Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Harry Potter Và Chiếc Cốc Lửa - Tập 4

   

  Chương 1 - Ngôi nhà Riddle

   

      Dân làng Hangleton Nhỏ vẫn còn gọi đó là

“Ngôi Nhà Riddle “,mặc dù đã bao năm tháng trôi qua

kể từ thời gia đình Riddle còn sống ở đó. Ngôi nhà

nằm trên một đỉnh đồi ngó xuống làng , một số cửa

sổ đã bị bít lại bằng ván , ngói lợp mái thủng lỗ

chỗ , và dây trường xuân tự do mọc tràn lan khắp

mặt tiền nhà. Có một thời ngôi nhà đó từng là một

biệt thự xinh xắn , đứng cách đó cả dặm vẫn nhìn

thấy rõ. Đó cũng từng là ngôi nhà rộng lớn nhứt ,

sang trọng nhứt , nhưng giờ đây Ngôi Nhà Riddle

chỉ còn là một nơi điêu tàn , ẩm mục ,vô chủ ,

không người vãng lai.

1

     Dân làng Hangleton Nhỏ đầu nhất trí với

nhau rằng ngôi nhà cũ xưa ấy rất "rùng rợn".

Cách đây nửa thế kỉ , có một chuyện lạ lùng và

khủng khiếp đã xảy ra ở đó , một chuyện mà các bậc

tiền bối trong làng vẫn còn bàn tán mỗi khi cạn đề

tán gẫu. Câu chuyện đã được kể đi kể lại rất

nhiều lần , và đã được thêu dệt nhiều chỗ, đến nỗi

không còn ai dám chắc đâu là sự thật nữa. Tuy nhiên

, mọi phiên bản của câu chuyện đều cùng bắt đầu từ

một chỗ : năm năm về trước , thuở Ngôi Nhà Riddle

còn đang thời hưng thịnh , được chăm sóc kĩ lưỡng

, nguy nga lộng lẫy ; vào buổi bình minh của một

ngày đẹp trời , một cô hầu gái bước vào phòng khách

, và phát hiện ra cả ba người nhà Riddle đều đã

chết. Cô hầu gái vừa la vừa chạy xuống đồi để vô

2

làng , đánh thức tất cả những người mà cô ta có thể

đánh thức được:    "Nằm đó mắt mở trừng trừng !

Lạnh như băng ! Vẫn còn ăn mặc trịnh trọng ! "

     Cảnh sát được gọi đến , và cả cái làng

Hangleton Nhỏ sôi sục lên đầy tọc mạch khích động

cùng vẻ hào hứng cố giấu mà không xong. Mà cũng

không ai hơi đâu giả bộ đau buồn thương tiếc gia

đình Riddle làm gì , bởi vì những người họ Riddle

không được ai ưa hết. Ông bà Riddle vốn giàu có ,

hợm hĩnh , bất lịch sự ; và người con trai đã lớn

của họ -Tom- nếu có khác thì chỉ khác ở chỗ xấu xa

hơn thôi. Tất cả dân làng đều chỉ quan tâm đến lí

lịch của kẻ sát nhân , vì rõ ràng là ba người lớn

khoẻ mạnh cùi cụi đó không thể bỗng cùng lăn đùng

ra chết trong một đêm chỉ vì những nguyên nhân

3

thông thường nào đó.    Quán rượu Kẻ Chết Treo

đột nhiên buôn may bán đắt ngay đêm đó ; gần như cả

cái làng kéo nhau ra đó hết để bàn tán về bọn sát

nhân. Những kẻ chịu khó bỏ chỗ ngồi êm ấm bên lò

sưởi nhà mình để ra đây cuối cùng cũng được tưởng

thưởng khi bà bếp của nhà Riddle đột ngột đến nhập

bọn và tuyên bố cho cả cái quán chợt lặng trang

rằng một người đàn ông tên là Frank Bryce vừa mới

bị bắt.

     Nhiều người cùng thốt lên :

     "Frank hả ? Không đời nào ! "

     Frank Bryce là người làm vườn của nhà

Riddle. Gã sống một mình ở căn chòi ọp ẹp trong sân

vườn của Ngôi nhà Riddle. Frank đã từ chiến

trường trở về với một cái chân què và sự chán ghét

4

đám đông , ghét tiếng động ồn ào. Và gã đã làm

việc cho gia đình Riddle từ ấy.    Mọi người bèn

xúm lại mua mấy thứ giải khát lạnh cho bà bếp để

nghe thêm chi tiết. Sau ly rượu ngọt thứ tư , bà

bếp nói với những dân làng đang háo hức lắng nghe

:

     " Lúc nào tôi cũng thấy thằng cha đó quái

dị. Thiệt là thiếu thân thiện. Tui biết chắc là nếu

mà tui mời được thằng chả một lần thì tui đã mời

chả cả trăm lần rồi. Không đời nào chịu hòa nhập ,

thằng chả là vậy đó !"

  Một người đàn bà ở quầy rượu nói :

     " À, do vầy nè , anh ta đã trải qua một cuộc

chiến tranh tàn khốc , anh chàng Frank ấy. Anh ta

ưa đời sống yên tịnh. Chả có lí do nào để..."

5

     Bà bếp sửng cồ ngay :

     " Vậy chứ còn ai khác có chìa khóa cửa sau

hử? Theo như tui nhớ thì có một chiếc chìa khóa sơ

cua treo trong căn chòi của người làm vườn ! Tối

hôm qua đâu có ai phá cửa vô nhà ! Cũng không có

cửa sổ nào bị đập bể hết ! Thằng cha Frank chỉ làm

có mỗi việc dễ ợt là rón rén đi lên Ngôi nhà

Riddle khi mà tất cả chúng ta đang ngủ..."

     Dân làng đưa mắt trao đổi với nhau những

cái nhìn tăm tối. Một ông ngồi sau quầy bia càu

nhàu :    " Tối luôn luôn nghĩ rằng thằng cha

đó có cái nhìn bẩn thỉu , đúng y như vậy."    Ông

chủ quán nói :

     "Theo ý tôi thì chính chiến tranh đã biến

đổi hắn thành kì cục. "

6

     Một bà sôi nổi ngồi ở góc phòng lên tiếng :

     "Đã bảo anh rồi , nhớ không anh Dot , em

chẳng đời nào muốn sinh chuyện rắc rối với thằng

Frank đó. "    Dot nhiệt liệt tán đồng :

     " Nóng tánh dễ sợ. Tui nhớ hồi nó còn là một

đứa con nít...."

     Đến sáng hôm sau thì hầu như không còn ai

trong làng Hangleton Nhỏ mà không tin rằng chính

Frank Bryce đã giết cả nhà Riddle.

     Nhưng mà ở thị trấn lân cận Hangleton Lớn ,

trong trạm cảnh sát tối tăm và bẩn thỉu , Frank cứ

ngoan cố lặp đi lặp lai là gã vô tội , rằng kẻ duy

nhứt mà gã đã nhìn thấy gần Ngôi Nhà Riddle vào

cái ngày cả nhà này bị giết là một cậu bé xa lạ

mười mấy tuổi , tóc đen và màu da nhợt nhạt. Trong

7

làng chưa ai từng nhìn thấy một cậu bé như vậy , và

cảnh sát yên chí là gã chỉ bịa ra thằng nhóc ấy mà

thôi.    Thế rồi , vừa đúng lúc mọi chuyện trở

nên nghiêm trọng đối với Frank Bryce thì bản báo

cáo khám nghiệm tử thi của ba người nhà Riddle đến

và thay đổi mọi thứ. Cảnh sát chưa bao giờ đọc một

báo cáo nào kì quặc hơn. Một đội bác sĩ đã khám

nghiệm tử thi và kết luận rằng khong một người nào

trong ba người nhà Riddle chết vì ngộ độc. Cũng

như không chết vì bị đâm chém , bắn , bóp cổ , ngạt

hơi , hay (như người ta thấy được) bị đánh đập hay

tổn thương gì sất. Thật ra , ( bản báo cáo tiếp

tục bằng giọng văn ngơ ngác không nhầm vào đâu được

) , rằng những người nhà Riddle đều tỏ ra hoàn

toàn khoẻ mạnh - nếu không tính đến sự kiện rằng

8

họ đã chết queo. Các ông bác sĩ có ghi chú ( như

thể quyết tâm tìm xem có gì trục trặc trên toàn bộ

các thi thể không ) rằng trên gương mặt của mỗi

người chết của nhà Riddle đều có một vẻ hãi

hùng....

     Nhưng mấy ông cảnh sát nổi giận nói rằng

hồi nòa giờ có ai từng nghe nói có chuyện ba người

vì sợ mà phát chết được không?

     Bởi vì không có chứng cớ nào cho thấy ba

người nhà Riddle bị ám sát , cảnh sát đành thả

Frank ra. Ba người nhà Riddle được chôn cất trong

nghĩa trang của làng Hangleton Nhỏ , và những ngôi

mộ của họ trở thành đối tượng hiếu kì trong suốt

một thời gian dài. Nhưng điều khiến mọi người ngạc

nhiên hết thảy là Frank , mặc dù bị bao phủ bởi đám

9

mây mù ngờ vực , vẫn quay trở lại căn chòi của gã

trong sân vườn của Ngôi Nhà Riddle.

     Trong quán Kẻ Chết Treo , Dot nói :

     "Theo tui thấy thì chính thằng đó đã giết

họ , và tui cóc cần biết cành sát nói gì. Và nếu mà

thằng chả biết điề một chút xíu thì thằng chả nên

bỏ đi biệt xứ cho rồi , bởi vì thằng chả cũng phải

hiểu là chúng ta biết tỏng chuyện thằng chả làm

chớ."    Nhưng Frank chẵng thèm bỏ đi đâu hết. Gã

cứ ở lại giữ vườn cho một gia đình khác dọn đến

Ngôi Nhà Riddle , rồi cho một gia đình khác

nữa...bởi vì chẵng có gia đình nào sống ở ngôi

nhàđó được lâu. Có lẽ một phần tại Frank mà mấy

chủ nhân mới đều nói là họ có một cảm giác khó chịu

về ngôi nhà. Còn ngôi nhà đó , từ khi không có

10

người ở thì bắt đầu suy tàn , khong đwuocj sửa sang

nữa.    Vào những ngày này , một người đàn ông

giàu có đến mua ngôi nhà, không phải để ở mà cũng

không dùng nó vào mục đích gì khác. Trong làng đồn

đại là ông ta giữ ngôi nhà đó "lý do thuế má " ,

mặc dù cũng không ai giải thích được rõ ràng như

vậy nghĩa là sao. Tuy nhiên , ông chủ giảu có tiếp

tục mướn Frank làm vườn. Bây giờ , Frank đã gần bảy

mươi bảy tuổi , rất lãng tai ,cái chân càng xi cà

que hơn bao giờ hết , nhưng lão vẫn đi rảo quanh

vườn hoa môi khi thời tiết tốt , cho dù cỏ đã bắt

đầu mọc lút đầu và lão thì cứ phải ráng hết sức để

đạp chúng bẹp dí xuống.

     Cỏ không phải là thứ duy nhất mà lão Frank

phải dấu tranh chống chọi. Mấy thằng nhóc trong

11

làng vẫn có thói quen quăng đá vô cửa sổ Ngôi Nhà

Riddle . Tụi nó cỡi xe đạp chạy nhong nhong qua

những bãi cỏ mà lão Frank đã vất vả chăm sóc cho

được mượt mà . Đã một hay hai lần gì đó, tụi nó còn

đột nhập vô trong nhà để mạo hiểm chơi. Biết lão

Frank tận tụy với ngôi nhà và khu vườn đến nỗi việc

trông nom ngôi nhà gần như là một ám ảnh của lão 

cho nên tụi nhỏ lấy làm khoái lắm khi nhìn thấy lão

khập khiễng băng ngang khu vườn , quơ quơ cây gậy

và khào khào quát thét bọn nhóc . Về phần Frank ,

lão tin rằng mấy thằng nhóc hành hạ lão vì tụi nó,

cũng giống như ba má và ông bà tụi nó , tưởng rằng

lão là kẻ sát nhân. Vì vậy vào một đêm tháng tám ,

lão Frank thức dậy và thấy cái gì đó rất bất thường

phía trên ngôi nhà cũ xưa, thì lão cũng chỉ cho là

12

lũ nhóc đã bạo gan đi xa hơn một bước trong cái

trò hành hạ lão.

     Đúng ra là chính cái chân đau đã đánh thức

lão Frank . Khi tuỏi đã về già , cái chân làm lão

đau đớn hơn bao giờ hết. Lão thức dậy và đi khập

khiễng xuống cầu thang , vô nhà bếp ,định đong đày

chai nước nóng để chườm lên những chỗ đau trên đầu

gối của mình. Đứng bên bồn rửa chén , đổ đầy nước

vô ấm , lão ngó lên Ngôi Nhà Riddle và thấy ánh

sáng lập lòe bên trong cửa sổ trên lầu . Lão Frank

biết ngay chuyện gì đang xảy ra. Nhất định là lũ

nhõ đã lại đột nhập vô nhà một lần nữa, và căn cứ

vào bóng chập chờn của ánh sáng, lão chắc là tụi nó

đã thắp lên một ngọn lửa.

     Lão Frank không có điện thoại , mà trong bất

13

kể trường hợp nào thì lão cũng không thèm tin cậy

cảnh sát kể từ khi lão bị bắt để thẩm vấn về cái

chết của ba người nhà Riddle . Lão bèn đặt ngay ấm

nước xuống , vội vã lê đôi chân xì caf que của lão

lên cầu thang cho thật nhanh và ngay sau đó lại trở

xuống bếp , lúc này đã mặc thêm quần áo, lão lấy

cái chìa khóa cũ kỹ rỉ sét trên cái móc gần cửa ,

cầm lấy cây gậy đang dựng đứng dựa tường, và bắt

đầu bước đi trong đêm.

     Cánh cửa trước của Ngôi Nhà Riddle không có

dấu hiệu gì chứng tỏ đã bị cạy, mấy cửa sổ cũng

vậy. Lão Frank đi cà nhắc vòng ra phía sau của ngôi

nhà, cho đến khi lão làm bít gần kín . Lão rút cái

chìa khóa ra, đút vô ổ khóa và mở cánh cửa êm ru .

14

     Lão bứac vô một cái nhà bếp giống như cái

hang . Nhiều năm rồi lão Frank không hề bước chân

vào đay. Cho dù vậy, và mặc dù trong bếp rất tối ,

lão vẫn nhớ cánh cửa mở ra hành lang nằm ở đâu, và

lão dò dẫm đi về phía đó, mũi lão hít đầy mùi mốc

meo, tai lão giỏng lên nghe ngóng bất cứ tiếng

người và tiếng bước chân nào vang lên phía trên đầu

lão. Khi ra được tới hành lang , chỗ đó hơi sáng

nhờ ánh trăng sao rọi qua những khung cửa sổ lớn có

chấn song nằm hai bên cửa chính , lão bắt đầu leo

lên cầu thang, lòng cám ơn trời ban cho lớp bụi phủ

đầy trên các bậc thangbằng đá, bởi vì nhờ nó mà

tiếng bước chân và tiếng cây gậy của lão không đến

nỗi vang lên cồm cộp.

     Khi lên tới đầu cầu thang, lão Frank quẹo

15

phải , và nhận ra ngay nơi mà bọn đột nhập gia cư

đang tụ tập: ở cuối hành lang có một cánh cửa để hé

mở , xuyên qua khe hở là ánh lửa chập chờn , trải

mộ dải ánh sáng vàng trên sàn nhà đen thui . Lão

Frank mon men nhích lại gần hơn, tay nắm chặt cây

gậy . Còn cách lối vào nhiều bước , lão có thể ngó

thấy một thẻo phòng bên trong cánh cửa.

     Cái mà lão thấy lúc này là lò sưởi đã được

nhóm lên trong vỉ lò. Lão ngạc nhiên quá. Lão bèn

ngừng bước và chăm chú lắng nghe, bởi vì có tiếng

đàn ông đang nói trong phòng nghe giọng rụt rè sợ

sệt:

     “Thưa ngài, trong chai vẫn còn một chút, nếu

ngài còn thấy đói.”

     Giọng thứ hai nói:

16

     “Để láy nữa”

     Giọng này cũng là giọng đàn ông, nhưng có âm

sắc cao chói lói một cách lạnh lùng ,và lạnh lùng

như một luồng gió băng giá thình lình thổi tạt qua.

Có cái gì đó trong giọng nói đó làm cho mấy sợi

tóc hiếm hoi còn sót lại trên ót lão Frank dựng

đứng lên.

     “Đuôi Trùn, chuyển ta đến gần lò sưởi hơn

nữa.”     Lão Frank giỏng tai phải về phía cửa ,

tai phải của lão còn nghe được tàm tạm . Có tiếng

lanh canh của một cái chai được đặt xuống một bề

mặt cứng, và rồi tiếng cọt kẹt ngắc ngứ của một

chiếc ghế nặng nề được kéo lê trên sàn. Lão Frank

thoáng thấy một người đàn ông nhỏ thó đưa lưng về

phía cửa, đảy cái ghế đến vị trí cạnh lò sưởi .

17

Người đàn ông đó khoác áo trùm dài màu đen , trên

đầu hắn có một mảng sói sọi . Rồi hắn lại đi ra

khỏi tầm nhìn của lão Frank.

     Giọng lạnh lùng vang lên :

     “Nagini đâu?”

     Giọng nói đầu tiên nghe lo âu căng thẳng :

     “Thưa ngài , tôi … tôi không biết . Tôi nghĩ

… chắc là nó đi thăm thính căn nhà…”

     Giọng thứ hai nói :

     “Đuôi Trùn , mi phải vắt sữa nó trước khi

chúng ta đi ngủ. Ta cần bồi dưỡng trong đêm. Cuộc

hành trình làm cho ta mệt quá.”

     Lão Frank nhíu cả hai đầu chân mày khít lại,

giỏng cái tai còn lại còn nghe khá tới gần cánh

cửa hơn, hết sức chú ý lắng nghe. Yên lặng một lúc,

18

rồi người đàn ông được gọi là Đuôi Trùn lại lên

tiếng :

     “Thưa ngài, cho phép tôi hỏi chúng ta sẽ lưu

lại đây bao lâu ạ?”

     Giọng lạnh lùng đáp :

     “ Một tuần. Có thể lâu hơn. Chỗ này cũng khá

tiện nghi , và kế hoạch cũng chưa thể tiến hành

được . Hành động trước khi mùa Cúp Quidditch Thế

Giới kết thúc thì đúng là ngu. “

     Lão Frank thọc một ngón tay co quắp vô lỗ

tai của lão để ngoáy. Chắc là tại vì có một cục ráy

tai tổ bố nào đó đã bít đường nghe , cho nên lão

nghe một từ gì lạ hoắc, chẳng có ý nghĩa gì cả:

“Quidditch”.

    Đuôi Trùn nói:

19

     “Thưa ngài , mùa… mùa Cúp Quidditch Thế Giới

ạ?”

     (Lão Frank ngáy ngón tay lão vô lỗ tai mạnh

hơn.)     “Xin tha lỗi cho tôi, nhưng mà … tôi

không hiểu … tại sao chúng ta phải chờ cho đến khi

kết thúc mùa Cúp Quidditch Thế Giới ?”

     “Bởi vì , đồ ngu à, vào lúc này phù thủy

khắp thế giới đang đổ về nước này, và cả đám bắng

nhắng ở Bộ Pháp Thuật đều trực chiến, canh phòng

mọi biểu hiện của bất cứ hoạt động bất thường nào,

kiểm tra tới kiểm tra lui căn cước. Chúng sẽ bị vấn

đề an ninh ám ảnh, phải làm sao cho dân Muggle

không hay biết gì hết. Vì vậy chúng ta phải đợi

thôi.”

     Lão Frank thôi tìm cách ngoáy lỗ tai của

20

lão. Lão đã nghe rõ ràng tiếng “ Bộ Pháp Thuật “,

“phù thủy”, và “Muggle “. Rõ ràng, mỗi câu chữ đều

có một ý nghĩa bí mật nào đó, và lão Frank chỉ có

thể nghĩ ra hai hạng người xài “mật mã” khi nói

chuyện với nhau, đó là gián điệp và bọn tội phạm.

Lão Frank lại một lần nữa nắm chặt cây gậy trong

tay, lắng nghe kỹ càng hơn nữa.

     Đuôi Trùn nói nhỏ:

     “Đức ngài vẫn còn quyết tâm?”

     Trong giọng nói lạnh lùng bây giờ có thêm sự

đe dọa :

     “Chắc chấn ta vẫn còn quyết tâm, Đuôi Trùn

ạ!”     Sau câu nói này có một lúc yên lặng . Và

rồi Đuôi Trùn nói, lời lẽ lộn xộn nháo nhào tuôn ra

như thể hắn buộc mình phải nói ra điều đó trước

21

khi mất hết can đảm:

     “Có thể làm chuyện đó mà không dính tới

Harry Potter có được không , thưa ngài?”

     Lại một lúc yên lặng nữa, kéo dài hơn, rồi …

giọng thứ hai vang lên thì thào trong hơi thở:

     “Miễn cho Harry Potter hả…? Ta hiểu rồi…”

     Giọng Đuôi Trùn cao lên nghe như tiếng chuột

kêu chít chít:

     “Thưa ngài, tôi nói vậy không phải là vì tôi

lo nghĩ đến thằng nhỏ đâu! Thằng nhỏ đó chẳng là

cái gì đối với tôi cả, chẳng là gì cả! Chẳng qua là

nếu chúng ta dùng một phù thủy khác … bất cứ phù

thủy nào khác… thì nó sẽ được thanh toán nhanh hơn

nhiều! Nếu ngài cho phép tôi được rời xa ngài một

thời gian … Ngài cũng biết là tôi có thể tự ngụy

22

trang hiệu quả nhứt… Tôi có thể quay trở lại đây

trong vòng hai ngày với một người phù hợp…”

     Giọng lạnh lùng nói nhỏ nhẹ: “ Ta có thể xài

một tên phù thủy khác, điều đó đúng…”

     Giọng của Đuôi Trùn bây giờ nghe như nhẹ

nhõm đi:

     “Thưa ngài, như vậy khôn ngoan hơn. Đụng vô

Harry Potter sẽ khó khăn lắm, nó được bảo vệ kỹ

lắm…”     “Và vì vậy nên mi xung phong đi tìm cho

ta một kẻ thế mạng chứ gì ? Ta tự hỏi… có lẽ công

việc bồi dưỡng ta đã làm cho mi chán ngán rồi phải

không , Đuôi Trùn ? Cái đề nghị hủy bỏ kế hoạch của

mi hóa ra chỉ là cố gắng của mi tìm cách bỏ rơi

ta, phải không ?”

     “Thưa ngài, tôi … tôi không hề có ý muốn rời

23

bỏ ngài đâu, không hề đâu ạ…”

     “Đồ nói láo !”

     Giọng thứ hai rít lên :

     “Ta luôn luôn đi guốc trong bụng mi, Đuôi

Trùn à! Mi đang hối tiếc là mi đã trở về với ta chứ

gì! Ta khiến mi chán ghét hả? Ta thấy mi co rúm

người khi mi nhìn ta, cảm thấy rùng mình của mi khi

mi chạm vào ta…”

     “Không! Sự tận tụy của tôi đối với Đức

ngài…”     “Sự tận tụy của mi đối với ta chẳng

qua là sự hèn nhát. Nếu mi còn có chỗ nào khác để

dung thân thì mi đã chẳng tìm đến ta. Ta cần bồi

dưỡng vài giờ một lần, không có mi thì làm sao ta

tồn tại hả? Ai sẽ vắt sữa Nagini hả?”

     “Nhưng thưa ngài… trông ngài khỏe mạnh hơn

24

nhiều lắm rồi…”

     “Nói láo!”

     Giọng thứ hai thều thào :

     “Ta chẳn khỏe mạnh chút nào, và mi mà bỏ mặc

ta chỉ trong vài ngày là ta sẽ kiệt quệ hết chút

sức lực mà ta đã gom lại được dưới sự chăm nom dở

ẹt của mi hôm nay. Im đi !”

     Đuôi Trùn vừa lắp bắp mấy tiếng rời rạc

không nghĩa lý gì hết đã vội ngậm miệng lại ngay.

Trong vài giây, lão Frank không thể nghe được tiếng

gì nữa ngoại trừ tiếng củi lửa cháy bí bép trong

lò sưởi . Rồi người đàn ông thứ hai lại nói, bằng

giọng rít lên nghe gần như tiếng huýt gió:

     “Ta có lý do để xài thằng nhỏ, như ta

đã giải thích cho mi rồi, và ta sẽ không xài

25

ai khác cả. Ta đã chờ đợi mười ba năm. Chờ

thêm vài tháng nữa không sao hết. Riêng đối

với hàng rào bảo vệ chung quanh thằng nhỏ,

ta tin là kế hoạch của ta sẽ có hiệu quả.

Tất cả điều ta cần bây giờ chỉ là một chút

lòng can đảm của mi thôi, Đuôi Trùn à... Mi

phải tìm ra lòng can đảm đó, trừ khi mi muốn

lãnh đủ cơn thịnh nộ của Chúa tể Hắc ám

Voldemort ở mức độ tuyệt chiêu...”

     Giọng Đuôi Trùn bây giờ đã trở nên kinh

hoảng:     “Thưa Đức Ngài, xin cho tôi nói !

Trong suốt cuộc hành trình của chúng ta, tôi đã rà

lại kế hoạch trong đầu tôi… Thưa ngài, việc Bertha

Jorkin biến mất chẳng mấy chốc sẽ bị phát hiện ra

thôi, và nếu mà chúng ta tiếp tục, nếu tôi mà ám

26

sát …”

     Giọng thứ hai thì thầm:

     “Nếu? Nếu à? Nếu mi theo đúng kế hoạch, thì

Đuôi Trùn à, Bộ Pháp Thuật sẽ không bao giờ cần

biết là ai chết nữa. Mi sẽ làm việc đó một cách êm

ru, không chút ồn ào nhặng xị; ta chỉ ước ao là

chính ta có thể làm việc đó, nhưng trong tình trạng

ta hiện nay… Đuôi Trùn , lại đây, chỉ cần trừ khử

thêm một chướng ngại vật nữa thôi là con đường

chúng ta đi tới Harry Potter sẽ quang đãng. Ta

không bắt mi phải hành động một mình. Đến thời điểm

thích hợp đó, tên đầy tớ trung thành của ta sẽ trở

về đầu phục ta…”

     Đuôi Trùn nói, giọng rầu rĩ thảm hại:

     “Tôi chính là tên đầy tớ trung thành của

27

ngài đây.”

     “Đuôi Trùn à, ta cần một kẻ nào đó có đầu

óc, một kẻ nào đó có lòng trung thành không bao giờ

giao động, mà mi thì rủi ro thay, chẳng đáp ứng

được cả hai yêu cầu đó.”

     Đuôi Trùn nói, bây giờ trong giọng của hắn

lộ rõ vẻ chua chát hờn dỗi:

     “Chính tôi đã tìm ra ngài. Tôi là người đã

tìm lại ngài. Tôi đã mang Bertha Jorkin đến cho

ngài.”     Giọng nói thứ hai nghe có vẻ khoái

trá:     “Điều đó đúng. Một sự thông minh đột

xuất mà ta không nghĩ ra là mi có thể có… Tuy

nhiên, nếu nói cho đúng sự thực, thì mi bắt cóc con

mụ đó, mi đâu có biết mụ ta hữu ích như thế nào

hả?”

28

     “Tôi… tôi cũng có nghĩ mụ ta có thể hữu ích

chứ… thưa Ngài…”

     “Đồ nói láo!”

     Giọng thứ hai lại thốt lên với sự thích thú

ác độc lồ lộ hơn bao giờ hết:

     “Nhưng mà ta không chối rằng thông tin của

mụ ta là có giá trị. Nếu không có nó, chúng ta đâu

có vạch ra được kế hoạch này. Vì vậy mi sẽ được

thưởng, Đuôi Trùn à. Ta sẽ cho phép mi thực hiện

một công việc trọng yếu cho ta, một công việc mà

nhiều đồ đệ của ta sẵn sàng xung phong nhẫn lãnh…”

     “Th… thiệt… hả, thưa Ngài? Công việc gì…?”

     Giọng của Đuôi Trùn bây giờ lại đầy vẻ kinh

sợ.     “À, Đuôi Trùn à, mi đâu có muốn ta làm

hỏng sự ngạc nhiên thú vị của mi hả? Vai trò của mi

29

nằm ở giai đoạn cuối… nhưng mà ta hứu với mi, mi

sẽ được hưởng cái vinh dự là kẻ hữu ích, như Bertha

Jorkin vậy.”

     Giọng của Đuôi Trùn bỗng trở nên khào khào,

như thể miệng hắn chợt khô đắng đi:

     “Ngài… Ngài…Ngài… sẽ giết cả tôi nữa à?”

     Cái giọng lạnh lùng lại trở nên mơn mớn:

     “Đuôi Trùn ơi, Đuôi Trùn à, tại sao ta lại

phải giết mi kia chứ? Ta giết Bertha là bởi vì ta

cần phải làm như vậy. Sau khi ta tra hỏi mụ ta xong

thì mụ trở nên vô dụng hoàn toàn. Vả lại, nếu mụ

ta mà trở về Bộ Pháp Thuật với cái tin là mụ đã gặp

mi vào kỳ nghỉ hè, thì mụ lại bị họ vặn hỏi những

cây ngốc nghếch nữa. Mấy phù thủy đã bị coi như

chết rồi thì không nên đụng đầu với phù thủy của Bộ

30

Pháp Thuật ở mấy cái quán ven đường…, biết không?”

     Đuôi Trùn lầm bầm cái gì đó nhỏ đến nỗi lão

Frank không thể nghe lọt tai, nhưng mà cái điều đó

khiến cho người đàn ông thứ hai trong phòng phá lên

cười – một tiếng cười hoàn toàn bi thảm, lạnh lẽo

như giọng nói của y:

     “Chúng ta có thể thay đổi ký ức của mụ ấy ư?

Nhưng Bùa Mê Ngải Lú có thể bị một pháp sư cao tay

ấn phá vỡ như chơi, như ta đã chứng minh khi ta

tra vấn mụ ta. Đuôi Trùn à, nếu không xài những

thông tin mà ta đã khai thác được ở mụ ấy thì quả

thiệt là xúc phạm đến ký ức của mụ.”

     Ở ngoài hành lang, lão Frank chợt nhận thấy

bàn tay nắm chặt cây gậy của lão đã ướt đẫm và trơn

31

nhớt mồ hôi. Thì ra gã đàn ông có giọng nói lạnh

lùng kia đã giết một người đàn bà. Hắn đang nói đến

chuyện đó mà không có một chút ăn năn hối hận gì

hết – mà còn có vẻ khoái trá nữa. Hắn thiệt là nguy

hiểm – một thằng điên. Và hắn lại đang lên kế

hoạch giết thêm nhiều người nữa. Cái thằng nhỏ

Harry Potter nào đó, chẳng biết là thằng nhỏ nào

nữa, đang bị nguy hiểm…

     Lão Frank biết là lão phải làm gì. Bây giờ,

chính là lúc – nếu có lúc nào đáng làm thì chính là

lúc này – đi kêu cảnh sát. Lão tính sẽ lẻn ra khỏi

ngôi nhà Riddle và đi thẳng tới trạm điện thoại

công cộng trong làng… nhưng cái giọng lạnh lùng lại

vang lên, và lão Frank cứ đứng như phỗng tại chỗ,

cố hết sức giỏng tai lên mà nghe.

32

     “Thêm một tên nữa bị giết… tên đầy tớ trung

thành của ta ở trường Hogwarts …Đuôi Trùn à, Harry

Potter giỏi lắm thì cũng bằng ta là cùng thôi.

Chuyện đó ta đã quyết rồi. Sẽ không còn tranh cãi

gì nữa hết. Nhưng mà im coi… ta nghĩ ta nghe tiếng

con Nagini…”

     Và giọng nói của người đàn ông thứ hai thay

đổi. Hắn bắt đầu phát ra những âm thanh mà lão

Frank cả đời chưa từng nghe thấy bao giờ. Hắn đang

rít lên như huýt gió và phun phì phì mà không cần

lấy hơi thở. Lão Frank nghĩ chắc là hắn đang lên

cơn động kinh gì đó.

     Và rồi lão Frank nghe đằng sau lão có cái gì

đó đang chuyển động trong hành lang tối om. Lão

quay đầu lại dòm và cảm thấy mình tê liệt đi vì

33

kinh hãi.

     Có cái gì đó đang trườn về phía lão trên sàn

hành lang tăm tối, và khi nó trườn tới gần dải

sáng của ánh lửa lò sưởi hắt ra, lão hoảng kinh hồn

vía nhận ra đó là một con rắn khổng lồ, ít nhứt

cũng dài tới ba thước sáu. Hãi hùng, chết điếng,

lão Frank trừng mắt ngó thân hình dợn sóng của con

rắn quét một vệt rộng ngoằn ngoèo xuyên qua lớp bụi

dày trên sàn, đến càng lúc càng gần lão hơn… Lão

phải làm gì đây? Lối chạy trốn duy nhất là chạy

tuốt vô căn phòng mà hai người đàn ông kia đang mưu

tính chuyện sát nhân, nhưng nếu lão cứ đứng ỳ ra

tại chỗ thì chắc chắn con rắn sẽ giết lão…

     Nhưng trước khi lão quyết định được phải làm

thế nào thì con rắn đã bò tới ngang chỗ của lão,

34

và không thể tin được, con rắn bò qua, một cách

huyền bí lạ lùng. Con rắn bò theo tiếng huýt gió và

tiếng phun phì phì của người đàn ông có giọng nói

lạnh lùng ở bên trong cánh cửa, và chỉ vài giây

sau, cái đuôi đa giác hình viên kim cương của con

rắn biến mất sau khe cửa để hở.

     Bây giờ thì mồ hôi đầm đìa trên trán lão

Frank, còn bàn tay cầm gậy của lão thì run bần bật.

Bên trong căn phòng, cái giọng lạnh lùng vẫn tiếp

tục rít lên và lão Frank chợt lóe lên một ý tưởng

lạ lùng, một ý nghĩ không thể nào có nổi… Gã đàn

ông đó có thể nói chuyện với rắn.

     Lão Frank không hiểu chuyện gì đang diễn ra.

Điều lão mong muốn hơn hết thảy mọi thứ lúc này là

được trở về cái giường của mình với chai nước nóng

35

để chườm cái chân đau. Vấn đề là cái chân lão đứng

đó run rẩy, tìm cách làm chủ lấy bản thân mình,

thì cái giọng lạnh lùng đang nói tiếng rắn ấy đột

ngột chuyển sang tiếng Anh:

     “Đuôi Trùn , Nagini có một tin thú vị đây.”

     Đuôi Trùn hỏi : “Thực … sao, thưa ngài?”

     Giọng lạnh lùng ấy trả lời:

     “Ừ, thực vậy. Theo như Nagini thì có một lão

Muggle đang đứng ngay ở ngoài cửa phòng này, rình

nghe hết từng lời chúng ta nói.”

     Lão Frank chẳng còn cơ hội nào để núp vô đâu

nữa. Tiếng bước chân vang lên, và rồi cánh cửa

phòng bật mở rộng.

     Một gã đàn ông nhỏ thó, hói đầu, tóc lưa

thưa màu xám, mũi nhọn và nhỏ, mắt mọng nước , đứng

36

ngay trước mặt lão Frank, trên mặt hắn lẫn lộn nỗi

sợ hãi với vẻ cảnh giác.

     “Mời hắn vô trong này coi, Đuôi Trùn . Phép

lịch sự của mi để đâu hả?”

     Giọng nói lạnh lùng vang lên từ chiếc ghế

bành cổ xưa đặt trước lò sưởi, nhưng lão Frank

không thể nhìn thấy người đang nói. Con rắn, mặt

khác, thì đã cuộn tròn trên tấm thảm rách mướp bẩn

thỉu, trông như thể nhại theo phong cách một con

chó cưng.

     Đuôi Trùn vẫy tay ra hiệu cho lão Frank bước

vào phòng. Mặc dù vẫn còn run lập cập, lão Frank

nắm chặt lấy cây gậy, bước khập khiễng qua ngưỡng

cửa.     Ngọn lửa lò sưởi là nguồn ánh sáng duy

nhứt trong căn phòng – hắt những cái bóng dài lằng

37

ngoằng lên tường. Lão Frank đăm đăm nhìn vào lưng

cái ghế bành; gã đàn ông ngồi lọt thỏm trong cái

ghế đó dường như còn nhỏ hơn cả tên đầy tớ Đuôi

Trùn của hắn, bởi vì lão Frank chẳng nhìn thấy được

cái đầu của hắn đâu, chỉ nghe giọng lạnh lùng vang

lên :

     “Mi nghe hết mọi chuyện rồi hả, tên Muggle

kia?”     “Ông gọi tôi là gì hả?”

     Lão Frank đáp, giọng thách thức, bởi vì đằng

nào thì lão cũng đã vô tận trong phòng rồi, và bây

giờ là lúc phải hành động, bất kể là hành động gì.

Lão bỗng cảm thấy can đảm hơn; hồi trong chiến

tranh lão luôn cảm thấy như vậy.

     Cái giọng của gã đàn ông ngồi trong ghế bành

trở nên mát mẻ:

38

     “Ta gọi mi là một Muggle , có nghĩa mi không

phải là một pháp sư.”

     Giọng lão Frank tăng thêm phần rắn rỏi:

     “Tôi không biết ông nói pháp sư là ông định

nói cái gì. Tôi chỉ hiểu là những gì tôi đã nghe

đêm nay đủ đẻ làm cho cảnh sát quan tâm. Ông đã

giết người và ông đang mưu toan giết thêm người

nữa! Và tôi cũng phải nói cho ông biết điều này…”

     Giọng lão đột ngột hăng lên khi lão nói thêm

:

     “Vợ tôi biết tôi đến đây, và nếu tôi không

trở về…”

     Cái giọng lạnh lùng thản nhiên ngắt ngang

lời lão:

     “Mi không có vợ. Không ai biết mi ở đây. Mi

39

không nói cho ai biết mi đến đây. Tên Muggle kia,

đừng có nói láo với Chúa tể Hắc ám Voldemort ,

bởi vì ngài biết … Ngài luôn luôn biết…”

     Lão Frank thô lỗ :

     “Có đúng không đó? Chúa tể cơ à? Chà, tôi

thì không lấy phong thái lịch sự làm điều đâu, thưa

ngài. Nhưng tại sao ông không quay mặt lại đối

diện với tôi như một con người nhỉ?”

     “Nhưng ta không phải là một con người , đồ

Muggle ạ.”

     Giọng nói lạnh lùng vang lên nhưng rất khó

nghe trong tiếng củi lửa cháy lách tách:

     “Ta hơn hẳn, hơn hẳn một con người. Tuy

nhiên … sao lại không? Ta sẽ đối diện với mi… Đuôi

Trùn , đến đây xoay ghế lại cho ta.”

40

     Tên đầy tớ rên rỉ.

     “Có nghe ta bảo không, Đuôi Trùn ?”

     Với gương mặt dúm dó, gã đầy tớ làm như thể

hắn thà làm bất cứ cái gì còn hơn là phải đến gần

ông chủ của hắn và cái thảm lót nền lò sưởi chỗ con

rắn đang nằm. Gã đàn ông nhỏ thó đó bước chậm chạp

tới trước và xoay cái ghế lại. Con rắn ngóc cái

đầy hình tam giác xấu xí và huýt gió khe khẽ khi

mấy cái chân ghế làm đùn tấm thảm của nó.

     Và rồi cái ghế lại được xoay ra đôi diện với

lão Frank. Lão nhìn thấy cái đang ngồi trên ghế.

Cây gậy rơi khỏi tay lão rớt xuống sàn kêu cành

cạch. Lão há miệng ra, thốt lên một tiếng thét. Lão

thét to đến nỗi lão không nghe được mấy lời thần

chú mà cái vật ngồi trong ghế lẩm bẩm khi giơ cây

41

đũa phép lên. Một làn ánh sáng xanh lè nhá lên, một

tiếng đổ ụp xuống, và lão Frank ngã gục trên sàn.

Lão chết trước cả khi thân thể lão chạm tới sàn

nhà.

     Cách đó hai trăm dặm, một thằng bé tên là

Harry Potter giật mình thức giấc.

42

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát