Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Lửa trắng

* CHƯƠNG MỘT

Cuối cùng thì thầy Bảo cũng nhận lời đến dự đám

giỗ của nhà cậu học trò nghịch phá của trường mình.

Người ta đồn đến tai thầy như vậy, chớ thầy chưa

thấy ai mét với thầy về chuyện nghịch phá của thằng

nhỏ. Đã là học trò, đứa nào chẳng có những trò

tinh nghịch. Như dán giấy viết những chữ đọc đến là

mắc cười lên lưng bạn. Phết phấn mầu lên cạnh bàn

để bạn dựa lưng vào là xanh xanh, đỏ đỏ ở lưng áo.

Đi sau bạn, hất nhẹ gót chân bạn, làm bạn lao đao

muốn té. Tất cả những trò đó mấy nhỏ học trò đời

này qua đời khác, bao giờ chẳng có. Nhưng ở thằng

nhỏ này, có những lời đồn nghe mà phát hoảng kìa.

Như chuyện đến lớp sớm, dăng giây ngay cửa lớp rồi

ngồi thản nhiên tại bàn học của mình. Hễ mỗi đứa

1

bước chân vào lớp, nó chỉ cần kéo nhẹ cái chân là

cái giây căng ra làm có đứa chúi nhủi. Nó thản

nhiên tủm tỉm cười. Cái cười của nó khiến đứa bạn

có muốn giận cũng không giận nổi. Không những thế,

nó còn lôi cuốn chúng vào cuộc chơi. Cái giây cứ

tồn tại và lần lượt từng đứa, từng đứa bị vấp. Ban

đầu chỉ có thằng nhỏ tủm tỉm cười , sau đó là cả

bọn, hễ cứ có đứa vấp ,té nhủi là cả bọn cười rần

rần. Đại loại là những chuyện như vậy, đồn đến tai

thầy Bảo. Trong gần một ngàn học sinh của trường

này, ngoài những lớp thầy có tham gia dậy, thầy

quen không được mấy học trò. Thân thiết với từng

học trò lại càng hiếm. Tuổi của thầy bây giờ cách

quá xa tuổi học trò của sắp nhỏ. Ít thì là cha con.

Hơn chút nữa có thể thành ông nội , ông ngoại rồi.

2

Nhưng với Khính, thầy lại có một cảm tình riêng

mặc dù thầy chỉ tham gia dạy cậu đôi ba tiết vật

lý. Thứ nhất, bao giờ gặp thầy nó cũng toét miệng

cười. Cái thằng có nụ cười đến lạ. Nó hồn nhiên sao

ấy, khiến người tiếp xúc với nó chỉ chút ít thời

gian cũng thấy gần gũi lạ thường. Thứ hai, mới mười

mấy tuổi mà nó đứng đã cao gần bằng thầy. Nhưng nó

mập hơn thầy nhiều. Mỗi khi đứng bên nó, thầy

tưởng như có một vệ sĩ riêng cho mình. Bạn bè gọi

nó là thằng mập thay vì gọi tên cúng cơm của nó là

Khính. Không phải vì sự khác lạ về ngoại hình mà

làm thầy có cảm tình, cái chính là ở chỗ nó mập thế

mà không ù lì, chậm chạp mà lại nhanh nhẹn và khá

nổi tiếng trong các môn tự nhiên, sở thích của nó,

mà cũng là sở thích của thầy. Thầy đã nghe thầy

3

giáo dạy môn toán của trường kể một chuyện. Trong

khi dạy thầy đã dịch một bài toán từ sách nước

ngoài. Thầy cho mấy lớp thử làm. Nhưng chẳng có đứa

nào làm tới kết qủa. Nhưng tới Khính mập thì nó

làm xong. Thầy khen, cho nó hai mươi điểm. Nó toét

miệng cười và biểu:

-Thưa thầy, thầy còn bài nào khó hơn không.

Thế là thầy giáo dạy toán biểu nó là kiêu căng, có

ý không hài lòng. Nhưng cũng chỉ không hài lòng

vài bữa thôi. Sau rồi, đâu cũng vào đấy.

Sáng qua, nó lên phòng Hiệu trưởng.

-Thưa thầy, ba mẹ em mời thầy ngày mai đến dự đám

giỗ nội em -Nó nói ngay khi bước vào phòng .

- Chớ nhà em ở đâu ?

- Dạ không làm ở nhà em mà làm bên nhà bác Hai

4

em. Bên Lộc An.

-Lộc An ?

-Dạ …Ba mẹ em nói, lẽ ra phải đến tận trường mời

thầy. Nhưng mong thầy thông cảm. Nhà em ai cũng mắc

công chuyện cả. Ba em thì ra đồng. Má em bán sạp

hàng ngoài chợ. Mờ đất đến tối mịt mới được về nhà.

Còn lũ em, em nó nhỏ quá. Nên ba má em giao cho em

phải mời cho được thầy về dự đám dỗ nội em…

- Tôi hiểu, tôi hiểu …

- Ba mẹ em biểu, thầy đừng từ chối. Rất mong ngày

mai thầy có mặt. Thầh có biết không, ba má em mong

gặp thầy lắm đó. Chẳng hiểu sao, hễ về đến nhà là

ba má em lại hỏi về thầy. Thầy ra sao? Khoẻ không?

Lóng rày ốm hay mập. Làm như thầy là người trong

dòng tộc nhà em không bằng. Thầy đến nghen. Thày mà

5

không đến, coi chừng em bị đánh đòn đó, thưa thầy.

Thầy Bảo ừ hữ, không ra nhận lời, cũng không ra từ

chối. Còn Khính mập, hình như thế là đã làm xong

phận sự, nó quay ra sau khi nhìn thẳng vào mặt

thầy, ánh mắt ranh mãnh nhưng khá ngang ngạnh, cái

miệng thì toét ra cười. Khó mà từ chối được.

Nếu Khính mập tinh mắt thì có thể nhận ra ở thầy

Bảo cái giật mình rất nhẹ khi nghe Khính nhắc đến

hai chữ Lộc An .

Ở Tây Ninh này, Trảng Bàng có thể xem là vùng đất

cổ. Nó hình thành sớm gần như ngang với Sài

Gòn-Gia Định. Cách đây chừng ba trăm năm, trong

dòng người đi khai hoang mở đất, rong khi có người

tụ về làm nên phố xá ở hạ nguồn sông Sài Gòn, thì

6

có một số người khác lại ngược sông Sài Gòn lên

trên này lập ấp sinh sống và trồng trọt cung cấp

những thứ rau màu cho dân ở dưới kia. Nên cũng có

lúc các nhà làm ranh giới địa lý hành chính đã ghép

Trảng Bàng vào với Sài Gòn -Gia Định. Nhưng việc

ghép vào rồi tách ra nó cũng giống như chuyện tào

phào. Hôm nay chính quyền này ghép vào. Ngày mai

chính quyền khác lại tách ra. Những người dân thì

Trảng Bàng thuộc tỉnh nào cũng mặc. Nhiều người cứ

hỏi vì sao đất này lại có tên gọi là Trảng Bàng. Có

cách giải thích mộc mạc thế này: Xứ này trước kia,

khi chưa có người đến khai phá vốn nó là một cái

trảng. Một cái trảng khổng lồ, mọc đầy những cây

bàng, thứ cây để người ta đương đệm, đương chiếu,

làm nóp … Gọi riết với cái tên Trảng Bàng, mà thành

7

danh xưng. Đất rộng mà người thì không đông. Bên

này có con sông Sài Gòn, bên kia có sông Vàm Cỏ

Đông, ở giữa có một con rạch lớn không khác gì con

sông cũng có cái tên Trảng Bàng. Sông nước nhiều,

đất đai bằng phẳng nên dễ bề cho nông dân cấy hái,

trồng tỉa.

Ơ đây ngươi ta có một khu đất riêng nằm sát sông

Sài Gòn thể lập am thờ ông Đặng. Tương truyền rằng:

ba trăm năm về trước, ông Đặng đã dẫn dắt cả dòng

họ nhà mình rời xứ Quảng, gồng gánh đến đây. Khi đi

cả trăm con người. Khi đến rơi rụng gần hết. Người

bỏ cuộc dừng lại ngang đường. Người bệnh tật, chết

nằm lại. Người mắc vào vòng chiến của chúa Nguyễn

phương Nam chết oan, chết uổng. Khi đến xứ này trời

không còn sáng. Không có người đưa đường chỉ lối,

8

đoàn người chỉ còn biết cắm cúi mà đi. Họ mong gặp

được một thôn xóm nào đó để dừng chân, có chỗ nhờ

che thân trong đêm lưu lạc. Nhưng càng đi càng hun

hút vắng. Khi bóng đêm đè xuống, thì đoàn người

không còn thấy những vệt mòn của con đường nữa. Bàn

chân họ bắt đầu bị níu lại bởi cỏ cây. Chỉ còn

cách nương theo vệt sáng của con sông lần theo bờ

mà đi. Nhưng rồi cánh rừng như một bức tường khổng

lồ đen đặc chắn ngang trước mặt. Đã nghe tiếng gầm

thét của những con thú rừng. Tiếng gầm thét miết

vào bóng đêm làm mọi người kinh hoàng. Bóng đêm

chùm xuống. Vùng đất lạ đầy bí ẩn như muốn nuốt

chửng những con người bé nhỏ, xơ xác kia. Bỗng nghe

tiếng đá đập vào nhau. Những tia lửa bắn ra. Ông

Đặng kêu người mò trong đêm tối những cọng cỏ khô.

9

Còn ông ngồi kiên trì đánh lửa. Rồi đốm lửa đầu

tiên bắt cháy. Ngọn lửa lớn dần. Sau đó thành một

đống lửa to rừng rực cháy. Tất cả đoàn người tụ lại

quanh đống lửa. Ông Đặng đếm những người còn lại.

Ông đếm người như thành một thói quen trong suốt

chặng đường dài đi tìm đất sống. Nay mất một người,

mai mất một người khiến lòng dạ ông buốt rát rạt.

Nhất là khi phải chôn một đứa trẻ xuống đất vì

chúng không chịu đựng được gian nan, phát bệnh mà

chết. Những lúc đó, những người trong đoàn thấy ông

như kẻ mất hồn. Mắt ông nhìn đau đáu vào nấm đất

chôn đưa trẻ, vành môi mím chặ, hai tay nắm lại như

đang bóp một vật gì. Mỗi lần dừng chân ông lại đếm

người. Hôm nay cũng vậy. Trong ánh lửa chập chờn

ông lại đếm. Còn được bốn mươi chín người. Bốn mươi

10

chín người trong mươi gia đình còn lại. Trai tráng

còn được mươi người. Còn lại toàn là đàn bà, con

gái và vài đứa trẻ. Mặt mũi ai cũng phờ phạc. Mắt

ai cũng đã thành những cái hố sâu. Ông lên tiếng.

Tiếng ông cũng đã khàn đục sau chặng đường dài cả

ngàn dặm đường:

- Bà con, anh em. Chúng ta cùng đường rồi. Chúng

ta đã đói khát ở quê. Nhưng càng đi lại càng đói

khát. Chúng ta chán ghét đất quê vì đánh giết liên

miên mà đi tìm đất sống. Nhưng hình như trời không

thương chúng ta. Con em chúng ta đã chết trên

đường. Nay chỉ còn bây nhiêu con người. Trời không

thương không lẽ đất cũng không dung. Thôi, ta không

đi nữa. Ta sẽ sống lại đây. Đừng sợ rừng rú. Đừng

sợ hoang vu. Còn hạt lúa giống nào ta thả xuống đất

11

này. Còn con gà nào ta thả xuống đây. Còn con

người nào ta bám lại đây mà sống.

Ông Đặng rút cây gươm sau lưng ra, múa một đường.

Trong ánh lửa, lưỡi gươn phát ra một tia chớp lạnh

người. Một ngọn cây trước mặt ông rớt xuống. Ông

phóng lưỡi gươm cắm ngập xuống đất. Ông qùy xuống,

bái lạy đũ bốn phương tám hướng. Ông khấn. Lới khấn

khác ngày thường. Tiếng ông vang lên như sấm,

khiến mọi người quanh đống lửa cũng phải quỳ xuống

theo:

- Chúng tôi lạy mười phương trời. Chúng tôi lạy

mười phương đất. Chúng tôi lạy ông bà nơi quê cha

đất tổ. Mong đất, trời và ông bà phù hộ cho đám con

cháu lưu vong này được sống. Hôm nay, khấn suông.

Mai mốt ăn nên làm ra, bầy tui sẽ làm lễ đáp ơn.

12

Xin đừng trách cứ.

Đêm ấy, mọi người ngũ giữa đồng không mông quạnh,

không một chiếc lều che sương chắn gió. Ngay hôm

sau cuộc sống mới bắt đầu. Những nhát dao đầu tiên.

Những nhát cuốc đầu tiên. Ho được xem là những

người khai sơn phá thạch của đất Trảng Bàng này.

Nhưng kể từ khai sơn phá thạch nên đất Trảng Bàng

này, người Trảng Bàng chẳng mấy khi được sống yên

hàn. Cái thế đất Trảng Bàng ngon lành. Muốn sang xứ

Miên phải qua Trảng Bàng. Muốn về Sài Gòn qua

Trảng Bàng. Nó giống như cái cổ họng, nên hễ có

loạn là những người phía đối nghịch chọn Trảng Bàng

làm bàn đạp đánh về Sài Gòn . Ngược lại phía bên

kia chọn Trảng Bàng tạo thế tìm mọi cách đánh và

dồn những người chống đối ra càng xa Sài Gòn càng

13

tốt. Bởi thế mấy mùa giặc giã là mấy mùa dân Trảng

Bàng nếm mùi chinh chiến. Hồi Tây mới đánh vào Việt

Nam thì ở Trảng Bàng đã có ngay người đánh Tây.

Chuyện ông Đặng đời thứ năm tập hợp nghĩa quân,

khởi nghĩa ở Trảng Bàng, hưởng ứng lời kêu gọi đánh

Tây của cụ Nguyễn Trung Trực, truyền tụng trong

dân Trảng Bàng như chuyện cổ tích mà không chỉ trẻ

con, mà người lớn cũng thích nghe. Con cháu Trảng

Bàng tự hào mỗi khi nhắc đến cái tên ông Đặng. Có

người khởi nghĩa thì có người mượn danh dẹp loạn

đánh lên. Suốt cả gần một trăm năm qua, không khi

nào Trảng Bàng hết những cuộc chiến tranh. Lúc có

Việt Minh, thì Trảng Bàng là nơi tổ chức Thanh niên

tiền phong, hưởng ứng phong trào của Việt Minh.

Ngày ấy Rừng Rong là một khu rừng rậm rạp. Nghe nói

14

còn cọp, gấu, beo sinh sống. Những người tham gia

Thanh niên xung phong đã chọn Rừng Rong làm nơi tụ

họp và cùng vung tay thề không đội trời chung với

giặc Tây Dương xâm lược. Cũng cầm giáo, cầm gươm,

cầm gậy tầm vông đi đánh giặc. Người Trảng Bàng sớm

định hình tính cách của mình: Nếu không theo nghĩa

quân đánh giặc thì thà làm người dân bình thường,

chớ nhất định không cộng tác với người ngọai bang,

không làm tay sai cho những kẻ liếm gót giày quân

xâm lược. Từng xóm, từng ấp, sống theo dòng, theo

họ. Trong dòng, trong họ có ai theo giặc thì đấy là

một nỗi nhục lớn. Trong những câu chuyện kể cho

nhau nghe, mỗi người đều có chuyện về con em mình

tham gia đánh giặc như thế nào. Những chuyện ấy

chẳng cần phải bí mật. Vì nếu có đàn áp người liên

15

quan với người đi đánh giặc, không lẽ đàn áp hết

người Trảng Bàng này.

Thị trấn * Trảng Bàng cũng không phải ngoại lệ.

Hết đánh nhau với Pháp, bây giờ đánh nhau với Mỹ,

cứ hết lớp cha lại đến lớp con, thay nhau vào trận.

Thanh niên choai choai là đã bắt đầu theo cha anh

đánh giặc. Cũng có mấy anh bị bắt đi lính , nhưng

rồi cũng tìm cách đào ngũ trốn về vào rừng theo

Cách Mạng. Có anh bị bắt lính bị đưa ra tới vùng 1

chiến thuật ngoài tận Quảng Trị, cũng đào ngũ tìm

đường về quê tham gia vào đội du kích .

Thị trấn Trảng Bàng chỉ có một cái ngã tư và bốn

dãy phố. Nhà cửa cái thò, cái thụt. Toàn những nhà

được xây cất theo lối ngày xưa. Nhà chữ đinh, hai

mái và lợp ngói âm dương. Có cả những ngôi nhà khoe

16

giàu bằng cách xây nhà theo kiểu đình chùa. Rộng

rãi và những mái đao nhọn và uốn cong ở bốn góc. Cả

người giàu có cũng không dám dựng nhà lớn, nhà

cao, sợ không làm mục tiêu cho pháo phía bên này,

thì cũng làm mục tiêu cho pháo bên kia. Cũng có mấy

cái hiệu buôn. Rất ít những hiệu buôn lớn .Hầu hết

là những hiệu buôn kiểu cò con.Bán toàn là những

đồ dành cho lính sài .Phố xá dân ít hơn lính .Thời

nào cũng đông lính .Lính đóng dọc đường suốt từ

* Thị trấn: Gọi theo địa giới hành chánh bây giờ

cho tiện theo dõi. ( NĐT)

Suối Sâu, An Tịnh lên giáp Gò Dầu. Đủ mọi thứ sắc

lính . Nhất là sau tết Mậu Thân. Những cuộc tấn

công của quân giải phóng ào ạt vào Sài Gòn làm rúng

động cả đất Trảng Bàng này. Một bộ phận quân Giải

17

phóng cũng đã tấn công vào dinh quận trưởng Trảng

Bàng. Điều ấy không quan trọng. Quan trọng hơn,

việc tấn công vào Trảng Bàng còn để mở đường cho

những đoàn quân khác có đường tiến vào Sài Gòn

trong cái Tết Mậu Thân ấy. Nên sau Mật Thân, Ngụy

quyền Sài Gòn trổ lại làm chủ tình hình thì Trảng

Bàng là địa danh đầu tiên chúng phải chú ý đến.

Chúng biết, cách Sài Gòn chỉ khoảng một trăm cây số

là cả một vùng giải phóng rộng lớn. Nếu không trấn

giữ Trảng Bàng thì tại cửa ngõ này, lúc nào đoàn

quân cách mạng cũng có thể ào xuống tân công vào

dinh lũy Sìai Gòn. Vì thế mà thị trấn Trảng Bàng

giống như một trại lính. Lính tràn trên đường.

Đường lúc nào cũng khét lẹt xe nhà binh chạy. Thị

trấn bé xíu vậy mà cũng một dinh quận, đồn của cảnh

18

sát, bót của bảo an, tua của dân vệ… Có thể gọi

Trảng Bàng là thị trấn lính. Trong các nhà buôn,

trong các tiệm ăn cũng lính. Thậm chí có những tiệm

ăn giờ lính ăn, dân không được bén mảng tới. Nhất

là những tiệm nổi tiếng như cháo lòng Thanh Tân, hủ

tiếu Trung Hiểu. Tiệm cơm Lộc Thư… . Có hai dẫy

phố chợ, nhà cũng thấp và cũ kỹ, rêu phong. Chẳng

ai lo chuyện tu sửa hoặc xây mới vì lo bom đạn

chiến tranh lúc nào cũng có thể chụp xuống. Nhà

lồng chợ chỉ đông chút ít lúc sớm mai. Người trong

quê ra bán ba thứ đồ hàng bông, bán xỉ thịt heo rồi

về. Người ngoài phố sáng ra cũng đảo qua chợ mua

ít đồ ăn trong ngày. Chỉ có mấy bà bán hủ tiếu,

bánh canh, cháo là ngồi lâu hơn ngoài chợ. Chẳng

mấy người ăn.

19

Lâu lâu có mấy bà phụ nữ thèm quà vặt, hoặc

mấy đứa con nít vòi vĩnh muốn ăn hàng. Hàng quán

khác cũng lèo tèo giống như chợ quê. Vài hàng muối

mắm, dăm bẩy quầy bán hàng tạp nhạp…Người mua cũng

không nhiều. Phải thực cần mới có người đến chợ.

*

* *

Cuối cùng thì thầy Bảo cũng phải nhận lời đi đám

dỗ nhà thằng Khính mập. Mà lại là xuống ấp Lộc An.

Cái ấp nổi tiếng cứng đầu, cứng cổ, nói theo như

chính quyền Ngụy vẫn nói. Thị trấn thì lính đông

vậy. Nhưng sâu xuống các ấp một chút, ra đường

không biết ai là dân, ai là du kích. Thầy Bảo đã

nghe người ta nói vậy. Từ hồi nào đến giờ, những

xóm ấp của Trảng Bàng này không phải là nơi dành

20

cho lính tráng. Trong các ấp, không thể có một cái

chòi nhỏ cho lính, chớ đừng nói chuyện đào hào, làm

ụ để lính đồn trú. Lâu lâu lại có một càn quét khi

bỗng nghe tin ở ấp nào đó xuất hiện lực lượng Việt

Cộng. Cuộc càn thường diễn ra rất nhanh. Chỉ trong

ngày. Trước Tết Mậu Thân những cuộc càn của lính

Mỹ đã từng làm cho những xóm ấp của Trảng Bàng này

giống như một cái chảo lửa. Cả vạn binh lính Mỹ

tràn vào Trảng Bàng, suốt từ An Tịnh sang Sóc Lào,

Đôn Thuận. Lính Mỹ đóng dài dọc lộ 19-26. đóng dọc

cả quốc lộ 1. Xe tăng, đại bác rần rần. Thế mà cũng

chỉ ban ngày tấn công vào xóm ấp, ban đêm lại phải

rút ra đóng quân dọc tuyến lộ hoặc những đồn bót

xây từ thời chống Pháp. Không đội quân nào của Mỹ

dám đóng quân trong các xóm ấp Trảng Bàng. Nhiều

21

khi những cuộc càn diễn ra cho có lệ, chớ chẳng thu

hái được kết quả gì. Chính vì thế, Trảng Bàng có

thể chia hai vùng rõ rệt. Vùng của dân và vùng của

lính. Vùng của lính thì sắc lính nào ra sắc lính

đó. Còn trong những xóm ấp, dân và du kích như

nhau. Chỉ khác du kích thì lo chuẩn bị mọi thứ để

chống càn. Còn dân thì sáng, trưa, chiều, tối, khi

cây lúa, cây đậu còn phải trồng thì còn có người

trên ruộng. Ngay cả những du kích, họ cũng phải

xuống đồng. Súng đeo trên lưng. Lựu đạn dắt đầy

mình, lom khom bên những luống đậu, luống cà. Hồi

Tết Mậu Thân, súng đạn nổ ì xèo. Trong xóm, trong

ấp, không biết từ đâu mà bộ đội kéo ra ào ào, đánh

vào mọi nơi có lính đóng quân. Thấy lính co vào

đồn, bót, rồi lính lại bung ra. Thắng thua không

22

biết về phần ai. Thấy xe chở xác lính cũng bộn.

Nhưng rồi xác Việt Cộng cũng bị lôi về phơi ngoài

chợ. Nay một người, mai một người. Ban đầu có người

còn tò mò mà đi coi, sau rồi chẳng ai coi nữa. Có

cả người của Trảng Bàng này bị giết và bị kéo xác

về phơi ngoài chợ. Những lúc có người như thế là

thị trấn Trảng Bàng giống như bị vỡ chợ. Thấy

người nhận mình là người thân của người bị giết,

kéo nhau cả trăm người lên đòi xác mang về chôn.

Cũng chẳng biết có phải người thân thiệt hay không,

nhưng lần nào cũng thấy rầm rập người kéo đi .

Lính tráng hầm hè, đe nẹt chán rồi cũng phải trả

xác cho người ta. Phần vì mấy người đàn bà làm dữ,

hết lớp này đến lớp khác kéo nhau lên quận, phần vì

xác cũng đã chuyển mùi… Chẳng biết có phải người

23

thân thiệt không nữa nhưng thấy người đòi xác cũng

khóc thê thảm lắm. Sau này, người đi đòi xác đông

hơn. Họ đòi bất cứ cái xác nào. Cẳng biết có phải

là người thân thích hay không, nhưng hễ cứ kêu xác

Việt Cộng là có người đến khóc đòi. Hình như những

người đi đòi xác không biết sợ ai. Những người đàn

bà xứ này thực đáng sợ. Mỗi khi đụng chuyện họ tụ

tập lại rồi thì không lính tráng nào cản nổi. Như

hồi Mỹ càn vào Trảng Bàng đó. Có người đàn bà còn

ra đứng cản đầu xe tăng Mỹ nữa kìa. Mỹ thì bảo

trong ấp có Việt Cộng. Người đàn bà thì bảo: Việt

Cộng đâu tao không biết, nhưng xe mày đang phá đậu

phá lúa của tao là không được. Lính Mỹ kéo bà ra,

bà lại lăn vào. Bà nhổ cả khóm đậu dí vào mũi thằng

chỉ huy bảo: mày không biết đây là sự sống của tao

24

sao. Ai có biết đâu ngay trong cái chòi canh đậu

của bà có mấy du kích đang ém. Lúc bà cản đầu xe,

cũng là lúc các anh tranh thủ gài trái. Lúc chúng

kéo bà ra được thì trái gài xong. Xe tăng chạy tới

đụng trái nổ cái rầm. Khi chúng tiến về phía trước

thì mấy anh du kích luồn ra phía sau, cài trái

tiếp. Chúng tiến không được, rút lui. Lại đụng trái

nữa. Còn bà già thì ngồi lu loa chửi quân Mỹ ác,

phá ruộng, phá rẫy, phá miếng cơm manh áo của bà.

Nước mắt nước mũi bà chan chứa trên mặt, nhưng khi

chúng vừa lui thì bà lại chửi mấy thằng du kích ác

nhơn là bà lo muốn chết.

Thầy Bảo biết được chuyện ấy qua miệng những học

trò trường ông. Tụi trẻ đâu có sợ gì ai. Gặp chuyện

chúng nói ào ào.

25

Chuyện mới đây nhất là chuyện anh Châu, du kích xã

An Tịnh. Lính giết rồi còn móc mắt anh, vì sợ anh

hiện hồn về trả thù.

Nhưng trước hết là chuyện về vợ anh đã. Người ta

kể nhà anh ở cuối ấp An Qưới, của xã An Tịnh. Ngôi

nhà nhỏ xíu không đấy ba chục mét vuông mà có tới

sáu bảy người ở. Hai ông bà gìa. Vợ và năm đứa

con. Vợ anh là một người phụ nữ nông dân rặt. Nước

da bánh ít. Thân hình vững chãi. Ngực vươn cao. An

nói rổn rảng như đàn ông. Không biết anh Châu về

hồi nào mà chị đẻ liên tu năm đứa. Ba thằng con

trai, hai đưa con gái. Đứa nào cũng giống chị. Ngay

từ nhỏ đã lăn lóc sống khỏi cần đến sự ôm ấp nâng

niu. Khi còn bé xíu, lúc người ta phải lo bột, lo

cháo thì chúng đã nút cơm rồi. Khi nấu cơm, cạn

26

nước chỉ cần thêm một chút nước vào một góc nồi,

Chỗ ấy khi nồi cơm chín sẽ nát hơn những chỗ khác.

Thế là thành thứ cháo cho con nít từ vài tháng đến

hơn tuổi. Thức ăn của con chị ngày nhỏ là như vậy.

Khi chúng lớn lên một chút, cơm bới ra, đứa nào

cũng cả tô, chan tí nước mắm với vài quả ớt là xong

bữa. Tối đến, chẳng cần phải dỗ dành đứa nào, gặp

đâu chúng ngủ đó. Co khi chị phải dọi đèn tìm khi

bỗng nhiên không thấy một đứa. Chúng ngủ cả ở ngoài

chuồng trâu. Muỗi mòng bay rào rào, thế mà chúng

cứ ngủ ngon lành được. Chỉ cảm ơn trời, không thế

anh đi quanh năm suốt tháng làm sao chị nuôi con.

Cả nhà ra ruộng. Mảnh ruộng gia đình ngày phía

trước mặt, khuất sau những bụi tầm vông. Ngôi nhà

chị lọt thỏm giữa những bụi tấm vông ken dày như

27

thành luỹ. Cuộc sống cả nhà nhờ vào mảnh ruộng và

những cây tầm vông. Một tay chị quán xuyết hết.

Sanh con xong, chỉ ba ngày chị đã ra ruộng hoặc

ngồi đương dỏ cần xé.

Trong nhà, ngoài bàn thờ tổ tiên còn có một bàn

thờ khác. Thờ anh Châu. Trên đó có bức hình không

biết có phải anh hay không nữa. Đó là hình một

người đàn ông khăn đóng áo dài, khuôn mặt vuông,

lông mày rậm gần như giao nhau ngay giữa trán.

Người trong hình ngồi ngay ngắn trên một chiếc ghế

đai. Hai tay khuỳnh ra đặt trên đầu gối. Cả thân

người thẳng, căng cứng như đang thủ thế. Ai quanh

xóm hỏi chị cũng bảo: anh Châu chồng tôi đó. Nhưng

ảnh đang còn sống, làm sao lại thờ. Anh biểu thờ

thì thờ. Anh như vậy, chết sống lúc nào ai biết.

28

Anh nói thờ đi để anh còn thấy mình đang sống. Hễ

còn nhìn thấy bàn thờ, là còn sống. Cả xóm này ai

cũng biết anh Châu. Nhưng chỉ biết loáng thoáng khi

anh còn nhỏ. Lớn lên anh biến mất khỏi xóm như

chưa hề có. Lúc canh về cưới chị, người ta làm đám

cưới thì bịt mặt cô dâu. Cón anh thì ngược lại. Ai

cũng ngạc nhiên thấy anh trùm lên đầu bằng một tấm

lụa đỏ. Chị giải thích: anh đánh giặc bị thương,

mặt anh gớm ghiếc lắm. Sau đám cưới lại thấy anh

biến mất. Người hàng xóm chỉ biết anh có về khi

thấy chị mang bầu. Thế nên thấy tấm hình, nghe chị

biểu đó là anh Châu thì người ta tin đó là anh

Châu, còn có đúng hay không thì chỉ mình chị biết.

Một lần bọn bảo an kéo nhau vào nhà chị. Thằng chỉ

huy chỉ cây súng côl vào mặt chị hỏi:

29

- Chồng chị, thằng Châu ở đâu?

- Tôi không biết- chị thủng thẳng trả lời.

- Chị biết. Hắn vẫn về nhà này. Chị tưởng chị lập

bàn thờ nó là chúng tôi tin thằng Châu đã chết rồi

sao? Bọn tôi đâu có ngu. Thằng Châu xuất hiện

hoài hoài ngoài thị trấn kìa kìa.

- Ô hay, các ông biết thì đến mà bắt ảnh, sao hỏi

tôi?

Thằng chỉ huy bảo an ngắc ngứ. Nhưng hắn vẫn chưa

buông tha chị:

- Hắn có về chị mới đẻ được chớ…

- Đúng, anh ấy có về. Không về làm sao tôi đẻ,

phải không. Tôi con cả bầy nằm sẵn trong bụng nè.

Anh về là chúng dạ rân đòi ra. Nói ông không tin.

Chớ ảnh chỉ chạm vào đầu giường tôi nằm là tôi có

30

bầu rồi. Nhưng mà này, chuyện tôi với ảnh là vợ

chồng đâu có liên quan gì đến chuyện quốc gia.

Mặt chị tỉnh queo, tay vẫn thoăn thoắt đương cái

dỏ cần xé dở dang. Tên chỉ huy bảo an gắt gỏng:

- Sao lại không liên quan. Thằng Châu là thằng

phá hoại. Còn chị, đẻ ra cái nòi phá hoại…

- Nè. Ông ném chuột phải né bình kiểng chớ. Ông

bà già ảnh còn ngồi trong kia, ông nói nòi nọ, nòi

kia là sao?

- Thôi tôi không lý sự nhiều với chị. Tôi hỏi:

thằng Châu bây giờ ở đâu?

- Ông dỡn hoài, tôi nói rồi, các ông thấy ảnh đâu

thì cứ bắt, cứ giết. Còn tôi thấy ảnh là tôi đẻ

con. Việc ai nấy làm. Không liên can gì đến nhau

hết. Các ông về đi, để tôi còn làm công chuyện.

31

Không làm, con tôi ai nuôi…

Tên chỉ huy toan làm dữ:

- Ê tụi bay, bắt trói chị ta lại, mang về bót…

Chị cười:

- Lại bắt bớ hả. Thì cứ bắt. Nhưng bắt tôi thì

dễ, thả tôi thì khó à nghen…

- Khó cái gì mà khó…

- Là tôi nói khó với anh Châu nhà tôi kìa. Anh

không quen để ai ăn hiếp người nhà ảnh đâu…

Tên chỉ huy chựng lại, nhưng để vớt vát, hắn hô

lính lục soát khắp nhà tìm hầm bí mật. Đang trước,

đằng sau, trong bếp ngoài vườn, chỗ nào chúng cũng

thọc cây sắt xăm hầm xuống. Thằng chỉ huy nhìn hau

háu vào những mũi cây xăm. Hắn hy vọng nghe được

một tiếng sật và cây xăm lút xuống. Nhưng không.

32

Không hề có cái gì. Hắn không ngời ngay tại chỗ chị

vợ anh Châu anh ngồi, bên cạnh những bãi cứt trâu

nhão nhoét kia là một nắp hầm, nơi anh Châu vẫn ra

về. Chúng cũng không thể ngờ răng trong những bụi

tầm vông kia cũng có những căn hầm. Nhưng muốn đến

được nắp hầm thì phải rúc vào giữa bụi mới thấy. Cả

bọn mồ hôi nhễ nhại bỏ cuộc. Trước khi ra về thằng

chỉ huy còn nói một câu thật vô duyên:

- Nè, tôi nói trước tôi sẽ còn quay lại đó. Lần

sau mà chị mang bầu nữa là tôi bắt chị đó. Tôi sẽ

làm cho chị không đẻ thêm được đứa nào nữa và thằng

Châu phải lòi mặt ra gặp tôi đó nghe.

- Ua, ông nói lạ chưa? – Vợ anh Châu lại thủng

thẳng- Ông không nghe câu: “ đàn ông vắng nhà, đàn

bà ngứa l.” hả? Lỡ tôi không chửa với anh Châu mà

33

chửa với người khác thì sao. Ông coi sắp nhỏ nhà

tôi đó, có đứa nào giống cha nó trên bàn thờ không?

Con hàng xóm cả đó…

Chị cười dòn tan tiễn cả bọn ra ngõ.

Chúng cũng không biết ngay trong đêm đó, dưới căn

hầm bí mật, anh chị lại gặp nhau, nghe chị kể

chuyện anh cười váng cả căn hầm:

- Vậy hả? Vậy thì đếm nay ta làm đứa nữa nghe.

Chị nhéo vào lưng chồng:

- Ham. Đẻ cho lắm vào, đi suốt, mình tôi nuôi sao

nổi.

Nói vậy thôi, chị vẫn chiều anh. Không chiếu sao

được. Vợ chồng gần nhau đá mà như xa cách ngàn

trùng. Mỗi lần gặp là mỗi lần chui nhủi trong những

căn hầm hôi mùi đất mốc. Mà anh thì khoẻ như trâu

34

. Chị to lớn là như vậy nhưng vẫn cứ phải nhoài

người sau mỗi lần làm vợ.

Cả thị trấn Trảng Bàng đồn rằng không một ai biết

anh ở đâu. Người ta cũng đồn rằng anh có cả chục

cái hầm bí mật ở thị trấn này. Hôm nay anh ở hầm

này, mai ở hầm khác. Có lần chúng đã phát hiện ra

anh, xua quân đuổi sát sau lưng mà thoắt một cái

anh như có phép độn thổ, biến mất ngay trước mắt

bọn chúng. Có lúc chúng thấy anh chui xuống một căn

hầm. Chúng vây cả một ngày trời, sau cùng phải

mang xe ủi đất đến, ủi tan nát cả một cái vườn.

Những cây tầm vông bị ủi tróc gốc. Những bụi chuối

bị băm nát. Những chiếc thuôn sắt chọc nát từng

vuông đất quanh cái hầm. Phát hiện được cửa hầm,

thẩy cả chục trái lựu đạn xuống. Nhưng đến khi khui

35

tung căn hầm lên thì chẳng thấy anh đâu. Thì ra

anh đã theo ngách khác trốn mất tiêu. Có một thời

gian, bọn lính ở thị trấn Trảng Bàng đi đâu không

dám đi một mình. Có những bót thì tối đến là im

ỉm, chỉ có mấy ngọn đèn canh, còn lính thì kiếm

chỗ kín đáo mà lẩn trốn. Bọn chúng sợ anh xuất hiện

bất thần và cái chết ập tới không biết vào lúc

nào. Người ta còn đồn rằng anh không biết chữ. Mỗi

khi định đánh vào đâu là anh gởi đến đó một mảnh

giấy trên đó có vạch một chữ thập và khoanh bên

ngoài một cái vòng tròn. Muốn cảnh cáo chỗ nào anh

gởi đến đó một mảnh giấy chỉ có một quả trám. Người

ta cũng còn kể, có lúc một mình anh cưỡi chiếc

honda đam thả dài trên đường phố, có tên lính nhìn

thấy nhưng không dám la, vì cổ họng đã cứng lại

36

rồi. Lâu lâu lại nổ cái đùng, dăm ba tên lính, có

khi có cả sĩ quan địch chết không toàn thây, chết

banh xác. Sau những cái chết như vậy, lại có bao

nhiêu chuyện đồn thổi về anh Châu. Không biết bao

nhiêu cách để chúng săn bắt anh. Chúng đã treo giải

từ năm ngàn đồng lên mười ngàn đồng và có lúc lên

ba chục ngàn đồng chỉ để cho ai báo được tin chính

xác anh Châu đang ở chỗ nào. Có lúc, chúng treo

giải cả trăm ngàn đồng để mua cái đầu của anh.

Nhưng chúng quên đất đây là đất Trảng Bàng, và anh

cũng là người Trảng Bàng. Người ta chỉ có thể che

dấu cho anh chớ không thể có người đi tố cáo anh.

Còn anh thì tương kế tựu kế. Lâu lâu lại có người

báo anh ở chỗ này hay chỗ kia, khi lính kéo tới có

khi chưa đến địa điểm được báo đã bị anh tặng cho

37

một trái mìn. Có khi đến nằm phục kích đã, không

thấy anh , nhưng vừa nhổm lên, chưa kịp rút thì mìn

anh nổ tung. Anh bị lộ khi đang đặt mìn ở ngã ba

Vựa Heo, quãng giữa thị trấn với xã An Tịnh. Cũng

là chuyện xui rủi. Anh chưa kịp gài xong trái mìn

thì bỗng ở đâu xuất hiện một chiếc xe đò chở khách

xuống Sài Gòn. Anh lấy thân mình nằm đè lên trái

mìn, buộc cái xe phải tránh không đụng đến anh. Khi

chiếc xe chạy qua, thì cũng là lúc một chiếc xe

chở đầy bọn bảo an trờ tới. Ban đầu chúng chỉ nghi

ngờ. Nhưng khi anh chồm dậy, trái mìn lộ ra. Thế là

những khẩu súng găm vào anh mà nhả đạn. Ngay những

loạt đạn đầu tiên, chúng đã bắn nát một chân anh.

Anh lết vào một bờ đất, tử thủ. Khẩu súng ngắn của

anh bắn hết hai băng đạn. Anh dành cho mình một

38

viên. Lính quận xáp lại, nhưng không dám lại gần.

Chúng xả súng bắn một hồi lâu, khiến thân thể anh

không còn lấy một chỗ nào lành lặn. Khi chết, anh

ngồi dựa vào một bờ đất, thanh thản như người ta

ngồi thiền. Máu anh tuôn ra, đỏ hết chiếc áo mặc

trên người. Hai mắt anh còn mở trừng trừng như tức

giận. Cả đám lính và sĩ quan nằm xuống, dương súng

trước mặt anh. Cho đến lúc anh chết rồi chúng vẫn

còn khiếp sợ, chưa đứa nào dám lại gần anh. Lát sau

, thấy anh không còn nhúc nhích nữa,chúng mới đứng

lên. Có cảm giác chúng đang đứng mặc niệm anh, mặc

niệm một con người đã từng là nỗi kinh hoàng của

chúng và chúng cũng không ngại ngần lộ vẻ thán

phục. Chỉ có tên chỉ huy có vẻ hung hăng. Hắn lấy

dao ra khoét cả hai con mắt anh , khiến cả đám lính

39

rùng mình sợ. Sau này chúng kháo nhau, sống khôn

chết thiêng, tên chỉ huy sợ để hai mắt anh, nay mai

anh còn nhìn thấy chúng mà về báo óan. Xác anh

phơi ba ngày ngoài chợ, một tiểu đội lính canh. Vậy

mà đến đêm thứ ba, cái xác bị mất. Cả nhà anh gồm

toàn những người đàn bà lên dinh quận đòi xác, náo

loạn mất mấy ngày.

Tên chỉ huy nhận được mấy chục ngàn tiền thưởng và

được gắn một chiếc mề đay ghi công trạng. Nhận

tiền rồi, hắn mới thấy run khi chợt nhớ đến cặp mắt

anh bị hắn khoét. Ngay cả trong giấc ngủ hắn cũng

thấy cặp mắt ấy. Mấy hôm sau, sợ bị anh về đòi

mạng, hắn mang số tiền được thưởng đi cúng chùa

trên Gò Dầu. Chỉ dành một ít mua nhang, mua giấy

tiền ra chỗ anh bị giết, cúng anh.

40

Miệng trẻ nít ai mà cản được. Chúng râm ran chuyện

anh Châu có đến cả tháng trời. Nhiều đứa công khai

nói thèm được như anh Châu, đến lúc nào đó làm

được một anh Châu thứ hai ở Trảng Bàng này thì mới

thỏa chí. Có những lúc chúng bày trò, lấy anh Châu

làm nhân vật chính cho cuộc chơi. Chúng biểu diễn

anh Châu giống như tướng trong các tuồng cải lương,

còn lính thì giống như những con thỏ đế. Trường

thầy lớn không thua gì mấy trường trên thị xã. Cũng

gần hai chục lớp với gần một ngàn học sinh, lo giữ

trật tự trong giờ học đã khó, làm sao giữ được

những lúc vui chơi, chuyện phiếm. Chuyện anh Châu

không biết thực hư tới cỡ nào, nhưng sau khi anh

Châu chết bọn địch ở Trảng Bàng chỗ nào cũng thấy

làm tiệc mừng. Chúng uống rượu và cười đắc chí vì

41

nghĩ rằng sẽ không còn bất cứ kẻ táo tợn nào giống

như anh Châu ở Thị trấn Trảng Bàng này nữa. Chỉ

riêng tên chỉ huy hôm ấy không dám dự bữa tiệc nào,

và nhất là sợ uống rượu say, lỡ anh hiện hồn về

thì mạt.

Ap Lộc An càng nổi tiếng hơn nữa. Ngay từ thời

Tây, ấp Lộc An đã từng nổi tiếng là thứ dữ. Vài ba

ngày lính Tây bố ráp vào ấp, nếu không bố ráp thì

cũng cho mật thám vào ấp theo dõi sát, hoặc cho

lính tuần cầm chừng sáng chiều không biết giờ nào.

Có thời gian mật thám như ruồi trong ấp Lộc An. Khi

thì là một người hớt tóc dạo. Lúc là một người mua

bán ve chai lông vịt. Khi thì có kẻ khoác trên

người một mớ hàng kim khâu, chỉ, ống quẹt, bóp…

Miệng thì rao bán, mắt thì láo liêng nhìn trước

42

nhìn sau. Loanh quanh những đường vào ấp cứ thấp

thoáng những bóng người lạ. Tất nhiên người Lộc An

đâu có chịu như vậy. Một hôm một người lạ bị bọn

trẻ chăn bò choang cho một cục đá vào đầu, đổ máu.

Một hôm khác một người lạ mặt bị bò húc gẫy xương

sườn. Hôm khác nữa, một người lạ mặt bất thần bị

một gậy tầm vông nằm chết giấc. Khiến sau đó hết

người lảng vảng quanh ấp luôn. Không do thám được

thì càn. Những trận càn liên miên và cũng nổ súng

liên miên, nhưng nổ súng vào ai thì không biết.

Thậm chí khi gặp người mà những tên chỉ huy không

biết có nên ra lệnh nổ súng hay không. Nổ súng chán

rồi quay ra, không bắt được ai, không giết được

ai. Thì vô thấy toàn là dân không hà, những người

dân mặt ai cũng hiền khô trong tay không có lấy một

43

tấc sắt. Khi gặp lính càn vào nhà nào ở yên nhà

nấy, không ai chạy đi, chạy lại lộn xộn. Ngay cả

người đang làm ngoài đồng cũng đứng lặng yên hoặc

cứ công việc mình làm, lính càn mặc lính. Vậy thì

muốn bắn, muốn giết cũng không được...Nhưng hễ cứ

quay lưng lần nào cũng vậy, du kích ở đâu ùa ra,

súng nổ ì đùng. Quay lại, lại chẳng thấy gì, toàn

dân là dân không. Có lần, một tên chỉ huy ra lệnh

bừa bãi: Cứ nổ súng, ai chết mặc ai.Vô phước , hôm

ấy chúng bắn chết một người đàn bà. Thế là cả ấp

Lộc An tập hợp lại, khiêng xác người chết lên quận

đòi đổi mạng. Càn đã, nhưng khi quay ra rồi, bữa

sau lại nghe nói bộ đội du kích ngào trời trong đó.

Thậm chí, khi biết là như vậy, Tây cho lính vào

càn nữa, cũng lại thấy toàn là dân. Có khi vừa mới

44

quay ra đã bị phục kích ngay ở bìa ấp. Đánh Mỹ, Lộc

An càng nổi tiếng hơn. Mỹ không thể thả bom đạn

bừa bãi vào vùng ven thị trấn, cũng không thể càn

mỗi ngày. Địch cũng dư biết, ngay cạnh nách mình có

cái ung nhọt, nhưng không biết có cách chi nhổ đi

cho được.

Ban đầu chúng cho quân vào dồn hết dân ra ấp chiến

lược. Nói dồn là dốn được sao. Gần cả tháng trời.

Lúc thì năn nỉ: ở đây là vùng nguy hiểm, bà con cô

bác vào ấp đi, chính phủ quốc gia sẽ bảo vệ, không

để Việt Cộng đụng đến cái lông chân của bà con. Vào

trỏng mần ăn được thì mần, không mần được thì quốc

gia trợ ấp. Muốn gạo có gạo , muốn thịt, có thịt.

Vô đi mà. Chẳng ai chịu nhúc nhích. Năm nỉ không

được thì vũ lực. Nay vài nóc gia, mai vài nóc gia.

45

Đàn bà con nít gồng gồng gánh gánh, phía sau và hai

bên hông là lính và súng đi kèm. Khi đòn người lọt

hết vào phía trong hàng rào kẽm gai rồi, đám lính

lại hành quân tiếp vào Lộc An. Rồi lại tiếp diễn

những người gồng gánh và lính đi kèm. Riết rồi cũng

được gần một nửa số dân Lộc An bị dồn vào ấp chiến

lược. Nhưng vào đến ấp chiến lược rồi thì đủ mọi

thứ rắc rối. Người già thì nhăn nhó kêu bệnh tật,

chốc chốc lại kéo nhau toàn là những ông già bà già

đi kiếm người trị bệnh. Không đau bụng thì đau

lưng. Không đau lưng thì nhức đầu. Toàn là những

bệnh có khám cũng không biết là đau thực hay đau

giả. Con nít thì khóc la om xòm. Đứa này vừa nín

khóc, thì đứa khác lại la lên. Có đứa không chịu

khóc thì mẹ chúng kiếm cớ nạt cho khóc. Thiếu nước

46

uống kêu lính đi xách. Có chỗ đi cầu không thèm

biết, biểu lính dẫn đường. Ngồi cầu mà lính bỏ đi,

xách quần chạy ra, la oai oải lại kêu đứng canh

dùm. Chẳng ai chịu nấu cơm ăn. Viện cớ nấu cơm có

khói Việt cộng bắn vào. Nhà này kêu nhà kia kéo

nhau đến lấy cơm lính về ăn. Lính đi đâu dân đeo

theo đó, có hỏi thì biểu đi gần lính để lính bảo

vệ, lỡ có Việt Cộng tấn công có lính đỡ đạn dùm.

Tính định cư cho dân mà thành cả một đám lộn xộn,

chẳng có tí trật tự nào cả. Sáng dồn dân vào ấp,

chiều dân lại về nơi cũ. Đã có lúc dồn được nhà dân

nào đi rồi, chúng nổi lửa đốt hết không còn lấy

một ngôi nhà của họ. Nhưng cũng chẳng giữ được dân

ở trong ấp chiến lược. Người ta vẫn cứ bung về kết

mấy tầu dừa làm chỗ ở tạm. Hôm sau nhà nọ giúp nhà

47

kia làm lại nhà trên nền đất đã xám bụi tro. Nên

đến bây giờ ấp Lộc An vẫn là một địa chỉ đen, nhưng

không sao xóa sổ được. Những lúc ấp Lộc An hiền

lành thì như vậy, còn lúc Lộc An làm dữ thì cũng

ghê gớm lắm Ở Trảng Bàng còn lưu truyền chuyện ông

Tám bánh tráng, ở ấp Lộc An tạtnguyên cả nồi nước

sôi vào mặt thằng chỉ huy lính hồi chín năm đáng

Pháp. Thì cũng cứ nay càn, mai càn. Mà càn nhiều

qúa còn làm ăn gì nữa. Bữa đó, hình như chính đám

lính đi càn cũng chán chường vì những cuộc hành

quân. Chúng kéo vào ấp đi thơ thơ thẩn thẩn. Có vài

thằng kiếm mồi ngồi nhậu chơi với mấy người nông

dân. Thì cũng người Việt Nam cả với nhau. Lính gì

thì lính, cũng sinh ra ở những vùng quê trên đất

Việt này chớ đâu. Lột bộ đồ lính ra thì anh nào

48

cũng giống người dân bình thường vậy. Có thằng coi

mặt cũng dễ thương lắm chớ bộ. Chúng chỉ đáng ghét

khi khoác đồ lính lên người và cầm khẩu súng nghênh

nghênh. Có người thì bị ép đi lính, có người vì

miếng cơm manh áo mà đi lính. Hạn hữu mới có người

vì căm thù cộng sản mà đăng lính. Mà những thằng

như thế trong lính cũng ít lắm. Chúng say máu, say

giết cộng sản nên lên làm quan rất nhanh. Đám con

nhà giàu làm lính cũng ít. Mấy khi chúng đi lính.

Có tiền, mua được sự bình yên liền. Còn nếu không

thì học cho xong tú tài, đi trường võ bị, ra cũng

là sĩ quan rồi. Tóm lại, đã là lính thì hầu hết là

con nhà nghèo. Kiếp nghèo, thân lính vậy thôi . Nếu

không chia chiến tuyến thì đâu có chuyện người này

cầm súng bắn người kia. Bữa nhậu hôm đó làm tại

49

nhà ông Tám bánh tráng trong ấp Lộc An. Ông kiếm

dùm cho đám lính một con vịt. (Ở đâu thì dám lùa

bắt gà, bắt vịt ,chớ ở Lộc An này, thử cướp một

cái lông vịt coi). Ông kêu vợ làm thịt, luộc lên.

Nước thì bỏ vô ít gạo nấu cháo. Ông khui ra chai

rượu loại được nấu bằng nếp dẻo, mở nắp chai là đã

thấy thơm lừng. Đám lính khoái ông già tốt bụng

uống mềm môi. Lúc vui nhất là lúc ông Tám bánh

tráng lấy ra một cây đờn kìm. Ông mới chỉ khảy lên

vài tiếng là đám lính im re liền. Nhiều cậu nhỏng

cổ lên , hướng về phía ông Tám . Không ngờ cái ông

già tối ngày ngồi bên cái lò báng tráng lại có

giọng hát ngọt đến như vậy. Ông ca bản "Kinh Kha

tráng sĩ" mà như ông nói là do ông thích mà làm ra,

chớ chẳng phải của soạn giả nào hết. Nghe cũng có

50

lý lắm.

"Kinh Kha chàng ơi, tay kiếm lừng danh khắp bốn

phương trời ai cũng kính phục. Vua Yên yêu rước về

nuôi như cưỡng. Thề một đi là không trở về. Nhưng

cái số Tần vương chưa mãn, nên Kinh Kha đã ra đi mà

mãi mãi không… về "

Đúng là lối nghĩ sao ca vậy của một ông nhà quê .

Nghe cứ ngồ ngộ. Vậy mà khi tả đến đoạn Kinh Kha

vung gươm không chém được Tần Thủy Hoàng, mà gục

chết dưới lưỡi gươm của quần thần nhà Tần, ông cũng

rơm rớm nước mắt, vẻ thương cảm. Chỉ thế thôi, sau

đó ông bắt đầu rủa Kinh Kha. Tráng sĩ gì hắn, ăn

hại thì có. Bao nhiếu vàng bạc châu báu. Nào gái

đẹp món ngon. Mất công rèn kiếm báu làm chi mà

chẳng chém được Tần Thuỷ hoàng nhát nào cho đã. Như

51

ta nè, cần gì ai nuôi. Chẳng cần ai dưỡng, không

bạc vàng gái đẹp, nhưng thằng nào, con nào mà lấn

chiếm quê tao coi, tao đổi mạng. Phí công mà đi ca

ngợi Kinh Kha. Ca ngợi ngay ta nè. Mẹ kiếp thế nào

cũng có lúc tao cho lũ bán nước, cướp nước biết

nhát dao của tao.

Đúng lúc đó thì tên chỉ huy tới. Hắn chửi bới om

xòm. Hắn đá đổ cái nồi cháo vịt, đá đổ luôn chai

rượu và hất luôn cái mâm có mấy cục thịt vịt luộc.

Ông Tám bánh tráng bước ra cản, nó xô ông xem té

rụi. Ông điểm mặt nó:

-Trời đánh còn tránh bữa ăn, nghe xếp.

-Ở đây tôi là trời …Đ.má, lính tráng vầy đánh ai ?

-Lính tráng thời cũng là người chớ thần thánh gì.

Cũng phải ăn phải nhậu …

52

-Ông nói thêm một câu nữa tôi đốt cái nhà này cho

coi …

-Mày dám …

Hắn chẹc mồi lửa .

Ông Tám chạy thốc vô nhà .

Mồi lửa bốc lên .

Ông Tám từ trong nhà bang ra. Trên tay ông là cái

nồi đáy để nấu nước tráng bánh .

Hắn giơ mồi lửa lên,cũng là lúc ông Tám vung tay.

Nửa nồi nước sôi tạt thẳng vào mặt hắn. Hắn la oai

oải. Tụi lính xốc hắn, đưa hắn về.

Điều trị vết phỏng khá lâu sau mới lành. Hắn trở

lại ấp Lộc An và lại tìm đến nhà ông Tám bánh

tráng. Trước cửa nhà ông những ràng bánh tráng vẫn

phơi trắng lốp. Thấy hắn bước vào, ông Tám chẳng hề

53

rung rinh, còn hỏi :

- Sao xếp? Khỏe rồi hả …

- Cảm ơn. Khoẻ. May mà ông không lột được hết da

mặt tôi .

-Vậy chớ hôm nay ông tính đến đây làm gì ? Đốt

nhà, hay giết người. Không sao, cứ việc. Kinh Kha

một đi không trở về mà.

- Còn rượu không ông Tám…

- Rượu ? Còn. Hay. Cũng hay. Tính vờn như vờn

chuột phải không. Không sao, cứ chơi …

-Thôi mà ông Tám. Tôi ngán cái nồi nước sôi của

ông lắm rồi. Cho tôi ly rượu, xin được kết bái

huynh đệ với ông.

Ông Tám há hốc miệng vì ngạc nhiên. Hắn giải thích

:

54

-Đời này tôi chỉ sợ một và kính một. Sợ là sợ đàn

bà .Còn kính là kính những anh hùng, thấy chết

không sợ. Đàn bà để sợ tôi đã có một. Đó là vợ tôi.

Còn kính, thì ông là người đầu tiên tôi gặp … Khi

tôi trở về đây, tôi ngỡ ông đã cao chạy xa bay rồi

chớ. Ai dè ông vẫn ở y nguyên …

Ông Tám bánh tráng cười ngất:

Mắc gì tôi phải đi đâu. Đất ông cha tôi ở. Bất

quá chết là cùng chớ gì . Chết được chôn ở đất ông

cha cũng sướng chớ.

- Tôi kính ông là ở chỗ đó đó. Mang rượu ra cha

nội, nếu không tôi kêu lính đi mua .

- Khỏi. Ba cái thứ rượu nấu bá láp, uống nhức đầu

thấy mẹ. Có rượu nếp đàng hoàng …ngồi đó. Có ngay …

Nói tưởng nói chơi vậy, ai dè làm thiệt. Bọn lính

55

được bữa nhậu say sưa để chứng kiến hai người một

già, một trẻ bái trời đất kết nghĩa anh em.

Nghe đâu cả trung đội do hắn chỉ huy sau này đào

ngũ sạch .

Ấp Lộc An còn nổi tiếng vì câu chuyện như vậy .

Thầy Bảo không áy náy không được. Thầy vốn đã mũ

ni che tai. Thầy không muốn làm người của phía bên

nào cả. Với thầy, cố gắng dậy bảo lũ con trẻ, học

hành cho nên người là tốt rồi. Chớ còn tham gia vào

những cuộc tranh đấu không biết ai được, ai thua,

theo bên này thì chết với bên kia. Nên thầy rất

ngại khi vào ấp Lộc An. Thầy cũng biết rằng, người

trong Lộc An mà mời thì nhất định phải có mục đích.

Không vào là không được. Nhưng vào được rồi nay

mai ra, liệu có bị cảnh sát ghi tên trong sổ theo

56

dõi không. Trăm sự ông chỉ mong có hai chữ bằng

an. Hồi kháng chiến chín năm chống Pháp, cũng có

lúc ông đã cầm súng và vào rừng làm anh bộ đội .

Nhưng sau này, thầy tự thú với mình rằng hồi đó có

tham gia cũng chỉ vì cái bệnh sĩ của tuổi trẻ. Thấy

người ta hát "cầm gươm xông pha xa trường " thấy

oai, nên cũng đi theo .

Cậu học trò Bảo lúc bấy giờ cũng thơ mộng lắm.

Học đến đệ nhị là người nhà đã đưa về Sài Gòn học.

Thấy học sinh, sinh viên người ta viết báo, cậu

cũng viết báo. Ai dè cậu viết hay, người ta in

nhiều, rồi mời cậu vào ban biên tập. Những ngày học

ở Sài Gòn là những ngày đi viết báo, đi làm thơ.

Sang đến đệ nhất thì Cách Mạng Tháng Tám, rồi kháng

chiến. Cậu thanh niên Bảo lúc bấy giờ cũng hăng

57

hái vác gậy làm khởi nghĩa. Cũng chạy lăng xăng

trên đường phố Sài Gòn, dán truyền đơn, kẻ khẩu

hiệu, đi biểu tình ủng hộ cách mạng. Cách mạng mà,

rần rần khí thế. Người người lớp lớp nghe nói đến

Cách mạng cũng thấy rần rần trong máu. Thì cũng

nghĩ là Cách Mạng thành công, đất người Việt Nam là

của người Việt Nam. Nhưng chỉ được ít ngày, lại

thấy quân Pháp khoác súng đi nghênh ngang. Nghe nói

Pháp cũng là quân đồng minh, nên khi quân Anh –Ấn

vào giải giáp quân Nhật xong đã úp úp mở mở, bố cáo

với dân rằng quân đồng minh đã hết công việc ở

Việt Nam, công việc còn lại ở đây dành cho cho

người Pháp. Cũng lạ thực, mình cũng đã có chính

quyền. Sao không giao công việc lại cho chính quyền

của ta, mà lại giao cho Pháp. Ấy là nghe người ta

58

nói vậy thực hư chẳng biết ra sao. Mới làm cách

mạng chừng hai tháng chớ mấy, mấy chục tiểu đoàn

lính lê dương đã kéo lên Tây Ninh. Việt Minh chẳng

có gì trong tay, ngoài mấy khẩu súng, mã tấu và ít

trái lựu đạn. Cầm cự được có một vài ngày, phải rút

sâu vào rừng. Lại thấy súng nổ lẻ tẻ ở Trảng Bàng

vì có người lại đánh Pháp. Thanh niên như thầy Bảo

lúc đó vào vệ quốc đoàn. Dưới Sài Gòn, bạn bè lôi

kéo, Bảo cũng xung ngay vào vệ quốc đoàn. Nhưng

người nhà không để cậu tiếp tục ở Sài Gòn nữa. Ba

má cậu kêu cậu về quê. Về đây ban đầu còn hăng hái,

cậu còn tiếp tục hoạt động. Người ta xếp cậu vào

nhóm tình báo. Mỗi lần nhớ đến chuyện này là mỗi

lần cậu mắc cỡ và tự nhìn nhận mình là một kẻ yếu

đuối. Có một tên gián điệp được bọn phòng nhì Pháp

59

tung vào hoạt động ở thị trấn Trảng Bàng. Những

ngày đầu kháng chiến, y đã chỉ điểm bắt một số

người kháng chiến cũ còn nằm lại hoạt động. Chỉ huy

cách mạng ở khu vực thị trấn Trảng bàng lúc đó là

ông năm Thới. Ông kêu cậu lên và ra lệnh cho cậu

cùng đi phục kích, bắt cho được tên gián điệp đó.

Mấy ngày nằm phục cuối cùng thì hắn cũng lọt tròng.

Ông năm Thới dơ khẩu súng lên chĩa vào người nó,

bắt nó giơ tay lên và kêu cậu lại trói hắn. Chiếc

chạc trói trâu dẻo quẹu trong tay cậu cứ trựơt

hoài. Nhưng rồi cuối cùng thì cậu cũng gô được hai

tay hắn sau lưng và xiết sợi dây lại. Hắn được dong

về căn cứ. Ông năm Thới mới làm xong cái báo cáo,

thì quay ra hắn đã biến mất. Chỗ hắn ngồi còn

nguyên sợi dây chạc trâu. Ông năm Thới văng tục

60

chửi thề một hồi khá lâu. Còn Bảo, cậu cúi gằm đầu,

thút thít khóc. Ông năm Thới văng tục: “ Đ. má

khóc con mẹ gì. Kiếm nó bắn bỏ…”. May mà đêm đó,

ông năm Thới đã hạ được hắn. Riêng Bảo, cậu cảm

nhận sâu sắc rằng mình thật vô dụng. Bộ phận hoạt

động nội thành và yêu cầu cậu quay lại Sài Gòn.

Nhưng cậu nhát, cậu nghĩ mới mấy bữa trước mình còn

cầm gậy biểu tình dưới đó, bây giờ quay lại, liệu

có bị mật thám theo dõi không, rồi lỡ nó bắt thì

làm thế nào. Cậu xin tổ chức cho cậu ở lại Tây

Ninh. Cậu lại được phân công sang nhóm trinh sát.

Nhưng mới qua mấy ngày luyện tập, người ta phát

hiện cậu không có năng khiếu về công việc này. Thôi

đành giao cậu cho bột phận tuyên truyền. Ở đấy cần

nhưng câu ca, hò vè, viết truyền đơn, may ra cậu

61

thạo hơn.

Ngày ấy cậu yêu vụng nhớ thầm một cô gái ở quê. Vì

thế mà cậu không thể ở yên trên đơn vị. Cứ vài

ngày cậu lại kiếm cớ xin về. Nhà cô cách nhà cậu có

một hàng rào cây bông bụp . Hằng ngày thấy bóng cô

lướt qua, lướt lại trong vườn nhà bên, cậu bâng

khuâng, nhớ nhung lạ lắm. Mà đâu có có thể gần gũi

người ta. Bên ấy là một nhà khá giả hơn nhiều so

với nhà cậu bên này. Trong nhà có con sen, người

hầu. Cậu ấm bên ấy nghe đâu sang tận bên Tây học.

Cô con gái chẳng phải đụng chân, đụng tay đến việc

gì. Con gái người ta cấm cung. Lâu lâu, ra phơi

nắng hóng gió ngoài vườn, không mấy khi tiếp xúc

với ai .Về đến nhà là chiều chiều cậu ra bờ rào,

ngóng sang bên kia . Cậu chưa rõ mặt cô, nhưng cậu

62

tưởng tượng, cậu suy đoán và cậu tạo ra trong tâm

tưởng mình một khuôn mặt thực đẹp về người con gái

bên kia hàng rào. Cậu còn tưởng tượng ra mùi hương

của thân thể cô gái một khi cô lướt đi trong vườn

bên kia. Thành ra có nhớ, mà nhớ theo kiểu tương

tư. Một hôm, cũng vì tương tư mà cậu làm thơ. Thì

cũng bươm bướm, mơ mơ, mây mây, hoa hoa, và thương

thương, nhớ nhớ vậy. Những bài thơ ém trong túi và

chờ người trong mộng đọc. Một hôm, dịp may đến. Cô

gái nhà bên đang ngẩn ngơ bên hàng rào, thì cậu

trai si tình cũng vừa ra sân .Cậu bèn ngồi xếp

những bài thơ đã viết thành những con bướm ném cho

lượn bay sang vườn nhà bên. Cô gái lượm lên. Cô

đọc. Đọc gì mà lâu thế ? Lát sau, cô nhìn sang bên

này kiếm tìm. Cậu kín đáo dơ tay vẫy cô. Cô nhìn

63

sang, thấy cậu liền mỉm cười. Cô cũng cười với cậu.

Chỉ có thế thôi cũng đã làm cậu sướng điên lên

rồi. Sáng hôm sau, cậu lại ra cạnh hàng rào, những

mong gặp lại cô gái nhà bên. Khỏi phải kể đến

chuyện lòng dạ cậu bồn chồn như thế nào. Cậu hình

dung ra cảnh cô gái suốt đêm sẽ ôm những bài thơ

trên ngực, thao thức chờ ngày mai gặp lại người đã

tặng thơ cho cô. Biết đâu cô cũng làm thơ, những

bài thơ thay lời tâm sự, và cũng thành cánh bướm

bay sang tìm cậu.

Nhưng cô gái không ra mà là ông già của cổ bước

ra. Ông đi sát lại phía hàng rào. Ông bước những

bước nhẹ nhàng, hơn nữa cậu đang ngóng người trong

mộng, thành ra không tránh được đành đứng trước mặt

ông. Ông nói bâng quơ, nhưng cậu phải hiểu là ông

64

đang nói với cậu, lời nói như khía vào lòng cậu :

- Con gái tôi nó còn nhỏ. Nó còn phải học hành. Nó

được dậy bảo tử tế, không giống như loài mèo mả,

gà đồng, ai ghẹo cũng được. Mà cậu nghĩ xem, cậu là

ai . Không lẽ tôi lại để con gái tôi sống ở đất

này suốt đời sao…

Có nghĩa là ông già đã biết có kẻ rình rập hái

bông hoa quý nhà ông. Đã thế ông còn vo viên những

bài thơ cậu ném sang bữa qua, thành một cục giấy,

ném trả sang vườn nhà cậu. Cậu buồn bã lượm lên và

nhất quyết ra đi không ở lại nhà nữa. Cậu mang

những bài thơ vào nhà, toan đốt. Nhưng tiếc, lại

thôi . Buồn , cậu về lại dơn vị. Mấy người biết

chuyện cậu làm thơ, chuyển cậu sang bên bộ phận

tuyên truyền cho phù hợp và gởi cậu lên đoàn 311.

65

Nhưng cậu không theo nổi chín năm kháng chiến. Với

cậu, một chàng thư sinh, thấy mệt mỏi vô cùng. Hơn

một năm sau, cậu xin đơn vị cho về quê làm dân.

Ban đầu còn có người thuyết phục cậu, nhưng thấy

cậu có vẻ bết bát, làm rẫy không được, mà chống càn

thì toàn cáo bệnh nằm lại hậu cứ. Đơn vị cũng

không giữ nữa. Cậu về. Người nhà hỏi cưới một cô

gái trên phố cho cậu. Cậu không cự tuyệt, thì cũng

có vợ cho giống với người ta , chớ còn yêu đương

thì cậu đã dành cho cô hàng xóm, đến lúc đó vẫn

chưa nguôi ngoai. Cô hàng xóm không còn ở nhà nữa.

Nghe người ta kháo nhau rằng , ông chủ bên ấy đã

khánh thành một biệt thự dưới Sài Gòn, dọn cả nhà

về dưới ở. Nhà trên này chỉ còn để những cái bàn

thờ của dòng họ và một người làm nhang khói mỗi

66

ngày.

Sau khi cưới vợ, người nhà lại cho cậu xuống một

trường tư ở Sài Gòn cho học tiếp. Cậu học luôn nghề

sư phạm, ra làm thầy. Cũng gần hai mươi năm làm

thầy rồi. Không ai nhắc gì đến chuyện xưa của thầy

nữa. Hình như mọi người đã quên anh vệ quốc đoàn

hồi kháng chiến chín năm rồi. Phía địch thấy thầy

là người hiền lành tử tế, không nghi ngờ gì. Còn

phía ta, thấy thầy không khai báo, vô hại nên cũng

chẳng nhắc gì đến. Hôm nay, bỗng có người mời thầy

đi Lộc An.

Nhưng không đi thì không được. Khi không có đâu

người ta mời mình . Ít ra cũng là nghĩa thầy trò.

Nên ông nhất định phải đi. Mà mắt Khính mập hình

như không muốn ông từ chối lời mời. Sáng hôm sau

67

thầy quyết định đi ấp Lộc An . Ấp Lộc An không

giống như những ấp khác ở thị trấn Trảng Bàng này.

Nó nằm tút lút phía sau những căn nhà ngoài phố.

Sau những căn phố là những cách đồng. Những cánh

đồng ở Trảng Bàng này cũng khác nơi khác. Chiến

tranh là như vậy mà người nông dân cũng không bỏ

ruộng. Những ngày có mưa, người ta xạ lúa. Những

cánh đồng lúa xanh mát mắt. Nếu không có những

tiếng súng nổ râm ran, thì những cánh đồng xanh lúa

và những con cò trắng phau thong thả lội trong

ruộng, lội trên bờ thế kia, sẽ thanh bình biết mấy.

Hết vụ lúa người ta trỉa đậu. Những cánh đồng đậu

cũng xanh như một bức thảm khổng lồ mịn màng.

Những rặng dừa ôm lấy những mái nhà, càng có vẻ

thanh bình hơn. Đang mùa lúa trổ bông, hương lúa

68

thơm dịu dàng nương theo ngọn gió phả vào mặt thầy,

dìu dịu. Nhưng cái cảm giác dễ chịu ấy chỉ thoáng

qua chốc lát. Những băn khoăn khiến thầy không còn

cảm giác gì với cảnh đồng quê êm đềm trước mặt .

Chiếc xe Honda 67 mới cảo của thầy Bảo vừa quẹo

vào con đường trong ấp là đã thấy ngay những cánh

đồng và những căn nhà nằm thấp thoáng sau những

rặng dừa. Thấp thoáng những tà áo trắng và những tà

áo màu. Đi sâu thêm một quãng nữa, ông bắt đầu

gặp những người đàn ông trong bộ bà ba đen và chiếc

khăn rằn vắt vai. Cách đây chừng ít năm, ai có dịp

vào ấp sao cũng bị xét hỏi khi gặp những người mặc

bà ba đen thế này. Đó là đoàn cán bộ bình định bên

quốc gia làm công vụ ở nông thôn. Họ học cách cùng

ăn, cùng ở, cùng làm của Việt Minh xưa để tìm cách

69

tìm hiểu từng hộ gia đình, từng hộ dân, theo dõi

từng hoạt động của thôn xóm để tìm cách phá cơ sở

kháng chiến. Nhưng rồi, họ bất lực, vì bị cô lập

ngay chính nơi họ đến. Hôm nay, không có cán bộ

bình định nữa, mà họ là người của Lộc An, những du

kích. Chính họ là những người làm cho lính tráng ở

Trảng Bàng mất ăn mất ngủ. Ban ngày họ làm ăn sinh

sống bình thường vậy, nhưng tối đến với những hoạt

động xuất quỷ nhập thần họ trở thành mối đe doạ cho

kẻ thù. Ông không gặp ai là người quen. Những

người mà ông gặp trên đường nhìn ông vẻ dò hỏi.

Những ánh mắt nghi ngờ khiến ông lo ngại. Ông bỗng

thấy ân hận khi quyết định vào ấp dự đám giỗ Khính

mập mời . Chiếc sơ mi trắng, chiếc cà vạt tím khiến

ông lạc lõng hẳn trong cảnh sắc đồng quê này.

70

Ông dậy học ở Trảng Bàng đã nhiều năm, nhưng hình

như ông chỉ biết con đường từ trường về nhà. Nhà

ông ở ngay dẫy phố đầu tiên tính từ đường từ Sài

Gòn lên thị xã Tây Ninh. Căn phố mà ông ở nó lọt

thỏm giữa những nhà chuyên bán những đồ tạp phẩm.

Vợ ông tuy ở phố, nhưng vụng đường làm ăn. Trước

đây đã có lúc bà cũng mở một quầy tạp phẩm như

người ta, nhưng rồi bán không lại, lại thôi. Bà

đành chịu cảnh sống dựa vào chồng, sống nhờ đồng

lương của chồng. Ông không đông con như người ta,

có thằng Hai cho đi học dưới Sài gòn rồi kiếm việc

làm dưới đó. Có một nhà buôn thuê cậu làm chân sổ

sách giấy tờ. Nghe đâu cũng được chủ yêu. Cô con

gái thứ ba cũng mười tám rồi, lên chợ mở một quầy

bán rau quả. Biểu cô lấy chồng, cô nguây nguẩy

71

không chịu. Cậu con út có lúc học trường ông dạy,

trường Đức Thanh. Nhưng thấy học trường quận, dù

là trường do ông làm hiệu trưởng, kiến thức không

có là bao, nên ông lại gởi nó lên Sài Gòn ở với anh

và học trên đó luôn. Như vậy ở Trảng Bàng, nhà ông

chỉ còn lại có bốn người.Vợ chồng ông, cô con gái

và bà mẹ đã ngoài bẩy mươi. Ông dành gần hết thời

gian trong ngày cho công việc ở trường. Ngoài giờ ở

nhà trường, ông thích về nhà ngồi nơi cửa ngắm

người ta qua lại, Nói như thế không có nghĩa là ông

không hề biết đến phố xá đường đất của Trảng

Bàng. Ông biết hết, nhưng ít đi lại. Thời buổi

chiến tranh nhiễu nhương biết càng ít càng tốt.

Hoặc biết mà làm như không biết, tốt hơn.

Khính mập đón ông ngay ở đầu ấp. Nó đỡ tay xe cho

72

ông và kêu ông ngồi lên để nó chở đi.Thằng nhỏ mà

chạy xe thiệt hay. Đường bờ ruộng vậy mà nó cứ chạy

phăm phăm. Ông ngồi sau, hai tay ghị lấy lưng

thằng nhỏ sợ té rớt xuống ruộng.

Xe dừng lại trước một căn nhà nửa nổi, nửa chìm.

Cũng khá đông người. Họ đã vào bàn. Chỉ có hai bàn.

Trên bàn cũng thấy mấy đĩa mồi không thấy thịt cá

mà toàn cóc ổi, bên chai rượu trong vắt. Chắc toàn

người trong họ. Thấy thầy Bảo tới, họ đứng dậy,

chào hỏi, vẻ thân thiết. Một người đàn ông thấp,

đậm, to ngang thoạt nhìn biết ngay là cha của Khính

mập bước tới xiết lấy tay ông, thật chặt:

-Chào thầy, thầy thông cảm không ra tận nơi để mời

thầy được. Thầy không trách tôi chớ.

-Đâu có.

73

-Thầy thứ mấy ?

-Thứ Hai, còn anh ?

-Thứ Tư …

Bàn tay to, nhám, cứng gần như lôi ông và ấn ông

ngồi xuống bàn. Đúng là ông lạc lõng thiệt giữa

những người hoàn toàn nông dân. Ngồi bên cạnh họ,

ông thấy mình quá trắng, quá mềm yếu. Bàn tay ông

quá mảnh mai và ông thèm cởi phăng bộ đồ đang mặc

trên người cho hòa đồng với người ta. Ông Tư chỉ

hết thẩy mọi người, nói với thầy Bảo :

-Toàn là anh em, thầy đừng ngại

Một người ngồi kế bên thầy, nói oang oang :

-Thầy đừng ngại gì nghe. Thầy ở ngoải khác tụi tui

trong này. Ngồi chơi đây, chốc lát nữa bom pháo

không chừng. Khi có chuyện, thầy cứ chạy theo tụi

74

tui nghe. Tụi này sống là thầy sống hè.

Ở ngoài kia không khí chiến tranh thấy bằng lính

chạy dọc, chạy ngang. Xe nhà binh rú rít ầm ào. Còn

trong này, thấy chiến tranh bằng những cái hầm,

cái hào, tưởng như lúc nào bom pháo cũng sẵn sàng

trút xuống đây. Nhưng xem ra có vẻ bớt ngột ngạt

hơn. Những người trước mặt ông đang nói cười vui vẻ

như không biết gì đến chiến tranh đang cận kề. Ba

của Khính mập quay hẳn sang phía thầy Bảo:

-Từ sau Mậu Thân đến giờ, căng quá, thầy. Anh em

tôi chật vật lắm mới trụ lại đây được …

Thầy Bảo phải ngầm hiểu anh em tôi ở đây là những

ai. Thì trước mặt ông đó. Những anh du kích áo

đen, khăn rằn và súng cạcbin. Thấy thấy Bảo nhìn

với anh mắt lo ngại, ông Tư vội chạy ra, nói nhỏ

75

với mấy cậu du kích. Họ lặng lẽ rút đi. Thầy Bảo

bớt đi chút ít nỗi lo. Nhưng rồi khung cảnh lạ hoắc

nơi thôn dã và những đường hầm ngoằn nghoèo cứ ám

ảnh tâm trí thầy hoài. Cho đến lúc người ta ấn ly

rượu vào tay thầy, mời thầy đưa cay. Thầy tợp nửa

ly. Rượu nặng cháy trong cổ và khi nuốt vào trôi

đến đâu biết đến đấy. Hơi cay của ly rượu làm thầy

vơi đi những hoang mang. Nhưng thầy không dám uống

mạnh bạo như những người cùng mâm. Hình như không

thấy ai bốc mấy miếng cóc, mấy miếng ổi đã chẻ ra

trên bàn. Cái ly cứ chuyền từ tay người này sang

người khác. Họ uống rượu như uống nước lạnh vậy .

Bỗng có một bày tay khều nhẹ. Thầy Bảo ngoảnh lại,

thấy Khính mập đứng cạnh bên. Nó ghé vào tai thầy

:-Có người muốn gặp thầy. Thầy đi với em .

76

Thoáng giật mình. Thầy biết mình đã đoán trúng.

Người ta mời ông vô đây không phải đám dỗ như Khính

nói. Ông đứng dậy đi theo thằng nhỏ. Cái thây nó

mập vậy mà khi lách trong những ngách hào, cứ gọn

ơ. Trong khi đó ông phải gằn bước chân mới theo

kịp. Cũng phải mất mười phút , ông mới thấy Khính

mập dừng lại. Nó chỉ một cái hầm chìm hẳn dưới mặt

đất và bảo :

-Thầy cứ vô trỏng. Người quen của thầy .

Ông bước vào cái lán và có cái cảm giác của một

người đang bước vào một cuộc phiên lưu. Ông không

nghĩ mình lại có người quen trong một khung cảnh

như thế này.Ai vậy cà ?

- Anh Hai.

- Có ai đó như vồ lấy bàn tay ông. Bàn tay xiết

77

lấy tay ông như quen thân lắm tự bao giờ. Trong ánh

sáng nhập nhoạng, ông không nhận ra người trước

mặt .

-Không nhận ra tôi sao anh Hai. Út Sinh nè. Út

Sinh ba mười một nè…

Ba mười một. Cái thời dĩ vãng kia đã lùi sâu trong

ký ức của ông từ bao giờ rồi. Từ hồi "chín năm".

311 là một trung đoàn. Ngay ấy người ta chỉ biết

đến trung đoàn với những vũ khí tự tạo đầu tiên cho

kháng chiến. Những khẩu ngựa trời. Những quả lựu

đạn tự chế. Những trái mìn đánh tăng. Nhưng cũng

không ít người biết đến trung đoàn 311 là đơn vị

được coi là chính quy đầu tiên ở xứ Tây Ninh này.

Có cả những đơn vị sẵn sáng chiến đấu chống lại

những cuộc càn quét của địch. Đồng thời trung đoàn

78

cũng là nơi huấn kuyện những đội quân đầu tiên cho

cuộc kháng chiến chống Pháo trường kỳ suốt bào

nhiêu năm trời. Thầy Bảo đã một thời sống ở đó với

cương vị một cán bộ tuyên truyền.

Ông nhận ra cái dáng cao cao, mảnh khảnh của người

trước mặt. Cái thời ba mười một với ông đã lui vào

dĩ vãng, nhưng có người ông chẳng thể quên. Út

Sinh là một trong số đó . Ngày ấy Út Sinh là tiểu

đội trưởng, là tay phát rẫy nổi tiếng. Những người

đi tăng gia sản xuất trên cứ gọi Sinh là kiện tướng

phát rẫy. Nghe nói người ta phát cây một dao chỉ

phát được một khoảng cỏ, còn Út Sinh, một dao là

trước mặt quang lâng. Ngày ấy, lâu lâu ông Bảo

xuống các đơn vị đọc thơ cho anh em nghe. Có lần

đọc xong bài thơ ông nghe có người chửi thề: "Đ.má

79

thơ như thế thì đánh giặc sao nổi, đầu hàng mẹ nó

đi cho rồi ". Người chửi thơ ông chính là Út Sinh.

Mười mấy năm làm thầy, đủ thời gian làm ông quên

cây giáo và cái nóp của thời trai trẻ và yên phận

với công việc làm thầy. Ông cũng đã quên cả những

người ngày xưa sống chung ở ba mười một. Nói thì

nói thế thôi, người ta đâu có một chốc quên đi hết

thẩy, có ai xóa trắng được trí nhớ. Thì đó, hôm nay

lại có người nhắc đến thời ba mười một xưa, mà

người đó lại là người đã từng chửi vào mặt ông .

-Sao, nhận ra chưa, anh Hai .

-Nhận ra.

-Nhận ra sao buồn so vậy nè .

-Chớ vui làm sao được.Vậy ông tính sao với tôi

đây. Bắn, hay treo cổ …

80

-Cha nội, nói cái gì nghe phát khiếp …

-Không phải sao. Ông không xếp tôi vào loại chạy

trốn hàng giặc sao?

-Giỡn. Ông hàng giặc, mắc mớ gì phải mời ông vô

đây. Một viên đạn, đủ rồi. Thôi, không bàn chuyện

đó. Thời gian không nhiều. Trước hết tôi báo ông

một tin không vui. Thằng Ban, em ông vào trỏng làm

bộ đội đặc công. Bữa đánh bên Hiếu Liêm, nó bị

thương. Hai mắt nó hết thấy đường… Nhưng nghe nói

còn có thể gỡ được, mấy anh trong bệnh viện đang

ráng ….

Thầy Bảo điếng người. Thằng Ban đi một mách, không

nhắn về một câu. Nhà chỉ có hai anh em. Nó thua

ông đến hơn chục tuổi. Khi ba chết , nó mới có năm,

sáu tuổi gì đó và ông thì mới cưới vợ . Chỉ khổ

81

cho má. Từ khi biết nó vô rừng, mất ăn, mất ngủ.

Thở vắn than dài. Cũng thương cho má. Chồng chết.

Má ông ở vậy, thờ chồng, nuôi cho thằng Ban lớn lên

thành người và lo cho ông Bảo học hành xong, ra

trường về làm thầy. Lúc ông theo anh em vào ba mười

một, bà lo đứng lo ngồi. Ngày ông từ ba mười một

trở về, bà khóc ròng thương con. Ngày thằng Ban

lén bỏ đi , bà mất ăn, mất ngủ cả tháng trời.Cho

đến khi có người báo tin, có thấy thằng Ban về đánh

bót Ba Dệ miệt bên Suối Bà Tươi, bà mới yên lòng

chút ít . Nói yên lòng là nói vậy, đêm đêm vẫn thấy

bà thắp ngọn đèn chong trên bàn thờ chồng, lẩm

nhẩm khấn nguyện hoài. Nay mà biết tin nó hư hết

hai con mắt chắc bà khóc đến mù theo mất thôi.

-Bây giờ nó ở đâu?-Ông hỏi Út Sinh .

82

-Trong Bời Lời, bên khu dân y. Ông có tính vô thăm

nó không?

-Lúc này thì chưa. Nhưng rồi sẽ có lúc …Nhưng tôi

nghĩ, không nên cho má tôi biết tin này. Biết, chắc

bả chết quá hà .

Út Sinh bỗng chuyển đề tài :

-Ông có biết trong Bời Lời mói mở một trường do

giải phóng mở không ?

Ông lắc đầu :

-Làm sao tôi biết…

-Tôi kêu ông vô là muốn giới thiệu ông vô trỏng.

Trong đó đang rất cần thầy giáo .

-Tôi đi sao được.- Ông Bảo nói hình như theo một

phản ứng tự nhiên khỏi cần suy nghĩ- Vợ con bìu

ríu. Má tôi cũng lớn tuổi quá rồi. Cả nhà bây giờ

83

trông cậy có một mình tôi. Tôi mà đi chắc nhà tan

cửa nát quá hà.

-Tôi biết là ông sẽ trả lời như vậy mà. Ông có

biết vì sao tôi cho gọi ông vào đây không? Tôi về

đây hoạt động đã hơn một chục năm rồi. Tôi cũng đã

cho người theo dõi ông. Tôi biết, ông không làm

việc gì tổn hại đến anh em, và cũng biết trong nhà

trừơng ông chỉ chăm lo đến việc bồi bổ kiến thức

cho học trò. Ông còn chủ trương dạy cho các em biết

rõ lịch sử của nước nhà. Ông đừng hỏi ai cho tôi

biết. Nhưng tôi còn ở muốn ông nhiều hơn thế.Vậy

chớ ông không nghĩ vì sao những người như tôi hết

cuộc chiến này đến cuộc chiến khác cứ theo đuổi

hoài một việc là giải phóng đất nước? Theo ông chắc

tụi này điên, tụi này say máu, thích chiến tranh

84

lắm hả? Hay ông cho rằng tụi này không có đất đai

sinh sống, nên bầy trò đánh nhau chơi vậy ? Ông

biết rõ quá mà. Nào ai muốn chiến tranh làm gì đâu,

nhưng khi không, Mỹ nó mang súng, đạn sang đây,

bắn vào người mình và biểu để bảo vệ hoà bình cho

thế giới, cho nước Mỹ. Lý sự gì nghe mà mắc cười

vậy. Ông có thấy người Việt Nam nào sang nước Mỹ

bắn người Mỹ chưa. Làm gì có. Đánh Mỹ trên đất Việt

Nam cũng bộn rồi, làm gì phải qua Mỹ đánh… Nói

giỡn chơi với ông vậy thôi. Nhưng chuyện này thì có

thực nè: Cứ còn Mỹ và tay sai của Mỹ là còn những

người như chúng tôi. Mà ngày xưa ông cũng đã từng

đứng chung hàng ngũ với tụi này mà. Tất nhiên cũng

có người như chúng tôi, và cũng có người như ông.

Người tiếp tục hăng say vào cuộc, người thì mệt mỏi

85

tắt ngang, nghỉ ngơi, cũng là cái lẽ thường tình

vậy…

-Tôi biết, tôi biết chớ -Thầy Bảo bỗng nổi hứng

-Nhưng nếu ai cũng cứ lao vào cuộc chiến như ông

thì lớp trẻ sau này sẽ ra sao? Tôi nghĩ nhất định

phải có những người đứng ngoài cuộc, để lo những

việc khác chớ .

-Nhưng ông nhắm đứng ngoài cuộc được không? Như

thằng Ban em ông đó. Nó bị thương cùng mình, nó đui

hết hai con mắt, không lẽ ông dửng dưng đứng ngoài

cuộc?

-Vậy chớ làm gì bây giờ -ông Bảo vẫn đeo đuổi ý

nghĩ của mình -Nó làm, nó chịu. Đó là việc của nó .

-Tôi không ngờ ông lại vô tình đến như vậy. Và

không lẽ tôi phải giải thích thằng Ban nó bị thương

86

vì ai. Những người đồng chí chúng tôi chết vì ai.

Ông thờ ơ trong cuộc chiến với tiếng súng gõ cửa

mỗi nhà thế này, tôi không hiểu nổi .

Thầy Bảo vô cùng ngạc nhiên. Theo thầy được biết

thì khi gia nhập bộ đội ông Tư Đẩu, anh chàng Sinh

này mới học bình dân học vụ.Có nghĩa là mới xóa

được mù chữ. Thì cứ cho là thời gian lâu lắc mới

gặp nhau, nhưng anh ta cứ theo hoài cuộc chiến thì

thời gian đâu mà học hành. Vậy mà anh ta lý sự thầy

khó cãi lại .

-Anh Út này.Tôi xin được nói thiệt với anh, tôi

không có được lá gan như các anh. Có thể bom đạn

không sợ, nhưng tôi sợ cái khổ triền miên. Qủa thực

tôi không làm sao theo nổi ?

-Vậy ông có theo nổi sự sợ hãi triền miên không?

87

Có thực là ông không hề bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến

tranh này? -Sinh bỗng văng tục-Mẹ kiếp.

Thầy Bảo mở to mắt nhìn Út Sinh .

Út Sinh không chờ câu trả lời của thầy Bảo, nói

tiếp:-Tôi không có ý tranh luận với ông đâu nghe.

Không phải thiếu những người như ông ở đất nước

này. Cũng không thiếu người tranh thủ cuộc chiến

này mà làm giàu. Có người sống hai mang, gần bên

nào thì ủng hộ bên ấy.Đúng thế, loại người nào cũng

có hết. Nói tóm lại tôi mời ông vô đây là có việc

nhờ ông …

Một lần nữa thầy Bảo lại chột dạ.Thầy biết làm gì

được ngoài công việc lên lớp và quản lý nhà trường

mỗi ngày. Thầy không muốn đụng chạm đến ai và cũng

mong đừng có ai động đến mình . Nhận lời làm giúp

88

Út Sinh tức là mặc nhiên đứng về một phía.Có mạo

hiểm lắm không … Đã biết thầy là người ngoài cuộc

sao còn tính nhờ thầy ?

*

* *

Thầy Bảo về đến trường lúc xế chiều. Không mấy

khi ông rời khỏi trường trong thời gian lâu như vậy

.

Bữa nhậu sau đó cũng chẳng phải đám giỗ đám quải

gì. Những anh em thân thiết lâu lâu rủ nhau lại

chơi cho vui vậy thôi. Nhưng nếu không mời đám dỗ,

làm sao thầy Bảo có thể vô đến trong đó. Ông Bảo bị

người ta níu kéo nên không thể về ngay được. Và

ông Bảo cũng biết, người ta cố tình mời ông để tiếp

xúc với ông ở một mục đích khác .

89

Thì ra người trong Lộc An còn biết nhiều về Ban

hơn ông. Thằng em trai nghịch như quỷ thần xem ra

phù hợp với công việc của anh lính đặc công, xuất

quỷ nhập thần. Ban đầu thì nó cũng theo bạn bè gia

nhập bộ đội địa phương Trảng Bàng. Thấy nó lanh

lợi, đơn vị cử nó lên tập huấn trên R. Nhưng lên

đến nơi, người ta lại phát hiện ở Ban một khả năng

khác, thông minh, nhanh chân, lẹ tay,hoạt bát trong

mọi công việc. Thế là họ bổ xung nó vào lực lượng

đặc công của Miền. Cánh bộ đội Trảng Bàng mất người

kêu quá thể. Trên mới bổ xung nó về địa phương làm

huấn luyện, nhưng nhất định không cắt quân số về

Trảng Bàng nữa. Thấy biểu nó là bộ đội đặc công chớ

ông biết đặc công là cái gì. Nghe chuyện mới biết

lâu lâu thằng Ban có về đây. Nó về làm huấn luyện

90

gì gì đó. Vậy mà nó gan , không thèm về ngó đến

nhà, không ngó gì đến anh em. Chắc là nó ỉ i có ông

chăm sóc mẹ rồi.Vả lại có về cũng nguy hiểm, đã

mấy lần cảnh sát quận đến nhà ông, hỏi thăm về nó.

Nghe nói sau khi bị thương, tỉnh lại, nó đòi được

chuyển viện về dưới Trảng Bàng, cho gần quê , và

nếu có thể, nó còn gặp được mẹ, gặp anh. Nhưng khi

thấy mình không còn nhìn thấy gì nữa, nó biểu đừng

cho ai biết tin về nó, nhất là với má. Nó sợ má

biết tin sẽ không chịu đựng được. Người ta có nhắc

đến con nhỏ người yêu của thằng Ban. Hai đứa quen

nhau cũng đã vài năm rồi. Cô là lính bên giao bưu,

chuyên chạy công văn từ căn cứ về các huyện. Con

nhỏ vậy mà lớn gan. Khi biết thằng Ban bị thương,

cô dám bỏ đơn vị chạy đi kiếm dưới viện dân y dưới

91

Bời Lời. Kiếm ở đó không gặp, cô chạy tuốt luốt lên

Tân Biên, sang Lò Gò, kiếm viện quân y.Vừa sớ rớ

vô đến trong ấy, bị bắt nhốt liền. Cô đập cửa nhà

giam la hét chỏi trời. Mấy ông chỉ huy mới gặp cô

hỏi han tử tế. Cô khóc sụt sùi. Cô kể cho anh chỉ

huy biết rằng đã yêu Ban như thế nào. Cô còn nói

thêm hai đứa chưa hề thề non hẹn biển gì, nhưng

trong lòng cô chỉ có Ban. Anh ấy bị thương, không

ai cho cô biết, nay còn bắt giam cô nữa thì có oan

không chớ. Nhưng đến lúc người ta hỏi thế anh ấy bị

thương ở đâu, ở mặt trận nào, ở trận đánh nào, con

nhỏ điếc ngắc không sao trả lời được. Thế là cô

lại dở bài khóc khóc mếu mếu đòi đi tìm người. Anh

chỉ huy đơn vị cảnh vệ trên cứ mới nhỏ to thế nào,

cô nín và trở lại trại giam chờ tin. May làm sao

92

những người làm giao liên đã sớm thông báo về anh

đặc công bị thương ở trận Hiếu Liêm. Người ta mới

đưa ngược cô lại Bời Lời và không ngờ cô lại gặp

anh ở ngay viện dân y trước đó cô đã tìm. Con nhỏ

bám riết ở bệnh viên không chịu về đơn vị nữa. Cô

biểu về làm gì, về thì cũng làm nhiệm vụ thôi, vậy

thì ở đây làm hộ lý, cho bệnh viện, nấu ăn, chăm

sóc cho Ban được rồi. Người ta hỏi: thế không sợ

đơn vị báo đào ngũ sao? Tui tự đến rồi tui tự đi,

tôi không phản bội, chỉ giặc đến đánh cứ là được

rồi. Đơn vị này báo đào ngũ, nay mai anh ấy khỏi

tui đi đơn vị khác. Không lẽ hết chỗ cho tui rồi

sao. Tôi đi đánh giặc, chớ tui có đi chơi đâu. Mà

đánh giặc thì ở đâu không được. Công nhận con nhỏ

gan. Nghe người ta nói , nó được chấp nhận làm ở

93

dân y để chuyên chăm sóc cho thằng Ban. Thôi thế là

thằng Ban cũng có phước mà gặp được nhỏ đó. Nhờ

chuyện nhiều về Ban mà thầy Bảo bớt lo lắng. Ông

cũng nhâm nhi vài ly rồi đứng dậy xin phép về. Ba

của thằng Khính mập níu giữ hoài không được đành

chịu, nhưng nhắc đi nhắc lại khi nào có dịp mời

thầy vô chơi nữa. Khính mập lại chở ông chạy tưng

tưng trên đường bờ ruộng, sau đó toét miệng cười

chia tay với thầy ở mí giáp ranh đường vào trung

tâm thị trấn. Ông chạy xe về trường giấc gần giữa

trưa.

Ông thường trực vừa gặp ông nói ngay :

-Có người đang chờ thầy trên văn phòng .

-Ai vậy ?

-Ông Cuộc , cảnh sát quận …

94

-Ổng đến lâu chưa ?

-Dạ lâu. Từ đầu giờ. Không biết có chuyện chi mà

không chịu về …

Thầy Bảo bước vào phòng làm việc của mình, nặng

trĩu lo âu. Sao ngày hôm nay nhiều chuyện đến như

vậy. Mới gặp Út Sinh đó , chuyện còn chưa nguội

trong miệng. Bây giờ lại tiếp chuyện cảnh sát.

Không lẽ y đã biết chuyện ông vào Lộc An .

Ông bỗng nhớ đến chuyện mà Sinh nói: Liệu ông tính

có thể đứng ngoài cuộc được không. Đây không biết

là lần thứ mấy cảnh sát Cuộc đến kiếm ông ở trường.

Chưa lần nào y có thái độ tử tế với ông. Lần nào

cũng có chuyện gì đó để hăm dọa. Mấy lần đầu , ông

cũng hoảng ,nhưng rồi sau này, gặp riết, ông cũng

quen dần, nhiều khi còn cố tình bỏ ngoài tai những

95

lời hắn nói. Thì ai làm gì đó thì làm, thầy không

tham gia thì thôi, mắc mớ gì thầy lo.

Làm thầy thời Tây, khác hẳn làm thầy thời Mỹ.

Ngày xưa, Tây có đi càn mà gặp trường học nó còn

kiêng ra. Trường của Tây, hay trường của ta gì cũng

vậy, nổ súng ở đâu thì nổ, chớ nhất định không nổ

súng ở sân trường. Ngẫm ra nước nào có thời văn

minh cổ, cũng trân trọng người làm thầy, trân trọng

nơi học hành. Còn cái đám thực dân mới này và cả

lũ tay sai của chúng chẳng từ một chỗ nào hết.

Trường Đức Thanh mà thầy làm hiệu trưởng cũng đã

qua hai thời, thời Tây và thời Mỹ.Thời Tây,Tây muốn

vào trường làm gì, kể cả lúc nghi ngờ có người

hoạt động cộng sản trong trường, cũng phải có giấy

tờ trước rồi vào sau. Vào cũng chỉ làm những việc

96

đã được nêu trước trên giấy, chớ không làm việc gì

khác. Còn bây giờ, học trò đang học nghiêm túc,

cảnh sát đập cổng rầm rầm đòi xét hỏi. Cổng mở ra

,kéo cả bầy vào trường, chạy rậm rịch, không coi ai

ra gì. Cũng chẳng cần thầy cô giáo có đồng ý hay

không, mang súng lùa ráo học sinh ra sân, còn trong

lớp tha hồ chúng lục cặp, lục tập của học trò. Lục

đã, quăng ném lung tung. Học trò vô lại lớp, mất

không biết bao nhiêu thời gian để thu xếp lại bàn

học của mình. Thời Tây, cái ngành giáo dục vậy mà

còn dễ thở. Chớ thời này, nó cũng giống như bất cứ

công sở, cơ quan, hay xóm ấp nào đó. Lính là có

quyền tối cao. Cảnh sát Cuộc đến trường thầy Bảo

không phải là lần đầu. Từ hôm hắn về nhậm chức cách

đây dăm bẩy năm, là hắn đã đến thăm thầy luôn luôn

97

rồi. Nhất là hồi đảo chính ông Diệm, hồi đó hắn

mới về. Nơi hắn đe nẹt đầu tiên là trường Đức Thanh

của thầy. Hắn biểu, gì chớ cái đám học sinh, sinh

viên, không coi thường được. Sau đám tăng ni phật

tử là lớp này. Lớp này có lúc còn mệt hơn tăng ni

phật tử. Nói cho ngay, dân Trảng Bàng không phải

dân thích đấu tranh chính trị, không thích biểu

tình, mà chỉ thích cầm súng, đánh thẳng tay không

nhân nhượng. Hồi còn tranh tối tranh sáng, lúc mà

còn đòi hiệp thương tổng tuyển cử, dân Trảng Bàng

có đấu tranh. Thì họ cũng muốn mềm mỏng để mong sớm

đón chồng con họ đã ra Bắc tập kết được trở về.

Chớ còn như bây giờ, chỉ khi nào phải làm reo,

không cho Mỹ ném bom bừa bãi vào xóm ấp, hoặc đi

đòi xác người nhà bị lính bắn chết trong những trận

98

càn, là những người dân Trảng Bàng kéo nhau đi rần

rần. Như đã kể ở trên rồi, người Trảng Bàng sống

thành ấp, thành xóm theo dòng họ, nhìn qua nhìn lại

sao cũng ra bà con mình. Thì cùng bà con đi đòi

xác người thân thì cũng là đòi xác bà con mình chớ

ai. Nên Cuộc có lo cũng bằng thừa. Nhưng Cuộc cũng

dư biết rằng, những thằng nhỏ, con nhỏ học trường

Đức Thanh này có đi học lên nữa hay không cũng tùy

thuộc vào gia đình. Ít người đủ sức cho con mình

học cao hơn. Có người còn nghĩ thời chiến tranh

loạn ly, học đến đâu hay đến đó. Nhất là đám con

trai, nom nớp lo bị bắt lính, nên lớn lớn một chút

có người cho con mình theo giải phóng cái đã. Đã có

lúc Cuộc nói thẳng với thầy Bảo: Tôi biết trường

này là trường đào tạo nhân tài cho Việt Cộng. Bữa

99

nào thầy cho cho tôi xin cái danh sách học trò của

thầy bây giờ đang theo Việt Cộng nghe .

Cảnh sát Cuộc bước những bước dài trong phòng làm

việc của thầy Bảo, vẻ sốt ruột hiện ra trên nét

mặt. Thầy Bảo hỏi ngay khi vừa gặp y :

-Có việc gì cần đến tôi vậy, thưa trung úy ?

-Việc chết người, thầy không biết sao …

-Trời đất …

-Cái đám học trò của thầy làm loạn cái thị trấn

này rồi, thầy có biết không ?

-Làm sao tôi biết …

Chẳng biết vì nóng nực, hay bực bội mà y mở tung

cả nút áo ngực ra, vơ đại trên bàn thầy Bảo một

cuốn sách, quạt phành phạch .

-Cho đến hôm nay, tôi chưa có gì làm bằng cớ,

100

nhưng tôi xin báo để thầy biết nếu có bằng cớ, rất

có thể cái chỗ này của thầy cũng không yên đâu .

Lâu nay, thầy Bảo lấy nụ cười để khiến việc, nhưng

hôm nay nghe cảnh sát Cuộc nói, ông không nén được

giận :

-Xin ông cảnh sát nhớ cho, đây là văn phòng của

tôi …Tôi nghĩ ông cũng đã từng ăn học chớ …

Hình như bị quê, Cuộc cúi đầu vẻ nhận lỗi.Y mềm

giọng :

-Mong thầy thông cảm. Chuyện căng quá, nên tôi đổ

quạu. Nhưng thầy cũng nên biết một vài chuyện mà

hiện nay chúng tôi đã biết .

Y ngồi xuống nhẫn nại kể hết mọi chuyện cho thầy

Bảo nghe,thì cũng vẫn toàn chuyện rải truyền đơn,

viết khẩu hiệu, chỉ có khác là y đóng sống, đóng

101

chết cho lũ học trò của thầy làm. Càng kể, mắt y

càng vằn đỏ thêm. Kể một hồi mà rồi hắn chẳng kết

luận được gì. Hắn hỏi thầy Bảo, nhưng lại cũng

chính hắn trả lời :

-Thầy thử nghĩ coi, những nét chì xanh đỏ ấy không

phải của học trò thì của ai. Những mảnh giấy kẻ ô

ly đó không của học trò thì ở đâu ra? Tôi mong thầy

bảo ban lũ học trò của thầy, kẻo rồi hối cũng

không kịp …

Thấy Bảo nhìn y chòng chọc. Đúng ra, như mọi lần,

thầy cứ ngồi im, mặc cho y nói gì thì nói, nói đã

rồi thôi. Nhưng lần này, thầy thấy hắn bỗng trở nên

khó ưa. Cái miệng rộng ngoác của y thấy ghét, cặp

môi dầy của y thấy ghét, hai con mắt xấc xược của y

nhìn thầy khinh miệt cũng thấy ghét. Thầy Bảo nói

102

với y:

-Ông nói đủ chưa. Ông nên biết, học trò tôi có gần

một ngàn đứa. Ông coi, toàn con nít ranh không hà.

Nếu có một vài đứa nghịch phá không được lòng bên

cảnh sát các ông cũng là chuyện thường tình. Nhưng

ông phải có chứng cớ đàng hoàng mới giúp tôi dậy

bảo chúng được. Còn ông cứ nói khơi khơi vậy, coi

chừng ông xúc phạm tôi đó. Nếu không còn việc gì

nữa mời ông về, để tôi còn làm việc.

Cảnh sát Cuộc ngạc nhiên nhìn thầy Bảo. Chưa bao

giờ hắn gặp sự phản ứng mạnh như thế ở thấy Bảo.

Những lần trước chỉ có hắn nói, còn lần này, thầy

Bảo nói như chọc giận hắn. Hắn không biết thầy Bảo

đang ngổn ngang những suy nghĩ. Thầy không muốn bất

cứ ai làm phiền thầy vào lúc này.

103

Cảnh sát Cuộc vơ lấy cái nón chụp lên đầu rồi bỏ

đi.Thầy Bảo biết không phải chuyện đơn giản mà hắn

chờ thầy lâu như vậy chỉ để nói đôi ba lời thế rồi

bỏ đi. Thầy bước ra cửa phòng. Sân trường lúc này

đã vắng người. Những đứa học trò lớp chiều cũng đã

về hết. Cánh cổng ngoài kia cũng đã khép lại .

Chiếc Hon da 67 của ông đã được ông già gác cổng

dẫn vào để ở dưới gốc phượng vĩ. Chiếc xe trở nên

cô độc giữa một sân trường rộng rinh. Một ngày sắp

tàn, nhưng cái ngày này nó là ngày gì mà ông gặp

toàn những chuyện chẳng được như ý. Thì ai làm gì

thì cứ làm đi , mắc mớ gì cứ phải kêu thầy vào

cuộc. Cảnh sát nghi đứa nào rải truyền đơn , viết

khẩu hiệu thì cứ bắt về đồn mà hỏi, ông có can dự

gì vào đó. Còn Út Sinh, muốn lôi kéo đứa học trò

104

nào của ông thì cứ lôi kéo, sao bắt ông phải bảo

đảm chuyện học hành của chúng. Nghĩ thì nghĩ vậy,

nhưng ông lại rất băn khoăn. Dẫu sao cũng không

thể để cho học trò của mình lọt vào tay cảnh sát

được. Ông bỗng nhói lên khi nghĩ đến Ban, thằng em

trai ông. Biết nói sao với má về nó bây giờ …

Ông bấm chuông kêu ông thường trực.

Ông thường trực là một ông già khá đẹp lão. Nhìn

ông người ta nghĩ rằng trước đây nhất định ông phải

là một nhà giáo. Mái tóc bạc đáng kính. Bộ râu dài

cũng đã bạc, với những sợi trắng như cước. Hai mắt

sáng quắc và nghiêm trang. Tính tuổi, thì đáng có

thể cho ông về hưu được rồi Nhưng xét về sức khỏe

và tính tình thì trường chưa muốn cho ông nghỉ. Ông

làm thường trực ở trường Đức Thanh này từ thời

105

Tây tới giờ. Lâu lâu, ông còn giở tấm hình chụp

chung với ngài thanh tra giáo dục người Pháp khi

lên giám sát chuyện thi cử ở trường này.

Mỗi khi có chuyện gì khó khăn ở trường này thầy

Bảo thường dành thời gian ngồi tâm sự với ông

thường trực. Tuổi hai người chênh nhau cũng gần cả

chục năm ,nhưng thầy bảo kính phục ông thường trực

già này ở tính kiên trì và có những nhận xét tinh

đời. Thời Tây ông đã học xong bậc tiểu học. Mà chỉ

bậc tiểu học thôi ,ông thường trực đã có đủ vốn để

giao dịch với người Pháp. Ông bước vào phòng làm

việc của thầy Bảo, tự nhiên như vốn có.

-Có chi không thầy .

-Anh Ba, ngồi chơi với tôi một lát được không?

-Chơi. Bộ thầy rảnh rang lắm hay sao mà chơi. Có

106

chuyện chi nói đại tôi nghe thử coi .

Thấy Bảo lưỡng lự không biết có nên nói chuyện

mình vừa tiếp xúc với Sinh hay không. Rồi có nên kể

chuyện mới căng thẳng với cảnh sát Cuộc hay không.

Ông Ba thường trực hiểu ý :

-Thầy khỏi nói. Tôi biết những băn khoăn của thầy.

Làm thầy thời nay cũng khó, phải không thầy .

Ông Bảo rót ly nước lạnh đưa mời ông thường trực

và gật đầu :

-Đúng thế đấy bác Ba. Tôi có cảm giác hình như

mình chẳng phải làm thầy. Mà đời này ai cũng làm

thầy được, và họ là thầy ngay cả mình.

Ông Ba cười sảng khoái :

-Mặc kệ người ta thầy ơi. Người ta dù có muốn làm

thầy, cũng đâu có đủ tư cách .

107

-Có đấy, bác Ba. Tôi chỉ làm thầy trong học đường.

Còn ngoài đời , tôi cảm thấy mình ngây ngô lắm.

Ngay cả lúc vào tuổi như tôi rồi. Một bên họ biểu :

Không lẽ tụi này thích chiến tranh lắm sao, thích

mang tính mạng mình ra mà giỡn chơi sao. Cũng đúng

thực, không biết họ có khùng khùng, điên điên không

há? Tôi mới gặp một người quen …

Ông thường trực này hay là ở chỗ đó, ông khiến

người ta dễ dàng nói ra những điều khó nói một cách

tự nhiên. Ông đưa mắt khuyến khích thầy Bảo.

- Một người quen từ thời chín năm. Bác đừng lo.

Người ta không bắt tôi về tội dinh tê hồi đó đâu.

Mà còn tâm sự rất cởi mở nữa kìa.

-Thầy đâu có phải người ác, mà lo người ta trả thù

108

-Có thể là như vậy. Mười mấy năm rồi anh ta sống

cứ chui chui, lủi lủi, nay chỗ này, mai chỗ khác.

Chính quyền săn đuổi như săn thú. Thò mặt ra là có

thể bị bắt, bị giết …Vậy mà, họ không ngừng, họ

không từ bỏ. Bác Ba có biết vì sao không …

- Biết, tôi đã chẳng ngồi đây với thầy. Tôi cũng

có thời kéo cờ Việt Minh rồi chớ. Nhưng, quả thực

tôi không có gan. Cũng có lúc tôi tính ra làm việc

quan. Nhưng làm quan cũng có thời …Thôi tốt nhất cứ

làm cái ông gác cổng cho trường này mà lại hay.

Đến thầy là đời hiệu trưởng thứ ba rồi đó …được cái

là yên thân …Mấy đời thầy hiệu trưởng không ai bỏ

tôi. Thú thực với thầy, cũng có lúc tôi muốn làm

trai cho đáng nên trai lắm. Nhưng thời đại cứ loạn

lạc mãi như thế này, thân trai nó cứ bấp bênh làm

109

sao ấy. Tìm cho ra chỗ an toàn cho mình thực khó,

phải không thầy …Người ta tìm đến chùa để tu hành,

còn như tôi với thầy đâu có thể đi tu được. Chúng

mình còn ham muốn nhiều qúa. Sao nữa thầy .

Ông thường trực bỗng hỏi ngược. Hiểu ý, thầy Bảo

tiếp:- Ông bạn hồi chín năm cứ làm tôi nghĩ hoài.

Vậy chớ anh Ba không hỏi vì sao tôi lại nói chuyện

này với anh sao ?

- Không, hỏi làm chi. Thầy muốn nói thì thầy nói,

không thì thôi, tôi hỏi để làm gì. Nhưng có điều

nhất định chuyện gặp gỡ đó làm thầy khó nghĩ phải

không ?

- Không khó nghĩ bằng chuyện mới rồi gặp cảnh sát

Cuộc.- Có chuyện gì sao ?

- Có, anh Ba. Ông ta nói, học sinh của trường mình

110

có mầm loạn. Nhưng thế nào là loạn, anh Ba? Không

lẽ chúng làm cộng sản. Tôi không tin.

Ông thường trực trầm ngâm :

- Tôi cũng tính nói chuyện đó với thầy đó. Lâu

nay, trường mình nhiều chuyện lạ lắm. Tôi làm

thường trực trường này mấy trào rồi. Nhưng chưa bao

giờ thấy như bây giờ .

- Chuyện gì? Anh Ba nói tôi nghe được không?

- Ví như chuyện cảnh sát liên tục xét trường chẳng

hạn. Có bao giờ như thế này đâu. Một tháng vài

lần. Xét chẳng thấy cái gì, mà cứ xét hoài. Thầy có

thấy học trò bây giờ nó bướng bỉnh hơn xưa không.

Hình như chúng nó không hề sợ cảnh sát. Cảnh sát

đứng đầy sân trường, mà chúng cứ giỡn như không. Có

đứa không chỉ giỡn mà còn chọc quê nữa. Mới hôm

111

rồi nè, đám cảnh sát mới vừa khám xét xong, chân

chưa bước ra khỏi cổng trong này đã có đứa la lên:

Trời ơi tao có củ khoai luộc, chỉ cảnh sát vô thôi

mà mất rồi nè. Có đứa còn la: Củ khoai luộc ăn nhằm

gì, nhỏ kia kìa có cái quần mang theo để phòng khi

sợ cảnh sát té đái còn thay, cũng bị lấy mất rồi

đó. Con nít bây giờ miệng lưỡi quá trời.

- Không, không phải như anh Ba nói đâu. Hình như

không phải chúng nó miệng lưỡi khôn ngoan mà hình

như có ai đó ở sau chúng xúi dục thì phải. Ờ mà

không, đến cả dân bây giờ người ta cũng không còn

sợ cảnh sát nữa kìa. Tôi không nói chuyện đó làm

gì,chuyện khác kìa. Anh Ba có thấy đứa nào trong số

học sinh trường mình có liên quan đến những hoạt

động bí mật không kìa …

112

Ông thường trực nhìn thầy Bảo dò hỏi. Nhưng sau đó

ông gật gật đầu kiên quyết :

-Có. Nhất định là có. Cảnh sát Cuộc ổng có lý do

để nghi ngờ trường ta. Bữa nào rảnh rảnh tôi và

thầy thử kiếm tên mấy nhỏ tham gia cách mạng coi .

Cũng bộn đó thầy .Trảng Bàng nó là vậy mà .

Thầy Bảo biết ông thường trực nói thực. Ông thường

trực suy nghĩ một hồi bỗng nói :

-Trường mình bấy lâu nay chuyên lo chuyện học hành

quá . Có nên tổ chức cái gì cho học trò nó chơi

không. Có trò chơi chúng sẽ bớt những trò nhảm nhí

đi .

-Trò chơi , nhưng trò chơi gì bây giờ. Anh Ba

biết, mỗi lần tụ họp mà không phải là giờ chính

khóa là phải xin chính quyền không ?

113

-Thì mình xin. Xin cho chúng nó vui chơi. Con nít

có vui chơi không lẽ chính quyền cũng cảng đảng

sao. Tôi..thì tôi thương xắp nhỏ lắm thầy ơi. Chúng

nó còn trong trắng quá. Lỡ mất đứa nào , tiếc đứt

ruột đứa đó. Tôi mà không có con vợ đành đoạn, chắc

bây giờ tôi cũng cả xấp con rồi ấy chớ. Thầy Bảo

nè.Tôi cứ ngẫm hoài, tôi vầy nè, cũng không thua

kém chi ai . Ờ thì có nghèo hơn những người khác,

nhưng tôi sống đàng hoàng. Sao con vợ tôi nó lại bỏ

tôi chớ …

Thầy Bảo bước lại phía ông Ba, đặt hai ban tay lên

vai ông và bóp nhẹ. Thầy Bảo ít khi nói chuyện với

ông thường trực cũng vì vậy. Cứ đến lúc có vẻ mùi

mẫn là ông lại mang chuyện người vợ bạc tình ra kể.

Kể một hồi rồi khóc. Không biết chuyện gì khác ông

114

có can trường không, chớ còn chuyện vợ con thì

đúng là ông đớn hèn. Đại khái chuyện là thế này.

Hồi ông chừng hai mươi tuổi nhà cưới cho ông một cô

vợ tận dưới Sài Gòn lận. Một cô vợ thực xứng đôi

vừa lứa với ông. Cứ nhìn phong độ ông hôm nay cũng

biết cách nay ba chục năm ông là người như thế nào.

Cô vợ con một nhà buôn. Nghe đâu hai ông nông dân

Trảng Bàng có nợ với nhau một lời hẹn từ thuở cả

hai còn chân lấm tay bùn kìa. Lúc khá giả lên một

chút hai ông mới học lối những kẻ sang trọng kiếm

cho con mình nơi môn đăng hộ đối. Thế là hai ông

bắt tay nhau, quyết người có con rể, người có con

dâu và ngoài giữ nguyên tình bạn thâm giao, vừa là

cái nghĩa sui gia. Thì các ông hứa hẹn thì hứa hẹn.

Nhưng còn hai đứa trẻ nữa chớ. Nhà sui gái giàu

115

lên, nên về Sài Gòn làm ăn. Cô con gái quen với lối

sống mới nơi thị thành đâu có thích anh Ba nhà

quê. Nhưng cha mẹ đặt. Cứ làm đám cưới. Nhưng cưới

xong cô không cho anh trai quê động phòng. Vậy mà

cái bụng cô gái cứ lùm cao dần lên. Một hôm cô biểu

anh chồng hờ:

-Tôi và anh không có duyên phần. Mà tôi thì không

muốn lừa anh. Tôi đã có người yêu. Đứa con trong

bụng này là con ảnh. Bây giờ tôi phải đi, chớ không

thể ở đây với anh được. Tôi đi rồi, anh muốn nói

với mọi người ra sao thì nói. Rồi anh cũng phải có

vợ. Tôi hứa, không bao giờ tôi làm khó dễ cho anh

đâu …

Ôi da. Sao chua chát làm vậy kìa. Cái người đáng

phải phỉ nhổ là cô ta,vậy mà cô ta cứ xưng xưng.

116

Thì ngay từ đầu cô ta cứ trốn đi, đừng nói chuyện

đám cưới nữa. Cứ theo người tình của cổ đi. Sao còn

làm vợ làm chi nữa rồi gieo rắc cái khổ cho anh.

Anh trai quê chỉ còn biết nhìn trân trân cô vợ

hờ, trong lúc cô sắp sửa hành trang để ra đi.Cho

đến khi cô ta ra khỏi nhà rồi, anh mới biết thực là

mình đã mất vợ. Anh cứ ngồi như thế cho đến sáng.

Anh không chuyện gì với ai. Ai hỏi gì đến chuyện vợ

con. anh cũng tìm cách lảng tránh. Mất một thời

gian dài anh cứ như người mất hồn. Anh đi lang

thang hết đầu đường này, xó chợ kia. Trên tay lúc

nào cũng có một chiếc que tre. Lâu lâu, dừng lại

chỗ nào dó, viết những chữ thiệt đẹp, thực nắn nót

tên của cô vợ hờ. Đã có lúc người thị trấn Trảng

Bàng này quên tên anh, quên thứ anh, gọi anh là

117

thằng khùng.Vì vậy tuy có chút ít chữ nghĩa trong

đầu, nhưng anh ta không làm nên trò trống gì. Cả

chục năm trời làm người nửa khùng, nửa dại như vậy.

Thời trẻ vì thế sớm qua đi. Lúc tỉnh táo được thì

hết thời vận, đành xin làm chân thường trực cho cái

trường xứ quê này. Nhưng cứ khi mùi mẫn là anh ta

lại dằn vặt tự hỏi: Không hiểu sao , anh ta thì như

thế mà bị cô vợ bạc tình .

Thầy Bảo nắn vai ông thường trực một hồi đủ để cho

ông bình tĩnh lại, mới nói:

- Việc vui chơi của sắp nhỏ, anh Ba lo dùm tôi

nghe. Có gì báo tôi biết.Tôi tính…

118

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát