Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Thiên Thần Sa Ngã - P1

Cassandra Clare

THIÊN THẦN SA NGÃ - CITY OF FALLEN ANGELS

Phần 4 series VŨ KHÍ BÓNG ĐÊM

VY AN dịch

NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI

PHẦN 1: THIÊN THẦN HỦY DIỆT

1: CHỦ NHÂN

2: RƠI XUỐNG

3: GẤP BẢY

4: NGHỆ THUẬT TÁM CHI

5: ĐỊA NGỤC GỌI ĐỊA NGỤC

6: ĐÁNH THỨC NGƯỜI CHẾT

7: VỆ ĐOÀN LUPUS

8. BƯỚC TRONG BÓNG TỐI

9: TỪ LỬA TỚI LỬA

1

Phần 2: VÌ NGƯỜI

10: SỐ 232 ĐƯỜNG RIVERSIDE

11: GIỐNG NÒI CỦA CHÚNG TA

12: THÁNH ĐỊA

13: MỘT CÔ GÁI ĐÃ CHẾT

14: MƠ MANG ĐẾN GÌ

15: BEATI BELLICOSI

16: NHỮNG THIÊN THẦN CỦA THÀNH PHỐ NEW YORK

17: VÀ CAIN VƯƠN LÊN

18: NHỮNG VẾT SẸO LỬA

19: ĐỊA NGỤC ĐÃ THỎA NGUYỆN

(ở trang đề tặng)

Sommes-nous les deux livres d'un même ouvrage?

Chúng ta có phải là hai mảnh ghép của cùng một vật

thể?

2

- Dành tặng Josh –

PHẦN 1

THIÊN THẦN HỦY DIỆT

Có những thứ xấu xa bước đi trong bóng tối; và có

những thiên thần hủy diệt bay lượn trong những bức

màn của sự vô hình và thiên nhiên thần bí giúp

chúng ta tiêu diệt những thứ đó; chúng ta không

nhìn thấy họ, nhưng có thể cảm nhận được sức mạnh

của họ và chúng ta chết dưới lưỡi kiếm của họ.

– Jeremy Taylor, “A Funeral Sermon”

1

CHỦ NHÂN

“Cho tôi một cốc cà phê.”

Cô phục vụ bàn nhướn đôi lông mày được kẻ vẽ cẩn

thận lên. “Cậu không muốn gọi thêm đồ ăn sao?” cô

3

ta hỏi. Giọng cô ta khá nặng, tỏ rõ sự thất vọng.

Simon Lewis trách cô ta; hẳn cô nàng mong nhận

được món tiền boa hời hơn là số cô nhận được nhờ

việc phục vụ một cốc cà phê. Nhưng chuyện ma cà

rồng không ăn uống đâu phải lỗi của cậu. Tới nhà

hàng, dăm ba lần cậu cũng gọi đồ ăn, cốt để mọi

người thấy ta bình thường như bao người khác. Nhưng

vào một buổi tối muộn của ngày thứ ba, khi quán

Veselka gần như vắng tanh vắng ngắt thì có gọi đồ

ăn cũng chẳng giúp cho cậu khỏi bị nhòm ngó là mấy.

“Chỉ cà phê thôi.”

Với một cái nhún vai, cô phục vụ cầm thực đơn của

cậu và đánh dấu. Simon ngồi tựa vào chiếc ghế tựa

bằng nhựa cứng và ngó quanh quất. Veselka, cái quán

ăn nằm ở góc Đường số Chín và Đại lộ số Hai, là

4

một trong những địa điểm ưa thích của cậu tại khu

Hạ Đông – một quán ăn tại khu vực cổ xưa của New

York với những bức tường được dán giấy dán tường

tông màu đen trắng. Bạn có thể cà kê ở đây cả ngày

chỉ cần bạn gọi cà phê sau nửa tiếng một. Họ cũng

phục vụ món bánh Ba Lan và xúp củ cải đỏ dành cho

người ăn chay mà ngày xưa cậu rất thích, nhưng

những ngày đó đã trôi vào quá khứ từ vài tháng

trước.

Giờ mới là giữa tháng mười, vậy mà quán đã treo đồ

trang trí Halloween – một tấm biển lắc lư có dòng

chữ BỊ GHẸO–HAY–ĂN XÚP! kèm theo một ma cà rồng cắt

bằng bìa các–tông mang tên Bá tước Blintzula. Thời

xưa xửa xừa xưa, Simon và Clary thấy những món đồ

trang trí hạng bét dành cho ngày của những hồn ma

5

này thật lố bịch, nhưng giờ Bá tước với cặp răng

nanh giả và áo choàng đen không khiến Simon thích

thú như xưa nữa.

Simon đưa mắt nhìn ra ngoài ô cửa sổ. Đêm lộng

gió, những chiếc lá bay lạo xạo trên Đại lộ số Hai

trông như những nắm hoa giấy. Một cô gái đang sải

bước đi trên đường, trên người khoác chiếc áo dài

có thắt đai và mái tóc dài tung bay trong gió. Mọi

người quay đầu ngắm nhìn cô. Ngày xưa Simon cũng

như những người đó, cũng sẽ ngắm nhìn những cô gái

như thế rồi vẩn vơ suy nghĩ xem họ đi đâu và gặp

ai. Và cậu thừa biết, chắc chắn đối tượng họ gặp

không phải những chàng trai như cậu.

Nhưng cô gái này thì khác. Cái chuông trước cửa

quán ăn kêu lanh canh khi cánh cửa được mở ra, và

6

Isabelle Lightwood bước vào.

Cô mỉm cười khi thấy Simon, rồi tiến tới, cởi áo

khoác và treo lên khoác ghế trước khi ngồi xuống.

Cô nàng mặc trong một trong những bộ đồ được Clary

gọi là “đồ Isabelle điển hình”: một chiếc váy ngắn

bó bằng vải nhung, đi tất lưới và bốt. Một con dao

nhét trên chiếc bốt bên trái mà Simon biết chỉ mình

cậu nhìn thấy; và, mọi người trong quán đều không

hề rời mắt khi cô ngồi xuống, hất tóc ra sau.

Dù mặc gì thì Isabelle cũng khiến người khác phải

chú ý, hệt như một buổi bắn pháo hoa vậy.

Isabelle Lightwood xinh đẹp. Khi Simon gặp cô, cậu

đã tưởng cô không có thời gian cho một chàng trai

như cậu. Cậu đoán gần đúng. Isabelle thích những

dạng con trai mà bố mẹ không ưa, và trong thế giới

7

của cô thì điều đó có nghĩa là cư dân Thế Giới Ngầm

– tiên, người sói và ma cà rồng. Việc họ thường

xuyên hẹn hò suốt một hai tháng nay khiến cậu ngạc

nhiên, thậm chí khi mối quan hệ của họ chỉ dừng lại

ở những buổi gặp mặt không thường xuyên như thế

này. Và cậu không thể nào không tự hỏi rằng nếu cậu

không biến thành ma cà rồng, nếu cuộc đời cậu

không thay đổi hoàn toàn trong khoảnh khắc đó, họ

có bao giờ hẹn hò không?

Cô vén tóc sau tai, nở nụ cười tỏa sáng. “Trông

cậu ổn lắm.”

Simon ngắm nhìn mình qua kính cửa sổ quán ăn. Sự

ảnh hưởng của Isabelle với vẻ bề ngoài của cậu rất

rõ ràng kể từ ngày họ hẹn hò. Cô bắt cậu phải

chuyển từ áo hoodie sang áo khoác da và đi những

8

đôi giày đắt tiền thay cho giày vải. Và tình cờ làm

sao, một đôi tốn những ba trăm đô la lận. Cậu vẫn

mặc những chiếc áo sơ mi có slogan – cái áo này có

in dòng chữ KHÔNG CÓ CỬA CHO THUYẾT HIỆN SINH –

nhưng chiếc quần bò thì không hề có vết rách ở đầu

gối và túi thủng cũng không luôn. Cậu cũng để tóc

dài đến tầm rủ xuống mắt, che đi trán, nhưng điều

đó cần thiết hơn việc Isabelle có thích hay không.

Clary đã trêu chọc về bề ngoài của cậu; nhưng dù

gì, Clary luôn buồn cười trước mọi thứ trong câu

chuyện tình yêu của cậu. Cô không tin cậu nghiêm

túc trong việc hẹn hò cùng Isabelle. Tất nhiên, cô

cũng không tin cậu cũng đang hẹn hò cùng Maia

Roberts, một cô bạn tình cờ là người sói, một cách

nghiêm túc hệt như thế. Và cô thật sự không tin nổi

9

Simon chưa hề nói cho người này biết về người kia.

Simon không biết chắc chuyện xảy ra như thế nào.

Maia thích tới nhà chơi Xbox cùng cậu – họ không có

món đồ giải trí đó tại trạm cảnh sát bị bỏ không –

nay được trưng dụng làm nơi trú ngụ cho đàn người

sói – và tới lần thứ ba hay thứ tư cô gái sói ấy

ghé qua chơi, cô nàng đã hôn tạm biệt cậu trước khi

về. Cậu rất hài lòng, và vì thế gọi cho Clary để

hỏi xem cậu có nên nói cho Isabelle biết không.

“Hãy nghĩ xem tình cảm của cậu với Isabelle là thế

nào,” cô đã nói. “Rồi hẵng kể.”

Hóa ra đó là một lời khuyên tồi. Cả tháng nay cậu

vẫn không hiểu cậu và Isabelle đang ra sao, và vì

thế mà cậu chẳng đả động tới chuyện kia. Và càng

10

nhiều thời gian trôi qua thì nói ra chuyện đó càng

khó hơn. Tới giờ cậu vẫn lo liệu ổn. Isabelle và

Maia không hẳn là bạn và họ hiếm khi gặp nhau.

Thật đáng tiếc cho cậu, vì điều đó sắp thay đổi.

Mẹ Clary và người bạn lâu năm của cô ấy, chú Luke,

sắp sửa kết hôn trong vài tuần tới, và cả Isabelle

lẫn Maia đều được mời tới dự. Và phải nói rằng đó

một chuyện khiến Simon hãi hùng hơn cả bị một nhóm

thợ săn ma cà rồng truy đuổi vòng vòng trên những

con phố của New York.

“Vậy,” Isabelle lên tiếng, kéo cậu khỏi dòng suy

nghĩ miên man. “Sao cậu chọn nơi này chứ không phải

quán Taki’s? Họ phục vụ máu ở đó mà.”

Simon nhăn mặt vì cô nói quá lớn. Isabelle không

được tế nhị lắm. May mà không ai có vẻ đang hóng

11

chuyện, kể cả cô phục vụ đã quay lại, đặt đánh bịch

cốc cà phê trước mặt Simon, mắt nhìn Izzy và bỏ đi

không buồn hỏi xem cô chọn gì.

“Mình thích nơi này,” cậu nói. “Clary và mình

thường tới đây mỗi khi bạn ấy có lớp tại Tisch. Họ

có món xúp củ cải đỏ và bánh tráng ngon lắm –

chúng giống như những chiếc bánh bao nhân pho mát

ngọt ngào vậy– thêm nữa nó mở cửa cả đêm.”

Nhưng Isabelle hoàn toàn chẳng để tâm tới câu

chuyện cậu vừa kể. Cô đang nhìn qua vai cậu. “Cái

gì kia?”

Simon nhìn theo. “Đó là Bá tước Blintzula .”

“Bá tước Blintzula?”

Simon nhún vai. “Đồ trang trí cho ngày Halloween

ấy mà. Bá tước Blintzula dành cho tụi trẻ con. Như

12

kiểu Bá tước Chocula, hay Bá tước trong chương

trình Phố Sesame ấy mà.” Cậu cười trước vẻ bối rối

của cô nàng. “Cậu biết đấy. Ông ta dạy lũ trẻ toán

cộng.”

Isabelle đang lắc đầu. “Có một chương trình TV

thuê ma cà rồng dạy toán cho trẻ con á?”

“Cậu thấy thì hiểu ngay thôi.” Simon lầm rầm.

“Có một vài nền tảng được nhắc tới trong truyện

thần thoại để giải thích cho chuyện này,” Isabelle

nói, chuyển sang giọng của giảng viên Thợ Săn Bóng

Tối. “Một vài truyện thần thoại kể rằng ma cà rồng

bị ám ảnh bởi những con tính, và nếu cậu vãi những

hạt lúa trước mặt họ, họ sẽ dừng việc đang làm và

ngồi đếm. Tất nhiên, điều đó chẳng đúng hơn việc ma

cà rồng sợ tỏi là mấy. Và ma cà rồng chẳng hứng

13

thú việc dạy trẻ con. Ma cà rồng rất đáng sợ.”

“Cảm ơn,” Simon nói. “Chỉ là chơi chữ thôi mà

Isabelle. Ông ta là Bá tước. Ông ta thích tính toán

. Cậu biết đấy. ‘Các cháu cho ta biết hôm nay Bá

tước ăn gì? Một chiếc bánh quy sô cô la, hai chiếc

bánh quy sô cô la, ba chiếc bánh quy sô cô la...”

Một luồng gió lạnh ùa vào khi cửa nhà hàng mở ra

để người khách khác bước vào. Isabelle rùng mình và

với lấy cái khăn quàng lụa màu đen. “Điều đó chẳng

thực tế tí nào.”

“Cậu thích gì hơn nào? ‘Các em cho ta biết hôm nay

Bá tước ăn gì? Một dân làng yếu xìu, hai dân làng

yếu xìu, ba dân làng yếu xìu chắc...”

“Suỵt.” Isabelle đã quàng khăn xong và nhoài người

tới, đặt tay lên cổ tay Simon.

14

Đôi mắt đen của cô đột nhiên long lanh, theo cách

chúng chỉ có khi cô chuẩn bị săn hoặc nghĩ về săn

quỷ. “Nhìn đằng kia kìa.”

Simon nhìn theo. Có hai người đàn ông đứng cạnh tủ

bánh bằng kính, trong đó bày nào bánh phủ tuyết

dày, rồi từng đĩa bánh rugelach , và cả những chiếc

bánh su kem nữa. Nhưng cả hai gã đó đều chẳng có

chút hứng thú gì với thức ăn. Cả hai đều lùn xủn,

người to bè xấu xí, xương gò má nhô cao hệt như

những lưỡi dao nhô lên trên khuôn mặt trắng bệch.

Cả hai đều có mái tóc xám mỏng toẹt và đôi mắt xám

nhạt, và cùng mặc măng tô màu xám đen dài chạm sàn.

“Giờ,” Isabelle nói, “cậu nghĩ họ là ai?”

Simon nheo mắt nhìn. Cả hai đều nhìn lại cậu bằng

15

đôi mắt không lông mi trông như hai cái hốc rỗng

không. “Trông họ giống lũ ma lùm ma bụi quỷ quyệt

.”“Chúng là người kí sinh,” Isabelle rít lên.

“Chúng thuộc về một ma cà rồng.”

“‘Thuộc về’ theo nghĩa là...”

Cô khụt khịt tỏ ý mất kiên nhẫn. “Vì Thiên Thần,

cậu không có tí kiến thức nào về giống loài của

mình sao? Cậu thậm chí không hiểu ma cà rồng được

sinh ra thế nào à?”

“À một ma cà rồng mẹ và một ma cà rồng bố yêu nhau

tha thiết...”

Isabelle nhăn mặt. “Được rồi, cậu biết rằng ma cà

rồng không cần quan hệ chăn gối để cho ra thế hệ

sau, nhưng mình cá cậu không biết chuyện sinh sản

trong ma cà rồng ra sao.”

16

“Mình có biết chứ,” Simon nói. “Mình là ma cà rồng

vì mình uống ít máu của Raphael trước khi chết.

Uống máu cộng chết bằng ma cà rồng.”

“Không hẳn,” Isabelle nói. “Cậu là ma cà rồng vì

cậu đã uống ít máu Raphael, sau đó bị những ma cà

rồng khác cắn và rồi cậu chết. Cậu cần được cắn

trong quá trình đó.”

“Vì sao?”

“Nước bọt của ma cà rồng là... chất xúc tác. Chất

xúc tác chuyển đổi.”

“Tởm,” Simon nói.

“Đừng có nói ‘tởm’ với mình. Cậu là người được

hưởng nước bọt thần thánh mà. Một ma cà rồng giữ

con người bên mình và uống máu trực tiếp từ họ khi

thiếu máu dự trữ – hắn coi người đó giống như những

17

cỗ máy đồ ăn vặt biết đi vậy.” Izzy nói với vẻ

kinh tởm. “Cậu nghĩ họ yếu đi vì mất máu liên tục,

nhưng nước bọt của ma cà rồng thật ra có khả năng

chất chữa lành vết thương. Nó giúp tăng lượng hồng

cầu, khiến con người khỏe mạnh hơn và sống lâu hơn.

Vì thế chuyện ma cà rồng hút máu người không hề

phạm Luật. Con người thật ra không bị sao hết. Tất

nhiên đôi lúc ma cà rồng muốn nhiều hơn một bữa ăn

nhẹ, hắn muốn một người kí sinh – và hắn bắt đầu

cho người bị cắn một chút xíu máu của mình, chỉ để

khiến người kia phải ngoan ngoãn nghe lời chủ nhân,

bị ràng buộc với chủ nhân. Người kí sinh tôn thờ

chủ nhân, luôn muốn hoàn thành nguyện vọng của chủ

nhân của họ. Tất cả những gì họ cần là được ở gần

chủ nhân của mình. Giống như khi cậu trở lại Dumont

18

vậy. Cậu bị kéo tới với ma cà rồng mà cậu uống

máu.”

“Raphael,” Simon rầu rĩ nói. “Mình nói cho cậu

hay, dạo gần đây mình không còn khao khát đến cháy

bỏng được ở cạnh anh ta nữa rồi.”

“Đúng, cảm giác đó sẽ biến mất khi cậu trở thành

ma cà rồng toàn phần. Chỉ có người kí sinh mới tôn

thờ và không thể trái lời chủ nhân. Cậu không thấy

sao? Khi cậu trở lại Dumont, nhóm ma cà rồng của

Raphael đã hút kiệt máu cậu, cậu chết, và rồi cậu

biến thành ma cà rồng. Nhưng nếu chúng không hút

khô xác cậu, nếu chúng chỉ cần cho cậu uống thêm

một chút máu thôi, cậu sẽ biến thành người kí sinh

ngay.

“Nghe rất ư thú vị,” Simon nói. “Nhưng nó không

19

giải thích chuyện hai gã kia nhìn chúng ta đến

không chán mắt.”

Isabelle lại nhìn hai gã kia. “Họ đang nhìn cậu.

Hoặc là chủ nhân của họ đã chết và họ muốn tìm chủ

nhân mới. Biết đâu cậu sắp có thêm vài thú cưng,”

Cô cười toe toét.

“Hoặc,” Simon nói, “có thể họ tới vì món khoai tây

chiên.”

“Người kí sinh không ăn. Họ sống nhờ hỗn hợp giữa

máu ma cà rồng và máu động vật. Nó giúp kiềm chế

quá trình oxi hóa cơ thể. Họ không bất tử nhưng lão

hóa rất chậm.”

“Buồn là,” Simon nói và nhìn họ, “có vẻ họ không

biết chăm chút vẻ bề ngoài.”

Isabelle ngồi thẳng dậy. “Họ đang tới đấy. Chắc

20

chúng ta sắp biết họ muốn gì rồi.”

Hai gã người kí sinh tiến tới như thể đang trên

bánh xe. Họ không bước mà là lướt đi êm như ru. Họ

chỉ mất vài giây để đi hết chiều dài nhà hàng; khi

họ tới gần bàn của Simon, Isabelle đã rút con dao

ra khỏi bốt. Nó nằm trên bàn và tỏa sáng dưới ánh

đèn huỳnh quang. Nó là một con dao bằng bạc, lưỡi

dày và đen với những hình thập tự khắc trên cả hai

mặt chuôi. Hầu hết những vũ khí chống ma cà rồng

đều có trang trí hình những cây thánh giá mà theo

Simon thì nguyên nhân là do hầu hết ma cà rồng đều

theo đạo Thiên Chúa. Ai mà ngờ được việc mình theo

một tôn giáo nhỏ lại có tác dụng lớn đến thế?

“Đến gần thế là đủ rồi,” Isabelle nói, khi hai tay

người kí sinh dừng lại bên bàn, những ngón tay cô

21

chỉ cách con dao có vài inch. “Cả hai có chuyện gì

thì nói đi.”

“Thợ Săn Bóng Tối.” Sinh vật bên trái rít lên khe

khẽ. “Chúng tôi không được biết cô sẽ xuất hiện

trong hoàn cảnh này.”

Isabelle nhướn hàng lông mày thanh mảnh. “Và hoàn

cảnh đó là?”

Tay người kí sinh đưa ngón tay xám dài chỉ vào

Simon. Móng tay hắn vàng ệch và sắc nhọn. “Chúng

tôi có vài thỏa thuận với Ma cà rồng Ưa sáng.”

“Không đâu,” Simon nói. “Tôi không biết hai người

là ai. Chưa từng gặp luôn.”

“Tôi là ngài Walker,” sinh vật đầu tiên nói. “Bên

cạnh tôi là ngài Archer. Tôi phục vụ ma cà rồng

quyền năng nhất thành phố New York. Thủ lĩnh của

22

nhóm mạnh nhất Manhattan.”

“Raphael Santiago,” Isabelle nói. “Vậy thì hai

người nên biết Simon không thuộc nhóm nào. Cậu ấy

là ma cà rồng tự do.”

Ngài Walker cười mím môi. “Chủ nhân của tôi hy

vọng tình thế đó có thể thay đổi.”

Simon nhìn Isabelle. Cô nhún vai.

“Không phải Raphael đã nói với cậu rằng anh ta

muốn cậu tránh xa nhóm đó ra sao?”

“Có thể anh ta đổi ý,” Simon gợi ý. “Cậu biết anh

ấy rồi đấy. Kiểu người sáng nắng chiều mưa trưa ẩm

ướt ấy mà.”

“Mình đâu có biết. Mình chưa thật sự gặp anh ta kể

từ hồi mình dọa giết anh ta bằng cái chân cắm nến.

Nhưng anh ta cũng đối mặt với chuyện đó. Chẳng hề

23

chớp mắt.”

“Tuyệt,” Simnon nói. Hai tay người kí sinh đang

nhìn cậu. Đôi mắt họ mang màu xám trắng nhạt, giống

như màu tuyết bẩn vậy.

“Nếu Raphael muốn có tôi trong nhóm thì đó là vì

anh ta muốn gì đó từ tôi. Hai người nên nói cho tôi

biết đó là gì thì hơn.”

“Chúng tôi không được phép tiết lộ các kế hoạch

của chủ nhân,” Ngài Archer nói bằng giọng rất ư

trịch thượng.

“Vậy thì chẳng thỏa thuận gì hết,” Simon nói. “Tôi

không đi.”

“Nếu cậu không đồng ý đi với chúng tôi, chúng tôi

đành phải dùng bạo lực với cậu.”

Con dao dường như nhảy lên tay Isabelle; hay ít

24

nhất, cô nàng gần như chẳng nhúc nhích mà bằng cách

nào đó vẫn cầm được nó. Cô nàng nhẹ nhàng xoay nó

trong tay. “Nếu tôi là hai người, tôi sẽ không làm

vậy.”

Ngài Archer nhe răng với cô nàng. “Từ khi nào mà

Đứa Con của Thiên Thần lại trở thành vệ sĩ cho một

cư dân Thế Giới Ngầm cà chớn thế nhỉ? Tôi không

nghĩ đây là việc của cô đâu, Isabelle Lightwood ạ.”

“Tôi không phải vệ sĩ,” Isabelle nói. “Tôi là bạn

gái của cậu ấy. Vì thế, tôi có quyền đá mông các

người nếu các người làm phiền cậu ấy. Thế có được

không?”Bạn gái? Simon giật mình ngạc nhiên nhìn

cô, nhưng cô chỉ gườm gườm nhìn hai sinh vật kia,

đôi mắt đen lóe sáng. Cậu chưa bao giờ nghĩ

25

Isabelle sẽ tự xưng là bạn gái cậu. Và kì lạ là, đó

mới là điều làm cậu giật mình thảng thốt, chứ

không phải chuyện bị một ma cà rồng quyền năng nhất

New York triệu tập.

“Chủ nhân của tôi,” ngài Walker nói bằng giọng có

lẽ là để xoa dịu tình hình, “có một thỏa thuận với

Ma cà rồng Ưa sáng đây–”

“Tên cậu ấy là Simon. Simon Lewis.”

“Với ngài Lewis. Tôi có thể hứa với cô rằng ngài

Lewis sẽ thấy đó là một thỏa thuận rất hời nếu chịu

đi cùng chúng tôi và nghe chủ nhân của chúng tôi

trình bày. Tôi hứa trên danh dự của chủ nhân tôi

rằng cậu, Ma cà rồng Ưa sáng, sẽ không bị tổn hại

gì, và nếu cậu muốn từ chối đề nghị của chủ nhân

tôi, đó là tùy cậu.”

26

Chủ nhân của tôi, chủ nhân của tôi. Ngài Walker

nói cụm từ đó với giọng vừa ngưỡng mộ vừa kính

trọng. Simon hơi rùng mình. Thật kinh khủng khi bị

ràng buộc với một ai khác tới mức đó và không hề có

ý chí của riêng mình.

Isabelle đang lắc đầu; cô đang mở khẩu hình nói

“không” với Simon. Có lẽ cô đúng, cậu nghĩ.

Isabelle là Thợ Săn Bóng Tối xuất sắc. Cô đã săn

đuổi lũ ác quỷ và những cư dân Thế Giới Ngầm phạm

Luật – những ma cà chớp, những pháp sư hắc ám,

những người sói bị mất kiểm soát và ăn thịt người –

từ khi mới mười hai tuổi, và có lẽ giỏi hơn bất cứ

Thợ Săn Bóng Tối nào cùng trang lứa, ngoại trừ ông

anh Jace ra. Và kém hơn Sebastian nữa, Simon nghĩ,

vì hắn ta giỏi hơn cả hai anh em họ. Nhưng hắn ta

27

đã đi đời nhà ma rồi.

“Được rồi,” cậu nói. “Tôi sẽ đi.”

Isabelle trợn tròn mắt. “Simon!”

Cả hai tay người kí sinh đều xoa tay, hệt như

những nhân vật phản diện trong truyện tranh. Bản

thân hành động đó không hề quái dị; chỉ là họ xoa

tay hệt như đã làm động tác đó rất rất nhiều lần,

như thể họ là những con rối bị người khác giật dây

vậy.

“Tuyệt,” ngài Archer nói.

Isabelle ném choang con dao xuống bàn và nhoài

người, mái tóc đen óng ả khẽ vuốt trên mặt bàn.

“Simon,” cô nói trong tiếng thì thầm liến thoắng.

“Đừng ngốc thế chứ. Cậu chẳng có lý gì phải đi cùng

họ cả. Và Raphael là đồ đểu.”

28

“Raphael là thủ lĩnh ma cà rồng,” Simon nói. “Máu

của anh ta biến mình thành ma cà rồng. Anh ta là–

họ gọi bằng gì ấy nhỉ.”

“Chủ nhân, người kiến tạo, ma cà rồng bố mẹ – có

hàng triệu cái tên đặt cho việc anh ta làm với

cậu,” Isabelle phân tâm nói. “Và có thể máu anh ta

biến cậu thành ma cà rồng. Nhưng nó không biến cậu

thành Ma cà rồng Ưa sáng.” Đôi mắt cô nhìn cậu.

Jace đã biến cậu thành Ma cà rồng Ưa sáng. Nhưng cô

chưa bao giờ nói ra điều đó; chỉ có vài người biết

sự thật; toàn bộ câu chuyện về Jace thật sự là gì,

và Simon là gì vì điều đó. “Cậu không phải làm

theo điều anh ta nói.”

“Tất nhiên là không rồi,” Simon hạ giọng. “Nhưng

nếu mình từ chối, cậu có nghĩ Raphael sẽ buông tha

29

cho mình không? Không đâu. Họ sẽ còn tới tìm mình

nữa.” Cậu liếc nhìn hai tay người kí sinh; họ có vẻ

đồng tình, dù có thể là cậu tưởng tượng ra. “Họ sẽ

nhằng nhẵng bám theo mình mất. Khi mình ra ngoài,

lúc ở trường, ở nhà Clary –”

“Và sao nào? Clary không lo liệu được sao?”

Isabelle giơ tay lên trời. “Được rồi. Nhưng hãy để

mình đi cùng.”

“Ồ không được đâu,” ngài Archer xen vào. “Đây

không phải vấn đề của Thợ Săn Bóng Tối. Đây là vấn

đề của Những Đứa Con của Màn Đêm.”

“Tôi sẽ không –”

“Luật cho chúng tôi tự xử lý vấn đề của chúng

tôi,” ngài Walker cứng giọng nói. “Với những thành

viên khác cùng loài.”

30

Simon nhìn họ. “Làm ơn cho chúng tôi một chút thời

gian,” cậu nói. “Tôi muốn nói chuyện với

Isabelle.”Mấy người họ chìm trong im lặng. Xung

quanh họ, những hoạt động trong quán ăn vẫn tiếp

diễn. Mọi người đang nườm nượp vào quán, thưởng

thức vài đồ ăn thức uống sau khi rời khỏi rạp chiếu

phim cách đây một dãy nhà, và những cô phục vụ vội

vã đi đi lại lại, mang theo những đĩa thức ăn bốc

khói nghi ngút cho thực khách; những cặp tình nhân

cười đùa nói chuyện ở những bàn bên cạnh; tiếng

những đầu bếp hét tên món vang tới từ bên kia quầy

phục vụ. Không ai nhìn họ hay nhận ra bất cứ sự

việc kỳ lạ nào đang diễn ra. Simon đã quen với

những phép ảo ảnh, nhưng cậu không thể kìm được cảm

giác đôi lúc, khi cậu ở cạnh Isabelle, cậu giống

31

đang bị nhốt sau một bức tường kính vô hình, bị

tách biệt với cộng đồng loài người và cuộc sống

thường nhật xung quanh.

“Được thôi,” ngài Walker nói và bước lùi lại.

“Nhưng chủ nhân của tôi không thích chờ đợi lâu.”

Họ ra cửa, rõ ràng không bị mảy may hề hấn gì vì

những luồng gió lạnh thổi qua khi có người ra vào,

và đứng đó như những bức tượng. Simon quay sang

Isabelle. “Không sao đâu mà,” cậu nói. “Họ sẽ không

làm hại mình. Họ không thể làm hại mình. Raphael

biết tất cả về...” cậu lóng ngóng chỉ lên trán.

“Cái này.”

Isabelle đưa tay gạt tóc cậu sang bên, chạm vào

trán như kiểu của một bác sĩ hơn là nhẹ nhàng âu

yếm. Cô đang nhíu mày.

32

Simon đã nhìn cái Ấn Ký đó quá nhiều lần trong

gương nên cậu quá biết là nó thế nào. Ấn Ký Cain

giống như tác phẩm của một người cầm một chiếc bút

vẽ ngòi nhỏ và vẽ một biểu tượng đơn giản ngay

chính giữa trán cậu, hơi chếch lên phía trên mắt.

Đôi lúc nó thay đổi hình dạng, giống như những đám

mây hóa thành muôn hình vạn trạng vậy, nhưng nó

luôn luôn sạch sẽ, đen tuyền và trông có vẻ nguy

hiểm, như một dấu hiệu cảnh báo viết bằng một ngôn

ngữ khác.

“Nó có... tác dụng không?” cô thì thào.

“Raphael nghĩ nó có tác dụng,” Simon nói. “Và mình

không có lý do gì để nghĩ là không cả.” Cậu nắm cổ

tay cô và bỏ xuống. “Mình sẽ ổn mà, Isalbelle.”

Cô thở dài. “Từng tí một của những điều mình được

33

huấn luyện đều nói rằng đây không phải ý tưởng

hay.”Slimon bóp nhẹ những ngón tay cô. “Thôi nào.

Cậu không tò mò về điều Raphael muốn sao?”

Isabelle vỗ vỗ tay cậu và ngồi dựa lưng vào ghế.

“Kể cho mình nghe tất cả khi trở về nhé. Gọi cho

mình đầu tiên đấy.”

“Ừ.” Simon đứng dậy, kéo khóa áo. “Và giúp mình

một chuyện được chứ? À, hai chuyện mới đúng.”

Cô nhìn cậu với vẻ ngạc nhiên một cách cảnh giác.

“Cái gì?”

“Clary nói tối nay sẽ luyện tập ở Học Viện. Nếu

cậu gặp, đừng nói với Clary mình đi đâu nhé. Cậu ấy

sẽ lo lắng không đâu mất.”

Isabelle đảo mắt. “Được rồi. Chuyện thứ hai?”

Simon hôn lên má cô. “Thử món xúp củ cải đó trước

34

khi về nhé. Nó ngon lắm đấy.”

Ngài Walker và ngài Archer không phải những người

bạn đồng hành mồm mép nhất. Họ lẳng lặng dẫn Simon

đi qua những con phố của khu Lower East Side, đi

trước cậu vài bước theo cái cách lướt đi kì lạ của

họ. Trời càng lúc càng tối nhưng trên hè phố, dòng

người vẫn tấp nập đi lại sau giờ tan ca muộn hoặc

giả vội trở về nhà từ bữa tiệc, họ cắm cúi đi, cổ

áo dựng cao để che chắn trước những cơn gió lạnh.

Tại St. Mark’s Place có đặt những chiếc bàn bằng

bìa cứng được dựng lên dọc theo lề đường, bán mọi

thứ từ những đôi tất giá rẻ tới những bức tranh

thành phố New York phác chì hay những loại hương

trầm đang nghi ngút khói. Những chiếc lá kêu lạo

xạo trên vỉa hè như những nắm xương khô. Không khí

35

có mùi khí thải ô tô hòa lẫn cùng mùi trầm hương,

và bên dưới đó còn thoang thoảng mùi người – mùi

của máu thịt.

Bụng Simon quặn lại. Cậu cố gắng giữ đủ lượng máu

động vật cần dùng trong phòng – cậu có một cái tủ

lạnh nhỏ ở đằng sau tủ quần áo, nơi mẹ cậu không

nhìn thấy – để tránh trường hợp lên cơn khát. Máu

đó có vị ghê tởm. Cậu nghĩ sẽ quen với nó, hay có

thể còn bắt đầu muốn uống nó, nhưng dù nó giúp đẩy

lùi cảm giác đói khát nơi cậu, cậu vẫn không tài

nào thích nó như ngày xưa từng thích những thanh sô

cô la hay món bánh bột ngô Mexico dành cho người

ăn chay hay kem cà phê. Nó vẫn có vị như máu vậy.

Nhưng cảm giác khát còn kinh khủng hơn. Cảm giác

đó làm cậu có thể ngửi thấy những mùi không muốn

36

ngửi – mùi mằn mặn của da; mùi ngọt ngào từ máu tỏa

ra qua lỗ chân lông của những người xa lạ. Nó làm

cậu thấy thèm khát, ngứa ngáy và có cảm giác bản

thân là một thứ quái vật. Cậu gồng người, nắm chặt

hai bàn tay đang nhét trong túi áo và cố hít vào

bằng miệng.

Họ rẽ phải vào Đại lộ số Ba và dừng lại trước một

cửa hàng có biển hiệu QUÁN TU VIỆN. VƯỜN MỞ CỬA CẢ

NĂM. Simon chớp mắt trước tấm biển “Chúng ta làm gì

ở đây?”

“Đây là nơi chủ nhân của chúng tôi sẽ gặp cậu.”

Giọng ngài Walker nghe sường sượng.

“Ờ.” Simon bối rối. “Tôi cứ nghĩ phong cách của

Raphael phải là gặp nhau tại nóc những nhà thờ bị

bỏ hoang, hay dưới một nấm mồ xương trắng cơ. Anh

37

ta chưa bao giờ mời tôi tới một nhà hàng thời

thượng thế này.”

Cả hai nô lệ đều nhìn cậu chằm chằm. “Có vấn đề gì

sao, Ma cà rồng Ưa sáng?” cuối cùng ngài Archer

hỏi.Simon đột nhiên thấy bị đe dọa. “Không. Không

có vấn đề gì.”

Bên trong nhà hàng khá tối, với một bàn bar mặt đá

cẩm thạch chạy dọc một bức tường. Không có nhân

viên phục vụ tới khi họ bước qua phòng tới một cánh

cửa đằng sau, và qua cửa bước vào vườn.

Rất nhiều nhà hàng ở New York có một khu vườn; vài

nhà hàng mở cửa tới tận giờ này. Khu vườn ba người

họ vừa đặt chân vào nằm lọt giữa vài khu nhà.

Những bức tường được trang trí bằng những bức bích

họa sống động như thật vẽ cảnh sắc khu vườn nước Ý

38

ngập tràn sắc hoa. Những hàng cây, giờ lá đã chuyển

sang màu đỏ vàng trong tiết trời mùa thu, được

trang hoàng bằng những sợi dây đèn màu trắng và

những ngọn đèn hồng ngoại đặt rải rác giữa những

cái bàn phát ra những quầng sáng màu đỏ. Một đài

phun nước cỡ nhỏ róc rách reo vui ở giữa khoảnh

sân.

Chỉ có một chiếc bàn duy nhất có người, và ngồi ở

đó không phải Raphael. Một người phụ nữ thon thả

đội mũ rộng vành đang ngồi tại chiếc bàn kê sát

tường. Khi Simon bối rối ngó quanh, cô ta giơ tay

và vẫy cậu. Cậu quay lại và nhìn ra sau; tất nhiên,

ở đó chẳng có ai. Walker và Archer tiếp tục bước

đi; ngạc nhiên, Simon đi theo họ qua sân và dừng

lại chỉ cách người phụ nữ kia vài bước chân.

39

Walker cúi gập đầu. “Chủ nhân,” hắn nói.

Người phụ nữ mỉm cười. “Walker,” bà ta nói. “Và

Archer. Tốt lắm. Cảm ơn đã mang Simon tới cho ta.”

“Đợi một giây.” Simon hết nhìn người phụ nữ lại

nhìn hai tay người kí sinh. “Cô không phải

Raphael.”“Ôi cho tôi xin, tất nhiên tôi không phải

hắn rồi.” Người phụ nữ bỏ mũ. Một mái tóc dày màu

bạch kim, sáng lên dưới ánh đèn màu nhấp nháy, đổ

xuống vai cô ta. Cô ta có nước da mịn màng, trắng

trẻo và gương mặt trái xoan rất xinh đẹp với đôi

mắt xanh lá nhạt to hút hồn. Cô ta đeo găng tay màu

đen dài, mặc áo lụa đen đi cùng váy bút chì và

quấn chiếc khăn lụa đen quanh cổ. Khó mà đoán ra

tuổi cô ta – hay ít nhất là tầm tuổi khi cô ta bị

Biến Đổi thành ma cà rồng. “Tôi là Camille

40

Belcourt. Rất hân hạnh được gặp cậu.”

Cô ta giơ bàn tay đeo găng đen ra.

“Tôi được nói là sẽ gặp Raphael Santiago ở đây,”

Simon nói, không định bắt tay người phụ nữ kia. “Cô

làm việc cho anh ta sao?”

Camille Belcourt cười nghe như tiếng nước chảy róc

rách. “Chắc chắn là không rồi! Dù từng có thời anh

ta làm việc cho tôi.”

Và thế là Simon nhớ ra. Tôi tưởng thủ lĩnh ma cà

rồng là người khác, cậu đã từng nói với Raphael như

vậy lúc ở Idris, và chuyện đó đã xảy ra cách đây

cả ngàn năm vậy.

Camille chưa trở về nhóm, Raphael đã trả lời vậy.

Vì thế tôi thay cô ta chỉ huy.

“Cô là thủ lĩnh ma cà rồng,” Simon nói. “Của nhóm

41

Manhattan.” Cậu quay lại với hai tay người kí sinh.

“Hai người lừa tôi. Hai người nói tôi sẽ gặp

Raphael.”“Tôi nói cậu sẽ gặp chủ nhân của chúng

tôi,” ngài Walker nói. Đôi mắt hắn mở lớn và vô

hồn, quá vô hồn đến mức Simon tự hỏi liệu hai kẻ

kia định làm cậu phân tâm, hay họ chỉ giống như

những con rô bốt được lập trình để nói những gì chủ

nhân chúng bảo và không ý thức được sự sai lệch

trong lời nói. “Và chủ nhân của tôi đây.”

“Đúng thế.” Camille cười rạng rỡ với hai gã kia.

“Walker, Archer, làm ơn để chúng tôi lại với nhau.

Tôi cần nói chuyện riêng với Simon.” Cái cách cô ta

nói điều đó – cách gọi tên cậu và cái từ “riêng” –

có gì đó không bình thường, giống như một cái vuốt

ve thầm kín vậy.

42

Hai tay người kí sinh cúi chào và rút lui. Khi

ngài Archer quay đầu bước đi, Simon thoáng nhìn

thấy một một vết bầm tím bên cổ hắn ta, đen như mực

tàu và có hai chấm đen hơn bên trong. Những cái

chấm bên bên trong là vết cắn, bao quanh là phần da

xù xì, thiếu nước. Simon đột nhiên thấy rùng mình.

“Xin mời,” Camille nói và vỗ vào cái ghế bên cạnh.

“Ngồi đi. Cậu muốn dùng chút rượu không?”

Simon ngồi mem mém ở rìa cái ghế kim loại cứng.

“Tôi không thật sự uống.”

“Tất nhiên,” cô ta nói, hoàn toàn thông cảm. “Cậu

vẫn còn là một ma cà rồng non, đúng không nhỉ? Đừng

lo lắng quá nhiều. Rồi cậu sẽ luyện uống được rượu

và một số loại đồ uống có cồn khác. Một vài ma cà

43

rồng lớn tuổi nhất còn có thể ăn thức ăn của loài

người mà không bị tác động nhiều lắm.”

Không bị tác động nhiều lắm sao? Simon không thích

điều đó. “Cuộc gặp gỡ của chúng ta này có kéo dài

lâu không?” Simon nhìn điện thoại, và qua đó cậu

biết giờ đã quá mười rưỡi. “Tôi còn phải về nhà.”

Camille nhấp chút rượu. “Thật sao? Vì sao vậy?”

Vì mẹ tôi đang đợi. Nhưng mà, người phụ này đâu

cần biết điều đó. “Cô phá ngang buổi hẹn hò của

tôi,” cậu nói. “Tôi chỉ muốn biết có chuyện gì quan

trọng tới mức đó.”

“Cậu vẫn sống cùng mẹ, đúng không?” cô ta nói và

đặt cái ly xuống. “Khá là kỳ lạ, đúng không, khi

một ma cà rồng giàu quyền năng lại không chịu rời

nhà sống cùng bầy đàn?”

44

“Vậy cô xen ngang buổi hẹn của tôi để trêu cười

việc tôi sống cùng bố mẹ. Cô không thể làm điều đó

vào một buổi tối nào đó tôi rảnh rang hơn sao? Nói

cho cô khỏi tò mò, là hầu hết các tối khác đó.”

“Tôi không chế giễu cậu, Simon.” Cô ta liếm môi

dưới như thể nếm vị rượu cô ta vừa uống. “Tôi chỉ

muốn biết vì sao cậu không tham gia nhóm của

Raphael.”Đó không phải là nhóm của chính cô sao?

“Tôi có cảm giác cực kỳ mạnh mẽ rằng anh ta không

muốn tôi tham gia cùng,” Simon nói. “Anh ta đã nhấn

mạnh rất rõ rằng anh ta sẽ không động tới tôi nếu

tôi không động tới anh ta. Vì thế tôi chẳng dại gì

mà lao vào hang cọp sất.”

“Thật sao.” Đôi mắt xanh lá của cô ta sáng lên.

“Tôi chưa bao giờ muốn trở thành ma cà rồng,”

45

Simon nói, hơi phân vân vì sao cậu lại nói những

điều này với người phụ nữ xa lạ kia. “ Tôi muốn có

một cuộc đời bình thường. Khi tôi phát hiện ra mình

là một Ma cà rồng Ưa sáng, tôi nghĩ tôi có thể có

nó. Hoặc ít nhất gần như thế. Tôi có thể tới

trường, tôi có thể sống ở nhà, tôi có thể thấy mẹ

và chị gái –”

“Miễn là cậu không ăn uống trước mặt họ,” Camille

nói. “Miễn là cậu che giấu sự khát máu. Cậu chưa

bao giờ uống máu người phải không? Chỉ sử dụng máu

đựng trong túi. Để lâu. Của động vật.” Cô ta nhăn

mũi.

Simon nghĩ tới Jace và vội đẩy ý nghĩ đó sang một

bên. Jace không là con người hoàn toàn. “Không.”

“Rồi cậu sẽ dùng máu người thôi. Và khi dùng rồi,

46

cậu sẽ không thể nào quên.” Cô ta nhoài người tới,

những sợi tóc khẽ lướt trên bàn tay cậu. “Cậu không

thể giấu bản chất mãi được.”

“Có trẻ vị thành niên nào không có đôi lần lừa cha

dối mẹ chứ?” Simon nói. “Mà dù gì, tôi không hiểu

vì sao cô quan tâm tới chuyện đó. Tôi vẫn chưa biết

lí do tôi tới đây.”

Camille hơi đưa người lên trước. Lúc đó, cổ áo cô

ta hơi mở ra. Nếu Simon còn là người, cậu sẽ đỏ

chín mặt. “Cậu sẽ để tôi thấy nó chứ?”

Simon thật sự có thể cảm nhận mắt mình lồi ra.

“Thấy gì?”

Cô ta mỉm cười. “Ấn Ký chứ còn gì nữa, ngốc tử ạ.

Ấn Ký Kẻ Lang Thang.”

Simon há miệng, rồi ngậm lại. Sao cô ta biết chứ?

47

Rất ít người biết về Ấn Ký mà Clary đã vẽ lên cậu

tại Idris. Raphael đã nói bóng gió rằng đó là bí

mật phải mang theo xuồng mồ, và Simon cũng nghĩ về

nó như vậy.

Nhưng đôi mắt của Camille rất xanh và chân thành,

và vì lý do gì đó cậu muốn làm theo lời cô ta.

Có gì đó về cách cô ta nhìn cậu, về tiếng nhạc

trong giọng nói cô ta. Cậu giơ tay và vén tóc sang

bên, để lộ vầng trán tùy cho cô ta xem xét.

Mắt cô ta mở to, môi hé mở. Cô ta chạm nhẹ những

ngón tay lên cổ, như thể tìm kiếm mạch đập không

còn tồn tại ở đó. “Ồ,” cô ta nói. “Cậu thật may

mắn, Simon. Thật may mắn.”

“Đó là một lời nguyền,” cậu nói. “Không phải một

lời chúc phúc. Cô biết thế, đúng không?”

48

Đôi mắt cô ta lóe sáng. “‘Và Cain thưa cùng Ðức

Jehovah rằng: Sự hình phạt tôi nặng quá mang không

nổi. ’ Cậu có mang nổi không, Simon?”

Simon dựa lưng vào ghế, để tóc lại xòa về chỗ cũ.

“Có.”“Nhưng cậu không muốn.” Cô ta đưa ngón tay di

quanh vành ly, đôi mắt vẫn dán vào cậu. “Vậy nếu

tôi có thể cho cậu một thứ để biến lời nguyền thành

lợi thế thì sao?”

Tôi đã nói rồi cô sẽ cho tôi biết lý do cô đưa tôi

đến đây, và cô đã bắt đầu rồi. “Tôi đang nghe.”

“Cậu nhận ra tên tôi khi tôi nói cho cậu biết,”

Camille nói. “Raphael đã nhắc tới tôi, đúng không?”

Giọng cô ta mang âm điệu địa phương, rất nhẹ nên

Simon không nhận ra được của vùng nào.

“Anh ta nói cô là thủ lĩnh ma cà rồng và anh ta

49

chỉ đang thay thế trong khi cô đi vắng. Điều hành

giùm cô như – như một dạng phó thủ lĩnh hay gì đó

đại loại.”

“À.” Cô ta cắn nhẹ môi dưới. “Điều đó thật ra

không đúng lắm. Tôi muốn nói cho cậu nghe sự thật,

Simon ạ. Tôi muốn cho cậu một đề nghị. Nhưng trước

hết tôi muốn nghe cậu nói đã.”

“Và cô muốn nghe gì nào?”

“Rằng những chuyện giữa chúng ta vào tối nay sẽ

mãi là bí mật. Không ai được biết. Không phải cô

bạn tóc đỏ bé nhỏ của cậu, Clary. Cũng chẳng phải

những cô bạn gái dễ thương kia. Không một người nhà

Lightwood nào hết. Không một ai.”

Simon ngồi xuống. “Và nếu tôi không hứa?”

“Thì cậu có thể đi nếu cậu muốn,” cô ta nói.

50

“Nhưng cậu sẽ không biết tôi muốn nói gì với cậu.

Và đó là một sự mất mát khiến cậu phải nuối tiếc.”

“Tôi tò mò rồi đấy,” Simon nói . “Nhưng tôi không

chắc mình có tò mò tới mức đó không.”

Đôi mắt cô ta ánh lên sự ngạc nhiên, hứng thú và

Simon nghĩ trong đó thậm chí còn có một chút tôn

trọng. “Không một điều gì tôi nói với cậu có liên

quan tới họ hết. Nó sẽ không ảnh hưởng tới sự an

toàn hay sức khỏe của họ. Tôi buộc cậu giữ bí mật

là để bảo vệ chính tôi.”

Simon nhìn cô ta một cách nghi hoặc. Cô ta nói

thật sao? Ma cà rồng không giống tiên – những sinh

vật không thể nói dối. Nhưng cậu phải thừa nhận

rằng cậu có tò mò. “Được rồi. Tôi sẽ giữ bí mật cho

cô, trừ khi tôi nghĩ điều cô nói đặt bạn bè tôi

51

vào vòng nguy hiểm. Còn lại đều được.”

Nụ cười của cô ta lạnh băng; cậu biết cô ta không

thích bị người khác nghi ngờ. “Được thôi,” cô ta

nói. “Chắc tôi không có nhiều lựa chọn vì tôi rất

cần cậu giúp.” Cô ta nhoài người tới, một bàn tay

thon dài nghịch ngợm vành ly. “Tới rất gần đây, tôi

vẫn còn lãnh đạo nhóm Manhattan, rất hạnh phúc.

Chúng tôi sống trong những khu phố xinh đẹp tại

những tòa nhà xây thời trước Thế chiến II ở khu

Upper West Side, chứ không phải khu ổ chuột mà

Santiago hiện đang bắt những người của tôi sống.

Santiago – Raphael, như cậu gọi – là phó thủ lĩnh

của tôi. Một trong những ma cà rồng trung thành

nhất – hay đó là điều tôi tưởng. Rồi một đêm tôi

phát hiện ra hắn ta giết người, lôi họ tới cái

52

khách sạn cũ kỹ tại Spanish Harlem và lấy việc uống

máu họ làm vui. Vứt xương họ vào thùng Dumpster ở

ngoài. Làm những trò liều lĩnh ngu ngốc, phá vỡ

Luật Hiệp Ước.” Cô ta nhấp một ngụm rượu. “Khi tôi

hỏi tội hắn, tôi nhận ra hắn đã nói với cả nhóm

rằng tôi là kẻ giết người, kẻ phá luật. Hắn đã

giăng bẫy lừa tôi vào tròng. Hắn muốn giết tôi để

tiếm quyền. Tôi bỏ chạy, chỉ mang theo Walker và

Archer để bảo vệ tôi.”

“Vậy mà suốt thời gian đó anh ta đều nói anh ta

chỉ lãnh đạo thay cho tới khi cô trở về?”

Cô ta nhăn mặt. “Santiago nói dối thành thần rồi.

Hắn ước tôi quay lại chứ – để hắn giết tôi và thật

sự nắm quyền.”

Simon không chắc cô ta muốn nghe gì. Cậu không

53

quen với chuyện nữ giới nhìn cậu bằng đôi mắt ầng

ậng nước, hoặc kể lể câu chuyện cuộc đời họ cho

cậu.“Tôi rất tiếc,” cuối cùng cậu nói.

Cô ta nhún vai, một cái nhún vai đầy tính biểu đạt

khiến cậu tự hỏi liệu cô ta có phải người Pháp

không. “Đó là chuyện quá khứ rồi,” cô ta nói. “Suốt

thời gian đó tôi trốn ở Luân Đôn, tìm kiếm đồng

minh và chờ đợi thời cơ. Sau đó tôi được nghe về

cậu.” Cô ta giơ một bàn tay lên. “Vì đã thề giữ bí

mật nên tôi không thể nói cho cậu vì sao tôi biết.

Nhưng ngay lập tức, tôi nhận ra cậu là người tôi

đang chờ đợi.”

“Tôi ư? Thật sao?”

Cô ta nhoài người tới và chạm vào tay cậu.

“Raphael sợ cậu, Simon ạ, và hắn ta sợ cũng đúng

54

thôi. Cậu và hắn đều là ma cà rồng, nhưng cậu không

thể bị thương hay bị giết; hắn không thể động một

ngón tay tới cậu mà không phải chịu cơn thịnh nộ

của Đức Chúa.”

Im lặng. Simon có thể nghe thấy tiếng rì rì của

những dây đèn Giáng Sinh trên đầu, tiếng nước róc

rách chảy trên đài phun nước bằng đá ở giữa sân,

tiếng ù ù của thành phố. Khi cậu nói, giọng cậu

thật nhẹ nhàng. “Cô nói từ đó.”

“Nói gì, Simon?”

“Từ đó. Cơn thịnh nộ của –” Từ đó cắn và đốt bỏng

miệng cậu, như thường lệ.

“À. Đức Chúa.” Cô ta rút tay lại, nhưng ánh mắt

rất ấm áp. “Loài chúng ta có rất nhiều bí mật, rất

nhiều điều tôi có thể nói với cậu nghe, chỉ cho cậu

55

thấy. Cậu sẽ hiểu ra rằng mình không hề bị nguyền

rủa gì cả.”

“Thưa cô –”

“Cứ gọi tôi là Camille. Cậu phải gọi tôi là

Camille đấy nhé.”

“Tôi vẫn không hiểu cô muốn gì từ tôi.”

“Không sao?” cô ta lắc đầu, và mái tóc vàng rực rỡ

nhảy múa quanh gương mặt. “Tôi muốn cậu về cùng

phe với tôi, Simon. Ủng hộ tôi chống lại Santiago.

Chúng ta sẽ cùng nhau tới cái khách sạn lúc nhúc

chuột của hắn; khi những kẻ theo đuôi hắn thấy cậu

đi cùng tôi, họ sẽ rời bỏ hắn và tới với tôi. Tôi

tin họ trung thành với tôi, nhưng chỉ vì sợ hắn mà

không dám tìm tôi mà thôi. Khi họ thấy chúng ta

cùng nhau, nỗi sợ đó sẽ biến mất, và họ sẽ về phe

56

chúng ta. Con người không thể chiến thắng thần

thánh.”

“Tôi không biết nữa,” Simon nói. “Kinh Thánh có kể

Jacob đã vật nhau với một thiên thần, và anh ta đã

thắng.”

Camille nhướn mày nhìn cậu.

Simon nhún vai. “Tôi theo đạo Do Thái mà.”

“‘Và Jacob đặt tên nơi đó là Peniel: có nghĩa là

tôi đã đối mặt với Chúa.’ Cậu thấy đấy, cậu không

phải người duy nhất thuộc biết về Thánh Kinh của

mình.” Vẻ thù địch của cô ta đã biến mất và cô ta

đang mỉm cười. “Có thể cậu không nhận ra, Ma cà

rồng Ưa sáng ạ, nhưng miễn cậu còn Ấn Ký đó, cậu

chính là cánh tay báo thù của thiên đường. Không ai

có thể chống nổi cậu. Chắc chắn không có một ma cà

57

rồng nào rồi.”

“Cô có sợ tôi không?” Simon hỏi.

Cậu ngay lập tức hối hận vì điều vừa nói. Đôi mắt

xanh lá của cô ta tối lại như đám mây dông. “Tôi,

sợ cậu?” Rồi cô ta lấy lại bình tĩnh, gương mặt

bình thản, biểu cảm tươi sáng trở lại. “Tất nhiên

là không rồi,” cô ta nói. “Cậu rất thông minh. Và

tôi tin cậu sẽ nhìn ra sự thông thái trong đề nghị

của tôi và về phe tôi.”

“Và chính xác thì đề nghị của cô là gì? Ý tôi là,

tôi hiểu phần chúng ta sẽ đối mặt với Raphael,

nhưng sau đó thì sao? Tôi không thật sự ghét

Raphael, hay muốn loại bỏ anh ta. Anh ta chẳng động

tới tôi. Thế là đủ cho tôi rồi.”

Cô ta đan tay đặt lên bàn. Cô ta đeo một chiếc

58

nhẫn bạc mặt đá xanh trên ngón giữa bên trái, bên

trên lớp găng tay. “Cậu nghĩ đó là điều cậu muốn,

Simon. Cậu nghĩ Raphael đang gia ân cho cậu khi để

yên cho cậu. Thực tế hắn ta đang đầy đọa cậu. Giờ

cậu nghĩ cậu không cần đến những ma cà rồng khác.

Cậu chỉ cần những người bạn cậu có – thuộc giống

nòi Thợ Săn Bóng Tối. Cậu giấu máu trong phòng và

lừa dối mẹ cậu về bản chất thật của cậu.”

“Sao cô...”

Cô ta nói tiếp, kệ cậu. “Nhưng rồi mười năm nữa,

khi cậu đáng ra phải hai mươi sáu tuổi thì sao? Rồi

hai mươi năm nữa thì sao? Ba mươi năm thì sao đây?

Cậu nghĩ là chẳng ai nhận thấy rằng họ già đi và

thay đổi, còn cậu thì không ư?”

Simon không nói gì. Cậu không muốn thừa nhận rằng

59

cậu chưa nghĩ xa tới vậy. Rằng cậu không muốn nghĩ

xa tới vậy.

“Raphael đã dạy cậu rằng các ma cà rồng khác là

thuốc độc với cậu. Nhưng chuyện không cần đi theo

hướng đó. Thời gian sống của cậu là vĩnh viễn, và

vĩnh viễn là một quãng thời gian rất dài, chẳng ai

có thể qua nổi khoảng thời gian đó khi không có

những kẻ giống mình ở bên. Những người hiểu cậu.

Cậu có thể kết bạn với Thợ Săn Bóng Tối, nhưng cậu

không thể là một trong số họ. Cậu sẽ luôn luôn là

người khác và người ngoài. Nhưng cậu là một trong

số chúng tôi.” Khi cô ta nhoài người tới, ánh sáng

trắng lấp lánh trên chiếc nhẫn của cô ta khiến

Simon nhức mắt. “Chúng tôi có hàng ngàn năm kiến

thức có thể chia sẻ cùng cậu, Simon ạ. Cậu có thể

60

học cách giữ bí mật; học cách ăn và uống, học cách

gọi tên Chúa. Raphael thật độc ác khi giấu không

cho cậu biết những thông tin đó và thậm chí còn để

cậu tin rằng nó không tồn tại. Nhưng chúng có tồn

tại chứ. Tôi có thể giúp cậu.”

“Nếu tôi giúp cô trước.”

Cô ta mỉm cười, khoe hàm răng trắng và sắc nhọn.

“Chúng ta giúp lẫn nhau.”

Simon dựa người vào ghế. Cái ghế sắt thật cứng và

không thoải mái, và đột nhiên cậu thấy mệt mỏi.

Nhìn xuống, cậu thấy những mạch máu đang đen lại,

lan rộng khắp mu bàn tay. Cậu cần uống máu. Cậu cần

nói chuyện với Clary. Cậu cần thời gian suy nghĩ.

“Có thể tôi làm cậu choáng váng,” cô ta nói. “Tôi

biết. Đây là một vấn đề lớn không thể quyết định

61

ngay một sớm một chiều. Tôi sẽ rất vui được cho cậu

bao nhiêu thời gian cậu muốn để suy nghĩ về vấn đề

này và về tôi. Nhưng chúng ta không có quá nhiều

thời gian đâu, Simon. Khi tôi còn ở thành phố này,

tôi luôn bị Raphael và những kẻ đồng lõa đe dọa.”

“Những kẻ đồng lõa?” Dù cho mọi chuyện đã xảy ra,

Simon vẫn nhe răng cười chút xíu.

Camille có vẻ lúng búng. “Sao?”

“À, chỉ là... “kẻ đồng lõa’ nghe giống giống với

‘kẻ xấu’ và ‘tay sai’.” Cô ta nhìn cậu ra chiều

không hiểu. Simon thở dài. “Xin lỗi. Chắc cô không

xem nhiều phim xã hội đen như tôi.”

Camille hơi nhíu mày, một đường hằn sâu xuất hiện

giữa hai lông mày. “Tôi nghe nói cậu có phần hơi

đặc biệt. Có lẽ là do tôi không quen nhiều ma cà

62

rồng thuộc thế hệ cậu lắm. Nhưng tôi cảm thấy có lẽ

sẽ tốt cho tôi khi được ở gần những thành viên...

còn rất trẻ.”

“Luồng gió mới,” Simon nói.

Nghe tới đó, cô ta mỉm cười. “Vậy cậu sẵn sàng rồi

chứ? Đã chấp nhận lời đề nghị của tôi? Bắt đầu hợp

tác chứ?”

Simon ngước nhìn bầu trời. Những luồng ánh sáng

trắng dường như đã làm lu mờ các vì sao. “Nghe

này,” cậu nói, “tôi rất cảm ơn lời đề nghị của cô.

Thật đấy.” Chết tiệt, cậu nghĩ. Phải có cách khác

nói ra điều này sao cho nghe không giống cậu đang

từ chối một cô gái vừa mở miệng mời cậu tới vũ hội

trường học chứ!... Mình thật sự, thật sự hãnh diện

vì bạn đã mời mình, nhưng... Camille, giống như

63

Raphael, luôn nói chuyện một cách khô khan, khách

sáo, như thể cô ta đang ở trong một câu chuyện thần

tiên vậy. Có lẽ cậu có thể thử cách đó. Cậu nói,

“Tôi cần thời gian để cân nhắc. Tôi chắc là cô hiểu

thôi.”

Rất lịch thiệp, cô ta mỉm cười, để lộ những đầu

răng nanh. “Năm ngày,” cô ta nói. “Và không lâu

hơn.” Cô ta giơ bàn tay đeo găng ra. Có gì đó sáng

lấp lánh trong lòng bàn tay cô ta. Đó là một cái lọ

nhỏ, bằng cỡ một mẫu thử nước hoa, chỉ có điều nó

đựng một chất bột màu nâu xỉn. “Bụi nghĩa địa,” cô

ta giải thích. “Đập vỡ cái lọ này và tôi sẽ biết

cậu cần gặp tôi. Nếu cậu không gọi tôi trong vòng

năm ngày, tôi sẽ cho Walker tới nghe câu trả lời từ

cậu.”

64

Simon cầm cái lọ và nhét vào túi áo. “Và nếu câu

trả lời là không?”

“Vậy tôi sẽ rất thất vọng. Nhưng chúng ta vẫn là

bạn.” Cô ta gạt cái ly rượu sang bên. “Tạm biệt,

Simon.”Simon đứng dậy. Cái ghế bằng kim loại kêu

cót két ầm ĩ tiếng như thể bị kéo lê trên đất. Cậu

có cảm giác nên nói gì đó, nhưng cậu không biết nên

nói gì. Dù, trong một lúc cậu có cảm giác như bị

đuổi. Cậu quyết định thà hành xử giống một ma cà

rồng hiện đại dở dở hâm hâm không biết quy tắc hơn

là phải tiếp tục cuộc nói chuyện này. Cậu rời đi mà

không nói thêm một lời gì nữa.

Trên đường trở qua nhà hàng, cậu đi qua Walker và

Archer, hai kẻ đang đứng cạnh quầy bar lớn, đôi vai

dồ lên dưới cái áo khoác dài. Cậu cảm thấy sức

65

nặng của ánh mắt họ lên cậu khi cậu đi qua và vẫy

mấy ngón tay với họ, vừa như thân thiện chào tạm

biệt vừa như trêu ngươi họ. Archer nhe răng – hàm

răng đều đặn của loài người – và đi lướt qua cậu để

về khu vườn với Walker bám sát gót. Simon quan sát

họ ngồi xuống ghế đối diện Camille; cô ta không

buồn ngước mắt nhìn, nhưng những luồng ánh sáng

trắng chiếu sáng khu vườn đột nhiên tắt ngóm –

không phải từng cái mà là đồng loạt – để lại Simon

nhìn chăm chăm vào trong bóng tối đặc quánh như thể

chính ánh sao cũng chẳng còn tồn tại. Khi những

người phục vụ nhận ra và vội ra ngoài bật đèn để

khu vườn lại tràn ngập ánh sáng trắng, Camille và

những kẻ tay chân của cô ta đã biến mất.

Simon mở cửa nhà mình – một trong nhiều ngôi nhà

66

xây bằng gạch giống nhau y chang chạy dọc theo

tuyến phố Brooklyn – và để hơi he hé, cẩn thận nghe

ngóng.

Cậu đã nói với mẹ rằng tối nay cậu cần đi luyện

tập cùng Eric và các thành viên khác trong ban nhạc

để chuẩn bị cho buổi trình diễn vào thứ bảy.

Từng có thời cậu nói gì mẹ đều tin, và chắc có lẽ

sẽ vẫn như vậy; bà Elaine Lewis luôn luôn là bậc

phụ huynh dễ tính, chưa bao giờ ra lệnh giới nghiêm

đối với Simon hay với chị gái cậu và cũng chẳng

bao giờ bắt họ về nhà sớm sau những lớp học thêm

buổi tối. Simon đã quen với việc đi chơi cùng

Clary, sau đó tự mình dùng khóa mở cửa vào nhà, và

ngả lưng trên giường vào lúc hai giờ sáng, vậy mà

mẹ cậu chẳng phàn nàn gì nhiều.

67

Nhưng giờ mọi chuyện đã đổi khác. Cậu đã ở Idris,

quê hương của Thợ Săn Bóng Tối, trong gần hai tuần.

Cậu đã biến mất khỏi nhà mà chẳng có cơ hội để

giải thích hay xin lỗi. Pháp sư Magnus Bane đã vào

nhà và sử dụng thần chú trí nhớ lên mẹ Simon để bà

không còn nhớ gì về việc cậu con trai đã mất tích.

Hay ít nhất, không phải nhớ thật sự. Thái độ của mẹ

thay đổi. Giờ mẹ đa nghi, luôn lượn lờ quanh, luôn

theo dõi cậu, lúc nào cũng bắt cậu ở nhà. Lần cuối

cùng cậu về nhà sau buổi hẹn với Maia, cậu đã thấy

mẹ ngồi ở tiền phòng, trên chiếc ghế đối diện với

cửa, tay khoanh trước ngực và vẻ mặt cực kỳ giận

dữ.

Đêm đó, cậu nghe thấy tiếng thở của mẹ trước khi

nhìn thấy mẹ. Giờ cậu chỉ nghe thấy âm thanh nho

68

nhỏ của tiếng TV vọng ra từ phòng khách. Chắc mẹ

vẫn thức đợi cậu, có lẽ đang xem một trong những bộ

phim dài tập lấy bối cảnh trong bệnh viện mà mẹ

yêu thích. Simon đóng cửa lại và dựa người vào cửa,

cố lấy sức mà nói dối.

Tránh ăn uống cùng gia đình thật sự khó. Cũng may

là mẹ cậu đi làm sớm và về nhà muộn, còn Rebecca,

hiện giờ đang theo đại học tại New Jersey và chỉ

thi thoảng về để giặt quần áo nên chẳng ở gần cậu

nhiều để nhận ra sự kì quặc. Mẹ cậu thường xuyên đi

làm vào lúc cậu thức giấc, và bữa sáng cùng bữa

trưa mẹ ân cần chuẩn bị cho cậu luôn đặt trên bàn

bếp. Cậu sẽ đổ chúng vào thùng rác trên đường đi

học. Bữa tối thì khó hơn. Trong những tối mẹ ở nhà,

cậu phải chọc chọc thức ăn, ra vẻ không đói hoặc

69

cậu muốn mang thức ăn lên phòng để ăn trong lúc

học. Một hai lần cậu buộc phải nuốt đồ ăn xuống,

chỉ để làm vui lòng mẹ, và dành hàng giờ trong

phòng tắm, mồ hôi lạnh túa đầm đìa và nôn ọe cho

bằng hết.

Cậu ghét phải nói dối mẹ. Ngày trước cậu luôn thấy

có chút tiếc nuối cho Clary vì mối quan hệ quá

khăng khít giữa bạn mình và cô Jocelyn, người phụ

huynh bảo bọc con cái quá mức nhất mà cậu biết. Giờ

hoàn cảnh đã đổi khác. Từ ngày Valentine chết, cô

Jocelyn đã thoải mái hơn và ở một vài điểm cô đã

trở thành một người mẹ bình thường. Trong khi đó,

mỗi khi Simon ở nhà, cậu có thể cảm nhận sức nặng

từ ánh mắt của mẹ lên cậu, cứ như một lời buộc tội

tới bất cứ nơi nào cậu đặt chân tới.

70

Gồng vai, cậu treo cặp lên cửa và đi vào phòng

khách để chuẩn bị nghe bài ca bất hủ. TV vẫn bật và

đang trong khung giờ thời sự. Biên tập viên đài

địa phương đang kể một câu chuyện thú vị – cơ quan

chức năng tìm thấy một đứa bé bị bỏ rơi tại một con

hẻm đằng sau một khách sạn ở khu phía nam

Manhattan. Simon ngạc nhiên; mẹ cậu ghét nghe thời

sự. Mẹ thấy nó quá làm con người ta rầu thối ruột.

Cậu liếc nhìn ghế dài, và sự ngạc nhiên giảm dần.

Mẹ đang ngủ, cặp kính đặt trên bàn, chiếc cốc đã

vơi hết nửa đặt trên sàn. Simon có thể ngửi thấy nó

từ đây – có lẽ là whiskey. Cậu thấy sốc. Mẹ cậu

chẳng bao giờ uống rượu.

Simon vào phòng ngủ của mẹ và mang ra một cái chăn

len. Mẹ vẫn ngủ, nhịp thở chậm rãi và đều đặn.

71

Elaine Lewis là một người phụ nữ nhỏ nhắn với những

lọn tóc đen xoăn điểm sợi bạc nhưng không chịu

nhuộm. Mẹ làm việc ban ngày cho một tổ chức phi lợi

nhuận vì môi trường, và toàn bộ quần áo của mẹ đều

có in hình những loài động vật khác nhau. Giờ mẹ

đang mặc chiếc váy in hình cá heo và những con

sóng, đeo ghim cài áo hình từng có thời là một con

cá sống, giờ nằm trong nhựa thông. Đôi mắt được phủ

sơn của nó đang nhìn Simon với vẻ buộc tội khi cậu

cúi xuống và trùm chăn quanh vai mẹ.

Mẹ nhúc nhích người, chập chờn thức giấc, quay đầu

về hướng kia. “Simon,” mẹ thì thào gọi. “Simon,

con ở đâu?”

Giật mình, Simon buông rơi cái chăn và đứng thẳng.

Có lẽ cậu nên đánh thức mẹ, để mẹ biết rằng cậu

72

vẫn ổn. Nhưng rồi có quá nhiều câu hỏi cậu không

muốn trả lời và vẻ tổn thương trên gương mặt mẹ

khiến cậu không chịu nổi. Cậu quay người và đi vào

phòng ngủ.

Cậu chui vào chăn và nắm lấy cái điện thoại ở tủ

đầu giường, định nhấn số Clary trước khi kịp suy

nghĩ. Cậu ngừng lại một lúc, lắng nghe tiếng bíp

bíp đều đặn. Cậu không thể nói cho cô nghe về

Camille; cậu đã hứa giữ bí mật về lời đề nghị của ả

ma cà rồng, và dù cậu không cảm thấy mình tôn

trọng Camille nhiều nhặn gì cho cam nhưng qua mấy

tháng vừa rồi cậu đã học được rằng: không nên phản

bội lời hứa với những sinh vật siêu nhiên. Nhưng,

cậu vẫn muốn nghe giọng Clary như cậu luôn muốn mỗi

khi gặp khó khăn. Và thường, cái khó khăn đó luôn

73

luôn là về câu chuyện tình yêu tình báo của cậu;

vấn đề đó luôn khiến cô hứng thú mãi không chán.

Lăn mình trên giường, cậu úp gối lên đầu và nhấn số

Clary.

74

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát