Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Tại Sao Điều Xấu Lại Đến Với Người Tốt

Harold S.Kushner

TẠI SAO ĐIỀU XẤU LẠI ĐẾN VỚI NGƯỜI TỐT

NXB Lao Động

LỜI CỦA TÁC GIẢ

Hai mươi năm trước, tôi đã viết một cuốn sách để

hoàn thành lời hứa với con trai mình. Vào những

thời khắc cuối đời mình, Aaron – cậu con trai mười

bốn tuổi của tôi - đã nhận ra rằng nó không còn

sống bao lâu nữa và cũng giống như những đứa trẻ

đang chết dần, nó sợ mình sẽ bị quên lãng, bởi cuộc

đời nó quá ngắn ngủi và chẳng làm được gì. Nó háo

hức tham gia một chương trình truyền hình về quá

trình lão hóa, phần nào như một cách muốn để lại

cái gì đó phía sau. Và tôi đã hứa với nó rằng tôi

sẽ cố gắng kể câu chuyện về nó.

1

Ngoài ra, trong suốt những năm tháng chúng tôi

sống với nhận thức rằng tình trạng của Aaron là vô

phương cứu chữa, tôi đã nghiệm ra vai trò của Đức

Chúa trong thế giới đầy rẫy những đau khổ và bất

công này, một sự hiểu biết đã giúp tôi giữ vững

niềm tin và khi tôi kể về nó trong những bài giảng

hay trong những buổi điếu tang, nó cũng đã giúp ích

cho nhiều người khác. Tôi nghĩ rằng nếu tôi viết

thành sách, nó có thể sẽ ảnh hưởng tích cực đến

nhiều người . Cuốn sách này ra mắt độc giả lần đầu

vào mùa thu năm 1981 với một tiếng vang khiêm tốn,

vỏn vẹn 150 trang lý thuyết của một thầy tư tế

không tiếng tăm, được in bởi một nhà xuất bản khá

nhỏ. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, nó tiếp tục

trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất

2

thế giới và tên sách đã đi vào ngôn ngữ như một

cách để nhắc nhở về sự bất công trên đời. Hai mươi

năm sau, tôi vẫn khó tin rằng tất cả điều này đã

xảy ra. Nhân cơ hội này, tôi muốn bày tỏ lòng biết

ơn của tôi đối với các tu sĩ Ki tô giáo, những

người đã biến nó thành một cuốn sách bán chạy hàng

đầu.

Các linh mục và mục sư đã rao giảng về nó, nói về

nó tại các bệnh viện và tại các buổi lễ an táng, đã

tạo nên một lời nói cửa miệng buộc tất cả các hiệu

sách khiêm tốn phải dành chỗ để bày bán.

Tôi nhớ sau khi cuốn sách ra đời không lâu, tôi

đứng ở đài phát thanh Houston, tự hỏi tại sao họ

lại mời tôi khi điều tôi tin thật kỳ cục so với

những điều tôi cho rằng các thính giả của mình đã

3

tin. Nhưng rồi có nhiều cuộc điện thoại bắt đầu ùa

đến: “Thưa thầy, cám ơn vì đã nhắc chúng tôi rằng

Đức Chúa yêu chúng ta và không muốn trừng phạt

chúng ta”. “Thưa thầy, tôi là một nhà thuyết giáo

Baptist và tôi muốn cám ơn thầy vì đã viết cuốn

sách này. Thay vì mất hàng giờ để nói với một con

chiên, người đã quá buồn chán khi nghe tôi giảng,

tôi có thể trao cho cô ấy quyển sách này và cô ấy

sẽ đọc nó khi nào cô ấy sẵn sàng”.Một trong những

lá thư tôi rất thích trong số hàng ngàn lá gởi đến

cho tôi là từ những bà sơ công giáo tại

Massachusette. Các bà đã viết thư kể cho tôi nghe

rằng các bà không chắc có đồng ý với luận thuyết

của tôi, nhưng các bà đã phân phát khoảng 5 bản phô

tô mỗi tuần để giúp cho những người bất hạnh cảm

4

thấy khá hơn. Cuối thư, các bà kết luận: “Một khi

họ cảm thấy tốt hơn, chúng tôi có thể uốn nắn niềm

tin của họ”.

Trong cuốn sách của tôi có hai câu được trích dẫn

nhiều nhất. Một là câu tôi yêu thích nhất, câu đó

không phải do chính tôi viết ra nhưng được trích từ

lời một thầy tư tế từ thế kỷ XIX, Menachem Mendel

of Rymanov, người đã từng nói rằng: “Con người là

lời của Đức Chúa”. Nghĩa là, trong gian truân chúng

ta kêu cầu Đức Chúa, Người đáp lời bằng cách phái

người khác đến giúp chúng ta. Đội ngũ bác sĩ và y

tá làm việc không mệt mỏi để chúng ta được khỏe

mạnh. Bằng hữu đến và ngồi lại với chúng ta, xiết

chặt tay chúng ta mà không cần phải nói thành lời,

không cần cố gắng lý giải nỗi thống khổ của chúng

5

ta hay trừ bỏ nó bằng cách kể cho chúng ta nghe

những mảnh đời còn bất hạnh hơn. Mặc dù chúng ta

không biết điều đó, nhưng đó chính là thứ chúng ta

cần, thứ đảm bảo chúng ta không đơn độc và rằng

chúng ta là những con người đáng được quan tâm.

Tháng Sáu năm 1995, sáu tuần sau vụ đánh bom tòa

nhà Liên bang tại Oklahoma City, tôi được mời đến

thành phố này để tham dự một buổi hội thảo dành cho

giới giáo sĩ, nhà tâm lý và các nhân viên xã hội,

những người sẽ tư vấn cho các gia đình nạn nhân và

tham dự một buổi họp mặt các gia đình nạn nhân tại

tòa nhà thống đốc. Như bạn có thể nhớ, các nạn nhân

của vụ đánh bom khủng bố gồm đủ mọi thành phần,

già có, trẻ có, người giàu, kẻ nghèo, người Mỹ gốc

Phi, người Mỹ La tinh lẫn da trắng, người tốt

6

nghiệp trường luật Harvard tới những gia đình hưởng

trợ cấp phúc lợi xã hội. Khi tôi gặp từng người

trong số họ, tôi đã hỏi: “Bạn đã xoay sở thế nào để

vượt qua sáu tuần vừa rồi? Điều gì quan trọng nhất

để giúp bạn đương đầu với khó khăn?”. Thật ngạc

nhiên, tất cả bọn họ đều đưa ra cùng một câu trả

lời, một từ duy nhất: cộng đồng. Mọi người bỗng

nhiên xuất hiện, hàng xóm, cộng đoàn trong giáo xứ,

những người lạ đã đến với họ, ôm lấy họ, an ủi họ.

Họ làm tôi nhớ rằng những người đang lâm vào cảnh

khốn khổ cần một lời an ủi hơn là câu giải thích.

Khi mang cảm giác là nạn nhân của số phận như vậy,

họ cần lời đảm bảo rằng thật ra họ là những người

tốt và không đáng phải chịu cảnh khốn khổ như vậy.

Nhiều năm trước, tôi có đọc bản báo cáo về một thí

7

nghiệm được thực hiện bởi “Trung tâm nghiên cứu

sức chịu đựng” của trường đại học Wisconsin

(University of Wisconsin’s Center for the Study of

Pain). Rất đông người tình nguyện tham gia cuộc thử

nghiệm để xem liệu họ có thể đứng trong xô nước

lạnh đóng băng với đôi chân trần được bao lâu. Một

trong những điều họ học được là nếu có ai khác

trong phòng cùng với họ, họ có thể trụ được lâu hơn

gấp hai lần. Sự hiện diện của mọi người đã an ủi,

giúp khả năng chịu đựng đau đớn của họ mạnh lên gấp

hai lần. Đó là điều Đức Chúa đã làm khi gởi đến

cho chúng ta những người bạn để ở bên chúng ta

trong cảnh khốn khó.

Đoạn thứ hai nằm ở đầu chương cuối của cuốn sách

này. Trong đó tôi đã viết: “Tôi đã trở nên nhạy cảm

8

hơn, một thầy tư tế giỏi hơn, một cố vấn nhiệt

tình hơn nhờ cuộc sống và cái chết của Aaron…và tôi

sẵn sàng từ bỏ nó trong tích tắc nếu con trai tôi

trở lại”. Những bậc phụ huynh đã mất con, những quý

ông quý bà đã đạt được sức mạnh, sự thông suốt và

lòng thương xót từ những mất mát của họ, đã nói với

tôi rằng họ cũng có tình cảm hệt như thế. Nhưng dĩ

nhiên, chúng ta không thể lựa chọn. Chúng ta chỉ

có thể cố gắng đối mặt. Bất cứ ai lâm vào cảnh đau

thương, bi đát, và bất hạnh đều cũng sẽ làm thế.

Chúng ta không cố gắng phân tích nó. Chúng ta không

xét đoán nó bằng cách nói với chính mình rằng,

theo cách nào đó, chúng ta xứng đáng phải chịu cảnh

như vậy. Thậm chí chúng ta không chấp nhận nó.

Chúng ta vượt qua nó. Chúng ta nhận ra sự bất công

9

của nó nhưng vẫn cứng đầu chọn cách tiếp tục sống.

Giờ đây, tôi nói với những bậc cha mẹ bị mất con

rằng: các bạn đã được thừa hưởng từ con cái mình

tất cả những năm tháng chúng đã không được sống.

Như thể bạn được thừa hưởng sách vở, đồ chơi, dàn

máy nghe nhạc của chúng,các bạn được thừa hưởng

những năm tháng mà chúng không được sống. Đó là di

sản quý giá chúng để lại cho các bạn; hãy sử dụng

quãng thời gian đó cho tốt. Đừng sợ tận hưởng cuộc

sống chỉ bởi người mà bạn yêu quý đã không ở đó để

cùng tận hưởng với bạn. Hãy tận sống những năm

tháng của chúng và cảm nhận sự hiện diện của chúng

khi bạn làm như thế.

Hai mươi năm trước, tôi đã viết một cuốn sách nhỏ

mà chính nó đã làm thay đổi cả cuộc đời tôi, và

10

quan trọng hơn cả, đã thay đổi cuộc đời của hàng

triệu người khác. Thậm chí nó đã thay đổi cách ứng

xử của các tín hữu trước những bất hạnh của họ và

của người khác. Nếu ngày nay tôi viết nó, liệu tôi

có viết một cuốn sách giống hệt như thế không? Về

cơ bản, tôi sẽ làm như vậy, tôi cũng sẽ thêm vào

một số câu chuyện mà bạn đọc đã chia sẻ với tôi

trong vài năm nay. Những bài học của hai mươi năm

trước đã thuyết phục tôi rằng những câu trả lời của

tôi đã băng bó những vết thương và hàn gắn những

trái tim tan vỡ. Tôi không biết liệu những câu trả

lời của tôi có giá trị về mặt triết học và lô gic

hay không, mặc dù tôi luôn tin chúng. Nhưng tôi

biết rằng chúng khiến mọi người khuây khỏa, dễ

chịu; chúng dẫn mọi người trở về với Đức Chúa; như

11

thế đối với tôi đã là quá đủ.

Tôi gặp rất nhiều người nói với tôi rằng họ đã đọc

cuốn “Tại sao điều xấu lại đến với người tốt của

tôi. Tôi đã lịch sự đính chính với họ rằng tựa đề

cuốn sách không phải là Tại sao…mà là khi…Vấn đề

thật sự quan trọng không phải là lý do tại sao

những điều bất hạnh ấy lại xảy ra, nhưng chúng ta

sẽ tìm nguồn sức mạnh từ đâu để đối mặt với bất

hạnh khi chúng xảy đến. Tác giả Thánh Vịnh 121

viết: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ

tôi đến từ nơi nao?” và ông đã không hỏi: “Đâu là

nguồn gốc của những bất hạnh của tôi? Những tai nạn

khủng khiếp này đến từ đâu?” Ông không tìm kiếm

lời giải thích hay cố gắng hiểu bi kịch của mình,

mà ông sẵn sàng tìm kiếm sự hỗ trợ. Và câu trả lời

12

của ông ấy là: “Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là

Đấng dựng nên cả đất trời”. (Thánh Vịnh 121, 1-2)

Harold S. Kushner

Natick, Mass, tháng Mười năm 2001

13

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát