Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Hạnh Phúc Không Quá Muộn

HẠNH PHÚC KHÔNG QUA MUỘN MÀNG

Chương 1

Sarah Anderson rời văn phòng làm việc lúc chín giờ

ba mươi sáng thứ ba, tháng sáu, để đến gặp Stanley

Perlman lúc mười giờ. Nàng vội vã ra khỏi tòa cao

ốc ở One Market Plaza, bước ra lề đường, gọi taxi.

Như mọi khi, nàng nghĩ có lẽ hôm nay là lần cuối

cùng nàng gặp ông ấy. Ông ấy thường nói vậy. Còn

nàng thì mong ông sống mãi, mặc dù ông luôn luôn

phản đối và dù thời gian hữu hạn. Công ty luật

của nàng đã giải quyết công việc của ông hơn nửa

thế kỷ nay. Còn nàng là luật sư phụ trách về tài

sản và thuế của ông đã hơn ba năm nay. Với tuổi

ba mươi tám, Sarah là cổ đông của công ty từ hơn

hai năm nay và khi luật sư của ông chết đi, ông

1

trở thành khách hàng của nàng.

Stanley sống khá lâu hơn rất nhiều người. Ông đã

chín mươi tám tuổi. Đôi lúc thật khó tin ông lại

thọ đến như vậy. Trí óc ông vẫn còn minh mẫn, ông

đọc rất nhiều và hiểu rõ mọi sắc thái, sự thay đổi

của luật thuế hiện hành. Ông là khách hàng

đầy thử thách và vui tính. Stanley Perlman

rất có tài trong công việc kinh doanh. Điều duy

nhất thay đổi nơi ông là cùng với năm tháng, cơ

thể ông suy nhược, nhưng tinh thần thì không. Hiện

ông nằm liệt giường, ông nằm như thế đã gần bảy

năm nay. Năm y tá thay phiên chăm sóc cho ông. Ba

người thường xuyên mỗi phiên tám giờ, còn hai

người dự bị để thay khi cần. Ông được thoải mái

hầu hết thời gian và đã nhiều năm nay ông không

2

rời khỏi nhà. Sarah lúc nào cũng thích ông, mến

phục ông, nhưng nhiều người khác cho rằng ông dễ

nổi giận và hay gắt gỏng. Nàng nghĩ rằng ông là

người đáng trọng. Nàng đưa cho tài xế địa chỉ của

Stanley ở Scott Street. Xe chạy qua khu tài chính

San Francisco nườm nượp xe cộ, rồi chạy về phía

tây của thành phố, đến khu Pacific Heights, nơi

ông sống trong ngôi nhà ông mua để đầu tư suốt bảy

mươi sáu năm nay.

Khi họ lên đồi Nob Hill để đến phố California

Street, mặt trời chiếu rực rỡ, nhưng nàng biết khi

lên cao, thời tiết có thể thay đổi khác đi. Ở

trên phố này, sương mù thường dày đặc phủ kín khắp

nơi ngay cả khi ở phố dưới trời nắng ấm. Sarah

mang đến cho Stanley một số giấy tờ để ông ký,

3

chúng không có gì quan trọng. Ông thường thêm vào

di chúc, lúc nào ông cũng sắp sửa để chết và trước

đó lâu cũng đã thế rồi. Nhưng dù thế, mỗi khi ông

có vẻ sắp sửa từ giã cõi đời vì bệnh nặng nguy

kịch, thì ông lại bình phục, khiến cho ông càng

thêm sầu não. Sáng hôm nay ông gọi đến nàng, nhắc

cho nàng nhớ giờ hẹn, ông báo cho nàng hay rằng

ông cảm thấy yếu người suốt mấy tuần qua và ông

cảm thấy mình không còn sống lâu nữa.

- Đừng dọa tôi, Stanley - nàng vừa đáp vừa bỏ giấy

tờ cho ông ký vào cặp – Ông sẽ sống lâu hơn chúng

tôi.

Thỉnh thoảng nàng buồn cho ông, nhưng không có gì

nơi ông làm cho nàng chán nản và hiếm khi ông than

thân trách phận. Ông vẫn ra lệnh cho các y tá đọc

4

báo New York Times và Wall Street Journal hàng

ngày, cũng như đọc báo địa phương. Ông thích ăn

bánh sandwich nhân thịt bò hun khói tẩm nhiều gia

vị và thịt bò băm viên, kể chuyện thời mới lớn của

mình ở Miệt Dưới phía Đông của New York một cách

chính xác, hấp dẫn. Ông đến San Francisco lúc mười

sáu tuổi vào năm 1924, ông rất lanh lợi trong việc

tìm việc làm, hợp tác làm ăn với những người

chính đáng, nắm bắt thời cơ và tiết kiệm tiền bạc.

Ông mua bất động sản, luôn luôn trong những hoàn

cảnh bất thường, nhằm lúc sa cơ thất vận của kẻ

khác, ông thẳng thắn xác nhận như thế và buôn bán,

kiếm lời rất nhiều. Trong thời suy thoái kinh tế,

khi những người khác thua lỗ thì ông kiếm được rất

nhiều tiền. Ông là hình ảnh của người thân tự lập

5

thân.

Ông thích nói dối rằng ông mua cái nhà ông đang ở

với giá rẻ “như bèo” vào năm 1930. Và đáng kể nhất

là sau đó, ông thuộc trong số những người đầu

tiên xây dựng những gian hàng ở Nam California.

Hầu hết tiền bạc ông làm ra vào lúc ban đầu là do

việc phát triển địa ốc mà ra, mua nhà này bán nhà

kia, thỉnh thoảng mua đất mà không ai muốn mua, để

đó chờ thời, đến lúc người ta cần, ông bán lại

hoặc ông xây nhà làm văn phòng hay trung tâm

thương mại trên đó. Về sau, ông dùng cái tài trực

giác này để đầu tư vào các giếng dầu. Tài sản mà

ông gom góp được duy trì cho đến bây giờ. Stanley

có tài về kinh doanh, nhưng ông cống hiến cho đời

rất ít. Ông không có con, không lấy vợ, không tiếp

6

xúc với ai ngoài các luật sư và các y tá làm việc

cho ông. Mười chín người được thừa hưởng tài sản

của ông đã được ghi trong chúc thư mà Sarah vừa

cập nhật hóa cho ông, là những người cháu trai

cháu gái gọi ông bằng ông và hai người anh em họ

đã già gần bằng ông và ông nói rằng ông đã không

gặp hai người này từ cuối thập niên 1940 nhưng ông

cảm thấy vẫn còn nhớ lờ mờ về họ (tài sản mà nàng

vừa cập nhật hóa lần này bao gồm một loạt các

giếng dầu ông vừa mới mua ở quận Cam, sau khi bán

đi nhiều giếng khác, lại một lần nữa ông mua bán

đúng lúc). Thực vậy, ông không gắn bó mật thiết

với ai và ông không giấu giếm về điều này. Suốt đời

ông chỉ có một sứ mạng, chỉ duy nhất một sứ mạng

thôi, đó là việc làm ra tiền. Ông đã hoàn thành

7

mục đích ấy. Ông nói thời còn trẻ, ông có yêu hai

người đàn bà, nhưng ông không đề nghị cưới hỏi

người nào hết và khi họ chia tay ông để đi lấy

người khác, ông mất liên lạc với họ, cách đây đã

hơn sáu mươi năm.

Ông nói, điều duy nhất ông ân hận là không có con.

Ông xem Sarah như cháu nội của mình, vì nếu ông

có thì giờ để lấy vợ, thì cháu nội của ông chắc

bằng Sarah. Nàng là mẫu cháu nội cháu ngoại ông

muốn có. Nàng thông minh vui vẻ, nhiệt tình, nhanh

nhẹn, đẹp, làm cái gì cũng tuyệt hết. Thỉnh

thoảng khi nàng đem giấy tờ đến cho ông, ông thích

ngồi nhìn nàng và nói chuyện với nàng hằng giờ.

Thậm chí ông còn nắm tay nàng, điều mà không bao

giờ ông làm với các y tá. Họ thường làm cho ông

8

căng thẳng, bực mình, họ chế ngự ông, lúc nào cũng

lo cho sức khỏe của ông. Sarah không thế. Nàng

ngồi đấy, trẻ trung, xinh đẹp, nói với ông những

chuyện ông thích nghe. Nàng biết ông quan tâm đến

luật mới về thuế. Ông thích việc nàng đến mang

theo nhiều ý nghĩ mới để có thể tiết kiệm tiền bạc

cho ông. Mới đầu ông cảnh giác về nàng vì nàng

trẻ, rồi dần dần ông tin nàng mỗi lần nàng đến

thăm ông trên căn phòng nhỏ mốc meo trên tầng áp

mái của ngôi nhà tại phố Scott. Nàng đi lên theo

cầu thang lầu phía sau, tay xách cặp, kín đáo đi

vào phòng ông, ngồi trên ghế gần giường ông và họ

nói chuyện cho đến khi ông mệt phờ. Mỗi lần nàng

đến thăm ông, nàng sợ đây sẽ là lần cuối. Rồi ông

gọi nàng đến khi nghĩ ra được điều gì mới mẻ, nghĩ

9

ra được kế hoạch mới, nghĩ ra được thứ ông muốn

bán, mua, nhận vào hay tống khứ đi. Và bất cứ cái

gì ông đụng đến luôn luôn làm gia tăng tài sản của

ông. Ngay khi đã chín mươi tám tuổi, Stanley

Perlman vẫn có tài làm ra tiền như nước. Và tuyệt

hơn hết là mặc dù họ cách biệt về tuổi tác rất

nhiều, nhưng qua mấy năm làm việc với ông, Sarah

và Stanley đã trở thành bạn bè. Khi xe chạy qua

giáo đường Grace ở trên đỉnh đồi Nob Hill, Sarah

nhìn ra ngoài cửa sổ xe, ngồi dựa người ra sau,

nghĩ đến ông. Nàng tự hỏi phải chăng ông ốm nặng và

phải chăng đây là lần cuối cùng. Ông đã bị sưng

phổi hai lần trong mùa xuân vừa qua và thật là kỳ

diệu, lần nào ông cũng vượt qua bệnh hoạn. Có lẽ

bây giờ ông không vượt qua được. Các y tá của ông

10

săn sóc ông rất cẩn thận, nhưng với tuổi của ông,

không chóng thì chày ông cũng không thoát khỏi bàn

tay tử thần. Không thể tránh khỏi chuyện này nhưng

Sarah vẫn lo sợ. Nàng biết khi ông mất đi, nàng

sẽ rất nhớ ông. Nàng buộc mái tóc đen dài ra phía

sau gọn gàng, cặp mắt to và xanh màu hoa bắp. Lần

đầu tiên gặp nàng, ông nói đến màu mắt nàng ngay

và ông hỏi có phải nàng đeo kính sát tròng có màu

hay không. Nghe ông hỏi, nàng cười, trả lời không.

Thường khi, da nàng có màu kem, nhưng lần này có

màu nâu, vì nàng đi nghỉ cuối tuần nhiều lần ở hồ

Tahoe. Nàng thích đi bộ đường dài, bơi lội và đi

xe đạp leo núi. Sau những giờ làm việc trong văn

phòng, nàng cảm thấy thoải mái khi đi nghỉ cuối

tuần ở xa. Phần vốn của nàng trong công ty luật có

11

khá nhiều lợi nhuận. Nàng tốt nghiệp trường luật ở

Stanford, tài sắc vẹn toàn và là dân bản địa của

San Francisco. Nàng sống ở đây suốt đời, ngoại trừ

bốn năm học ở Harvard. Năng lực và khả năng làm

việc cần cù của nàng đã gây ấn tượng mạnh cho ông

Stanley và các cổ đông khác trong công ty.

Khi nàng mới gặp Stanley, ông tra hỏi nàng rất

gắt và nói rằng nàng trông có vẻ như người mẫu.

Nàng cao, mảnh khảnh, ra vẻ nhà thể thao, cặp chân

dài khiến ông thường âm thầm chiêm ngưỡng. Nàng

mặc bộ áo quần màu xanh nước biển gọn gàng, bộ áo

quần mà nàng thường mặc khi đến thăm ông. Đồ nữ

trang duy nhất nàng đeo là đôi hoa tai nhỏ bằng kim

cương, món quà Stanley tặng nàng vào dịp Giáng

Sinh. Ông đích thân gọi điện thoại đến Neiman

12

Marcus để đặt mua cho nàng. Thường thường ông

không rộng lượng, ông thích cho các y tá tiền vào

các dịp nghỉ lễ thôi, nhưng ông say đắm Sarah,

cũng như nàng mê ông vậy.

Nàng đã tặng ông nhiều áo quần bằng vải casơmia

để ông mặc cho ấm. Ngôi nhà của ông luôn luôn lạnh

và ẩm. Bất cứ khi nào các y tá mở lò sưởi là ông

la mắng họ rất dữ. Stanley thích dùng chăn để sưởi

ấm hơn là dùng cái gì có thể làm cho ông tốn

tiền. Sarah thường kinh ngạc trước sự kiện là ông

không bao giờ ở tại phần chính của ngôi nhà, mà

chỉ ở trong những phòng dành cho gia nhân trên

tầng áp mái.

Ông nói ông mua ngôi nhà để đầu tư, để bán lấy

lời, nhưng không bán được. Ông để ngôi nhà nằm yên

13

như thế, chứ không tu sửa gì. Ngôi nhà trước kia

trông rất lộng lẫy, to lớn, được xây cất trong thập

niên hai mươi. Stanley nói cho nàng biết rằng,

gia đình xây ngôi nhà này bị phá sản sau thời suy

thoái kinh tế vào năm 1929 và ông mua lại vào năm

1930. Ông dọn đến ở tại đây trong một căn phòng

dành cho tôi tớ, với chiếc giường bằng đồng cũ và

cái tủ có ngăn kéo mà người nhà đã bỏ lại, chiếc

ghế bành thì lò xo đã cứng, hết nhún, ngồi lên như

ngồi trên tấm bê tông. Chiếc giường bằng đồng đã

được thay bằng cái giường bệnh viện đã mười năm

nay. Trên tường chỉ có độc nhất một bức hình cũ

chụp cảnh hỏa hoạn sau trận động đất, còn ngoài ra

trong phòng không có bức hình nào về người hết.

Trong đời ông, không có người mà chỉ có đầu tư và

14

luật sư. Trong ngôi nhà không có bóng dáng gì về

người hết. Bàn ghế đã được chủ nhà trước lần lượt

đem bán đấu giá, mà hầu như không được bao năm.

Khi Stanley dọn đến đây ở, ông không sắm sửa lại.

Ông nói với nàng rằng đồ đạc trong ngôi nhà đã bị

lấy đi hết trước khi ông mua. Những căn phòng rộng

rãi và đẹp đẽ trước đây, bây giờ chỉ còn những

tấm màn rách tả tơi treo ở vài cửa sổ. Những cửa

sổ khác được đóng ván để người ngoài khỏi nhìn vào

trong. Mặc dù Sarah chưa hề thấy ngôi nhà, nhưng

nàng biết trong nhà có phòng khiêu vũ. Chưa bao

giờ nàng đi quanh nhà, mà mỗi lần đến, nàng đi

thẳng đến cửa phục dịch ở cầu thang phía sau, để

đi lên phòng ngủ của ông trên tầng áp mái. Nàng chỉ

đến với mục đích duy nhất là thăm Stanley. Nàng

15

không có lý do gì để đi quanh nhà, nhưng nàng biết

một ngày nào đó, khi ông chết rồi, có lẽ nàng

phải đi khắp nhà để bán nó. Tất cả những người

thừa hưởng tài sản của ông đều ở Florida, New York

hay miền Trung Tây và chắc không có ai trong số họ

muốn sở hữu một ngôi nhà sơn trắng khổng lồ ở

California. Dù ngôi nhà đã có một thời đẹp đẽ,

nhưng chắc không ai muốn ở, như Stanley vậy. Thật

khó tin chuyện ông đã sống ở đây suốt bảy mươi sáu

năm mà không sắm sửa bàn ghế và cũng không rời

khỏi tầng áp mái. Nhưng Stanley là người như thế

đấy. Là khách hàng của nàng, khách hàng đáng kính,

tận tụy, không khoa trương, khiêm tốn và có lẽ lập

dị. Sarah Ander- son là người bạn duy nhất của

ông. Còn tất cả mọi người khác đều quên ông đang

16

hiện hữu. Cho dù trước đây ông có nhiều bạn bè,

nhưng bây giờ họ đã chết hết, vì ông sống lâu hơn

họ quá nhiều.

Chiếc taxi dừng lại ở địa chỉ trên phố Scott đúng

như Sarah đã đưa cho tài xế. Nàng trả tiền xe, lấy

cái cặp, bước ra khỏi xe, đến bấm chuông ở cửa

sau. Khi đứng đợi, nàng thấy nhiều sương mù và

trời lạnh, nàng run vì chỉ mặc chiếc áo khoác mỏng

manh. Dưới bộ đồ màu xanh đậm, nàng chỉ mặc chiếc

áo len mỏng màu trắng, trông nàng ra vẻ là tay làm

ăn kinh doanh như mọi khi. Khi người y tá mở cửa,

thấy nàng bà ta cười. Họ đi từ trên tầng áp mái

xuống đến tầng trệt rất lâu. Nhà có bốn tầng và

tầng hầm, các bà y tá già chăm sóc ông di chuyển

chậm chạp. Người đến mở cửa cho Sarah mới đến làm,

17

nhưng bà ta đã gặp Sarah rồi.

- Ông Perlman đang đợi cô, bà ta lễ phép nói,

đứng một bên tránh lối cho Sarah vào, rồi đóng cửa

lại.

Họ chỉ dùng cửa phục vụ này, vì nó tiện cho việc

theo cầu thang phía sau để lên tầng áp mái. Cánh

cửa trước đã từ lâu không ai đụng tay đến, cửa

khóa then cài kín mít. Đèn trong phần chính

của ngôi nhà không bao giờ bật sáng. Từ bao

năm nay chỉ có đèn trên tầng áp mái sáng mà thôi.

Họ nấu nướng trong nhà bếp nhỏ trên tầng ấy, nơi

trước kia dùng làm phòng để ly tách và thức ăn,

khăn trải bàn. Nhà bếp chính xưa kia ở dưới tầng

hầm, bây giờ trở thành kỷ niệm. ở đây có những tủ

đá kiểu xưa và tủ đựng thịt. Trước kia đã có

18

người đem nước đá đến, họ mang từng khối đá

khổng lồ. Lò nấu là di vật từ thời thập niên hai

mươi và Stanley không dùng đến lò để nấu nướng ít

ra cũng từ thập niên bốn mươi. Đấy là loại nhà bếp

cần đến nhiều đầu bếp và gia nhân dưới sự điều

khiển, giám sát của quản gia. Cuộc sống như thế

không thích hợp với lối sống của Stanley. Từ

lâu nay, ông về nhà với bánh sandwich và

thức ăn làm sẵn mua ở các quán ăn và các nhà hàng

nhỏ. Ông không nấu nướng gì hết và trước đây khi

ông chưa nằm liệt giường, ông thường đi ăn sáng ở

ngoài. Ngôi nhà là nơi ông ngủ trên chiếc giường

bằng đồng kham khổ, buổi sáng ngủ dậy tắm rửa cạo

râu rồi đến văn phòng làm việc để làm ra tiền. ít

khi ông về nhà trước mười giờ tối. Thỉnh thoảng

19

gần khuya ông mới về đến nhà.

Sarah đi theo bà y tá lên cầu thang với bước đi

trang trọng. Cầu thang luôn luôn tối tăm, chỉ được

chiếu sáng bằng một bóng đèn tròn nhỏ trơ trụi.

Đây là cầu thang dành cho gia nhân trong những

ngày ngôi nhà còn thời vàng son. Tầng cấp làm bằng

sắt, được phủ lên trên một lớp thảm đã cũ, xơ mòn

thòi chỉ. Cửa đi vào các tầng lầu đều đóng kín và

khi Sarah lên đến tầng áp mái nàng mới thấy ánh

sáng ban ngày. Phòng của ông nằm ở cuối hành lang

dài, chiếc giường bệnh viện chiếm hầu hết căn

phòng. Để có chỗ đi vào phòng, cái tủ nhỏ của ông

phải đưa ra ngoài hành lang. Trong phòng chỉ để

chiếc ghế cũ đã gãy và cái bàn ngủ nhỏ kê gần

giường. Khi nàng đi vào phòng, ông mở mắt nhìn

20

nàng. Lần này phản ứng của ông chậm, khiến nàng lo

sợ, rồi dần dần nụ cười nở trên mắt ông, một lát

nó mới bò xuống tới miệng. Trông ông xơ xác, mệt

mỏi, bỗng nàng sợ lần này có thể ông nói đúng. Bây

giờ trông ông có vẻ đã chín mươi tám tuổi, những

lần trước không thế.

- Chào Sarah, - ông bình tĩnh nói, nhận ra vẻ

tươi mát của tuổi trẻ và sắc đẹp của nàng. Đối với

ông ba mươi tám tuổi như tuổi ấu thơ mới biết e

thẹn. Bất cứ khi nào nàng nói nàng 14 cảm thấy

già, là ông cười. Khi nàng đến gần giường, đứng

bên cạnh ông, ông hỏi: - Vẫn làm việc cật lực à?

– Việc thấy nàng, thường làm cho ông tỉnh táo.

Nàng như không khí và ánh sáng cho ông, hay là mưa

xuân trên các luống hoa.

21

- Dĩ nhiên – Nàng cười với ông và ông đưa tay nắm

tay nàng. Ông thích đụng vào da thịt nàng để cảm

thấy hơi ấm của nàng.

- Tôi thường khuyên cô đừng làm việc nhiều, phải

không? Cô làm việc quá nhiều. Ngày nào đó, cô sẽ

kết thúc như tôi. Một mình đơn độc, với một nhóm y

tá khó chịu quanh mình, sống trên gác xép. Ông đã

nhiều lần khuyên nàng nên lấy chồng và sinh con.

Khi nghe nàng đáp nàng không thích thế, ông mắng

nàng. Điều duy nhất làm ông sầu muộn là không có

con. Ông thường nói nàng đừng mắc phải sai lầm như

ông. Những tờ chứng khoán, trái phiếu, trung tâm

thương mại và các giếng dầu không thay được con

cái. Ông đã học thuộc bài học ấy lâu rồi. Niềm vui

và an ủi duy nhất trong đời ông bây giờ là Sarah.

22

Ông thích thêm vào di chúc những khoản bổ sung và

thường làm thế. Công việc này tạo ra cơ hội để ông

gặp nàng.

- Ông thấy khỏe chứ? – nàng hỏi, giống như một

người bà con lo lắng cho ông, chứ không như một

luật sư. Nàng thường kiếm cớ gửi cho ông sách báo,

hầu hết nói về luật thuế khóa mới hay những vấn

đề gì khác mà nàng nghĩ là sẽ làm cho ông quan

tâm. Sau đó ông tự tay viết giấy cám ơn nàng và có

ý kiến về các vấn đề ấy. ý kiến của ông vẫn sắc

sảo như xưa.

- Tôi mệt, - Stanley nói thật, vẫn nắm bàn tay

nàng trong những ngón tay gầy guộc của mình.

– Với tuổi tôi, tôi không mong khá hơn. Cơ thể

tôi suy nhược từ lâu rồi. Còn chăng chỉ là bộ óc

23

của tôi thôi.

– Bộ óc ông vẫn sáng suốt như xưa. Nhưng lần này

nàng thấy mắt ông có vẻ buồn. Thường thường nàng

thấy mắt ông còn rất sáng, nhưng bây giờ nó như

ngọn đèn bắt đầu lu mờ, nàng thấy có cái gì đấy

đang thay đổi. Nàng luôn ước mơ có cách gì đấy để

đưa ông ra ngoài trời, nhưng ngoài việc thỉnh

thoảng xe cấp cứu đưa ông đến bệnh viện, ông không

rời khỏi nhà từ nhiều năm nay. Căn gác xép trong

ngôi nhà ở phố Scott đã trở thành chốn ẩn cư cho

ông nương náu đến hết đời. – Ngồi xuống, cuối cùng

ông nói. – Trông cô thật tuyệt, Sarah à. Cô lúc nào

cũng thế. Nàng đứng đấy xinh đẹp, cao, trẻ và mảnh

mai. – Tôi sung sướng khi có cô đến.– Ông nói câu

này với giọng tha thiết hơn mọi khi, khiến cho tim

24

nàng đau nhói.

- Tôi cũng vậy. Tôi bận việc. Tôi định đến đây đã

hai tuần rồi, - nàng nói để xin lỗi.

- Trông cô có vẻ như đi đâu xa. Cô đi đâu mà có

màu da nâu như thế? – Ông thấy nàng khỏe hơn trước

nhiều.

- Chỉ đi Tahoe vào dịp cuối tuần. ở đấy thật

đẹp.– Nàng cười và ngồi xuống cái ghế ọp ẹp, để cặp

hồ sơ xuống.

- Tôi không đi xa, nghỉ cuối tuần, hay không đi

nghỉ hè đâu hết. Cả đời tôi chỉ đi nghỉ lễ hai

lần. Một lần ở trại chăn nuôi tại Wyoming, lần khác

ở Mexico. Tôi ghét cả hai lần ấy. Tôi cảm thấy

mất thì giờ vô ích, cứ ngồi mà lo có chuyện xảy ra

ở văn phòng và lo mình không biết chuyện gì. –

25

Nàng hình dung ra cảnh ông mong ngóng chờ đợi tin

tức từ văn phòng của ông và có lẽ để trở về nhà sớm

hơn dự kiến. Nàng đã chia sẻ nỗi lo lắng của ông

khi nàng có quá nhiều công việc làm không xuể, hay

là mang hồ sơ ở văn phòng về nhà làm. Nàng ghét để

công việc làm chưa xong lại. Ông không hề sai lầm

về nàng. Nàng thường có tính đam mê trong công việc

như ông vậy. Căn hộ nàng ở trông cũng không hơn

gì phòng ông, chỉ có cái lớn hơn thôi. Nàng cũng

không quan tâm đến mọi vật chung quanh như ông.

Nàng chỉ có trẻ hơn và ít cực đoan hơn. Như ông đã

nghĩ từ lâu rằng ma lực thúc đẩy hai người làm

việc rất giống nhau.

Họ nói chuyện vài phút rồi nàng đưa cho ông giấy

tờ nàng mang đến. Nàng đã gửi theo đường bưu điện

26

nhiều bản phác thảo, để cho ông xác nhận. Ông

không có máy fax cũng không có máy tính. Stanley

thích xem những tài liệu gốc, không chịu kiên

nhẫn với các phát minh hiện đại. Ông không

có điện thoại di động và cũng không cần dùng

chúng. Bên cạnh phòng ông, có phòng khách

nhỏ được lập nên cho các y tá của ông dùng. Họ

không đi đâu xa khỏi ông, hoặc ở trong phòng khách

nhỏ này, hoặc ngồi trong chiếc ghế bành ọp ẹp

trong phòng ông, để canh chừng ông, hoặc ở trong

bếp, nấu những bữa ăn đạm bạc cho ông. Xa hơn trên

hành lang có nhiều phòng nhỏ cho tôi tớ, các y tá

khi hết phiên trực có thể ngủ ở đó nếu họ muốn,

hay là ngồi nghỉ ngơi khi có y tá khác ở đấy.

Không ai trong số họ sống ở đấy, họ chỉ đến làm

27

việc theo phiên. Người thường trú duy nhất trong

nhà là Stanley. Cuộc sống của ông ở đây là thế giới

vi mô ở trên tầng lầu áp mái của ngôi nhà đã có

một thời vàng son, bây giờ đang xuống cấp trầm

trọng vì không sửa chữa, ngôi nhà lặng lẽ, chết

dần chết mòn như ông.

- Tôi thích những chỗ cô thay đổi trong bản dự

thảo, - ông khen nàng. – Những điểm thay đổi này có

ý nghĩa hơn trong bản dự thảo mà cô gửi cho tôi

tuần trước rất nhiều. Bản này rõ ràng hơn, ít có

chỗ khó thực hiện.

Ông luôn lo sợ những người thừa hưởng sử dụng phần

tài sản do ông để lại không phù hợp với ước mơ

ông. Vì ông không gặp được hầu hết những người này,

còn một số ít người ông đã gặp thì bây giờ họ già

28

quá, khó mà biết họ sẽ dùng số tài sản được thừa

hưởng như thế nào. Ông nghĩ thế nào họ cũng sẽ bán

đi, có một vài trường hợp ông cho việc bán đi là

điên khùng. Nhưng cái bánh đã cắt ra mười chín

phần. Đây là cái bánh rất lớn. Mỗi miếng sẽ gây cho

họ ấn tượng rất mạnh, ngoài sức tưởng tượng của

họ. Nhưng ông cảm thấy rất muốn để tài sản lại cho

bà con, chứ không muốn cho các cơ quan từ thiện.

Trong nhiều năm về trước, Stanley đã cho một số tổ

chức từ thiện nhiều thứ, nhưng ông là người cương

quyết tin rằng máu loãng còn hơn nước lạnh. Và vì

không có người thừa kế trực tiếp, nên ông để tài

sản lại cho các người anh em họ và các cháu trai

cháu gái gọi mình bằng ông, dù những người này là

ai. Ông đã khổ công tìm tòi chỗ ở của họ, nhưng

29

chỉ gặp được một ít thôi. Ông hy vọng rằng khi họ

nhận của trời cho bất ngờ này, sẽ cải thiện được

cuộc sống của họ. Ông có cảm giác giây phút ấy sắp

đến cho họ rồi. Sarah cũng có cảm giác như ông

vậy.

- Tôi rất sung sướng thấy ông thích bản dự thảo, -

Sarah nói vẻ vui sướng, cố không chú ý hay nhận

thấy vẻ đờ đẫn trong mắt ông. Nàng muốn khóc khi

thấy đôi mắt ông lờ đờ. Giai đoạn cuối của bệnh

viêm phổi làm cho ông kiệt sức và trông già nua. –

Ông có muốn tôi thêm vào điều gì nữa không? –

Nàng hỏi. Ông lắc đầu. Nàng ngồi trên chiếc ghế gãy

chân, lặng lẽ nhìn ông.

- Cô định làm gì trong hè này, Sarah? – Ông hỏi,

thay đổi đề tài.

30

- Nghỉ thêm vài ngày cuối tuần ở Tahoe. Tôi không

có chương trình gì quan trọng. – Nàng nghĩ ông sợ

nàng đi xa, nên muốn trấn an ông.

- Vậy thì vạch ra chương trình gì đi. Cô

không thể làm kẻ nô lệ suốt đời, Sarah à. – Nàng

cười. Nàng thú thật với ông rằng trước đây nàng có

dan díu với vài người, nhưng chuyện yêu đương

không nghiêm túc, lâu bền và bây giờ cũng vậy.

Nàng có dan díu thất thường với một người đã bốn

năm nay. Ông cho nàng làm thế là điên. Ông nói

nàng không nên yêu kiểu thất thường suốt bốn năm

như thế. Mẹ nàng cũng nói với nàng như vậy. Nhưng

nàng lại thích thế. Nàng tự nhủ và tuyên bố với mọi

người rằng nàng quá bận bịu với công việc, nên

không muốn bận thêm về chuyện yêu đương nữa. Công

31

việc là chuyện ưu tiên hàng đầu, luôn luôn

như thế. Nàng giống như ông vậy.

- Bây giờ không còn chuyện “gái già” nữa đâu,

Stanley. Phụ nữ bây giờ sống độc lập có sự nghiệp

và có việc ưu tiên, nhu cầu khác với phụ nữ thời

trước. – Nàng nói thế, không thuyết phục ai ngoài

mình. Stanley không đồng ý. Ông biết nàng rõ hơn,

khôn ngoan hơn nàng về cuộc đời rất nhiều.

- Chắc cô biết nói thế là vô nghĩa,

- Ông gay gắt đáp. – Con người không thay đổi

suốt hai ngàn năm nay. Những người khôn ngoan đều

yên bề gia thất, sinh con đẻ cái. Nếu không, họ sẽ

kết thúc cuộc đời như tôi. – Ông đã kết thúc cuộc

đời là một người rất giàu và việc này đối với nàng

không phải là chuyện đáng trách. Nàng tiếc là ông

32

không có con, không có bà con gần, nhưng sống lâu

như ông, người nào cũng phải chịu cô đơn hết. Ông

đã sống lâu hơn những người quen biết ông và cuối

đời ông cũng không có cháu hay chắt để an ủi ông.

Nói tóm lại, nàng tự nhủ, dù mình có ai đi nữa

thì mình cũng từ giã cõi đời trong cảnh cô đơn

thôi, giống như Stanley vậy. Rõ ràng hoàn cảnh của

ông bây giờ là như thế đấy. Nhưng nàng nghĩ rằng

ngay cả khi mình có gia đình và con cái đi nữa,

mình cũng có thể sống trong cảnh cô đơn, cứ nhìn

vào cuộc sống của bố mẹ nàng thì thấy. Nàng không

vội gì gánh lấy cái khổ vào thân. Những người nàng

quen biết đã có chồng, đều có vẻ không được hạnh

phúc và nếu nàng lấy chồng để hôn nhân không được

hạnh phúc, thì lấy làm gì để khi thôi nhau có người

33

chồng cũ ghét mình, nói xấu mình. Nàng thấy nhiều

người đã lâm vào hoàn cảnh ấy. Sống như thế này

nàng thấy thích hơn, làm việc, độc lập tự do, có

người bạn trai mỗi tuần gặp nhau một lần để giải

quyết nhu cầu sinh lý. Không bao giờ nàng nghĩ đến

chuyện lấy anh ta làm chồng, hay anh ta nghĩ lấy

nàng làm vợ. Cả hai đều thỏa thuận ngay từ đầu rằng

họ chỉ yêu nhau đơn giản thôi. Đơn giản và thoải

mái. Nhất là khi cả hai đều bận việc, công việc mà

họ thích.

Sarah thấy Stanley mệt, nên nàng quyết định rút

ngắn thời gian thăm viếng. Ông đã ký xong giấy tờ,

nàng chỉ cần có thế. Trông ông có vẻ như sắp ngủ.

- Tôi sẽ đến thăm ông sau, Stanley. Nếu ông cần

34

gì, cứ cho tôi biết. Bất cứ khi nào ông cần, tôi

sẽ đến ngay, - nàng nói dịu dàng, vỗ lên bàn tay

gầy guộc của ông sau khi lấy giấy tờ nơi ông và

đứng lên. Ông nhìn nàng cất giấy tờ vào cặp, miệng

mỉm cười hân hoan. Ông thích nhìn nàng, nhìn cử

động duyên dáng tự nhiên của nàng khi nàng nói

chuyện với ông hay làm những việc bình thường.

- Có lẽ tôi không ở đây nữa, - ông nói, giọng bình

thản. Lời ông nói ra là một thực tế, cả hai đều

nghĩ có thể xảy ra, nhưng nàng không thích nghe.

- Đừng nói dại, - nàng la ông. – Ông sẽ ở đây. Tôi

nghĩ là ông sẽ sống lâu hơn tôi.

- Tôi không nên thế, - ông gay gắt đáp. – Lần sau

gặp cô, tôi muốn nghe về chuyện đi nghỉ lễ của cô.

35

Hãy đi tàu thủy mà chơi hay nằm dài trên bãi biển

đâu đó. Kiếm một chàng trai, uống cho say, đi

khiêu vũ, sống buông thả. Nghe lời tôi đi Sarah,

nếu không làm thế, ngày nào đó cô sẽ ân hận cho mà

xem. – Nàng cười, hình dung ra cảnh mình cặp bồ

với những người xa lạ trên bờ biển. – Tôi nói thật

đấy!

- Tôi biết ông nói thật. Tôi nghĩ ông muốn tôi bị

bắt, bị tước quyền luật sư. – Nàng cười vui vẻ,

hôn lên má ông. Hành động tự nhiên, vô tư nhưng

ông rất thương mến nàng, và nàng cũng rất thương

mến ông.

- Cứ làm cho bị tước quyền luật sư đi, có thể như

thế lại hay hơn cho co đấy Sarah, hãy sống vui vẻ

lên. Đừng làm việc nhiều. – Ông thường nói những

36

chuyện như thế với nàng và nàng nghe nhưng vẫn để

ngoài tai. Nàng thích công việc nàng đang làm.

Công việc nàng làm như ma túy nàng đã nghiện phải.

Nàng không muốn bỏ nghiện, có lẽ nàng còn nghiện

lâu ngày, nhưng nàng nghĩ những lời dặn dò của ông

do lòng thành và do ý tốt.

- Tôi sẽ cố gắng, - nàng nói dối, cười với ông.

Nàng xem ông như ông nội của mình. - Hãy cố

hết sức. - Ông nói to với nàng, rồi cười khi được

nàng hôn lên má. Ông thích cảm giác da thịt mịn

màng của nàng chạm vào mặt ông, thích hơi thở nhẹ

nhàng thơm tho của nàng phả vào mặt ông. Nụ hôn

làm cho ông thấy trẻ lại, mặc dù ông biết nếu ông

còn trẻ thì chắc ông sẽ rất điên khùng, ham làm

việc mà không chú ý đến nàng, bất kể nàng xinh đẹp

37

đến dường nào. Ông nhớ lại chuyện ông đã để mất

hai phụ nữ trước đây, ông để mất họ là vì sự ngu

ngốc của ông, họ đều đẹp và nhạy cảm như nàng bây

giờ. Mãi cho đến gần đây ông mới thấy mình ngu

ngốc. – Hãy nhớ giữ mình, - ông nói khi nàng đứng

nơi ngưỡng cửa, nắm cặp hồ sơ quay lại nhìn ông.

- Ông cũng cố giữ mình. Hãy xử sự tốt. Đừng đuổi

các bà y tá quanh phòng, họ sẽ bỏ ông mà đi đấy. –

Ông cười khi nghe nàng nói thế.

- Cô nhìn thấy họ không? – Ông cười to và nàng

cười theo. – Tôi không ra khỏi giường này được để

làm việc ấy, - ông nói và cười toe toét. Hai đầu

gối già nua thì làm được cơm cháo gì. Tôi nằm liệt

giường nhưng chắc cô biết mắt tôi không mù. Cứ

gửi đến cho tôi vài cô mới, tôi sẽ cho họ cơ hội

38

để kiếm tiền.

- Dĩ nhiên ông sẽ làm thế, - nàng nói rồi đưa tay

vẫy chào ông lần cuối và ra về. Khi ra về, nàng

vẫn còn cười, nói với người y tá là nàng có thể đi

một mình xuống lầu được rồi.

Chiếc cầu thang bằng sắt lại kêu lanh canh dưới

chân nàng, tiếng bước chân của nàng vang dội trong

hành lang hẹp. Tấm thảm mòn thòi chỉ không ngăn

được hết tiếng ồn do bước chân nàng gây ra. Nàng

cảm thấy nhẹ người khi bước ra khỏi cánh cửa dành

cho người phục vụ. Bên ngoài, cuối cùng trời cũng

nắng ở khu phố trên này. Nàng chậm rãi đi trên

đường Union Street, nghĩ đến ông, rồi tìm được xe

taxi. Nàng đưa cho tài xế địa chỉ của văn phòng

nàng làm việc và suốt chặng đường xuống phố dưới,

39

nàng nghĩ đến Stanley. Nàng sợ ông sẽ không còn

sống lâu. Ông có vẻ đã kiệt sức quá rồi. Chuyến

đến thăm của nàng có làm cho ông khá hơn, nhưng

Sarah biết việc này không kéo dài được lâu. Trông

ông quá yếu, không hy vọng gì sống đến được ngày

sinh nhật thứ chín mươi chín của ông vào tháng

mười. Tại sao thế? Ông có ít nguồn vui để sống và

quá cô đơn. Đời ông bị đóng khung trong căn phòng

nhỏ xíu, giữa bốn bức tường chật hẹp như bị giam

suốt chuỗi ngày còn lại của cuộc đời. Ông đã sống

một cuộc đời tuyệt vời, hay ít ra là một cuộc đời

làm giàu, mười chín người thừa hưởng gia sản của

ông sẽ được đổi đời sau khi ông chết. Nghĩ đến

chuyện đó, Sarah thấy buồn. Nàng biết khi Stanley

chết đi, nàng nhớ ông. Nàng cố không nghĩ đến

40

những lời dặn dò của ông về cuộc đời của nàng.

Nàng đã nghĩ đến con cái và hôn nhân trong nhiều

năm qua. Còn bây giờ, nàng đã có sự nghiệp và sự

nghiệp này rất có ý nghĩa đối với nàng, công việc

đang chờ nàng trên bàn ở văn phòng, mặc dù nàng

đánh giá cao sự quan tâm của ông. Nàng đã có cuộc

sống nàng mong muốn.

Nàng về đến văn phòng quá mười hai giờ trưa một

chút. Đến một giờ nàng họp với các cổ đông khác

trong công ty, rồi buổi chiều sẽ họp với ba khách

hàng và tối đó đọc năm mươi trang về luật thuế

mới, tất cả hay một số trong các điều luật này sẽ

được đem áp dụng cho khách hàng của nàng. Nàng có

cả một đống tin nhắn đợi trả lời trên bàn làm việc.

Nàng cố trả lời hết, nhưng còn hai tin nhắn nữa

41

thì đến giờ họp với các cổ đông. Nàng sẽ trả lời

hai tin nhắn này trong giờ họp với khách hàng vào

chiều đó, cho dù nàng có thêm những tin nhắn mới.

Nàng không có thì giờ để ăn trưa… hỏi làm gì có

thì giờ để lo cho chồng cho con. Stanley đã chọn

công việc và mắc phải sai lầm. Nàng cũng có quyền

chọn con đường của mình.

42

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát