Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Thuật Dùng Người Qua Các Triều Đại Trung Hoa

THUẬT DÙNG NGƯỜI QUA CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG HOA

CHƯƠNG I : CÁCH DÙNG NGƯỜI TỪ THỜI KỲ THẦN THOẠI

TRUYỀN THUYẾT ĐẾN HẠ THƯƠNG TÂY CHU

PHẦN THỨ NHẤT

Cách dùng người thời kỳ thần thoại truyền thuyết

Thời cổ đại Trung quốc giống như cổ đại Ấn Độ, Hy

Lạp, Ai Cập, có một thời kỳ thần thoại truyền

thuyết. Thần thoại có nghĩa là: “Một hoàn cảnh

thiên nhiên hoặc hình thái xã hội trong ảo tưởng

của mọi người đã được tô vẽ một cách tự nhiên”. Còn

truyền thuyết thì có bóng dáng của lịch sử, con

người đã thông qua ảo tưởng tô vẽ thêm lịch sử,

khiến cho một số câu chuyện sinh động lên như

khuyển nghĩa, nữ hoạ, thần nông, Hoàng đế... và

truyền nhau cho đến ngày nay.

1

Thuật dùng người trong thần thoại truyền thuyết,

Khổng Tử, trong “Lễ Ký – Đại đồng” đã viết rằng:

“Đại đạo chi hành dã dã, thiên hạ vi công” “Tuyển

hiền dư năng, giảng tín tu mục”: có nghĩa là lựa

chọn tài năng và đó là đặc sắc cơ bản của thuật

dùng người trong thời kỳ này.

Bởi lẽ lúc đó sức sản xuất thấp, không có phân

biệt giai cấp, không có địa vị đặc quyền, nên việc

lựa chọn nhân viên công quyền là để phục vụ dân

chúng. Như trong “Thương quân thư” có viết: “Hiếu,

Vũ chi vị thiên hạ dã, phi tư thiên hạ chi lợi dã,

vi thiên hạ vị thiên hạ dã”. (Hiếu Vũ trị vì thiên

hạ không vì lợi riêng mà vì mọi người) Lại như

trong cuốn “Lã thị Xuân Thu cũng có nói: “Thiên hạ

phi nhất nhân chi thiên hạ dã, thiên hạ chi thiên

2

hạ dã”. Lúc đó điều kiện tuyển chọn không phải vì

tài phú, lại càng không phải vì quyền thế nữa. Duy

nhất chỉ là “hiền”, “năng”, có nghĩa là phẩm đức và

năng lực làm việc, nên thậm chí thủ lĩnh bộ lạc

cũng lấy tuyển chọn hiền và năng là một nhiệm vụ

quan trọng của mình.

TRUYỀN THUYẾT DÙNG NGƯỜI CỦA HOÀNG ĐẾ

Hoàng đế là nhân vật hiển hách nhất trong truyền

thuyết cổ đại Trung quốc. Trong nhiều truyền thuyết

đều có những ghi chép về các Hoàng đế. Như trong

“Sơn hải kinh, Đại hoang Bắc Kinh” Hoàng đế được

trống thần “Đánh lên như sấm rền, âm vang hàng vạn

dặm để uy vũ thiên hạ”. Điều làm mọi người thấy cảm

động là Hoàng đế phát minh ra những phúc lợi vì

dân sinh như cách trồng lúa, may mặc v.v... rõ ràng

3

là một mình Hoàng đế không thể làm được tất cả mà

mấu chốt là thuật dùng người.

Vậy thì về thuật dùng người của Hoàng đế có những

đặc điểm gì? Theo văn hiến ghi lại hầu như có ba

đặc điểm:

Chăm lo cầu tài

Muốn làm nên sự nghiệp thì phải biết dùng người

tài, mà tiền đề của nó là chăm lo cầu tài. Hoàng đế

về việc cầu tài phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng và kỳ

công chọn lựa. Trong “Sử Ký Ngũ đế bản kỷ” có dẫn

ra những ghi chép Hoàng đế cầu phong đài rất sinh

động: “Hoàng đế nằm mơ thấy gió to quét sạch bụi

bặm trần gian, lại mơ thấy đuổi dê từng đàn, bèn

than thở: “Ta tìm đâu trên thế gian này người họ

Phong và họ Lực để chăm lo thiên hạ?”. Vì thế Hoàng

4

đế đã theo giấc mơ đi tìm người tài. Thế rồi sau

đó, ông ta tìm thấy “nhị hiền” phong làm danh

tướng.

b. Sử dụng sở trường của nhân tài

Làm sao phát huy được tác dụng của hiền tài nên

Hoàng đế chú trọng sở trường của mỗi người. Nghe

nói Hoàng đế có sáu vị Tể tướng đó là: Khởi Ưu, Đại

Thường, Xỉ Long, Chúc Dung, Đại Phong và Hậu Thổ.

Hoàng đế đã sắp xếp theo tài năng của từng người:

“Khởi Ưu thông thiên văn nên giao cho theo dõi thời

tiết biến động. Đại Thường thông hiểu địa lý thì

giao cho trông nom sản xuất và quản lý kho tàng.

Còn lại bốn vị khác theo sở trường của mỗi người

cho làm Tư không, Tư đồ, Tư mã, và Ngục quan, mỗi

người một việc”.

5

c. Lễ hiền hạ sĩ

Hoàng đế đối với những chí sĩ hiền tài đức trọng

thường có thái độ khiêm tốn thành thực, hỏi ý kiến

họ về đạo lý chăm lo thần dân và xử thế. Truyền

thuyết kể lại rằng, Quảng Thành Tử là một con người

uyên bác về nhân sinh triết học. Hoàng đế là thiên

tử của một nước, song lần thứ nhất hỏi Quảng Thành

Tử về việc cai trị thần dân thì bị Quảng Thành Tử

trả lời vô lễ. Hoàng đế đã không trách cứ, không

ngần ngại, phiền phức. Trái lại, Hoàng đế một mực

kính cẩn hỏi về tu thân dưỡng sinh và cuối cùng đã

cảm hoá được Quảng Thành Tử, một vị cao nhân.

Hoàng đế tuy là vị thiên tử trong truyền thuyết

thần thoại, cách nay đã năm ngàn năm rồi. Thế nhưng

cách cầu hiền, tinh thần lễ hiền và dùng hiền của

6

ông vẫn là tấm gương cho hậu thế.

2. KHÁI QUÁT VỀ THUẬT DÙNG NGƯỜI CỦA NGHIÊU – VŨ

Nghiêu – Vũ còn gọi là Đường Nghiêu và Lư Vũ, là

hai Đế vương hiền minh. Thuật dùng người của họ có

cùng một đặc điểm là thực tâm thực hiện “Thiền

nhượng chế”(*) và là câu chuyện đẹp được ngợi ca

mấy trăm năm nay.

Theo “Sử ký, Ngũ đế bản kỷ” ghi chép, khi vua

Nghiêu gần trăm tuổi, cùng quần thần thương nghị:

“Sau này ai có thể thay Trẫm trị vì?”. Các đại thần

đồng thanh đáp: “Thưa Hoàng đế, con trai của

Người, Đan Chu thông minh giỏi giang có thể kế

thừa”. Vua Nghiêu nói: “Chà, đứa con này của ta

phẩm đức không tốt, không thể dùng được”. Quần hào

lại đề cử Cộng Công, họ nói: “ Cộng Công có nhiều

7

công lao, xin Hoàng đế xét”. Vua Nghiêu đáp: “Cộng

Công làm được việc song tâm địa bất chính nên không

dùng”. Ông cảm động nói với Tứ Nhạc (**) lúc đó:

“Trẫm đã trị vì bảy mươi năm, giờ đây già yếu rồi,

các người có ai thay Trẫm không?” Tứ Nhạc từ chối

nói là vô đức vô tài, nên không ai dám nhận. Do đó,

vua Nghiêu đã sai họ đi chọn lựa người hiền tài

trong dân. Tứ Nhạc mới tiến cử Lư Vũ, thưa rằng:

các em trai của ông rất kiêu căng, song Lư Vũ lại

hiếu thân nhường đệ, giữ gìn gia đình êm ấm là một

chí sĩ có tài có đức. Vua Nghiêu cho thử thách một

thời gian rồi chọn dùng Lư Vũ.

Thuật dùng người của vua Nghiêu có ba điểm để hậu

nhân suy nghĩ và chú ý:

- Dùng hiền, không dùng thân cận

8

Tư Mã Thiên bình luận về vua Nghiêu có viết:

“Nghiêu biết rằng con trai không trị vì thiên hạ

được, nên trao quyền cho Lư Vũ. Lư Vũ nắm quyền trị

vì, thiên hạ được lợi, Hoàng tử Đan Chu thiệt

thòi. Nếu trao quyền cho Đan Chu thì thiên hạ thiệt

thòi, mà Đan Chu thì được lợi. Vua Nghiêu đã viết:

“Chung bất dĩ thiên hạ chi bệnh nhĩ lợi nhất nhân”

(không chỉ vì một người mà hại cho thiên hạ). Rõ

ràng không vì con trai mình được lợi mà thiên hạ

chịu khổ. Đó thực là một phẩm chất cao thượng xiết

bao!

- Thử dùng trước nhiệm dụng sau

Tương truyền, vua Nghiêu khi dùng người không chỉ

nghe tiến cử, phải qua thử thách đủ tài mới nhiệm

dùng. Khi tiến cử Cộng Công, vua Nghiêu tuy không

9

chấp nhận, song vẫn cho làm Công sư, thử thách một

thời gian quả nhiên không được. Còn đối với Vũ, vua

Nghiêu vẫn kiên trì thử thách. Vũ giúp vua Nghiêu

hai mươi năm rồi thay vua chấp chính tám năm, khi

vua băng hà mới lên ngôi kế vị.

- Khiêm tốn thỉnh giáo người tài

Vua Nghiêu ngoài việc bổ nhiệm người hiền, còn

thỉnh giáo hiền nhân không quan chức. Một mặt vua

bái các vị đức trọng tài cao làm thầy. Mặt khác,

vua còn lập ra những nơi “Dục luyện chi cổ” để dân

chúng đánh trống tiến cử hay “thẩm chất chi vấn” để

nghe ý kiến cấp dưới.

Vũ sau khi thay Nghiêu trị vì thiên hạ cũng lựa

chọn nhân tài như thời trước, bổ nhiệm một loạt

người tài trẻ tuổi. “Luận ngữ Thái Bạch” có nói:

10

“Vũ có năm nhân tài trị vì thiên hạ”. Trong “Quản

từ Pháp pháp” có nói: “Vũ dùng Ngu, Khiết, Tảo Đào,

Hậu Lăng làm quan, bốn sĩ giả đó là nhân tài trong

thiên hạ”. Trong: “Sử ký, Ngũ đế bản kỷ” thì nói:

“Vũ đã sử dụng hai mươi hai đại thần của Vua Nghiêu

để họ lại lập nên công trạng. Do vậy, mà Khổng Tử

đã ca ngợi thuật dùng người: “Nhân tài khó tìm, có

đúng vậy không? Thời Đường Nghiêu, Lư Vũ, có lẽ đến

thời Vũ thì nhân tài mới được dùng nhiều nhất”.

Đặc điểm lớn nhất của Vũ là dùng người vì việc

công. Tương truyền câu chuyện: “Giết Tôn dùng Ngu”.

Thời vua Nghiêu, lũ lụt xảy ra, nên vua Nghiêu đã

giao Tôn phụ trách trị thuỷ. Tôn đã dùng cách ngăn

nước lại nhưng ngày một xấu đi. Vũ lên ngôi theo

pháp luật phán giết Tôn. Sau khi Tôn chết, Vũ lại

11

dùng con của Tôn là Ngu để trị thuỷ. Ngu rút ra bài

học từ cha, sửa cách ngăn nước thành dẫn nước, nên

đã thành công, vì vậy Vũ đã cho Ngu làm người kế

vị. Mọi người đã ca ngợi Vũ là chí công vô tư. Vũ

có chín người con trai song lại chọn Ngu là người

ngoài, rõ ràng là chí công (Lã thị Xuân Thu). Mọi

người cũng tiến cử Thương Quân – con trai Vũ, song

ông cho rằng con trai không bằng Ngu nên không được

chọn. Trong “Tuân Tử, Thành Tương” viết: “Giết cha

lại dùng con, nếu không phải là người đại công,

đại đức thì không thể làm như vậy”.

Một đặc điểm nữa của thuật dùng người, Hoàng đế Vũ

đã dùng cách tiếp thụ ảnh hưởng tốt đẹp của người

khác để bổ sung những khiếm khuyết của mình, và lấy

phẩm chất tốt đẹp người khác làm mỹ đức. Từ trồng

12

trọt, nung gốm, đánh cá cho đến việc chọn người lên

ngôi vua đều tiếp thu ý hay của dân chúng. Mỗi khi

biết được cao kiến của người khác liền học ngay,

cứ như dòng lũ vỡ đê, không sao ngăn được.

Càng quý hơn là việc dùng người của Vũ đã trở

thành định chế. Trong “Sử ký. Ngũ đế bản kỷ” có ghi

lại Vũ khi dùng hai mươi hai hiền nhân đã căn dặn

họ: “Hai mươi hai vị mỗi vị một chức vụ hãy thuận

ứng thời thế, làm việc theo ý trời”. Đồng thời định

ra chế độ cứ mỗi ba năm lại thi lại một lần, và

khảo thí ba lần mới quyết định thăng giáng, kết hợp

với giám sát của dân chúng.

Tăng cường khảo thí và sử dụng quan lại sau này có

lưu truyền: “Tam đối khảo thí, tam khảo xuất bộ

hàm minh” (Ba lần sát hạch, ba lần tìm ra người

13

tài).Đó là một phát minh lớn về chế độ nhân sự

trong lịch sử Trung Hoa.

PHẦN THỨ HAI

Cách dùng người thời Hạ Thương

Trước công nguyên hai ngàn một trăm năm, Lịch sử

Trung Hoa bắt đầu đi vào một xã hội giai cấp đầu

tiên – Xã hội nô lệ.

Từ xã hội nguyên thuỷ lên xã hội nô lệ phải nói

rằng đó là một bước tiến bộ lớn. Một mặt là nền

kinh tế xã hội phát triển do sự phân công xã hội

đại quy mô. Nhất là việc sử dụng rộng rãi đồ đồng

nên đã làm cho nông nghiệp, thủ công nghiệp và chăn

nuôi đều phát triển mạnh. Mặt khác địa vị của nô

lệ cũng được cải thiện.

Thế nhưng, xã hội nô lệ thực chất vẫn được xây

14

dựng trên cơ sở giai cấp đối lập, nền chuyên chính

nô lệ - chủ quý tộc rất tàn khốc và dã man. Chủ nô

lệ biến nô lệ thành công cụ biết nói, tuỳ ý đánh

đập, mua bán và giết hại. Chủ nô lệ khi sống áp bức

nô lệ, khi chết còn chọn nô lệ chôn theo, ít thì

mấy người, nhiều thì mấy chục, nhiều nhất có thể

tới mấy trăm người. Sự áp bức trầm trọng đối với nô

lệ đã gây ra sự phản kháng dũng cảm của nô lệ. Như

thời Hạ Kiệt “Võ thương bách tính, bách tính phất

khảm” (giết hại dân chúng, dân chúng chống lại).

Cùng với số lượng nô lệ tăng lên và cuộc đấu tranh

gay gắt, cơ quan bạo lực của nhà nước áp bức giai

cấp nô lệ cũng xuất hiện.

Nhà nước ra đời, thuật dùng người là một hoạt động

quan trọng xây dựng và củng cố chính quyền của chủ

15

nô lệ quý tộc Hạ Thương. Chủ quý tộc vì muốn trấn

áp nô lệ, củng cố sự thống trị của mình, không

những lập ra nhà tù, toà án, quân đội mà còn có cả

một tập đoàn quan lại vững mạnh. Như “Hạ hậu thị

quan bạch” có nghĩa là tập đoàn quan lại, tất nhiên

sẽ liên quan đến việc dùng người.

Thời kỳ Hạ Thương, thuật dùng người? Có hai đặc

điểm quan trọng sau:

Thứ nhất là nguyên tắc tổ chức quốc gia, sản sinh

tư tưởng Tông pháp và “tân quý hợp nhất”. Tông pháp

có nghĩa là lấy gia tộc làm trung tâm, theo quan

hệ huyết thống xa gần để phân biệt thân sơ. Tư

tưởng Tông pháp phản ảnh vào thuật dùng người là

chế độ kế thừa Vương vị “phụ tử tử kế “ (cha chết

con thay). “Huynh chung đệ cập” (Anh chết em thay).

16

Sự khác nhau giữa hai triều đại Hạ Thương ở chỗ:

thời Hạ vương vị kế thừa lấy chế độ phụ tử tương

truyền là chính. Còn thời Thương lại lấy chế độ

huynh đệ tương truyền. Loại tư tưởng này cùng với

việc sản sinh chế độ là kết quả tất nhiên của giai

cấp xã hội thời bấy giờ.

Thuật dùng người thời Hạ Thương còn một đặc điểm

nữa là, tư tưởng “Tuyển hiền dư năng” lưu truyền

trong xã hội nguyên thuỷ vẫn được đề xướng. Tiến cử

người hiền, dùng người hiền là sách lược luôn luôn

được sử dụng. Nổi tiếng nhất là việc Thành Thương

dùng Y Doãn, Vũ Đinh.

Ngay thời kỳ cuối Thương cũng có nhiều người hiền

được trọng dụng.

17

ĐÁNH GIÁ LỊCH SỬ VỀ “HẠ KHẢI TRUYỀN TỬ”

Thuật dùng người của Hạ Khải khác với thời Nghiêu

Thuấn, có một sự thay đổi mang tính lịch sử, mở ra

một thời đại lịch sử mới.

Thời cuối nhà Khải cũng muốn tiếp tục “Chế độ

nhường ngôi” của đời trước, nên nhà Khải đã chọn

Tảo Đào làm người kế thừa, nhưng khi sắp tiếp nhận

ngai vị thì Tảo Đào chết. Nhà Khải sinh thời, rất

lưu tâm đến việc chọn người tài. Ông thường bàn bạc

việc dùng người với Tảo Đào. Tảo Đào cho rằng mấu

chốt là hiểu dân: “Có biết dân thì mới an dân”. Còn

vua Ngu thì cho rằng người chọn nhân tài phải có

đầu óc sáng suốt.

Việc truyền ngôi của nhà Khải, trên thực tế đã phá

vỡ truyền thống “nhường ngôi”. Có một cách nói như

18

sau: Khải có một người kế thừa khác là Bá Ích,

nhưng không cho ông này làm việc gì cả. Do Bá Ích

không có dịp rèn luyện nên tất nhiên là không có uy

tín. Ngược lại, Khải ngầm lo chuẩn bị thế lực cho

con trai mình là Khởi. Khi Khải chết đi, Bá Ích đã

theo cách của Nghiêu Thuấn, nhường ngôi cho Khởi.

Khởi cũng không hồi nhượng, chư hầu cũng không dám

phản đối. Khi Bá Ích phát hiện bị lừa, phản kháng

lại liền bị giết hại. Một số bộ lạc đứng lên phất

cờ chống lại cũng bị Khởi trấn áp, vì thế mới hình

thành cục diện “Hạ truyền tử, gia thiên hạ”. Sau

khi Khởi mất thì con là Thái Khang kế vị, ít lâu

sau lại mất ngôi vì các thủ lĩnh bộ lạc tranh ngôi.

Sử sách gọi là: “Thiếu Khang trung hưng”, từ đó

vương vị tư hữu được công nhận hợp pháp, vương vị

19

thế tập được chính thức xác lập. (Trải qua mấy chục

năm, cháu bốn đời là Thiếu Khang mới giành lại

ngôi Vua).

Từ “Nhường ngôi” cho đến “Truyền tử” là một thay

đổi lớn nhất trong lịch sử Trung Hoa. Loại biến

cách này là kết quả tất yếu của sự phát triển sản

xuất. Xã hội nguyên thuỷ thị tộc xây dựng trên cơ

sở nhỏ bé và sức sản xuất thấp kém. Các Đế vương

lúc đó như Đường Nghiêu mặc áo da thú, ăn gạo thô,

ở lều cỏ và thực tế là nô bộc của dân chúng. Nên

lúc đó không cần thiết phải theo đuổi quyền thế và

địa vị.

Mãi đến cuối đời Khải, sức sản xuất đã phát triển

mạnh, như đúc cửu đỉnh, trồng ngũ cốc, mọi người

theo đuổi tài phú và quyền lực là điều tất nhiên.

20

Do đó, “Hạ truyền tử, gia thiên hạ” bắt đầu chế độ

xã hội nô lệ ở Trung Hoa. Một tiến bộ lớn hợp với

trào lưu thời đại và cũng là cái mốc quan trọng

trong lịch sử Trung Hoa bước vào “Thời đại văn

minh”.

2. NHỮNG SỰ TÍCH DÙNG NGƯỜI CỦA THƯƠNG THANG, BÀN

CANH, VÀ VŨ ĐINH

Thương Thang còn gọi là Thành Thang là Hoàng đế

khai quốc của đời nhà Thương. Sau khi Khởi, con

trai của Khải lập ra triều Hạ trải qua hơn năm trăm

năm truyền ngôi đến Hạ Kiệt, là vị bạo chúa nổi

tiếng trong lịch sử. Sử ghi lại: “Hạ Kiệt tàn bạo,

hoang dâm”, giết hại dân chúng, sống xa xỉ, dâm

đãng, khiến thần dân căm hận. Trong tình hình đó,

Thành Thang lập ra triều Thương thu hút nhân tài,

21

thuận ứng nhân tâm, phát động một cuộc lật đổ nổi

tiếng “Thương Vũ” đánh đổ sự thống trị của Hạ Kiệt.

“Cuộc lật đổ của Thương Vũ” sở dĩ thành công là

nhờ ở cách dùng người. Xung quanh Thang là những

hiền tài, điển hình là chuyện Y Doãn dời núi. Theo

sử sách ghi chép thì Y Doãn có tên A Hành sinh ra

trong thời loạn lạc, muốn đầu minh quân nên rất

muốn nói cho Thang nghe chủ trương trị quốc của

mình, song không có cơ hội. Do đó Y Doãn đành phải

làm nô bộc cho nhà Thang rồi nhân lúc “tiến thực”

qua hương vị thức ăn để trình bày con đường trị

quốc.

Lại có một truyền thuyết nữa: Y Doãn là một ẩn sĩ,

Thang cử người mời ông, nhưng phải đến lần thứ năm

22

ông mới nhận lời. Y Doãn thực ra không muốn làm

quan, song do thành tâm của Thang đã cảm hoá được

ông. Như vậy Thành Thang trong chế độ xã hội nô lệ

đẳng cấp thâm nghiêm là người đầu tiên đã lấy cương

vị Hoàng đế đi mời một hiền tài có địa vị thấp bé.

Câu chuyện này chứng tỏ cách dùng người thân cận

đối lập với “Hạ truyền tử, gia thiên hạ”. Cách dùng

người truyền thống vì công, chọn hiền lựa tài

trong xã hội nguyên thuỷ vẫn được sử dụng.

Bàn Canh là Hoàng đế thứ mười chín của triều

Thương, là một ông vua có trách nhiệm với dân. Việc

dời đô nổi tiếng đã nói rõ điều này. Nghe nói rằng

lúc đó hạ lưu sông Hoàng thường bị lũ lụt, có lần

cả kinh đô bị ngập. Bàn Canh quyết định dời đô,

23

nhưng nhiều nhà quý tộc tham lam thích an nhàn

không chịu dời đi, có người còn kích động dân chúng

chống lại. Hoàng đế Bàn Canh đã lấy lợi ích dân

chúng làm trọng, không chút dao động, nhiều lần

giảng giải cho quý tộc hiểu vì đại nghĩa phải dời

đô. Trong “Thượng thư Bàn Canh” ghi lại rằng, Hoàng

đế Bàn Canh đã nêu ra với các quần thần phải:

“Trọng dân”, “Có đức vì dân”. “Nếu như nước lũ cuốn

trôi bá tánh thì chính là vì chúng ta dìm ngập bá

tánh”.

Hoàng đế Bàn Canh có lòng thương dân nên ông rất

chú ý đến việc dùng người. Biện pháp của ông là

phạt tội, thưởng công. Bàn Canh cũng giống như các

Hoàng đế tiền triều, trước tiên suy xét đến việc bổ

nhiệm thế gia cựu thần. Có điều khác với các bậc

24

tiên vương là bất luận cũ mới, thân sơ, đều được

ông thưởng phạt công minh, không ngoại lệ một ai.

Ông khuyên răn các thế gia cựu thần rằng không chê

người già, không coi thường người trẻ. Tất cả mọi

người phải ra sức cống hiến sức mình, nếu không thì

bất kể thân sơ xa gần đều có hình phạt trừng trị

tội lỗi, ban lộc trước cho người có công trạng.

Mặt khác ông còn nhắc nhở và cảnh cáo một số quần

thần ỷ thế gây hại. Ông nói: “từ nay về sau phải

chăm làm, giữ đúng tước vị, không được nói năng bừa

bãi. Nếu không, khi đã bị trừng phạt rồi, thì các

người hối cũng không kịp”. Thời kỳ giữa của xã hội

nô lệ, là người cao nhất của chủ quý tộc mà dám đưa

ra biện pháp phạt tội, thưởng công nhất luật, thực

là khó khăn vô cùng. Từ đó, nó đã đặt ra nguyên

25

tắc chế độ thưởng phạt cho hậu thế; và đó cũng là

tư tưởng dùng người tài sớm nhất trong lịch sử.

Thuật dùng người xuất sắc của triều Thương còn có

Hoàng đế Vũ Đinh. Trong “Sử ký. Khởi bản kỷ” có ghi

rằng, Vũ Đinh sau khi lên ngôi, lập chí chấn hưng

triều Thương, song lại thiếu người tài năng giúp

việc. Vậy nên, đã ba năm ông không chấp chính mà

mọi việc quốc gia đều giao cho đại thần xử lý, còn

mình thì đi quan sát dân tình, tìm hiền tài. Từ đó,

cho thấy Hoàng đế Vũ Đinh đã quyết tâm dùng hiền

tài như thế nào.

Sử sách ghi lại, Hoàng đế Vũ Đinh vì suy nghĩ tìm

nhân tài mà thành mộng. Trong mơ... “ông đã nhìn

thấy một nhân tài”. Tỉnh giấc mơ, sau đó ông xem

xét các quần thần, không thấy ai giống như người

26

trong mộng cả. Hoàng đế bèn cử các quan lớn nhỏ, đi

ra thiên hạ tìm kiếm. Cuối cùng, tìm thấy một

người như thế ở Truyền Nham, mà lại là một nô lệ bị

thừng trói, đang làm công việc xây dựng ở đó. Khi

được dẫn vào cung, vua nhìn thấy, đúng là người

trong mộng! Vua tôi chuyện trò một lúc, quả nhiên

vua thấy đây đúng là người hiền tài, lập tức vua

phong là Thừa tướng. Từ đó mà nhà Thương trị vì rất

thịnh vượng.

Truyền thuyết dùng người của Vũ Đinh tuy có màu

sắc huyền bí, xét trong điều kiện lịch sử lúc bấy

giờ thì ông đã thoát khỏi thế lực cũ, đi vào dân

chúng, cử nô lệ làm Thừa tướng. Nếu Hoàng đế Vũ

Đinh không có được dũng khí, thì không sao làm được

việc như vậy. Vũ Đinh xứng đáng là một minh quân

27

của thời Trung hưng.

PHẦN THỨ BA

Thuật dùng người thời Tây Chu

Tây Chu là thời kỳ xã hội nô lệ Trung Quốc đã phát

triển. Thuật dùng người thời kỳ này, một mặt thế

Khanh thế lộc đã thành chế độ. Nguyên tắc “Lập

thích dĩ trưởng bất dĩ hiền”(*) đã hoàn thiện thêm

chế độ Tông pháp. Khanh là chỉ danh quan lớn, cao

cấp hoặc tước vị thời đó. Lộc là những của cải thu

nhập của quan lại. Thế khanh thế lộc có nghĩa là

cha chết con thay, thế làm công khanh và hưởng bổng

lộc.

Theo chế độ Tông pháp thời Tây Chu thì trong Tông

tộc có chia Đại Tông và Tiểu Tông. Chu thiên tử tự

xưng là con của Thượng đế, nên là Đại Tông của

28

thiên hạ, còn các chư hầu là Tiểu Tông. Chư hầu ở

nước mình là Đại Tông, Khanh đại phu là Tiểu Tông;

nếu Khanh đại phu ở bộ tộc mình thì lại là Đại

Tông.

Bất luận là vương vị, chư hầu quốc quân hay khanh

đại phu đều là “Trưởng tử thế vị”.

Mặt khác, thời kỳ Tây Chu đã sản sinh ra tư tưởng

nhân tài phong phú như xuất hiện ý niệm: “Thánh

nhân”, “Quân tử”, “Quan tài”, “Hiền lương”, Năng

giả”, “Sĩ”, “Lương nhân” v.v... Trong thực tế, xã

hội chọn dùng người là từ dưới lên trên, chọn hiền

tài kể cả từ tầng lớp thấp. Thực hiện một số

(*) Lập con trưởng chứ không chọn hiền tài.

chính sách và nguyên tắc như khảo sát, tuyển lựa,

giới thiệu, bổ nhiệm, đãi ngộ…

29

Nói tóm lại, thế khanh và hiền tài cùng tồn tại là

đặc điểm dùng người thời kỳ Tây Chu. Cần nêu rõ

rằng thế khanh thế lộc là vấn đề thế vị quyền lực

thống trị của nô lệ chủ quý tộc, còn hoạt động dùng

hiền tài là biện pháp của kẻ thống trị củng cố địa

vị thống trị của mình.

THUẬT DÙNG NGƯỜI CỦA CHU VĂN VƯƠNG VÀ CHU VŨ VƯƠNG

Thành Thang diệt Hạ Kiệt hưng Thương trải qua hơn

năm trăm năm, lại xuất hiện một ông vua tàn bạo

hành dân. Đó là Trụ Vương, một Hoàng đế ăn chơi dâm

đãng, xây dựng “bể rượu”, “rừng thịt”, giết hại

“cửu hầu, ngạc hầu”, tàn bạo mổ tim trung thần Tỷ

Can, làm cho dân chúng oán thán ngút trời, nhân tâm

ly tán, gây ra một thảm cảnh cho xã hội.

Ngay lúc đó, Tây Bá Cơ Xương ứng thiên thuận nhân,

30

chiêu hiền đãi sĩ, đứng lên nhận trách nhiệm thảo

phạt bọn gian ác. Trong “Sử ký. Chu bản kỷ” có

viết: “Văn Vương lễ hiền trọng sĩ, đến cơm trưa

cũng không ăn, vì thế nhân tài, thiên hạ đều theo

ông”. Các hiền sĩ lúc đó gồm cả đại thần của Trụ

Vương như Bá Di, Thúc Tề, Thái Điền và các đại thần

khác đều về dưới trướng Văn Vương. Trong “Thi

kinh, chương Đại Nhã, Văn Vương” viết: “Xung quanh

Văn Vương, nhân tài tề tựu, sự nghiệp nhà Chu thêm

thịnh vượng”.

Trong các hoạt động chiêu hiền đãi sĩ của Chu Văn

Vương, Tử Nha là một câu chuyện sinh động về việc

đi tìm hiền tài. Lúc đó Tử Nha già nua, nghèo đói,

không gặp thời vận nên đi câu cá, chờ cơ hội mong

gặp Văn vương.

31

Có một lần Văn Vương đi săn, song chẳng bắn được

gì. Thái sư bèn nói: “Hôm nay đi săn không bắn được

rồng cũng chẳng được ly. Không được hổ cũng chẳng

được gấu, mà là được nhân tài trụ cột phụ tá triều

đình”.

Khi Văn Vương đến bờ sông Vị Thuỷ, thì thấy ông

già ngồi câu cá mà cần lại không có móc câu, sinh

hiếu kỳ nên bèn mạn đàm với ông lão. Lúc trò chuyện

mới biết là một nhân tài xuất chúng. Chu Văn Vương

cao hứng nói: “Những người có bản lĩnh như Lão,

Phụ Vương tôi mong mỏi đã lâu rồi”. Từ đó gọi ông

là: “Thái Công Vọng”, cung kính rước về triều phong

làm Quân sư, lập nên công lớn diệt Thương phục

Chu.

Nếu so sánh với các Đế vương đời trước thì thuật

32

dùng người của Chu Văn Vương có hai điểm rất đáng

chú ý:

Xác định rõ tính chất quan trọng của việc tuyên

truyền chọn hiền tài

Vì trong “Kinh thi” ghi chép bằng thơ nhiều hơn

ghi chép lịch sử và lại tập trung từ Hậu Lăng đến

diệt Thương nên chúng ta có thể tìm thấy những ghi

chép về thuật dùng người của Văn Vương.

Thời Văn Vương, người tài được ngợi ca là “Bang

gia chi cơ” (nền móng giúp nhà), “Bang gia chi

quang” (ánh sáng giúp nhà) “dân chi phụ mẫu” (cha

mẹ của dân), cầu mong người tài sẽ sống lâu năm như

các loại cây Tàng dương, cây Cổ thụ v.v...

- Rất coi trọng bồi dưỡng giáo hoá nhân tài

Trong “Thi kinh, chương Đại nhã, Khu bộc” ca ngợi

33

Văn Vương đào tạo nhân tài có viết: “Nếu Văn Vương

trị vì càng lâu, sống lâu trăm tuổi sẽ dạy dỗ, đào

tạo nhân tài rất nhiều”. Cũng có nghĩa là Văn Vương

rất chú ý đến rèn luyện bản thân. Sách còn nói,

Văn Vương có phẩm chất trong sáng như ngọc và là

tấm gương sáng của mọi người.

Đương nhiên, Văn Vương cũng như các Đế vương khác,

rất chú trọng tìm kiếm người tài. Trong sách cũng

ghi chép lại, tinh thần phấn chấn của các quan sứ

thần đi khắp nơi tìm kiếm người hiền và niềm vui

của các nhân tài được Văn Vương mời đến triều đình.

Về thuật dùng người của Chu Võ Vương hoàn toàn kế

thừa truyền thống của Chu Văn Vương. Dùng Khương Tử

Nha làm quân sư, Chu Công Đán làm tả phụ và các

34

đại thần khác như Thiệu Công, Tất Công cùng nhau

hoàn thành đại nghiệp diệt Thương.

2. TƯ TƯỞNG DÙNG NGƯỜI CỦA KHƯƠNG TỬ NHA VỚI “THÁI

CÔNG LỤC ĐẠO”

Khương Tử Nha – tự Lã Thượng là nhà quân sự và là

người có tư tưởng kiệt xuất sớm nhất của Trung

Quốc. Khương Tử Nha phụ tá Vũ Vương diệt Trụ Vương,

lập nên sự nghiệp vĩ đại. Sau này mọi người cho

rằng, nếu lúc đó Văn Vương xa cách Lã Thượng thì

“Chu vô thiên tử chi đức, nhi Văn Vũ vô dư thành kỳ

vương dã” (nếu nhà Chu không có vua có đức thì Văn

Vũ đâu thành Hoàng đế).

“Thái Công Lục đạo” tương truyền là một binh pháp

của Thái Công. Ngoài ra “Tam lược” là Hoàng Thạch

công tặng Trương Lương “Âm phù” để đi du thuyết sáu

35

nước sử dụng. “Lục đạo” phân thành văn, võ, rồng,

hổ, báo, chó. Gồm sáu thiên sáu mươi chương, còn

“Văn đạo” chủ yếu bàn về dùng người về chính trị

“Long đạo” chủ yếu bàn về dùng người trong quân sự.

Tóm lại tư tưởng dùng người có năm điểm sau:

- Coi trọng nhân tài

Khương Tử Nha đề ra một chủ trương trị quốc, nghĩa

là “Thượng hiền, hạ bất tiêu” là điều quan trọng

nhất. Có nghĩa là người hiền ở địa vị cao, còn kẻ

bất tài thì ở bậc thấp. Đó là một việc làm quan

trọng của triều đình.

- Kiên trì tiêu chuẩn

Thế nào là người hiền tài? Khương Tử Nha đã đề ra

tiêu chuẩn về hai mặt chính trị và quân sự. Về mặt

36

chính trị “Văn đạo. Lục thủ”. Lục thủ là: một là

nhân, hai là nghĩa, ba là trung, bốn là tín, năm là

dũng, sáu là mưu. Về mặt quân sự thì trong “Long

đạo. Luận tướng” đề ra ngũ tài, gồm các mặt: dũng,

trí, nhân, tín, trung. Có nghĩa là “dũng không sợ

hãi, trí phải xử lý được những tình huống bất ngờ,

nhân phải yêu người, tín không đổi thay, trung

không hai lòng”. Đó là tiêu chuẩn người tài mà

Khương Tử Nha đề ra.

- Khảo sát thực sự

Khương Tử Nha đề ra dùng người phải “Kiểm tra đôn

đốc” cũng có nghĩa là phải tiến hành kiểm tra thực

sự. Ông nói: “Phân rõ chức trách, chọn người theo

quan chức, theo chức kiểm tra tài năng. Biện pháp

chọn hiền tài là bổ nhiệm theo tài năng và tài năng

37

phải có kiểm tra.

Pháp bảo kiểm tra này thực ra là một chế độ trách

nhiệm. Để kiểm tra, ông đã đề ra biện pháp cụ thể

như sau: “Không tham phú quý, không ham chức tước,

không thay lòng đổi dạ, không có gì sợ hãi, và

không có mưu thấp hèn”. Trải qua khảo sát các mặt

thì sẽ thấy rõ một con người có “Nhân, nghĩa,

trung, tín, dũng, mưu” không? (xem Văn đạo. Lục

thủ)

- Thưởng phạt công minh

Khương Tử Nha trong “Văn đạo. Thưởng phạt” có

viết: “Thưởng là để khuyến khích mọi người đi lên,

phạt là trừng trị sai sót của mọi người. Điều đó đã

nói rõ mục đích và ý nghĩa thưởng phạt. Thế nhưng,

làm thế nào để thưởng phạt có tác dụng? Ông cho

38

rằng, thưởng phạt phải công minh và phải làm chứ

không nói suông thì mọi người mới trọng. Thứ hai,

là chém một người nếu làm chấn động ba quân, thưởng

một người nếu vạn người vui. Thứ ba là thưởng phạt

phải công tâm, nghiêm cẩn vô tư.

- Đầu óc tỉnh táo

Khương Tử Nha cho rằng, nguyên nhân lớn nhất mà

mất người hiền là quân chủ bị xúc xiểm của thế tục.

Có nghĩa là nghe bọn nịnh thần, giết hại trung

thần. Bọn gian thần mưu mô chiếm đoạt chức vị làm

cho xã tắc gặp nguy cơ.

Khương Tử Nha ba nghìn năm trước chỉ ra những sai

sót về việc dùng người cho đến bây giờ vẫn có ý

nghĩa nhất định. Như vậy thì cần đề phòng ra sao?

Khương Tử Nha lại chỉ ra rằng “sáu cấm”, “bảy

39

hại”. Có nghĩa là tuyệt đối không được gần người

xấu xa. “Sáu cấm”, “Bảy hại” này đã nêu rõ một khi

bọn xấu có thế thì sẽ kết bè cánh, mưu mô lừa dối,

che mắt quân chủ, tàn hại người trung thần, vì vậy

phải luôn cảnh giác.

Trong “Thái công. Lục đạo” nói về chính trị thì

lại giảng chiến lược, nghĩa là nói cách dùng người

thì lại giảng trị quân sự. Cuốn sách cơ bản hình

thành hệ thống và là một trước tác về quản lý. Cuối

đời Tần, Hoàng Thạch công khi giao “Tam lược” cho

Trương Lương đã nói “Đọc binh pháp này để giúp

vua”. Do đó tư tưởng dùng người trong “Thái công.

Lục đạo” đã để cho mọi người học tập và sử dụng.

3. CÁCH DÙNG NGƯỜI CỦA CHU CÔNG ĐÁN.

Chu Công - tự Cơ Đán là là em Vũ Vương và là người

40

phụ tá chủ yếu của Vũ Vương đi diệt Trụ Vương,

nhất là khi Vũ Vương băng hà. Thành Vương còn bé,

nhưng Chu Công đã không để ý đến lời dị nghị, chịu

đựng gánh vác việc nước, đợi Thành Vương lớn lên

nắm quyền. Phẩm chất tốt đẹp của ông lưu truyền

ngàn đời, khiến người đời sau ngưỡng mộ. Nhà thơ

Bạch Cư Dị trong sáng tác của mình có kể lại rằng,

khi Chu Công chấp chính, nghe những lời dị nghị về

ông, Chu Công vừa cảm thấy lo sợ, vừa không thể

buông tay chấp chính việc nước. Công lao của Chu

Công đã nổi tiếng trong lịch sử, nhưng rất ít được

ghi lại về thuật dùng người. Chỉ có hai việc dưới

đây có nói rõ sự việc đó:

Việc thứ nhất, tiếp đãi người hiền. Chu Công nói:

“Ta là con Văn Vương, em trai Vũ Vương, chú của

41

Thành Vương. Địa vị đâu có thấp hèn trong xã hội,

nhưng khi tiếp đón người hiền thì gội đầu phải gội

đi gội lại, ăn cơm phải ngừng vài lần. Thế mà vẫn

sợ bị mất người hiền tài. Qua đó mới thấy Chu Công

đã hao tâm tổn sức vì thu phục người tài. Sau này,

Tào Tháo trong “Đoản ca hành” có viết: “Chu Công

thổ bộ. Thiên hạ quy tâm” (có nghĩa là: Chu Công

nuôi dưỡng dân, cùng nhau quy tụ để thờ Minh

Vương).

Một việc khác nữa là giáo dục Thành Vương, ông

chọn nhân tài làm thầy. Sử Kí Tư Mã Thiên viết:

“Sau khi quy tụ chấp chính, chờ Thành Vương trưởng

thành và sợ Thành Vương tham lam, dâm đãng nên đã

giáo dục Thành Vương. Ngay lúc mở đầu, đã nêu ra

là: người ở địa vị cao không được tham lam, chơi

42

bời. Phải biết được sự cực nhọc của người nông dân

trên đồng ruộng. Phải hiểu biết sự cực nhọc của

thần dân rồi mới nghĩ đến việc hưởng thụ.

Xoay quanh ý nghĩa này, Chu Công đã kết hợp giữa

trung Tông, cao Tông, Tổ giáp thời diệt Thương,

cùng sáng nghiệp của Tổ phụ, phụ thân và Văn Vương,

Võ Vương để dạy dỗ Thành Vương. Mong muốn Thành

Vương học hỏi tinh thần của các bậc Tiên Vương,

gian khổ lập nghiệp, tránh xa xỉ, dâm loạn làm suy

yếu quốc gia.

4. “CHIÊU HIỀN” THỜI TÂY CHU

Chiêu hiền, có nghĩa là giới thiệu hiền tài với

nhà vua. Đó là một hiện tượng cá biệt trong xã hội

nguyên thủy. Như Vũ đề ra “Bát nguyên” và “Bát

khởi” (cách gọi mười sáu vị hiền tài lúc bấy giờ).

43

Mãi đến thời kỳ Tây Chu thì vấn đề này mới hoạt

động có tổ chức.

Tình hình đại thể như sau:

- Tư tưởng “chọn hiền” của Đế vương.

Việc “chọn hiền” thời Tây Chu không những là những

truyền thuyết đẹp trong dân gian, mà còn là tư

tưởng chấp chính của các Đế vương nữa.

Chu Văn Vương, người xây dựng triều đại Chu rất

coi trọng chủ trương “chọn hiền”. Tư tưởng “chọn

hiền” của vị vua này đã được ghi chép nhiều lần

trong lịch sử. Ông cho dạy “Tam hành”: thứ nhất là

hiếu với cha mẹ, thứ hai là tôn trọng bạn, thứ ba

là vì việc chung. Lập ra năm trường học là: Đông,

Tây, Nam, Bắc, Đại, là nơi các Đế vương khi nhỏ học

bản lĩnh chấp chính. Còn dạy “Tam hành” cho các

44

Hoàng thân Quốc thích học cách xử thế. Do đó,

“Chiêu hiền và quý đức” hay là “Hữu hành dĩ tôn

hiền lương” (tôn trọng người tài) đều là môn học

cần thiết cho các Đế vương và Vương tử.

- Chế độ “chiêu hiền” của triều đình

Thời Tây Chu các Đế vương đều có tư tưởng “chiêu

hiền”. Trong “Lễ ký. Vương chế” có ghi lại: “Các tú

sĩ hương xã thăng Tư đồ gọi là Tuyển sĩ. Tư đồ

luận Tuyển sĩ chi tú giả nhi thăng chi học, gọi là

Tuấn sĩ”. Cách chọn người tài thời Chu lấy từ hương

xã lên qua “Tuyển sĩ”, “Tuấn sĩ”, “Tạo sĩ” và

“Tiến sĩ” đề bạt qua nhiều lớp rồi mới được nhận

chức quan, tước vị và bổng lộc. Đó là hình thành

các bước tuyển chọn của một chế độ cố định.

Chế độ dùng người kiểu này so sánh với thể chế

45

“Thế khanh, thế lộc” là có xung đột với nhau. Bởi

lẽ nó đã mở ra con đường cho tầng lớp dưới tham gia

triều chính. Quách Mạt Nhược trong mười điều phê

phán, có nói đến: “Điều đáng chú ý các Tuyển sĩ,

Tuấn sĩ, là “Tuấn kiệt nước nhà” đều là những người

chọn lựa từ dân ra. Việc này càng tạo điều kiện

gần gũi với bá tánh”.

- Nghi thức “chọn hiền” dân gian

Công việc “chọn hiền” thời Tây Chu là bắt đầu từ

hương xã, và ở hương xã lại có một loạt nghi thức

long trọng, phức tạp. Theo ghi chép “Châu lễ. Địa

quan. Tư đồ” thì quan tư đồ dạy dỗ hương dân ba

việc hoặc ba khoa mục “hưng” có nghĩa là “tiến cử”,

là tuyển chọn giới thiệu. Như vậy có nghĩa là,

quan tư đồ dạy cho hương dân ba khoa mục. Hương

46

quan thì cứ ba năm lại khảo thí long trọng một lần

để trắc nghiệm đạo đức và học vấn của dân chúng và

từ đó lựa ra người tài.

Sau khi tuyển chọn và tiến cử, hương quan sẽ dẫn

đầu đoàn tuỳ tùng, chiêu đãi long trọng những người

được tuyển lựa. Ngày hôm sau trình thư tiến cử lên

vua. Qua đó mới thấy công việc tuyển lựa thời đó

là việc trọng đại đến mức nào.

5. QUAN ĐIỂM DÙNG NGƯỜI CỦA “CHU THƯ”

“Chu thư” còn gọi là “Dật Chu thư”. “Dật” hoặc

“Thất” có nghĩa là đã thất tán, song lại xuất hiện

vào thời Tần. Ngày nay dùng Ngũ Kinh của Tiến sĩ

Khổng Thiệu ghi lại.

Theo ghi chép của Khổng “Quan nhân giải” trong

“Chu thư” có lấy phần”Đại đới lễ” đặt tên là “Văn

47

Vương quan nhân”. Ông còn cho rằng, sau phần “Quan

nhân giải”, còn có “Cửu dụng”, “Thất thuộc”, phần

thiếu của “Dật Chu thư”.

Nếu như “Chu thư” là một chuyên tác bàn về dùng

người, chọn quan thì “Quan nhân giải” đề ra “Lục

trưng” để nhận xét người.”Cửu dụng”, “Thất thuộc”

gộp lại thành một thể chế lý luận dùng người hoàn

chỉnh.

- Cách nhận xét nhân tài

Tiền đề của việc dùng người là làm sao có thể nhận

xét chính xác nhân tài. Trong “Chu thư. Quan nhân

giải” nêu ra “Lục trưng” biện nhân pháp. “Quan nhân

giải” đã ghi chép lời của Văn Vương bàn với Chu

Công và đưa ra “Lục trưng” là: quan thành, khảo

ngôn, thị thanh, quan sắc, quan ẩn và thái đức.

48

Nội dung cụ thể như sau:

“Quan thành”

Là nhận xét đạo đức phẩm chất, tính tình người

khác. Đồng thời nhận xét từ đặc điểm địa vị, tuổi

tác, quan hệ giao tiếp, hành vi sinh hoạt, phản ứng

phẩm chất, phản ứng tình cảm.

Như về mặt địa vị xã hội chẳng hạn:

- Người giàu sang, xem có giữ được lễ tiết, giúp

đỡ người khác không?

- Kẻ hàn vi đói nghèo, xem có đạo đức và giữ chữ

tín không?

- Người nổi tiếng, xem có kiêu ngạo và xa xỉ

không?

- Người yếu đuối, xem có sợ hãi và nhát gan không?

49

“Về mặt tuổi tác”:

- Lúc nhỏ tuổi, có cung kính hiếu học và tôn trọng

huynh trưởng không?

- Lúc trung niên cần xem họ có trong sạch, chí

công, và chịu khó làm việc không?

- Khi tuổi già xem có lão đương ích tráng, thì suy

nghĩ có tình cảm không?

“Khảo ngôn”

Có nghĩa là qua khảo sát ngôn luận để thấy rõ chí

hướng một con người. Ở đây “Quan nhân giải” ghi ra

sáu mặt: “Nhật ích giả” với “Nhật tổn giả”. “Hữu

chất giả”, với “Vô chất giả”, “Bình tâm cố thủ giả”

với “Bỉ tâm khí giả”. “Hữu lư giả” với “Ngụy nhân

giả”, “Quả cảm giả” với “Nhược chí giả”, “Chất tịnh

giả”với “Hộ u giả”...

50

Sự khác biệt giữa “Nhật ích giả” với “Nhật tổn

giả” là người có chí lớn sâu sắc, khí chất khoan

dung, tinh thần khó lộ ra ngoài, không ti tiện. Con

người phải có lễ độ trước đã rồi mới nói sau, và

thấy rõ những chỗ yếu của mình. Những người này tất

yếu sẽ tiến bộ.

Còn có hạng người ngày một thoái bộ, kém đi là

loại người háo sắc, kiêu ngạo, che giấu những thiếu

sót của mình, khoác lác ưu điểm của mình.

“Thị thanh”

“Thị thanh” có nghĩa là nghe thanh âm của người

khác để khảo sát khí chất của họ, người có khí chất

thế nào thì sẽ toát lên thanh âm như vậy.

Theo nguyên lý này, có thể chia người tài thành

các loại tâm khí “Hoa diên giả” và “Thuận tín giả”,

51

“Bỉ lệ giả” và “Khoan nhu giả”. Ví như loại tâm

khí “hoa diên giả”, tiếng nói lưu tán, tâm địa

không thành thực, khi nói chuyện thì ấp a ấp úng,

lắp ba lắp bắp.

Loại tâm khí “thuận tín giả”, tiếng nói lưu loát,

là người tâm địa thành khẩn, tiếng nói thuận tai có

tiết tấu.

Loại tâm khí “tâm địa khoan nhu giả” tiếng nói ôn

hoà, người có tâm địa rộng rãi. Tiếng nói ấm áp và

rõ ràng.

“Quan sắc”

Căn cứ vào phong độ bên ngoài để đánh giá khí chất

con người. Mặc dù xét khí chất nội tại song cũng

phải xét thái độ bên ngoài. Đó là sự thay đổi thái

độ bên ngoài, phân ra năm loại: Hỷ, Nộ, Dục, Cự,

52

Ưu.

Trong “Chu thư. Quan nhân giải” đã miêu tả cụ thể

tình trạng biểu hiện bề ngoài của năm khí chất đó

như sau:

“Hỷ sắc do nhiên dĩ xuất”, có nghĩa là niềm hoan

hỷ của con người bộc lộ ra như dòng nước reo vui.

“Nộ sắc lợi nhiên dĩ hối”, có nghĩa là thái độ

giận dữ khi biểu hiện làm người ngoài cảm thấy bị

xỉ vả.

“Dục sắc khu nhiên dĩ du” khi con người biểu hiện

tham lam giống như người khát nước.

“Cự sắc bạc nhiên dĩ hạ” khi con nguời tỏ ra sợ

hãi, thái độ rất lo lắng.

“Ha bi chi sắc cự nhiên dĩ tinh” con người có thái

độ lạnh nhạt, im lặng.

53

Những người ưu tú có thái độ thản nhiên trầm tĩnh.

Những người khí chất hèn kém thì biểu hiện tình

thế hỗn loạn, phiền não, tuy nhiên có người ngụy

trang thành người ưu tú, nhưng đều lộ rõ sự giả

tạo. “Quan ẩn” (Nhìn bên trong)

Thông qua những biểu hiện bên ngoài để nhận xét

những khí chất tiềm ẩn bên trong. Nghĩa là quan sát

“ẩn tình” của con người. Trong “Quan nhân giải”

nêu ra luận điểm “Con người sinh ra có người thành

thật, có người giả tạo. Nói chung con người đều che

giấu chân tướng, và tìm cách tô điểm, ngụy trang

một lớp vỏ bọc tốt, có tính cách háo danh”. Do đó

trong “Quan nhân giải” chia loại người che đậy chân

khí của mình thành sáu loại: “Giả danh kẻ hiền”,

54

“Giả danh kẻ tri thức”, “Giả danh kẻ văn sĩ”, “giả

danh kẻ dũng mãnh”, “giả danh kẻ trung hiếu”, và

cuối cùng là “Giả danh kẻ thân thiện”.

Trong “Quan nhân giải” giải thích về “Giả danh

hiền nhân”, là loại người ban ân huệ nhỏ cầu danh

vọng lớn. Lấy lợi ích nhỏ để đạt món hời lớn, làm

quan nguyện hứa chân thành, giả trang yêu quý biểu

hiện rất trung thực. Họ ngụy trang, giả tạo người

hiền để giành lấy vinh dự của kẻ hiền sĩ. Loại

người này được gọi là “Giả danh hiền nhân”.

Còn “Giả danh kẻ tri thức” nghĩa là giả làm người

có học vấn. Trong “Quan nhân giải” đã nói rõ:

“Thích thổi phồng công lao của mình, thực tế thì

không có khả năng lập công. Ba hoa rất nhiều song

chẳng có trình độ học vấn gì. Nghĩ ra mẹo vặt, chứ

55

thực chất chẳng có tư tưởng, tài năng cao siêu gì”.

Loại người này, chính là “Giả danh kẻ tri thức”.

“Lượng đức”

“Lượng đức” đánh giá phẩm chất đạo đức của một con

người. Trong “Quan nhân giải” có chia người có

phẩm chất tốt ra làm mười loại:

- Hữu nhân.

- Hữu trí.

- Hữu khẩu.

- Thuận tín.

- Hữu đức.

- Hữu thủ.

- Hữu kinh.

- Trầm tĩnh.

- Trung hiếu.

56

- Giao hữu.

Ví như “Hữu nhân” có nghĩa là ăn nói trung thực,

hành sự bình ổn, không vì tư lợi, không tham lam,

tình cảm trung hậu, diện mạo trang nghiêm, thái độ

bình tĩnh.

Ngược với mười loại người có phẩm đức tốt đẹp như

trên, là bốn loại người có phẩm đức xấu xa. Trong

“Quan nhân giải” có nêu ra loại này: “Ngôn hành bất

nhất, thuỷ chung bất nhất, ngoại nội bất nhất. Tuy

có thể giả danh hiền nhân song thực tế thì không

phải là nhân tài. Loại người này từ chí hướng, thái

độ, ngôn ngữ, khí chất... đều không chân thực. Họ

lừa bịp mọi người, giả bộ lắng nghe, gọi dạ bảo

vâng, song không chịu trách nhiệm, không nghĩ đến

hậu quả”.

57

Tóm lại, thông qua sáu phương diện khảo sát trên

đây, từ bên ngoài đến nội tâm sẽ nhận thức và nắm

bắt được bản chất con người. Qua đó, xác định được

nhân tài rồi mới chính thức bổ nhiệm.

- Nguyên tắc nhiệm dụng nhân tài

Trong “Chu thư”, sau khi nêu ra cách nhận xét nhân

tài rồi lại bàn về nguyên tắc nhiệm dụng nhân tài.

Theo Khổng Dự ghi chép trong “Chu thư” ngoài “Quan

nhân giải” còn có “Cửu dụng” và “Thất thuộc” bị

thất tán cả cuốn sách mà trong “Đại lễ ký” có ghi

lại.

“Cửu dụng” và “Thất thuộc” là lý luận nhiệm dụng

người tài ra sao. “Thất thuộc” nói đến: nước, làng,

quan, học, tộc, gia, tiên là trọng điểm dùng người

của bảy người đứng đầu. Còn “Cửu dụng” thì căn cứ

58

vào sở trường bổ nhiệm chín mặt khác nhau.

Nguyên tắc bổ nhiệm theo tài năng, cụ thể như sau:

– Người chính trực, nhân nghĩa và có mưu lược thì

để họ quản lý nhà nước, cai trị bá tánh.

– Người từ tốn nhân đức và biết điều thì cho làm

quan cơ sở, quản lý nhà nông.

– Người chính trực nồng hậu làm việc công bằng có

thể để họ đốc thúc bách quan.

– Người công bằng chính trực và giỏi giải quyết

việc đúng, sai thì để họ coi việc khiếu kiện, tố

tụng.

– Người làm việc vô tư, công bằng chính phái thì

để họ nắm tài chính thu chi.

– Người cẩn thận trong sáng, công bằng vô tư thì

để họ phụ trách phân phối, thu chi và khen thưởng.

59

– Người giỏi mưu tính kinh doanh, lao động thì cho

họ phụ trách nông nghiệp và các công việc kỹ thuật

khác.

– Người giỏi giao tế có quan hệ tốt với mọi người

thì cho làm quan ngoại giao.

– Người dũng mãnh, cương nghị, đa mưu có thể giao

cho công việc bảo vệ biên cương.

Như vậy “Cửu dụng” là căn cứ vào tài năng chín mặt

khác nhau. Đó cũng là nguyên tắc bổ nhiệm quan lại

theo tài năng sớm nhất trong lịch sử.

Nói tóm lại “Dật Chu thư. Quan nhân giải”, là nêu

ra lý luận nhận xét nhân tài và phương châm bổ

nhiệm nhân tài. Mặc dù có tính cục bộ của giai cấp

và lịch sử lúc bấy giờ, song nó vẫn là một hệ thống

lý luận nhận xét người tài đầu tiên trong lịch sử

60

Trung Hoa. Vậy nên, nó vẫn có tác dụng hướng dẫn,

gợi ý cho chúng ta bây giờ. Chúng ta cần trân trọng

và nghiêm túc nghiên cứu nó.

61

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát