công! - Huân tước la to -

152

Nếu thương tích của hắn tệ hại như bác sĩ Watson mô

tả thì cái kế hoạch phá đám cưới sẽ thành công,

đâu cần tới cuốn sách bẩn thỉu này!

Holmes lắc đầu:

- Đàn bà loại như cô Violet không xử sự bình

thường như chúng ta dự đoán. Cô ta càng thương hắn

bội phần, dưới các đường nét ghê tởm ở mặt của

người tử vì đạo. Không đâu, chính cái mặt đạo đức

của hắn cần được tiêu hủy chứ không phải cái mặt

thể chất.

Cuốn sách này sẽ làm cho cô ta bừng tỉnh. Tôi

không thấy có giải pháp thứ hai. Đây chính là chữ

viết của tên khốn nạn đó. Cô ta không thể phủ nhận.

James mang cuốn sách về, cùng với cái đĩa quý giá.

Tôi cũng cáo từ. Chiếc xe ngựa đang chờ. Ông ấy

153

nhảy lên, ra lệnh ngắn gọn cho người xà ích phóng

xe nhanh. Dù ông ta cố lấy vạt áo choàng che phủ

huy hiệu trên cửa xe, tôi cũng có đủ thời gian để

nhận dạng cái huy hiệu đó.

Tôi há hốc mồm, quay vào và đến phòng của Holmes.

- Tôi đã phát hiện khách hàng của mình là ai - Tôi

la lớn, hãnh diện vì cái tin tức mới của tôi! -

Holmes, đấy là...

- Đấy là một người bạn trung thực và nghĩa khí -

Holmes chắn ngang bằng cách khoát tay làm dấu.

Ba ngày sau, nhật báo The Morning Post loan báo

rằng cuộc hôn nhân giữa Hầu tước Gruner và cô

Violet bị hủy bỏ. Số báo đó cũng tường thuật vụ cô

Kitty ra tòa vì tội tạt a-xít. Nàng được hưởng

trường hợp giảm khinh nên bản án không nặng lắm.

154

Sherlock Holmes thì suýt bị truy tố vì tội ăn trộm.

Nhưng khi mục tiêu là tốt, và khách hàng là một

thế gia vọng tộc, luật pháp của Anh quốc cũng co

giãn và có nhân tính. Holmes không phải ngồi vào

ghế bị cáo.

155

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát