Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Tình Phai Nắng Hạ

TÌNH PHAI NẮNG HẠ

Tác giả : William Trevor

MỘT

Một buổi tối tháng sáu, quan tài của bà Eileen

Connulty đi ngang qua thị trấn Rathmoye: từ số 4 ở

Quảng trường đến đường Magennis, đi vào hẻm Hurley,

dọc theo đường Irish, ngang qua đoạn đường

Clough-jordan để vào nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế.

Cuộc đời của người đã khuất là một trong những

công trình xây dựng tuyệt vời và quyết liệt liên

quan có mức độ đến các vấn đề gia đình. Những dự

tính nhằm thỏa mãn tâm nguyện cá nhân, từ lâu đã

ảnh hưởng đến thái độ chấp nhận tình trạng hôn

nhân, và sự chăm sóc nuôi nấng hai đứa con, chính

là nguyên nhân thất bại của bà Connulty: sự thất

1

vọng của bà đối với chồng và con gái. Khi cái chết

tiến đến gần, bà sợ rằng lúc bấy giờ sẽ đối mặt lại

với người chồng cũ nên bà cầu nguyện sao cho mình

tránh được tình cảnh oái ăm đó. Bà vui mừng đã tách

ra được khỏi con gái; vui mừng đã tách ra được

khỏi con trai – giờ đây đã ngoài năm mươi tuổi, là

đứa con yêu của bà ngay lần đầu tiên nằm ẳm ngửa

trong vòng tay – nhưng bà đã khóc hết nước mắt khi

bỏ đứa con đó lại đằng sau.

Màn che cửa của những ngôi nhà ven đường buông

xuống khi quan tài đi qua, và nhanh chóng được kéo

lên ngay sau đó. Các gian hàng đóng cửa đã mở trở

lại. Những người kính cẩn bỏ mũ đã đội mũ trở lại,

trẻ con ngừng chơi trong ngõ hẻm Hurley lại tiếp

tục chơi. Những người làm dịch vụ lễ tang bước

2

xuống bậc thềm nhà thờ. Lễ Mi-xa ngày mai sẽ được

một giám mục tiến hành; mãi đến giây phút cuối

cùng, bà Connulty mới được hưởng sự công bằng.

Người dân vào thời đó nói rằng gia đình bà

Connulty làm dâu đã nắm quyền sở hữu một nửa thị

trấn Rathmoye, ấn tượng nổi bật là các cơ ngơi đã

có môn bài của gia đình này trên đường Magennis,

trong các kho than đá trên đường St. Mathew và số 4

ở Quảng trường, nhà có phòng cho thuê của gia đình

Connulty tạo dựng vào năm 1903. Trong suốt các

thập niên qua kể từ đó đến nay họ đã có thêm nhiều

tài sản khác nữa trong thị trấn; các cơ ngơi đó

được tu sửa và thường rất chỉnh chu, mang về số

tiền cho thuê khiêm tốn, nhưng nhờ tích lũy, nó đã

trở thành một tài sản kếch sù. Nhưng thậm chí có

3

như thế chăng nữa thì đấy cũng chỉ là một sự thổi

phòng quá đáng khi cho rằng, dòng họ Connulty đã sở

hữu một nửa thị trấn Rathmoye.

Với dân cư chen chúc và mức sống bình bình, thị

trấn nằm trong xó xỉnh này đã lớn mạnh lên một cách

bộc phát, không lý do, không nguyên cớ. Sáng thứ

hai đầu tiên của mỗi tháng, nông dân mang thú nuôi

vào Rathmoye và đến vay tiền tại một trong hai ngân

hàng ở đó; đến nhổ răng tại phòng răng của một nha

sĩ hành nghề trong Quảng trường; thỉnh thoảng nhờ

luật sư ở đấy cố vấn; xem xét kỹ máy móc nông cụ

tại cửa hàng Des Devlin trên đường Nenagh; giao

dịch với Hefferman, người buôn bán hạt giống; uống

vài ba cốc rượu tại quán rượu nào đó. Các bà vợ thì

đi mua sắm tại cửa hàng Cash and Carry, hoặc tại

4

cửa hàng McGovern nếu họ không dè sẻn; mua giày dép

ở cửa hàng Tyler, mua sắm áo quần ở cửa hàng vải

vóc Corbally. Có một thời có công ăn việc làm tại

nhà xưởng hoặc nhà máy phát điện trước khi Shannon

Scheme đến; hiện nay có công ăn việc làm tại xí

nghiệp sản xuất bơ và sữa đặc, trong các kho của

nhà thầu xây dựng, ở các cửa hàng và quán rượu, tại

các xưởng nước đóng chai. Có một tòa án ở Quảng

trường, một trạm hỏa xa bị bỏ hoang phế ở cuối

đường Mill. Có hai nhà thờ và một nữ tu viện, một

trường Dòng và một trường Kỹ thuật. Dự án xây dựng

một hồ bơi đang chờ đợi quỹ tài trợ.

Theo người dân thị trấn thì không có gì xảy ra ở

Rathmoye; hầu hết người dân vẫn tiếp tục công việc

của họ ở đó. Chỉ có thanh niên trai tráng mới bỏ ra

5

đi – đến Dublin, Cork hoặc Limerick, nước Anh, đôi

khi qua nước Mỹ. Nhiều người quay trở về. Nói rằng

không có gì xảy ra cũng là một cách nói phóng đại.

Lễ Mi-xa cho đám tang được tiến hành vào buổi sáng

ngày hôm sau. Buổi lễ kết thúc, những người đi đưa

đám tang bà Connulty đứng rải rác đây đó ở bên

ngoài các cổng nghĩa trang, chuyện trò với nhau cho

rằng người dân trong thị trấn và bên kia thị trấn

sẽ không bao giờ quên bà. Những phụ nữ từng cặm cụi

làm việc bên cạnh bà ở Nhà thờ Chúa Cứu Thế khẳng

định rằng bà chính là tấm gương sáng cho tất cả bọn

họ noi theo. Bà không từ nan bất cứ công việc nào

dù đó là công việc chỉ dành riêng cho tôi tớ. Bà bỏ

ra hàng giờ cọ sạch đồng thau bị rỉ sét, hoặc chùi

6

sạch các chất mỡ bám dính nơi đèn cầy cũ kỹ chẳng

một ai thèm để mắt đến. Trong sáu mươi năm qua hoa

trên bệ thờ chưa một lần khan nước. Cần thiết thì

các tờ bướm truyền đạo phải được thay. Áo thầy

dòng, áo tế và áo choàng được chỉnh sửa lại khá chi

li. Đối với bà, lau chùi đá lát sàn thánh đường là

một bổn phận thiêng liêng.

Trong khi người ta đang chia sẻ những kỷ niệm

không thể nào quên được như thế, trong khi người ta

hết sức tán dương cuộc đời đang được siêu thoát

kia, thì một chàng trai trẻ với bộ vét bằng vải

tuýt nhợt nhạt hơi nổi trội vào buổi sáng ấm áp đó

lại đang kín đáo chụp ảnh. Mới đây thôi từ nơi anh

ở, anh đạp xe đạp trên một đoạn đường dài bảy dặm

rưỡi, rồi sau đó phải đứng khựng lại bởi dòng xe

7

đưa đám tang. Dự định của anh đến thị trấn là để

chụp rạp chiếu bóng đã bị thiêu rụi, sự kiện mà anh

đã được nghe kể tại một thị trấn nhỏ tương tự,

chính ở đó anh vừa mới ghi hình ảnh về tình trạng

hiểm nghèo của dãy nhà do đất sạt lở gây ra.

Mái tóc đen, thân hình mảnh khảnh, tuổi đời khoảng

hai bốn, hai lăm, chàng trai ấy là một người lạ

mặt ở Raythmoye. Dáng vẻ đôi chút hợp thời trang –

thái độ bình dị, chiếc cà-vạt có sọc màu xanh lục

vui mắt – đã bị bộ vét rộng thùng thình phá hủy. Vẻ

mặt trịnh trọng là một phần lạc điệu trong đường

nét tự nhiên của khuôn mặt anh, làm tăng thêm ấn

tượng về một sự mâu thuẫn nào đó trong anh. Florian

Kilderry là tên của chàng trai.

“Đám tang ai vậy?”, giữa đám đông anh hỏi, khi rời

8

chỗ đứng tạm thời để chụp ảnh ở phía sau xe ô-tô

trong bãi đậu xe, rồi quay trở lại đám tang. Anh

gật gật đầu khi người ta nói cho anh nghe, rồi anh

hỏi đường đi đến rạp chiếu bóng đã bị thiêu rụi.

Anh cám ơn một cách lịch sự với một nụ cười thân

thiện. “Cám ơn”, anh nói lần nữa, rồi đẩy xe đạp

ngang qua đám đông đi đưa tang.

Cả người con trai lẫn cô con gái của bà Connulty

đều không hay biết đám tang đã bị chụp ảnh theo

cách đó, và khi trên đường trở về số 4 Quảng

trường, tách ra khỏi đám đông, cả hai người con của

người đã khuất cũng không hay biết gì về sự việc

đang diễn tiến một cách bất thường đó. Đám đông bắt

đầu tản ra, người thì tụ tập lại ở số 4 Quảng

trường; người thì quay trở lại công việc buổi sáng

9

bị dang dở. Người cuối cùng ra về là một ông lão

theo đạo Tin Lành, tên là Orpen Wren. Ông lão tin

rằng người nằm trong quan tài được an táng chính là

hài cốt của chị phụ bếp lớn tuổi chết cách đây ba

mươi bốn năm trong một gia đình ông biết rất rõ.

Những tiếng nói thầm thì biểu lộ sự tôn kính quanh

ông nhỏ dần rồi tắt hẳn; các xe ô-tô khởi động và

chạy đi. Còn lại một mình tại chỗ, Orpen Wren đứng

yên đó một hồi lâu, rồi cuối cùng đến lượt lão cũng

ra về.

Đạp xe ra khỏi thị trấn, Ellie không biết người

đàn ông đang chụp ảnh ấy là ai. Cung cách anh hỏi

về sự kiện rạp chiếu phim bị thiêu rụi ngày xưa ấy

cho thấy là anh chẳng biết gì về Raythmoye, và

trước đây nàng cũng chưa từng gặp anh trên đường

10

phố hoặc trong cửa hàng. Nàng không rõ là anh có

tiếp xúc với ai trong gia đình Connulty không, bởi

vì chỉ những ai trong dòng họ Connulty mới là người

sở hữu rạp chiếu phim đó, bởi vì đó là đám tang

của bà Connulty. Trước đây nàng không bao giờ thấy

người ta chụp ảnh đám tang, mà cũng có thể là gia

đình Connulty đã thuê anh chụp ảnh. Hoặc có lẽ anh

làm việc cho một tờ báo, The Nenagh News hoặc The

Nationalist, bởi vì đôi khi ta thấy hình ảnh một

đám tang được đăng trên báo. Nếu sau đó nàng trở

lại nhà, có thể nàng đã hỏi tiểu thư Connulty nhưng

nàng đã có hẹn với các bác sĩ rồi.

Nàng hối hả dù nàng đã sắp xếp thời gian để không

bị trễ. Nàng muốn trở về ngôi nhà đó. Nàng muốn

nhìn thấy phía bên trong ngôi nhà vì nàng chưa nhìn

11

thấy nó bao giờ, dù nàng cung cấp trứng gà cho bà

Connulty đã lâu.

Có thể những tấm ảnh là những gì mà các linh mục

muốn có, rằng cha cố Balfe giữ quyển sách đạo như

Xơ Clare có một lần đã nói với nàng một linh mục có

thể làm như vậy. Bên trong quyển sách chứa đựng

cái gì thì nàng không biết được. Nàng không biết

trong tấm hình đấy có hình ảnh nàng hay không. Nàng

nhớ đến hai bàn tay mảnh khảnh trông rất nghệ sĩ

ấy khi anh đưa máy ảnh lên để chụp.

Chiếc xe màu trắng chở hàng đang ở trong sân và

ông Brennock đang bước ra khỏi xe. Nàng nói nàng

xin lỗi và ông hỏi xin lỗi vì chuyện gì. Nàng nói

nàng sẽ pha cho ông một tách trà.

Ở tại rạp chiếu phim hoang phế chỉ trong vài phút,

12

Florian Kilderry tạm dừng chuyến đi ở một quán

rượu bên đường, Dano Mohoney. Tại rạp chiếu bóng

anh bị cản trở bởi người đàn ông đang chú ý đến

chiếc xe đạp của anh, ông ta bước vào và nói là anh

không nên ở đó. Ông ta chỉ cho anh thấy một thông

báo. Florian nói anh không nhìn thấy nhưng thật ra

không như vậy. “Phải có giấy phép mới được vào”,

ông ta gắt gỏng nói cho anh biết, rằng để giữ an

ninh chỗ này, ông ta luôn khóa hai khóa và móc nó

lại. “Hãy đến gặp cô O”Keeffle ở kho than đá”, ông

ta gợi ý. “Anh sẽ có giấy phép cho vào nếu cô ấy

nghĩ đó là việc làm chính đáng”. Nhưng khi anh hỏi

các kho than đá ở đâu thì anh được cho biết là hôm

nay chúng đóng cửa để thể hiện lòng tôn kính. “Hẳn

anh đã nhìn thấy đám tang đấy”, người đàn ông nói.

13

Trong quán rượu, Florian cầm ly rượu nho đến một

góc phòng, châm thuốc hút. Chuyến đi của anh thật

buồn tẻ; đám tang bất ngờ đó là sự đền bù duy nhất,

và anh cố gắng moi trong ký ức các hình ảnh về đám

tang anh ký cóp được. Những người đi đưa đám từng

hai, từng ba người nói chuyện với nhau, trong số họ

có một linh mục và rất nhiều các bà xơ. Một vài

người bắt đầu tản ra về; một số người ngượng nghịu

đứng đấy, anh có cảm tưởng là họ phải ở lại lâu

hơn. Quang cảnh quen thuộc: trước đây anh đã từng

chụp ảnh các đám tang, tuy đôi lần theo yêu cầu anh

không được phép chụp. Thỉnh thoảng có một khoảnh

khắc xúc động, hoặc một sự biểu lộ đau buồn, nhưng

hôm nay cả hai điều đó đều không xảy ra.

Mặt khác, những gì anh được phép nhìn thấy ở rạp

14

chiếu phim là rất hứa hẹn. Xuyên qua tấm kính bị

đập vỡ, áp phích vẫn còn quảng cáo phim Idiot’s

Delight, nét mặt của Norma Shearer bị cắt xén và

méo mó. Anh đã quan sát chúng rất kỹ khi người đàn

ông quát vào mặt anh, nhưng anh phớt lờ. Rạp chiếu

phim được người ta gọi là “đại hý trường La Mã”,

vừa mới được lắp đặt một hệ thống âm thanh hiện đại

của phương tây.

Mùi thơm thịt lợn muối xông khói lan tỏa vào quán

rượu, và giọng nói oang oang từ radiô phát ra. Các

anh tài thể thao – võ sĩ đô vật, võ sĩ quyền Anh,

người cưỡi ngựa đua, người phóng lao – được trang

trí trên tường, với chó săn có lông màu xám tro, và

những người tham gia cuộc đua vượt chướng ngại

vật. Một đảng viên đảng Cộng hòa, bài báo được đóng

15

khung cho biết, anh ta có một thời là võ sĩ quyền

Anh, đấu đến hiệp thứ năm với võ sĩ Jack Doyle,

những chiếc găng anh ta mang được treo lủng lẳng

nơi cái giá ở phía sau quầy. “Hãy gõ vào cái quầy

cũ kỹ này nếu muốn uống thêm ly nữa” ông ta nhắc

nhở khi phải vào bếp mang thức ăn ra cho khách.

Nhưng Florian nói một ly là đủ rồi. Anh ngồi lại

lâu hơn một chốc, hút xong điếu thuốc thứ hai, rồi

cầm cái ly không đến quầy. Một giọng nói cất lên

chào từ biệt và mời anh trở lại lần nữa. Anh hứa sẽ

quay lại vào một ngày nào đó thật gần.

Ở bên ngoài, trong ánh nắng chiều ấm áp, anh đứng

đó vài phút, hai mắt khép hờ, lưng tựa vào một cột

trụ ở cửa đi vào. Sau đó anh đạp xe chầm chậm, tiếp

tục cuộc hành trình. Anh sống một mình. Chẳng có

16

gì phải vội vã.

Ngày tháng cứ thế trôi đi ở Raythmoye. Thị trấn đã

trở lại sinh hoạt bình thường sau thời gian bị

khuấy động bởi đám tang. Số 4 Quảng trường đâu vào

đấy sau khi gần một trăm người đã nhận lời mời đến

ăn uống sau đám tang. Các khay đầy ly tách và đĩa

nhỏ được mang xuống từ phòng khách ở tầng một rộng

thênh thang đến nhà bếp, các ly thủy tinh rải rác

đây đó được thu gom lại, các cửa sổ mở toang, các

gạt tàn thuốc được trút sạch. Vào lúc những cầu

thang được hút bụi sạch sẽ, các khăn lau trà được

treo cho khô và cô gái giúp việc hàng ngày được cho

về nhà thì trời đã tối. Một mình ở nhà, người con

gái của bà Connullty vuốt ve những món đồ nữ trang

nay đã thuộc về cô: các vòng ngọc bích, ngọc hồng

17

lựu và hổ phách, những đôi bông tai bằng saphia,

ngọc lam, ngọc trai và ngọc mắt mèo, nhẫn kim

cương, nhẫn đính hôn hồng ngọc, ba món trang sức

bằng đá chạm. Cũng có một chuỗi tràng hạt, nguồn

gốc không rõ lắm, ít có giá trị so với những đồ

trang trí lòe loẹt.

Ở tuổi trung niên, cô Connulty được mọi người ở

Rathmoye biết đến không gì khác ngoài sự thân mật –

nghi thức được áp đặt lên cô khi cách đây hai mươi

năm, mẹ cô không gọi cô bằng cái tên thánh được

đặt cho cô lúc chào đời. Một cách vô ý thức, anh

trai cô đi theo tấm gương này của người mẹ. Cha cô

qua đời và trong nhà cô là người không có tên. Lúc

bây giờ, cái tên “Cô Connulty” đã trở thành quen

thuộc đối với mọi người một cách tự nhiên ở thị

18

trấn.

Cô đếm có tất cả ba mươi hai món nữ trang, không

một thứ nào trong đó xa lạ đối với cô. Chúng sẽ

được cô mang và sẽ thường xuyên mang chúng giống

như mẹ cô trước đây. Sự phản chiếu này diễn ra lạnh

lùng, vô cảm. Trong các món nữ trang đó một số sẽ

thích hợp với cô, một số khác thì không. “Con đang

làm gì đấy?” cách đây lâu lắm rồi mẹ cô gay gắt hỏi

cô, điều bất ngờ là cũng chính trong căn phòng

này, đôi giày ngủ bà mang không gây ra một tiếng

động nào. Chiếc vòng đeo cổ bằng ngọc hồng lựu sờ

sờ trên cổ cô con gái bà, chưa gài móc ở phía sau,

cái móc đang được giữ giữa ngón tay trỏ và ngón tay

cái. Chiếc vòng rơi cái cạch xuống trên bàn trang

điểm. Bà Connulty, cao to và mập mạp, đã ra lệnh

19

cho các nhân viên bảo vệ đến ngay.

“Đừng, đừng gọi bảo vệ! Đừng, đừng mà!”. Tiếng hét

thất thanh từ thuở ấu thơ âm vọng lại, khiến cô

Cunnulty sợ đến nỗi đau thắt cả ruột gan. “Kitty,

đi ra gọi bảo vệ vào đây ngay!”, mẹ cô quát tháo

xuống cầu thang làm người hầu gái giật thót cả

mình, và ra lệnh cô đặt chiếc vòng cổ ra xa. Bà

kiểm tra một lượt các món nữ trang xem thử tất cả

còn nguyên ở đấy không. Sau đó một bảo vệ có mặt ở

sảnh đường; mẹ cô ra lệnh cô hãy nói thật cho anh

ta nghe mọi chuyện. Nghe xong, anh ta lắc đầu.

Không cao lớn, đẫy đà như mẹ, cô Connulty vẫn giữ

được vóc dáng xinh đẹp của một thiếu nữ. Tóc đã

muối tiêu, làm sẫm màu vàng hoe của mái tóc nhưng

khuôn mặt cô không đến nỗi già đi chỉ vì một vài

20

vết chân chim. Dẫu sao cô cũng cảm nhận mình không

còn trẻ trung nữa. Cảm giác đó đôi lúc khiến cô bực

bội vì nó như nhắc nhở rằng cô đang ở vào độ tuổi

trung niên, cái tuổi đang đánh mất dần những gì lẽ

ra đời cô đã có. Cô quay trở lại với các món nữ

trang ở bàn trang điểm, xưa kia là của mẹ cô, giờ

là của cô. Chỉ riêng chiếc vòng đeo cổ bằng ngọc

hồng bích là cô giữ lại, vì ngắm nhìn nó sẽ khỏa

lấp phần nào sự tương phản với vẻ u sầu tang tóc

của cô.

Joseph Paul Connulty là một người đàn ông có nét

mặt ranh mãnh khó ưa, ông ta cao lêu khêu với mái

tóc muối tiêu hất ngược hẳn ra phía sau. Kính đeo

mắt lủng lẳng trên một sợi dây vòng quanh cổ, thòng

xuống phía trên nền vải séc bộ vét màu đen. Hai

21

cây bút bi nhô ra khỏi túi trước ngực. Nổi bật hẳn

lên ở ve áo bên trái là biểu tượng của phong trào

Tiên phong.

Sau khi đã đến nghĩa trang lần nữa để nấn ná bên

cạnh phần mộ đã làm xong, với tâm trạng bối rối,

ông liền đi đến các kho than. Chúng đã được khóa.

Trên cửa văn phòng có dán một thông báo; các túi

xách mang tên ông xếp thành đống ngay thẳng trên xe

tải, đợi được giao. Nơi đây ông có cảm giác đang ở

tại nhà, cả cuộc đời ông quá quen thuộc với các ụ

đất than cám, các chuồng ngựa đã một thời chỉ có

ngựa và ngựa, những cánh cổng bằng sắt gấp nếp cao

vời vợi kín đáo, trên đó nhiều chỗ nước sơn màu đỏ

đã nhạt nhòa. Thời thơ ấu, ông nô đùa nghịch ngợm ở

đây, nhưng không được lén phéng bước vào quán

22

rượu. Ngược lại bây giờ, dù là một người hoàn toàn

kiêng rượu, nhưng phần lớn thời gian mỗi ngày ông

đều có mặt ở đó. Khát vọng của ông là trở thành

linh mục nhưng thiên hướng ấy đã trượt ra khỏi con

người ông vì chính mẹ ông không tin rằng ông sẽ

thành công trong đời sống tôn giáo. Cuối cùng sự

nghi ngờ của bà trở thành sự nghi ngờ của chính

ông.

Ông ra khỏi chỗ đó sau khi đã khóa hết các cổng

cao phía sau mình, và trên đường đi đến số 4 Quảng

trường, ông chẳng có gì phải vội vã. Đi ngang qua

quán rượu, cũng đã đóng cửa, ông cảm thấy thích thú

không khí vắng lặng nơi đó bởi vì thường khi luôn

có tiếng nhạc, tiếng cười nói oang oang dội ra

đường. Trong phòng đại sảnh của ngôi nhà cũng vắng

23

lặng, đó là nơi ăn chỗ ngủ của ông, một anh chàng

độc thân, là nơi ông đã sống cả cuộc đời mình.

“Người ta đã gợi ý với tôi về khu vườn tưởng

niệm”, ông nói lại cho người chị ông nghe khi hai

chị em gặp nhau ở đầu cầu thang tầng một.

Hai chị em được sinh ra chỉ cách nhau vài phút

nhưng họ không bao giờ có điểm chung nào giống nhau

cả. Thời thơ ấu, họ là hai người thân nhau nhất

nhưng giờ đây đôi khi liên tục mấy tuần liền họ

không gặp mặt hay nói chuyện với nhau, dù không

phải vì không có gì để nói.

“Đó là địa vị của mẹ ở thị trấn”, Joseph Paul tiếp

tục kể, trả lời câu hỏi của chị ông về sự cần

thiết cho khu vườn tưởng niệm. “Quan hệ của mẹ với

nhà thờ. Tiền mẹ cúng dường cũng như tất cả mọi

24

thứ”.

Ông không để lộ ra ý tưởng khác nữa đã nảy ra

trong đầu ông về dự định xây dựng một đài tưởng

niệm thích hợp khi ông đi ngang qua thị trấn, bởi

vì ông biết chị ông không bao giờ chấp thuận bất cứ

điều gì trong các thứ đó, nhưng riêng ông thì ông

ủng hộ khu vườn tưởng niệm. “Mẹ thật tuyệt vời!”,

thay vào đó ông nói.

Không giống như các kho than và quán rượu, số 4

Quảng trường đã trải qua một sự chuyển tiếp phản

ánh các tục lệ hai thế hệ của nó như là một địa

điểm bán buôn. Lúc ban đầu nó chỉ nhằm phục vụ các

cư dân thường trú, một ngày ba bữa ăn, nhưng rồi

nơi này đã trở thành chỗ ngủ qua đêm cho các thương

nhân. Những người hiện nay của dòng họ Connulty có

25

thể nhớ, dù mờ nhạt, rằng các thư ký ngân hàng và

người bán hàng mỗi buổi trưa đều trở lại phòng ăn,

mỗi buổi tối họ cùng nhau chia sẻ tờ báo hàng ngày

hay ngồi quây quần quanh lò sưởi đốt bằng than.

McNamara - thanh tra đường xá, Fee - sĩ quan cảnh

sát, Neely - cô giáo tại nữ tu viện, và những người

khác trong lúc vẫn còn là cư dân thường trú cho

đến khi thay đổi cuộc đời vì lập gia đình, hoặc

được thăng tiến trong nghề nghiệp. Mỗi một người

được phân phát một khăn ăn có đánh đấu riêng; cô

Neely thì có thuốc bổ, Mcnamara thì có loại bia đen

nhưng phải trả tiền. Bây giờ chỉ có Gohery, thầy

dạy sáng tác nghệ thuật, hiện nay đang đi nghỉ hè –

là người ở thường trú tại số 4; nhưng tiếng tăm

của ngôi nhà cung cấp thức ăn và giặt giũ cho thấy

26

hiếm khi có một phòng trống. Một bảng hiệu treo ở

cửa sổ tầng một nói rõ các điều lệ phải theo khi

ngủ qua đêm ở đây, nêu rõ các bảng giá nhằm bảo đảm

cho sự buôn bán phát đạt dù ở mùa nào chăng nữa.

Trong tất cả các thứ này, Joseph Paul đoán trước

sẽ có ít sự thay đổi, chỉ một điều duy nhất là cô

em gái của ông sẽ quản lý mọi việc một mình. Một

phụ nữ hoặc một cô gái luôn luôn đến để lau chùi

dọn dẹp và không thể nào không cần đến họ. Mà cô em

gái ông thì cũng không muốn làm công việc đó.

“Tôi chỉ quan tâm một việc duy nhất”, ông nói. “Đó

là khu vườn tưởng niệm”.

Họ đã chơi trò chơi với năm cục than đá trong kho

than, mỗi người năm cục để đá chúng vòng quanh theo

con đường họ đã sắp đặt: đi dến kho chứa bao bố

27

rồi sau đó đi đến các thùng chứa nước và các ụ than

cám, vượt qua các than cục đến chỗ để xe bò, qua

phía bên kia các chiếc xe đó để đến máy bơm nước và

cái cửa sơn đỏ một nửa rồi quay trở lại chỗ xuất

phát. Ở trong thị trấn, họ gõ mạnh vào các cửa

phòng khách rồi te cò bỏ chạy. Họ mở các then cửa

chuồng gà, để chúng chạy tán loạn. Họ đi lang thang

trên các đường phố trong khi người bố đang cặm cụi

làm việc, người mẹ đang lo dọn dẹp nhà cửa. Sinh

sau chị mình vài phút, Joseph Paul cũng nhỏ người

hơn nhưng không bao giờ ông xem đó là một sự thiệt

thòi.

“Còn về bia mộ thì sao?”, cô Connulty nhặt lên một

que diêm đã dùng rồi, mà cô gái giúp việc hàng

ngày đã lơ là không để ý đến, ở trên một trong số

28

các bậu cửa sổ đầu cầu thang. Ông nhìn cô ném que

diêm vào lò sưởi chưa đốt lửa trong căn phòng rộng

lớn phía trước, khéo léo đến nỗi chẳng ai nhìn thấy

nó. Ông nói: “Việc đó chúng ta phải đến Hegarty

mới quyết được”.

“Mộ bia sẽ làm theo ý của mẹ”.

Người mẹ yêu cầu trên mộ bia, tên của bà không

được thêm tên của người chồng vào. Ý thích của bà

là mộ phần của bà, bia mộ của bà chỉ dành riêng cho

một mình bà.

“Mộ phần của mẹ là quyền được hưởng của mẹ”,

Jo-seph Paul nói.

“Ai đã gợi ý về khu vườn vậy?”.

“Là Madge Shea ở cửa hàng Feeney’s”.

Khu vườn là cái chưa hề có ở số 4 Quảng trường và

29

đó chính là điều mà mẹ của họ thường hay nói đến.

Một nơi chốn để trầm tư mặc tưởng, Joseph Paul

tiếp, một cách để nói lời tạ ơn với cuộc sống: Đó

cũng chính là những gì mà người ta đang nghĩ đến,

bởi vì thời điểm này đã tới. Phía sau nhà thờ, giữa

nhà thờ và nghĩa trang, vẫn còn đủ không gian cho

cái vườn.

“Vừa đủ cho chúng ta có được nét riêng biệt của mộ

phần”, người chị ông phản đối. “Đó chính là điều

bình thường, để cho chồng và vợ cùng sẻ chia một

tấm mộ bia”.

Ông không phủ nhận điều đó; ông cũng không tranh

luận. Sự sắp đặt cho việc mai táng đã được cha cố

Millane đồng ý và tiến hành như tâm nguyện cuối

cùng của người đã khuất. Cũng một cách giống như

30

thế, Hegarty ở Stoneyard sẽ được chỉ dẫn khi giây

phút ấy đến. Sẽ có một khu vườn tưởng niệm bởi vì

người dân trong thị trấn muốn như thế.

“Tôi nghe nói có một gã nào đó chụp ảnh đám tang”,

chị ông nói.

“Tôi có thấy đâu”.

“Người ta bàn tán ùm lên thế. Họ ngạc nhiên là

chúng ta muốn có các bức ảnh”.

“Tôi có thấy người nào đâu”.

“Tôi chỉ nói với cậu những gì người ta nói”.

Cô Connulty bỏ đi mà không bình luận gì thêm nữa,

cô cầm theo cái tách và cái đĩa đã bị bỏ sót phía

sau một cái bình. Joseph Paul đi vào căn phòng rộng

lớn phía trước, các ngọn đèn được thắp sáng suốt

cả ngày, hai tấm rèm cũng đã được kéo lên trên hai

31

cửa sổ lớn, tại mỗi cửa sổ dây kéo có núm tua được

thắt nút vòng quanh các màn cửa nhung trong mành

mành cửa sổ màu nâu đỏ nhạt. Các bức màn vải đã đem

lại cho sự riêng tư cho căn phòng vào ban ngày.

Các tạp chí được rải đầy trên bàn và trên một ghế

đẩu ở phía trước lò sưởi.

Ông lo âu khi nghe nói có người chụp ảnh đám tang,

bởi vì điều đó chứng tỏ một sự thiếu tôn trọng,

chụp ảnh đám tang chẳng khác gì như chụp ảnh một lễ

hội hóa trang. Ông không biết là chị ông có dựng

chuyên lên không; chị ông thường hay bịa chuyện này

chuyện nọ lắm.

Ông đọc lướt qua tờ báo The Nationalist của một

trong những người ở trọ qua đêm tuần trước bỏ lại.

Rồi cũng không mấy quan tâm lắm, ông lật các trang

32

của tờ báo cũ Dublin Opinion. Cô không thoải mái.

Ông để ý thấy cô đã trở nên xảo quyệt qua bao năm,

và ông hy vọng – trong vài trường hợp còn van xin

cầu nguyện – rằng thời gian sẽ xoa dịu đi sự bất

mãn của cô. Khi họ còn bé, người mẹ thường thích cô

có mặt ở nhà bếp, còn ông thường được cho đi chơi

một mình. Ông đã nhìn qua khe hở khi cửa nhà bếp

không đóng, hầu như là không bao giờ đóng nữa là

khác. Ông dõi mắt nhìn cách mà cô nghịch ngợm với

mỡ và gân, cách mà cô cắt thịt, rắc bột mì lên các

miếng thịt, không bao giờ quá dày. Người mẹ chỉ

cách cho cô để lửa liu riu trong thời gian bao lâu

thì cho thêm bánh bao vào, đó là bánh Bisto. Rồi

đến ngày cô được phép làm bánh bao một mình, ngày

khác cô được phép gọt vỏ táo để làm bánh batê, ngày

33

khác nữa thì được phép khuấy mù tạt và nghiền

khoai tây. Nhà bếp là chỗ của họ, những người phụ

nữ của gia đình – họ hoặc bất cứ cô gái giúp việc

nào chăng nữa, một cô gái nông thôn, hoặc một bà

góa chồng của thị trấn đang cần tiền.

Đã quen với thế giới đàn bà, Joseph Paul cuối cùng

đã không màng để ý đến những việc lớn lao. Ông bổ

củi ở nhà phụ, công việc mà theo mẹ ông là quá sức

một cậu bé. Đôi khi bà dẫn ông đi mua sắm với bà,

gọi ông là người bạn tí hon. Ông không làm bà cáu

gắt bao giờ, bà nói thế; con người ông chẳng có gì

khiến bà phải bực mình. Mỗi buổi sáng sau bữa điểm

tâm, hai mẹ con cùng ngồi bên lò sưởi, cách chỗ ông

hiện đang đứng không quá một thước.

Tối nay ông đặt phòng riêng cho mình bởi vì tờ

34

thông báo cho biết việc cung cấp phòng ăn chỗ ở tạm

thời ngưng lại. Ông lắng nghe âm thanh quen thuộc

từ tầng dưới vọng lên: chị ông đang cài then cửa

trước, tiếng kêu lách cách của muỗng nĩa trong

phòng ăn, tiếng ngăn kéo được đẩy vào, tiếng cửa sổ

mở để cho không khí tràn vào vì các cửa lớn đã

đóng kín cài then bịt bùng. Luôn luôn có cơ hội để

cô kết hôn, nhưng cơ hội để quá khứ cô không bao

giờ thoát ra được cuối cùng sẽ trôi vào quên lãng,

cơ hội để một trong những người đàn ông đều đặn đến

ngủ qua đêm hoặc một trong những người độc thân

lớn tuổi ở thị trấn, sẽ cưới cô. Sự rắc rối xảy đến

khi cô còn trẻ. Cô đã không buông xuôi khi sự việc

đã kết thúc. Kể từ đó đến nay cô không lấy chồng.

Ông nghe bước chân nhè nhẹ của người chị trên các

35

bậc thang, bước chân ông quá quen thuộc bởi vì đâu

còn nữa những bước chân của người mẹ. Sự kiện ông

bị người chị xem thường là một trong những thay đổi

của thái độ đổ lỗi. Cô đi băng qua đầu cầu thang

đến đứng sát cạnh chỗ ông ngồi. Hai phòng ngủ ở

phía sau sẽ được trang hoàng trước mùa đông, cô

nói, màu nước sơn cũng giống như trước đây vậy

thôi.

Ông gật đầu mà không đảo mắt nhìn quanh bởi không

muốn nhìn thấy đồ trang sức cô đang đeo để chọc tức

ông, ông nói ông sẽ quan tâm đến vấn đề đó và cô

bỏ đi.

36

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát