Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Sự Hiền Hoà Của Sói - P2

SỰ HIỀN HÒA CỦA SÓI – PHẦN 2

Tác giả: Stef Penney

NHỮNG ĐỒNG SỰ MÙA ĐÔNG

Bác sĩ Watson là mẫu người giám đốc dám nghĩ dám

làm ở bệnh viện tâm thần. Anh mơ đến việc tạo tên

tuổi cho mình, viết bài chuyên môn và rồi được mời

trình bày ở những hội nghị chuyên đề, nơi có nhiều

phụ nữ mến mộ anh vây quanh. Tuy nhiên, tạm thời,

những phụ nữ duy nhất gần anh đã mất trí không ít

thì nhiều, và trong số này anh đã chọn tôi để giết

thời giờ trong khi chờ đến ngày anh đủ nổi tiếng để

ra đi.

Tôi ở trong bệnh viện tâm thần được ít tháng thì

anh đến, và suốt thời gian này người ta râm ran đồn

đại về vị giám đốc mới. Cuộc sống trong bệnh viện

1

tâm thần nói chung là vô cùng chán ngán, nên bất kỳ

thay đổi nào cũng là đầu đề cho mọi người tranh

luận sôi nổi, như là việc thay đổi món cháo yến

mạch trong bữa ăn sáng, hoặc việc dời giờ may vá từ

ba đến bốn giờ chiều. Vì thế mà vị giám đốc mới là

biến cố quan trọng, thổi ngọn lửa cho các cuộc đồn

đại và suy đoán kéo dài nhiều tuần. Và khi anh

đến, người ta không lấy làm thất vọng. Trẻ trung và

đẹp trai, anh có khuôn mặt tươi sáng, hiền hòa và

giọng nói cao trầm dễ nghe. Chỉ trong vòng nửa

tháng, tất cả phụ nữ đều đem lòng yêu anh. Tôi phải

nói mình không phải là hờ hững hoàn toàn, nhưng

quả là buồn cười khi thấy một số phụ nữ tự làm đẹp

cho mình bằng mấy dải ruy băng và hoa lá cành để

mong thu hút sự chú ý của anh. Watson lúc nào cũng

2

tỏ ra nịnh đầm và có sức quyến rũ, thích cầm lấy

tay họ mà tỏ lời khen ngợi, khiến cho họ cười khúc

khích và đỏ bừng mặt. Mùa hè năm ấy, các phòng ngủ

của phụ nữ đều vang tiếng thở dài trong đêm.

Vì tôi không thích trò tôn thờ thần tượng, thế nên

tôi ngạc nhiên khi được gọi đến văn phòng của

Watson và thắc mắc liệu mình đã làm gì sai trái.

Tôi thấy anh đang cúi mình trên một chiếc máy trông

kỳ lạ đặt ở giữa phòng. Lập tức tôi đoán đấy là

một chiếc máy đặt giữa các ống nước vòi tắm hoa

sen, được thiết kế để tạo cho bệnh nhân tâm thần

một cảm giác mạnh nào đấy, nhưng tôi không rõ chi

tiết nó vận hành như thế nào, và cảm thấy khá lo

lắng.

Watson nhìn lên và mỉm cười: “À, chào Cô Hay.( )”

3

Anh trông rất lấy làm vui với chính mình. Thật ra,

tôi lại kinh ngạc hơn do sự thay đổi trong căn

phòng, vì với người tiền nhiệm thì căn phòng tối

tăm và trông buồn thảm, lại có mùi hơi khó chịu.

Đấy là một căn phòng đẹp (cả bệnh viện tâm thần gây

ấn tượng tốt với cung cách tân cổ điển); trần cao,

với cửa sổ vòm rộng nhìn ra sân vườn. Watson đã

cho lấy đi các tấm màn nặng nề treo từ các cửa sổ,

và bây giờ ánh sáng từ hướng nam tràn ngập. Các bức

tường được sơn màu hồng nhạt, có hoa đặt trên bàn,

và đá cùng dương xỉ được xếp đặt một cách nên thơ

dọc một chân tường.

Tôi nói mà không thể ngăn nụ cười: “Xin chào.”

“Cô thích văn phòng của tôi không?”

“Vâng, rất thích.”

4

“Tốt. Sở thích của cô giống tôi. Tôi nghĩ điều

quan trọng là làm cho khung cảnh của mình trông hấp

dẫn. Nếu con người sống trong cảnh xấu xí thì làm

thế nào họ được hạnh phúc?”

Tôi nghĩ anh không nghiêm túc hoàn toàn, và lí nhí

lời lẽ gì đấy vô nghĩa, nghĩ rằng anh may mắn mà

có quyền thay đổi khung cảnh cho hợp với sở thích

của mình.

Anh tiếp: “Dĩ nhiên là căn phòng càng trở nên hấp

dẫn hơn khi có cô ở đây.”

Dù đã biết cung cách của anh, tôi vẫn cảm thấy hơi

đỏ mặt, nhưng cố giấu diếm bằng cách nhìn những

bệnh nhân khác qua khung cửa sổ, lúc này đang đi

dạo hoặc đang bị nhân viên lôi tuột đi.

Chúng tôi vẩn vơ trò chuyện một lúc, và tôi đoán

5

anh đang cố tìm hiểu tình trạng yếu đuối tinh thần

của tôi và liệu tôi có xu hướng lên cơn bạo lực hay

không. Xem dường anh hài lòng với những gì tôi

nói, bởi vì anh bắt đầu giảng giải về chiếc máy. Về

cơ bản đấy là một chiếc hộp để tạo ra hình ảnh, và

anh nói mình muốn nghiên cứu bệnh nhân. Anh nghĩ

việc này sẽ giúp tìm hiểu thêm về bệnh tâm thần và

cách chữa trị, cho dù tôi không hề hiểu rõ làm thế

nào đạt kết quả này.

Đặc biệt là hình như anh muốn tạo ra hình ảnh của

tôi: “Cô có gương mặt rất thích hợp cho máy chụp

ảnh, sáng sủa và diễn cảm, đấy chính là điều cần

thiết.”Tôi lấy làm vui với ý nghĩ là anh đã đặc

biệt chú ý đến mình, và như thế là sự thay đổi hay

hay so với các công việc hàng ngày. Như tôi đã nói,

6

cuộc sống trong bệnh viện tâm thần là cực kỳ tẻ

nhạt, ngoại trừ các cơn co giật kỳ lạ hoặc hành

động muốn tự tử.

Đôi mắt nhìn xuống bàn, anh giải thích: “Điều tôi

đang suy nghĩ là một loạt những nghiên cứu về, à...

cô, trong những tư thế biểu trưng cho vài điều

kiện tinh thần. À, lấy ví dụ... có triệu chứng mà

chúng tôi gọi là mặc cảm Ophelia( ), được gọi theo

tên của một nhân vật bị ảnh hưởng, trong một vở

kịch nổi tiếng...” Anh nhìn tôi để xem tôi có hiểu

không.

Tôi nói: “Tôi biết câu chuyện này.”

“À, tốt lắm... Thế thì..., cô xem, một minh họa

cho triệu chứng này sẽ là... tư thế đau khổ, với

một vòng hoa trên đầu và đại khái như thế. Cô hiểu

7

ý tôi nói chứ?”

“Tôi nghĩ tôi hiểu.”

“Việc này sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều với một

bài chuyên môn tôi đang viết. Các bức ảnh sẽ minh

họa tiền đề của tôi, đặc biệt đối với những người

chưa bao giờ bước chân đến một bệnh viện tâm thần

và thấy khó mà mường tượng được.”

Tôi gật đầu một cách lễ độ, và khi anh không nói

rõ thêm, tôi hỏi: “Tiền đề của anh là gì?”

Anh có vẻ hơi ngạc nhiên: “À. Tiền đề của tôi là,

à... rằng có một số mẫu hình đối với bệnh tâm thần;

một số dáng vẻ và hoạt động thể chất thường diễn

ra đối với những mẫu hình khác nhau, để chỉ ra tình

trạng tâm thần của họ. Rằng, tuy mỗi bệnh nhân có

tiền sử riêng, họ đều ở trong những nhóm có chung

8

các đặc điểm và dáng vẻ. Và rằng...” anh ngưng lại,

hiển nhiên là đang suy tư “... qua việc nghiên cứu

lặp đi lặp lại và tập trung, chúng ta có thể khám

phá thêm nhiều cách để chữa trị cho những người vô

phúc tội nghiệp này.”

“À.” Tôi nói mà tự hỏi mình - là một trong những

người vô phúc ấy - có những dáng vẻ gì đặc biệt hay

không. Có vài hình ảnh không phù hợp tự hiện ra.

Anh nói tiếp: “Và cô có thể vui lòng dành cho tôi

chút thời giờ để ăn trưa cùng với tôi trong mấy

ngày này, được không?”

Chỉ nghĩ đến việc này là tôi đã phát thèm. Thức ăn

trong bệnh viện tâm thần thì đủ bổ dưỡng nhưng

nhạt nhẽo, khó nuốt và nhàm chán. Tôi nghĩ có một

giả thuyết (có lẽ thậm chí là một tiền đề) cho rằng

9

một vài hương vị có tính kích thích nguy hiểm, nói

ví dụ quá nhiều thịt hoặc quá nhiều mỡ hoặc quá

cay sẽ làm dấy lên tính mẫn cảm tinh tế, gây ra náo

động. Tôi đã thấy vui vì được làm người mẫu, nhưng

chỉ sự hứa hẹn về thức ăn hợp khẩu vị cũng đủ làm

cho tôi xiêu lòng.

“Thế thì,” anh mỉm cười, và tôi nhận ra anh thật

sự bồn chồn, “cô chấp nhận việc này không?”

Tôi cảm thấy băn khoăn vì anh bồn chồn - đối với

tôi? Hoặc đối với điều khả dĩ là tôi sẽ từ chối?

Rồi tôi gật đầu. Có lẽ trọn đời tôi chẳng bao giờ

hiểu được làm thế nào xuất hiện trong các bức ảnh

với vòng hoa trên đầu sẽ chữa được bệnh tâm thần,

nhưng tôi là ai mà lại từ chối?

Hơn nữa, anh là người đẹp trai, tử tế và trẻ

10

trung, trong khi tôi là đứa con gái mồ côi trong

một bệnh viện tâm thần không có người bảo hộ và

không thấy có triển vọng sẽ được xuất viện. Tuy

tình huống này có khác thường đến đâu thì cuộc đời

tôi vẫn không thể nào tệ hại hơn được nữa.

Chuyện diễn ra như thế. Khởi đầu, tôi đến văn

phòng anh khoảng một hoặc hai lần mỗi tháng. Watson

thu thập một số kiểu trang phục và cùng các món

trang trí để tạo ra khung cảnh. Anh bắt đầu với

khung cảnh được gọi là U uất, mà tôi cảm thấy mình

rất phù hợp để diễn tả. Anh sắp đặt một chiếc ghế

bên khung cửa sổ, rồi tôi ngồi với một bộ áo màu ảm

đạm, tay cầm một quyển sách và nhìn xa xăm ra

ngoài như thể - theo cách anh nói - tôi đang mơ đến

người yêu đã mất. Đáng lẽ tôi có thể nói với anh

11

rằng trong đời còn có những nỗi khổ tồi tệ hơn là

mất người yêu, nhưng tôi giữ mồm giữ miệng mà nhìn

ra ngoài khung cửa sổ, lại mơ đến các món thịt rừng

nấu rượu poóc-tô, cà ry gà, và nấm trifle( ) nấu

với nhục đậu khấu.

Bữa ăn trưa có các món ngon lành như tôi đã tưởng

tượng ra. Tôi lo lắng vì mình ăn uống với tất cả vẻ

thanh nhã của một nông nô, và anh mỉm cười nhìn

tôi khi tôi xúc miếng bánh nhân đào và quế lần thứ

hai và thứ ba. Tôi ăn đến căng bụng, không phải vì

thiếu chất trầm trọng, mà chỉ vì từ lâu đã không

được ăn ngon, ăn món cay nồng và ngọt dịu. Lần đầu

tiên trong bốn năm (trừ dịp Giáng sinh) được nếm

lại các món nhiều gia vị cùng phó mát xanh cùng

rượu vang quả là thần tiên. Tôi đã nói như thế, và

12

anh cười lớn, và có vẻ rất vui. Khi anh tiễn tôi ra

cửa văn phòng, anh nắm lấy hai tay tôi và nhìn sâu

vào mắt tôi mà thốt lời cảm ơn.

Như tôi đã đoán trước, tôi được gọi đến văn phòng

anh thường xuyên hơn, và khi chúng tôi đã quen biết

với nhau hơn thì việc ngồi làm mẫu cũng kém nghiêm

túc. Ý tôi nói là dần dà tôi ăn mặc ít đi, rồi đến

lúc tôi ngả người dựa vào đám dương xỉ với một tấm

vải muxơlin mỏng quấn quanh. Tôi nghĩ rằng còn quá

sớm để từ bỏ việc giả vờ đóng góp vào tiến bộ của

y khoa. Watson - hoặc Paul theo tên bây giờ tôi gọi

anh - tiến hành các nghiên cứu theo ý anh thích,

đôi lúc tỏ vẻ như có lỗi, mắt chớp chớp quay đi để

tránh ánh mắt tôi như thể anh bối rối khi yêu cầu

tôi làm những việc như thế.

13

Anh tỏ ra tử tế và chín chắn, quan tâm đến ý kiến

của tôi, trong khi nhiều người đàn anh quen biết

tôi bên ngoài bệnh viện tâm thần đã không quan tâm

như thế. Tôi mến anh, rồi một ngày lúc dùng bữa

xong, tôi cảm thấy hạnh phúc khi anh nắm lấy bàn

tay tôi, run rẩy. Anh dịu dàng, khát khao, tỏ ra sợ

hãi vì sai trái, và mỗi lần chúng tôi gặp nhau anh

đều ngỏ ý xin lỗi vì đã tuân theo bản năng của anh

mà lợi dụng tôi. Tôi không hề bận tâm. Đối với

tôi, đấy là một bí mật tràn đầy xúc cảm, một nỗi

khao khát ngọt ngào, cho dù anh luôn bồn chồn và

hoảng hốt khi chúng tôi thành thân với nhau, một

cách vội vã, sau một bữa ăn trưa thịnh soạn, trong

văn phòng khóa kính cửa.

Và anh tỏa mùi nhà kính, mùi lá cà chua và đất ẩm,

14

mà tôi thấy nồng nồng và thỏa mãn. Cho đến bây

giờ, mỗi khi nhớ về mùi hương ấy là tôi nghĩ đến

bánh nhân trái cây với kem hoặc bít tết trong rượu

cô-nhắc. Thậm chí một đêm nọ, nhiều năm sau, trong

căn lều lạnh lẽo giữa rừng, khi tôi ngửi mùi hương

ấy từ Parker tôi lại nhớ đến món bánh sô cô la đăng

đắng.

Tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ biết được chuyện gì

đã xảy ra. Vì lý do nào đấy, Watson bị thất thế.

Theo tôi được biết thì không phải là do tôi, chắc

chắn là không ai nói ra gì cả, nhưng một buổi sáng

y tá trưởng thông báo BS Watson phải ra đi thình

lình, và trong vòng ít ngày sẽ có người thay thế.

Một ngày anh còn ở đấy, ngày kế đã ra đi. Hẳn anh

đã mang theo chiếc máy cùng các tấm hình. Một vài

15

tấm trông đẹp; những bóng màu tối trên nền kính,

tỏa ánh lung linh như bạc khi tôi nghiêng ra phía

có ánh sáng. Khi cảm thấy u uất - thường khi như

thế bây giờ - tôi tự nhắc nhở rằng anh đã run rẩy

khi chạm đến tôi; rằng có thời tôi đã là niềm hứng

khởi cho ai đó.

Chúng tôi đã đi băng qua vùng bình nguyên trong ba

ngày mà không thấy quang cảnh thay đổi gì cả. Cơn

mưa kéo dài trong hai ngày làm lớp tuyết tan chảy,

khiến cho bước đi trở nên khó khăn. Bùn ngập đến

mắt cá chân, và nếu nói như thế nghe ra chẳng có gì

nhiều thì tôi phải nhấn mạnh là khá tồi tệ. Mỗi

bước chân bị dính theo hàng cân bùn đất, còn chiếc

váy của tôi trĩu nặng vì thấm nước. Vì không bị

nặng nề với váy như phụ nữ, Parker và Moody đi

16

trước cùng với chiếc xe trượt tuyết.

Mưa tạnh vào cuối ngày thứ hai, và khi tôi vừa

thầm cảm ơn bất kỳ đấng linh thiêng nào còn phù hộ

cho mình, thì một đợt gió bắt đầu và vẫn thổi mãi

từ lúc ấy. Gió làm cho mặt đất khô lại và việc đi

đứng được dễ dàng hơn, nhưng nó thổi từ hướng

đông-bắc nên rất lạnh, đến nỗi tôi kinh qua một

hiện tượng mà trước đây mình chỉ nghe nói, đấy là

nước mắt đóng băng ở khóe mắt. Sau một tiếng đồng

hồ, mắt tôi đã đỏ nhừ.

Bây giờ Parker và hai con chó dừng lại để chờ cho

tôi theo kịp. Ông đứng trên một gò nhô lên một tí,

và khi chúng tôi loạng choạng bước đến bên ông, tôi

thấy tại sao ông đứng đợi: cách vài trăm mét phía

trước là cụm tòa nhà - vật thể đầu tiên do con

17

người xây nên mà chúng tôi trông thấy kể từ lúc rời

Himmelvanger.

“Chúng ta đi theo đúng con đường,” Parker nói, tuy

rằng “con đường” là từ ngữ mà tôi thấy không đúng.

Moody đang nhìn qua đôi tròng kính: “Đó là nơi

chốn nào vậy?” Thị lực của anh kém cỏi, càng kém

thêm vì ánh sáng xám lờ mờ xuyên qua trần mây.

“Đó là một thương điếm trước kia.”

Từ đây, tôi nhìn thấy có điều gì đấy không ổn; nó

có tính sát khí của một tòa nhà trong cơn ác mộng.

“Ta nên đến xem. Phòng trường hợp hắn đã đến đây.”

Khi đến gần hơn, tôi nhận biết chuyện gì đã xảy

ra. Thương điếm đã bị đốt trụi; mấy chiếc bè nằm

chỏng chơ nổi bật trên nền trời, mấy cây xà gãy đổ

chĩa lên qua các góc cạnh sai lệch. Những bức tường

18

còn sót lại đều thành than màu đen, và võng xuống.

Nhưng điều kỳ lạ nhất là các cấu trúc gần đây bị

bao phủ trong tuyết tan chảy ban ngày và đông cứng

ban đêm, từng lớp này qua lớp khác nước tan chảy

rồi đông lại nên bộ khung trần trụi phồng to lên và

được băng tráng lớp ngoài. Đấy là một quang cảnh

khác thường: đen đúa, phồng rộp, lóng lánh; các tòa

nhà phủ băng như thể đã bị một sinh vật dị dạng

nuốt chửng. Tôi - và tôi nghĩ cả Moody nữa - cảm

thấy như là một chuyện kinh dị.

Tôi chỉ muốn thoát khỏi nơi này.

Parker đi giữa các bức tường, xem xét mặt đất. Ông

chỉ tay đến một đống không hình thù rõ rệt trên

nền đất ở một góc: “Ai đó đã để lại quần áo.”

Tôi không hỏi ông ai lại làm như thế. Tôi có linh

19

cảm mình không muốn biết.

“Đây là Chỏm Elbow. Bà có nghe nói tới bao giờ

chưa?”Tôi lắc đầu, tin chắc đây là thêm một chuyện

tôi không biết thì tốt hơn.

“Công ty XY đã xây nên nơi này. Công ty Vịnh

Hudson không ưa việc họ xây một thương điếm ở đây,

nên đã đốt rụi nó.”

“Làm thế nào ông biết được?”

Parker nhún vai: “Ai cũng biết. Mấy chuyện như vậy

đã xảy ra.”

Tôi nhìn về hướng Moody, cách tôi gần ba mươi mét,

qua một cánh cửa đã biến mất, mò mẫm giữa một đống

đổ nát mà lúc trước có lẽ là đàn dương cầm.

Tôi nhìn ngoái lại Parker để xem ông có mưu đồ gì

xấu không, nhưng khuôn mặt ông vẫn không biểu lộ

20

cảm xúc gì cả. Ông đã nhặt lên một mảnh vải cứng,

đóng băng và căng nó ra - từng mảnh băng vỡ vụn

phát ra âm thanh phản đối - để cho thấy hình thù

một chiếc áo sơ mi, có lẽ lúc trước là màu xanh lam

nhưng bây giờ đã quá dơ bẩn nên khó mà biết màu

gì. Manh áo đã ngấm nước, lem luốc và để mặc ở đây

cho thối rữa.

Thình lình, tuy muộn màng, tôi nhận ra tầm quan

trọng: “Đấy có phải là máu không?”

“Tôi không biết. Có lẽ vậy.”

Ông sục sạo thêm chung quanh, và thốt lên một

tiếng kêu thỏa mãn. Lần này, chính tôi cũng hiểu

tại sao - có những dấu vết của một đống lửa, đen

đủi và phủ bồ hóng, gần một chân tường.

“Mới đây phải không?”

21

“Cách đây khoảng một tuần. Thế là người của ta đã

đến đây, và nghỉ qua đêm. Nếu không bắt chước hắn

thì ta còn bị tồi tệ hơn nữa.”

“Nghỉ đêm ở đây à? Nhưng còn sớm. Ta nên đi tiếp,

đúng không?”

“Nhìn lên trời xem.”

Tôi nhìn lên; trần mây, bị chia ra thành bốn khung

bởi những cây xà, xuống thấp và xám xịt. Nhuốm màu

trận bão tuyết.

Khi nghe qua dự tính, Moody vẫn tỏ ra lạc quan:

“Nhưng chuyện gì thế - thêm hai ngày để đi tới Nhà

Hanover hay sao? Tôi nghĩ ta nên đi tiếp.”

Parker bình tĩnh trả lời: “Sẽ có cơn bão tuyết. Ta

sẽ vui mà có chỗ trú.”

Tôi có thể thấy đầu óc của Moody quay cuồng: không

22

rõ có nên phản đối hay không hoặc Parker có chịu

nghe anh hay không. Nhưng gió đã thổi đến, và anh

nhụt chí; bầu trời đã trở nên xấu xí và hung hãn.

Dù cho thương điếm bị bỏ phế trông xa lạ và huyền

bí, vẫn còn tốt hơn là không có gì cả.

Theo đó, chúng tôi dựng lều giữa chốn hoang tàn.

Parker dựng nên một chái trú thân rộng dựa vào một

trong các bức tường còn sót lại, rồi gia cố bằng

những thanh gỗ đen đủi. Tôi lo âu vì trông nó vững

chắc hơn là chỗ trú thân tôi thấy ông làm lúc

trước, nhưng vẫn theo chỉ dẫn của ông và đem đồ đạc

từ chiếc xe trượt tuyết xuống. Trong mấy ngày qua,

tôi đã quen dần với những công việc cần thiết cho

tiện nghi và sự sinh tồn; tôi chất thức ăn bên

trong (ông có thật sự nghĩ chúng tôi sẽ bị giam hãm

23

trong nhiều ngày?), trong khi Moody đi kiếm củi -

ít nhất thì đầy dẫy chung quanh - và cậy phiến băng

trên những bức tường để đun nước. Chúng tôi làm

việc nhanh nhẹn vì lo màn đêm buông xuống nhanh và

gió thổi mạnh thêm.

Khi chúng tôi đã xong xuôi các bước chuẩn bị thì

tuyết đang thổi phần phật chung quanh, châm chích

vào mặt như đàn ong. Chúng tôi bò vào chái trú

thân; Parker đốt lửa để đun nước. Moody và tôi ngồi

đối mặt với cửa ra vào đã được giằng với những cây

xà lớn, nhưng những cây xà này bắt đầu ngả nghiêng

như thể có người đang cố chui vào. Trong một tiếng

đồng hồ kế tiếp, gió càng lúc càng mạnh cho đến

lúc mỗi người không thể nghe người khác nói gì. Âm

thanh gầm rú nghe kỳ quái, cùng với tiếng vải bạt

24

đập phành phạch và tiếng các súc gỗ của bức tường

kêu răng rắc nghe kinh khiếp. Tôi không rõ cái chái

trú thân có chịu đựng được hay không, hoặc sẽ đổ

sụp dưới sức mạnh và trọng lượng của tuyết và băng

bên trên. Parker không có vẻ lo lắng, dù tôi dám

đánh cược là Moody cũng sợ hãi như tôi; mắt anh mở

rộng sau tròng kính, và anh luôn giật nẩy người vì

âm thanh chung quanh.

Moody hỏi: “Hai con chó ở bên ngoài ổn chứ?”

“Ổn. Chúng sẽ nằm sát bên nhau mà giữ hơi ấm cho

nhau.”“À. Ý tưởng hay.” Moody cười, nhìn qua tôi,

rồi hạ tầm mắt khi thấy tôi không cười theo làm bạn

đồng hành của anh.

Moody uống trà rồi cởi giày ủng và bít tất ra, cho

thấy bàn chân phủ máu khô. Vào những đêm trước,

25

tôi đã thấy anh tự chăm sóc cho bàn chân, nhưng đêm

nay tôi tỏ ý muốn giúp. Có lẽ đấy là do tôi nghĩ

về Francis, rằng hai người không cách nhau bao

nhiêu tuổi; có lẽ đấy là do cơn bão tuyết bên ngoài

và ý nghĩ rằng tôi cần đến tất cả những người bạn

mình có thể tìm được. Anh ngả người ra và duỗi từng

chân một cho tôi lau và băng bó bằng những dải vải

lanh, vốn là tất cả những gì chúng tôi có. Tay tôi

không được nhẹ nhàng, nhưng anh vẫn im lìm trong

khi tôi lau các vết thương với cồn rồi băng chặt

lại. Qua khóe mắt mình, tôi thấy dường như Parker

đang nhìn hai chúng tôi, dù rằng với làn khói tỏa

từ đống lửa và từ dọc tẩu của ông, tôi không nhìn

rõ và có thể nhìn lầm. Khi tôi đã băng bó xong

xuôi, Moody rút ra cái lọ bẹt trao cho tôi. Đây là

26

lần đầu tiên tôi thấy cái lọ này. Tôi tiếp nhận với

lòng cảm kích; đấy là whisky, không đặc biệt ngon,

nhưng hương vị dịu nồng lan tỏa dọc theo cổ họng

tôi, làm tôi chảy nước mắt. Anh trao cái lọ bẹt cho

Parker nhưng ông chỉ lắc đầu. Bây giờ nghĩ lại,

tôi chưa từng thấy ông chạm đến rượu.

Moody lại mang vào bộ bít tất thấm máu và giày ủng

- nếu để ra ngoài sẽ quá lạnh. “Bà Ross ạ, nếu bà

đi theo được mà chân không bị phồng rộp thì bà hẳn

là một phụ nữ mạnh mẽ của vùng sâu.”

Tôi giải thích: “Tôi mang giày da đanh nên chân

không bị chà xước gây phồng rộp. Anh nên cố mua một

đôi khi chúng ta đến Nhà Hanover.”

“À. Vâng.” Anh quay sang Parker: “Ông Parker, ông

nghĩ chừng nào chúng ta sẽ tới đó? Tối nay cơn bão

27

tuyết này sẽ dứt không?”

Parker nhún vai: “Có thể. Nhưng dù vậy, tuyết sẽ

làm ta khó đi hơn. Có lẽ phải mất hai ngày.”

“Ông đã tới đó chưa?”

“Đã lâu rồi.”

“Có vẻ như ông rành đường đi.”

“Đúng.”

Có một khoảnh khắc im lặng, kém thân thiện. Tôi

không hiểu tại sao có sự kém thân thiện, nhưng tôi

biết chắc là có.

Moody hỏi tiếp: “Ông quen biết quản trị viên ở đó

không?”“Họ ông ấy là Stewart.”

Tôi nhận ra ông đã không trả lời chính xác câu

hỏi.“Stewart... Ông biết tên không?”

“James Stewart.”

28

“À, tôi không rõ có phải là cùng một người

không... Gần đây tôi đã nghe câu chuyện về một

người tên James Stewart, nổi tiếng vì đã có một

chuyến đi đường dài trong điều kiện mùa đông kinh

khủng. Tôi tin đó là cả một kỳ công.”

Như lúc nào, vẻ mặt của Parker vẫn không biểu lộ

cảm xúc: “Tôi không nói chắc được.”

“À... ra thế.” Giọng Moody nghe như anh rất lấy

làm vui. Tôi đoán nếu người ta không quen biết ai ở

vùng này, sau khi nghe nói về một người nào đấy

trước khi gặp mặt thì cũng giống như có một người

bạn cũ.

Tôi hỏi Parker: “Thế thì ông quen biết ông ấy,

phải không?”

Ông nhìn qua tôi: “Tôi gặp ông ấy khi làm việc cho

29

Công ty. Nhiều năm về trước.”

Giọng nói của ông nghe như ông không muốn tôi hỏi

han thêm.

Dĩ nhiên là Moody không nhận ra: “Tốt, tốt, hẳn sẽ

là rất hay... Một cuộc tái hợp.”

Tôi mỉm cười. Nơi Moody có vẻ gì đấy dễ mến, dễ

quậy tưng như con bò đực trong một cửa hàng đồ

sứ... Rồi tôi nhớ lại việc mà anh đang cố làm, và

nụ cười của tôi lịm tắt.

Tuyết vẫn rơi không ngớt, và cơn gió cuồng nộ cũng

thế. Theo sự đồng lòng không ai nói ra, tấm bạt

không được chắn thành bức màn nên không tạo được

cho tôi khoảng riêng tư. Tôi nằm xuống giữa hai

người đàn ông, cuộn mình giữa các lớp chăn, cảm

thấy hơi nóng từ than hồng làm rát da mặt nhưng

30

không muốn cử động. Rồi Moody nằm xuống bên tôi, và

cuối cùng Parker dập tắt đống lửa và cũng nằm

xuống, thật gần đến nỗi tôi cảm nhận được ông và

ngửi được mùi hương của nhà kính mà ông mang theo.

Không gian tối như mực, nhưng tôi nghĩ mình sẽ

không nhắm mắt suốt đêm, trong khi gió vẫn gầm rú

và đập vào vải bạt phành phạch lung lay như là có

sự sống. Tôi có cảm giác kinh hãi là chúng tôi sẽ

bị chôn vùi dưới tuyết, hoặc các bức tường sẽ đổ ụp

xuống và đè chúng tôi bên dưới; tôi tưởng tượng ra

mọi số phận khủng khiếp khi nằm với quả tim đập

thình thịch và đôi mắt căng mở. Nhưng hẳn tôi đã

thiếp ngủ, bởi vì tôi có giấc mơ, cho dù tôi không

nghĩ mình đã nằm mơ trong nhiều tuần.

Thình lình tôi thức giấc mà thấy - tôi nghĩ thế -

31

căn lều đã biến mất. Gió đang gào thét như có hàng

nghìn tử thần( ) vây quanh, và không gian dày đặc

tuyết, làm cho tôi hoa mắt. Tôi nghĩ mình đã thét

lên, nhưng âm thanh không thoát ra giữa cơn cuồng

nộ. Parker và Moody đang quỳ gối, đang cố khép lại

cửa căn lều bị gió thổi tốc ra. Cuối cùng họ giằng

lại được tấm bạt, nhưng tuyết đã rơi vào thành từng

cụm nhỏ bên trong căn lều. Tuyết rơi lên trang

phục và trong tóc chúng tôi. Moody thắp đèn lên;

anh đang run bắn. Ngay cả Parker cũng không được

bình thản như thường ngày.

Moody lắc đầu và phủi lớp tuyết khỏi hai chân:

“Này, tôi không rõ hai vị sẽ làm gì, nhưng tôi cần

uống một thứ gì đó.”

Anh rút ra cái lọ bẹt, nốc một hớp rồi trao cho

32

tôi. Tôi trao lại cho Parker; ông này lưỡng lự rồi

nhận lấy. Moody mỉm cười như thể cảm nhận một chiến

thắng cá nhân. Parker nhóm lửa để pha trà, và ba

chúng tôi đều lấy làm cảm kích, quây quần chung

quanh với những ngón tay nóng rát. Tôi đang run

rẩy, mặc dù không biết vì lạnh hoặc vì bị sốc, và

vẫn còn run cho đến khi tôi hớp một ngụm trà pha

đường. Tôi nhìn hai người đàn ông hút dọc tẩu mà

ghen tị; đấy là một thứ khác tạo cảm giác ấm áp và

xoa dịu, cũng như một miếng gỗ hồng sắc dùng để

chèn đôi hàm răng tôi đang đánh lập cập( ).

Khi whisky đã cạn, Moody nói: “Tuyết rơi dày ngoài

kia.”

Parker gật đầu: “Tuyết ngoài kia càng dầy thì

trong này càng ấm.”

33

Tôi nói: “Quả là một ý nghĩ hay. Ta sẽ ấm và thoải

mái trong khi bị ngộp thở cho đến chết.”

Parker mỉm cười: “Ta có thể dễ dàng đào bới để

thoát ra ngoài.”

Tôi mỉm cười lại với Parker, ngạc nhiên khi thấy

ông dễ chịu đến thế, rồi tôi nhớ lại giấc mơ trước

khi mình thức giấc, và tôi giấu mặt sau tách nước

trà. Không phải là tôi nhớ chính xác mình đã mơ

thấy gì; chỉ là cảm giác nồng ấm lan tỏa trong tôi

khiến cho tôi quay mặt đi, giả vờ ho, hầu hai người

không nhận ra đôi má tôi đang đỏ bừng.

Gần giữa trưa, cơn bão tuyết dịu hẳn. Khi tôi thức

dậy lần nữa, trời đã sáng, có thêm tuyết dạt vào

các góc căn lều và lấp đầy các khoảng trống giữa ba

chúng tôi. Khi tôi ra khỏi lều, trời vẫn nổi gió

34

và xám xịt, nhưng trông huy hoàng so với đêm qua.

Cái lều bị vùi lấp phân nửa dưới lớp tuyết dày một

mét; toàn quang cảnh trông khác hẳn dưới lớp tuyết:

đẹp đẽ hơn, không có vẻ báo trước điềm gở như tối

qua. Phải mất vài phút tôi mới nhận ra rằng, cho dù

Parker đã trấn an, quả thật một phần bức tường đã

sụp đổ trong đêm, tuy không gây nguy hiểm cho chúng

tôi. Tôi cố không nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra nếu

chúng tôi giăng lều cách sáu, bảy mét về phía

đông. Chúng tôi đã không làm thế, đấy là điều cốt

yếu.

Ban đầu, tôi e sợ hai con chó đã bị chôn thây; khi

nhìn quanh tôi không thấy dấu hiệu gì của chúng,

trong khi ngày thường chúng thường sủa đòi ăn. Rồi

không biết từ đâu Parker xuất hiện với một cây gậy

35

dài chọc xuống lớp tuyết, gọi hai con chó với tiếng

kêu sắc lẻm lạ lùng mà ông dùng để thông tin với

chúng. Thình lình trông như có một vụ nổ gần ông,

rồi con Sisco phóng lên từ đống tuyết, theo sau là

con Lucie. Chúng nhảy đến ông, sủa mãnh liệt, cả

thân hình vẫy qua lại, rồi ông vuốt ve chúng. Hẳn

ông thấy nhẹ nhõm mà tìm ra hai con chó; bình

thường ông chẳng hề chạm đến chúng, nhưng bây giờ

ông mỉm cười, thật sự tỏ ra vui mừng. Tôi chưa hề

thấy ông mỉm cười với tôi như thế. Hoặc dĩ nhiên là

với ai thì cũng thế.

Tôi đi đến chỗ Moody đang vụng về thu nhặt các món

trong lều: “Để tôi làm cho.”

“À, Bà Ross muốn làm hả? Cảm ơn. Bà làm cho tôi

xấu hổ. Sáng nay bà cảm thấy thế nào?”

36

“Nhẹ nhõm, cảm ơn anh đã hỏi thăm.”

“Tôi cũng vậy. Quả là một đêm lý thú, phải không?”

Anh mỉm cười, trông gần như láu lỉnh. Sáng nay anh

cũng có vẻ sảng khoái. Có lẽ đêm qua mỗi người

trong chúng tôi đều sợ hãi hơn là mình muốn nhìn

nhận.Rồi sau đấy, khi chúng tôi tiếp tục đi về

hướng đông-bắc, ngay cả khi loạng choạng bước trên

lớp tuyết dày cả mét, ba người đi gần nhau hơn,

Parker điều chỉnh nhịp bước theo hai chúng tôi, như

thể chúng tôi là ba người tìm thấy niềm an ủi khi

đi bên nhau.

***

Espen lên tiếng một cách khẩn trương: “Line à, tôi

cần nói chuyện với em.”

Line cố kiềm chế cảm giác quay cuồng trong tim khi

37

nghe anh gọi tên cô. Trong vài ngày qua, hai người

đã không trao đổi với nhau lời nào.

“Cái gì? Em nghĩ vợ anh đang nghi ngờ lắm đó.”

Đôi mắt anh toát vẻ van nài khiến cho cô hầu như

bật khóc vì vui mừng.

“Tôi không chịu nổi. Nhiều ngày qua thậm chí em

còn không nhìn tôi.”

Line buông xuôi và mỉm cười. Rồi anh ôm lấy cô, ép

sát người cô vào anh, hôn lên mặt cô, môi cô, cổ

cô. Rồi anh kéo cô đi theo mình, mở một cánh cửa

dẫn vào một phòng chứa vật dụng lau chùi, và đóng

cánh cửa lại.

Vật lộn với trang phục trong không gian tối tăm

của gian nhà kho, ép người vào chồng xà phòng và

cái gì đó như là cây chổi, Line có ảo giác dằn xóc,

38

rời rạc. Đấy như thể là vì không có ánh sáng nên

họ được miễn tội. Thậm chí cô không thể nói ai đang

ở đây với mình. Hẳn anh cũng cảm thấy thế - họ có

thể là bất kỳ phụ nữ nào và đàn ông nào, ở bất kỳ

nơi nào. Chẳng hạn như Toronto. Và rồi cô biết mình

sẽ làm gì.

Line cố tách đôi môi ra khỏi làn da anh để nói:

“Em không thể ở đây. Em sắp ra đi. Ngay lúc có thể

được.”Espen lùi lại. Cô có thể nghe tiếng anh thở,

nhưng không thể nhìn khuôn mặt anh trong bóng tối

này.“Đừng, Line à, tôi không chịu nổi nếu không có

em. Chúng ta có thể cẩn trọng. Không ai biết

được.”Line cảm nhận cuộn giấy bạc trong túi, và

đầu óc tràn ngập với quyền lực của nó: “Em có

tiền.”“Ý em nói gì, em có tiền?”

39

Trước khi đến để hành nghề xây dựng ở Himmelvanger

rồi lưu lại, Espen chưa từng có tiền trong đời,

luôn sống theo cách tay làm hàm nhai.

Line mỉm cười trong bí mật: “Em có bốn mươi đô la.

Đô la Mỹ.”

“Cái gì?”

“Chỉ có anh biết chuyện này.”

“Làm thế nào em có được?”

“Đó là một bí mật!”

Khuôn mặt Espen thoát ra nụ cười với vẻ hồ nghi.

Theo cách nào đó, cô nhận ra. Cô có thể cảm nhận

anh run rẩy khi cười.

“Chúng ta có thể cưỡi hai con ngựa. Chỉ cần mất ba

ngày là đến Caulfield, chúng ta có thể mặc tất cả

quần áo và dẫn các đứa trẻ đi theo. Rồi ta có thể

40

đáp tàu hơi nước đi Toronto... hoặc Chicago. Đi đâu

cũng được. Em có đủ tiền để kiếm một căn nhà trong

khi ta đi tìm việc.”

Giọng Espen nghe ra có phần hoảng hốt: “Nhưng Line

à, bây giờ là giữa mùa đông. Nếu chờ cho đến mùa

xuân thì tốt hơn - còn các đứa trẻ thì sao?”

Line cảm thấy một thoáng thiếu kiên nhẫn: “Tuyết

không rơi - thật ra là trời đang ấm áp! Anh muốn

chờ đợi để làm gì?”

Espen thở dài: “Hơn nữa, khi em nói ‘các đứa trẻ’,

em có ý nói Torbin và Anna, phải không?”

Line đã trông chờ điều này. Tất cả thật sự là do

lỗi của Merete. Ước gì cô ấy chết đi. Cô này chẳng

làm được gì và không ai ưa cô; thậm chí Per cũng

không mến trong khi ông mến mọi người khác.

41

“Anh yêu à, em biết là khó khăn, nhưng ta không

thể dẫn theo tất cả bọn trẻ. Có lẽ sau này, khi ta

có nhà, anh có thể trở về mà đón chúng, nhé?”

Trong thâm tâm, cô tin việc này khó xảy ra. Cô

không tưởng tượng được là Merete - hoặc ngay cả Per

- lại để Espen dẫn đi các đứa trẻ để sống với đứa

lăng loàn. Nhưng Espen yêu mến ba đứa con của anh.

“Chẳng bao lâu nữa, chúng ta có thể sống với nhau.

Nhưng bây giờ... em phải đi bây giờ. Em không thể

ở đây.”

“Tại sao phải vội như vậy?”

Đây là con bài át chủ của Line, mà cô khôn khéo

khai thác: “À, em hầu như chắc... không, em tin

chắc là em đang chuẩn bị cho một gia đình.”

Một khoảnh khắc im lặng bao trùm. Line thầm nghĩ

42

anh hẳn phải biết sự việc xảy ra như thế nào.

“Tại sao lại thế được? Chúng ta đã cẩn thận!”

“À... không phải lúc nào chúng ta cũng cẩn thận.”

Anh chẳng cẩn thận gì cả - cô nghĩ đáng lẽ chuyện

này đã xảy ra sớm hơn nếu anh cứ muốn làm theo ý

mình. “Anh Espen à, anh không giận em chứ?”

“Không. Tôi yêu em. Chỉ có điều...”

“Em biết. Nhưng chính vì thế mà em không thể chờ

cho đến mùa xuân. Chẳng bao lâu người ta sẽ biết

được. Đây này...” Cô cầm lấy bàn tay anh rồi luồn

dưới eo mình.

“Ôi, Line...”

“Thế thì chúng ta phải đi, đúng không, trước khi

tuyết rơi trở lại? Kẻo không...”

Kẻo không, hai người không dám nghĩ đến hậu quả sẽ

43

ra sao.

Chiều hôm ấy, Line đi vào phòng anh con trai. Cô

chờ cho đến khi Jacob đi ra ngoài và khuất bóng

trong khu chuồng gia súc, rồi cô bước vào. Chiếc

chìa khóa ở phía ngoài cánh cửa - bây giờ khi Moody

đã đi, không ai xem nghiêm túc việc khóa cửa.

Francis ngạc nhiên nhìn lên khi cô bước vào. Từ

lúc mẹ anh đi - ngày cô hôn anh và anh trao tiền

cho cô - cô chưa từng trở lại đây một mình. Máu cô

vẫn dồn lên mặt mỗi khi cô nghĩ về chuyện này.

Francis vẫn mặc bộ quần áo của mình và đang ngồi

trên chiếc ghế gần cửa sổ. Anh đang cầm một mảnh gỗ

và một con dao - đang gọt đẽo món gì đó. Line giật

nảy mình - cô đã hình dung anh vẫn phải cần nằm

trên giường, yếu ớt và xanh xao.

44

Trước khi có thể dừng lại, cô nói: “À, anh đang

thức.”“Vâng, tôi khỏe lên nhiều rồi. Ngay cả Jacob

cũng tin tưởng tôi mà đưa con dao anh ấy cho tôi.”

Anh cầm con dao ra dấu, và mỉm cười với cô: “Cô

được an toàn.”

“Bây giờ anh đi được chưa?”

“Tôi có thể đi đứng, với cây nạng.”

“Thế thì tốt.”

Anh ra vẻ lo lắng: “Cô ổn không? Ý tôi nói, mọi

việc ổn không, bên ngoài cánh cửa đó?”

“Vâng... tức là, không, không hẳn vậy. Tôi đến để

yêu cầu anh một việc - Tôi cần anh giúp. Về chuyến

đi của anh từ Caulfield... Anh hứa không tiết lộ gì

nhé? Ngay cả đối với Jacob?”

Anh ngạc nhiên nhìn cô chăm chăm: “Vâng, được

45

rồi.”“Tôi chuẩn bị ra đi. Tôi phải đi bây giờ,

trước khi tuyết lại rơi. Chúng tôi định mang theo

ngựa và đi về hướng nam. Tôi cần anh chỉ đường.”

Francis ra vẻ kinh ngạc: “Đường đi Caulfield hả?”

Cô gật đầu.

“Nhưng nếu tuyết rơi khi cô đang trên đường đi thì

sao?”

“Mẹ anh đã đi được. Trong tuyết. Cưỡi ngựa thì còn

dễ hơn.”

“Ý cô nói cô và hai đứa trẻ phải không?”

“Đúng.”

Cô ngẩng đầu, cảm thấy máu dồn lên cổ rồi lan đến

tận chân tóc. Francis quay người, tìm chỗ đâu đó để

đặt mảnh gỗ và con dao xuống. Trong khi rút ra cây

viết chì và tờ giấy mang theo người, cô nghĩ: bây

46

giờ mình lại xấu hổ. Mặc kệ, có chuyện chẳng đặng

đừng. Xem chừng anh sẽ chẳng ghen tức.

***

Vị quan tòa từ St Pierre ngồi đối diện với Knox

trong phòng ngủ-kiêm-nhà giam và thở dài. Ông là

người béo lùn, trọng tuổi, ít nhất bảy mươi, với

đôi mắt trắng đục như sữa phía sau thấu kính thạch

anh xem chừng quá nặng nề đối với sống mũi gầy yếu.

“Theo cách tôi hiểu đúng ý của ông, thì ông đã nói

ông ‘không thể đồng ý với cách thức tàn bạo của

Mackinley khi cưỡng bách lời khai của William

Parker’, nên ông đã phóng thích ông ấy.”

“Chúng tôi không có cơ sở để giam ông ấy.”

“Nhưng ông Mackinley nói ông ấy không khai ra được

47

đã ở đâu trong thời gian đang có nghi vấn.”

“Ông ấy có khai ra. Không có ai xác nhận cho ông

ấy, nhưng đối với người làm nghề đặt bẫy thì không

có gì là lạ.”

“Hơn nữa, ông Mackinley nói rằng tù nhân tấn công

ông ấy. Còn vết thương của tù nhân là do hành động

tự vệ mà có.”

“Ông Mackinley không bị một vết trầy sướt nào, và

nếu bị tấn công thì ông ấy hẳn đã kể cho mọi người.

Tôi đã nhìn thấy tù nhân. Đó là sự tấn công đầy ác

ý. Tôi biết tù nhân khai sự thật.”

“Hừm. Tôi có nghe qua một người tên William

Parker. Có lẽ ông đã biết rằng chính người tên

William Parker đã có hồ sơ liên quan đến việc hành

hung nhân viên của Công ty Vịnh Hudson chứ?”

48

Knox nghĩ: Ôi, không.

Vị quan tòa từ St Pierre nói tiếp: “Chuyện đó xảy

ra đã khá lâu rồi, nhưng ông ta là nghi can của một

vụ tấn công khá nghiêm trọng. Ông thấy đó, nếu ông

chỉ cần chờ thêm một thời gian ngắn thì mọi việc

hẳn đã sáng tỏ.”

Knox đáp: “Tôi vẫn không tin ông ấy là thủ phạm mà

chúng tôi đang truy tầm. Chỉ vì một người đã làm

việc gì đó sai trái - một thời gian trước - không

có nghĩa là ông ta sẽ làm thêm việc sai trái.”

“Đúng vậy. Nhưng nếu bản chất người đó là hung

hãn, thì xu hướng đó có thể bùng lên lần nữa và lần

nữa. Cùng một người không thể hung hãn và rồi hiền

lành.”

“Tôi không chắc mình đồng ý với ông ở điểm này.

49

Đặc biệt là nếu hành động hung hãn xảy ra lúc người

ta còn trẻ.”

“Đúng. Được rồi. Còn có nghi can nào khác đang tự

do không?”

“Tôi không muốn mình phải nói ra theo cách đó. Tôi

đã phái hai người đi theo dõi một anh trai trẻ mất

tung tích gần thời điểm đó. Họ chưa trở về.”

Ông tự hỏi: Và họ đang ở nơi chốn chết tiệt nào?

Đã gần hai tuần lễ rồi.

“Tôi được biết bà mẹ của anh ấy cũng mất tung

tích?”Knox đáp: “Bà ấy đi tìm đứa con trai mình.”

“À ra thế.” Ông tháo ra gọng kính vốn đã hằn thành

vệt đỏ trên sống mũi ông, rồi dùng ngón tay chà

sát. Ánh mắt của ông chiếu đến Knox rõ ràng muốn

nói: “Quả thực ông đã gây rối rắm cho cái thị trấn

50

này.”

“Ông định làm gì với tôi?”

Vị quan tòa từ St Pierre lắc đầu: “Vụ việc này quả

thực rất bất thường.” Đầu ông vẫn tiếp tục lắc

khẽ, như thể một khi đã bắt đầu thì đó là chuyển

động vĩnh cửu: “Bất thường nhất, rất khó mà biết

tôi phải suy nghĩ ra sao, Ông Knox ạ. Nhưng tôi

nghĩ, trước mắt, tôi có thể tin tưởng ông mà cho

ông về nhà. Miễn là ông không - hà hà - rời khỏi

nước.”

“Hà hà. Không. Tôi sẽ không làm chuyện đó.”

Knox đứng lên, không muốn mỉm cười lại với nụ cười

khô khan của người kia. Ông nhìn ra rằng mình cao

hơn người kia cả một cái đầu.

Đã được tự do, Knox cảm thấy kỳ lạ là mình không

51

muốn về nhà vội. Ông dừng lại rồi theo sự thôi thúc

mà gõ cửa phòng của Sturrock. Sau một giây, cánh

cửa mở ra.

“Ông Knox! Tôi vui mừng thấy ông lại được tự do -

Tôi đoán vậy, hay là ông đã trốn thoát?”

“Không. Tôi được tự do, ít nhất là vào lúc này.

Tôi có cảm tưởng như mình là một con người mới.”

Dù cho đang mỉm cười và giọng điệu ra vẻ khôi hài,

ông không chắc Sturrock nhận ra là mình đang đùa

cợt. Ông chưa bao giờ thành công nhiều trong việc

đùa cợt - ngay cả lúc còn trẻ - mà ông nghĩ là do

điều gì đó liên hệ tới phong thái thâm trầm của

mình. Khi còn là một luật sư trẻ tuổi, ông đã nhận

ra rằng cảm xúc mà ông thường tạo cho người ta là

nỗi hoảng hốt và mặc cảm phạm tội, như thể ông đã

52

ra đòn phủ đầu. Việc này cũng có tác dụng của nó.

“Vào đây”. Sturrock đưa ông vào bên trong như thể

Knox là người mà ông muốn gặp nhất trên đời.

Knox tự cho phép mình tự mãn về thái độ này, và

đón nhận một ly whisky: “Này, chúc sức khỏe!”

“Chúc sức khỏe! Tôi xin lỗi đây không phải là rượu

mạch nha, nhưng dù sao ta đã ở đây... Bây giờ xin

cho tôi biết, ông thấy một đêm trong nhà giam là

như thế nào?”

“À...”

“Tôi ước gì có thể nói rằng mình chưa từng kinh

qua, nhưng buồn thay, không đúng. Cách đây lâu rồi,

ở Illinois. Nhưng vì phần đông mọi người đều là

tội phạm ở dưới đó, nên tôi có nhiều bạn tốt...”

Hai người trò chuyện một lúc, mỗi người đều thoải

53

mái với người kia. Chai rượu vơi dần khi khung cửa

sổ tối đen. Knox nhìn lên bầu trời và có thể nhận

ra trên các mái nhà là màu đen nặng trĩu, báo hiệu

thời tiết sẽ xấu thêm. Phía dưới, một bóng người

vội vã bước ngang con đường vào cửa hiệu bên dưới.

Ông không nhìn ra đó là ai. Ông nghĩ có lẽ tuyết sẽ

rơi nữa.

“Thế thì ông vẫn lưu lại đây, chờ cho anh con trai

trở về phải không?”

“Vâng, tôi nghĩ vậy.”

Một khoảnh khắc im lặng kéo dài; whisky đã cạn. Cả

hai đang nghĩ đến cùng một việc.

“Ông sẽ phải làm giàu cho cái quán này bằng... tấm

thẻ xương.”

Sturrock nhìn xéo qua ông, một ánh mắt đầy suy

54

tính: “Tôi nghĩ phải như vậy.”

***

Vào buổi tối ngày thứ sáu, lần đầu tiên họ nhìn

thấy đích đến. Donald bước lê theo sau - ngay cả Bà

Ross có thể đi nhanh hơn anh vì chân anh bị phồng

rộp. Không thể nào bỏ rơi đôi giày ủng gây cực

hình, nhưng ngay cả với cái chân đã hoàn toàn được

băng bó kín, mỗi bước là một cơn đau cực độ. Hơn

nữa, vết thương bị dao đâm lại đau nhức, mà anh giữ

bí mật đối với hai người kia. Ngày hôm qua, anh

tin rằng vết sẹo sưng tấy trở lại, và lấy lý do

dừng bước để lo chuyện riêng tư anh cởi nút áo để

xem xét. Vết sẹo vẫn kín, nhưng sưng nhẹ và rỉ ra

một ít chất dịch trong. Anh lo lắng sờ để xem chất

dịch tiết ra từ đâu. Có lẽ cuộc hành trình đầy gian

55

khổ đã làm cho anh mất sức; khi họ dừng lại nó sẽ

phục hồi.

Vì thế, anh vui mừng tột độ khi nhận ra thương

điếm từ đàng xa - mà trong những thời khắc bị đau

đớn anh nghĩ nó không hiện hữu. Vào lúc này, Donald

nghĩ không có gì vinh quang cho bằng được nằm trên

một chiếc giường trong một thời gian dài. Anh vui

mừng nhớ lại rằng bí mật của hạnh phúc là sự biến

đổi giống như sau một hồi đập đầu vào tường rồi

dừng lại.

Nhà Hanover nhằm trên một khu đất cao; một con

sông chảy vòng bao bọc ba phía. Có cây cối túm tụm

nhau phía sau, là cây cối đầu tiên mà họ nhìn thấy

sau nhiều ngày - những cây cáng lò uốn cong, còi

cọc và những cây thông rụng lá, tuy chỉ cao hơn đầu

56

người một chút nhưng vẫn là cây. Con sông trải

rộng và lặng lờ nhưng không bị đóng băng - nhiệt độ

chưa xuống thấp lắm - và mang màu đen trên nền

tuyết trắng. Khi họ tiến đến khá gần mà vẫn chưa

thấy một bóng người, Donald cảm nhận mối sợ hãi dai

dẳng là ở đây chẳng có người nào cả.

Thương điếm được xây dựng theo cách thức như Pháo

đài Edgar nhưng rõ ràng là cũ kỹ hơn. Hàng cọc

tường thành nghiêng ngả; các tòa nhà màu xám và xác

xơ qua những đợt tấn công dồn dập của thời tiết.

Nói chung, tất cả đều đã sờn mòn, cho dù đã có nỗ

lực để phục hồi nhưng bộ mặt bên ngoài vẫn nói lên

sự bỏ phế. Donald mơ hồ nhận ra lý do cho tình

trạng này. Bây giờ họ đang ở sâu trong vùng Nền đá

Canada phía nam Vịnh Hudson. Có một thời, vùng này

57

là nguồn phong phú của lông thú cho Công ty, nhưng

lúc ấy đã lâu lắm rồi. Nhà Hanover là phế tích của

những vinh quang ngày xưa, giống như một cơ quan đã

teo lại trên một thân thể. Nhưng bên ngoài tường

thành và chĩa ra phía bình nguyên là một vòng những

khẩu đại bác nhỏ, và sau đợt bão tuyết có người

nào đó đã chịu khó đi ra bên ngoài và quét dọn lớp

tuyết khỏi các khẩu súng này. Những hình thù màu

đen ngồi xổm, tương phản với tuyết, là dấu hiệu duy

nhất cho thấy hoạt động của con người.

Cánh cổng của tường thành khép hờ, và có những dấu

vết do con người để lại đây đó. Dù ba người và

chiếc xe trượt tuyết đã hiện rõ trên nền tuyết

trong ít nhất một giờ, vẫn không có ai ra đón tiếp.

58

“Nơi này trông hoang vắng.” Donald nhận xét, mắt

nhìn qua Parker để chờ xác định. Parker không trả

lời, nhưng đẩy cánh cửa, và chỉ đẩy được dăm bảy

phân thì cánh cửa bị kẹt do sức nặng của lớp tuyết

phía sau. Khoảnh sân bên trong không được quét

tuyết - là cái tội nặng ở Pháo đài Edgar.

“Ông có chắc đúng là nơi đây không?” Donald hỏi,

và rồi thấy mình khó mà chống lại thân người mình

ngã xuống để anh cởi đôi giày ủng ra. Anh không thể

chịu nổi cơn đau thêm một thời khắc nào nữa.

Parker trả lời: “Đúng.”

Donald nhìn quanh khoảnh sân hoang vu: “Có lẽ nó

đã bị bỏ hoang.”

“Không, không bị bỏ hoang.” Parker nhìn qua một

cuộn khói mỏng tỏa lên từ phía sau một nhà kho

59

thấp. Cuộn khói có cùng màu như bầu trời. Donald cố

vươn mình lên trên đôi chân - một nỗ lực siêu

nhiên - và lảo đảo đi vài mét.

Rồi một người đàn ông bước quanh góc một ngôi nhà

và đứng sững lại: một người cao lớn, da sẫm với đôi

vai mạnh mẽ và mái tóc dài, trông hoang dại. Dù

cho cơn gió lạnh băng, anh chỉ mặc một chiếc áo lót

bằng vải bông mềm mở ra đến thắt lưng. Anh ta đăm

đăm nhìn họ, miệng há hốc, lộ vẻ khó hiểu, thân

hình rộng chùng xuống và tê cóng vì lạnh. Bà Ross

trân trối nhìn như thể trông thấy một hồn ma.

Parker bắt đầu giải thích với anh rằng họ từ xa

đến, rằng Donald là nhân viên Công ty, nhưng trước

khi ông nói dứt, anh ta quay người đi trở lại theo

lối anh đã đến. Parker nhìn Bà Ross và nhún vai.

60

Donald nghe bà thì thầm: “Tôi nghĩ anh ta đã say,”

và mỉm cười chán nản với chính mình. Rõ ràng là bà

không có kinh nghiệm giết thời gian trong mùa đông

ở một thương điếm tĩnh lặng.

Bà Ross hỏi: “Ta có nên đi theo anh ấy không?”

Cũng như mọi lần, bà có ý hỏi Parker, nhưng Donald

lê bước tới, chân anh tê cóng nhưng thời may không

còn đau nữa.

Đây là thương điếm của Công ty, vì thế anh cảm

thấy bây giờ mình nên lấy quyền dẫn dắt: “Tôi tin

chắc sẽ có ai đó đi ra trong một phút. Bà Ross biết

không, ở một thương điếm trong mùa đông, đặc biệt

là thương điếm bị cô lập như thế này, nhân viên tìm

mọi cách để được khuây khỏa mà giết thời giờ.”

Hai con chó vẫn còn ở bên ngoài cánh cổng, bây giờ

61

đang sủa và vẫy vùng mãnh liệt. Có vẻ như chúng

không thích đứng yên mà không cắn nhau. Như bây

giờ, hình như chúng đang cố giết nhau. Parker quay

lại la thét với chúng, cầm cây gậy quật chúng; một

chiến thuật trông không hay ho gì nhưng có hiệu

quả.

Sau ít phút, có tiếng bước chân trên mặt tuyết và

một người đàn ông khác đi vòng quanh góc tòa nhà.

Donald nhẹ nhõm thấy đó là người da trắng, có lẽ

lớn hơn anh vài tuổi, với gương mặt nhợt nhạt, âu

lo, và mái tóc hoe đỏ bù xù. Anh này lộ vẻ bị làm

phiền hà nhưng tỉnh táo.

Anh ta cáu kỉnh cất tiếng: “Trời ơi! Như vậy đúng

là...”“Xin chào!” Donald càng vui hơn khi nghe ngữ

âm Scotland.

62

Người đàn ông trấn tĩnh lại phần nào: “À... xin

chào. Tôi xin lỗi, đã lâu lắm rồi chúng tôi mới có

khách, mà lại trong mùa đông... bất thường. Tôi đã

quên cách cư xử...”

Donald chìa bàn tay ra, lắc lư: “Donal Moody, kế

toán Công ty ở Pháo đài Edgar.”

“À, Ông Moody. Ờ... Nesbit. Frank Nesbit, phó quản

trị viên.”

Trong khoảnh khắc, Donald hoang mang vì cụm từ

“phó quản trị viên”, vì đó là chức danh anh chưa

từng nghe nói đến, nhưng anh vẫn nhớ mình nên tỏ ra

bay bướm đối với Bà Ross: “Xin giới thiệu đây là

Bà Ross, và đây là...” Parker đã quay lại, trông có

vẻ đe dọa khi cầm cây gậy trên tay “...à, Parker,

người đã dẫn đường cho chúng tôi đến đây.”

63

Nesbit bắt tay với họ, rồi nhìn xuống chân của

Donald, lấy làm kinh hãi: “Trời ơi, chân anh... anh

không có giày ủng sao?”

“Có chứ, nhưng tôi bị khó chịu nên đã cởi ra, đằng

kia... không có chi đâu, thật mà. Chỉ là mấy bong

bóng nước, anh biết đó.”

Donald cảm thấy cảm giác như đầu nhẹ tênh dễ chịu,

và tự hỏi liệu mình sắp ngã xuống hay không.

Nesbit không có vẻ vội vàng đưa họ vào bên trong,

tuy trời đã tối và lạnh thêm. Anh có vẻ như lo lắng

và luống cuống, tự hỏi có nên cho họ ở trong nhà

khách đã bị bỏ hoang, hoặc chính anh phải ra khỏi

khu nhà của mình để nhường cho họ.... Cuối cùng,

sau khi đã giao động trong khoảng thời gian mà đối

với Donald như cả hàng giờ vì cái chân đã mất cảm

64

giác, Nesbit dẫn họ vòng qua góc tòa nhà, đi dọc

một hành lang không ánh sáng rồi mở ra cánh cửa của

một gian phòng rộng, không được sưởi ấm.

“Có lẽ xin quý vị vui lòng chờ ở đây trong chốc

lát. Tôi sẽ đi tìm người đốt lò sưởi và mang món

nóng gì đó. Xin lỗi...”

Nesbit đi ra ngoài, đóng sầm cánh cửa lại. Donald

khập khiễng đi đến lò sưởi trống không và buông

người xuống chiếc ghế kế bên.

Parker nói ông đi chăm sóc hai con chó, rồi biến

mất. Donald nghĩ đến Pháo đài Edgar, nơi khách

viếng thăm luôn là lý do cho niềm hồ hởi, và được

đối xử như hoàng gia. Có lẽ phân nửa số nhân viên

đã bỏ đi; anh nhận thấy lò sưởi rất dơ bẩn, rồi anh

không thể chống chọi được nữa với cơn kiệt sức

65

đang chờ cho anh có lý do mà nhắm mắt lại.

“Anh Moody!”

Tiếng nói của bà sắc lẻm, khiến cho anh phải mở

mắt ra.

“Hả? Vâng, Bà Ross?”

“Ta không nên nói gì về lý do tại sao ta đến đây,

không nên nói ra tối nay. Để xem sự thể như thế nào

đã. Ta không muốn họ chuẩn bị đề phòng rồi chống

chế.”“Tùy ý bà.” Anh lại nhắm mắt. Anh cần ngủ rồi

mới có thể thảo luận một cách thông suốt. Quả là

hạnh phúc khi được thoát ra khỏi cái lạnh cắt da.

Anh có cảm tưởng mình mới thiếp đi chỉ trong chốc

lát, nhưng khi anh mở mắt, lò sưởi đã được đốt, còn

Bà Ross thì không thấy đâu. Khung cửa sổ đã tối

đen; anh không biết bây giờ là mấy giờ. Nhưng quả

66

là sự xa hoa được ngồi trong không gian ấm áp mà

anh không muốn cử động. Ước gì có một chiếc giường;

nó sẽ trả lại sinh lực cho anh. Rồi tuy vẫn còn

mệt nhọc, anh vẫn nhận ra có một người khác trong

phòng. Anh quay đầu và thấy một phụ nữ mang hai

dòng máu, người đã mang vào một tô nước nóng và ít

bông băng. Cô gật đầu với anh rồi ngồi trên sàn, kế

bên đôi chân anh, bắt đầu tháo ra lớp vải lanh

dính máu khô.

“Cám ơn cô.” Donald có phần ngượng nghịu vì việc

chăm sóc, và vì lớp bông băng cũ trông gớm ghiếc.

Anh không thể kiềm nén ngáp một cái như muốn trẹo

quai hàm: “Tôi là... Donald Moody, kế toán Công ty

ở Pháo đài Edgar. Tên cô là gì?”

Cô ít nhìn anh, chỉ lo rửa vết thương trên chân

67

anh. Donald tự cho phép mình ngả đầu tựa thành ghế,

thấy mừng vì không phải nói nhiều hoặc thậm chí

không phải suy nghĩ. Có thể cho đến ngày mai anh

mới thi hành nhiệm vụ của mình. Từ bây giờ đến lúc

ấy, theo nhịp độ bàn tay người phụ nữ da ngăm đen

đang lau chùi chân anh, anh có thể ngủ và ngủ và

ngủ.

***

Khoảnh sân hoàn toàn tối đen, và tôi không thể

nghe tiếng hai con chó nữa, như thế quả là điều lạ

lùng. Bình thường, khi chó từ bên ngoài đi đến thì

tất cả các con chó thi nhau sủa và gầm gừ. Nhưng ở

đây, khi chúng tôi đến thì hoàn toàn yên ắng. Tôi

lên tiếng gọi Parker. Một trận gió thổi quật quanh

tôi và ít bông tuyết đâm vào mặt tôi. Không có

68

tiếng trả lời, và tôi lại kinh sợ; có lẽ vì bây giờ

chúng tôi đã đến đây, anh ta đã đi bất kỳ đâu đấy

để lo công chuyện riêng của anh. Ngay khi tôi vừa

cảm thấy lệ dâng lên khóe mắt, có người mở một cánh

cửa bên tay trái tôi và một luồng ánh sáng hình

chữ nhật tỏa xuống mặt tuyết.

Có tiếng tranh cãi nóng vội, và tôi nghe tiếng của

Nesbit: “Không được nói gì về ông ấy thì tốt hơn,

nếu không sẽ biết tay tôi. Đúng ra, tốt hơn mà đứng

ngoài vụ này.”

Tôi không nghe rõ tiếng nói kia - nhưng đấy là

tiếng của một phụ nữ đang phản ứng lại. Không kịp

nghĩ ngợi cho thông suốt, tôi bước vào bóng tối của

một mái hiên. Nhưng tôi không còn nghe gì nữa, cho

đến khi Nesbit chốt lại cuộc tranh cãi - nếu đúng

69

là tranh cãi - với lời càu nhàu: “Ôi, vì Chúa, cứ

làm như cô muốn. Chỉ cần chờ cho đến khi ông ấy trở

về.”

Cánh cửa đóng sầm và Nesbit bước ngang qua khoảnh

sân, một bàn tay chải qua tóc nhưng không làm cho

tóc anh bớt lù xù. Tôi mở cánh cửa rồi khép lại sau

lưng mình và bước ngang qua khoảnh sân để gặp anh,

làm như là lúc ấy tôi vừa mới đi ra ngoài.

“À, anh Nesbit, anh ở đây...”

“À, Bà...” anh ngưng bặt, hai bàn tay giơ lên.

“Ross”.

“Bà Ross, đúng rồi. Tôi xin lỗi. Tôi vừa...” Anh

cười: “Tôi xin lỗi vì đã bỏ bê bà. Có ai đốt lò

sưởi chưa? Xin bà thứ lỗi cho chúng tôi lúc này.

Tôi e chúng tôi neo người, và vào mùa này trong

70

năm...”

“Không cần thiết phải xin lỗi. Chúng tôi đến đây

quá bất ngờ làm phiền anh.”

“Không làm phiền. Không làm phiền gì hết. Công ty

tự hào có tính hiếu khách và đại loại như thế...

Còn hơn là hân hạnh, xin bà tin đi.” Anh mỉm cười

với tôi, dù có vẻ gượng gạo: “Xin mời bà dùng bữa

tối với tôi... dĩ nhiên là cả Ông Moody và Ông

Parker nữa.”

“Anh Moody thiếp ngủ khi tôi đi ra ngoài. Tôi e

anh ấy có nhiều bong bóng nước.”

“Còn bà không có sao? Phải nói đó là đáng kể. Bà

nói bà đi từ đâu?”

“Chúng ta đi vào bên trong nhé? Trời lạnh quá...”

Tôi không chắc phải mở đầu câu chuyện như thế nào.

71

Tôi đã muốn bàn với Parker về việc này, nhưng

Parker đã đi đâu mất. Tôi đi theo Nesbit dọc một

hành lang khác - dường như có nhiều cửa mở ra hành

lang này - rồi đi vào một gian phòng nhỏ ấm cúng,

có lò sưởi đang cháy. Một chiếc bàn loại cao cấp

đặt ở giữa phòng, với hai chiếc ghế. Trên tường là

những ảnh màu của ngựa đua và võ sĩ đoạt giải, được

cắt ra từ các tạp chí.

“Xin mời bà ngồi. Vâng. Ở đây có phần ấm hơn, phải

không? Không gì bằng một lò sưởi nóng ở nơi chốn

quái quỷ này.”

Rồi thình lình anh bước ra khỏi phòng mà không báo

trước, khiến cho tôi tự hỏi chuyện gì vừa xảy ra.

Tôi chưa mở miệng gì hết.

Trong số các võ sĩ và ngựa đua có vài ảnh đẹp, và

72

tôi thấy rằng đồ nội thất cũng thuộc loại tốt; hàng

nhập khẩu chứ không phải nội địa. Chiếc bàn làm

bằng gỗ xa cừ, bóng lên qua sử dụng và thời gian;

hai chiếc ghế có lưng dựa hình đàn lia, có lẽ là

hàng Ý. Phía trên lò sưởi treo một tấm ảnh thể hiện

cảnh đi săn được lồng khung mạ vàng, nền đậm và áo

choàng đỏ sáng rực của thợ săn. Và có ly cốc bằng

thủy tinh chì nặng, được chạm một cách tinh tế với

hình những con chim. Một người nào đó ở đây có đầu

óc thưởng ngoạn và có văn hóa, và tôi nghĩ đấy

không phải là Nesbit.

Nesbit quay trở vào với thêm một chiếc ghế: “Bình

thường, bà biết chứ...” anh ta nói như thể mình đã

không đi khỏi “... chúng tôi chỉ có hai người - ý

tôi nói là nhân viên cấp cao, vì thế chúng tôi rất

73

thầm lặng. Tôi đã yêu cầu bữa tối, để... A ha, dĩ

nhiên là vậy!” Vừa ngồi xuống anh ta đã đứng bật

dậy: “Tôi nghĩ bà thích một ly cô-nhắc. Tôi có loại

ngon. Tự tôi mang đến, từ Kingston( ), mùa hè hai

năm trước.”

“Chỉ một ly nhỏ thôi. Tôi sợ nếu uống thêm sẽ gục

tại chỗ.” Đấy là sự thật. Lần thứ nhất sau nhiều

ngày, không gian ấm cúng đã ngấm vào tay chân tôi,

khiến cho đôi mắt tôi nặng trĩu.

“Được, chúc sức khỏe. Chuyện gì đã khiến cho bà và

hai người bạn của bà đi đến đây - để chúng tôi bất

ngờ có hân hạnh đón tiếp?”

“Chúng tôi đi từ Himmelvanger - anh biết chỗ ấy

không?”Nesbit đăm đăm nhìn tôi qua đôi mắt nâu

mãnh liệt: “Không, không, tôi không biết.”

74

“Đấy là một cộng đồng tín đồ Lutheran. Người Na

Uy. Họ muốn xây dựng một cộng đồng nơi họ có thể

sống tốt đẹp trong tầm nhìn của Thượng đế.”

“Thật đáng khâm phục.”

Những ngón trên bàn tay phải của anh không ngừng

mân mê đuôi cây bút chì, xoay qua xoay lại, khẽ gõ

trên mặt bàn; và tôi nhớ ra cái gì đấy. Laudanum,

hoặc có lẽ strychnine. Có Trời mà biết được vận rủi

nào đã mang anh đến đây, cách xa dược sĩ và bác

sĩ.

“Chúng tôi đến đây bởi vì...” Tôi ngưng lại, thở

nặng nề: “Quả là đau đớn mà kể lại... đứa con trai

tôi bỏ đi khỏi nhà. Lần cuối cùng người ta thấy nó

là ở Himmelvanger, và từ đó, có dấu chân dẫn đến

hướng này.”

75

Khuôn mặt của Nesbit, đôi mắt mãnh liệt đã khiến

tôi rùng mình, bây giờ có phần dịu lại. Có lẽ anh

đang trông chờ điều gì khác.

“Dấu chân dẫn đến hướng này phải không? Đến tận

đây hay sao?”

“Có vẻ như thế, mặc dù sau cơn bão tuyết, chúng

tôi không thể dám chắc.”

Anh xác nhận với vẻ suy tư: “Đúng vậy.”

“Nhưng Ông Parker nghĩ có thể là ở đây. Không có

nhiều khu định cư trong vùng này, thật ra tôi tin

là có rất ít.”

“Đúng. Chúng tôi khá là biệt lập. Anh ấy... trẻ

lắm không, con trai bà đó?”

Tôi nhìn xuống: “Mười bảy. Anh có thể hiểu được

tôi lo lắng đến thế nào.”

76

“Vâng, đương nhiên. Còn Ông Moody...”

“Anh Moody đã có lòng tốt mà đi cùng tôi bởi vì

chúng tôi đi đến một thương điếm Công ty. Tôi biết

anh ấy rất muốn gặp quản trị viên của anh.”

“À, vâng, hẳn rồi. Này, Ông Stewart đã đi vắng

trong một chuyến đi ngắn, nhưng một hay hai ngày

nữa ông ấy sẽ trở về.”

“Ông ấy có láng giềng không?”

“Không. Ông ấy đi săn. Đó là sở thích của ông ấy.”

Nesbit đã uống cạn ly rượu rồi rót thêm. Tôi nhấm

nháp ly của mình một cách chậm rãi: “Thế là... anh

chưa trông thấy hay nghe nói đến người lạ mặt nào

hay sao?”

“Tiếc là không. Không có ai hết. Nhưng có lẽ ông

ấy gặp một bộ lạc Da Đỏ, hoặc người đặt bẫy... Đủ

77

mọi loại người đến và đi. Bà sẽ ngạc nhiên khi biết

người ta đi lang thang khắp cùng ngay cả trong mùa

đông.”

Tôi lại thở dài và ra vẻ tuyệt vọng, mà không khó

khăn phải làm thế. Anh rót thêm rượu vào ly của

tôi.Cánh cửa mở, và một phụ nữ Da Đỏ thấp, béo, mà

tôi không thể đoán tuổi, bước vào với một chiếc

khay. Với tia nhìn ra vẻ đe dọa về phía Nesbit, cô

nói: “Anh kia, anh ấy muốn ngủ.”

“Vâng, được rồi Norah. À, để xuống... cảm ơn. Chị

xem có thể đi tìm ông kia được không?”

Giọng ông có vẻ mỉa mai. Người phụ nữ đặt vội

chiếc khay xuống bàn với tiếng động mạnh.

Với vẻ phô trương vụng về, Nesbit mở chiếc khay ra

và tiếp cho tôi một đĩa bít tết nai sừng tấm và

78

bắp băm. Chiếc đĩa trông đẹp, kiểu Anh, nhưng món

bít tết không được tươi và có nhiều xương xẩu;

không ngon hơn nhiều so với các món chúng tôi đã ăn

dọc đường. Tôi phải cố gắng giữ cho đôi mắt không

nhắm lại và giữ tinh thần còn lanh lợi. Nesbit ăn

ít nhưng uống rượu liên tục, vì thế may mà ý tưởng

của anh không được sắc bén lắm. Tôi mong anh nói ra

nhiều hơn bây giờ, tối nay, trong khi anh không có

lý do nào mà nghi ngại.

“Thế thì, những ai đang sống ở đây? Có nhiều người

không?”

“Chúa tôi! không! Chúng tôi là nhóm rất nhỏ. Ở đây

không phải chính xác là trung tâm của xứ sở lông

thú. Không còn nữa.” Anh mỉm cười một cách chua

cay, nhưng tôi nghĩ không phải do tham vọng cá nhân

79

bị ngăn trở: “Có ông Stewart, quản trị viên, là

một trong những người tốt nhất mà bà có thể mong

gặp. Rồi có gia nhân khiêm tốn của bà đây, chỉ làm

chuyện sai vặt...!” ông làm động tác giả cúi đầu

chào với vẻ mỉa mai: “... và rồi có vài gia đình

hai dòng máu và bản địa quanh đây.”

“Người phụ nữ mới vào, Norah, là vợ của một nhân

viên phải không?”

“Phải.” Nesbit lại nốc thêm whisky.

“Còn các nhân viên tải hàng làm gì trong mùa

đông?” Tôi nghĩ đến người mặc quần áo phong phanh

đứng trên sân. Anh ta có vẻ như không đứng vững

được.Dường như Nestbit đọc được ý nghĩ của tôi:

“À, có rất ít công việc, như bây giờ, tôi e họ...

dễ bị cám dỗ. Mùa đông rất dài.”

80

Đôi mắt anh đã mất tập trung, trông như thủy tinh,

chớm đỏ màu máu, tuy tôi không rõ do rượu hay do

cái gì khác.

“Nhưng dù thế người ta vẫn di chuyển đây đó...”

“Đúng, có môn săn bắn và đại loại như vậy cho đàn

ông - và Ông Stewart... Tôi thì không thích.” Anh

ra một điệu bộ thanh lịch để tỏ vẻ kinh tởm: “Dĩ

nhiên là có đặt bẫy một ít. Chúng tôi có gì được

nấy.”

Tôi cố giữ giọng nói của mình được bình thản nhưng

pha chút buồn rầu: “Có ai sống ở đây đi từ hướng

tây-nam lúc gần đây không? Tôi chỉ băn khoăn liệu

dấu vết chúng tôi thấy có thể là một nhân viên của

anh, mà không phải của con trai tôi. Nếu thế, chúng

tôi sẽ biết mà... đi tìm nơi khác.”

81

“Một nhân viên của chúng tôi...?” Anh tỏ vẻ rất mơ

hồ, lông mày nhíu lại trông buồn cười. Nhưng mà,

anh đã say. “Tôi không nghĩ ra... không, theo tôi

được biết, tôi có thể hỏi...”

Anh mỉm cười với tôi một cách thẳng thắn. Tôi biết

anh nói dối, nhưng tôi đã quá mệt mỏi nên khó mà

chắc chắn mọi điều. Ước muốn thiết tha được nằm

xuống ngủ bỗng dưng trở nên bức thiết như cơn đau

về thể chất. Thêm một phút nữa thì tôi không thể

gượng nổi.

“Xin lỗi, anh Nestbit, tôi... phải đi nghỉ.”

Nesbit đứng dậy nắm chặt cánh tay tôi, như thể anh

nghĩ tôi sắp té ngã hoặc chạy đi mất. Ngay cả gió

lạnh thình lình ngoài hành lang không thể giúp cho

tôi được tỉnh táo.

82

Có cái gì đấy đánh thức tôi. Trời đã gần tối hẳn,

vắng lặng ngoại trừ tiếng gió thổi. Trong một

khoảnh khắc, tôi nghĩ có một người nào khác trong

phòng, và tôi ngồi dậy với một tiếng kêu mà tôi

không kiềm chế được. Khi mắt tôi đã quen với bóng

tối, tôi nhận ra không có ai ở đây. Nhưng có cái gì

đấy đánh thức tôi, và tôi cảnh giác, tim đập thình

thịch, tai cố lắng nghe âm thanh nhỏ nhất. Tôi cầm

lấy cây đèn nhưng không hiểu sao không muốn thắp

sáng. Tôi rón rén bước ra cánh cửa. Cũng không có

ai bên ngoài.

Những tiếng răng rắc và kẽo kẹt vang lên từ lớp

mái gỗ, do gió thổi luồn dưới các tấm ngói. Và một

tiếng răng rắc lạ kỳ, rất nhỏ. Tôi lắng nghe ở mỗi

cánh cửa một hồi lâu trước khi mở chốt nhìn vào

83

trong. Một phòng bị khóa; phần lớn các phòng khác

trống không, nhưng qua khung cửa sổ của một phòng

trống tôi thấy một ánh sáng lờ mờ màu lam nhạt bên

ngoài, một bức màn ánh sáng nhấp nháy ở hướng bắc

chiếu xuyên qua bóng tối và cho tôi thấy cảnh tượng

này.

Tôi mở một cánh cửa và thấy Moody, khuôn mặt non

trẻ và trông yếu đuối khi không mang kính. Tôi

nhanh chóng đóng cánh cửa lại. Tôi nghĩ đến Parker.

Tôi phải đi tìm Parker. Tôi cần nói chuyện với

ông. Về những gì tôi đang làm, và trước khi tôi làm

chuyện gì đấy ngu xuẩn không tưởng tượng nổi.

Nhưng bên trong vài cánh cửa kế tiếp, tôi không

thấy gì cả, rồi một cánh cửa khiến tôi rùng mình vì

sốc. Nesbit đang nằm ngủ say sưa, và nằm kế bên

84

anh là người phụ nữ Da Đỏ đã dọn bữa tối, một cánh

tay béo quàng qua ngực anh, màu sẫm nổi trên màu da

trắng như sữa. Hai người thở lớn tiếng. Tôi đã có

cảm tưởng là cô ghét anh ta, nhưng hai người ở đây,

và có một vẻ ngây thơ về giấc ngủ của họ gây xúc

cảm một cách lạ kỳ. Tôi nhìn họ lâu hơn là mình

muốn và rồi, không phải vì họ sẽ bất ngờ thức dậy,

tôi cẩn thận đóng cánh cửa.

Cuối cùng, tôi tìm ra Parker ở nơi mà tôi ít ngờ

nhất: trong chuồng gia súc, kế bên hai con chó. Ông

quấn người trong một tấm chăn mà ngủ, mặt hướng về

cánh cửa. Thình lình cảm thấy hoang mang, tôi thắp

đèn và ngồi xuống để chờ. Mặc dù trong nhiều ngày

hai chúng tôi đã từng ngủ cách nhau ít mét trong

lều, nhưng dưới một mái gỗ có vẻ như không phải

85

phép khi tôi nhìn ông ngủ, ngồi bó gối trên ổ rơm

bên cạnh ông, như là tên trộm.

Sau một chốc, ánh sáng làm cho ông thức dậy.

“Ông Parker, tôi đây, Bà Ross.”

Xem dường ông tỉnh hẳn nhanh chóng, chứ không phải

như tôi phải sật sừ một lúc. Gương mặt ông vẫn

không biểu lộ cảm xúc như bao giờ, hiển nhiên là

ông không tức giận mà cũng không ngạc nhiên khi

thấy tôi ở đây.

“Có chuyện gì xảy ra sao?”

Tôi lắc đầu: “Có cái gì đấy đánh thức tôi, nhưng

tôi không tìm thấy gì cả. Tối qua ông đi đâu?”

“Tôi chăm sóc hai con chó.”

Tôi chờ cho ông nói thêm, nhưng không có gì.

“Tôi dùng bữa tối với Nesbit. Anh ấy hỏi chúng ta

86

đang làm gì. Tôi nói chúng ta đang đi tìm con trai

tôi đã bỏ nhà ra đi, và lần cuối cùng được trông

thấy ở Himmelvanger. Tôi hỏi anh ấy gần đây có ai ở

đây trở về sau một chuyến đi hay không, và anh ấy

nói không biết. Nhưng tôi nghĩ anh ấy không thẳng

thắn lắm.”

Parker ngồi dựa vào bức tường của chuồng gia súc

và nhìn tôi với vẻ suy tư: “Tôi đã nói chuyện với

một cặp vợ chồng. Họ nói gần đây không có ai ra đi,

nhưng họ không vui. Khi nói chuyện họ nhìn ra xa,

hoặc nhìn qua vai tôi.”

Tôi không biết ý nghĩa ra sao. Thế rồi, rất nhỏ

nhưng rõ ràng, như thể từ nơi xa xôi, tôi nghe

tiếng gì đấy khiến cho tôi ớn lạnh xương sống. Một

tiếng tru lâng lâng, thê lương nhưng lãnh đạm. Một

87

bản giao hưởng của những tiếng tru. Hai con chó

thức giấc và một tiếng tru trầm trầm phát ra từ góc

chuồng gia súc.

Tôi liếc qua Parker, nhìn đôi mắt đen của ông:

“Chó sói?”

“Đằng xa.”

Tôi biết chúng tôi được bao bọc bởi tường thành

vững chắc, và bức thành này được trang bị đại bác,

nhưng dù sao âm thanh vẫn làm cho tôi kinh hãi. Tôi

nhớ đến khu nhà cho thuê chật chội. Tôi cảm thấy

an toàn ở đấy. Có lẽ tôi run bắn lên, và xích lại

gần Parker hơn.

Parker nói: “Họ thiếu thốn nhiều thứ ở đây. Việc

săn bắn không khá. Không có nhiều thực phẩm.”

“Làm thế nào như vậy được? Đây là thương điếm Công

88

ty.”

Ông lắc đầu: “Có thương điếm được quản lý không

tốt.”Tôi nghĩ đến Nesbit trong cái nôi ma túy. Nếu

anh ta có nhiệm vụ quản lý thương điếm và các hàng

hậu cần, thì đấy không phải là điều ngạc nhiên.

“Nesbit là người nghiện. Nha phiến hay đại loại

như thế. Và...” Tôi nhìn ổ rơm: “Anh ta... có quan

hệ với một phụ nữ Da Đỏ.”

Tôi không thể kiềm chế nhìn vào đôi mắt ông lúc

này đang mở to ra. Cả hai chúng tôi đều không nói

gì, như thể là bị thôi miên. Bỗng dưng tôi nhận

biết mình đang thở rất mạnh, và tôi tin chắc ông có

thể nghe tim tôi đập. Ngay cả các con sói đã im

lặng, lắng nghe.

Tôi quay mặt đi, cảm thấy đầu óc nhẹ tênh: “Tôi

89

nên quay về. Tôi chỉ nghĩ nên đi tìm ông để... bàn

bạc sáng mai phải làm gì. Tôi nghĩ tốt hơn nên giấu

lý do thật sự ta đến đây. Tôi đã nói với Moody như

thế, tuy sáng mai anh ấy muốn làm gì thì tôi không

rõ.”

“Tôi nghĩ chúng ta phải đợi Stewart trở về mới

biết được.”

“Anh biết gì về ông ấy?”

Sau một phút đắn đo, Parker lắc đầu: “Để đến khi

gặp tôi mới biết được.”

Tôi chờ thêm một khoảnh khắc, nhưng không còn lý

do nào để ngồi thêm. Khi tôi đứng lên, tay tôi chạm

phải chân ông trên ổ rơm. Tôi không biết chân ông

đặt ở đấy, tôi xin thề, hoặc là ông cử động để chạm

đến tôi. Tôi giật bắn người như bị bỏng, rồi nhấc

90

lấy cây đèn. Trong ánh sáng lung linh và bóng tối,

tôi không nhận biết vẻ mặt ông ra sao.

“Chúc ngủ ngon.”

Tôi nhanh chóng bước ra sân, cảm thấy khó chịu vì

ông đã không đáp lại. Gió lạnh lập tức làm mát làn

da của tôi, nhưng không giúp gì được cho ý nghĩ

đang quay cuồng trong tôi; chủ yếu là nỗi khao khát

quay vào trong chuồng gia súc và nằm kế bên ông

trên ổ rơm. Để thả lỏng mình trong mùi hương và sự

ấm áp của ông. Cái gì thế - nỗi sợ hãi và bơ vơ đã

phủ lấy tôi? Việc thân thể của ông chạm vào thân

thể tôi trên ổ rơm chỉ là do sơ suất. Một sơ suất.

Một người đã chết; Francis cần tôi giúp đỡ; chính

vì thế mà tôi ở đây, không có lý do nào khác.

Vầng quang lờ mờ phương bắc trông như một giấc mơ

91

đẹp, và gió đã ngừng thổi. Bầu trời cao một cách

chóng mặt và quang đãng; không khí lạnh căng căng

và ù ù cho biết không có gì giữa tôi và chiều sâu

vô tận của không gian. Tôi ngẩng đầu cao lên bầu

trời sau cảm giác chóng mặt. Tôi nhận ra rằng mình

đang đi trên một con đường gian nan, bao quanh mọi

phía là sự bất định và thảm họa tiềm tàng. Không có

gì ở trong tầm kiểm soát của tôi cả. Bầu trời mở

rộng bên trên như là vực thẳm, và không có gì chắn

đỡ khi tôi rơi, không có gì ngoại trừ mê cung kỳ lạ

của những vì sao.

***

Donald thức dậy khi ánh sáng ban ngày chiếu bên

ngoài cửa sổ. Trong một lúc, anh không nhớ ra mình

đang ở đâu, và rồi sự việc quay về: điểm cuối của

92

những dấu chân. Thời gian nghỉ ngơi sau chuyến đi

như là trong địa ngục. Mỗi cen-ti-mét của cơ thể

anh nhức nhối như thể anh đã bị dần cho một trận

nên thân.

Trời đất!... có phải đêm qua anh đã thực sự ngất

đi - lịm tắt như ngọn đèn trước gió? Người phụ nữ

ấy đã chăm sóc chân anh... anh nhấc cái chân ra

khỏi tấm chăn và thấy nó đã được băng lại mới, thế

thì cô ấy là người thật chứ không phải trong giấc

mộng. Cô có cởi quần áo anh không? Anh không nhớ gì

nhưng cảm thấy xấu hổ. Chắc chắn là anh đã bị lột

hết quần áo. Vết thương của anh đã được bôi thuốc

mỡ và băng lại. Anh lần mò quanh giường cho đến khi

tìm được cặp kính. Khi mang kính, anh cảm thấy

bình tĩnh lại, có thể kiểm soát sự việc khá hơn.

93

Bên trong: một căn phòng nhỏ, không nhiều đồ nội

thất, tương tự như nhà khách của Pháo đài Edgar.

Bên ngoài: hoang vắng, tuyết không rơi, nhưng chẳng

bao lâu sẽ rơi lại. Anh cố ngồi dậy, nhặt lấy bộ

quần áo đã được xếp ngay ngắn trên một chiếc ghế.

Anh tròng quần áo vào, cử động sơ cứng như một ông

già. Quả là kỳ lạ (và cũng là may mắn) sau khi đến

đây, bây giờ anh lại cảm thấy tồi tệ hơn.

Anh lê bước ra hành lang, dò dẫm qua hai khoảnh

sân mà vẫn chưa thấy một bóng người. Đây là thương

điếm Công ty kỳ lạ nhất; không có cảnh rộn ràng như

anh đã quen ở Pháo đài Edgar. Anh tự hỏi Stewart

đang ở đâu, thứ kỷ luật nào ông đang duy trì. Chiếc

đồng hồ đeo tay của anh đã ngưng chạy, nên anh

không biết bây giờ là mấy giờ, sáng sớm hay gần

94

trưa.

Cuối cùng, một cánh cửa mở ra ở cuối hành lang, và

Nesbit xuất hiện, đóng sầm cánh cửa sau lưng. Anh

ta không cạo râu, đôi mắt sâu, nhưng đã ăn mặc đàng

hoàng.

“À, anh Moody! Tôi mong anh đã nghỉ khỏe. Anh cảm

thấy, à... chân anh thế nào?”

“Khá hơn nhiều. Cô... Elizabeth băng bó cho tôi,

rất tử tế. Tôi e mình vì quá mệt nên chưa cám ơn cô

ấy.”

“Đi ăn sáng. Bây giờ họ hẳn đã đốt lửa và làm món

gì đó. Có Trời mới biết được khó khăn lắm mới sai

bảo được tụi nó làm việc trong mùa đông. Anh có

những vấn đề này ở chỗ anh không?”

“Pháo đài Edgar hả?”

95

“Vâng. Ở đâu vậy?”

Donald ngạc nhiên vì anh ta không biết: “Bên Vịnh

Georgian.”“Thật là văn minh. Tôi mơ được điều đi

chỗ nào đó gần... à, nơi người ta sinh sống. Nếu so

ra anh hẳn thấy chúng tôi rất nghèo.”

Nesbit dẫn Donald đến căn phòng họ mới đến hôm

qua, nhưng bây giờ lò sưởi đã được đốt, bàn ghế đã

được mang đến từ đâu đó; Donald có thể thấy vết kéo

lê trong lớp bụi trên sàn nhà. Việc chăm sóc nhà

cửa ở đây không phải là ưu tiên. Anh không chắc

việc gì là ưu tiên.

“Bà Ross và ông Parker ở đâu đây chứ?”

Khi Nesbit bước đến cánh cửa, Bà Ross bước vào. Bà

đã làm được gì đó đối với bộ trang phục để trông

đàng hoàng hơn; mái tóc đã vén khéo. Dường như vẻ e

96

dè mà anh nhận ra sau cơn bão tuyết đã không còn.

“Anh Moody.”

“Tuyệt vời! Bà ở đây... Còn Ông Parker?”

“Tôi không rõ.” Bà nhìn xuống; và Nesbit đi ra

ngoài, gọi người phụ nữ Da Đỏ.

Bà Ross nhanh nhẹn bước đến Donald, nét mặt căng

thẳng: “Ta cần bàn bạc trước khi Nesbit quay lại.

Tối qua, tôi bảo anh ấy rằng ta đi tìm con trai tôi

đã bỏ nhà ra đi, không phải đi tìm kẻ sát nhân. Ta

không nên đánh động họ.”

Donald há hốc vì kinh ngạc: “Bà thân yêu, tôi ước

gì bà bàn với tôi trước khi đặt điều sai sự

thật...”“Không có thời giờ. Đừng nói gì khác kẻo

anh ấy nghi ngờ. Tốt nhất cho ta nếu họ không nghi

gì, anh đồng ý không?” Đôi môi bà mím chặt, đôi mắt

97

đanh lại như đá.

“Ngộ nhỡ...?” Anh dừng lại tiếng thì thầm khi

Nesbit bước vào, theo sau là Norah với chiếc khay.

Hai người mỉm cười với Nesbit, và Donald cảm thấy

hiển nhiên là hai người đã thì thầm lén lút với

nhau. Nếu may mắn, Nesbit sẽ đoán rằng bí mật của

họ là về chuyện lãng mạn... Anh đỏ bừng vì ý nghĩ

này. Có lẽ anh đang bị sốt. Khi ngồi xuống, anh tự

nhắc nhở mình về Susannah, với ít cố gắng có ý

thức. Điều lạ lùng là thời gian gần đây anh đã

không nghĩ đến cô.

Parker đi đến, và khi mọi người đều ăn bít tết

nướng và bánh bắp - Donald ăn như thể đã bị bỏ đói

nhiều ngày - Nesbit giải thích rằng Stewart đang đi

săn với một nhân viên, và xin lỗi vì đã tiếp đãi

98

thiếu sót. Tuy nhiên ông rất hãnh diện vì một thứ:

ông nói một cách gay gắt với Norah về loại cà phê

cô mang đến, cô mang cà phê đi rồi trở lại với một

cái bình chứa một thứ hoàn toàn khác hẳn. Mùi hương

lan tỏa vào phòng trước khi cô bước vào - mùi

hương của hạt cà phê thật, không giống loại nào họ

ngửi trong nhiều tuần qua. Khi Donald nếm thử, anh

nhận ra có lẽ trước đây mình chưa bao giờ dùng loại

cà phê này.

Nesbit ngả người dựa lưng vào thành ghế và cười:

“Hạt cà phê từ Nam Mỹ. Tôi mua ở New York khi đi

ngang qua đó. Tôi chỉ xay để pha cho những dịp đặc

biệt.”Bà Ross hỏi: “Anh Nesbit à, anh ở đây được

bao lâu rồi?”

“Năm năm sáu tháng. Bà quê ở Edinburgh đúng

99

không?”“Lúc đầu.” Bà nói cụt ngủn, nghe như lời

khiển trách.

“Và bà đến từ Perth( ), nếu tôi đoán không lầm?”

Donald mỉm cười với anh, mong muốn dàn hòa. Rồi anh

trừng mắt nhìn bà, ý nói: Nếu không muốn gây nghi

ngờ thì bà nên tỏ ra hòa nhã.

“Kincardine( ).”

Một khoảnh khắc im lặng. Bà Ross nhìn lại Donald

một cách lạnh lùng.

“Tôi tiếc chúng tôi không thể giúp các vị về việc

đứa con trai đi lang thang của Bà Ross. Đấy hẳn là

chuyện đáng lo.”

“À, vâng.” Donald gật đầu, lúng túng; anh không

giỏi giả vờ. Và còn tức bực với bà vì bà đã giành

phần chủ động từ anh, trong khi lẽ ra anh phải là

100

người chủ trì trong sự việc liên quan đến Công ty.

Anh cảm thấy hoang mang, không biết phải hành xử

thế nào.

“Thế thì, anh nghĩ...” Donald bắt đầu, nhưng ngay

lúc ấy có tiếng thình thịch ngoài hành lang, và

tiếng la thét bên ngoài.

Nesbit thình lình bị đánh động, như một con thú,

căng thẳng, rồi đứng bật dậy. Anh quay nhìn họ khẽ

mỉm cười, dù có vẻ giống như nhăn nhó: “Thưa quý

vị, tôi nghĩ có lẽ là Ông Stewart đã về.”

Anh gần như chạy ra khỏi phòng. Donald và những

người khác nhìn nhau. Donald cảm thấy bị khinh

thường - tại sao Nesbit không mời họ, hoặc ít nhất

mời anh, cùng đi ra ngoài? Anh nhận ra có chuyện gì

đó không ổn, khiến cho anh hoang mang. Sau một

101

khoảnh khắc im lặng, Donald khẽ nói lời tạ lỗi, rồi

ngập ngừng đi theo Nesbit ra ngoài sân.

Bốn hoặc năm người đàn ông lẫn phụ nữ đang vây

quanh một người với xe trượt tuyết và đàn chó đang

vướng víu nhau. Có thêm nhiều người xuất hiện từ

nhiều hướng khác nhau; vài người đứng gần các tòa

nhà, vài người đi thẳng đến người mới đến. Donald

có thời giờ mà thắc mắc họ từ đâu mà đến; phần lớn

bọn họ anh chưa từng gặp bao giờ, tuy anh nhận ra

người phụ nữ có vóc người cao đã rửa vết thương

trên chân anh tối qua. Người mới đến, trông cứng

cáp trong bộ áo lông thú, khuôn mặt ẩn giấu dưới

chiếc mũ trùm đầu bằng lông thú, đang nói chuyện

với nhóm người, và rồi im lặng bao trùm. Chỉ có

Donald còn tiếp tục bước đến phía họ; vài gương mặt

102

quay nhìn trân trối anh như thể anh là con người

kỳ quặc. Anh dừng lại, hoang mang, và rồi người phụ

nữ có vóc người cao, vẫn luôn đứng trong nhóm đầu

tiên, thốt lên một tiếng rền rỉ dài, thánh thót. Cô

đổ gục xuống nền tuyết, tạo ra âm thanh cao vút

nhưng nhỏ nhẹ như là thuộc thế giới bên kia, không

phải là tiếng thét mà cũng không phải là tiếng nức

nở. Không ai tỏ thái độ an ủi cô.

Một người đàn ông xuất hiện mở lời quở trách

Stewart, nhưng Stewart nhún vai tỏ ý khinh thường

rồi bước về phía các tòa nhà. Nesbit nói một cách

gắt gỏng với người đàn ông kia rồi đi theo sếp của

mình. Khi trông thấy Donald, anh trân trối nhìn rồi

trấn tĩnh và ra dấu cho Donald quay vào bên trong.

Gương mặt anh đổi màu giống như nền tuyết bẩn.

103

Khi họ đi khỏi tầm nghe của nhóm người ngoài sân,

Donald thì thầm: “Chuyện gì xảy ra vậy?”

Nesbit mím chặt môi, rồi nói: “Thực là không may.

Nepapanees bị tai nạn. Tử vong. Vợ anh ta ở ngoài

kia.” Giọng nói của anh nghe giận dữ, như thể anh

đang suy nghĩ: Bây giờ ra sao?

“Ý anh nói người đàn bà gục trên đất... Elizabeth?

Chồng cô ấy chết rồi sao?”

Nesbit gật đầu, lẩm bẩm như để nói cho mình nghe:

“Đôi lúc tôi nghĩ chúng tôi bị nguyền rủa.”

Rồi thình lình Nesbit quay ngoắt người, chắn lối

đi của Donald dọc hành lang. Tuy nhiên, anh cố nở

nụ cười: “Đây là chuyện không may nhất, nhưng...

xin anh quay lại với những người kia nhé? Chúc anh

dùng bữa sáng ngon miệng... Bây giờ tôi cần nói

104

chuyện với Ông Stewart, trong hoàn cảnh này. Chúng

tôi sẽ đến với quý vị sau.”

Donald thấy mình không có cách gì khác hơn là gật

đầu, và nhìn Nesbit đi khuất khỏi một góc tòa nhà.

Anh còn lẩn quẩn ở hành lang, khó hiểu và hoang

mang. Có một vẻ gì đó bẩn thỉu trong thái độ của

Nesbit và Stewart khi phớt lờ nỗi đau của người

khác, như tuồng không muốn dính dáng tới chuyện ấy.

Thay vì quay vào phòng ăn sáng, anh trở ra sân,

nơi tuyết đã bắt đầu rơi trong không gian âm thầm

sánh đặc, như thể muốn nói rằng bây giờ là mùa

đông, đây không phải là chuyện đùa. Những bông

tuyết nhỏ li ti và rơi nhanh, dường như từ mọi

hướng bay đến anh, làm mờ tầm nhìn ở khoảng cách

105

chỉ ít mét. Chỉ có người khóc chồng còn ở nguyên

chỗ cũ, thân người lúc lắc tới lui. Những người

khác không thấy đâu. Donald tức giận với họ vì đã

bỏ mặc cho người phụ nữ ngồi một mình. Thậm chí cô

không mặc áo lạnh mà chỉ là trang phục trong nhà,

để hai cánh tay trần. Anh bước đến cô.

Bây giờ cô đã im lặng, mắt mở trừng trừng nhưng

không nhìn đến đâu cả, đang bứt tóc bứt tai. Cô

không nhìn đến anh. Anh kinh hãi thấy chân cô lộ

trần phía trên đôi giày da đanh lấm tấm trên nền

tuyết.

“Xin lỗi... Bà Bird.” Anh thấy ngượng ngập, nhưng

không biết gọi cô theo cách nào khác. “Bà sẽ bị

lạnh cóng ngoài này. Cho phép tôi giúp bà.”

Anh giơ một bàn tay ra, hy vọng cô sẽ nắm lấy,

106

nhưng không. Những bông tuyết bám vào lông mi và

tóc cô, tan chảy trên hai cánh tay. Cô không màng

phủi cho sạch. Khi nhìn cô, Donald có ấn tượng với

khuôn mặt thanh tú, ngoại hình thanh tú, gần giống

người Anh. Nhưng mà người có hai dòng máu là thế,

giống người da trắng hơn là Da Đỏ.

“Xin vui lòng...” Anh đặt một bàn tay lên cánh tay

cô, và thình lình tiếng than khóc lại nổi lên. Anh

kinh hãi thụt lùi lại; tiếng than khóc kỳ lạ đó

nghe như ma quỷ, như thú rừng. Anh mất can đảm. Dù

sao chăng nữa, anh biết gì về cô hoặc người chồng

quá cố của cô? Anh có thể nói gì cho cô nguôi ngoai

nỗi đau?

Donald nhìn quanh quất để tìm sự hỗ trợ hoặc người

chứng. Không thấy bóng người qua lại trong màn

107

tuyết chóng mặt, cho dù qua khung cửa sổ đối diện

anh thấy một bóng người lờ mờ, có vẻ như đang ngắm

nhìn.

Anh đứng dậy - anh đang ngồi xổm - và quyết định

đi tìm một người nào khác. Có lẽ một người bạn gái

có thể thuyết phục cô đi vào bên trong. Anh phủi

tuyết khỏi quần mình và đi xa khỏi khung cửa sổ

kia, tuy anh vẫn quay ngoái lại nhìn người phụ nữ ở

đó. Chỉ là một hình bóng màu đen bị tuyết che phủ

một phần, giống như hình một người loạn trí trong

một bức vẽ Nhật Bản. Anh có một ý tưởng vui: anh sẽ

mang cho cô loại cà phê đó - đây là việc tối thiểu

mà Nesbit có thể làm được. Anh tin chắc cô sẽ

không uống, nhưng có lẽ cô sẽ vui khi anh làm thế.

***

108

Line nằm thao thức, vẫn còn mặc nguyên bộ trang

phục, nhìn qua khung cửa sổ không có màn. Torbin và

Anna đang ngủ say bên cạnh. Cô đã không nói gì với

chúng, vì không tin tưởng chúng sẽ giữ kín một bí

mật như thế. Chẳng bao lâu cô sẽ đánh thức chúng

rồi ăn mặc cho chúng, làm ra vẻ như đó là một cuộc

phiêu lưu. Hai đứa trẻ không biết gì về kế hoạch

của cô. Chỉ sau khi đã đi xa khỏi Himmelvanger, cô

mới cho chúng biết. Cô ước gì mình đi đến điểm hẹn

sớm hơn - mọi người đã đi ngủ hơn một tiếng đồng hồ

rồi. Một tiếng đồng hồ đi đường bị uổng phí. Cô

cảm thấy nóng một cách khó chịu, vì cô đã mặc những

lớp áo lót dưới hai lớp váy cùng tất cả những

chiếc áo sơ mi mặc chồng lên nhau, cho tới lúc hai

cánh tay cô trông như hai thỏi xúc xích được nén

109

chặt. Espen cũng làm thế. Thuận lợi trong mùa đông.

Cô liếc qua chiếc đồng hồ lần nữa, quay hai cây

kim theo ý mình; cô không chờ đợi được nữa.

Cô nghiêng người qua đánh thức hai đứa trẻ: “Nghe

này, chúng ta đi chơi. Nhưng quan trọng là phải giữ

im lặng, thật sự im lặng. Được chứ?”

Anna sật sừ chớp mắt: “Con muốn ngủ”.

“Con có thể ngủ sau. Bây giờ chúng ta có cuộc

phiêu lưu. Này này, mặc cái này vào, nhanh lên.”

“Chúng ta đi đâu?” Torbin có vẻ phấn khích hơn.

“Bên ngoài trời còn tối.”

“Gần sáng rồi, xem này - năm giờ. Các con đã ngủ

nhiều tiếng đồng hồ rồi. Chúng ta phải đi sớm để

hôm nay đến đó.”

Cô kéo chiếc áo của Anna qua đầu cô bé.

110

“Con muốn ở lại.”

“Không được, Anna.” Chỉ mới lên năm tuổi; do đâu

mà cô bé cứng đầu đến thế? “Mặc cái áo này chồng

lên cái kia. Trời sẽ lạnh. Mặc theo cách này thì

không phải mang nhiều.”

“Chúng ta đi đâu?”

“Miền Nam. Ở đó ấm hơn.”

“Elke đi được không?” Elke là bạn thân nhất của

Torbin và là con gái của Britta.

“Có lẽ sẽ đi sau. Có lẽ vài người khác cũng đi.”

“Con đói bụng.” Anna không vui và muốn mọi người

biết điều này. Line cho mỗi đứa trẻ một chiếc bánh

quy do cô ăn cắp cho dịp này, để mua sự im lặng của

chúng.

Cô bắt chúng hứa sẽ giữ im lặng, nghe ngóng ở hành

111

lang trong một phút rồi kéo chúng đi theo. Cô đóng

lại cánh cửa của căn phòng mà họ đã cư ngụ trong

ba năm qua. Tất cả đều vắng lặng. Chiếc túi nặng nề

chứa thực phẩm và ít món vật dụng cá nhân - mà cô

không đành bỏ lại - va đập vào lưng cô. Họ đi ngang

qua khoảnh sân đến chuồng gia súc. Khung cảnh tối

đen vì không có ánh trăng; cô vấp ngã và lầu bầu

chửi rủa. Torbin há hốc miệng vì ngôn từ cô đã

dùng, nhưng cô không có thời giờ để lo lắng chuyện

này. Line có cảm giác hàng nghìn đôi mắt đang nhìn

sau lưng mình, nỗi sợ hãi khiến cô nắm chặt lấy tay

hai đứa trẻ, cho đến lúc Anna rên rỉ.

“Mẹ xin lỗi con yêu. Ta tới rồi, xem kìa.” Cô mở

cánh cửa chuồng gia súc. Càng tối hơn nhưng ấm hơn,

với âm thanh của các con ngựa dậm móng xuống cỏ

112

khô. Cô dừng lại, nghe ngóng tiếng anh.

“Espen?”

Anh chưa đến, vì họ đến sớm vài phút. Cô mong anh

đừng chính xác giờ giấc quá. Đáng lẽ họ đã có thể

ra đi từ một tiếng đồng hồ trước, mỗi bước càng rời

xa khỏi Himmelvanger hơn. Cô để cho hai đứa trẻ

ngồi xuống trong một chuồng trống.

Chỉ vài phút nữa thôi, rồi Espen sẽ đến.

Cô không có đồng hồ, nhưng có thể ước tính thời

gian trôi qua với việc các ngón tay và ngón chân bị

tê cóng, và các ngón tay cô đã có cảm giác như

nước đá. Hai đứa trẻ cựa quậy một lúc, nhưng bây

giờ Anna đã co mình lại mà thiếp ngủ, còn Torbin

ngồi dựa vào cô mà chập chờn. Ít nhất một tiếng

đồng hồ đã trôi qua từ khi họ đến đây, và không ai

113

đến. Rồi cô bắt đầu nghĩ, có lẽ anh nghĩ đó là hai

giờ, có lẽ anh đã nhầm. Rồi thì, với thời khắc trôi

qua và vẫn không có ai đến, cô tưởng tượng rằng

Merete đã không ngủ được, và rằng đứa bé hoặc cơn

bệnh hoặc nguyên do gì đó đã khiến cho anh không ra

đi được. Có lẽ anh đang nằm trằn trọc, chửi rủa và

lo lắng cho cô.

Và rồi, có lẽ chẳng bao giờ anh muốn đến.

Cô tính toán điều khả dĩ ảm đạm này. Không. Anh

không thể làm cho cô thất vọng như vậy được. Cô lay

cho hai đứa trẻ thức dậy, một cách mạnh bạo hơn

cần thiết.

“Nghe này. Có sự chậm trễ. Hóa ra chúng ta không

thể đi tối nay được. Chúng ta sẽ đi tối mai. Mẹ xin

lỗi...” Cô chặn ngang những lời than phiền: “Mẹ

114

xin lỗi, nhưng hoàn cảnh là vậy.”

Cô nhớ lại mình đã nói câu này khi bảo hai đứa trẻ

là cha chúng sẽ không bao giờ trở về và chúng phải

đi sống ở nơi xa xôi. “Không ích gì mà than van.

Hoàn cảnh là vậy.”

Cô bắt hai đứa trẻ thề thốt phải giữ bí mật - nếu

nói với bất cứ ai về việc này thì chúng sẽ không

được đi chơi đâu hết, và cô đã vẽ vời một hình ảnh

ở miền Nam ấm áp khiến cho cả hai mê thích. Hy vọng

rằng một ngày nào đó ngay cả chúng có thể đi tới

đó.

Khi cô đứng dậy và bắt đầu dẫn hai đứa trẻ quay

lại phòng ngủ - ít nhất trời vẫn còn tối - có một

chuyển động gần cánh cửa. Cô điếng người, và hai

đứa trẻ cũng thế, vì bị ảnh hưởng lây từ nỗi sợ hãi

115

của cô.

Rồi có một giọng nói: “Có ai ở đây không?”

Trong một thoáng - chỉ một phần tích tắc - cô tin

đó là Espen, và tim cô nhảy dựng lên. Rồi cô nhận

ra đó không phải là giọng nói của anh. Họ đã bị

phát hiện.

Người đàn ông bước đến ba mẹ con. Cô bất động vì

bị sốc. Liệu cô có thể nói gì? Trong tích tắc kế

tiếp, cô nhận ra là anh ta nói tiếng Anh, không

phải tiếng Na Uy. Đấy là cái anh Jacob có hai dòng

máu. Cô đã không bị phát hiện, chưa bị. Anh đốt đèn

lên, và giơ nó lên cao giữa anh và cô.

“À, Bà...” Rồi anh nhận ra là mình không biết -

hoặc không thể phát âm - tên cô. “Chào Torbin. Chào

Anna”.

116

Line nói một cách sơ cứng: “Tôi xin lỗi nếu quấy

rầy anh. Anh đang làm gì ở đây? Anh có ngủ trong

chuồng gia súc không?”

“Không, không sao.”

“Được rồi. Chúc ngủ ngon.”

Cô mỉm cười rồi bước qua anh, và khi hai đứa trẻ

đang đi phía trước qua khoảnh sân, cô quay lại:

“Xin anh vui lòng, nhất thiết đừng nói gì về chuyện

này với bất cứ ai. Ai cũng vậy. Tôi van anh... nếu

không đời tôi không đáng sống, tôi không thể nào

nói rõ hơn nữa. Tôi tin anh được không?”

Jacob đã tắt đi chiếc đèn bão, như thể nhận thức

được cần thiết phải giữ bí mật. Anh chỉ nói đơn

giản: “Được.” Thậm chí anh không tỏ vẻ hiếu kỳ: “Cô

tin tôi được.”

117

Line giúp hai đứa trẻ thay trang phục và nhìn

chúng thiếp ngủ. Cô quá giao động nên không ngủ

được. Cô đẩy cái túi phía sau chiếc ghế. Cô không

còn lòng dạ nào mà dỡ túi ra, làm như thế là công

nhận thất bại. Đến sáng cô sẽ ném quần áo chung

quanh để che giấu cái túi; hy vọng việc này sẽ đánh

lừa bất cứ ai muốn nhòm ngó. Ôi chao, cần phải đi

đến nơi mà cô có nhà riêng cho mình. Cô ghét khi

không có sự riêng tư; nó chà xát cô như là sợi dây

cương.

Lúc ăn sáng, cô tỏ ra cảnh giác, tạo bộ mặt tỉnh

táo và vui vẻ đối với cộng đồng. Thậm chí đến giữa

bữa cô mới nhìn qua Espen, nhưng anh đang cúi đầu.

Anh không nhìn về phía cô. Cô cố dò xét liệu anh

hoặc Merete có vẻ gì mệt mỏi hay không, nhưng khó

118

mà nói được. Đứa bé họ đang khóc; có lẽ nó bị cơn

đau bụng quặn. Cô sẽ phải chờ cơ hội.

Vào buổi chiều, cô có dịp. Anh đến khi cô đang cho

đàn gà ăn. Chỉ một phút anh đã ở đây, cho dù cô

không thấy anh đến. Cô chờ cho anh lên tiếng.

“Line, anh tiếc. Anh rất tiếc. Anh không biết nói

gì với em... Trong nhiều tiếng đồng hồ Merete không

ngủ được và anh không biết phải làm gì.” Anh đang

bồn chồn, áy náy, mắt anh nhìn đâu đâu nhưng không

nhìn đến cô.

Line thở dài: “Được rồi. Em sẽ kiếm chuyện giải

thích cho hai đứa trẻ. Chúng ta sẽ đi tối nay. Một

giờ.”Anh im lặng.

“Anh đã đổi ý phải không?”

Anh thở dài.

119

Cô thấy mình đang run rẩy: “Bởi vì nếu anh đổi ý,

em sẽ không đi mà không có anh. Em sẽ ở lại, rồi em

sẽ nói với mọi người là em đang mang trong bụng

đứa con của anh. Em sẽ làm cho anh xấu hổ trước mặt

mọi người. Trước mặt vợ anh và con cái anh. Nếu

Per đuổi em, em không màng. Bọn em sẽ lạnh cóng mà

chết. Con anh sẽ chết và em sẽ chết. Và anh sẽ chịu

trách nhiệm. Anh đã chuẩn bị tinh thần chưa?”

Mặt Espen tái xanh: “Line, đừng nói mấy chuyện đó!

Thật là kinh khủng... Anh không có ý nói sẽ không

đi. Chỉ là khó khăn, vậy thôi. Những gì anh phải bỏ

lại... em không phải bỏ lại gì cả.”

“Anh yêu nó không?”

“Ai? Merete hả? Em biết anh không yêu mà. Anh yêu

em.”“Thế thì tối nay lúc 1 giờ. Nếu Merete không

120

ngủ được, anh phải tìm cách viện lý do.”

Anh lộ vẻ cam chịu. Sẽ ổn thôi. Chỉ có điều anh là

người đàn ông cần được dẫn dắt, giống như nhiều

người khác.

Tuy thế, Line không biết làm thế nào để thời giờ

còn lại qua nhanh. Cô không thể ngồi yên. Thấy cô

bồn chồn trong khi hai người đang may chăn bông,

Britta nói: “Có việc gì vậy, em gái? Kiến cắn trong

quần hả?” Line chỉ biết cười trừ.

Nhưng cuối cùng, dĩ nhiên, cuối cùng thì cũng tới

một giờ, và ba mẹ con lại đi đến chuồng gia súc.

Ngay khi đẩy cánh cửa, cô có thể cảm nhận Espen

đang ở đấy. Anh thì thào tên cô trong bóng tối.

Cô đáp: “Bọn em đây.”

Anh thắp đèn và mỉm cười với hai đứa trẻ. Chúng

121

nhìn anh với vẻ bẽn lẽn, hồ nghi.

“Hai cháu có mong đi chơi không?”

“Tại sao chúng ta đi vào giữa khuya? Chúng ta đi

trốn hả?” Đó là giọng nói của Torbin với nhận thức

sắc sảo.

“Không phải. Ta cần khởi hành sớm để đi được xa

trước khi trời lại tối. Đó là cách người ta đi

trong mùa đông.”

Line lo lắng, giọng nghe sắc lẻm: “Nhanh lên,

không được nói tầm phào nữa. Hai con sẽ thấy khi

tới nơi.”

Espen cột các túi phía sau hai chiếc yên ngựa -

anh đã chuẩn bị sẵn sàng cho hai con ngựa. Line cảm

thấy trào dâng lòng yêu thương đối với hai con vật

chắc khỏe, di chuyển từ tốn; chúng làm bất kỳ việc

122

gì được đòi hỏi, không quấy rầy hoặc cãi cọ, ngay

cả lúc một giờ khuya. Họ dắt hai con ngựa đi ra

ngoài, vì có nhiều bùn nên móng ngựa không gây ra

tiếng động. Cả vùng Himmelvanger không có ánh sáng,

nhưng họ vẫn dẫn hai con ngựa đến một trảng cây

cáng lò nhỏ, tránh xa tầm mắt của các cửa sổ, rồi

Espen đỡ hai đứa trẻ và Line lên lưng ngựa và nhảy

lên yên phía sau Torbin.

Line nắm trong tay một chiếc địa bàn ăn cắp được:

“Ta bắt đầu đi về hướng đông-nam.” Cô nhìn lên bầu

trời: “Nhìn xem, có những ngôi sao. Sẽ giúp cho ta.

Ta sẽ đi về hướng ngôi sao đó, thấy không?”

“Bác không định cầu nguyện Thượng đế ban phúc cho

chuyến đi của chúng ta hay sao?” Torbin cựa quậy

qua lại để nhìn đến mẹ. Nhiều lúc nó có thể là một

123

đứa trẻ mô phạm, luôn muốn tỏ ra đúng đắn, và nó đã

sống ở Himmelvanger qua ba năm, nơi mà người ta ít

khi di chuyển mà thiếu cầu nguyện.

“Dĩ nhiên rồi. Bác sắp cầu nguyện đây.”

Espen kìm dây cương, và cúi đầu xuống. Thì thầm

nhanh, như thể đôi tai mộ đạo của Per cách vài dặm

có thể nghe được lời cầu nguyện: “Cầu xin Thượng

đế, Vua của muôn loài trên thượng giới và trần

gian, nhìn thấy và che chở tất cả, trông nom cho

cuộc hành trình của chúng con, dìu dắt chúng con

tránh các mối nguy hiểm, và giữ cho chúng con đi

đúng đường. Amen.”

Line thúc gót chân vào hông con ngựa. Cái khối đen

của Himmelvanger nhỏ dần phía sau lưng họ. Trời

quang đãng nên lạnh hơn. Lạnh hơn nhiều so với đêm

124

hôm trước. Họ đã ra đi vừa kịp lúc.

***

Từ lúc cha cô trở về nhà sau một đêm bị giam giữ,

ông xem dường là một con người khác. Ông ngồi một

mình trong phòng đọc sách, không đọc sách hoặc viết

thư hoặc làm việc gì khác để giúp mình bận bịu, mà

bất động nhìn qua khung cửa sổ trong hồi lâu.

Maria nhận biết tình trạng này bởi vì cô đã nhìn

lén qua lỗ khóa, sau khi ông ra lệnh không được làm

phiền. Bản chất của ông không phải là tự mình tách

ra khỏi cô, nên cô lo lắng.

Susannah cũng lo lắng, nhưng vì những lý do khác.

Dĩ nhiên là cô quan ngại cho người cha và hành vi

kỳ lạ của ông, nhưng ông vẫn ngồi dùng bữa cùng với

gia đình, và cũng tỏ ra vui tươi. Như cô nói với

125

chị, hẳn vào lúc này ông không thể thi hành các

nhiệm vụ của một quan tòa, thế thì ông làm được

việc gì khác? Không, Susannah chỉ tỏ lòng quan ngại

đối với Donald. Anh và Jacob đã ra đi được ba

tuần, không lâu lắm, dù cho họ dự định sẽ trở về

sớm hơn. Maria và Susannah đã ức đoán về lý do. Câu

trả lời hiển nhiên nhất là họ vẫn chưa tìm ra

Francis Ross. Nếu anh con trai kia đã chết, họ hẳn

sẽ trở về. Nếu họ tìm thấy anh gần đâu đó thì cũng

thế.

Với đôi mắt mở tròn, gần bật khóc, Susannah hỏi:

“Nhưng nếu họ tìm ra Francis và anh giết họ để trốn

lánh công lý thì sao?”

Maria tỏ vẻ khinh thường: “Em thực sự nghĩ Francis

Ross có thể giết anh Moody và Jacob, khi cả hai

126

người đều được vũ trang, hay sao?” Hơn nữa, anh ta

hẳn không đủ sức. Anh không cao hơn em. Thực sự đó

là chuyện vô lý nhất mà chị từng nghe.”

Bà mẹ trách móc khi ngồi trên ghế lo việc may vá:

“Maria...”Susannah bực bội nhún vai: “Em chỉ nghĩ

đến giờ này thì họ đã phải gửi tin tức về.”

“Họ không gửi được nếu không có người mang tin.”

“Ôi chao, không phải như họ đang ở giữa... Ngoại

Mông.”Maria chẳng đặng đừng nhận xét: “Thực ra,

Mông Cổ còn có mật độ dân cao hơn Canada nhiều.”

“Nếu chị muốn trấn an em thì... đừng nói vậy!”

Susannah đứng dậy bước ra khỏi phòng, đóng sầm cửa

lại.Bà Knox nói nhẹ nhàng: “Đáng lẽ con phải tỏ ra

tử tế hơn. Nó đang lo lắng.”

Maria cố kiềm chế cãi lại. Có lẽ cô cũng lo lắng,

127

nhưng như từ trước đến giờ, mọi người đều quan ngại

cho trạng thái tinh thần của Susannah hơn là của

cô.“Thực sự là không có gì phải lo lắng. Ta có thể

nhận tin tức bất cứ lúc nào. Con lấy làm ngạc

nhiên Công ty đã không cử người đi tìm họ.”

Không khí trong gia đình ngột ngạt vì người cha

ngồi như phỗng đá trong phòng đọc sách, Susannah

đang rơi nước mắt, còn người mẹ im lìm một cách kỳ

lạ. Maria quyết định phải thoát ra khỏi tất cả. Sự

thật là cô bứt rứt phần nào vì phản ứng của mình

khi bàn về Moody. Cô cũng đang thắc mắc chuyện gì

đã xảy ra đối với họ, và cầu mong anh được bình an;

tương tự như người ta quan ngại về bất kỳ người

bạn nào họ không nghe tin tức trong một thời gian.

Điều này chẳng có nghĩa gì cả. Nhưng cô đang nghĩ

128

đến gương mặt của anh: tàn nhang trên đôi gò má,

đôi gọng kính xệ thấp trên sống mũi, và nụ cười

khôi hài mỗi khi anh được hỏi, như thể anh nghi ngờ

khả năng mình trả lời, nhưng vẫn sẵn lòng trả lời.

Cô đi đến cửa hàng với đôi giày ủng và chiếc váy

lấm bùn. Bà Scott đang đứng sau quầy, và chỉ ngẩng

đầu trong một tích tắc. Khi chào bà, cô thoáng thấy

một vết sưng đang ngả màu vàng trên gò má trái,

hủy hoại nét cân đối của khuôn mặt. Bà Scott - có

thời là cô Rachel Spence - đóng vai trò Đức mẹ Đồng

trinh trong ảnh Chúa giáng trần ở trường học. Cư

dân lớn tuổi vẫn nhắc cho bà nhớ điều này, nhưng đó

là ngày xưa, còn bây giờ họ hay hỏi đến những sự

cố xảy ra mà bà thường xuyên chịu đựng.

129

Ông Sturrock đang ở trong phòng. Maria ngồi chờ

gần bếp lò ở tầng dưới, không chắc ông chịu gặp

mình, nhưng chỉ một phút sau ông đi xuống.

“Cô Knox. Cơ may nào giúp cho tôi gặp cô?”

“Ông Sturrock à, tôi e là do nỗi buồn chán.”

Ông nhún vai một cách tao nhã, hiểu ý nghĩa câu

nói của cô theo cách khác: “Tôi lấy làm vui, nếu

chuyện đó mang cô tới đây.”

Có nét gì đó trong diễn cảm của ông làm cho cô e

dè. Nếu ông là người trẻ tuổi hơn thì cô hẳn nghi

ông có tình ý với mình. Có lẽ là vậy. Cô nghĩ nếu

chỉ có người lớn tuổi hơn cha cô để ý đến cô thì đó

là chuyện bình thường.

Sturrock gọi cà phê rồi nói: “Cô đừng nghĩ tôi

thiếu phép tắc nếu tôi mời cô lên phòng nhé? Chỉ là

130

một cái mà tôi muốn cho cô xem.”

“Không, tôi không cho đó là thiếu phép tắc.” Điều

kỳ lạ là cô đã nghĩ thế, tuy có phần nghi ngại.

Phòng ông có mùi mốc, nhưng sạch sẽ. Ông thu dọn

chồng giấy trên chiếc bàn gần cửa sổ, và kéo hai

chiếc ghế. Maria ngồi xuống, cảm thấy thích sự chăm

sóc của ông. Lúc còn trẻ hẳn ông khá đẹp trai, và

thật ra bây giờ vẫn thế, với mái tóc bạc dầy và đôi

mắt xanh lam trong trẻo. Cô cười thầm với chính

mình về ý nghĩ ngốc nghếch.

Quang cảnh nhìn từ cửa sổ là mặt tiền con đường;

vị trí tốt cho người muốn nhìn cảnh qua lại. Chẳng

chóng thì chầy, mọi người sống ở Caulfield đều sẽ

đến cửa hàng. Ngay cả ngôi nhà của cô cũng được

nhìn thấy thấp thoáng đằng xa, và xa hơn nữa là mặt

131

nước xám lặng lờ dưới trần mây thấp.

“Không bằng lâu đài, nhưng tôi thấy nó được việc.”

“Ông làm việc ở đây hở?”

“Theo một cách nói thì là vậy.” Ông ngồi xuống,

trao cho cô một tờ giấy: “Cô nghĩ gì về cái này?”

Maria cầm tờ giấy, trông cũ kỹ, được xé ra từ một

quyển sổ. Có những đường vẽ bút chì, nhưng thoạt

tiên cô không nhìn ra phương hướng trên dưới ra

sao. Có những dấu hiệu có góc cạnh - chủ yếu là

những đường theo các cấu hình khác nhau: đa giác,

đường song song, đại loại như thế. Chung quanh các

dấu này là nét vẽ phác của một số hoa văn hình gậy,

nhưng không có khuôn mẫu rõ ràng. Cô xem xét một

cách cẩn thận.

“Tôi rất tiếc phải làm cho ông thất vọng, nhưng

132

tôi không nhìn ra cái gì hết. Đây là bản chép hoàn

chỉnh chứ?”

“Vâng - theo những gì tôi biết. Nó được chép lại

từ một mảnh nguyên vẹn, nhưng dĩ nhiên còn có những

hình khác.”

“Chép lại từ cái gì? Đây không phải thuộc về

Babylon( ), đúng không?, mặc dù trông khá giống chữ

viết hình nêm( ).”

“Đó cũng là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Nhưng không

thuộc về Babylon, hoặc chữ viết tượng hình( ), hoặc

chữ Hy Lạp. Nó cũng không phải Sanskrit( ), hoặc

Do Thái, hoặc Aramaic( ), hoặc Ả Rập.”

Maria mỉm cười; ông đang nói về việc đánh đố, và

cô thích việc đánh đố. “Nó không phải chữ Hán hoặc

chữ Nhật. Tôi không biết, tôi không nhận ra - các

133

hình thể này... Nó có phải là một loại chữ viết ở

châu Phi không?”

Ông lắc đầu: “Nếu cô nhận ra thì tôi rất khâm

phục. Đây là cái gì đó mà tôi đã mang đến các viện

bảo tàng và trường đại học để cho các chuyên viên

ngôn ngữ xem, nhưng họ đều không nhận ra nó là cái

gì.”

“Và cái gì đó khiến cho ông nghĩ rằng... nó còn

hơn là một khuôn mẫu trừu tượng, đúng không? Ý tôi

nói là, mấy hình thể này trông như trò trẻ con.”

“Đó là bởi vì tôi không có kỹ năng sao chép lại

cho chính xác. Nguyên bản có một khuôn mẫu nhất

định. Như cô nói, đây chỉ là một phần. Nhưng đúng,

tôi vẫn nghĩ nó còn hơn là vài nét nghuệch ngoạc.”

“Ông nói nét nghuệch ngoạc là sao?”

134

“Nguyên bản được cắt thành một mảnh xương, và được

nhuộm với một loại phẩm màu đen nào đó, có lẽ là

một hỗn hợp bồ hóng. Công việc này rất công phu.

Đây là những hình thể xếp đầy chung quanh, theo một

chuỗi. Tôi nghĩ các dấu hiệu là một thứ ngôn ngữ

và ghi lại một sự kiện nào đó, và các hình thể minh

họa sự kiện đó.”

“Thật vậy sao? Ông đã diễn dịch tất cả điều này

hở? Nguyên bản hiện đang ở đâu?”

“Ước gì tôi biết được. Người làm chủ nó đã hứa

trao nó cho tôi, nhưng...” Ông nhún vai.

Maria nhìn ông chăm chú: “Người đó... có phải là

Jammet không?”

“Cô đoán giỏi lắm!”

Cô cảm thấy kích xúc với một niềm tự mãn: “Thế là

135

nó nằm trong số tài sản của anh ấy phải không?”

“Nó mất rồi.”

“Mất rồi? Ý ông nói là bị đánh cắp chứ gì?”

“Tôi không biết. Hoặc nó bị đánh cắp, hoặc anh ấy

bán nó hay cho ai đó. Nhưng tôi nghĩ hai việc sau

là không đúng; anh ấy nói sẽ giữ nó cho tôi.”

“Vì thế... ông đang chờ anh Moody mang nó về phải

không?”“Có thể là hão huyền, nhưng đúng vậy.”

Maria lại nhìn vào tờ giấy: “Ông biết không, nói

gợi cho tôi nhớ đến cái gì đó... hoặc đúng hơn là

các hình thể gợi cho tôi. Nhưng tôi không chắc đó

là cái gì. Tôi không nhớ.”

“Nếu cô cố nhớ ra thì tôi rất cám ơn.”

“Ông Sturrock à, xin đừng bắt tôi phải khổ sở. Nó

là cái gì vậy?”

136

“Tôi rất tiếc. Tôi không biết.”

“Nhưng ông có một ý tưởng.”

“Đúng. Điều này nghe ra không tưởng, nhưng tôi...

có một - à, tôi nghĩ hy vọng là cách nói đúng nhất.

Tôi hy vọng đây là một thứ chữ viết của người Da

Đỏ.”“Ý ông nói... người Da Đỏ Bắc Mỹ? Nhưng họ

không có chữ viết - ai cũng biết điều này.”

“Có thể xưa kia họ có chữ viết.”

Maria suy nghĩ về lời ông nói. Ông có vẻ hoàn toàn

nghiêm túc.

“Nguyên bản cũ là như thế nào?”

“À - Tôi cần phải tìm hiểu.”

“Ông biết nó từ đâu ra không?”

“Không, và bây giờ khó mà tìm hiểu.”

“Thế thì...” Cô tìm cách chọn ngôn từ cho đúng,

137

không muốn làm ông phật lòng: “Dĩ nhiên là ông đã

nghĩ nó có thể là vật giả mạo.”

“Tôi đã nghĩ tới điều này. Nhưng thường người ta

chỉ làm ra vật giả mạo để kiếm chác. Khi có thị

trường cho những vật như thế. Tại sao ai đó lại cất

công làm ra một vật mà không có giá trị?”

“Nhưng đó chính là lý do khiến cho ông đến đây,

Caulfield, phải không? Thế thì ông hẳn tin nó không

phải là vật giả mạo.”

Ông mỉm cười, tự chế nhạo mình: “Tôi không phải

giàu có. Nhưng luôn vẫn có thể - tuy rằng không

chắc - đó là vật thực.”

Maria lại mỉm cười, không chắc chắn mình nghĩ gì.

Tính hay nghi ngại là rào cản giúp bảo vệ cô chống

lại sự giễu cợt, và đó là cách cô thể hiện thái độ

138

kịch liệt phản đối. Nhưng cô e rằng ông đang đi

theo con đường sai lầm.

“Các hình thể đó... gợi cho tôi nhớ lại những hình

vẽ của người Da Đỏ mà tôi đã từng thấy. Như là

lịch, đại loại như vậy, ông biết chứ.”

“Cô không thấy thuyết phục.”

“Tôi không biết. Có lẽ nếu tôi xem qua nguyên

bản...”“Dĩ nhiên rồi, cô cần xem qua. Cô nói đúng,

chính vì thế mà tôi đến đây. Đó là mối quan tâm

của tôi: các sự vụ và lịch sử của người Da Đỏ. Tôi

thường viết các bài nghiên cứu. Tôi được tiếng nhờ

đó, tuy chỉ là nhỏ nhoi thôi. Tôi thực lòng tin...”

ông ngập ngừng, nhìn ra khung cửa sổ “... tôi thực

lòng tin rằng nếu người Da Đỏ có một nền văn hóa

chữ viết, thì người ta sẽ đối xử với họ khác đi.”

139

“Ông có thể đúng.”

“Tôi có một người bạn, một người bạn Da Đỏ, thường

nói đến điều khả dĩ này. Cô thấy không, điều này

không phải là hoàn toàn chưa ai nói tới.”

Nếu Sturrock cảm thấy thất vọng vì phản ứng của cô

thì ông vẫn không để lộ ra.

Cảm thấy mình đã quá khắt khe, cô đưa tay nắm lấy

tờ giấy: “Tôi chép lại được không? Nếu ông cho phép

- Tôi có thể mang đi mà... thử làm việc gì đó.”

“Làm việc gì?”

“Chữ viết là một thứ mã, phải không. Và bất kỳ thứ

mã nào cũng có cách giải mã.” Cô nhún vai, cho

thấy mình không có kinh nghiệm trong việc này.

Sturrock mỉm cười và đẩy tờ giấy về phía cô: “Được

rồi, cô cứ tự tiện. Tôi đã thử, nhưng không thành

140

công.”Maria không hề tin rằng mình có thể giúp,

nhưng ít ra việc này cũng giúp tâm trí cô thoát

khỏi mấy chuyện chán nản và lo lắng đang vây phủ cô

mọi bề.

***

Ông ở độ tuổi trung niên, người tầm thước, với đôi

mắt xanh lam tinh anh trên gương mặt phong sương,

và mái tóc muối tiêu cắt ngắn. Ngoài đôi mắt, bộ

dạng ông không có gì nổi bật, nhưng tạo ấn tượng

của một con người khiêm tốn, có sức thu hút, đáng

tin cậy. Tôi có thể hình dung ông là một luật sư

hoặc bác sĩ miền quê, một mẫu người công chức vốn

đã đem trí thông minh làm việc tốt - ngoại trừ có

lẽ đôi mắt ấy: như soi mói, nhìn sâu rộng, sáng sủa

như mơ mộng. Đôi mắt của một nhà tiên tri. Tôi

141

thấy ngạc nhiên, thậm chí bị thu hút. Không hiểu

sao tôi đã nghĩ mình sẽ gặp một quái vật.

Stewart bắt tay tôi và khẽ cúi đầu chào: “Bà Ross.

Rất hân hạnh được gặp bà.”

Tôi gật đầu.

“Còn anh hẳn là Moody. Hân hạnh được quen biết với

anh. Frank nói với tôi anh làm việc ở Vịnh

Georgian. Một vùng đẹp đẽ của phần đất này.”

Moody mỉm cười và bắt tay với Stewart: “Vâng, đúng

vậy. Tôi cũng hân hạnh được gặp ông. Tôi đã nghe

nói nhiều về ông.”

Stewart lắc đầu với một nụ cười, có vẻ như ngượng

ngập: “À, thế... Ông Parker. Tôi nghĩ cần cảm ơn

ông đã dẫn đường cho hai vị này trong cuộc hành

trình khó khăn như vậy.”

142

Parker lưỡng lự một giây đồng hồ rồi đưa tay bắt.

Theo tôi nhận xét, khuôn mặt Stewart không tỏ vẻ gì

là ghi công Parker cả.

“Ông Stewart, tôi rất vui được gặp lại ông.”

Stewart lộ vẻ như vừa muốn tạ lỗi vừa lúng túng:

“Gặp lại? Xin lỗi, tôi không nhớ...”

“William Parker. Gần Hồ Clear. Mười lăm năm về

trước.”Mặt ông tỏ vẻ tươi tắn dễ chịu: “Hồ Clear

à? Ông Parker, xin ông thứ lỗi, trí nhớ tôi bây giờ

đã kém.”

Parker không cười: “Có lẽ nếu ông vén tay áo bên

trái, ông sẽ nhớ.”

Nét mặt Stewart thay đổi, và trong một giây khắc

tôi không hiểu nổi. Rồi ông cười phá lên, đập tay

lên vai Parker: “Trời đất! Làm thế nào tôi quên

143

được? William! Đúng rồi, đương nhiên. Mà này, đã

lâu lắm rồi, như ông nói.” Rồi ông nghiêm sắc mặt

lại: “Rất tiếc tôi đã không đến gặp ông sớm hơn khi

mới trở về. Có một tai nạn thương tâm, như quý vị

đã nghe.”

Chúng tôi gật đầu, như bọn học trò gật đầu với

thầy hiệu trưởng.

“Nepapances là một trong số những nhân viên giỏi

nhất của tôi. Chúng tôi đang săn thú dọc một con

sông cách đây không xa.” Ông nói nhỏ lại, và tôi

nghĩ tuy không chắc, tôi thấy long lanh giọt lệ

trong đôi mắt ông: “Chúng tôi đang theo dấu vết nào

đó và... tôi vẫn không tin chuyện gì đã xảy ra.

Nepapanees là người có kinh nghiệm theo dõi dấu

vết; người săn thú giỏi. Trong vùng lùm bụi thì

144

không ai biết rành như anh ấy. Nhưng trong khi đi

theo một dấu vết dẫn ra dọc bờ sông, anh ấy bước

lên một lớp băng mỏng rồi chìm nghỉm.”

Ông ngưng lại, đôi mắt chú mục vào cái gì đấy

không hiện diện trong phòng. Tôi nhận thấy gương

mặt ông, vốn thoạt tiên toát vẻ tự tin, bây giờ hằn

vẻ mệt mỏi. Có thể ông ở tuổi bốn mươi. Có thể ông

già hơn mười lăm tuổi. Tôi không biết chắc.

“Chỉ một phút anh ấy ở đó, phút kế tiếp đã biến

mất. Anh chìm xuống, cho dù tôi bò ra xa đến mức có

thể được nhưng vẫn không thấy anh ấy. Tôi còn gục

mặt xuống để tìm, nhưng vô ích. Tôi vẫn tự hỏi - có

lẽ mình đã làm được hơn thế nữa?”

Ông lắc đầu: “Bạn có thể làm một việc cả ngàn lần

mà không nghĩ ngợi gì. Giống như đi trên mặt nước

145

đóng băng. Bạn đã biết rõ lớp băng dày bao nhiêu,

biết dòng nước bên dưới chảy mạnh hay yếu. Và rồi

sau những lần như thế bạn biết là an toàn, lần kế

tiếp bạn đặt chân lên thì bạn phạm phải sai lầm, và

mặt băng không đỡ được sức nặng của bạn.”

Moody gật đầu với vẻ cảm thông. Parker đang nhìn

ông với chút ít chú ý, săm soi ông với cùng dáng vẻ

mà tôi đã thấy trên gương mặt ông khi đang xem xét

mặt đất, cố tìm ra dấu vết. Tôi không rõ ông thấy

khó hiểu chỗ nào, vì Stewart chỉ lộ vẻ hối tiếc và

buồn rầu.

Tôi hỏi: “Người ngoài kia là vợ anh ấy phải

không?”“Elizabeth tội nghiệp. Đúng. Họ có bốn đứa

con; bốn đứa trẻ không cha. Một hoàn cảnh kinh

khủng. Tôi thấy anh đi ra gặp cô ấy.” Ông đang nói

146

với Moody: “Có lẽ anh nghĩ chúng tôi vô cảm khi để

cô ấy một mình, nhưng đó là cung cách của họ. Họ

tin rằng không ai có thể nói gì vào thời khắc như

thế này. Phải để họ than khóc theo cách của họ.”

“Nhưng hẳn là, họ có thể nói cho cô ấy biết là cô

không phải đơn độc. Và trong thời tiết này...”

“Nhưng trong nỗi đau của riêng cô ấy, thì cô đơn

độc, phải không? Anh ấy chỉ có một vợ, và cô ấy chỉ

có một chồng.” Đôi mắt xanh của ông nhìn qua tôi,

và tôi phải nhìn nhận là ông nói đúng. “Cô ấy đặc

biệt đau khổ vì tôi không mang thi hài anh ấy về

được. Quý vị biết không, theo người Da Đỏ thì chết

đuối là vô phúc. Họ tin rằng linh hồn không thể

siêu thoát. Ít nhất cô ấy đã được rửa tội, nên có

lẽ cô sẽ tìm thấy ít an ủi. Và các đứa trẻ cũng

147

thế. Đó là phúc lành.”

***

Dù đang ở trong không khí gây sốc, Stewart vẫn

nhất quyết muốn dẫn chúng tôi đi xem chung quanh.

Chuyến tham quan là cử chỉ lịch sự đối với tất cả

khách viếng thăm, nhưng có tính cách khập khiễng và

hão huyền, như thể chúng tôi đang đóng vai trò của

các vị khách thì thầm lời khen tặng.

Đầu tiên, ông dẫn cho chúng tôi đi xem tòa nhà

chính; ba mặt là quảng trường. Tòa nhà một tầng

bằng gỗ với một hành lang chính giữa như là cột

sống, và các phòng nằm dọc theo hai bên. Trong khi

chúng tôi đi xem, sự khác biệt giữa quá khứ và hiện

tại của Hanover càng lúc càng rõ nét. Toàn thể một

chái của tòa nhà là dành cho khách; ít nhất có

148

chục phòng. Các phòng dành cho chúng tôi hướng ra

phía ngoài, nhìn ra con sông và khu đồng bằng. Bây

giờ quang cảnh toàn một nền trắng cùng những đường

chân trời màu xám lờ mờ hòa trộn nhau, có một dốc

đá màu nâu cắt ngang. Nhưng vào mùa hè thì cảnh này

hẳn là đẹp. Rồi có một phòng ăn, nhưng khi không

có bàn ăn dài thì xem trống vắng và cô đơn. Stewart

cho chúng tôi biết rằng xưa kia, khi Hanover còn

là trung tâm của một vùng có nhiều lông thú, nơi

đây chứa một trăm nhân viên và gia đình của họ, và

lợi nhuận cao tạo ra những buổi tiệc tùng kéo dài

thâu đêm. Nhưng đó là nhiều năm về trước, trước khi

Stewart đến nhận công tác. Trong khoảng hai mươi

năm qua, thương điếm này hoạt động với một đội ngũ

nhân viên ít ỏi, cố duy trì quyền kiểm soát chông

149

chênh của Công ty trong vùng hoang dã, nhằm giữ thể

diện của quá khứ hơn là vì lý do tài chính hợp lý.

Chái trung tâm dài của tòa nhà phần lớn là trống

vắng; lúc trước là nơi cư ngụ của nhân viên điều

hành, bây giờ là hang ổ của nhện và chuột. Thay vì

có hàng chục nhân viên điều hành, bây giờ chỉ còn

Stewart và Nesbit. Một nhân viên duy nhất cư ngụ ở

đây là thông dịch viên chính, Olivier, một anh trai

trẻ không lớn tuổi hơn Francis. Stewart kêu anh

này đến gặp chúng tôi, và có lẽ anh không vui nhưng

vẫn không lộ ra ngoài mặt. Anh có đầu óc nhặm lẹ,

sẵn sàng làm vui lòng người, và với vẻ tự hào

Stewart nói với chúng tôi rằng anh nói giỏi bốn thứ

tiếng vì có lợi thế ở cha mẹ anh: một người nói

150

tiếng Pháp và một người nói tiếng Anh, có gốc gác ở

hai sắc tộc bản địa khác nhau.

Stewart nói: “Olivier sẽ tiến xa trong Công ty,”

và Olivier mặt sáng lên với vẻ vui mừng lẫn ngượng

ngập. Tôi tự hỏi có đúng thế không: làm thế nào một

anh trai trẻ da ngăm đen tiến thân trong một công

ty của người nước ngoài? Nhưng rồi, có lẽ anh đã

tiến khá. Anh có công ăn việc làm và có tài năng,

lại có người nâng đỡ là Stewart.

Từ chái thứ ba của tòa nhà, gồm các văn phòng,

Stewart dẫn chúng tôi đến một kho chứa hàng. Ông

giải thích là trong mùa hè họ đã chở đi phần lớn

lượng lông thú, nên bây giờ hàng tồn kho còn ít.

Người đặt bẫy làm việc trong mùa đông để kiếm lông

thú, và đến mùa xuân họ mang sản phẩm đến bán cho

151

thương điếm. Donald dọ hỏi về các loại hàng hóa và

sản lượng, và Stewart chú tâm trả lời khiến cho

Donald cảm thấy tự mãn. Tôi liếc qua Parker để thăm

dò phản ứng của ông, nhưng ông ngó lơ. Tôi cảm

thấy bị hắt hủi. Những người khác phớt lờ, nhưng có

cái gì đấy đập vào mắt tôi. Tôi cúi xuống và nhặt

lên một mẩu giấy hình vuông. Viết trên đó là một số

chữ cái và chữ số: 66HBPH, tiếp theo là tên các

con thú. Tôi nhớ lại rằng mình vẫn còn giữ mẩu giấy

mà Jammet đã cẩn thận giấu - có lẽ vậy - trong

ngôi nhà gỗ của anh.

Tôi trao mảnh giấy cho Stewart: “Cái gì thế?”

“Đó là giấy đóng gói. Khi chúng tôi đóng gói lông

thú...” ông đang nói với mình tôi, là người duy

nhất không biết đến cách làm việc của Công ty “...

152

danh sách các món hàng được để trên cùng để chúng

tôi biết mình không mất món nào. Mã số trên cùng

chỉ ra loại hàng hóa - đây là tháng Năm năm rồi,

tên Công ty, dĩ nhiên là vậy, tên hạt, tức là

Missinaibi, được chỉ danh bằng chữ P, và thương

điếm - Hanover, H. Vì vậy mà mỗi gói hàng được xác

định xuất xứ và thời điểm.”

Tôi gật đầu. Tôi không nhớ các chữ cái trên mảnh

giấy của Jammet, chỉ biết rằng đấy là vài năm

trước, có lẽ là vào lần cuối anh làm việc ở ấy. Vẫn

còn cần được giải thích thêm.

Đi quá các nhà kho là khu chuồng gia súc, trống

trơn ngoại trừ các con chó và vài con ngựa. Và quá

nữa, là bảy hoặc tám ngôi nhà gỗ nơi các nhân viên

tải hàng sống với gia đình của họ, và nhà nguyện.

153

“Bình thường thì tôi dẫn quý vị đi gặp mọi người,

nhưng hôm nay... Đây là một cộng đồng gần gũi, đặc

biệt bây giờ chúng tôi không có nhiều người. Có

nhiều chuyện buồn.” Rồi ông quay đầu lại, hình như

nói với riêng tôi lần nữa: “Xin tự nhiên đến nhà

nguyện bất kỳ lúc nào. Luôn mở cửa.”

“Ông Stewart, tôi biết lúc này đầu óc ông bận rộn

nhiều việc, nhưng ông biết là chúng tôi có lý do để

đến đây không?” Tôi không màng liệu bây giờ có

phải là lúc thuận tiện để nêu ra việc này hay

không, tôi không muốn Moody là người đầu tiên nói

ra.

“Vâng, tôi biết chứ. Frank nói với tôi về chuyện

nào đó... Quý vị đang đi tìm ai đó, phải không?”

“Con trai tôi. Chúng tôi đã theo dấu nó. Dấu vết

154

dẫn chúng tôi đến đây... hoặc ít nhất là gần đâu

đây. Lúc gần đây ông có thấy người lạ mặt nào

không? Nó là đứa trẻ mười bảy tuổi, tóc đen...”

“Không, tôi rất tiếc. Trước khi quý vị đến đây,

chúng tôi không thấy ai cả. Tôi e mình đã bỏ sót,

với mọi chuyện như thế này... Tôi sẽ hỏi mấy người

khác. Nhưng theo tôi được biết thì không có ai khác

đang ở đây.”

Vậy là trước mắt chỉ có thế. Moody có vẻ không hài

lòng với tôi chút nào, nhưng đó là vấn nạn nhỏ

nhặt nhất của tôi.

Stewart kiếu chúng tôi để đi lo vài công việc của

Công ty, và tôi nhìn qua Parker và Moody. Chúng tôi

ngồi trong phòng khách của Stewart, với một lò

sưởi tạo cảm giác khá thoải mái, và một bức tranh

155

sơn dầu phía trên lò sưởi, vẽ các thiên thần.

“Tối qua, ngay sau khi chúng ta đến đây, tôi nghe

Nesbit đang đe dọa một phụ nữ. Anh ta bảo cô ấy sẽ

biết tay anh ta nếu cô không giữ mồm giữ miệng ‘về

ông ấy’. Anh ta nói thế - ‘về ông ấy’. Cô ấy đang

tranh cãi; tôi nghĩ cô không muốn làm theo. Và rồi

anh ta nói chuyện gì đó sẽ xảy ra khi ‘ông ấy’ trở

về. Đấy hẳn là Stewart.”

Moody hỏi: “Cô ấy là ai vậy?”

“Tôi không biết. Tôi không thấy mặt cô này, và cô

nói khẽ hơn anh ta.”

Tôi lưỡng lự, không biết có nên kể cho Moody nghe

về Nesbit và Norah hay không. Có cái gì đấy khiến

cho tôi nghĩ người ấy là Norah; xem dường cô là mẫu

người thích tranh cãi. Nhưng cánh cửa đã bật mở và

156

anh thông dịch trẻ Olivier bước vào. Dường như anh

được sai phái đến để làm bạn với chúng tôi. Nhưng

tôi có cảm tưởng như người nào đấy muốn theo dõi

chúng tôi.

***

Có lần cô nghe chuyện một phụ nữ lâm vào cảnh rối

rắm vì người chồng đe dọa giết cô này. Cô đi đến

thương điếm gần nhất của Công ty và đứng chờ bên

ngoài, với tư trang của cô chất đống trước mặt. Đầu

tiên, cô đốt tư trang của mình. Rồi châm que diêm

đốt chiếc túi treo quanh cổ. Chiếc túi chứa đầy

thuốc súng và nổ tung, khiến cho cô mù mắt, mặt và

ngực bị bỏng. Sống sót vì lý do khó hiểu, cô lại

lấy một sợi dây thừng treo cổ mình trên một nhánh

cây. Nhưng cô vẫn sống, rồi lấy một cây kim dài đâm

157

vào lỗ tai phải. Cho dù cây kim đâm lút sâu vào

đầu, cô vẫn không chết. Cô chưa tới số, và linh hồn

cô không muốn rời xa cô. Thế là cô từ bỏ ý định,

đi đến nơi nào đó để bắt đầu cuộc sống mới, rồi

khấm khá lên. Tên cô là Chim-bay-trong-ánh-nắng.

Điều lạ lùng là cô còn nhớ những chi tiết như thế

trong câu chuyện. Tên người phụ nữ; lỗ tai bên

phải. Có lẽ cô nhớ cái tên vì nó có phần giống tên

cô: Bird - tức Chim. Cô không biết gì khác về người

phụ nữ kia, ngoại trừ cô biết muốn chết là như thế

nào. Nếu không vì các con cô thì cô nghĩ mình cũng

muốn treo cổ. Alec sẽ ổn: mười ba tuổi, lanh lợi,

đã có việc làm, đang học việc với Olivier làm thông

dịch. Josiah và William thì nhỏ tuổi hơn nhưng

không có nhiều trí tưởng tượng khiến cho chúng sợ

158

hãi và hoang mang. Nhưng Amy còn nhỏ, và trong cuộc

sống này con gái cần được hỗ trợ nhiều hơn, nên cô

bé sẽ phải chịu đựng trong thời gian dài hơn.

Nhưng khi không có chồng bên cạnh thì lúc nào cũng

như là trong mùa đông.

Không cần phải chú tâm nhìn qua cửa sổ, cô vẫn

thấy các vị khách đi đến và đứng cách ngôi nhà dăm

bảy bước, nhìn về phía cô. Cô có thể nhận ra họ

đang nói về mình; ông ta sẽ nói về chồng cô, kể câu

chuyện chồng cô chết như thế nào. Cô không còn tin

nơi ông ta nữa; khi nói chuyện với cô, ông ta luôn

giữ kín các bí mật. Ông ta bắt chồng cô phải giữ

kín các bí mật tuy chồng cô không thích, dù anh

nhún vai mà phó mặc; sau các chuyến đi săn trở về

anh bỏ lại các bí mật bên ngoài ngôi nhà.

159

Sáng hôm ấy - cô đang mong chờ anh trở về ngay khi

cô thức giấc, Amy hỏi hôm nay pa-pa trở về phải

không, và cô nói phải - cô bước ra cánh cổng phía

tây, nghe tiếng các con chó sủa từ đằng xa, rồi cô

mỉm cười với chính mình. Cô nghe rõ đến nỗi cô tin

chắc mình nghe được tiếng nói của những người chạy

trên nền tuyết. Cô vẫn còn mỉm cười khi anh trở về

sau chuyến đi săn, dù cho họ đã cưới nhau một thời

gian lâu như thế. Cô nghe tiếng các con chó và bước

đến mô đất nơi người ta có thể nhìn qua hàng rào.

Và thấy chỉ có một người đi với chiếc xe trượt

tuyết. Cô đứng đấy mà nhìn cho đến khi ông ta đi

đến vách đá, rồi cô đi xuống khoảnh sân để nghe ông

ta nói gì, dù cô đã biết. Những người khác -

William và George và Kenowas và Mary - đã thấy ông

160

trở về một mình và đi ra để tìm hiểu, nhưng ông nói

trực tiếp với cô, chiếu đôi mắt xanh đến cô như là

một loại thần chú màu xanh, đến nỗi cô không thể

thốt nên lời. Cô không nhớ những gì khác cho đến

khi anh khách - cái anh lính mới tò te đó với vết

thương do dao đâm và chân bị đau - đi ra và cố gắng

ngỏ lời với cô, nhưng tiếng nói của anh nghe như

tiếng ong kêu vo ve và cô không hiểu anh nói gì.

Rồi một lúc sau anh mang ra một cốc cà phê, đặt bên

cạnh cô. Cô không nhớ mình đã yêu cầu cà phê,

nhưng có lẽ cô đã yêu cầu; cà phê thơm ngon, ngon

hơn là bất kỳ loại nào cô đã từng dùng, và cô nhìn

những bông tuyết li ti rơi xuống đất rồi biến mất

trên nền đen trơn như dầu. Rơi xuống rồi tan chảy,

thế là mất hút hẳn. Và rồi tất cả những gì cô có

161

thể nghĩ tới là khuôn mặt của người chồng đang cố

nói chuyện với cô, nhưng cô không thể nghe anh vì

anh đang bị kẹt dưới một phiến băng dầy trên mặt

sông, và anh đang chết đuối.

Cô cầm lấy cốc cà phê, rót xuống làn da ở mặt dưới

cánh tay. Cà phê nóng, nhưng không nóng đủ. Làn da

ửng hồng, tất cả chỉ có thế, và cánh tay cô bốc

khói như thịt trong gió lạnh.

Họ dẫn cô vào nhà, và Mary ngồi bên cô, cho thêm

củi vào lò sưởi, mang thức ăn đến cho các đứa trẻ.

Mary vẫn ở đấy, như thể lo sợ Elizabeth sẽ nhảy vào

lửa nếu ở một mình. Alec đến và vòng tay ôm lấy

cô, bảo cô đừng khóc, dù cô không khóc lúc này. Đôi

mắt cô khô khốc như một khúc củi. Amy cũng không

khóc, nhưng đấy chỉ vì cô bé còn quá nhỏ nên không

162

hiểu. Ba đứa con trai khóc cho đến khi thiếp ngủ vì

mệt mỏi. Mary ngồi kế bên cô mà không nói năng gì,

vì đã hiểu biết rõ. Một lần, George đến và nói sẽ

cầu nguyện cho linh hồn của anh: George là tín đồ

Cơ đốc và rất mộ đạo. Mary đẩy anh ra ngoài; cô và

Elizabeth là tín đồ Cơ đốc nhưng Nepapanees là

người ngoại đạo. Anh thuộc sắc tộc Chippewa, không

có giọt máu da trắng nào trong huyết quản. Đôi lần

anh đi nhà thờ nghe giảng đạo, nhưng nói đó không

phải cho mình. Elizabeth gật đầu với George; cô

biết anh có ý giúp. Và có lẽ giúp cô được; ai nói

rằng Cha trên Trời không thể can thiệp trong số

phận của chồng cô? Có lẽ có một thỏa thuận hỗ

tương.

Với giọng the thé như tiếng chìa khóa trong ổ khóa

163

gỉ sét, Elizabeth nói: “Mary, hãy nói với tôi

tuyết đang rơi.”

Mary ngước lên. Cô đang đặt Amy trên lòng mình, và

trong một khoảnh khắc Elizabeth mơ tưởng như Mary

là người mẹ và Amy là đứa trẻ mà cô không hề quen

biết.“Không, tuyết đã ngưng rơi một giờ rồi. Nhưng

bây giờ trời đang trở tối. Tuyết sẽ rơi ngày mai.”

Elizabeth gật đầu. Tuyết đã ngưng rơi chỉ vì một

lý do, và cô biết mình sẽ làm gì vào buổi sáng.

Đáng lẽ phải làm sớm hơn nếu không có tuyết, khiến

cho lúc này họ phải dừng lại và suy nghĩ. Hầu họ sẽ

làm chu toàn hơn. Vào buổi sáng họ sẽ trở lại con

sông để tìm anh và mang anh về.

Amy thức giấc, nhìn qua mẹ. Dù sao thì mẹ là của

cô bé, với đôi mắt nâu-xám và làn da xanh xao. Họ

164

đã muốn có thêm một đứa con gái. Nepapanees đã nói

trêu rằng anh muốn có một đứa con gái giống anh,

thay vì giống cô.

Bây giờ sẽ không có thêm một đứa con gái nào cả.

Linh hồn của đứa con gái này, nếu Nepapanees tin đó

là thực, sẽ phải chờ được sinh ra nơi khác, vào

một lúc khác.

Vấn đề là cô không còn tin vào bất kỳ việc gì nữa.

***

Donald quay về phòng mình để viết thư cho

Susannah. Tuyết rơi thêm trong khi họ dùng bữa; nếu

Stewart nói đúng thì cơn bão tuyết này sẽ kéo dài

nhiều ngày, và sẽ không có cơ hội đi đâu trước khi

nó chấm dứt. Nhưng anh có hơn một lý do mà cảm ơn

cho điều này. Anh cảm thấy mệt mỏi một cách đáng

165

ngại. Hai bàn chân anh nhức dữ dội mặc dù mang giày

da đanh, còn vết thương trên bụng nổi đỏ và nhỉ

nước. Anh ngồi chờ trong phòng ăn một lúc rồi kéo

Stewart qua một bên, nói nhỏ rằng mình cần chăm sóc

y tế. Stewart gật đầu và hứa sẽ kêu người nào đó

với một ít chuyên môn đến giúp anh. Rồi, khá bất

ngờ, ông nheo mắt với anh.

Dù gì chăng nữa, bây giờ anh cảm thấy không đau

lắm, ngồi ở chiếc bàn ọp ẹp mà anh yêu cầu, với tập

giấy và ít mực đã rã đông. Trước khi bắt đầu, anh

cố định hình khuôn mặt hình trái soan của Susannah

trong tâm trí mình, nhưng một lần nữa thấy khó mà

nhận ra. Một lần nữa, khuôn mặt của Maria hiện ra

sắc nét tuyệt đối, và anh nhớ ra rằng hẳn là lý thú

mà viết cho Maria để thảo luận tình trạng phức tạp

166

của họ, mà anh tin chắc sẽ làm buồn cô em. Chưa kể

đến vụ việc rối reng của người góa phụ. Anh muốn

biết Maria sẽ nói gì về mấy chuyện này. Ngày mai

hoặc ngày mốt, không có gì phải vội vã, anh sẽ dọ

hỏi. Nhưng bây giờ, có thể gạt những nhiệm vụ ra

khỏi đầu óc của mình.

Anh viết với đủ tự tin: “Susannah thân mến.” Nhưng

tiếp theo đó, anh lưỡng lự. Tại sao không viết thư

cho cả hai chị em? Dù sao chăng nữa, anh quen biết

với cả hai. Anh chấm cây viết lên mặt bàn đôi ba

lần, rồi lấy một tờ giấy mới mà viết: “Maria thân

mến.”

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, có tiếng gõ cửa. Anh

đáp mà vẫn tiếp tục viết: “Mời vào”.

Cánh cửa mở, một cô gái Da Đỏ trẻ đi vào, không

167

một tiếng động. Anh đã được chỉ cho thấy cô; tên cô

là Nancy Eagles, vợ của một nhân viên tải hàng

trẻ. Cô không quá hai mươi tuổi, có gương mặt dễ

thương lôi cuốn, và giọng nói nhỏ nhẹ đến mức anh

phải cố lắng nghe mới hiểu ra.

Anh cảm thấy ngạc nhiên và vui vui: “À, Nancy,

phải cô đó không? Cám ơn...”

Giọng nói cô nhỏ nhẹ và thiếu sinh khí, như thể

nói với chính mình: “Ông Stewart nói anh đang bị

đau.” Cô cầm một tô nước và vài mảnh vải - hiển

nhiên là cô đến để chăm sóc anh. Không nói gì thêm,

cô ra dấu cho anh hiểu phải cởi áo ra, và đặt tô

nước xuống sàn nhà. Donald lấy giấy thấm đặt lên tờ

thư rồi mở các nút áo, thình lình nhận biết về

thân người trắng trẻo mảnh khảnh của mình.

168

“Không có gì nặng, nhưng... đây này, cô xem, tôi

bị một vết thương hai... ba tháng trước, mà chưa

lành hẳn.” Anh tháo bông băng ra, màu hồng và ướt

vì chất dịch nhỉ ra.

Nancy đưa bàn tay đẩy nhẹ ngực anh, cho anh ngồi

xuống trên giường: “Đó là một con dao.” Cô chăm

chăm nhìn vết thương, không hỏi anh trực tiếp.

“Đúng. Nhưng đó là một tai nạn...” Donald cười,

bắt đầu dông dài kể cho cô nghe câu chuyện về trận

đấu bóng bầu dục.

Nancy quỳ gối trước mặt anh, không quan tâm đến

nguồn gốc của vết thương. Khi cô dùng bông chấm vết

thương, anh hít một hơi mạnh và ngưng nói, chưa

kịp giải thích về động tác ngã người truy cản.

Nancy nghiêng người tới trước ngửi vết thương.

169

Donald cảm thấy nóng bừng mặt, ngừng thở, nhận thấy

đầu cô gần tựa vào lòng mình. Tóc cô đen tuyền,

mượt mà như lụa, không thô ráp như anh đã nghĩ. Làn

da cô cũng mượt mà, mềm mại, trông vô tội. Anh

thắc mắc cô có biết mình đẹp hay không. Anh mường

tượng người chồng Peter của cô - một nhân viên tải

hàng có vóc người cao, vạm vỡ - lúc này bước vào,

và mặt anh tái nhợt vì ý nghĩ này. Có vẻ như Nancy

không bận tâm. Cô lấy bông băng sạch đắp một thứ

bột dược thảo rồi ra dấu anh giơ hay tay lên, rồi

băng chặt đến nỗi Donald lo sợ mình sẽ chết ngạt

trong đêm.

“Cám ơn cô. Tử tế quá...” Anh tự hỏi mình có cái

gì đó để tặng cô, và đầu óc lục lọi trong số ít vật

dụng anh mang theo người. Anh không tìm ra được

170

món gì thích hợp.

Nancy thoáng mỉm cười, lần đầu tiên đôi mắt huyền

của cô nhìn vào mắt anh. Anh nhận thấy đôi lông mày

cô có nét cong thanh tú của đôi cánh chim mòng

biển, và rồi, trong nỗi kinh ngạc cùng cực của anh,

cô cầm lấy bàn tay anh ép vào ngực mình. Trước khi

anh có thể thốt lên một tiếng hoặc rụt tay lại, cô

ép môi mình lên môi anh, còn bàn tay kia của cô

nắm lấy cơ quan không phải là vô cảm giữa hai đùi

anh. Anh thốt lên tiếng nào đó - anh không chắc là

tiếng gì - và sau một khoảnh khắc những cảm giác

dâng trào khiến cho anh không biết chuyện gì đang

tiếp diễn, rồi anh cương quyết đẩy cô xa ra.

(Moody, hãy trung thực đi - khoảnh khắc đó kéo dài

bao lâu? Đủ lâu.)

171

“Không? Tôi... tôi xin lỗi. Chuyện đó thì không.

Không.”Tim anh đập thình thịch, âm thanh của nhịp

đập vang vang như tiếng sóng đập vào màng nhĩ.

Nancy nhìn anh, đôi môi dày màu hạt dẻ hé mở. Trước

đây anh chưa từng nghĩ phụ nữ bản địa có thể đẹp

như phụ nữ da trắng, nhưng bây giờ anh không thể

hình dung ra bất kỳ ai đẹp hơn cô gái trước mặt

mình. Donald nhắm mắt lại để thoát khỏi hình ảnh

của cô. Các ngón tay của cô vẫn còn đặt trên cánh

tay anh nơi anh giữ cho cô cách xa mình, như thể họ

là cặp khiêu vũ đã đông cứng giữa bước nhảy.

“Tôi không thể... Cô xinh đẹp, nhưng... không,

không được.”

Cô nhìn xuống quần anh, trông như nó không đồng ý

với lời anh nói.

172

“Chồng cô...”

Cô nhún vai: “Không sao.”

“Đối với tôi thì không được. Tôi xin lỗi.”

Anh cố gắng quay người đi, có phần thầm mong cô

tấn công anh lần nữa. Nhưng không có chuyện gì xảy

ra. Khi anh liếc nhìn lại, cô đang thu nhặt cái tô

nước bẩn, quần áo và bông băng cũ.

“Cám ơn, Nancy. Xin đừng... cảm thấy xúc phạm.”

Nancy nhìn nhanh đến anh nhưng không nói gì.

Donald thở dài, và cô đi ra không một tiếng động

như khi bước vào. Anh nhìn cánh cửa đã khép, thầm

rủa. Rủa mình, rủa cô và rủa cả nơi chốn đổ nát

hoang vu. Bức thư đặt trên bàn đang trách móc anh.

Những ngôn từ tươi sáng, khúc chiết; ngoài tính hóm

hỉnh... tại sao anh lại viết thư cho Maria? Anh

173

cầm lấy tờ thư vò thành một nhúm tròn, và lập tức

hối tiếc. Rồi anh nhặt lấy chiếc áo sơ mi dự phòng

và ném xuống sàn nhà, chỉ là kiếm chuyện để ném cái

gì đó (nhưng cái gì đó không vỡ được). Sàn nhà bẩn

thỉu. Tại sao anh giận dữ như thế khi anh làm việc

phải? (Có lẽ hối tiếc? Bởi vì anh là người hèn

nhát, không đủ can đảm để đón nhận khi được dâng

hiến tuy vẫn khao khát?)

Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt.

***

Sau khi Moody xin kiếu để rời bàn ăn, Parker cũng

đứng dậy xin đi nghỉ. Sau khi ông đã đi, tôi thắc

mắc hai người tính toán việc gì hay không, cho dù

Donald có vẻ rất mệt mỏi đến nỗi có lẽ anh thật sự

muốn đi ngủ. Về phần Parker thì tôi không chắc. Tôi

174

mong ông đang tìm cách suy luận theo phép mầu nào

đó, và tôi chưa đoán ra. Stewart đề nghị Nesbit dẫn

tôi đến phòng khách để uống gì đó. Ông nói mình sẽ

đến sau ít phút - theo cách mà tôi lập tức tự hỏi

ông định làm gì. Cũng là điều hay mà có đầu óc luôn

nghi ngại, nhưng tôi vẫn không thể nói cho đến giờ

mình tìm thấy những gì.

Nesbit rót hai ly whisky mạch nha và trao cho tôi

một ly. Chúng tôi cùng chạm ly.

Tối nay anh đang căng thẳng và cáu kỉnh; đôi mắt

sôi sục, hai bàn tay vặn xoắn liên tục hoặc gõ trên

mặt bàn. Anh hầu như không ăn gì. Thế rồi, trước

khi uống cà phê, anh xin kiếu để đi ra ngoài.

Stewart đáp lời theo cách phù hợp, nhưng đôi mắt tỏ

ra gượng gạo. Tôi nghĩ ông đã biết. Norah giúp

175

phục vụ chúng tôi suốt bữa ăn, và dù nhìn cô chăm

chú tôi vẫn không phát hiện nét căng thẳng nào trên

mặt cô. Bây giờ khi Stewart ở đây, cô trở nên dễ

bảo hơn, không tỏ lộ nét u sầu nào như tối qua. Khi

Nesbit trở lại mười hoặc mười lăm phút sau, tư

thái anh đã thay đổi; những cử động của anh uể oải,

đôi mắt trông ngái ngủ. Parker và Moody không tỏ

vẻ nhận ra điều gì khác lạ.

Tôi đi đến cửa sổ, vén bức màn nhìn ra. Tuyết

không còn rơi, nhưng đóng trên mặt đất dày dăm ba

phân.“Anh Nesbit, anh nghĩ sẽ có tuyết rơi thêm

hay không?”

“Tôi không tự phụ là người hiểu biết về thời tiết

ở đây, nhưng có vẻ là vậy. Bà nghĩ sao?”

“Tôi chỉ băn khoăn không biết lúc nào chúng tôi có

176

thể ra đi. Nếu chúng tôi phải tiếp tục cuộc tìm

kiếm...”“À, dĩ nhiên rồi. Đây không phải là mùa

thuận lợi trong năm.” Có vẻ như anh không quan tâm

đến số phận của đứa con trai mười bảy tuổi của tôi

đang một mình ở ngoài vùng hoang dã. Hoặc có lẽ anh

sâu sắc hơn là tôi tưởng.

“Nơi chốn dễ sợ, như ở đây. Vô cùng thuận lợi cho

các can phạm. Tôi luôn nghĩ, đáng lẽ nên mang họ

đến Tasmania( ), là nơi chốn xa xôi nhất mà tôi

nghĩ ra, thì vui hơn. Khá giống Hạt Lake.”

“Nhưng ở đây không cách biệt lắm. Hoặc không xa

khu dân cư.”

“Cảm thấy khá cách biệt. Bà biết không, mấy năm

trước có một đám nhân viên - tôi nghĩ họ là người

nước ngoài - cố trốn chạy khỏi Thương điếm Nai Sừng

177

tấm. Trong tháng Giêng! Dĩ nhiên là không ai trông

thấy họ nữa. Lạnh cóng đến chết giữa vùng hoang

vu, tội nghiệp bọn khốn kiếp.” Anh cười nhẹ, cay

đắng: “Bà Ross, thứ lỗi cho tôi ăn nói bỗ bã. Đã

lâu rồi không trò chuyện với một quý bà nên tôi đã

quên cách ăn nói.”

Tôi không muốn chấp nhận; có điều gì đấy trong câu

nói mà tôi đã nghe còn tệ hơn.

Anh nhìn tôi với vẻ suy đoán mà tôi không thích.

Tối nay anh không say, nhưng đôi đồng tử anh rất

nhỏ, ngay cả trong ánh sáng lờ mờ. Bây giờ đôi bàn

tay anh bất động và thư giãn; được làm dịu. Tôi

hiểu được anh, tôi nghĩ thế. Tôi biết cảm giác là

như thế nào.

“Anh nói họ mất tích hay sao?”

178

“Đúng. Nhưng bà đừng sợ hãi - như tôi đã nói, họ

là người nước ngoài. Người Đức hay đại loại như

vậy.”“Anh không thích người nước ngoài sao?”

“Không hẳn thích. Ngày nào họ cũng la rầy tôi. Cho

tôi một người Scotland thì hay hơn.”

“Giống như Ông Stewart?”

“Chính xác. Giống như Ông Stewart.”

Tôi nốc cạn ly rượu. Anh hùng rơm, nhưng còn hơn

là chẳng anh hùng gì cả.

Khi Stewart bước vào, mặt tôi đã nóng vì whisky

nhưng đầu óc tôi vẫn còn tỉnh táo. Nesbit rót một

ly cho ông và chúng tôi thoải mái trò chuyện trong

ít phút.

Rồi Stewart quay sang nhìn tôi: “Tôi đang suy nghĩ

về Ông Parker. Bà biết không, ban đầu tôi không

179

nhớ ra ngay tên ông ấy, vì đã lâu rồi. Cho tôi

biết, bà gặp ông ấy như thế nào?”

“Chúng tôi mới gặp nhau lúc gần đây. Ông ấy đến

Caulfield và khi tôi cần người hướng đạo thì có

người giới thiệu ông ấy.”

“Thế thì bà không biết rõ ông ấy lắm, phải không?”

“Không rõ lắm. Tại sao?”

Stewart mỉm nụ cười, ra vẻ như có tin tức thú vị

sẽ loan báo: “À... Ông ấy, hoặc ít nhất là lúc

trước, có cá tính khá thú vị. Có vài sự cố ở Hồ

Clear... Một số nhân viên tải hàng khá ngông cuồng,

và ông ta nằm trong số đó.”

Làm ra vẻ như đang buôn chuyện tầm phào, tôi mỉm

cười nói: “Quả là kỳ lạ! Xin ông kể tiếp.”

“Đúng ra thì không kỳ lạ lắm. Chỉ là vài sự cố xấu

180

xa. Khi còn trẻ, William hay dùng vũ lực. Chúng

tôi đi cùng chuyến tải hàng - đó là hơn mười lăm

năm về trước, bà hiểu chứ - một chuyến đi trong mùa

đông. Cũng có mấy người khác đi cùng, nhưng... đó

là chuyến đi vất vả, và diễn ra cãi cọ. Về việc

tiếp tục đi hay quay về, đại loại như vậy. Thực

phẩm đang cạn dần. Dù sao chăng nữa, xảy ra chuyện

chúng tôi xô xát với nhau.”

“Xô xát! Trời đất!” Tôi ngồi nghiêng người về phía

trước, mỉm cười để khuyến khích ông kể tiếp.

“Có lẽ bà còn nhớ ông ấy nói gì, và đúng vậy, ông

ấy cho tôi cái gì đó để nhớ tới ông”. Stewart vén

cánh tay áo bên trái. Chạy dọc theo cẳng tay là một

vết sẹo trắng dài, rộng vài ba li.

Tôi cảm thấy sốc mà không che giấu được.

181

“Đôi lúc mấy anh con lai này, nếu cho họ nửa chai

rượu là họ biến thành quỷ dữ. Chúng tôi cãi vã nhau

và anh ta cầm dao đâm tôi. Mà giữa vùng hoang vu;

đó không phải là chuyện đùa, tôi có thể nói với bà

như vậy.”

Ông lại kéo cánh tay áo xuống. Lúc này tôi không

thể nghĩ ra phải nói gì.

“Tôi xin lỗi, có lẽ tôi không nên cho bà xem. Một

số quý bà hãi hùng khi trông thấy vết sẹo.”

Tôi lắc đầu: “Không đâu...”

Nesbit rót thêm rượu cho tôi. Không phải là vết

sẹo làm cho tôi khó chịu, nhưng chính vì hình ảnh

cuối cùng của Jammet luôn ám ảnh tâm trí tôi. Và

hình ảnh đầu tiên của Parker: người nhân tạo đang

lùng sục ngôi nhà gỗ: một con người hoang dại, kỳ

182

dị, trông mà phát khiếp.

Nesbit vui vẻ nói: “Không phải vì trông thấy vết

sẹo của mình, mà vì ý nghĩ người hướng đạo của bà

luôn thủ con dao kề cận bên bà.”

“Trong ba tuần qua, tôi thấy ông ấy không có vẻ gì

như thế. Ông ấy là người hướng đạo mẫu mực. Có lẽ

như anh nói, tính bạo lực của ông ấy là do rượu

rum. Bây giờ ông ấy không uống rượu.”

Tôi nghĩ thầm Stewart có thể đã nói dối. Tôi nhìn

vào đôi mắt ông, cố đọc tâm hồn ông. Nhưng ông chỉ

có vẻ tử tế, chân thật; có phần kỳ vọng, khi nghĩ

về ngày xưa.

“Kể cũng tốt mà nghe có người rút tỉa được bài học

từ lỗi lầm của họ, phải không?”

Tôi nói nhẹ: “Đúng như vậy. Nếu thêm nhiều người

183

trong chúng ta làm thế.”

***

Sau đó, trong phòng mình, tôi vẫn mặc nguyên bộ

trang phục và ngồi trên ghế để tránh ngủ gục. Tôi

không thích gì hơn là nằm xuống và thả lỏng để quên

hết. Nhưng tôi không làm được, và tôi không chắc

mình quên hết được; tôi đang phiền muộn, công tâm

mà nói thế. Tôi muốn hỏi Parker về Stewart, về quá

khứ của hai người, nhưng tôi ngại đến đánh thức ông

lần nữa. Ngại, hoặc sợ. Hình ảnh lúc trước trở về

khiến tôi bị sốc. Tôi đã quên làm thế nào hình ảnh

Parker khiến tôi lạnh cả sống lưng; làm thế nào ông

trông tàn bạo và kỳ dị. Dĩ nhiên là tôi không quên

vẻ bề ngoài của ông, nhưng tôi đã quên ảnh hưởng

của vẻ bề ngoài ấy đối với mình lần đầu tiên. Quả

184

là kỳ lạ như thế, khi bạn hiểu biết thêm về người

nào đấy.

Nhưng tôi không thấu hiểu Donald. Trong thái độ tự

bảo vệ, anh không muốn giấu diếm việc lúc trước

hai người bọn họ đã gặp nhau, nhưng có lẽ anh chỉ

đi trước một bước mà làm việc không tránh khỏi; một

màn tháu cáy nhân đôi.

Đôi mắt tôi đã quen với bóng tối, và lớp tuyết

phản chiếu ánh sáng lờ mờ, vô định hướng, đủ cho

tôi mò mẫm khi bước ra hành lang. Tôi gõ cửa phòng

anh thật nhẹ, rồi tự đi vào, đóng cánh cửa lại sau

lưng mình. Tôi nghĩ mình đã cố rón rén, nhưng anh

ngồi bật dậy trên giường.

Giọng anh nghe hoảng hốt và giận dữ: “Trời ơi...

Không! Đi ra!”

185

“Anh Moody, tôi đây, Bà Ross”.

“Cái gì? Cái quái gì vậy?” Anh lần mò tìm diêm

quẹt và đốt cây đèn cầy kế bên giường ngủ. Khi

khuôn mặt hiện ra từ bóng tối, anh đã mang vào đôi

kính, và đôi tròng mắt anh gần như lọt ra khỏi hố

mắt.

“Xin lỗi, tôi không muốn làm anh sợ.”

“Làm cái quái gì mà bà vào đây giữa đêm khuya

vậy?”Tôi đã nghĩ sẽ gặp phản ứng ngạc nhiên và khó

chịu chứ không phải giận dữ: “Tôi phải trao đổi

với ai đó. Xin anh vui lòng... không mất nhiều thời

giờ đâu.”

“Tôi nghĩ bà đã trao đổi với ông Parker.”

Trong giọng anh có điều gì đấy, nhưng tôi không

biết chắc là gì.

186

Tôi ngồi trên chiếc ghế duy nhất, sau khi đã dẹp

quần áo anh qua một bên: “Tôi không biết nghĩ thế

nào, và ta cần bàn với nhau.”

“Để chờ tới sáng mai không được sao?”

“Họ không muốn chúng ta một mình với nhau. Anh có

thấy như thế không?”

“Không.”

“À... tôi đang nói cho anh hay những gì tôi đã

nghe lỏm Nesbit nói, rồi Olivier đi vào và chúng ta

không thể trao đổi thêm.”

“Thế thì sao?” Giọng nói của anh vẫn nhanh nhẩu do

tức giận, nhưng anh đã bớt sợ so với khi tôi mới

bước vào. Như thể anh sợ tôi là một người nào khác.

“Phải chăng việc này cho thấy có những chuyện gì

đó mà họ không muốn cho chúng ta biết? Và vì chúng

187

ta đang lần theo dấu vết kẻ sát nhân, những chuyện

gì đó có thể có liên quan.”

Anh nhìn tôi, bực dọc. Nhưng anh không tống cổ tôi

ra: “Stewart nói gần đây không có chuyện gì lạ xảy

ra ở đây.”

“Có thể không có người lạ.”

“Ý bà cho rằng đó là người sống ở đây hả?” Anh lộ

vẻ bị sốc vì tôi đang đặt nghi vấn cho một nhân

viên của Công ty.

“Có thể lắm. Một người nào đấy mà Nesbit quen

biết. Có lẽ Stewart không biết gì về chuyện này.”

Moody nhìn chăm chăm vào góc phòng phía sau vành

tai trái của tôi: “Tôi nghĩ tốt hơn là ta nên xử lý

toàn bộ vụ việc một cách thẳng thắn. Nếu ta nói

với sự thật tại sao ta đến đây, chứ không phải câu

188

chuyện phi lý của bà.”

“Nhưng đã có người nghi ngờ chúng ta. Tôi nghĩ chỉ

cần đề cập đến việc chúng ta đang theo dõi một dấu

vết là đủ cho họ cảnh giác đề phòng. Nesbit đang

đe dọa một phụ nữ - tôi nghĩ đó là Norah - để đừng

nói về một người nào đấy. Tại sao anh ấy phải làm

thế?

“Có thể có nhiều lý do. Tôi nghĩ bà không biết

người phụ nữ đó là ai.”

“Đúng là tôi không thấy mặt cô ấy, nhưng Norah...

Norah và Nesbit đang có... quan hệ.”

“Cái gì? Một cô phục vụ hả?” Moody lộ vẻ kinh

ngạc. Nhưng kinh ngạc ở chỗ Norah là người phục

phịch, xấu xí chứ không phải Nesbit có hành động

thiếu phép tắc. Mấy chuyện như thế vẫn luôn xảy ra.

189

Anh cắn môi; có lẽ anh đang nghĩ đến việc viết một

báo cáo. “Làm thế nào bà biết được?”

“Tôi thấy hai người.” Tôi không muốn nói mình thấy

họ khi đang lẩn lút vòng quanh trong đêm, và may

mắn là Moody không hỏi.

“À... cô ấy là góa phụ.”

“Thật vậy sao?”

“Một nhân viên tải hàng ở đây. Chuyện buồn.”

“Trước đây tôi không biết.” Tôi luận ra rằng làm

người phục vụ trong Công ty là một nghề nguy hiểm.

“Điều tôi muốn nói là, chúng ta sẽ phải hỏi han

người ở đây... mà không cho họ biết.”

Ngay cả khi nói thế, tôi thắc mắc làm thế nào

chúng tôi thực hiện việc này. Moody trông không

được thuyết phục với ý kiến này. Tôi phải nhìn nhận

190

đấy không phải là ý kiến hay, nhưng tôi chỉ nghĩ

ra có thế.

Anh ném ánh mắt có ý nghĩa đến cánh cửa: “À, nếu

không có việc gì khác...”

Tôi nghĩ đến cánh tay của Stewart và định kể cho

Moody nghe, nhưng anh này không tin tưởng nơi

Parker và có thể bắt đầu dọ hỏi nguyên do nào khiến

cho Parker đến Sông Dove. Những câu hỏi mà lúc này

tôi không muốn trả lời.

“Tôi thật sự cần ngủ. Nếu bà không phiền.”

Tôi đứng dậy: “Được. Cảm ơn anh.” Anh trông nhỏ

nhắn hơn khi co người dưới tấm chăn. Trẻ hơn và yếu

đuối hơn. “Trông anh mệt mỏi. Có ai chăm sóc cho

các vết phồng rộp của anh không? Tôi tin có người

có kiến thức y khoa ở đây...”

191

Moody nắm lấy tấm chăn kéo lên tận cằm, như thể

tôi đang cầm chiếc rìu xông đến. “Có. Xin bà cứ đi.

Tôi chỉ cần giấc ngủ...”

Các kế hoạch hỏi han nhân viên vào ngày kế phải bị

hoãn lại, bởi vì lúc chúng tôi thức dậy, phần lớn

bọn họ đã ra đi. George Cummings, Peter Eagles,

William Blackfeather và Kenowas - nói cách khác là

tất cả đàn ông bản địa sống và làm việc ở Nhà

Hanover - đã đi tìm thi hài của Nepapanees, chỉ

ngoại trừ Olivier. Họ khởi hành trước bình minh,

không một tiếng động, đi bộ. Ngay cả người chúng

tôi gặp vào buổi trưa đầu tiên, cái anh Arnaud say

xỉn kinh niên (sau này tôi biết đó là gác dan) cũng

tỉnh táo trở lại vì tiếc thương và gia nhập nhóm

tìm kiếm.

192

Người phụ nữ góa bụa và đứa con trai mười ba tuổi

đã đi cùng họ.

***

Một tuần lễ sau khi Francis từ chối lời mời của

Susannah, anh đi đến ngôi nhà gỗ của Laurent nhân

khi cha anh sai anh đi làm công chuyện vặt. Anh vẫn

nghĩ về Susannah Knox, nhưng bây giờ trường đã

nghỉ hè và ngày đi chơi bãi biển chỉ còn là kỷ niệm

mờ ảo, lung linh. Anh đã không tham dự buổi picnic

và cũng không gửi lời nhắn. Anh không biết phải

nói gì. Anh đã không tự hỏi hoặc tự trách mình về

việc đã hắt hủi cơ hội mà từ lâu anh đã mơ tưởng.

Đó giống như là, sau khi đã xem cô như là mẫu người

lý tưởng mà mình không thể với tới được, thì anh

không thể hình dung ra cô là cái gì khác.

193

Hôm ấy, một buổi chiều tà, Laurent đang pha trà ở

trong nhà thì Francis huýt sáo phía ngoài cửa

trước.“Salut, Franois,( )” anh gọi ra, và Francis

đẩy cánh cửa bước vào. “Anh dùng một chút nhé?”

Francis gật đầu. Anh thích ngôi nhà gỗ của anh

chàng người Pháp, lộn xộn và khác hẳn với ngôi nhà

của cha mẹ anh. Các đồ vật được giữ lại với nhau

bằng dây và đinh; chiếc ấm trà không có nắp nhưng

được giữ lại vì nó vẫn làm nhiệm vụ chứa nước trà;

anh giữ quần áo của mình trong ngăn tủ đựng trà.

Khi Francis hỏi anh tại sao không đóng ngăn tủ đựng

quần áo, vì anh hoàn toàn có khả năng làm việc

này, thì anh đáp rằng một ngăn tủ này cũng tốt như

là ngăn tủ kia, có phải vậy không?

Họ ngồi trên hai chiếc ghế bên ngoài cánh cửa mà

194

Laurent chêm để mở ra, và Francis ngửi thấy mùi

rượu cô-nhắc trong hơi thở của Laurent. Đôi lúc anh

uống rượu vào ban ngày, dù Francis chưa bao giờ

thấy anh quá chén. Ngôi nhà gỗ trông về hướng tây

và ánh mặt trời thấp chiếu vào gương mặt hai người,

khiến cho Francis phải nhắm mắt lại và nghiêng

đầu. Khi anh ngước nhìn Laurent, anh thấy người đàn

ông lớn tuổi hơn mình đang nhìn mình, ánh nắng

vàng trong đôi mắt anh sâu thẳm.

“Quel visage,( )” Laurent thì thầm, như là nói với

chính mình. Francis không hỏi câu ấy có nghĩa là

gì, vì anh không nghĩ nó nói đến mình.

Bầu không khí tĩnh lặng tuyệt vời; âm thanh lớn

nhất là tiếng dế kêu. Laurent mang ra một chai

cô-nhắc và, không hỏi han gì, rót một ít vào tách

195

trà của Francis. Francis uống và cảm thấy táo bạo

một cách dễ chịu; cha mẹ anh hẳn sẽ la mắng anh nếu

phát hiện, và anh nói ra điều này.

“Chúng ta không thể làm cha mẹ vui lòng suốt đời

được.”“Tôi không nghĩ mình làm họ vui lòng lúc nào

cả.”

“Anh đã lớn. Chẳng bao lâu anh sẽ sống tự lập,

phải không? Cưới vợ, kiếm một chỗ cho riêng mình,

tất cả mọi chuyện còn lại.”

“Tôi không biết.” Chuyện này xem chừng không chắc

xảy ra, quá xa vời một cách chóng mặt so với tiếng

dế kêu và cô-nhắc và mặt trời đang xuống thấp.

“Anh có người yêu không? Cô gái da ngăm nhỏ bé đó

- có phải là người yêu của anh không?”

“À... Ida hả? Không, cô ấy chỉ là bạn - đôi lúc

196

chúng tôi đi với nhau về nhà.” Chúa ơi! Mọi người ở

vùng này đều nghĩ Ida là người yêu của anh hay

sao? “Không, tôi...”

Không hiểu vì sao, anh thấy mình muốn thổ lộ với

Laurent về chuyện này: “Có một cô gái tôi thích.

Thực ra ai cũng thích cô ấy, cô thật đẹp, và cũng

hiền nữa... Vào cuối học kỳ cô mời tôi đi dự

picnic. Trước đó cô chưa bao giờ thực sự trò chuyện

với tôi... và tôi cảm thấy tự mãn. Nhưng tôi không

đi.”

Có một khoảnh khắc im lặng dài. Francis cảm thấy

mất tự nhiên và ước gì mình đã không nói ra.

“Không hiểu việc gì xảy ra với tôi nữa!” Anh cố

cười cợt cho qua chuyện, nhưng không xong.

Laurent vỗ về chân anh: “Anh không có việc gì hết,

197

mon ami( ). Chúa tôi, chẳng có gì cả.”

Francis nhìn đến Laurent. Khuôn mặt anh người Pháp

trông nghiêm túc, gần như buồn buồn. Đúng là anh

đấy không? Anh có làm cho người ta buồn không? Có

lẽ là vậy. Mấy lúc sau này có vẻ như Ida buồn vì

anh. Còn về cha mẹ anh, đúng là... họ rất buồn.

Francis cố mỉm cười để làm cho anh vui. Và rồi sự

việc thay đổi. Họ đã xuống quá thấp - hoặc đã tiến

quá nhanh? Anh nhận ra bàn tay của Laurent vẫn còn

đặt trên chân mình, nhưng không vỗ về nữa, mà bây

giờ xoa nắn đùi anh với những cử động nhịp nhàng.

Anh không thể ngừng nhìn vào đôi mắt nâu-vàng. Có

mùi cô-nhắc và thuốc lá và mồ hôi, và anh như thể

bị dán dính vào chiếc ghế, chân tay nặng nề và cứng

nhắc như thể bị lấp đầy một thứ nước ấm và nhớt.

198

Hơn nữa, anh đang bị kéo về phía Laurent, và không

sức mạnh nào trên đời có thể ngăn được.

Rồi có lúc Laurent đứng dậy, bước đến cánh cửa vẫn

còn mở để định đóng lại, rồi quay sang Francis:

“Anh biết đó, nếu muốn thì anh có thể ra về.”

Francis chăm chăm nhìn anh, ngừng thở và thình

lình kinh hãi. Anh nghĩ mình không thể thốt nên

lời, nên anh lắc đầu, chỉ một lần, và Laurent đưa

chân đóng sập cánh cửa.

Sau đó, Francis nhận ra mình sẽ phải quay về nhà.

Anh vẫn còn nhớ món đồ nghề mình cần mượn, dù có vẻ

như việc này trải qua khoảng thời gian dài không

tưởng tượng được. Anh sợ phải trở về trong trường

hợp sự việc trở lại bình thường. Ngộ nhỡ lần sau

anh gặp Laurent, anh này có thái độ như là không có

199

chuyện gì xảy ra? Bây giờ Laurent có vẻ hoàn toàn

thư giãn, đang mặc vào chiếc áo sơ mi, và những làn

khói thuốc đang lượn lờ quanh đầu, như thể đó là

chuyện bình thường, hàng ngày, như thể trái đất đã

không chuyển động quanh trục của nó. Francis sợ

phải trở về nhà, sợ phải nhìn cha mẹ với đôi mắt từ

lúc này dò hỏi, như thể họ đã biết chuyện.

Anh đứng trên lối đi với món đồ nghề, không rõ

phải từ giã ra sao. Laurent bước đến bên anh, nở nụ

cười tinh quái.

“T... thế...” Francis lắp bắp. Anh chưa hề lắp bắp

trong đời. “Ngày mai... tôi đến nhé?”

Laurent đưa hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt của

Francis. Vừa khô ráp vừa dịu dàng, hai ngón tay cái

lần mò xương gò má. Đôi mắt hai người ở tầm cao

200

ngang nhau. Laurent hôn anh, và đôi môi anh có cảm

giác như là trung tâm của cuộc sống.

“Nếu anh muốn.”

Francis đi theo con đường dẫn về nhà, vừa sướng

thỏa vừa kinh hoàng. Thật là lố bịch: con đường,

cây cối, các con dế, bầu trời nhạt nắng, vầng trăng

đang lên, mọi thứ đều giống y như trước. Như thể

chúng không biết gì, như thể chúng không màng. Và

anh nghĩ: “Chúa ơi, tôi là thế sao?”

Trong nỗi sướng thỏa và trong cơn kinh hoàng: “Tôi

là thế sao?”

Susannah đã bị quên lãng. Nhà trường và mối quan

tâm về các nam học sinh mờ dần vào quá khứ xa xăm.

Mùa hè năm ấy, trong vài tuần, anh cảm thấy hạnh

phúc. Anh đi qua khu rừng; anh là một người đàn ông

201

khỏe mạnh, có thế lực, một người với những bí mật.

Anh tháp tùng Laurent trong những chuyến đi săn và

câu cá, mặc dù bản thân anh không săn hoặc câu.

Khi họ gặp người nào đó trong rừng, anh gật đầu

chào họ, ậm ừ cộc lốc, mắt dán vào sợi dây câu hoặc

thăm dò trên cây rừng, và Laurent ngầm cho thấy

anh đang trở thành một tay súng săn cừ khôi, mắt

như chim ó, tàn bạo. Nhưng thời gian tuyệt diệu

nhất là khi hai người bên nhau, trong khu rừng hoặc

ngôi nhà gỗ, và Laurent trở nên nghiêm túc.

Laurent cũng thường say xỉn, và đôi tay nâng lấy

khuôn mặt của anh, nhìn và nhìn như thể không bao

giờ chán.

Suy đi nghĩ lại, không có nhiều lúc như thế -

Laurent kiên quyết nói anh không nên lưu lại ngôi

202

nhà gỗ quá lâu, kẻo thiên hạ nghi ngờ. Anh cũng

phải dành thời gian đúng mức ở nhà cùng với cha mẹ.

Anh thấy việc này là khó khăn - từ buổi chiều hôm

ấy, khi anh bước vào nhà và thấy hai người đang

ngồi dùng bữa.

Anh giơ lên món đồ nghề: “Phải chờ cho anh ấy trở

về.”Cha anh gật đầu.

Mẹ anh quay lại: “Con đi lâu quá. Cha con muốn làm

xong việc ấy trước khi dùng bữa. Con đã làm gì?”

“Nói với cha mẹ rồi. Con phải chờ.” Anh đặt món đồ

nghề lên mặt bàn rồi đi lên lầu, phớt lờ tiếng kêu

mệt mỏi của bà mẹ về bữa ăn tối.

Đang run rẩy với niềm vui.

Vì lẽ mối quan hệ với cha mẹ anh chỉ là hời hợt

ngay cả vào những thời gian tốt đẹp nhất, họ không

203

để ý đến sự khác biệt khi anh im lìm hoặc lơ đãng.

Giữa các chuyến đi đến Laurent, anh chia thời gian

cho việc đi dạo, nằm trên giường, làm việc nhà với

thái độ bồn chồn và lơ là. Chờ đợi. Và rồi một đêm

khác ở ngôi nhà gỗ, hoặc chuyến đi câu cá ở hồ, khi

anh thực sự là chính mình. Những khoảnh khắc được

nắm bắt lấy, nồng nàn và buốt nhói, khi thời gian

có thể lặng lờ trôi như buổi chiều Chủ nhật, hoặc

cuồn cuộn như dòng thác. Nếu anh đếm số đêm mình đã

trải qua ở ngôi nhà gỗ của Laurent, thì sẽ là bao

nhiêu?

Có lẽ hai mươi. Hai mươi lăm.

Quá ít.

Francis giật bắn khỏi quá khứ của mình khi Jacob

đi vào phòng anh. Anh lấy làm vui vì sự gián đoạn.

204

Jacob có vẻ kích động hơn là bình thường anh từng

thấy. Francis lấy tay xoa mặt như thể anh đã thiếp

ngủ, hy vọng Jacob sẽ không nhìn ra những giọt nước

mắt.

Jacob đã mở miệng nhưng không nói ra tiếng nào.

“Chuyện gì thế?”

“Một chuyện lạ lùng. Người phụ nữ tên Line và hai

đứa con, cùng anh thợ mộc - họ đã ra đi trong đêm.

Vợ anh thợ mộc đang dọa tự tử.”

Francis há hốc miệng. Anh thợ mộc, mà anh chưa

từng gặp, đã bị cô y tá của anh dẫn dụ ra đi. (Thế

thì tại sao cô ấy lại hôn anh?)

Jacob đi qua đi lại: “Tuyết sẽ rơi. Không phải là

lúc thuận lợi để di chuyển, nhất là đối với trẻ

con. Và tôi đã gặp cô ấy, đêm hôm kia, trong chuồng

205

gia súc. Cô ấy yêu cầu tôi đừng nói gì. Nên tôi

không nói.”

Francis hít một hơi dài: “Họ là người lớn. Họ có

thể làm việc gì họ thích.”

“Nhưng nếu họ không rành địa hình... họ không biết

làm thế nào di chuyển trong mùa đông...”

“Còn bao lâu nữa tuyết rơi?”

“Cái gì?”

“Còn bao lâu nữa tuyết sẽ rơi? Một ngày? Một

tuần?”“Một hoặc hai ngày. Không lâu. Tại sao?”

“Tôi biết họ đi đâu. Cô ấy đã trao đổi với tôi; cô

hỏi về Caulfield.”

Jacob hiểu ra ý nghĩ của anh: “Họ có thể đi tới

nơi. Nếu họ được may mắn.”

***

206

Một tiếng đồng hồ trước, họ đã gặp những cây đầu

tiên, đúng là nhỏ và lơ thơ nhưng vẫn là cây, và

Line cảm nhận một niềm vui dâng trào. Họ thật sự

đang đi xa. Đây là rừng cây, và vùng rừng cây kéo

dài đến tận bờ hồ. Gần như là họ sắp đến nơi đó. Tờ

giấy chỉ dẫn cô đi theo hướng đông-nam cho đến khi

gặp một con sông nhỏ, rồi đi theo sông này về phía

hạ nguồn. Torbin đang ngồi trên yên phía trước cô,

và cô đã kể cho nó nghe câu chuyện về con chó của

cô thời cô còn nhỏ ở Na Uy. Cô kể cho nó nghe giống

như con chó trong truyện thần thoại cùng với những

người lính, với đôi mắt to như chiếc đĩa.

“Con cũng có thể có một con chó, khi chúng ta tìm

nơi nào đó để sống. Con thích thế không?” Cô đã nói

hớ mà không kịp dừng.

207

“Nơi nào đó để sống?” Torbin lặp lại. “Mẹ nói

chúng ta đi chơi. Không phải đi chơi hả?”

Line thở dài: “Đúng. Chúng ta đi để sống ở nơi

khác, nơi nào đó tốt hơn, ấm hơn.”

Torbin cựa quậy quanh yên ngựa để nhìn lên mắt cô,

một tia nhìn trông nguy hiểm trên khuôn mặt nó,

không cởi mở, mà săm soi: “Tại sao mẹ nói dối?”

“Đó thực sự không phải là nói dối, con yêu ạ.

Chuyện phức tạp nên không thể giải thích tất cả cho

con, không giải thích được ở Himmelvanger. Điều

quan trọng là không ai ở đó được biết, nếu không họ

sẽ không cho chúng ta đi.”

“Mẹ nói dối với chúng con.” Đôi mắt của Torbin

trông nghiêm khắc và hoang mang. Per và ngôi nhà

thờ có mái ngói đỏ đã biến nó thành một đứa nhỏ mô

208

phạm. “Nói dối là tội lỗi.”

“Trong trường hợp này thì đó không phải là tội

lỗi. Torbin à, đừng tranh luận. Có nhiều chuyện mà

con không hiểu được, con còn quá nhỏ. Mẹ tiếc phải

làm theo cách này, nhưng đâu đã vào đấy rồi.”

Đôi má đỏ hồng vì lạnh và phấn khích, Torbin tức

giận nói: “Con không còn quá nhỏ.” Cậu bé đang ngoe

nguẩy.

“Ngồi im, anh trai trẻ, nếu không tôi đánh đòn.

Tin tôi đi, bây giờ là không phải lúc để tranh

cãi.”Nhưng trong khi ngoe nguẩy, Torbin thúc cùi

tay vào bụng mẹ, khiến cho cô há hốc miệng và cảm

thấy cơn tức giận dâng trào. “Đủ rồi!” Cô buông tay

khỏi dây cương rồi đánh vào chân thằng bé.

“Mẹ nói dối! Nói dối! Đáng lẽ con không đi!” Cậu

209

bé thét lên, quẫy đạp giữa hai cánh tay cô rồi luồn

xuống mặt đất. Hai chân nó khuỵu xuống, rồi nó

đứng dậy chạy ngược về hướng họ đã đi qua.

“Torbin! Torbin! Espen!” Line kêu thét lên chát

chúa, kéo giật sợi dây cương để quay đầu ngựa,

nhưng có vẻ như con ngựa không hiểu chuyện gì. Con

vật dừng lại rồi không cử động, như con tàu dừng ở

sân ga. Espen đang phi phía trước cùng với Anna,

kéo con ngựa chạy vòng lại, và thấy Torbin đang

chạy len lỏi giữa những thân cây.

“Torbin!” Anh nhảy xuống, ẵm Anna trao cho Line

lúc này đã xuống ngựa.

“Đứng đây, anh đi bắt nó! Đừng đi!”

Anh chạy theo Torbin, vòng quanh các thân cây và

ngã bổ qua một cành cây rơi trên đất. Trong một

210

khoảnh khắc kinh hoàng, hai người đã mất hút. Anna

nhìn qua Line với đôi mắt màu lam u uẩn, và bắt đầu

khóc.

“Không sao đâu, con yêu, anh con chỉ ngu xuẩn một

chút. Họ sẽ trở lại ngay.” Theo sự thôi thúc, cô

cúi xuống vòng hai cánh tay qua đứa con gái, nhắm

mắt lại trên mái tóc lạnh lẽo, trơn nhờn của cô bé.

Có lẽ không hơn vài phút sau, bóng hai người xuất

hiện trở lại giữa rừng cây. Gương mặt Espen trông

nghiêm nghị, và anh lấy tay lôi Torbin lúc này đã

biết sợ. Nhưng vào lúc ấy, Line nhận ra một chuyện

nào đó tệ hại hơn đã xảy ra.

Cô và Anna đang tìm kiếm, lúc đầu nghĩ rằng chúng

ta sẽ tìm thấy ngay; một vật hình tròn, cứng, bằng

211

thép trông giống như chiếc la bàn đáng lẽ bình

thường không phải ở đây, nó sẽ lộ ra rõ ràng. Line

biến đổi thành một trò chơi cho Anna, hứa hẹn phần

thưởng cho người nào tìm ra. Chẳng bao lâu, trò

chơi trở nên chán ngắt: địa hình ở đây quá phức

tạp; những mô đất, hố sâu làm trẹo cổ chân, hang

thỏ được che giấu và rễ cây quấn quít, khúc gỗ mục

ngang dọc. Cô không nhớ được có phải mình đánh rơi

khi Torbin thúc cùi tay vào bụng mình, hoặc sau đó,

hoặc khi cô cố ghìm cương ngựa. Địa hình rối rắm

không lưu lại dấu vết nơi nào họ đã đi qua.

Cô bảo Espen mình tìm không ra, và Torbin nhận ra

vẻ sợ hãi trên khuôn mặt mẹ mình nên nín thinh. Cậu

bé biết đó là do lỗi của mình. Tất cả bốn người

bắt đầu tìm kiếm, đi thành vòng tròn quanh hai con

212

ngựa, kéo qua một bên những cây địa y và lá cây

mục, đưa bàn tay chọc xuống những hốc tối tăm, ướt

lạnh. Mọi hướng đều trông giống nhau như giễu cợt

họ: những bụi rậm cây thông lớn lên rồi chết đi tại

chỗ, ngã xuống và dựa vào vòng tay nhau, đan kết

quanh họ thành một cái bẫy dầy đặc.

Anna là người đầu tiên nhận ra: “Ma-ma, tuyết

rơi.”Line đứng thẳng dậy, lưng mỏi nhừ. Tuyết. Im

lìm, những bông tuyết khô bay chung quanh cô.

Espen nhận ra dáng vẻ trên khuôn mặt cô. Anh nói:

“Ta tiếp tục tìm kiếm trong nửa giờ nữa, rồi phải

tiếp tục đi. Dù sao thì ta vẫn có thể nhắm hướng

tốt. Quan trọng là cần phải biết hướng đi đến rừng

cây. Đây là chặng dễ đi.”

Một lần, Torbin reo lên và nhảy nhót, nhưng đó chỉ

213

là một viên đá hình tròn màu xám. Line thầm cảm

thấy nhẹ nhõm khi Espen kêu dừng lại. Cô yêu anh vì

cách anh nắm quyền chỉ đạo, tập họp tất cả lại để

dặn dò, rồi chọn hướng mà đi tiếp. Anh chỉ ra rằng

địa y mọc quanh thân cây ở hướng bắc, nên họ phải

để ý quan sát xem hướng nào địa y mọc dầy hơn. Đối

với Line, có vẻ như địa y mọc đồng đều mọi hướng.

nhưng cô gạt ý nghĩ này đi. Espen sẽ nhận biết; anh

là người bảo hộ cho họ. Cô chỉ là một phụ nữ.

Espen dẫn Torbin đến con ngựa của anh, rồi họ im

lìm chạy đi. Tiếng tuyết rơi khỏa lấp mọi âm thanh,

kể cả tiếng kẽo kẹt của dây cương.

***

Tôi đi đến chuồng gia súc mà không có lý do chính

đáng, ngoài việc tôi đang nghĩ làm thế nào hỏi han

214

các phụ nữ, nhưng nói thật, tôi sợ họ. Họ trông

mạnh mẽ, xa lạ và khinh khỉnh, chỉ hiền dịu đôi

chút do nỗi tiếc thương. Tôi là người chưa bao giờ

bận tâm với lòng từ thiện và tử tế, hoặc thậm chí

hiếu kỳ về người thân cận của mình, thế thì tôi là

ai mà hỏi han họ? Ít nhất các con chó tỏ ra vui

mừng khi trông thấy tôi, điên cuồng vì chán ngán

khi bị nhốt trong chuồng. Con Lucie chạy đến, vẫy

đuôi, hai hàm mở rộng trong kiểu nụ cười hạnh phúc

của loài chó. Tôi cảm thấy kỳ quặc vì tình thương

mến đối với nó, cảm nhận cái đầu thô ráp của nó

dưới bàn tay tôi, lưỡi thè ra như cát nóng bỏng.

Rồi Parker hiện diện ở đây. Tôi tự hỏi ông đã nhìn

thấy tôi từ xa hay không.

Đây là lần đầu tiên ông đến tìm tôi. Đây là lần

215

đầu tiên kể từ khi ông gõ cửa nhà tôi lúc nửa đêm

và chúng tôi đạt thỏa thuận giúp nhau. Hôm qua thì

tôi hẳn đã vui; hôm nay tôi không chắc.

Giọng nói của tôi nghe the thé không như tôi muốn:

“Ông đã nhận được tin tức như mong muốn hay chưa?”

“Ý bà nói gì?”

“Lý do ông đến đây. Nó không liên quan đến Francis

hoặc Jammet. Ông muốn gặp lại Stewart. Vì chuyện

gì đó xảy ra mười lăm năm trước. Vì một vụ xô xát

ngu xuẩn.”

Parker nói một cách cẩn trọng mà không nhìn đến

tôi: “Không phải thế. Jammet là bạn tôi. Và con

trai bà... à, anh ấy mến Jammet. Tôi nghĩ họ mến

nhau, phải không?”

“À ra thế!” Tôi thốt ra một tiếng cười ứ nghẹn.

216

“Quả là cách diễn đạt kỳ lạ. Ông nói nghe như

là...”Parker không nói gì. Con Lucie vẫn liếm bàn

tay tôi và tôi quên rụt tay lại.

“Thật ra, tôi...” Hình như Parker đặt bàn tay ông

lên cánh tay tôi, và dù một phần trong tôi muốn

giật tay ra, tôi vẫn không làm gì. “Thật ra, tôi

không...”Tôi không tin được mình đã không biết.

Tiếng nói của tôi vỡ vụn như lá khô: “Ông nói gì?”

“Jammet đã... À, anh ấy đã kết hôn, nhưng đôi lúc

anh cũng có... bạn. Đàn ông trẻ, đẹp trai, như con

trai bà.”

Bằng cách nào đó ông dẫn tôi bước xa khỏi cánh

cửa, đi đến một góc tối chất những bành cỏ khô, rồi

tôi ngồi trên một trong những bành này.

“Lần cuối cùng tôi gặp anh ấy - đó là vào mùa xuân

217

- bà biết không, anh nói đến một người nào đó sống

gần anh. Anh ấy biết tôi không phê phán anh; mà

anh cũng không màng.”

Khuôn mặt ông thoáng nụ cười. Ông bắt đầu châm lửa

dọc tẩu, không vội vã: “Anh quan tâm sâu sắc đến

anh kia.”

Tôi đưa tay vuốt tóc mình. Có vài lọn tóc vuột ra

khỏi chiếc nơ, và qua ánh sáng ở lối đi tôi có thể

thấy dăm ba sợi tóc bạc. Tôi phải đối diện với hiện

thực. Tôi đang già đi, và đầu óc đầy những ý nghĩ

mà tôi không chịu đựng được. Tôi không chịu đựng

được ý nghĩ là mình không nhận ra những diễn tiến.

Tôi không chịu đựng được ý nghĩ là Angus ghét

Francis vì chuyện này, vì bây giờ tôi nhận ra rằng

anh đã biết. Tôi không chịu đựng được ý nghĩ về nỗi

218

đau buồn của Francis, hẳn là - đúng là - cực độ,

bí ẩn, cô đơn không chịu nổi. Và tôi không chịu

đựng được ý nghĩ là khi gặp nó, tôi đã không an ủi

nó được nhiều.

“Trời ơi! Đáng lẽ tôi phải ở bên nó.”

“Bà là một phụ nữ can đảm.”

Tôi hầu như bật cười: “Tôi là một phụ nữ ngu dốt.”

“Bà đã đi đến tận đây vì con trai bà. Ghét đi như

thế này. Anh ấy biết điều đó.”

“Mà không làm gì ra trò. Chúng ta vẫn chưa tìm ra

người để lại dấu vết.”

Parker không chen ngang mà phủ nhận. Ông im lặng

hút thuốc trong một phút rồi nói: “Stewart cho bà

xem vết sẹo phải không?”

Tôi gật đầu: “Ông ấy nói ông gây ra khi xô xát

219

trong một chuyến đi.”

“Không phải trong chuyến đi. Sau đó. Để tôi nói

cho bà nghe đôi điều mà có lẽ ông ấy không nói, rồi

bà tự suy nghĩ. Stewart có tương lai hứa hẹn. Ai

cũng nói ông ấy sẽ tiến xa. Ông là mẫu người thích

hợp. Vào một mùa đông ở Hồ Clear, ông bắt nhóm

chúng tôi đi đến một thương điếm khác. Gần năm trăm

kilômét. Tuyết phủ dày gần một mét trên mặt đất.

Thời tiết thật kinh khủng. Người ta không di chuyển

giữa mùa đông trừ khi bị bắt buộc. Ông ấy làm thế

để chứng tỏ mình làm được.”

“Có phải đó là chuyến đi nổi tiếng mà anh Moody

nói đến không?”

“Đó là chuyến đi nổi tiếng, nhưng không phải vì

những lý do anh ấy nêu ra. Khởi đầu, bọn tôi có năm

220

người. Stewart, một nhân viên Công ty khác tên

Rae, cháu trai của Rae, mới mười bảy tuổi. Anh con

trai không làm việc cho Công ty; anh đang thăm

viếng vùng này. Rồi còn có tôi và người hướng đạo,

Laurent Jammet.

“Như tôi nói, thời tiết xấu; tuyết phủ dày. Rồi

thời tiết càng tệ hại hơn. Có cơn bão tuyết, và may

mắn mà chúng tôi tìm được một ngôi nhà gỗ, cách xa

mọi nơi chốn hàng trăm kilômét. Cơn bão tuyết tiếp

tục và tiếp tục. Chúng tôi chờ cho bão dứt, nhưng

đó là một trong những cơn bão tháng Giêng kéo dài

hàng tuần. Thực phẩm của chúng tôi cạn dần. Chỉ có

một thứ còn nhiều là rượu. Jammet và tôi quyết định

đi tìm người giúp đỡ. Dường như đó là cơ hội duy

nhất. Chúng tôi nói với hai người kia là sẽ trở về

221

càng sớm càng tốt, để lại cho họ tất cả thực phẩm,

rồi lên đường. Chúng tôi gặp may. Sau hai ngày,

chúng tôi tìm ra một ngôi làng người Da Đỏ, rồi

thời tiết lại tồi tệ thêm, và thêm ba ngày chúng

tôi không quay về được.

“Khi cuối cùng chúng tôi quay về, có chuyện đã xảy

ra. Chúng tôi thấy Stewart và Rae trong tình trạng

say khướt. Anh con trai đã chết, nằm trên mặt đất,

chết ngộp trong thức ăn nôn mửa. Họ không bao giờ

giải thích cặn kẽ, nhưng tôi nghĩ chuyện đã xảy ra

là như thế này: Stewart đã nói đến cái mà ông ta

gọi là ‘ra đi trong huy hoàng’. Ông đã cười đùa về

việc này. Tôi nghĩ khi chúng tôi chưa về kịp thì

ông đã bỏ cuộc. Ông quyết định họ phải uống rượu

cho đến chết. Rae và ông ta không được như ý, nhưng

222

anh con trai chết.”

“Làm thế nào ông biết đó là ý tưởng của ông ấy?”

Tôi rùng mình trong người vì ý nghĩ này. Anh con

trai khi ấy bằng tuổi Francis bây giờ.

Giọng ông nghe lạnh tanh vì khinh bỉ: “Đó là cách

nghĩ của ông ta.”

“Và rồi sau đó thì sao? Họ có sa thải ông ấy

không?”“Làm thế nào họ chứng minh được? Đó chỉ là

một thảm kịch. Chỉ do thiếu suy xét. Thế đã là tồi

tệ rồi. Rae trở về Scotland, Stewart tiếp tục làm

việc, còn anh con trai nằm trong lòng đất. Tôi rời

khỏi Công ty. Từ lúc đó đến giờ tôi không gặp lại

ông ấy.”

“Còn vết sẹo thì sao?”

“Tôi nghe ông ta chỉ trích anh con trai. Nói anh

223

ấy yếu đuối và sợ hãi, và muốn tìm lấy cái chết.

Thế rồi tôi uống rượu.” Ông nhún vai, không tỏ vẻ

tiếc nuối.

Một thời gian dài trôi qua trong im lặng. Dù sao,

tôi biết ông nói chưa hết.

“Còn chuyện kia?”

“Ừ. Năm hay sáu năm trước, Công ty thiếu nhân lực

nên họ mang người từ Na Uy. Phạm nhân. Stewart làm

quản đốc ở Thương điếm Nai Sừng tấm, và họ nhận một

nhóm người này. Những người Na Uy ở Canada cũng

gia nhập bọn họ. Người quả phụ ở Himmelvanger,

người chăm sóc con trai bà - chồng cô ấy ở trong

nhóm này.”

Tôi nghĩ đến người quả phụ - trẻ, đẹp, với vẻ bồn

chồn và khao khát. Có lẽ tố chất này giải thích vụ

224

việc.“Tôi không ở đó, nên đây chỉ là lời đồn đoán.

Vài người Na Uy nổi loạn và bỏ trốn. Không hiểu

bằng cách nào mà họ mang theo được nhiều lông thú

cao giá. Lúc đó Stewart lâm vào tình cảnh bi đát,

vừa vì vụ nổi loạn vừa vì mất số hàng cao giá. Một

người nào đó làm việc ở nhà kho hẳn phải là tay

trong.”

“Stewart phải không?”

“Tôi không biết. Dĩ nhiên là người ta phóng đại,

nói các bộ lông thú là cả một khối tiền cho người

nào tìm được bọn họ. Hàng chục bộ chồn bạc và chồn

đen.”“Nghe như không có giá trị nhiều để phải tốn

công.”“Bà biết một tấm da chồn bạc giá bao nhiêu

không?”Tôi lắc đầu.

“Ở London, giá cao như vàng.”

225

Tôi cảm thấy sốc. Và thấy thương cho các con thú.

Tôi có thể không giỏi giang gì, nhưng ít nhất khi

sống có giá trị hơn khi chết.

“Stewart được điều đến đây. Bây giờ ở đây không

còn lông thú. Chỉ còn có thỏ. Chẳng có giá trị gì

cả. Tôi không hiểu tại sao họ còn cất công duy trì

Hanover. Đối với một người đầy tham vọng thì đó là

sự xúc phạm. Người ta không được thăng chức từ nơi

chốn như thế này. Đó là hình phạt đối với những gì

ông đã làm.”

Tôi nóng lòng muốn biết rõ đoạn kết: “Chuyện này

liên quan gì đến Jammet?”

“Ờ. Năm rồi...” Ông dừng lại, vân vê thuốc lá

trong dọc tẩu - một cách cố ý, tôi thấy dường như

thế. “Mùa đông năm rồi... tôi tìm thấy các bộ lông

226

thú.”“Chồn bạc và chồn đen hở?”

“Đúng.” Giọng ông pha vẻ thích thú, hoặc có lẽ để

chống chế.

“Có đáng là một khối tiền không?” Tôi cảm thấy -

tôi xin lỗi Francis về việc này - một nỗi phấn

khích. Khối tiền có nhiều hình thức dù cho kinh

khiếp, và luôn khiến cho một quả tim nông cạn như

tim tôi đập nhanh hơn.

Parker hơi nhăn mặt: “Không nhiều như người ta

nói, nhưng... vừa đủ.”

“Còn... mấy người Na Uy thì sao?”

“Tôi không tìm thấy họ. Nhưng bất kỳ dấu vết nào

cũng đã mất từ lâu. Họ ở trên vùng trống không.”

Tôi không thể ngưng hỏi tiếp: “Ý ông nói là chó

sói phải không?”

227

“Có lẽ.”

“Nhưng ông đã nói chó sói... để lại nhiều bộ

phận.”“Qua nhiều năm, nhiều loài sinh vật đến tiêu

thụ: chim ăn thịt, chồn... Có lẽ họ đã đi xa. Điều

tôi muốn nói là tôi không thấy gì hết. Các bộ lông

thú được cất giấu như thể họ định quay lại. Nhưng

họ không hề quay lại.

“Thế là tôi kể cho Laurent nghe. Anh ấy sẽ tìm

người mua ở Mỹ. Nhưng anh có tật rượu vào lời ra.

Anh mang câu chuyện ra khoe khoang. Tin tức hẳn lan

truyền, lan tới Stewart ở đây. Chính vì thế mà anh

ấy bị giết.”

“Điều gì khiến cho anh nghĩ đấy là Stewart?”

“Stewart muốn chiếm các bộ lông thú hơn ai hết.

Bởi vì ông ta làm mất. Nếu kiếm lại được, ông ta sẽ

228

là anh hùng. Công ty sẽ thu nhận lại ông.”

“Hoặc là ông ta sẽ giàu to.”

Parker lắc đầu: “Tôi nghĩ tiền bạc không quan

trọng. Đối với ông ta là niềm kiêu hãnh.”

“Có thể là do người khác - bất kỳ người nào đó -

đã nghe Jammet nói và muốn chiếm lấy khối tiền.”

Ông quay sang nhìn tôi: “Nhưng dấu vết người đó

dẫn đến đây.”

Tôi suy nghĩ về điều này một chốc. Đúng thế. Đúng

nhưng chưa đủ.

“Dấu vết dẫn đến đây nhưng bây giờ đã mất. Nếu ta

không tìm được hung thủ...”

Thình lình tôi nhớ ra một thứ, và nóng bừng vì

phấn khích: “Này, tôi tìm ra ở nhà Jammet...” Tôi

rút ra mảnh giấy từ túi mình và trao cho Parker.

229

Ông xem xét, cầm nghiêng về phía cánh cửa tuy vẫn

không đủ sáng.

“Sáu mươi mốt, đó là loại hàng hóa, phải không?”

“Phải. Phải rồi. Bà tìm ra cái này phải không?”

“Trong hũ bột của anh ấy.”

Parker mỉm cười. Tôi cảm nhận niềm hãnh diện - chỉ

trong tích tắc, rồi mờ dần. Cái này chẳng chứng

minh được gì cả, ngoài việc Jammet quan tâm đến các

bộ lông thú theo cách nào đó. Chẳng giúp ích được

gì.

“Tôi trao nó cho anh ấy, với một tấm da chồn bạc.

Việc này làm anh cười to, nên anh giữ lấy. Dĩ nhiên

là mang tấm da đi bán.”

Tôi nói: “Ông giữ nó đi. Có lẽ ông sẽ nghĩ đến

cách sử dụng nó như thế nào.” Thậm chí tôi không tự

230

hỏi tôi có ý nói gì. Parker cũng không hỏi, nhưng

mẩu giấy đã biến khỏi tầm mắt tôi. Tôi vẫn không

biết phải làm gì. Dĩ nhiên Moody là người cần được

thuyết phục.

“Ông sẽ kể cho Moody tất cả chuyện này chứ? Có lẽ

lúc bấy giờ anh ấy sẽ nhận ra.”

“Đó không phải là bằng chứng, như bà đã nói. Moody

yêu mến Stewart; Stewart luôn có tài khiến cho

những người như Moody yêu mến mình. Hơn nữa,

Stewart đã không đi đến Sông Dove. Có một người nào

khác.”

“Tại sao lại có người gây án hộ cho người khác?”

“Có nhiều lý do. Tiền bạc. Sợ hãi. Khi ta biết

người đó là ai thì ta sẽ biết tại sao.”

“Đó có thể là một trong những người ở đây. Có lẽ

231

đó là Nepapanees, và khi anh ấy... đe dọa khai ra,

Stewart giết anh.”

“Tôi đang nghĩ, tôi tự hỏi họ có thể tìm ra thi

hài anh ấy hay không.”

“Có nghĩa là sao?”

“Có nghĩa, họ đi theo hướng Stewart chỉ cho họ đi.

Tuyết sẽ bao phủ dấu vết. Họ chỉ nghe ông ta nói

chuyện gì đã xảy ra.”

Bầu không khí im lặng dày đặc đến nỗi ngay cả

tiếng các con chó ăng ẳng không thể xuyên qua.

***

Họ đi đến địa điểm mà Stewart cho họ biết đêm

trước. Ánh sáng đã chiếu rọi qua bầu trời, và mọi

thứ đều có màu xám: mây xám óng ánh như ngọc trai,

tuyết xám nhàn nhạt. Lớp tuyết mịn trên mặt băng

232

của con sông làm cho hình ảnh lộ ra: một con đường

rộng chạy vòng qua khu bình nguyên, khoảng hai mét

dưới mặt đất. Con sông đã xói mòn sâu hơn trong lớp

vỏ trái đất kể từ lúc nó bắt đầu chảy.

Có những dấu hiệu - được một lớp tuyết mỏng bao

phủ - cho thấy gần đây một người nào đó đã hiện

diện. Một khu vực xù xì, có nhiều dấu giẫm đạp nơi

mặt đất dốc xuống thành một bãi sông. Nhìn từ bên

trên, mặt băng trên con sông phẳng phiu một màu

trắng đồng nhất, ngoại trừ một điểm ở xa xa có màu

sậm hơn, trông như bóng tối, có nghĩa là mặt băng

bị vỡ và nước đông lại thành một lớp băng mới mỏng

hơn, chỉ có ít tuyết bao phủ. Đó hẳn là địa điểm.

Alec đang đi bên cạnh mẹ, đôi lúc nắm lấy tay cô.

Hành trình khó nhọc cho cậu bé; Elizabeth đã phân

233

vân liệu có nên dẫn cậu đi theo không, nhưng ánh

mắt của cậu gợi cho cô nhớ đến Nepapanees. Cậu bé

trông cả quyết và nghiêm túc. Chỉ mới hôm qua cậu

còn là một đứa con trai với người cha làm khuôn mẫu

thử thách cho cậu. Bây giờ, cậu phải trở thành

người lớn.

Nhóm người để lại chiếc xe trượt tuyết bên bờ sông

rồi đi xuống gần dòng nước. Elizabeth nắm lấy tay

Alec. Nhóm đàn ông bước đi thận trọng, dùng cây gậy

dài chọc xuống lớp băng để thử độ dày. Nơi nào lớp

băng vỡ, gần bóng tối, nước phía dưới trông như có

màu đen. Một người kêu lên - nước cạn hơn là họ

nghĩ. Họ xem xét dòng chảy, bàn với nhau phải làm

gì. Elizabeth nhìn về hướng hạ nguồn, nơi con đường

lượn vòng quanh. Ở đâu đó đằng kia, Nepapanees

234

đang chờ đợi.

“Con ở đây,” cô bảo Alec, biết rằng cậu bé sẽ vâng

lời. Cô bước về hướng hạ nguồn mà không ngoảnh mặt

lại. Nhóm đàn ông lo lắng nhìn theo.

Những gì cô đã thấy: một khoảnh đứt quãng giữa bề

mặt láng mịn trắng của con sông; một điểm thô nhám

nơi các cành cây gãy xuống bờ nước, tạo thành một

con đê nhỏ. Bất kỳ thứ gì trôi xuống theo dòng nước

từ thượng nguồn sẽ vướng vào nơi đây cho đến khi

các cơn lũ mùa xuân sẽ cuốn đi tất cả.

Elizabeth lướt đến dọc bờ nước phía trên con đê.

Một phần đầu óc cô thắc mắc tại sao Stewart không

tìm kiếm nơi đây, vì cô thấy lớp tuyết còn nguyên.

Lớp băng dày dưới chân cô. Cô quỳ xuống, dùng bao

tay gạt tuyết sang một bên, để lộ ra lớp băng bên

235

dưới. Băng trong suốt như thủy tinh. Bóng tối của

dòng nước bên dưới mở ra dưới tầm mắt cô, màu

nâu-đen, đầy những cây cỏ mục. Cô dùng tay cào lớp

băng, phá vỡ các mảng nơi các cành cây xuyên qua,

tiếp tục cào bới, cho đến khi...

Là đây... sâu dưới kia, vướng trong lớp bùn lầy,

cô thấy cái gì đó, cái gì đó vừa có màu sáng lẫn

tối, cái gì đó to lớn và bất thường, bị mắc kẹt

trong bóng tối của dòng nước.

Có những tiếng kêu, và vài người đàn ông vội đi

đến phía sau cô, nhưng cô không nhận biết sự hiện

diện của họ, và không nhận biết hơi thở mình đang

gấp gáp giữa hai hàm răng, cũng không nhận biết đôi

bàn tay trần trụi của mình đang chảy máu và xanh

tím vì lạnh, vẫn còn bới tung các rìa băng sắc

236

nhọn. Rồi đám đàn ông cầm gậy và rìu đến bên cô,

đập vỡ lớp băng thành từng mảng sủi bọt. Những bàn

tay kéo cô tránh xa khỏi lỗ hổng nhưng cô làm họ

kinh ngạc khi nhào xuống, đầu chúi xuống trước, đưa

tay nắm lấy thi hài chồng cô kéo lên. Trong cơn

sốc thình lình của cái lạnh chết người, dù mở to

hai mắt cô chỉ nhìn thấy màn đen sâu thẳm và ánh

sáng xám-xanh phía trên; cho đến lúc có cái gì đó

thoát ra tự do và trôi đến đôi cánh tay cô đang

giăng ra giống như người tình trong một cơn ác

mộng.

Xác của một con nai đang bơi về phía cô, đôi mắt

thối rữa mở rộng và sâu hoắm, đôi môi đen sì đã bị

rút rỉa đến tận hai hàm răng toe toét, xương sọ

trắng hếu qua lớp lông lù xù. Lớp da nổi lều bều

237

chung quanh như là một tấm voan tả tơi.

Khi kéo cô lên khỏi mặt nước, trong một lúc họ

nghĩ cô đã chết. Đôi mắt cô nhắm lại, nước chảy ra

khỏi miệng cô. Peter Eagles ép ngực cô rồi cô ho,

nôn ra nước sông. Cô mở mắt. Họ đã mang cô lên bờ,

tháo lớp áo sũng nước, chà xát da thịt cô. Một

người đã đốt một đống lửa. Người khác mang đến tấm

chăn. Alec đang khóc. Cậu bé không sẵn sàng chịu

mất thêm mẹ.

Elizabeth nhận ra vị nước sông trong miệng, vị

vương lại giữa hai hàm răng, vị lạnh lẽo và chết

chóc.Khi hai hàm răng đã thôi đánh lập cập, cô

nói: “Anh ấy không có ở đó.”

George Cummings đã dùng một góc tấm chăn chà xát

hai bàn tay cô.

238

“Có cả một khoảng dài để tìm kiếm; tụi tôi sẽ đập

vỡ hết các tảng băng cho đến khi nào tìm được anh

ấy.”Cô lắc đầu, vẫn còn hình dung ra vẻ mặt của

con nai chết đang mỉm cười trong vẻ chiến thắng với

cô: “Anh ấy không có ở đó.”

Sau đó, họ ngồi quanh đống lửa, ăn món thịt ruốc

và uống trà. Bình thường họ vẫn câu cá, nhưng không

ai muốn câu cá ở đoạn sông này; thậm chí không ai

nêu ý kiến. Alec ngồi dựa vào Elizabeth, và cô cảm

nhận hơi ấm từ người cậu bé.

Họ dựng lều trú ẩn trên một bãi sông khác, cách xa

tầm mắt nơi họ đã làm vỡ mặt băng, được các dải bờ

sông cao che chắn gió lạnh. Nhưng không khí yên

ắng đến ngạc nhiên; làn khói từ đống lửa tỏa vươn

lên cao.

239

William Blackfeather khẽ cất tiếng, không nói đến

riêng người nào: “Ngày mai, khi trời vừa sáng, ta

sẽ đi tìm kiếm, đoạn trên và đoạn dưới. Bọn ta sẽ

bao trùm một vùng rộng.”

Gật đầu.

Rồi Peter: “Nước cạn đến mức kỳ lạ. Mình nghĩ khó

mà bị nước cuốn trôi được. Dòng chảy không mạnh.”

George gật đầu về phía Elizabeth, ra hiệu cảnh

báo. Nhưng có vẻ như cô không lắng nghe.

Kenowas hạ thấp giọng: “Lớp băng bị đập vỡ còn

mới. Lớp băng trước không dày, chỉ dày bằng phân

nửa so với lớp mới.”

Tất cả đều im lặng, chìm sâu vào ý nghĩ của riêng

mình.Rồi Kenowas lớn tiếng: “Tôi không đi trên lớp

băng đó, cho dù đuổi theo con gì đi nữa.”

240

“Anh nói gì?” Arnaud có tính thô lỗ và hiếu chiến,

ngay cả khi không say rượu. Kenowas nhìn qua anh.

Giữa hai người từ lâu đã có mối hiềm khích.

“Tôi cũng không nghĩ Nepapanees đã đi ra đó. Ngay

cả một thằng dốt như anh cũng phải suy xét cho kỹ.”

Không ai cười, cho dù đó là câu có ý giễu cợt. Có

sự thật trong lời nói của anh, vì Nepapanees là

người đặt bẫy sắc sảo nhất, người có kinh nghiệm

nhất trong bọn họ.

Điều mà nhiều người nghĩ, tuy không nói ra, là

linh hồn của Nepapanees đang dẫn dắt họ qua xác con

nai. Anh không được rửa tội, nên anh có linh hồn

con nai phù hộ thay vì có thiên thần nhỏ. Một linh

hồn mạnh mẽ, nhanh nhẹn, quả cảm, biết rõ các khu

rừng và bình nguyên. Còn giỏi hơn là một thiên thần

241

bé nhỏ. Làm thế nào mà một đứa bé, sinh ra từ ngày

xưa trong một xứ sở nóng bức, giữa sa mạc, lại

biết cách sống tồn giữa vùng hoang dã lạnh giá

được? Nó có thể dạy cho anh những gì? Rồi Elizabeth

- là người được rửa tội với một vị thánh đặc biệt

để phù hộ cô và có một phần dòng máu da trắng trong

huyết quản - lắc đầu và tặc lưỡi khi tức giận,

hoặc chế giễu và kéo tóc anh khi vui vẻ. Khi cải

đạo ở tuổi trưởng thành, cô yêu thích suy nghĩ của

Thánh Francis( ), với lòng từ tâm và cách truyền

thông với chim chóc cùng những con vật khác. Vị

Thánh gần giống Nepapanees về điểm này và vì thế

Người được yêu mến ở đây - bốn đứa trẻ và hai người

lớn đã chọn Người làm thánh bổn mạng cho họ.

Bây giờ có vẻ như Thánh Francis ở quá xa và không

242

can hệ gì đến thực tại, Người không hiểu được cái

chết này, không hiểu được nỗi đau giá lạnh của cô.

Elizabeth không thể gạt ra khỏi đầu óc hình ảnh cái

đầu của con nai. Cô tin chắc chồng mình không ở

trong dòng sông, không ở nơi nào gần đó, nhưng có

lẽ cô đã lầm. Có lẽ đức tin của chồng cô luôn là

đức tin đúng, và cô đã nhìn thấy linh hồn của anh,

trở về để trêu ghẹo cô đã không nhận đức tin theo

anh.

Cô cảm thấy xa lạ, lạnh cóng hơn là cái lạnh, bị

tách rời khỏi nhóm đàn ông và thực phẩm và đống

lửa. Thậm chí tách rời khỏi tuyết và không khí tĩnh

lặng và bầu trời rỗng không đáy. Chỉ có thân hình

mềm mại của đứa con trai cô là còn kết nối cô với

trần thế này; một thân thể mỏng manh có hơi ấm con

243

người, dễ tan vỡ.

***

Nhiệt độ tiếp tục hạ. Trong cái lạnh này, có cảm

giác như không khí đang cô đặc lại thành cái kẹp

sắt. Nó lấy đi hơi thở con người, hút hơi ẩm từ lớp

da, cháy bỏng như lửa. Có sự im lặng sâu lắng, hầu

như có ý thức trên khoảnh sân, trên đó các bàn

chân dẫm lên lớp tuyết với tiếng động đến kinh

ngạc.

Đó là tiếng động đánh thức Donald: tiếng lớp tuyết

bị ép chặt và kêu cọt kẹt dưới chân người.

Viện cớ một cơn sốt nhẹ, anh đã nằm trên giường cả

ngày và ngủ cho đến chiều, một chiếc ghế chặn dưới

nắm cánh cửa, mơ màng một cách dễ chịu khi ánh

sáng tắt dần. Không có gì bất thường về các bước

244

chân - vẫn còn có người đi lại - chỉ có điều các

dấu chân tạo nên hình mẫu kỳ lạ, không đồng đều,

khiến anh tỉnh khỏi cơn mụ mẫm thoải mái. Tuy không

chú tâm, anh vẫn lắng nghe người ta bước đi, dừng

lại, rồi bước tiếp một đoạn ngắn. Rồi lại dừng. Anh

chờ đợi - mẹ kiếp! - nghe họ bước tiếp. Cuối cùng,

anh chống hai cùi tay gượng ngồi dậy, nhìn ra

khoảnh sân đang tối dần. Vài khung ánh sáng hình

vuông chiếu ra, có lẽ là từ những văn phòng. Thoạt

đầu anh không nhìn ra người ấy, nhưng đấy chỉ vì

người này ở trong bóng tối; có lẽ anh ta đoán phòng

của Donald trống vắng vì không có ánh sáng. Rồi

Donald nhìn ra người kia: một người đàn ông mặc áo

lông thú, với mái tóc dài sẫm màu. Anh thắc mắc

toán đi tìm kiếm đã trở về chưa. Anh không nhận ra

245

người này, và sau một lúc thấy là người này không ở

trong toán đi tìm kiếm. Anh ta có bộ dạng lấp lấp

ló ló, nhìn chung quanh mình với cử chỉ cẩn thận

tột độ, di chuyển nhanh nhẹn như diễn viên kịch

câm. Anh ta đã say bét nhè. Donald nhìn mà thấy

buồn cười khi anh ta loạng choạng qua cái gì đó

trong bóng tối, và càu nhàu. Rồi, khi không có

tiếng nào đáp lại, anh bước đến các nhà kho và mất

hút. Một người đã quá say nên không giúp gì được

trong cuộc tìm kiếm. Donald lại nằm xuống, kéo tấm

chăn lên tận cằm.

Có những người ở Pháo đài Edgar say sưa nhiều

tháng, cả mùa đông không làm được tích sự gì. Quả

là buồn khi thấy họ lâm vào tình trạng đó, có nghĩa

là đời sống của họ sẽ ngắn ngủi. Tật say xỉn là

246

căn bệnh ngày càng trầm trọng, và thoạt đầu Donald

bị sốc khi thấy nhân viên lớn tuổi của Công ty

không làm gì để ngăn chặn, mà lại còn cho phép nhân

viên tải hàng được tự do uống loại rượu kém chất

lượng. Khi anh thử trao đổi với Jacob thì anh này

tránh né; chỉ vì rượu mà Jacob đã lụi con dao vào

bụng Moody. Theo như Donald biết, từ lúc ấy Jacob

đã không động đến giọt rượu nào. Chỉ có một lần

Donald đem vấn đề ra bàn với Mackinley, để chỉ thấy

Mackinley tròn đôi mắt nhợt nhạt nhìn mình với vẻ

ngạc nhiên nếu không nói là khinh miệt. Mackinley

chỉ chốt lại vấn đề bằng câu: “Cả thế gian làm việc

theo cách đó.” Các thương nhân dùng rượu để dẫn dụ

người đặt bẫy và nhân viên; nếu Công ty không cung

cấp rượu thì sẽ bị mất lợi thế về tay những nhóm

247

cạnh tranh với họ vốn không có tính đắn đo mà cũng

không màng đến an sinh của người làm việc cho mình.

Hành động theo cách khác sẽ là ngây thơ. Donald

cảm thấy có điều gì đó không ổn trong cách biện

luận này, nhưng không dám nói ra.

Sau một lúc, anh nghĩ về những gì Bà Ross đã nói

cho anh nghe tối qua. Nesbit là người trẻ như anh,

chỉ mới từ Scotland đến đây. Người có học thức và

gốc gác khá. Một thư ký cấp thấp, nhưng có trí

thông minh để thăng tiến trong Công ty. Các mối

tương đồng khiến cho anh bị đánh động; hoặc đúng

hơn, một khi đã xét qua các mối tương đồng thì sự

khác biệt bắt đầu đánh động anh. Tật giật mình vì

hay lo lắng và tiếng cười cay đắng của Nesbit, cùng

nỗi căm ghét cuộc sống của bản thân. Anh ta đã

248

sống ở xứ sở này lâu hơn Donald gấp hai lần, và dù

chịu nhiều khổ sở vẫn nghĩ rằng mình sẽ không bao

giờ rời đi.

Donald thoáng rùng mình khi suy ngẫm tương lai của

Norah, với khuôn mặt bầu bĩnh tỏ vẻ hồ nghi, cách

ăn nói xấc xược, và vòng tay tạo thoải mái cho

Nesbit. Trong quá khứ, anh đã nghe qua những mối

quan hệ dị chủng - ngay ở Pháo đài Edgar cũng là

thông thường - nhưng Donald vẫn nghĩ việc này sẽ

chẳng bao giờ dính dáng đến mình. Anh nghĩ đời mình

đã có chủ đích kết hôn (nhưng vì lý do nào đó, chi

tiết vẫn chưa rõ ràng) với một cô gái nói tiếng

Anh - một cô gái như Susannah, mà thực ra anh chưa

hề dám mơ đến người nào đẹp đến vậy. Trong mười tám

tháng đầu sống ở Pháo đài Edgar, có vẻ như chủ

249

đích ấy ngày càng xa vời. Nhưng khi nhìn đến các cô

gái bản địa hiện diện nhiều ở Pháo đài thì anh

thối lui, dù cho cánh đàn ông giễu cợt anh về cô

này cô kia vốn hay cười khúc khích trước mặt anh.

Nhưng anh chưa hề gặp người phụ nữ bản địa nào đẹp

như Nancy Eagles. Anh vẫn còn cảm nhận hơi ấm tỏa

ra từ thân người mềm mại của cô, bàn tay cô táo bạo

và gây xúc cảm - tức là, nếu anh tự cho phép mình

nghĩ đến. Nhưng anh không nghĩ đến. Khó mà tưởng

tượng bằng cách nào Norah đã có cùng ảnh hưởng tạo

kích động đối với Nesbit.

Bức thư viết cho Maria nằm trên mặt bàn. Đêm hôm

qua, sau khi cơn tức giận qua đi, anh nhặt lên nhúm

giấy đã bị vò nát, vuốt lại cho phẳng phiu rồi cố

ép lại giữa những tờ giấy khác, đặt đôi giày ủng

250

nén lên trên, nhưng anh e như thế vẫn chưa đủ. Có

lẽ dù sao đi nữa thì cũng không nên viết thư cho

cô. Có lẽ vò nát nó thành một nhúm là điều may mắn.

Chính Susannah là người anh phải nghĩ đến, và anh

nghĩ đến, cố nắm bắt hình ảnh của cô, để nghe trong

đầu giọng nói nhẹ nhàng thanh thoát như ánh bạc.

Khi ánh nắng chiều đã tắt hẳn, Donald ăn mặc tử

tế. Anh đói bụng, mà anh nghĩ đó là dấu hiệu của

sinh lực, và đi ra hành lang không một bóng người.

Anh tìm thấy Nesbit trong văn phòng - chính là ánh

sáng anh thấy từ bên kia khoảnh sân. Không thấy

bóng của Stewart, Bà Ross hoặc của ai khác.

Nesbit đang ngồi ngã ra khỏi bàn với vẻ mặt nhăn

nhó, tấm lưng gù gù vươn thẳng. Anh ngoác miệng

ngáp, lộ ra những chiếc răng hàm đen đúa: “Sổ sách

251

kế toán chết tiệt. Tai ương trong đời tôi. Một

trong những tai ương. Có lúc một kế toán viên làm

việc ở đây - Archie Murray. Cái anh trai trẻ trông

tức cười - như con chuột. Nhưng từ khi anh ta đi,

tôi phải tự làm lấy, và đây không phải là điểm mạnh

của tôi, không ngại gì mà cho anh biết. Chẳng phải

là điểm mạnh gì cả.”

Donald thoáng có ý nghĩ muốn ngỏ lời giúp anh ta,

nhưng cảm thấy mình không tha thiết lắm.

“Không phải là chúng tôi có thu nhập dồi dào để xử

lý. Nhiều chi tiêu hơn là thu nhập, nếu anh hiểu

tôi muốn nói gì. Ở chỗ anh làm thì xoay sở như thế

nào?”“Khá tốt, tôi nghĩ vậy. Nhưng rồi tụi tôi là

thương điếm chứ không phải điểm xuất xứ của sản

phẩm. Tôi đoán có lúc - nhiều năm trước, trước khi

252

có nhiều người - cả xứ sở này có đầy lông thú.”

Nesbit lộ vẻ u sầu: “Tôi thấy không khi nào vùng

quanh đây có nhiều thứ gì cả. Anh biết người bản

địa gọi vùng này là gì không? Xứ Chết đói. Ngay cả

mấy con chồn chết tiệt cũng không tìm ra thứ gì để

ăn - và dĩ nhiên chúng đều là của nợ. Đến lúc làm

một chầu.”

Từ nơi đang ngồi, Nesbit lượn qua Donald rồi rút

ra một chai whisky mạch nha phía sau một vài cuốn

sổ kế toán: “Đi nào.”

Donald đi theo Nesbit vào phòng khách của anh này

- một căn phòng nhỏ, trơ trụi kế bên phòng làm

việc, chỉ có một đôi ghế bành nhồi quá dầy và vài

bức chạm nổi không rõ loại gì.

“Chiều nay Ông Stewart ở đâu?” Donald hỏi khi nhận

253

một ly rượu đầy. May mắn là nó ngon hơn loại rượu

rum ở Pháo đài Edgar. Donald vẩn vơ tự hỏi tại sao

thế - nơi vùng hoang vu, không có thức ăn đàng

hoàng và công việc quản gia lôi thôi - cư dân của

Nhà Hanover lại uống rượu như vua chúa.

Nesbit nói mơ hồ: “À, đi đây đi đó... Đây đó. Anh

biết mà...” Anh nghiêng người tới trước trên ghế

bành, chăm chăm nhìn Donald làm anh luống cuống:

“Con người đó... Con người đó là vị thánh. Một vị

thánh tuyệt đối.”

Donald thận trọng nói: “À...”

“Điều hành nơi này là một nhiệm vụ chẳng ai khen

thưởng, anh tin tôi đi, nhưng ông ấy không bao giờ

than van. Người ta không bao giờ nghe ông ấy phàn

nàn gì về việc này, thực sự không hề giống công

254

việc của anh. Và ông ấy là người có thể làm được

bất kỳ việc gì; năng lực cao nhất. Ở mức cao nhất.”

Donald nói có phần cứng nhắc: “Vâng, có vẻ như ông

ấy có năng lực”.

Nesbit nhìn anh với vẻ tính toán: “Tôi dám nói anh

hẳn nghĩ người nào bị điều ra tận cùng địa ngục

này phải là nhân viên hạng hai, và có thể đúng

trong trường hợp của tôi, nhưng không đúng trong

trường hợp ông ấy.”

Donald cúi đầu - và rồi lắc đầu - một cách lịch

sự, hy vọng mỗi cử chỉ tán đồng và phủ nhận được

gán ghép đúng cách vào mỗi ý nghĩa.

“Người bản địa yêu mến ông ấy. Họ không thực sự

đánh giá nhiều về chúng ta, và đó là ý nghĩ hai

255

chiều nên cũng đúng lý, nhưng ông ấy... họ xem ông

như là một thứ thần linh nhỏ. Bây giờ ông ấy đang

đi ra ngoài, nói chuyện với họ. Trong một lúc, khi

ông ấy trở về với tin tức của Nepapanees, tôi nghĩ

tình hình có thể trở nên xấu đi, nhưng ông đi ra

ngoài đó mà ban phát ân huệ cho họ.”

“À. Hừm. Đáng ngưỡng mộ,” Donald thì thầm, tự hỏi

Jacob có khi nào được ai ban phát ân huệ hay không.

Anh cũng nhớ lại một cách sống động người quả phụ

bị bỏ mặc trên nền tuyết trong khi Stewart và

Nesbit đi vào. Nhưng thật lạ kỳ, cho dù Donald lấy

làm tự hào đã có đầu óc độc lập khi nghe lời tán

dương nhưng không cả tin, lại quá dễ mà tin rằng

người ta sùng bái Stewart. Anh thấy mình bị Stewart

cuốn hút gần như ngang bằng việc anh kinh tởm

256

Nesbit.

Nhìn vào chất rượu màu hổ phách trong ly mình,

Nesbit nói: “Tôi biết mình là hạng hai. Có thể tôi

không biết nhiều lắm, nhưng điều này thì tôi biết.”

Donald thắc mắc có phải Nesbit đang đánh mất chính

mình hay không; trong một lúc anh có ý nghi ngờ

kinh khủng là Nesbit sắp bật khóc.

Nhưng rồi Nesbit mỉm cười, với dáng vẻ cay đắng

yếm thế mà anh đã quen thuộc: “Moody, còn anh thì

thế nào, anh hòa nhập ra sao trong sự việc?”

“Tôi không rõ anh muốn nói gì.”

“Ý tôi nói, anh có phải là hạng hai không? Hoặc là

hạng nhất?”

Donald gượng cười.

“Hoặc có lẽ anh chưa biết.”

257

“Tôi à... Tôi không đồng ý đó là cách phân biệt

hữu ích.”

“Tôi không nói nó hữu ích. Nhưng nó hiển nhiên.

Tức là, nếu anh có can đảm mà nhìn ra.”

“Tôi không nghĩ vậy. Anh có thể cho rằng chấp nhận

đánh giá chính mình là can đảm, nhưng tôi thấy làm

như thế là rũ bỏ trách nhiệm trong cuộc sống. Tư

tưởng yếm thế như vậy khiến cho anh nghĩ mình có

quyền từ bỏ mà bản thân không cần nỗ lực. Tất cả

thất bại đều được biện minh trước.”

Nesbit mỉm cười một cách khó chịu. Donald thích

cách trao đổi nửa nghiêm túc như thế này, mà lúc

trước anh đã tham gia - thường là cuối một buổi tối

mùa đông dài - nhưng vết thương bắt đầu hành hạ

anh trở lại.

258

“Anh nghĩ tôi đã thất bại hả?”

Thình lình hiện ra trong đầu Donald hình ảnh của

Nesbit bị kẹp trong vòng tay màu gỗ xà cừ của

Norah, và cảm thấy có lỗi vì biết rõ con người anh

ta. Hầu như cùng lúc, trong đầu anh, gương mặt của

Susannah kết tinh rõ ràng và sắc nét tuyệt vời; sau

cả thời gian dài dò dẫm trong sương mù, mỗi mảng

tụ lại đúng chỗ và kết hợp lại với nhau, thế là cô

hiện ra: toàn vẹn, chuẩn xác, yêu kiều. Cùng lúc,

anh nhận ra với cú sốc rằng tình cảm của anh đối

với cô có giới hạn, chủ yếu chỉ có lòng ngưỡng mộ

và kính sợ. Anh bị thôi thúc phải chạy về phòng

mình và viết nốt bức thư cho Maria. Con người Maria

tinh tế, khó đoán. Thật lạ kỳ. Thật lạ kỳ nhưng

cũng thong dong, niềm cảm nhận như thế. Thật tuyệt

259

diệu! Anh kiềm hãm nụ cười về ý nghĩ này.

“Anh có nghĩ vậy không?”

Donald phải căng óc để cố nhớ xem câu hỏi là gì.

“Không, không phải. Nhưng tôi có thể tưởng tượng

nỗi chán ngán ở một nơi chốn như thế này. Tôi tin

mình cũng cảm thấy thế nếu rơi vào tình cảnh này.

Người đàn ông cần có bạn bè, và cuộc sống đa dạng.

Tôi biết mùa đông dài như thế nào, mà đó là tôi chỉ

mới kinh qua mùa đông đầu tiên. Một người bạn thì

không đủ, dù cho người này là hạng nhất.”

“Hoan hô! Này, anh có nghe gì không?” Nesbit nốc

cạn ly rượu và đang chuẩn bị rót thêm vào ly thì

dừng lại, nghiêng đầu nghe ngóng. Donald lắng nghe,

đoán đó là bước chân trong hành lang, nhưng không

có ai.

260

Nesbit lắc đầu rồi rót thêm whisky vào ly của

Donald, cho dù anh này chưa uống xong ly đầu.

“Moody à, anh là người bạn tuyệt diệu. Tôi ước gì

anh làm việc ở đây. Anh có thể gỡ rối cho các tài

khoản mà tôi đã xới tung lên trong vòng hai năm

nay.” Nesbit cười thoải mái, vẻ cay đắng đã biến

mất.

Donald nói mà không ăn nhập gì với vấn đề đang

trao đổi: “Hồi nãy tôi thấy một nhân viên của anh

ngoài kia. Anh ấy không đi cùng nhóm tìm kiếm,

nhưng lại say khướt nên tôi dám nói chỉ làm vướng

víu người khác chứ chẳng giúp ích gì.”

Nesbit lại có tia nhìn xa xăm: “À... Đúng. Đó là

vấn nạn mà chúng tôi vấp phải trong mùa đông, như

tôi tin anh đã biết rõ.”

261

“Anh ấy là nhân viên tải hàng phải không?” Donald

muốn hỏi ngay người này là ai, nhưng e như thế là

quá đường đột.

“Tôi không rõ anh nói tới ai. Theo tôi biết, tất

cả đàn ông ngoại trừ Olivier đã đi tìm kiếm ở con

sông. Có lẽ anh đã thấy anh này.”

“Không, không, chắc chắn đó là một người lớn tuổi

hơn. Thân người nặng hơn, anh biết không. Và có bộ

tóc dài.”

“Ánh sáng yếu đó có thể đánh lừa thị giác của anh.

Này, có lần tôi nhìn qua cửa sổ - đó là mùa đông

năm rồi và tôi đang ngồi ở bàn giấy phòng bên - và

suýt đứng tim. Có một con nai sừng tấm đứng sát bên

ngoài, cao hơn hai mét - đang trừng trừng nhìn

tôi. Tôi thét lên một tiếng kinh hoàng rồi chạy ra

262

khỏi cửa, nhưng khi ra ngoài sân thì không thấy nó

đâu. Cũng không có dấu chân. Dĩ nhiên là nó không

có cách nào vượt qua vách đá, nhưng tôi có thể thề

trên một chồng Kinh Thánh là nó đã ở đó. Thử tưởng

tượng mà xem!”

Donald chua cay nghĩ có lẽ anh ta say rồi. Donald

biết chắc người đàn ông ngoài sân không phải là

Olivier, và nhận ra - thực sự, như thể đầu óc anh

đã đi ngủ trong mấy ngày qua - rằng một người chưa

được xác định có thể là chuyện đáng cho họ quan

tâm.

Đáng quan tâm đến nỗi một lúc sau, khi thuận tiện

anh xin kiếu để lẻn ra ngoài, xem xét lớp tuyết bên

ngoài khung cửa sổ phòng anh. Chính lúc ấy, anh

thấy rằng không hiểu vì lý do nào, tiêu chuẩn quét

263

dọn đã được nâng cao: tuyết trên mặt sân đã được

quét sạch.

***

Sault St Marie hoàn toàn khác biệt so với

Caulfield. Đó là nơi hiện diện nhiều sự giao nhau -

hai hồ nước hợp lưu với nhau, một hồ đổ nước vào

hồ kia giữa những ghềnh đá bướng bỉnh; hai con

đường đến từ miền tây-bắc và miền đông cắt nhau; và

đường biên giới của hai quốc gia. Tàu thuyền tụ

hội ở đây từ phương bắc, từ phương đông và từ dưới

nước Mỹ, từ Chicago và Milwaukee, những nơi xa lạ

hơn và suy đồi hơn so với thương điếm hoang dã

nhất. Nhưng lý do bề ngoài để đi đến đây là Nhà hát

Grand Western, mà gia đình Knox đến tối hôm qua để

xem vở Hôn lễ của Figaro được nhiều người nói đến.

264

Yếu tố lôi cuốn chính là Delilah Hammer thủ vai

nhân vật Cherubino, và ý tưởng cho một phụ nữ sắc

tộc Mohawk hát nhạc Mozart đã được các nhà báo bàn

tán trong nhiều tháng. Xem cô hát là đủ mãn nguyện.

Thế nên Bà Knox mua vé tàu hơi nước, và gia đình

bất chấp mùa đông mà đi.

Đối với Maria - người không có khiếu thưởng thức

âm nhạc - cô ca sĩ trông thu hút và có phần cợt

nhả, đặc biệt trong trang phục con trai, với mái

tóc cột lên dưới một chiếc nón mềm. Cô có nét mặt

như trai trẻ với đôi mắt đen thật to càng nổi bật

thêm nhờ hóa trang, và miệng rộng với hàm răng thật

trắng. Cô trông khá ấn tượng so với các nữ ca sĩ

khác vốn trông béo tròn; Maria tự hỏi liệu Cô

Hammer thích thủ một trong những vai ấy hay không.

265

Khán giả - sự pha trộn của những người yêu nhạc

kịch đã chưng diện cho buổi diễn và những người chỉ

muốn thay đổi không khí - rộ lên tiếng tán thưởng

mà trong khung cảnh như thế này thì có lẽ không khó

gì mà đạt được. Cha cô càu nhàu cô ca sĩ không

thích hợp với vai diễn (ông có ý nói đến giọng ca

chứ không phải sắc tộc của cô), rồi ông và mẹ cô

tranh cãi với nhau về việc chỉ huy dàn nhạc. Trong

một lúc, có vẻ như ông trở về với con người của

mình.

Bà Knox đã lo lắng về ông chồng. Ông bị ghét bỏ -

hoặc bị cho về hưu; không ai rõ - đã là tệ hại,

nhưng còn tệ hại hơn nữa là ông ngồi trong phòng

đọc sách từ giờ này đến giờ khác mà không làm gì;

đầu óc tinh tế của ông không suy nghĩ, và bà tin

266

chắc tinh thần của ông đã bị nghẽn, thể chất bị

hoại dưỡng. Khi hai người tranh luận, bà cảm thấy

sự sôi nổi đã chùng xuống. Nói chung, chuyến đi xem

dường đáng công.

Tuy nhiên, đến sáng hôm sau, ông lại rơi vào tình

trạng thờ ơ trong giao tiếp. Và Maria thấy đầu óc

mình lại vương vấn với bộ mã kia.

Sau chuyến đến thăm Sturrock, Maria giam mình

trong phòng với bản chép các dấu hiệu, cố quên đi

tình trạng gia đình trong khi vẫn hoang mang với

nội dung. Thoạt đầu cô thử chia các đường thành

từng nhóm theo cách các đường này được sắp xếp với

nhau - dù cho việc này giả định là Sturrock đã chép

lại chính xác. Qua một bài báo trong tạp chí

Edinburgh Review và qua cảm quan của mình, cô nhận

267

ra mỗi dấu hoặc nhóm của dấu không thể đại diện cho

một chữ cái theo ngữ hệ La Mã, nhưng có thể biểu

hiện một từ hoặc một âm thanh. Sau khi sắp xếp đi

và sắp xếp lại các nhóm và thế vào các âm thanh và

từ, tất cả đều tạo ra một mớ lộn xộn những âm thanh

vô nghĩa (da-ya-no-ji-te! ba-lo-re-ya-no?), cô

đành dẹp qua một bên và cảm thấy càng vô vọng thêm

so với lúc bắt đầu. Không có cơ sở nào để mong

Maria Knox giải được điều bí ẩn; một cô gái dân dã

ít học với vài tựa báo được đặt mua và chỉ với một

bài báo lại muốn giải mã Bản đá Rosetta( ) như là

bước khởi đầu. Nhưng các dấu có góc cạnh nhảy múa

trong đầu cô, xâm chiếm những giấc mơ của cô, trêu

tức cô với một ý nghĩa đong đưa ngoài tầm với của

cô. Cô có ước muốn nguy hiểm là được thấy tấm thẻ

268

nguyên thủy, rồi đầu óc cô chuyển về miền bắc, nơi

có lẽ Francis và anh Moody đang nắm giữ manh mối.

Cô đẩy phần thức ăn sáng còn lại vòng quanh chiếc

đĩa. Những mẩu trứng và nước sốt bít tết cô đặc thể

hiện sự trừu tượng của mẫu hình thướt tha.

Cô đẩy chiếc ghế để đứng dậy: “Nếu mẹ không

phiền... con muốn đi dạo một lát.”

Bà Knox nhíu mày nhìn cô con gái lớn: “Được rồi.

Cẩn thận nhé?”

“Vâng, Mẹ ạ.” Maria đã bước nửa đường đến cánh

cửa. Quả là nực cười khi mẹ cô nghĩ bất kỳ nơi nào

bên ngoài Caulfield đều là hang ổ tội lỗi, nhung

nhúc người da trắng buôn nô lệ. Bà sẽ phải làm quen

với thực tế nếu Maria đi Toronto, và cô đã nhất

quyết sẽ đi vào mùa hè tới.

269

Bên ngoài khách sạn, Maria rẽ sang phải, hướng về

khu bờ sông. Dọc dài theo bờ hồ là hàng loạt những

cầu tàu và nhà kho, thu thập hàng hóa trên cả miền

bắc. Đây là cuộc sống náo động, xô bồ của thương

mại, của kinh doanh; bẩn thỉu và ồn ào và hiện

thực, khác hẳn với Caulfield và cửa hàng John

Scott. Cô đã được cảnh báo phải tránh xa khu vực

này, là một phần của những thú hấp dẫn trong thị

trấn. Những người đàn ông đi vượt qua cô cho kịp

với những cái hẹn gấp với các chuyến tàu đến, giá

cổ phiếu, buổi họp nghiệp đoàn. Đối với một cô gái

quê được che chở thì đấy như là quả tim của mọi sự

việc.

Cũng có những khách sạn và nhà nghỉ ở khu vực cuối

thị trấn này; không đàng hoàng bằng Victoria và

270

Albert, cách xa khỏi nhà hát. Cô thấy một phụ nữ và

một đàn ông cùng bước ra và lơ đãng nhìn họ cho

đến khi cô rùng mình bị sốc khi nhận ra người đàn

ông là Angus Ross, nông dân ở Sông Dove. Cha của

Francis. Khi ông quay đầu, cô thấy gương mặt ông;

khuôn mặt trông nghiêng thô thiển, mái tóc màu cát.

Cô bị sốc bởi vì người phụ nữ đi cùng ông không

phải là Bà Ross. Trong nhiều tuần, người ta đã

không gặp Bà Ross. Maria cảm thấy nóng bừng với nỗi

nhục nhã không phải của cô. Có điều gì đó không ổn

lắm, cho dù Ông Ross và người phụ nữ chỉ đi băng

qua con đường. Ông không trông thấy cô, và theo bản

năng cô thối lui và quay đầu xem xét qua khung

kính của một cửa hàng gần cô nhất. Chẳng có hàng

hóa gì, mà chỉ là một danh mục của các món, không

271

giải thích cho vẻ hoang mang của cô.

Cô chờ cho đến khi hai người kia khuất khỏi tầm

mắt. Trước đây cô chưa từng thấy hành động thiếu

khuôn phép, nhưng cô tin đấy là thiếu khuôn phép.

Xét cho cùng, Bà Ross đang ở đâu? Họ chỉ nghe ông

nói là vợ ông đã đi tìm đứa con trai. Vì đã đọc qua

mấy quyển truyện ghê gớm ngoài những truyện chín

chắn, thình lình Maria nghĩ ra rằng có lẽ ông Ross

đã từ bỏ vợ mình. Còn Francis thì sao? Anh Moody và

người bạn anh đã vọt đi tìm anh ta, nhưng có lẽ

chẳng bao giờ tìm được. Có lẽ vì vậy mà họ vẫn chưa

trở về. Có lẽ Ông Ross đã giết anh Jammet cũng

nên...

Đến đây, Maria kiềm chế lại, tự nhủ không nên làm

mồi cho mấy chuyện hão huyền. Nhưng cô vẫn cảm thấy

272

run rẩy. Có lẽ cô nên dùng bữa sáng cho xong. Có

lẽ - cô nhìn quanh, xem có ai đang nhìn mình hay

không - có lẽ, do tình huống khác thường, cô nên

tìm thứ gì đó để uống.

Phấn chấn vì táo bạo, Maria chọn một quán bar

trông yên tĩnh cách xa bờ sông và bước vào. Cô hít

một hơi thở sâu, nhưng không có ai ở đây ngoại trừ

người quản lý và một người đàn ông đang ngồi ăn,

lưng quay ra cánh cửa.

Cô gọi một ly vang nâu và một miếng bánh nướng mâm

xôi hồng, ngồi ở một bàn trong cùng, phòng trường

hợp có người quen biết đi ngang qua. Như là Bà

Ross. Tim cô đập nhanh khi nghĩ đến điều này. Cô

không bao giờ có lý do để thích hoặc không thích Bà

Ross - người phụ nữ này khá xa cách - nhưng bây

273

giờ cô cảm thấy xót thương cho bà. Trong số tất cả

những người, cô và Bà Ross có lẽ giống nhau về

nhiều mặt.

Phần rượu và bánh cô gọi được mang đến. Để đôi mắt

có việc bận rộn, cô rút ra các mảnh giấy mà thử

giải mã lần nữa. Cô nhận biết người khách hàng kia

đã để ý đến mình, và lo sợ ông ta có thể đến ngồi

cùng cô. Cô thấy chi tiết mà lúc trước mình không

để ý: ông ta là người Da Đỏ có bộ mặt trông khá bất

hảo, và nhất quyết không nhìn về phía ông ta nữa.

Chẳng bao lâu, cô rút ra một cây viết chì và bắt

đầu ghi chú kết quả công việc của mình, là một hàng

dài những từ và âm tiết vô nghĩa.

Cô chăm chú vào công việc cho đến nỗi không để ý

người quản lý đang đứng bên cạnh, cho đến khi anh

274

ta đằng hắng: “Xin lỗi cô. Cô muốn dùng thêm

không?” Anh đang cầm chai vang nâu trên tay.

“À. Cảm ơn, vâng. Bánh nướng rất ngon.” Cô lấy làm

lạ vì bánh quả là ngon.

“Cảm ơn. Cô đang giải câu đố hở?”

“Gần như vậy.” Anh có đôi mắt đẹp, và bộ râu quai

nón màu nâu rất dài. Anh có đầu óc thông minh không

ngờ.

“Tôi đang cố tìm hiểu một bộ mã. Nhưng tôi nghĩ vô

vọng, vì không biết nó được viết theo ngữ văn

nào.”“Ý cô nói là giống như Pháp, hoặc Ý?”

“Vâng... tuy tôi nghĩ đây là một ngữ văn của người

Da Đỏ, và có nhiều thứ.”

“À. Thế thì cô cần sự giúp đỡ.”

“Đúng vậy. Sự giúp đỡ từ ai đó thông thạo tất cả

275

các thứ này.” Cô nhún vai và mỉm cười, vì không

chắc xảy ra việc này.

“Này cô, tôi có đề nghị được không? Cô thấy người

ngồi đằng kia không? Ông ấy biết nhiều thứ tiếng

của người Da Đỏ. Nếu cô muốn, tôi có thể giới thiệu

cho cô.”

Anh thấy cô liếc nhìn với vẻ hồ nghi về phía bờ

vai gù và mái tóc nhờn cuộn quanh cổ áo. “Ông ấy

hoàn toàn... dễ chịu.” Anh mỉm cười như thể đã

không tìm ra ngôn từ chính xác, nhưng thấy cũng ổn.

Maria cảm thấy ngượng ngùng vì một sự đe dọa. Đó

là hậu quả của việc đi vào nơi chốn bất hảo; cô bị

ghim trên thanh gươm của tính liều lĩnh của mình.

Cô nhìn các mảnh giấy và cảm thấy mình như là đứa

học trò ngốc nghếch.

276

“Dĩ nhiên là cô không muốn. Hãy quên tôi nói gì.

Tôi đã xấc xược.”

Maria ngồi thẳng dậy. Nếu muốn trở thành một học

giả, một nhà tư tưởng, thì cô không nên né tránh

con đường tri thức chỉ vì một cổ áo nhờn.

“Không phải, anh rất... tử tế. Cảm ơn. Tức là, nếu

ông ấy không phiền hà.”

Người quản lý bước đến bàn kia và cất tiếng với

ông khách. Maria thoáng nhìn thấy đôi mắt có những

tia đỏ và nghĩ đi nghĩ lại về quyết định của mình.

Nhưng ông đã đứng dậy và đi về phía bàn cô ngồi,

cầm theo ly của ông.

Cô cười nhẹ với ông, hy vọng đó là cách cười của

nhà chuyên nghiệp: “Xin chào. Tôi là Cô Knox. Ông

là Ông...?”

277

Ông ngồi xuống: “Joe”.

“À, vâng, cảm ơn ông đã...”

“Fredo nói cô cần người hiểu biết các ngôn ngữ Da

Đỏ.”“Vâng. Tôi có một phần bộ mã, và, hừm, một

người bạn của tôi nghĩ nó có thể là một ngữ văn của

người Da Đỏ. Tôi đã cố giải đoán, nhưng vì tôi

không biết đó là ngữ văn nào...”

Cô đã cười quá nhiều, rồi khẽ nhún vai, khi đối

diện với ông cô càng lo sợ hơn. Ông già hơn là cô

nghĩ lúc đầu, với những vệt trắng trên mái tóc. Làn

da dưới đôi mắt nhăn nhúm, hai gò má chảy xệ. Có

những vệt đỏ trong tròng trắng hai con mắt. Ông thở

ra mùi rượu rum.

Nhưng khuôn mặt vẫn còn sắc sảo, hoặc xưa kia là

sắc sảo: “Người bản địa không có chữ viết, thế thì

278

tại sao bạn cô lại nghĩ vậy?”

“Tôi biết, nhưng, à... ông ấy đã nghiên cứu. Và

những hình thù nhỏ này - ông xem, đây chỉ là một

bản chép lại, nhưng có những nét vẽ của người Da Đỏ

mà tôi đã từng thấy.”

Tuy ông trông ghê tởm nhưng không hiểu sao cô đẩy

mảnh giấy về phía ông. Cô muốn ông ít nhất xem cô

là nghiêm túc.

Ông xem xét mảnh giấy một hồi lâu nhưng không nói

gì. Maria ước gì mình trở lại khách sạn.

“Đây là bản chép lại của cái gì?”

“Một tấm thẻ bằng xương.”

Ông cầm lên những mảnh giấy khác của cô, những

mảnh giấy viết các kết quả: “Mấy cái tên này là

gì?”“À, đó không phải là tên; chỉ là kết quả tôi

279

tìm ra khi thử các từ và âm tiết, ông biết chứ,

thay thế cho các dấu ở đây...”

Ông xem xét các tờ giấy, giơ lên ánh sáng để nhìn

cho rõ hơn. Ngón tay ông chỉ vào tờ giấy:

“Deganawida. Ochinaway. Có nghĩ nó phát âm như vậy

hả?”Thái độ của ông đã trở nên hùng hổ hơn. Maria

ngẩng mặt lên với vẻ thách thức. Phương pháp của cô

không có gì là sai. Cô đã học phương pháp này từ

tạp chí Edinburgh Review.

“À, tôi chỉ phỏng đoán. Ông phải đặt ra vài giả

thuyết về âm tiết mà các dấu có thể tạo ra, rồi thử

kết hợp. Tôi đã thử nhiều cách. Đây là kết quả của

một... một kết hợp của...”

Người đàn ông ngả người lại và mỉm cười với cô;

khuôn mặt ông nhăn nhó vẻ giễu cợt và thù địch:

280

“Này cô, có phải đây là một hình thức đùa nghịch

không? Ai đã nói với cô tôi ở đây?”

“Không, dĩ nhiên là không phải. Tôi không rõ...

tôi không biết ông là ai!” Cô nhìn quanh, lo lắng

tìm Fredo, nhưng anh này đang bận phục vụ vài khách

mới vào.

“Ai vậy? Có phải là tên McGee mập khốn kiếp đó

không? Hả? Hay là Andy Jensen? Có phải Andy không?”

“Tôi không biết ông đang nói gì. Tôi không biết

ông ngụ ý gì, đây là chuyện không đúng chỗ.”

Bây giờ Fredo đã nghe giọng nói của cô; anh liếc

nhìn qua cô... cuối cùng thì anh đang đi về phía

cô.Joe vẫn khăng khăng: “Bạn cô tên gì?”

“Thưa cô, tôi xin lỗi. Joe, anh đi đi.”

“Tôi chỉ muốn biết tên anh đó.”

281

“Có vẻ như ông... Joe nghĩ tôi đang chơi khăm ông

ấy.”“Joe, xin lỗi cô ấy đi. Nhanh lên.”

Joe nhắm đôi mắt và cúi đầu; thái độ cao nhã một

cách kỳ quặc mang lại cho gương mặt xấu xí của ông

một vẻ tinh tế vốn đã mờ đi với thời gian và rượu.

“Tôi xin lỗi. Tôi chỉ muốn biết tên người bạn của

cô đã có cái... bất kỳ cái gì cô gọi.”

Maria lấy lại lòng can đảm khi có Fredo đứng bên

cạnh. Và có vẻ gì đó trên gương mặt ông khi ông

nhắm đôi mắt, vẻ gì đó cho thấy nỗi khổ đau lâu

ngày không dứt, thậm chí u buồn, khiến cho cô muốn

trả lời: “À, đó là Ông Sturrock, vì ông đã hỏi đến.

Và đây không phải là chơi khăm. Tôi không chơi

khăm.”

“Sturrock?” Joe lộ vẻ nghiêm túc. Cả tư thái của

282

ông sắc sảo thêm, như thể những mối dây liên lạc đã

được kết nối, làm cho ông biến đổi: “Tom Sturrock.

Người Tìm kiếm phải không?”

“Đúng... là ông ấy. Ông biết ông ấy à?”

“Có lúc tôi biết. Tôi chúc cô được may mắn, và nói

với bạn cô Kahon’wes gửi lời hỏi thăm.”

Maria nhíu mày, vật lộn với cái tên: “Ga-hoo

ways?”Người đàn ông, cho dù tên là gì, đứng dậy đi

ra khỏi quán bar. Maria nhìn Fredo để mong có lời

giải thích.

Nhưng anh cũng ngạc nhiên như cô: “Tôi xin lỗi,

thưa cô, tôi không biết ông ấy như vậy. Bình thường

ông thầm lặng, chỉ đến uống rượu, nhưng hoàn toàn

dễ chịu. Để tôi mang cho cô một ly vang nâu nữa,

hoặc một miếng...”

283

“Không, cảm ơn anh. Tôi phải đi. Cha tôi đang

mong. Bao nhiêu...?”

“Không, không, tôi không thể để cho cô trả tiền.”

Sau ít phút hai bên kiên quyết, Maria chịu thuyết

phục, cảm thấy đây là một tiền lệ tốt để mang ơn

một người lạ. Cô ra về với tập giấy và những lời

cảm ơn, nhìn thẳng về phía trước trong khi vội vã

rời khu bờ sông.

Buổi sáng hóa ra là một cuộc phiêu lưu mà cô không

định trước; con đường tri thức đầy chông gai và

hoang mang. Nhưng ít nhất cô sẽ có chuyện để kể cho

Ông Sturrock nghe, và có lẽ chuyện nào đó để vực

dậy cha cô từ trạng thái thờ ơ. Với cảm giác nhẹ

nhõm khi bỏ lại đằng sau bến tàu, Maria bước chậm

lại để tạo bố cục cho câu chuyện, và trong khi sắp

284

đặt lại cuộc phiêu lưu trong lời kể đầy hồi hộp với

một nữ anh hùng dũng cảm, cô gần như tự thuyết

phục rằng mình đã không sợ hãi chút nào.

***

Ánh sáng lờ mờ dưới tán cây và trời tối sớm, nên

họ dừng lại, bởi vì hai đứa trẻ đang mè nheo. Espen

cố giấu nỗi sợ hãi, nhưng anh không rõ xây chỗ ẩn

náu bằng tuyết như thế nào, và cũng không biết cách

đốt lửa khi lớp tuyết dày như thế này. Anh quét

một khoảnh trên nền đất, mất một hồi lâu mới đốt

được đống lửa với những cành cây ẩm ướt, nhưng

trước khi nước sôi, khối tuyết được đắp chung quanh

đã tan chảy và dập tắt ngọn lửa. Hai đứa trẻ nhìn

qua màn lệ vì thất vọng và lạnh. Line luôn cất

tiếng trấn an, cổ họng khô khốc vì khát, đôi môi

285

nứt nẻ vì lạnh. Cô chưa bao giờ cất tiếng nhiều đến

thế trong đời; cô nhất quyết không đầu hàng, không

tỏ ra sợ hãi, không khóc.

Cuối cùng, khi Torbin và Anna đã thiếp đi trong

giấc ngủ mệt nhọc, cô nói: “Ngày mai ta sẽ đến con

sông. Tuyết làm ta đi chậm lại, nhưng ta sẽ đến

đó.”Trong một lúc, Espen không trả lời. Cô chưa

từng thấy anh buồn rầu như thế. “Em không thấy nó

hả?”“Thấy cái gì? Anh đang nói gì?” Trong trí

tưởng tượng của cô, rừng đầy rẫy những gấu, người

Da Đỏ tay vung cây rìu, chó sói mắt sáng như ngọn

đèn.“Dấu vết của chúng ta. Sáng nay chúng ta đi

trên chính dấu vết của chúng ta. Anh đã thấy nó,

rồi quay lại. Ta đã đi theo những vòng tròn.”

Line nhìn lại anh, trong khoảnh khắc tự hỏi việc

286

này có nghĩa là gì.

“Line, ta đã đi theo những vòng tròn. Anh không

biết ta đi theo phương hướng nào. Thiếu la bàn hoặc

không nhìn thấy mặt trời thì anh không biết gì

hết.”Cô cần dẫn dắt anh, trấn an anh, cho anh biết

cô vẫn nắm quyền chỉ đạo: “Khoan đã. Ta đã lạc

lối. Thế thì ta lạc lối một lần. Có lẽ đó không

phải là vòng tròn lớn. Ta không phải đi theo những

vòng tròn. Cây cối thay đổi, cao hơn, vì vậy ta hẳn

đang đi xa hơn về hướng nam. Em đã để ý điều này,

rất rõ ràng. Ta chỉ cần tiếp tục đi. Em tin chắc

ngày mai ta sẽ đến con sông.”

Anh không tỏ vẻ như đã tin cô. Anh nhìn xuống,

giống như đứa trẻ ngỗ nghịch không muốn đầu hàng

nhưng không biết đi đâu.

287

Cô ôm lấy khuôn mặt anh trong hai bàn tay vẫn còn

mang găng - trời quá lạnh nên không thể thân mật

hơn: “Espen... anh yêu. Đừng thối chí bây giờ.

Chúng ta đã tiến gần đến đích. Khi đến Caulfield và

khi có nơi ăn chốn ở, ta sẽ ngồi trước một lò sưởi

và sẽ cười đùa về chuyện này. Quả là một cuộc

phiêu lưu để bắt đầu cuộc sống bên nhau!”

***

“Nếu ta không đi tới Caulfield thì sao? Con ngựa

của anh bị bệnh. Chúng không ăn đủ no. Ngày mai ta

có thể đi tới hồ! Rồi em sẽ cảm thấy ngu xuẩn.”

Cô hôn anh, làm cho anh cười.

“Em là ma nữ( )! Khó mà tin được. Thảo nào em luôn

muốn gì được nấy.”

“Hứ!” Line mỉm cười, nhưng nghĩ anh vừa thiếu công

288

tâm,

và cũng sai lầm. Cô có muốn Janni mất tích trong

vùng hoang dã không? Cô có muốn đến sống ở

Himmelvanger? Tuy thế, ít nhất anh vui tính hơn, và

đó là điều cốt yếu. Nếu cô có thể giữ cho anh tiếp

tục đi, giữ cho tất cả tiếp tục đi, thì tất cả sẽ

ổn.

Khi hai người nằm bên nhau trong chỗ trú ẩn tội

nghiệp, ôm lấy hai đứa trẻ ở giữa, Line nghe những

âm thanh qua giác quan mệt mỏi: tiếng nổ như súng

lục của nhựa cây đóng băng, băng tuyết rơi từ những

nhánh cây. Và có một lần, từ nơi rất xa xôi, cô

nghe tiếng chó sói tru vang vọng vào màn đêm trống

vắng, và cô toát mồ hôi cho dù trời lạnh.

Sáng hôm nau, con ngựa của Espen từ chối di

289

chuyển. Nó đã ăn vỏ cây rồi đi tướt, phân lỏng nhỏ

giọt ở vùng hông và nhuộm bẩn nền tuyết. Nó đứng

với bộ dạng thật tội nghiệp. Espen cố ép nó ăn bột

yến mạch trộn trong nước ấm, nhưng nó quay đầu đi.

Cuối cùng, khi họ tiếp tục lên đường, Espen phải đi

bộ dắt con ngựa của mình, còn hai đứa trẻ ngồi

trước Line trên lưng ngựa của cô. Dắt - hoặc kéo

thì hơn - một con ngựa còn khó khăn hơn là đi bộ

một mình, và sau một tiếng đồng hồ Espen gọi Line

đến bàn bạc.

“Việc này là điên rồ. Nếu để nó lại thì ta đi

nhanh hơn. Nhưng việc này là quá tàn nhẫn. Nếu ta

đến gần con sông thì sao?”

“Hãy đi thêm chút nữa. Có thể nó sẽ khỏe hơn.

Tuyết đã ngưng rơi và trời đang ấm hơn.”

290

Đúng thế: tuyết đã hầu như ngưng rơi hẳn và ít

nhất ở vài chỗ lớp tuyết trên mặt đất có vẻ như

mỏng hơn.

“Càng đi thêm càng khó khăn hơn. Nó chỉ muốn đứng

yên một chỗ. Anh nghĩ chẳng bao lâu nó sẽ quy

xuống. Nó làm anh quá mệt.”

“Anh muốn em dắt nó một đoạn không? Anh có thể

ngồi lên với Torbin và Anna cho đến khi khỏe lại.”

“Đừng có ngốc. Em không làm được. Không... em

không làm được đâu.”

Con ngựa - tên là Bengi, dù Line đã tự dặn lòng

không nghĩ đến nó qua cái tên - đang dỏng tai về

phía hai người. Lưng nó trông trũng hơn hôm qua,

đôi mắt lờ đờ.

“Nếu ta để nó ở lại thì sao? Lúc nào ta cũng có

291

thể quay lại tìm nó sau này.”

“Em không nghĩ vậy.”

Line thở dài. Cô đã tưởng tượng ra nhiều chuyện,

nhưng không tưởng tượng được một con ngựa bệnh tật

làm cản trở bước đường của mình. Cách vài mét, hai

đứa trẻ đã xuống ngựa, và được nghe phải vận động

để sưởi ấm nên đang chơi một trò chơi khá chán nản.

Line vỗ về cổ con vật: “Tội nghiệp Bengi già!” Nó

nhướng mắt nhìn cô với vẻ cảnh báo. Cô đi đến quyết

định: “Ta bỏ nó ở lại. Nếu nó không theo kịp thì

ta phải bỏ nó ở lại. Ta nói với hai đứa trẻ ta sẽ

quay lại tìm nó, hoặc đại loại chuyện như vậy.”

Espen nặng nề gật đầu. Ở một nơi khác, một con

người Line khác hẳn đã nức nở cho con ngựa bị bỏ bê

292

mặc cho số phận của nó. Nhưng không phải trong

trường hợp này.

Hai người đi về phía bọn trẻ. Ngay lúc ấy, khi

Line chưa kịp mở miệng để giải thích, một tiếng nổ

lớn vang dội giữa đám rừng cây. Tiếng nổ lớn đến

nỗi Anna giật nẩy người và suýt ngã xuống. Họ cùng

nhìn nhau.

Espen kích động thốt lên: “Một người đi săn!”

Line hỏi: “Anh có chắc đó không phải là nhựa cây

đóng băng chứ?”

“Tiếng nổ quá lớn, và nghe khác. Đó là súng

trường. Có người đang đi săn quanh đây.”

Anh có vẻ chắc chắn. Hai đứa trẻ reo lên vì vui

mừng và nhẹ nhõm đến nỗi Line cũng vui lây. Có

người đang hiện diện gần đây. Bỗng dưng cuộc sống

293

văn minh ở gần tầm với.

Espen vội nói thêm: “Để anh đi xem mình tìm ra họ

được không... Chỉ để hỏi mình đi đúng đường hay

không.”Line gay gắt hỏi: “Làm thế nào anh quay lại

được?”

“Em đốt lửa đi. Anh không đi lâu đâu. Người này

chắc ở gần đây thôi.” Espen bắt đầu la lên bằng

tiếng Anh: “Này! Ai đó? Này!”

Không cần chờ tiếng đáp trả, anh quay lại: “Anh

nghĩ họ ở đằng kia. Anh không đi lâu. Nếu anh không

tìm ra họ thì anh cũng quay lại. Anh hứa.”

Espen mở nụ cười tự tin, rồi đi vào giữa đám cây

rừng. Những bước chân anh biến mất trong bầu không

gian tĩnh lặng.

Con ngựa kia, Jutta, kêu lên một tiếng than vãn

294

dài của loài ngựa.

***

Quả là lý thú khi theo dõi sự thăng trầm của người

làm việc tại thương điếm. Cách thức họ được phân

chia ra hoặc nhập chung với nhau. Từ quan sát của

riêng mình, tôi thấy rõ rằng Olivier không được

những nhân viên khác yêu mến lắm. Anh làm việc bên

cạnh Stewart, chạy việc vặt cho ông, thậm chí còn

rập khuôn theo kiểu cách của ông. Về phần những

người khác, người da trắng và người bản địa cách

biệt nhau, và Olivier bị xem là kẻ bỏ hàng ngũ vì

về hùa với phe kia. Ban đầu tôi nghĩ họ kính trọng

Stewart hoặc thậm chí yêu mến ông. Bây giờ tôi

không chắc. Có sự kính trọng nhưng theo cách thận

trọng cảnh giác, với thái độ mà người ta đối phó

295

với một con thú có thể trở nên nguy hiểm. Norah

ghét ông, và trong khi có thái độ chăm sóc Nesbit,

cô đều bất lịch sự với cả hai người. Cô đối xử với

Stewart qua cung cách xấc xược đến nỗi tôi tự hỏi

có phải cô nắm trong tay một thứ quyền lực nào đấy

hay không - nếu không thì tôi không hiểu được làm

thế nào cô không bị kỷ luật. Và một đôi lần tôi

trông thấy người phụ nữ đẹp ấy - Nancy - trong hành

lang ở đây. Vì có vẻ như cô không có nhiệm vụ quét

dọn hoặc hầu hạ, nên tôi không rõ cô có nhiệm vụ

gì. Có lẽ là nấu ăn.

Tôi đang trông chờ một chuyện nào đấy xảy ra. Toán

người tìm kiếm đã trở về được hai tiếng đồng hồ.

Tôi đang lượn lờ giữa phòng mình, nhà bếp và phòng

ăn - tôi cố tìm ra việc này việc kia để làm như đi

296

tìm mồi nhúm lửa (vì tôi đã ném nó ra ngoài), hoặc

lau chùi chỗ cà phê đổ tháo. Vì thế mà Norah không

hề thích tôi, nhưng sau sáu giờ chiều tôi đạt mục

đích khi nghe tiếng cãi cọ trong văn phòng của

Stewart.

Nesbit đang cuồng loạn cất cao giọng: “Vì Chúa,

tôi vẫn nói với ông tôi không biết! Nhưng chuyện đã

qua rồi, không còn nghi ngờ gì nữa.”

Tiếng thì thầm của Stewart.

“Chúa ơi, tôi không màng. Ông đã hứa mà! Ông phải

giúp tôi.”

Thêm tiếng thì thầm - chuyện gì đấy về “sơ suất”.

Tôi đang ở trong hành lang, đang rón rén đến gần

hơn, cầu trời đừng tạo tiếng động trên mặt sàn.

“Đúng là một người trong bọn họ. Ai khác làm

297

chuyện này? Và còn một chuyện nữa... Nửa Người( ) -

ông nên kiểm soát nó kỹ hơn.”

Tiếng thì thầm nhỏ hơn. Không hiểu sao, chuyện này

khiến cho tôi lạnh người còn hơn là bất kỳ chuyện

gì khác. Tôi không dám bước đến gần hơn. Nesbit gọi

“Nửa Người” là có ý gì? Có phải anh đang sỉ nhục

Stewart không? Hoặc sỉ nhục một người nào khác?

Những bước chân người nặng nề tiến đến cánh cửa.

Tôi hấp tấp đi qua, đi đến phòng ăn kịp lúc trước

khi có người đi ra.

Moody đang ngồi trên chiếc ghế gần lò sưởi, ngước

nhìn khi tôi bước vào: “Bà Ross. Tôi có chuyện muốn

bàn với bà.”

“Chờ một chốc...” Tôi đặt bình cà phê xuống. Bên

ngoài, có vẻ như tất cả đều yên ắng. “Xin lỗi anh

298

Moody, có lẽ tôi quên cái gì đó. Chờ tôi một chút.”

Anh xịu mặt khi tôi đóng cánh cửa.

Tôi đi ngược trở lại dọc hành lang. Cánh cửa phòng

Stewart đóng chặt. Tôi đưa tay lên gõ.

“Chuyện gì vậy?” Giọng của Nesbit. Rất cáu bẳn.

“À, tôi đây, Bà Ross. Tôi vào được không?”

“Ngay lúc này tôi khá bận.”

Tôi vẫn mở cánh cửa. Nesbit ngồi ở bàn viết nhìn

lên - tôi có cảm tưởng anh đã nằm ườn trên đó và

mới ngồi bật dậy. Mặt anh đẫm mồ hôi và nhợt nhạt,

tóc bù xù hơn bao giờ. Trong tôi nổi lên nỗi thông

cảm. Tôi nhớ lại tâm trạng này là như thế nào.

“Tôi đã nói...”

“Tôi biết. Tôi xin lỗi. Chỉ là tôi cảm thấy sợ

hãi. Tôi vừa làm vỡ bình sữa, tôi rất tiếc.”

299

Nesbit nhíu mày nhìn tôi, tỏ vẻ vừa khó hiểu vừa

bực bội: “Trời đất, không sao hết. Xin bà làm

ơn...”Tôi bước thêm một bước vào căn phòng và đóng

cánh cửa lại sau lưng mình. Nesbit nao núng. Đôi

mắt anh toát vẻ dữ tợn như muốn giết người; một con

thú bị dồn đến chân tường.

“Anh bị mất món gì không? Tôi biết chuyện này làm

anh bực mình như thế nào. Có lẽ tôi giúp anh được

không?”“Bà? Bà nói chuyện gì vậy?”

Nhưng ngay khi tôi vừa đóng cánh cửa, anh đã có ý

tưởng. Bây giờ tôi đã được anh chú ý lắng nghe.

“Do đâu bà đoán tôi mất món gì?”

“Ông ấy giữ dùm anh, phải không? Ông ấy bắt anh

phải van xin.”

Đấy giống như là tôi đã lột đi chiếc mặt nạ; mặt

300

anh tái đi, gần như đổi màu xanh. Anh nắm tay lại;

anh muốn đấm tôi nhưng không dám.

“Nó ở đâu? Bà đã làm gì với nó? Đưa cho tôi.”

“Tôi sẽ đưa cho anh, nếu anh nói cho tôi nghe một

chuyện.”Anh nhíu mày, nhưng lộ vẻ hy vọng. Anh

đứng dậy, bước một bước đến tôi, nhưng không đến

gần hơn.

“Nói cho tôi biết ai phải được kiểm soát. Ai không

được nói đến?”

“Cái gì?”

“Đêm đầu tiên, tôi nghe anh bảo một phụ nữ không

được nói đến người đó. Anh đang nói đến ai? Mới lúc

nãy, anh bảo Stewart nên kiểm soát kỹ hơn người

nào đó. Anh bảo đó là Nửa Người. Ai thế? Nói cho

tôi biết là ai, rồi tôi sẽ trả nó lại cho anh.”

301

Anh xịu xuống. Anh quay mặt qua bên này bên kia.

Anh khẽ mỉm cười. Có cái gì đấy trong anh được nhẹ

nhõm.“À. Chúng tôi không muốn Moody biết được. Nếu

chuyện này lan đến Công ty... Một nhân viên chúng

tôi đã nổi điên. Đó là Nepapanees. Stewart cố bảo

vệ anh ấy, bởi vì gia đình anh ấy...”

“Nepapanees? Ý anh nói anh ấy chưa chết hay sao?”

Nesbit lắc đầu: “Anh ấy tự kiếm sống, như là một

người hoang dã. Chỉ vài tuần trước anh ấy còn ổn,

nhưng bây giờ đã nổi cơn điên. Có thể nguy hiểm.

Chuyện này sẽ khiến cho gia đình anh rất xấu hổ.

Stewart nghĩ nếu họ tin anh đã chết thì tốt hơn.”

Anh lại lắc đầu: “Chỉ có thế. Hà... Ý tôi nói, quả

là kinh khủng.”

“Và lúc gần đây anh ấy đã đi vắng, phải không?”

302

“Anh ấy đi đi về về.”

“Ba tuần trước...”

“Tôi không rõ anh ấy đi đâu. Khoảng mười ngày

trước, anh trở về.”

Tôi không biết nói gì thêm. Hoặc hỏi gì thêm.

Anh nhìn tôi một cách lẩn lút: “Bà trả nó lại cho

tôi nhé?”

Trong một khoảnh khắc tôi định ném cái chai xuống

sàn nhà, bởi vì có chuyện gì đấy không ổn nhưng tôi

không biết rõ là gì.

Anh bước thêm một bước về phía tôi: “Xin làm ơn.”

Tôi rút từ trong túi cái chai và giơ ra: cái chai

tôi lấy ra dưới tấm nệm của anh ngày hôm qua trong

khi anh đang trò chuyện với Moody. Anh giật lấy cái

chai, kiểm tra xem tôi có lấy đi phần nào không -

303

một hành động nhất thời theo phản xạ - rồi quay mặt

đi mà đưa cái chai lên miệng tu một hơi. Một chút

phẩm giá còn sót lại vẫn muốn giữ chút ít riêng tư.

Phải mất một lúc để đạt điều này, nhưng có lẽ anh

không còn cách nào khác. Anh vẫn đứng như thế, nhìn

đến tấm màn cửa.

“Bây giờ anh ấy đang ở đâu?”

“Tôi không biết. Tôi hy vọng là xa khỏi nơi đây.”

“Đúng như thế không?”

“Đúng.”

Tôi chỉ có thể nhìn cái chai trong tay anh. Chuyện

gì sẽ xảy ra nếu tôi giật cái chai đó mà uống cạn?

Anh không nhìn đến tôi nữa. Giọng anh nhỏ nhẹ, đã

lấy lại bình tĩnh, giúp cho tôi trở lại với chính

mình. Tôi để mặc anh đứng gần bàn viết, quay lưng

304

về phía mình, nhưng với đôi vai vuông và thách

thức.

Tôi quay trở lại phòng ăn. Nepapanees người điên.

Nepapanees kẻ điên dại giết Jammet? Dường như đấy

là điều mà tôi muốn tìm. Nhưng tôi không cảm nhận

chiến thắng. Không thỏa mãn. Tôi không biết nghĩ

gì, nhưng không thể gạt khỏi đầu óc hình ảnh của

Elizabeth Bird ngồi trên nền tuyết, cố tình làm

bỏng thịt da mình vì tiếc thương.

***

Stewart đi đến nhà cô khi họ trở về. Trông ông lo

lắng, giống như một người cha có đứa con lêu lổng;

sẵn lòng chiều chuộng nhưng đến chừng mực nào đó

thôi.“Elizabeth, tôi xin chia buồn.”

Cô gật đầu. Còn dễ hơn là nói nên lời.

305

“Tôi đã cố nghĩ chuyện gì đã xảy ra. Cô tìm ra địa

điểm chứ?”

Cô lại gật đầu.

“Tôi tin chắc hương hồn anh ấy sẽ tiêu diêu, cho

dù ở đâu.”

Bây giờ cô không gật đầu. Người bị sát hại không

được tiêu diêu.

“Nếu cô lo lắng... Dĩ nhiên là cô có thể ở đây. Cô

không phải lo về tương lai. Lúc nào cô cũng có nơi

cư ngụ ở đây nếu cô muốn.”

Không cần nhìn thẳng đến ông, cô vẫn nhận ra đôi

mắt xanh lam kinh khiếp của ông, như ruồi xanh lấp

lóe bu trên xác chết. Ông đang chăm chăm nhìn cô,

cố làm cho sức lực cô mòn mỏi, cố dập tắt ý chí của

cô theo ý ông. Được thôi, cô sẽ không nhìn ông, cô

306

sẽ không để cho ông được dễ dàng hành động. Cô

nghiêng đầu qua một bên, hy vọng ông sẽ bỏ đi.

“Tôi để cho cô nghỉ. Nếu cần bất cứ thứ gì, cô cứ

đến hỏi tôi.”

Cô gật đầu lần thứ ba.

Cô nghĩ: hỏi nơi Địa ngục.

Bên ngoài, cô nghe Stewart nói với anh lính mới tò

te bằng tiếng Anh: “Nếu là anh thì tôi để cho cô

ấy nghỉ ngơi. Cô vẫn còn bị sốc.”

Tiếng nói xa dần.

Elizabeth nhảy dựng lên, ngược với bản chất mình,

và đi ra: “Anh Moody... Xin mời anh vào, nếu anh

muốn.”Hai người đàn ông quay người, kinh ngạc. Vẻ

mặt Moody đầy thắc mắc.

Không rõ tại sao mình hành động như thế, Elizabeth

307

cảm thấy ngốc nghếch.

Moody nhất quyết ngồi trên sàn nhà như cô, tuy

rằng cử động của anh có phần cứng nhắc.

Cô nhìn qua hông anh, nơi cô băng bó vết thương

cho anh bốn ngày trước: “Anh ổn chứ? Có thấy khá

hơn không?” Tưởng chừng như đã lâu lắm, khi cô còn

là người vợ. “Vết thương khá nặng. Có ai đó muốn

giết anh hả?”

Anh cười: “Không. À, đó chỉ là khoảnh khắc sôi

nổi, rồi hối tiếc sâu sắc. Một câu chuyện dài. Tôi

đến đây để thăm xem cô ra sao. Nếu tôi giúp gì

được...”“Cám ơn anh. Ngày nọ anh đã tử tế.”

“Không...”

Elizabeth rót nước trà vào hai chiếc cốc bằng sứ.

Cô lại nếm nước con sông kia, vị chát đắng vì lừa

308

dối. Có lẽ con nai là một dấu hiệu: tôi bị giết. Và

em phải đi tìm tôi.

Cô ước gì có thể cầu nguyện để được dẫn dắt, nhưng

cô không thể đi đến ngôi nhà nguyện xây bằng gỗ.

Đó là nhà nguyện của Stewart, và cô có ác cảm với

nơi này. Trước đây, cô không bao giờ suy nghĩ nhiều

về đức tin của mình. Cô cho rằng nó hiện diện dưới

bề mặt, vẫn tiếp tục hiện diện mà không cần nỗ lực

có ý thức, như cách lá phổi cô thở. Có lẽ cô đã bỏ

bê đức tin của mình. Bây giờ, khi cô cần đến đức

tin thì dường như nó tàn tạ đi.

“Anh có cầu nguyện không?”

Moody ngạc nhiên nhìn cô. Anh cân nhắc câu trả

lời. Anh không muốn chỉ nói điều mình nghĩ nên nói,

mà muốn nói ra ý tưởng tự nhiên. Cô thích thế,

309

cùng với cách anh không vội để lấp đầy tất cả

khoảnh khắc im lặng.

“Có, tôi có cầu nguyện. Không thường xuyên như đòi

hỏi. Ít khi thôi.”

Ngay lúc ấy, đứa con gái nhỏ của cô loạng choạng

đi qua cửa trước. Cô bé mới tập đi.

“Amy, đi vào với Mary. Mẹ đang nói chuyện.”

Cô bé chăm chăm nhìn Moody trước khi chập chững đi

vào trong.

“Chúng tôi chỉ...” Giọng nói anh nhỏ dần: “Ý tôi

nói là chúng tôi chỉ cầu đến Thượng đế khi gặp khổ

sở hoặc cần phù hộ, và tôi chưa bao giờ lâm vào

cảnh này. Chưa gặp, cám ơn Thượng đế.”

Anh mỉm cười. Bây giờ anh có vẻ khổ sở, lúng túng.

Ngôn từ anh chậm lại, như thể khó mà sắp xếp ý

310

tưởng. Có chuyện gì đó đã xảy ra.

“Tôi không làm được.”

Anh nhìn cô, dò hỏi: “Việc cầu nguyện? Cô sinh ra

là người Cơ đốc phải không?”

Cô mỉm cười: “Khi lên hai mươi, tôi được các nhà

truyền giáo rửa tội.”

“Vậy là cô biết... những thượng đế khác. Cô có cầu

nguyện với họ không?”

“Tôi không biết. Trước đây tôi không bao giờ cầu

nguyện. Anh nói đúng. Tôi chưa bao giờ cần phù hộ.”

Moody đặt cốc trà của anh xuống, bắt chéo hai bàn

tay phía trước đầu gối: “Khi còn là đứa trẻ, tôi đi

lạc trên các ngọn đồi gần nhà. Tôi lạc mất một

ngày một đêm. Tôi khiếp sợ mình sẽ đi lang thang

trên các ngọn đồi cho đến lúc chết đói. Lúc đó tôi

311

cầu nguyện. Tôi cầu nguyện rằng Thượng đế chỉ cho

tôi đường về nhà.”

“Rồi thì sao?”

“Cha tôi tìm được tôi.”

“Thế là lời cầu nguyện của anh được đáp ứng.”

“Đúng. Tôi đoán có một số lời cầu nguyện không thể

được đáp ứng.”

“Tôi không muốn cầu nguyện cho chồng tôi được hồi

sinh. Tôi chỉ muốn cầu nguyện cho công lý.”

“Công lý?” Anh tròn mắt nhìn cô, như thể cô có một

vết nhọ nồi trên mặt. Trong hồi lâu cả hai không

nói gì, chỉ nhìn vào ngọn lửa với âm thanh xì xào

và lách tách.

“Amy. Đó là cái tên đẹp.”

“Con bé không hiểu tại sao cha nó không có ở đây.”

312

Moody thở dài, rồi mỉm cười: “Tôi xin lỗi. Cô hẳn

nghĩ tôi không phải phép. Tôi vừa có một ý nghĩ rất

lạ lùng. Nếu tôi sai thì cô làm ơn cho tôi biết,

nhưng tôi phải nói ra.” Anh lúng túng cười, mắt vẫn

nhìn cô: “Tôi biết bây giờ là không phải lúc.

Nhưng tôi vẫn nghĩ... Tên của con gái cô. Và tên

của cô... Tôi không biết nói thế nào... Lúc trước,

có phải cô thuộc gia đình Seton không?”

Elizabeth đăm đăm nhìn ngọn lửa; tiếng hát vang

trong tai cô che lấp câu nói kế tiếp của anh. Có

cái gì đó như tiếng cười ha hả nổi lên khiến cho cô

gần nghẹn họng.

Đôi môi anh mấp máy; cô nghĩ anh đang xin lỗi

mình. Những sự việc cô nghĩ mình đã quên từ lâu

bỗng hiện về trong suốt như pha lê. Cha. Chị. Mẹ.

313

Không, không phải chị cô. Cô không bao giờ có chị.

Chầm chậm, cô lại nghe tiếng anh: “Có phải cô là

Amy Seton không?” Moody nghiêng người tới trước,

mặt đỏ hồng vì kích xúc, thêm nỗi sướng thỏa vì sắp

có phát hiện quan trọng: “Tôi sẽ không nói cho ai

biết, nếu cô không muốn. Tôi hứa danh dự sẽ giữ bí

mật chuyện này. Cô có cuộc sống ở đây, các con

cô... Tôi chỉ muốn biết thôi.”

Cô không muốn cho anh mãn nguyện. Chuyện này không

phải là của anh mà cho anh. Cô không phải là của

rơi ngoài đường cho ai nhặt cũng được.

“Anh Moody, tôi không hiểu anh nói gì. Tên tôi là

Elizabeth Bird. Chồng tôi bị cố sát. Tôi phải làm

gì? Anh định làm gì?”

“Cố sát? Chuyện gì làm cô nói vậy?”

314

Cô thấy anh trông như lảo đảo từ một phấn khích

này sang một phấn khích khác. Nó không giống bản

chất của anh; anh không chịu đựng được. Có vẻ như

cô đang nhìn anh từ một khoảng cách xa trong khi

anh há hốc miệng, tay ôm chặt lấy bụng, mặt nhíu

lại vì khổ não. Mặt anh đỏ bừng. Đáng lẽ anh không

nên hỏi chuyện riêng tư như thế.

Một lúc sau, anh định thần trở lại, thở gấp gáp

như một con chó: “Cô nói gì? Cô nói là... Stewart

giết chồng cô hay sao?”

“Vâng.”

“Tại sao ông ấy làm vậy?”

“Tôi không biết tại sao.”

Cô nhìn anh. Hẳn anh biết chuyện nào đó; cô có thể

thấy anh đang tính toán sau đôi mắt.

315

Rồi anh cất tiếng: “Xin lỗi tôi phải hỏi... Chồng

cô có bị bệnh tâm thần không?”

Elizabeth chăm chăm nhìn, rồi cảm nhận mình nhỏ

nhoi và yếu đuối. Cô đang suy sụp, tan rã: “Ông ấy

nói như vậy hả?”

Nước mắt tuôn chảy trên đôi gò má, cô không biết

do tức giận hay đau buồn, nhưng thình lình mặt cô

ướt đẫm: “Anh ấy không bị điên. Đó là nói dối. Hỏi

mọi người ở đây đi. Nửa Người là người điên duy

nhất.”

“Nửa Người? Ai là Nửa Người?”

“Người mà ông ấy không muốn chúng tôi nói tới!”

Elizabeth đứng dậy. Trong một lúc có quá nhiều

chuyện. Cô bước vòng quanh ngọn lửa: “Nếu anh thông

minh đến thế, nếu anh có thể nhìn ra nhiều việc

316

đến thế, tại sao anh không chịu mở mắt ra?”

***

“Nếu thời tiết cho phép, ngày mai tôi sẽ ra về.”

Tôi há hốc miệng nhìn Parker. Có một sức nặng đè

lên ngực tôi, như lúc bạn bị bệnh bạch hầu thanh

quản; một cơn co thắt khó chịu đến mức tôi không

thở được. Nhịp thở của tôi đã nhanh lên từ lúc ông

gõ cửa phòng tôi và tôi để cho ông bước vào, tự hỏi

ông muốn gì.

“Ông không về được! Công việc chưa xong.”

Ông nhìn lại tôi một lúc, có thái độ thách thức

nhưng không phải là ngạc nhiên. Bây giờ ông hẳn đã

hiểu rõ tôi. “Tôi nghĩ đó là cách duy nhất để xong

công việc.”

Lúc tôi nói, tôi không biết mình có ý nói gì,

317

nhưng bây giờ tôi biết: “Làm thế nào ông xong công

việc được?” Tất cả chúng tôi đã trông cậy nơi

Parker để dẫn đường, từ lúc tôi gặp ông lần đầu

tiên ở Sông Dove cho đến bây giờ. Moody cũng trông

cậy nơi ông, tuy anh không thích.

Parker ngập ngừng. Bây giờ khuôn mặt ông trông

khác đi: dịu dàng hơn, kém bình thản, hoặc có lẽ

đấy chỉ là do ánh sáng mờ của ngọn đèn.

“Sáng mai, bằng cách nào đó tôi sẽ cho Stewart xem

các dấu hiệu bà cho tôi. Rồi nếu chưa biết thì ông

ta sẽ biết rằng tôi thân cận với Jammet. Tôi sẽ

nói với ông ta rằng tôi sắp ra về, và nếu tôi nghĩ

đúng...” Đến đây ông ngưng lại. “Và nếu ông ta là

con người mà tôi đã đoán, thì ông sẽ không thể

cưỡng lại ý muốn đi theo tôi, hy vọng tôi dẫn ông

318

ta đến chỗ cất giấu lông thú.”

“Nhưng nếu ông ta đã giết Jammet... ông ta cũng có

thể giết ông.”

“Tôi sẽ sẵn sàng.”

“Việc này quá nguy hiểm. Ông không thể đi một

mình. Ông ta sẽ không đi một mình - ông ta sẽ có...

Nửa Người đi cùng.”

Parker nhún vai: “Bà nghĩ tôi nên dẫn theo Moody

hay sao?” Ông mỉm cười khi nghĩ đến điều không thể

này: “Anh ấy cần ở lại. Anh cần phải thấy Stewart

đi theo tôi. Rồi anh ấy sẽ biết.”

“Nhưng, ông sẽ...”

Tôi cố sắp đặt lại thứ tự các sự kiện. Bằng

chứng... sẽ có bằng chứng nào, trừ khi Stewart chịu

thú nhận?

319

“Ông không thể đi một mình. Tôi đi với ông. Tôi có

thể là đôi mắt thứ hai cho ông. Tôi có thể... Ông

cần nhân chứng. Một nhân chứng có thể xác nhận

những gì ông nói. Ông không nên đi một mình!”

Đôi má tôi nóng bỏng. Parker lại mỉm cười, nhưng

hiền hòa. Bàn tay ông đưa ra gần chạm đến mặt tôi,

nhưng dừng lại. Tôi có thể nhận ra lệ đầy trong

khóe mắt mình, đe dọa rửa trôi sự điềm tĩnh của

tôi, phẩm giá của tôi; mọi thứ.

“Bà nên ở đây. Moody cần bà. Anh ấy bị hoang

mang.”Tôi nghĩ: Còn tôi thì sao? Câu nói nghe như

lớn tiếng nên tôi không chắc mình có nói ra hay

không, nhưng không có gì cho thấy Parker nghe được.

Tôi cố giữ giọng nói mình được lưu loát: “Tôi

không biết ông nghĩ Stewart sẽ cho bằng chứng gì,

320

ngoài việc giết ông. Có lẽ đấy là bằng chứng kết

thúc. Và... và nếu ông ta sai người đi giết ông -

thì làm sao ta kết nối chuyện đó với ông ta? Nếu

ông đi một mình mà không trở về, tôi nghĩ anh Moody

sẽ không hài lòng. Việc này sẽ không chứng tỏ được

gì cả.”

Parker nhìn xuống, giọng có vẻ thiếu kiên nhẫn:

“À... sáng ngày mai chúng ta sẽ thấy. Có lẽ Stewart

sẽ nói cho chúng ta biết tất cả. Chúc ngủ ngon, Bà

Ross.”

Tôi cắn lưỡi, đau đớn và tức giận. Có lẽ Parker

không nhận ra điều này: có hai người trong phòng

không chịu bỏ cuộc cho đến khi kết thúc.

“Chúc ngủ ngon, Ông Parker.”

Ông đi ra, nhẹ nhàng khép cánh cửa lại sau lưng.

321

Trong vài phút tôi đứng chôn chân tại chỗ, thắc mắc

- trong số những việc tôi có thể hoặc phải thắc

mắc - là ông biết tên riêng của tôi hay không.

Đêm ấy, tôi nằm mơ.

Tôi mơ thấy Angus, theo cách thức lãng đãng nhưng

bấn loạn. Tôi lắc đầu qua lại, muốn tránh mặt chồng

mình. Anh không trách móc tôi. Không thể trách móc

được.

Tôi thức dậy giữa đêm khuya, trong bầu không gian

tĩnh lặng nặng nề đến mức tôi cảm thấy mình không

thể bước ra khỏi giường dù có muốn. Có những giọt

lệ đang khô đi trên mặt tôi, lạnh lẽo, khiến cho

làn da tôi ngứa ngáy.

Từ lâu tôi đã thắc mắc tại sao anh xa cách với

mình. Tôi đoán đấy là do việc gì đó mình đã làm. Và

322

rồi, khi Parker kể cho tôi nghe về Jammet, tôi

nghĩ đấy là do Francis, bởi vì anh đã biết và ghét

chuyện ấy.

Thật ra, sự việc đã bắt đầu một thời gian lâu

trước đó.

Tôi vùi mặt trong chiếc gối tỏa mùi ẩm. Lớp áo gối

lạnh như đá cẩm thạch. Chỉ nơi đây, một mình và

trong bóng tối, tôi mới cho phép những ý nghĩ ấy

ngự trị trong đầu. Ý nghĩ không đến từ đâu cả, mà

từ những giấc mơ, giữ tôi trong vòng kiềm tỏa điên

cuồng. Tôi mong ngủ trở lại, bởi vì chỉ trong giấc

mơ tôi mới có thể lẩn tránh những mối ràng buộc có

thể xảy ra và đúng đắn.

Nhưng, như tôi vẫn thường thấy trong đời, cái gì

mà bạn thật sự ao ước lại xa rời tầm tay của bạn.

323

***

Donald ấn bàn tay lên tấm kính cửa sổ. Hơi ấm làm

tan chảy lớp sương giá đọng bên trong, để lại một

hình ảnh rõ ràng: trời càng lạnh thêm. Mùa đông đã

đến thật sự; họ phải ra về nhanh, nếu không sẽ bị

tuyết giam hãm ở Nhà Hanover.

Ngày hôm qua, anh đã viết xong lá thư cho Maria.

Sáng hôm nay, anh đọc lại; anh nghĩ nội dung đã

theo đúng hướng, không có gì quá say đắm, nhưng sau

khi giãi bày cảm nghĩ của mình - quả là nhẹ nhõm

khi nói ra được điều mình nghĩ - anh nồng nàn cho

biết ý muốn gặp lại cô và nối lại cuộc trò chuyện

lý thú. Anh gấp tờ thư vào một phong bì, nhưng để

trắng phong bì. Anh có nỗi kinh hãi về việc người

khác đọc thư mình. Anh tin chắc Bà Ross, lúc đến

324

thăm anh với cử chỉ tọc mạch và quấy rầy, đã để ý

đến một lá thư lúc trước anh viết cho Susannah.

Susannah. À... vì trước đây chưa từng lâm vào hoàn

cảnh này, Donald không biết phải xoay sở thế nào.

Anh nghĩ cô sẽ không bị thất tình - anh tự nhủ dù

gì đi nữa thì anh đã không tỏ tình gì cả, thật sự

là thế. Không có gì gọi là hứa hẹn. Anh cảm thấy

bứt rứt bởi vì theo bề ngoài đấy không phải là hành

vi đáng khen, và Donald rất muốn được khen. Nhưng

bây giờ ở cách xa Caulfield, anh thấy rõ hơn rằng

Susannah là một con người cứng cỏi. Ngay cả khi

biết điều này, anh vẫn tự dằn vặt mình vì đã lấy nó

làm niềm an ủi. Có lẽ anh sẽ không cho phép gửi đi

các lá thư anh viết cho cô. Có lẽ anh nên viết lại

các lá thư này, để gột rửa mong ước bị trùng lắp.

325

Đến ngả rẽ này, trong khi Donald vẫn còn đang ngồi

ở bàn, chung quanh là những thư từ gửi cho hai chị

em nhà Knox, có tiếng gõ cửa. Đó là Parker.

Stewart đang ngồi trong văn phòng, một bình cà phê

đặt trên bàn, lửa cháy trong lò sưởi, nhưng vẫn

không chống đỡ lại cái lạnh buốt xương len lỏi vào

qua cửa sổ, cửa cái và thậm chí các bức tường.

Donald cảm thấy đây là nơi anh nắm quyền chủ động,

nên đã bàn trước với Parker và Bà Ross, và bây giờ

anh đằng hắng nghe khá hùng hồn: “Ông Stewart, xin

lỗi cho giờ giấc sớm sủa. Chúng tôi cần trao đổi

với ông.”

Stewart nghe giọng điệu nghiêm túc trong câu nói

của anh, nhưng vẫn mỉm cười và mời ba người vào.

Ông kêu mang thêm cốc - lần này là Nancy đáp lại

326

tiếng chuông và lo phục vụ. Donald nhìn xuống sàn

nhà trong khi cô hiện diện trong phòng, hy vọng

không ai thấy má anh đang nóng bừng. Dù sao chăng

nữa thì không ai nhìn đến anh cả.

Donald bắt đầu: “Tôi nghĩ ông hẳn biết lý do thực

sự chúng tôi đến đây.” Anh phớt lờ ánh mắt của Bà

Ross. Anh không nhìn ra thái độ của Parker, vì ông

này ngồi bên cạnh Stewart trước cửa sổ, nên bị

khuất trong bóng tối. “Chúng tôi đã theo dõi một

dấu vết. Nó đi từ Sông Dove lên hướng bắc, và chúng

tôi có đủ lý do mà tin rằng nó dẫn đến đây.”

“Ý anh nói đó không phải là con trai Bà Ross hả?”

“Đúng vậy. Ít nhất không đi xa đến đây. Và ở đây

có những người mà chúng tôi không được gặp.”

Stewart gật đầu, vẻ mặt nghiêm trọng, đôi mắt nhìn

327

xuống: “Tôi tin rằng đã có người nói gì đó khiến

cho quý vị hiểu sai. Tôi xin lỗi về việc này. Để

tôi nói cho quý vị những gì tôi biết; có lẽ lúc đó

quý vị có thể bổ sung vào các khoảng trống. Điều

tôi đã nói là sự thật - Nepapanees là một trong

những nhân viên giỏi nhất của tôi. Một nhân viên

tốt, một tài công có kỹ năng, một người theo dấu

vết xuất sắc. Nhưng hơn một năm trước, có chuyện gì

đó xảy đến cho anh ấy. Thường đó là rượu, như tôi

tin chắc quý vị đã thấy...”

Ông liếc qua Donald, tuy có vẻ như muốn bao gồm

mọi người: “Nhưng không phải trong trường hợp này.

Ít nhất, ban đầu là vậy. Tôi không biết đó là gì,

nhưng anh ấy trở nên loạn trí. Anh không nhận ra vợ

mình. Anh không nhận ra các con mình. Mùa xuân năm

328

nay, anh đi ra khỏi pháo đài và dường như đang

sống trong hoang dã. Đôi lúc anh ấy trở về, nhưng

nếu anh ở cách xa thì tốt hơn. Vài tuần trước, anh

đi xa nhiều ngày. Tôi có linh cảm đó mạnh hơn khi

quý vị đến. Nhưng đến lúc này...”

Ông nhún vai, để cho hai bờ vai sụp xuống: “Tôi

không muốn mang thêm nỗi tủi nhục cho vợ anh ấy

cùng gia đình. Tôi muốn tránh cho họ hoàn cảnh đó.

Nesbit và tôi đồng ý với nhau là... giấu diếm

chuyện này. Để giả vờ là anh ấy đã chết. Đây là

chuyện điên rồ, tôi biết chứ.”

Đôi mắt ông nhìn lên, trông như lóng lánh với nước

mắt: “Theo một cách nghĩ, tôi ước gì anh ấy ở đây.

Anh là con người tội nghiệp, đã làm cho những

người yêu mến anh phải khổ sở nhiều.”

329

“Nhưng làm thế nào ông bảo vợ anh ấy rằng anh ấy

đã chết? Làm thế nào ông khiến cho cô ấy khổ sở đến

thế?” Bà Ross đang nghiêng người tới trước, mắt bà

nhìn sâu vào mắt Stewart, khuôn mặt bà nhợt nhạt

và căng thẳng, một ít cảm xúc - có lẽ tức giận -

toát ra từ bà như là một lực từ tính.

“Bà Ross à, tin tôi đi, tôi suy nghĩ rất nhiều về

việc này. Tôi quyết định rằng cái chết sẽ bớt đau

đớn cho cô ấy và các đứa trẻ so với việc anh còn

sống.”“Nhưng làm thế nào ông nghĩ có thể giấu diếm

sự hiện diện của anh ấy? Hai ngày trước, người ta

trông thấy anh ấy ở đây.”

Stewart ngồi bất động một lúc, rồi ngẩng đầu lên,

lộ vẻ lúng túng: “Đó là điên rồ. Tôi đã cho phép

mình... Đôi lúc, trong mấy năm gần đây đặc biệt là

330

vào mùa đông, tôi cảm thấy mình đã mất năng lực

phán xét. Nhưng nếu bà nhìn thấy anh ấy với con

cái... nhìn chúng chạy đến anh ấy, thét lên lời lẽ

lăng mạ bẩn thỉu nhất, đầy hậm hực và sợ hãi... Chỉ

có Trời biết anh ấy nghĩ bọn chúng là quỷ sứ ra

sao. Quả là kinh khiếp khi trông thấy gương mặt của

bọn chúng.”

Đôi mắt Stewart như là bị quỷ ám, như thể ông vẫn

trông thấy bọn chúng. Donald cảm thấy dâng trào

niềm cảm thông. Có Trời biết, anh có thể tưởng

tượng ra sự căng thẳng của mùa đông bất tận này

tiếp nối mùa đông bất tận khác.

Bà Ross nhìn qua Parker, rồi nhìn lại Parker. Cứ

như là Donald không hiện diện ở đây. “Ai là Nửa

Người?”Stewart mỉm nụ cười đau khổ: “À. Bà biết

331

đấy...” Ông nhìn lên, lần này nhìn thẳng đến Bà

Ross: “Nửa Người là một trường hợp vô phúc khác.

Người luôn uống rượu. Anh ấy là chồng của Norah,

nên thỉnh thoảng chúng tôi cung cấp thực phẩm cho

anh ấy. Anh làm nghề đặt bẫy, nhưng không giúp ích

được nhiều.”

Có một vẻ trần trụi trên gương mặt ông khiến cho

Donald cảm thấy bất an. Họ có quyền gì mà bắt buộc

người đàn ông này phải nói ra mấy chuyện rắc rối

của ông?

“Tôi phải xin lỗi lần nữa vì đã lừa dối quý vị.

Người ta muốn được nghĩ - nhất là trong một công ty

như thế này...” Ông lại nhìn qua Donald, khiến cho

anh này cúi mặt trong vẻ bối rối. “Người ta muốn

được nghĩ đến như là một nhà lãnh đạo tốt, một

332

người cha tốt, theo vài cách nhìn, đối với người

dưới quyền. Tôi không phải là một người cha tốt của

nhân viên ở đây. Thật là khó, nhưng đó không phải

là lý do để biện minh.”

Bà Ross đang ngả người trên chiếc ghế, lộ vẻ hoang

mang và cách xa. Vẻ mặt của Parker thì không rõ

ràng, trong bóng tối của chính ông.

Donald chen vào: “Tình trạng này xảy ra khắp nơi.

Có tật say xỉn và có chứng bệnh điên. Nếu có người

đi chệch đường thì không phải là do sự lãnh đạo của

ông.”

Stewart cúi đầu: “Anh tử tế mà nói vậy, nhưng

không hẳn vậy. Dù sao chăng nữa, điều liên quan tới

anh là người anh theo dõi... mà tôi cho là do

người này gây ra chuyện gì đó. Chuyện... tội ác

333

phải không?”

Donald gật đầu: “Chúng tôi cần phải tìm ra và hỏi

han người này, dù cho tình trạng người này có ra

sao.”“Tôi không rõ anh ta đang ở đâu, tuy chúng

tôi có thể tìm ra. Nhưng nếu anh đang truy lùng một

nghi can, thì anh sẽ không tìm ra. Anh ta không

nhận thức được mình làm gì.”

Trong khi Stewart đang cất tiếng, Parker rút ra từ

túi áo chiếc dọc tẩu và thuốc lá. Cùng lúc, một

mẩu giấy rơi xuống sàn giữa hai chiếc ghế ông và

Stewart đang ngồi. Parker không nhận biết, kéo ra

một nhúm sợi thuốc lá rồi cho vào dọc tẩu. Stewart

nhìn thấy, cúi xuống nhặt mảnh giấy lên. Ông dừng

tay lại trong tích tắc rồi trao mảnh giấy cho

Parker mà không hề nhìn đến mặt ông này.

334

“Tôi sẽ điều một vài người đi tìm kiếm anh ta. Họ

biết cách theo dõi dấu vết.”

Parker đặt mảnh giấy vào túi áo trong khi vẫn nhồi

thuốc lá vào dọc tẩu. Tất cả diễn ra có lẽ chỉ

trong vòng ba giây. Hai người đàn ông ngồi kế bên

nhau trong suốt cuộc trao đổi mà không nhìn nhau.

***

Đến gần cuối hành lang, Parker quay sang tôi: “Tôi

sắp sẵn sàng.”

“Ông sắp đi hay sao?”

Tôi đã đoán những thắc mắc của ông được giải đáp.

Tôi quả là dốt; dĩ nhiên là ông không hề tin vào

những gì Stewart đã nói.

“Ông Stewart không hề nói ông ấy không phái

Nepapanees đi Sông Dove.”

335

Vẻ chắc chắn của ông làm cho tôi bứt rứt, nên tôi

không trả lời. Ông nhìn tôi với xúc cảm đờ đẫn kỳ

lạ, không cho biết chi tiết hoặc ngay cả đại thể ra

sao. Nhưng chính vì những nét cố hữu của khuôn mặt

ông khiến cho người ta suy đoán về sự giận dữ và

bạo lực ẩn giấu bên trong; bây giờ tôi biết không

phải thế. Hoặc có lẽ tôi đã ru ngủ mình vào cảm

nhận bình an nhưng sai lạc.

“Ông vẫn còn giữ chiếc áo ở Chỏm Elbow chứ?”

“Dĩ nhiên là còn giữ. Tôi cho vào đáy chiếc túi

của tôi, dưới chiếc áo choàng lót lông thú.”

“Ông tìm lại đi.”

Giữa khu đất trống phía sau các nhà kho, mặt trời

ló dạng qua một khe trống trên tầng mây. Một cột

ánh sáng dày như là một cầu thang dội xuống vùng

336

đất phẳng phía sau vách đá, chiếu sáng một trảng

cây liễu nhỏ, đan xen với tuyết và lấp lánh với

những tinh thể băng. Ánh sáng chiếu rọi sâu rộng;

màu trắng làm nhức nhối đôi mắt. Cũng bất chợt như

là một nụ cười, mặt trời làm cho quang cảnh xinh

tươi bật lên giữa vùng bình nguyên u uẩn. Vượt quá

tầm khoảng một trăm mét, những nét thiếu hoàn hảo

đều bị che khuất. Vượt quá vách đá là một quang

cảnh hoàn hảo giống như bức điêu khắc trên muối,

kết tinh thể và thuần khiết. Cùng lúc, chúng tôi

bước qua lớp bùn đất loãng và khuấy đục, lại bị hai

con chó giẫm đạp và làm nhơ bẩn thêm.

Người quả phụ ở trong ngôi nhà gỗ với một trong

các con trai, một cậu bé trông nghiêm trang khoảng

tám tuổi. Cô đang ngồi luộc thịt bên bếp. Trong mắt

337

tôi, cô trông gầy và xơ xác hơn lần trước tôi gặp

cô, và có vẻ bản địa hơn cho dù với tất cả đường

nét cô rõ ràng mang hai dòng máu.

Cô nhìn lên mà không biểu lộ cảm xúc gì khi Parker

bước vào không gõ cửa, rồi nói câu gì đó mà tôi

không nghe rõ. Cô đáp lại bằng một thứ tiếng khác.

Tôi nổi lên phản ứng bất thần và mãnh liệt do ghen

tị, khiến cho tôi ngừng thở.

Cô nói một cách ơ thờ: “Ngồi xuống đi.”

Chúng tôi ngồi trên những tấm chăn trải chung

quanh lò sưởi. Cậu con trai luôn chằm chằm nhìn tôi

- tấm áo choàng mùa đông khiến cho việc ngồi trên

sàn nhà trông không được thanh nhã lắm, nhưng tôi

cố xoay sở theo cách tốt nhất. Parker bắt đầu bằng

cách nói chuyện quanh co, hỏi han về các đứa trẻ và

338

ngỏ lời chia buồn, và tôi khẽ nói đồng thuận theo.

Cuối cùng, ông đi đến chủ đề: “Chồng cô có nói gì

về lông thú của người Na Uy không?”

Elizabeth nhìn ông, rồi nhìn tôi. Có vẻ như cô

không nhận biết gì về việc này: “Không. Anh ấy

không nói gì với tôi cả.”

“Và lần cuối cùng anh ấy ra đi... với mục đích

gì?”“Stewart muốn đi săn. Ông ấy thường dẫn anh đi

theo, bởi vì anh là người theo dõi dấu vết giỏi

nhất.” Có vẻ hãnh diện trầm lặng trong giọng nói

của cô.

“Cô Bird, tôi xin lỗi phải hỏi việc này: chồng cô

có bị đau yếu không?”

Mắt cô nhìn lên sắc lẻm: “Đau yếu? Chồng tôi không

339

bao giờ đau yếu. Anh ấy khỏe như ngựa. Ai nói như

vậy? Stewart đã nói vậy phải không, hả? Có phải vì

vậy mà chồng tôi đi trên mảng băng mỏng mà bình

thường anh không bao giờ đi, phải không?”

Không muốn cậu bé nghe được, Parker nói nhỏ nhẹ:

“Ông ấy nói chồng cô đau yếu và không nhận ra con

cái.”Khuôn mặt Elizabeth nhăn nhó với cảm xúc -

ghê tởm hoặc khinh bỉ, hoặc giận dữ, hoặc tất cả

những cảm xúc này - và cô nghiêng người tới trước,

khuôn mặt nhuộm màu đỏ-cam sinh động từ ánh lửa:

“Đó là lời dối trá độc ác! Anh ấy luôn là người cha

tốt nhất.” Có vẻ gì đó kinh sợ từ cô, cứng cỏi,

nhưng tôi thấy dường như là thật.

“Cô thấy chồng cô lần cuối khi nào?”

“Chín ngày trước, khi anh ấy đi với Stewart.”

340

“Còn lần cuối anh ấy đi xa là khi nào?”

“Mùa hè. Cuộc hành trình cuối cùng là đi đến Hồ

Cedar vào cuối mùa.”

“Tháng Mười và đầu tháng Mười một thì anh ấy ở đây

phải không?”

“Phải. Suốt thời gian đó. Tại sao ông hỏi tôi?”

Tôi nhìn qua Parker. Chỉ còn một việc nữa.

“Cô Bird, tôi xin lỗi phải hỏi chuyện này: cô có

một chiếc áo sơ mi của anh ấy không? Chúng tôi muốn

xem qua.”

Cô trừng trừng nhìn Parker như thể đây là sự xấc

láo không chấp nhận được. Tuy thế, cô đứng phắt dậy

và đi vào bên trong ngôi nhà gỗ, phía sau một tấm

màn.Cô trở ra với một chiếc áo sơ mi gấp lại trên

tay. Parker đón lấy rồi mở ra, trải trên sàn. Tôi

341

mở ra cuộn áo dơ bẩn được gói trong một tấm vải;

tôi trải tấm áo ra, thô cứng và lấm lem, những vết

sậm màu tỏa ra mùi hôi thối. Cậu con trai trang

nghiêm nhìn chúng tôi. Elizabeth khoanh tay đứng

nhìn chúng tôi với đôi mắt giận dữ.

Ngay lập tức tôi thấy chiếc áo sạch nhỏ hơn nhiều

so với chiếc áo kia. Không thể nào nói rằng hai

chiếc áo thuộc về cùng một người.

Parker trao lại cho cô chiếc áo của người chồng:

“Cám ơn, Cô Bird.”

Cô vẫn khoanh tay: “Không ích gì cho tôi. Bây giờ

không ai mặc được.” Đôi môi cô cong lại trông khó

chịu: “Ông đã hỏi thì cứ giữ.”

Parker chưng hửng. Đó là một trải nghiệm mới của

tôi: lần đầu tiên tôi thấy ông không biết xoay sở

342

ra sao.

Lần đầu tiên tôi cất tiếng: “Cảm ơn, Cô Bird.

Chúng tôi xin lỗi đã hỏi han cô, nhưng cô đã giúp

ích rất nhiều. Cô đã minh chứng rằng những gì

Stewart đã nói đều là dối trá.”

“Tôi quan tâm làm gì? Tôi cóc cần giúp các người!

Việc này có giúp chồng tôi sống lại hay không?”

Tôi đứng lên và nhặt lấy chiếc áo bẩn. Parker vẫn

còn cầm chiếc áo kia.

“Tôi xin lỗi.” Đứng ngang cô, chỉ cách hai bước,

tôi nhìn vào mắt cô, nâu-xám trong trẻo, dưới lớp

mặt nạ điên tiết và thất vọng. Tôi cảm thấy héo

hắt: “Tôi thật tình xin lỗi. Chúng tôi định...”

Tôi chờ cho Parker nói phụ thêm và giải thích

chúng tôi định làm gì. Ông cũng đứng dậy, nhưng có

343

vẻ như vui lòng mà để cho tôi nói tiếp: “Chúng tôi

định đi tìm công lý.”

Cô cười to, nghe như tiếng hằm hè: “Công lý! Còn

chồng tôi thì sao? Stewart đã giết chồng tôi. Còn

anh ấy thì sao?”

“Công lý đối với anh ấy nữa.” Tôi đang bước trở ra

cánh cửa, nóng lòng muốn rời đi hơn là lưu lại và

tìm hiểu do đâu cô tin chắc về chuyện kia.

Elizabeth Bird nhăn nhó - trông như đang mỉm cười,

nhưng không phải. Cử chỉ khiến cho xương sọ dưới

làn da nổi lên, tạo vẻ bề ngoài như một đầu lâu của

người chết, còn cử động nhưng không phải còn sống;

nhợt nhạt, không còn máu, chỉ rực hận thù.

Khi bước về tòa nhà chính, Parker trao cho tôi

chiếc áo sạch, như thể ông không muốn vướng bận

344

thêm với nó. Ông cảm thấy có lỗi vì đã làm cho cô

tức giận.

Tôi nói: “Chúng ta sẽ cho Moody xem các món này.

Rồi anh ấy sẽ hiểu.”

Parker khẽ lắc đầu: “Như vậy không đủ. Chiếc áo đó

có thể nằm ở đằng kia vài tháng.”

“Ông không tin như thế! Và ông cũng tin cô ấy nữa

- về cái chết của chồng cô, phải không?”

Parker thoáng nhìn tôi: “Tôi không biết.”

“Thế thì ông đi đi.”

Parker tán thành mà không nói gì. Tôi cảm nhận sức

nặng quen thuộc ấy lại chèn ép lồng ngực mình, hơi

thở xem dường nghẽn lại trong cổ họng cho dù chúng

tôi chỉ mới đi vài chục bước.

“Nếu ông ấy giết người hướng đạo của mình thì quả

345

là điên rồ nếu ông đi một mình. Tôi sẽ mượn một

khẩu súng. Nếu ông không cho tôi đi cùng thì tôi sẽ

đi theo dấu vết của ông, chỉ có thế thôi.”

Trong một lúc Parker không nói gì, rồi lại nhìn

tôi với thái độ mà tôi nghĩ có phần mỉa mai: “Nếu

người ta thấy chúng ta ra đi với nhau thì bà nghĩ

họ sẽ bàn tán hay không?”

Sức nặng trong lồng ngực tôi nhẹ nhõm hẳn đi.

Thình lình tôi thấy ngay cả quang cảnh khuôn viên

cũng xinh tươi, mặt trời phết lên lớp tuyết đọng

bên bờ rào một màu xanh-trắng óng ánh. Nhất thời

tôi tin chắc dù có nguy hiểm ra sao, chúng tôi có

thể hành động mà không ai ngăn cản được.

Cảm nhận ấy vẫn kéo dài cho đến khi tôi bước về

phòng mình.

346

***

Laurent thường đi xa lo công chuyện. Cũng như

những người khác, Francis biết rất ít về những lần

anh kia vắng mặt. Vào mùa hè, loài sói biến mất

trong vùng rừng cây, nên lúc ấy Laurent lo chuyện

buôn bán. Mùa hè năm ấy, anh đặc biệt bận rộn -

hoặc có lẽ đó là lần đầu tiên mà Francis tỏ ra quan

tâm anh có ở đó hay không - và đi đến Toronto hoặc

Sault St Marie. Khi Francis dọ hỏi về mấy chuyến

đi này, Laurent tỏ ra xởi lởi hoặc lảng tránh hẳn.

Anh đùa cợt về việc nằm say bí tỉ trong quán bar,

hoặc tìm gái mãi dâm. Hoặc có lẽ đấy không phải là

chuyện đùa. Lần đầu tiên anh nói đến nhà thổ,

Francis lặng người trân trối nhìn anh với vẻ kinh

hoàng, cảm thấy nỗi đau ngập tràn khủng khiếp trong

347

tim. Laurent nắm lấy đôi vai anh và cười to, lắc

mạnh bạo cho đến lúc Francis nổi nóng và hét lên;

những chuyện đau lòng mà sau này Francis không nhớ.

Họ lời qua tiếng lại bằng ngôn từ lăng mạ, rồi

thình lình im bặt, đăm đăm nhìn nhau, như bị thôi

miên và choáng váng. Francis cảm thấy đau khổ và bị

tổn thương. Laurent có cách tàn nhẫn gây thất

vọng, nhưng rồi sau đó xin lỗi, tỏ ra nghiêm túc

dịu dàng và cầu khẩn - lần đầu tiên anh quỳ xuống

cho đến lúc Francis phải cười to và nồng nhiệt thứ

lỗi. Francis cảm thấy lớn lên - thậm chí như lớn

tuổi hơn Laurent.

Rồi có những người đàn ông đến gặp Laurent ở nhà.

Đôi lúc, khi Francis tìm tới và huýt sáo bên ngoài

ngôi nhà gỗ, không có tiếng trả lời. Có nghĩa là

348

Laurent bận tiếp người nào đó, và họ thường qua đêm

rồi quàng chiếc túi trên vai ra đi, các con chó

chạy theo. Francis nhận ra trong anh nỗi ghen tức

sâu thẳm và kinh khủng. Hơn một lần, anh quay lại

vào buổi sáng, giấu mình trong bụi rậm phía sau

ngôi nhà gỗ, chờ cho đến khi những người khác ra

về, quan sát vẻ mặt họ nhưng không nhận ra dấu hiệu

gì. Phần lớn bọn họ là người Pháp hoặc dân bản xứ;

những người từ xa đến, có dáng dấp bất hảo vốn

thường ngủ dưới bầu trời hơn là dưới một mái nhà.

Họ mang đến cho Laurent lông thú, thuốc lá và đạn

dược, rồi ra về theo con đường họ đã đến. Đôi lúc

dường như họ chẳng mang gì đến hoặc để lại món gì.

Có lần, sau một hồi cãi vã điên dại, Laurent bảo

anh rằng họ đến tìm mình bởi vì họ đang thiết lập

349

một công ty mậu dịch, và việc này phải xúc tiến một

cách bí mật bởi vì Công ty Vịnh Hudson sẽ nổi giận

nếu biết được, thế nên lẩn tránh thì tốt hơn.

Francis vui mừng vì nhẹ nhõm, và dàn hòa với tinh

thần lên cao độ, trong khi Laurent cầm lên cây vĩ

cầm chơi một đoạn nhạc, rượt đuổi anh lòng vòng

trong ngôi nhà gỗ cho đến khi Francis phóng ra

ngoài, ngoác miệng ra cười. Có một bóng người trên

con đường mòn, khá xa, và anh chạy vội vào trong.

Anh chỉ nhìn thoáng qua, nhưng nghĩ đó là mẹ mình.

Sau đó, qua nhiều ngày anh sống trong nỗi khiếp sợ

và hoang mang, nhưng trong nhà không có gì thay

đổi. Dù bà mẹ có thấy gì hay không thì bà cũng

không nghĩ gì về việc này.

Mùa thu đến, thêm một học kỳ, rồi mùa đông. Anh

350

không thể gặp Laurent thường xuyên, nhưng khi cha

mẹ anh đã đi ngủ, anh đi đến ngôi nhà gỗ và huýt

sáo. Đôi lúc anh nghe tiếng huýt sáo đáp lại, đôi

lúc chẳng nghe gì cả. Với thời gian dần trôi, anh

thấy dường như tiếng huýt sáo trả lời càng ngày

càng hiếm hoi hơn.

Lúc nào đó vào mùa xuân, sau khi Laurent lại đi

đâu không rõ, anh này bắt đầu nói bóng gió rằng có

chuyện lớn sẽ xảy ra. Rằng anh sẽ kiếm được khối

tiền. Francis cảm thấy hoang mang và bứt rứt bởi

lời lẽ mơ hồ, thường thốt ra trong cơn say. Có phải

Laurent sẽ rời Sông Dove? Rồi Francis sẽ ra sao?

Nếu Francis muốn dẫn dụ anh (mà anh nghĩ một cách

khôn ngoan) hé lộ kế hoạch của anh, thì Laurent chỉ

trêu cợt lại, và cách trêu cợt có thể lỗ mãng và

351

tàn nhẫn. Anh thường nói đến người vợ và gia đình

tương lai của Francis, hoặc việc đi tìm gái mãi

dâm, hoặc sống ở miền nam đường biên giới.

Có một lần, lần đầu tiên trong số nhiều lần, hai

người uống rượu với nhau. Đó là vào đầu hạ, những

buổi tối đang ấm hơn để có thể ngồi bên ngoài.

Những con ong đầu tiên đã xuất hiện từ bất kỳ nơi

nào đó chúng trải qua mùa đông, bay lượn chung

quanh mấy chùm hoa táo. Chỉ mới bảy tháng trước.

Laurent lại nói bóng gió đến những khối tiền trong

tương lai. “Dĩ nhiên là lúc đó em sẽ kết hôn ở một

trang trại nhỏ ở đâu đó, với đàn con, rồi em sẽ

quên hết về tôi.”

“Em nghĩ vậy.” Francis đã học cách hùa theo những

kịch bản nhỏ buồn thảm này. Nếu anh phản đối thì

352

chỉ khiến cho Laurent làm tới.

“Tôi đoán khi em ra trường thì em sẽ không ở đây,

phải không? Không có gì nhiều ở đây cho em, đúng

không?”“Ờ... Có lẽ em sẽ đi Toronto. Có lẽ thỉnh

thoảng em sẽ đến thăm anh trên chiếc xe lăn.”

Laurent cười khụt khịt và nốc cạn ly rượu. Francis

nhận ra là anh đang uống nhiều hơn lúc bình

thường.Rồi Laurent thở dài: “Tôi nghiêm túc đó,

p’tit ami( ). Em không nên ở đây. Nơi này chẳng là

gì cả. Em bỏ đi càng sớm càng tốt. Tôi chỉ là một

tên già quê mùa.”

“Anh hả? Anh sẽ giàu lên, nhớ không? Anh có thể đi

bất cứ đâu anh muốn. Anh có thể chuyển đến

Toronto...”“Im đi! Em không nên ở đây! Chắc chắn

em không nên ở đây với tôi. Không tốt. Tôi không

353

tốt.”Francis cố đè nén cơn run rẩy trong giọng

nói: “Ý anh nói gì? Đừng có lố lăng. Anh say rồi,

chỉ có thế.”

Laurent quay sang anh, nói rõ từng tiếng: “Tôi là

đứa ngu ngốc chết tiệt. Em là đứa ngu ngốc chết

tiệt. Em phải cút xéo để trở về với ma-man và pa-pa

của em.” Gương mặt anh trông hèn hạ, đôi mắt nhíu

lại vì rượu. “Đi đi! Em còn chờ gì nữa? Cút xéo

ngay!”

Francis đứng dậy, trong cơn đau khổ. Anh không

muốn cho Laurent thấy mình khóc. Nhưng anh cũng

không thể cứ bước ra, không thể như thế này.

Francis cố nói một cách trầm tĩnh: “Anh không có ý

như vậy đâu. Em biết mà. Anh cũng không có ý gì

khi nói đến nhà thổ và con rơi con rớt khắp nơi,

354

và... tất cả những chuyện kia. Em thấy cách anh

nhìn em...”

“Hà, mon Dieu( )! Ai lại nhìn đến em như thế? Em

là cái thứ đẹp nhất mà tôi từng thấy. Nhưng em là

đứa nhỏ ngu ngốc chết tiệt. Tôi chán ngấy em. Và

tôi đã kết hôn.”

Francis chết lặng, không muốn tin, không thể trả

lời. Cuối cùng, anh nói: “Anh nói dối.”

Laurent nhìn anh một cách mệt mỏi, cũng nhẹ nhõm

khi đã nói ra: “Không, nói thật đó, mon ami.”

Francis cảm thấy như lồng ngực mình vỡ toang. Anh

tự hỏi tại sao mình không ngã xuống hoặc bất tỉnh,

vì nỗi đau quả là khủng khiếp. Anh quay đầu rời xa

ngôi nhà gỗ, rồi tiếp tục bước đi qua một trong

những cánh đồng của cha anh và đi vào khu rừng. Anh

355

bắt đầu chạy, hơi thở anh gấp gáp đến nỗi tiếng

nức nở héo hắt bị khuất lấp. Sau một lúc, anh dừng

lại, khuỵu xuống trên hai đầu gối trước một cây

thông khổng lồ, rồi đập đầu mình vào lớp vỏ cây.

Anh không biết mình ở đó bao lâu; có lẽ anh đã mê

mụ, lấy làm vui về cơn đau đớn khỏa lấp nỗi dằn vặt

còn kinh khủng hơn.

Ngay trước khi trời tối, Laurent tìm thấy Francis.

Laurent đã lần mò theo Francis giống như theo một

trong những con chó sói bệnh tật của anh, đi theo

những dấu chân lộn xộn qua các lùm bụi. Anh cúi

xuống, vòng tay ôm lấy Francis, các ngón tay khám

phá vết thương trên trán Francis, những giọt lệ

lóng lánh trên má, thì thầm xin lỗi.

Trong một thời gian ngắn, Francis nghĩ rằng sau

356

đêm đó mình đã thắng. Dù cho Laurent đã kết hôn

hoặc đã có một đứa con cũng chẳng hề gì; tất cả chỉ

là quá khứ; bây giờ không quan trọng đối với hai

người nữa. Nhưng Laurent vẫn chống lại nỗ lực của

Francis nhằm trói buộc anh, nhằm đòi hỏi rạch ròi

mọi chuyện. Sự thật là, anh không muốn Francis thay

đổi gì về cuộc sống của anh trai trẻ, chỉ muốn xem

Francis như là thú vui nhất thời. Với giọng nói

không được thông suốt, khàn khàn, Francis kết án

Laurent đã không quan tâm đến mình. Laurent xác

nhận một cách tàn nhẫn.

Cứ thế, và cứ thế. Cùng một cách đối thoại lặp đi

lặp lại với những thay đổi nhỏ nhặt, lạc lõng qua

nhiều đêm mùa hè. Francis không rõ mình sẽ chịu

đựng cuộc tra tấn thấm thía này thêm bao lâu nữa,

357

nhưng vẫn không muốn từ bỏ. Anh cố gắng tỏ ra bình

thản và nhẹ nhàng trước sự hiện diện của Laurent,

nhưng không quen cách hành xử như thế. Tận đáy lòng

mình, anh biết chẳng chóng thì chày Laurent sẽ

ruồng rẫy hẳn mình. Nhưng giống như con thiêu thân

cứ muốn bay vào ngọn lửa, anh không thể cưỡng lại ý

muốn đi đến ngôi nhà gỗ, dù cho Laurent càng ngày

càng vắng nhà. Anh không hiểu được làm thế nào tình

cảm của Laurent lại thay đổi đến thế, trong khi

tình cảm của chính mình lại sâu đậm thêm.

Và rồi, không rõ bằng cách nào, cha anh biết được

vụ việc.

Đấy là một sự kiện đầy tai biến. Nó không chỉ

giống như cha anh đã kết nối các tình tiết để đi

đến kết luận, kiên nhẫn quan sát và thu thập các

358

mảnh ghép cho đến lúc toàn thể hình ảnh hiện ra. Có

những lúc Francis trở về nhà sau khi cha mẹ anh đã

thức dậy, và anh lí nhí viện lẽ mà thiếu sức

thuyết phục rằng mình đã đi dạo buổi sáng. Rồi có

lúc cha anh đi đến ngôi nhà gỗ của Laurent và thấy

Francis ở đó, và anh giả vờ đang học cách khắc gỗ.

Có lẽ đó là lúc mà ông bố hiểu ra tự sự, dù ông

không tỏ thái độ gì. Hoặc có lúc khác, Francis giải

thích một cách ngu xuẩn rằng mình đã qua đêm ở nhà

Ida. Cha anh đã khẽ nhíu mày nhưng không nói gì.

Rồi Francis hốt hoảng viện ra một lý do để chạy qua

gia đình nhà Pretty để tìm Ida. Anh không chắc

mình phải nói gì với cô, nhưng bịa ra một câu

chuyện là đã say rượu ở Caulfield nên cần trốn lánh

cha mẹ mình. Mặt cô lạnh tanh, và dù gật đầu đồng

359

ý, cô nhìn anh với đôi mắt bị thương tổn khiến cho

anh cảm thấy hổ thẹn.

Dù cho sự việc diễn tiến theo chiều hướng nào, cha

anh không thể nào khoan dung anh nữa, nhất là sau

một thời gian dài ông thấy khó mà nói chuyện với

Francis - hai cha con không bao giờ gần gũi nhau.

Ông bố không bao giờ đề cập trực tiếp đến vấn đề,

nhưng không muốn nhìn vào mặt đứa con khi nói

chuyện với nó, và chỉ cất tiếng khi bảo nó làm công

việc nhà hoặc sửa đổi hành vi. Có vẻ như ông lạnh

lùng khinh miệt đứa con trai, như thể ông không

chịu nổi khi ở chung dưới mái nhà với nó. Đôi lúc,

khi ngồi ở bàn ăn trong vùng lạnh lẽo giữa người mẹ

và người cha, Francis cảm nhận cơn buồn nôn trỗi

dậy trong cổ họng đến mức gần như áp đảo toàn thân

360

anh. Một lần, trong khi trò chuyện với bà mẹ về

việc nào đó, anh bắt gặp người cha đang nhìn mình,

và chỉ thấy trong ánh mắt đó vẻ giận dữ lạnh lùng,

không gì làm nguôi ngoai được.

Một việc khiến cho anh ngạc nhiên là anh phải giữ

kín đối với mẹ mình. Bà nhận rõ không khí lạnh lùng

giữa hai cha con và điều này khiến cho bà buồn

lòng, nhưng bà vẫn không đối xử với anh khác đi; bà

vẫn là người phụ nữ thiếu kiên nhẫn, thiếu hạnh

phúc cả trong thời gian dài mà anh còn nhớ được.

Đấy là vào cuối tháng Mười. Nhiều lần Francis đã

nhủ lòng sẽ không đi đến ngôi nhà gỗ của Laurent

nữa, nhưng anh thấy mình khó làm theo được. Vào

buổi tối ấy, anh thấy Laurent đang ở nhà. Sau một

lúc, hai người bắt đầu một cuộc cãi cọ chua cay,

361

dai dẳng, lặp đi lặp lại những gì họ đã nói ra lúc

trước. Francis cảm thấy giận cho chính mình, nhưng

không dừng được. Đôi lúc chỉ có một mình, anh mường

tượng đang bước đi với phẩm giá, ngẩng cao đầu,

nhưng khi đứng trong gian bếp của Laurent, đối diện

với Laurent - bừa bãi, râu ria không cạo, thô lỗ -

thì một cơn giận dữ dâng trào tuồng như muốn quỳ

dưới chân anh mà rơi nước mắt van xin; như muốn tự

tìm lấy cái chết; bất kỳ việc gì để chấm dứt cơn

tra tấn này. Như muốn giết Laurent.

Francis khàn khàn hét lên như nhiều lần trước: “Em

đã không đến với anh, nhớ không? Em đã không đòi

hỏi chuyện này. Chính anh làm cho em như thế này...

Anh!”

“Và tôi ước gì mình không bao giờ để mắt tới em.

362

Trời ơi, em làm cho tôi buồn nôn!” Và rồi Laurent

nói: “Dù sao chăng nữa thì không hề gì. Tôi sẽ ra

đi. Trong thời gian dài. Tôi không biết khi nào sẽ

trở về.”

Francis trân trối nhìn anh, trong một khoảnh khắc

không tin lời anh nói: “Tốt thôi. Anh muốn nói gì

cũng được.”

“Tuần tới tôi sẽ đi.”

Cơn tức giận đã lắng xuống trên gương mặt Laurent,

và Francis có cảm giác lạnh người, buồn nôn khi

nghĩ ra đó là sự thật.

Laurent quay người đi, bận rộn với một việc gì

khác: “Có lẽ lúc đó em sẽ nguôi ngoai chứ? Đi tìm

một cô gái đẹp người đẹp nết.”

Francis cảm thấy nước mắt chực tuôn ra. Toàn thân

363

anh yếu ớt hẳn đi, như thể đang bị một cơn sốt hành

hạ. Laurent sắp bỏ đi. Chuyện chấm hết. Anh không

rõ làm thế nào mình có thể tiếp tục sống với nỗi

đau này.

“Này, chuyện không đến nỗi tệ hại. Em thực sự là

một đứa trẻ tốt.” Laurent đã thấy nét mặt đau khổ

của Francis, và cố tỏ ra tử tế. Như thế là còn tệ

hại hơn bất kỳ lời lẽ thô tục nào hoặc bất kỳ nhận

xét chua cay nào.

“Xin anh...” Francis không biết nói gì thêm. “Xin

anh, bây giờ đừng nói như vậy. Cứ đi đi, nhưng bây

giờ đừng nói ra. Cứ đi đi. Lo việc của anh đi, cho

đến khi...”

Có lẽ Laurent cũng mệt mỏi vì gây gổ, nên anh chỉ

nhún vai và mỉm cười. Francis bước đến, vòng tay ôm

364

lấy anh. Laurent vỗ về lưng Francis, giống như cha

đối với con cái hơn là tình cảm gì khác. Francis

níu lấy anh, ước gì mình có thể rời xa; càng ước

thêm đó là mùa hè năm trước, rời xa vĩnh viễn.

Người yêu của tôi, người chán ngấy tôi đến chết.

Đêm ấy Francis ở lại nhưng không hề chợp mắt, lắng

nghe tiếng thở đều của Laurent bên cạnh mình. Anh

cố ngồi dậy và mặc lại quần áo mà không làm Laurent

thức giấc, tuy trước khi ra về anh cúi xuống khẽ

hôn trên má Laurent. Anh chàng vẫn không tỉnh giấc,

hoặc giả vờ mê ngủ.

Và rồi, hai tuần sau, anh đang đứng trong ngôi nhà

gỗ tăm tối, nhìn đến thi hài còn ấm đang nằm trên

giường.Và xin Thượng đế tha tội cho anh nếu ý nghĩ

thứ hai của anh là: Ôi, ôi, người yêu của tôi, bây

365

giờ anh không thể rời xa tôi được.

366

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát