Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Văn Cao - Người Đi Dọc Biển

NGUYỄN THỤY KHA

VĂN CAO

Người đi dọc biển

Tiểu thuyết chân dung

Nhà xuất bản lao động - 2010

Dữ liệu lưu trữ “Văn Cao - người đi dọc biển” NXB

Lao động (1991) tại thư viện Đại học Harward -

Bostoncity - Bang Masachusete - American (Hoa Kỳ).

TỰA

Trong một chuyến cùng đi làm phim chân dung với

nhà thơ Tế Hanh, khi máy bay đã lẫn vào những đám

mây, Tế Hanh bỗng hỏi tôi: “Kha làm công tác âm

nhạc, Kha nghĩ thế nào về bốn ông nhạc sĩ: Nguyễn

Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận và Văn Cao?”.

Vốn đã ngẫm nghĩ về tứ trụ này từ lâu, tôi trả lời:

1

“Văn Cao là trời cho. Đỗ Nhuận là đời cho. Nguyễn

Xuân Khoát là người cho. Lưu Hữu Phước là thời

cho”. Tế Hanh cười: “Được. Hay lắm. Mình đã từng

nghĩ như thế, nhưng chưa rút ra gọn như vậy”.

Tôi cảm thấy vui vì ý nghĩ của mình đã được một

nhà thơ lớn tuổi đồng cảm. Thật vậy, Văn Cao đúng

là trời cho.

Dường như trong tất cả những sáng tạo của mình,

sau khi đã ngẫm nghĩ khá lâu, khi đặt bút viết, Văn

Cao thực hiện xong tác phẩm nhờ một mách bảo gì đó

trong vô thức. Bởi vậy, về Văn Cao, cho đến nay,

không phải đã ngớt những lời bàn, những tranh luận.

Đối với đông đảo nhân dân mọi thế hệ, cái ý Văn

Cao là trời cho được mọi người đồng tình. Ai là

người Việt Nam mà không tự hào về tác giả Quốc ca

2

nước mình. Chỉ có sự đố kỵ mới bày đặt này nọ ở một

thời điểm dễ nhiễu nhương nhất. Không chỉ riêng

với quốc ca, mọi sáng tạo âm nhạc của Văn Cao tuy

không nhiều nhưng đã được đón nhận thật nồng nhiệt.

Thế giới âm thanh của Văn Cao thật sang trọng và

lâu bền - sự sang trọng không tuân thủ “khuôn vàng

thước ngọc” của bất kỳ nền văn hóa nào cố tình áp

đặt lên cảm xúc của người nghệ sĩ này. “Khuôn vàng

thước ngọc” ở sáng tạo của Văn Cao là do chính ông

định ra. Nó có thể giúp cho những nghệ sĩ không có

sự đố kỵ soi sáng vào sáng tạo của mình để tìm ra

một phong cách riêng. Còn nếu như ai đó chỉ suốt

đời là một người học trò áp dụng những bài học đầy

khuôn phép của âm nhạc dạy trong các nhà trường ở

mọi nước trên hành tinh này thì không mấy mặn mà

3

với những sáng tạo trời cho này. May mà số học trò

đó không nhiều lắm và cũng không đủ mạnh đề phủ

định. Văn Cao vẫn cứ “rền trên cõi tiên” của mình

những âm thanh vọng vào nhân thế.

Cuốn sách “Văn Cao - cuối cùng và còn lại” được

thực hiện vào năm Văn Cao 75 tuổi và vào dịp mộ chí

của ông vừa được Nhà nước và gia đình xây cất cẩn

trọng như một di tích văn hóa cho đời sau, chỉ mang

chứa một ước vọng nhỏ để đa số những người đã đồng

cảm với Văn Cao có thêm đồng cảm. Và với những

người chưa thật nhều đồng cảm, có thể nhận ra từ

những trang sách này những lời chia sẻ dịu dàng và

nồng ấm của những tên tuổi từng gắn bó với Văn Cao.

Và chúng ta có một thế giới Văn Cao ngay trong căn

nhà trang trải đời mình.

4

Cách đây hơn hai thập niên - năm 1988, Nhà xuất

bản Trẻ có một vinh dự thầm kín là nơi đầu tiên ấn

hành trở lại những sáng tác của Văn Cao sau nhiều

năm vắng bóng. Cũng năm ấy, những “Đêm nhạc Văn

Cao” đã trở thành nét chủ đạo trong sinh hoạt âm

nhạc đất nước năm mở ra đổi mới. Năm 1992 - tiểu

thuyết chân dung “Văn Cao - Người đi dọc biển” được

NXB Lao Động ấn hành.

Thời gian bây giờ trôi qua, Văn Cao đã được khẳng

định vị trí của một “bậc tài danh thế kỷ” và đã

vĩnh viễn ra đi khỏi cõi đời vào đầu thu 1995, Nhà

xuất bản Lao Động một lần nữa lại làm bà đỡ cho

cuốn sách này ra đời. Dường như đó là duyên kỳ ngộ

giữa các Nhà xuất bản với Văn Cao và với những

người hiện diện những dòng viết về Văn Cao trong

5

cuốn sách. Xin hãy đón nhận sự chân thành ở ấn phẩm

này.

Nguyễn Thụy Kha.

TIỂU SỬ

Thời thơ ấu và trước Cách mạng

Sinh ngày 15-11-1923 tại Hải Phòng.

Quê quán: Vụ Bản - Nam Định.

Thuở nhỏ học tài trường Bonnal (nay là trường Phổ

thông trung học Ngô Quyền), sau chuyển sang trường

Saint-Joseph, Hải Phòng.

Có thời kỳ đầu thanh xuân làm nhân viên Sở Bưu

điện Hải Phòng. Bắt đầu sáng tác thơ, viết văn

xuôi, vẽ và viết ca khúc từ năm 1939:

Buồn tàn thu (1939).

Thu cô liêu (1940).

6

Cung đàn xưa (1940).

Thiên thai (1941).

Bến xuân (1942).

Chiều trên sông Bạch Đằng (1942).

Suối mơ (1943).

Gò Đống Đa (1943)

Thăng Long hành khúc ca (1943).

Tiến quân ca (1944).

Chiến sĩ Việt Nam (1944).

Chùm thơ Quê lòng, Ai về Kinh Bắc, Đêm mưa, Đêm

ngàn (1941).

Một đêm đàn lạnh trên sông Huế (1942).

Bến Ngự trên thương cảng (1942).

Chếc xe xác que phường Dạ Lạc (1945).

Tham gia triển lãm “Duy nhất” (Salon unique) với

7

ba bức sơn dầu, trong đó có Cuộc khiêu vũ của những

người tự tử.

Tham gia hoạt động trừ gian và làm báo bí mật từ

1944 đến 19-8-1945.

Từ Cách mạng tháng Tám va trong kháng chiến chống

Pháp.Hải quân Việt Nam (1945)

Không quân Việt Nam (1945).

Trương Chi (1945)

Làm báo Lao Động, giúp Hà Đăng Ấn chuyển vũ khí và

tiền vào Quảng Ngãi (1-1946).

Bắc Sơn (1946).

Công nhân Việt Nam (1946).

Chuyển Bến xuân thành Đàn chim Việt (1946).

Toàn quốc kháng chiến về khu III Chợ Đại - Hà

Đông, viết bài thơ Ngoại ô mùa đông 1946 (1947).

8

Làng tôi (1947).

Được điều lên Lào Cai làm công tác tình báo, sau

về qua Việt Bắc.

Trường ca Sông Lô (1948).

Về lại Khu III (1948).

Ngày mùa (1948).

Tiến về Hà Nội (1948).

Điều lên Việt Bắc (1950).

Tiểu đoàn Lũng Vải (1951).

Toàn quốc thi đua (1951)

Trong phái đoàn sang thăm Liên Xô (1953).

Từ hòa bình lập lại đến 30-4-1975.

Làm báo Văn nghệ, ở trong Hội đồng Biên tập và là

Ủy viên chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật

Việt Nam.

9

In trường ca Những người trên cửa biển (NHà xuất

bản Văn nghệ, 1956, cùng Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng

Cầm).Viết ba tác phẩm cho piano Sông tuyến, Biển

đêm, Hàng dừa xa (1958).

Làm nhạc phim Đi bước nữa (1963).

Dưới cờ giải phóng (1963).

Đường làng qua bản Mèo (1965).

Hải Phòng mở ra biển lớn (1971).

Viết giao hưởng thính phòng Anh bộ đội Cụ Hồ

(1973).Xuất bản tập ca khúc Làng tôi (1974).

Từ giải phóng miền Nam đến 10-7-1995.

Mùa xuân đầu tiên (1976).

Viết nhạc phim Chị Dậu (1980).

Hành khúc công nhân toa xe (1983).

Tình ca Trung du (1984).

10

In lại thơ ở báo Văn nghệ (9-1985)

Xuất bản tập ca khúc và thơ: Thiên Thai (NXB Trẻ,

1988).Xuất bản tập thơ Lá (NXB Tác phẩm mới,

1988).Ca khúc Văn Cao (NXB Âm nhạc, 1993).

Tuyển tập thơ Văn Cao (NXB Văn học, 1993).

Ủy viên chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa 3

(1983-1989).Huân chương Độc lập hạng Ba (1988).

Huân chương Độc lập hạng Nhất (1994).

Mất ngày 10.7.1995.

Truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

11

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát