Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Người Mẹ Tốt Hơn Là Người Thầy Tốt - C7: Hãy thoát ra khỏi những ngộ nhận trong giáo dục

Doãn Kiến Lợi

NGƯỜI MẸ TỐT HƠN LÀ NGƯỜI THẦY TỐT (PHẦN VII)

NXB Văn Học

Chương 7: Hãy thoát ra khỏi những ngộ nhận trong

giáo dục

Dòng sông có thể vẽ màu hồng

Viên Viên hiếu kỳ đặt một ngón tay xuống hứng, để

nước chảy qua ngón tay. Nước chảy xuống hết rồi, cô

bé ngẩng đầu lên trầm trồ: “Nước không có màu gì

cả!”.

Khi Viên Viên còn học mẫu giáo, có một học kỳ nhà

trường mở một số lớp bồi dưỡng năng khiếu, mỗi tuần

học hai buổi, mỗi học kỳ nộp ba trăm tệ, ai thích

học thì học. Các bạn nhỏ trong lớp đều thi nhau

đăng ký, người này đăng ký lớp múa, người kia thích

1

học hát. Từ nhỏ Viên Viên đã thích học vẽ, cô bé

nói muốn học lớp vẽ, chúng tôi liền đăng ký cho

con.

Sau khi lớp năng khiếu được mở ra, mỗi tuần Viên

Viên mang từ trường về hai bức tranh do cô bé vẽ,

đều là những bức tranh vẽ các con vật nhỏ bằng bút

chì. Những bức tranh này đều dựa vào những hình cô

giáo đã vẽ mẫu để bắt chước, cô giáo chấm điểm ngay

trên đó. Qua những bức vẽ của cô bé tôi biết, tiêu

chí cho điểm của cô giáo là vẽ giống hay không, vẽ

càng giống, điểm sẽ càng cao.

Từ đó trở đi, khi vẽ tranh, Viên Viên bắt đầu cố

gắng theo đuổi cái gọi là “giống”. Cô bé rất thông

minh, trước yêu cầu của cô giáo, tranh do cô bé vẽ

càng ngày càng giống, điểm cũng càng ngày càng cao.

2

Nhưng tôi cũng hơi tiếc khi phát hiện ra rằng,

đường nét trong bức tranh cô bé vẽ càng ngày càng

rụt rè. Để vẽ cho giống, Viên Viên phải liên tục

dùng tẩy để xóa, chỉnh sửa hết lần này đến lần

khác. So với những bức tranh phóng khoáng, tự nhiên

mà cô bé vẽ ngày trước, có cảm giác câu nệ và

thiếu phóng khoáng.

Một thời gian sau, lớp lại bắt đầu học vẽ bút màu,

Viên Viên vô cùng phấn khởi. Cô bé thích vẽ tranh

màu. Một hôm, cô giáo giao một bài tập về nhà cho

trẻ, yêu cầu mỗi người vẽ một bức tranh một buổi đi

chơi dã ngoại, nói sẽ chọn một số bức treo ở phòng

triển lãm tranh của trường mầm non.

Vừa từ trường về, Viên Viên liền sốt sắng lấy ngay

bút màu ra, tìm một trang giấy to để vẽ. Cô bé vẽ

3

rất say sưa, cầm cây bút này lên rồi lại đặt cây

bút kia xuống, đến khi chúng tôi gọi ra ăn cơm, cô

bé còn không muốn ra. Cô bé chỉ ăn qua loa vài

miếng, rồi lại quay ra vẽ. Đợi đến khi tôi rửa bát

xong, Viên Viên mới vẽ xong, đắc ý mang ra cho tôi

xem. Cảm giác đầu tiên của tôi là cô bé vẽ rất

chuyên tâm, phối màu cũng rất đẹp. Ông mặt trời màu

đỏ tỏa ánh nắng rực rỡ, giống như một đóa hoa. Lấy

nền trắng của giấy làm bầu trời, bên trên có mấy

áng mây màu xanh nhạt; phía dưới là thảm cỏ xanh,

trên thảm cỏ có mấy cô bé đang nắm tay nhau. Bên

cạnh các cô bé có một dòng sông màu hồng, đây là

màu mà con gái tôi thích. Để cho mọi người biết đây

là dòng sông, cô bé còn vẽ cả làn sóng và mấy chú

cá nhỏ.

4

Nhìn bức tranh của cô bé năm tuổi này, các nét

lóng ngóng, non nớt, dùng màu táo bạo, tôi cảm thấy

vui vì sự ngây thơ của con gái. Tôi chân thành

khen ngợi Viên Viên: “Con vẽ đẹp lắm!”. Được mẹ

khen, cô bé tỏ ra rất vui.

Chưa bao giờ Viên Viên lại vẽ chuyên tâm như vậy,

tự mình cũng cảm thấy vẽ rất đẹp, cảm thấy khá tin

tưởng rằng sẽ được chọn và dán ở phòng triển lãm,

liền nói với tôi: “Mẹ ơi, nếu như tranh của con

được dán ở phòng tranh thì hàng ngày đến đón con mẹ

đều được nhìn thấy”. Tôi nói nhất định ngày nào mẹ

cũng phải xem.

Tôi bảo Viên Viên mau cất tranh và đi ngủ, lúc

chuẩn bị cho vào ba lô, cô bé sợ có nếp gấp, tôi

liền tìm một tờ báo cuộn tranh lại, cô bé cẩn thận

5

đặt vào ba lô.

Chiều hôm sau tôi đi đón Viên Viên, nhìn thấy cô

bé vẫn vui vẻ chơi đùa cùng các bạn như mọi bận,

nhìn thấy tôi, cô bé liền chạy lại. Lúc tôi dắt tay

cô bé ra sảnh lớn, bất chợt cô bé sực nhớ ra điều

gì, kéo tay mẹ, ngẩng đầu lên nhìn mẹ, mặt lộ vẻ ấm

ức. Tôi hỏi sao vậy, Viên Viên nói, mẹ ơi, tranh

của con không được chọn. Nước mắt liền trào ra.

Tôi vội lau nước mắt cho con gái, hỏi tại sao. Cô

bé dẩu môi, ngừng một lát, mới lí nhí nói: “Vì con

vẽ sông thành màu hồng”. Tôi hỏi: “Vẽ thành màu

hồng không được sao?”. “Cô giáo nói sông phải màu

xanh cơ, không được vẽ thành màu hồng. Ngoài ra,

mây trắng cũng không được vẽ thành màu xanh, con vẽ

sai rồi”. Con gái nói với giọng buồn buồn.

6

Như có một cái gì đó giáng vào lòng tôi, một bức

tranh được chọn hay không cũng không quan trọng

lắm, nhưng vì lý do này mà không được chọn, và

khiến con trẻ phải nói mình “Vẽ sai rồi”, nhận thức

này bị rót vào đầu cô bé khiến tôi cảm thấy rất

buồn.

Tôi xót xa bế Viên Viên lên, thơm vào má con bé,

nói: Không sao đâu con yêu ạ, con đừng để ý, không

được chọn cũng không sao. Viên Viên gật đầu với vẻ

bất lực.

Tôi đưa Viên Viên về nhà, trên đường đi suy nghĩ

xem nên nói gì với con về chuyện này. Tôi hỏi cô

bé, con đã nộp tranh cho cô chưa? Cô bé bảo không

được chọn thì không phải nộp, con đang để trong ba

lô.

7

Về đến nhà, tôi bảo Viên Viên lấy tranh ra, cô bé

rút tranh từ trong ba lô ra, tranh đã bị gấp với

rất nhiều nếp gấp.

Tôi bế cô bé lên đùi mình, cùng cô bé ngắm bức

tranh này. Tôi hỏi: “Tại sao con lại vẽ sông thành

màu hồng?”. Bé nghĩ một lát, lúng búng nói: “Con

không biết là tại sao, con chỉ thấy màu hồng đẹp

thôi”.

Tôi nói: “Đúng, vẽ tranh là để thấy được vẻ đẹp

của tranh, chính vì thế khi nói về một bức tranh,

chúng ta thường nói nó đẹp hay không, không thể nói

nó sai hay đúng, có đúng không con?”. Nghe vậy,

Viên Viên có vẻ tán đồng, gật đầu, đột nhiên lại

phủ định nói: “Dòng sông không phải màu hồng, là

màu xanh, con vẽ sai rồi”. Tôi hỏi cô bé, sao lại

8

biết dòng sông có màu xanh chứ không phải màu hồng?

Tôi biết trên thực tế cô bé chưa bao giờ nhìn thấy

dòng sông cả, kinh nghiệm của cô bé bắt nguồn từ

một số bức tranh trong sách vở và quan điểm của cô

giáo ngày hôm nay. Viên Viên không trả lời được câu

hỏi của tôi, cô bé nghĩ một lát, nói bằng giọng

hơi cáu: “Kiểu gì thì cũng là màu xanh mà mẹ”.

Tôi nói, nào, chúng ta sẽ đi xem nước có màu gì,

rồi tôi đứng dậy, dắt cô bé vào bếp.

Tôi lấy ra một chiếc bát sứ màu trắng, mở vòi hứng

lấy một bát nước, đặt trên bàn, hỏi Viên Viên là

màu gì. Cô bé nhìn một lát, có vẻ khó trả lời, rồi

lại nhìn tôi, không biết nên nói là màu gì. Tôi hỏi

cô bé có phải là màu xanh không, cô bé lắc đầu.

9

Tôi hỏi rốt cục là màu gì, cô bé nghĩ một hồi lâu,

ấp úng nói ra hai chữ “màu trắng”.

Tôi lại tìm một chậu nhựa nhỏ màu đỏ, đổ nước vào,

hỏi cô bé: “Có phải màu trắng không con?”. Cô bé

nhìn chậu nước đỏ, ngượng ngùng, rồi lại nhìn tôi,

hỏi với vẻ ranh mãnh “Mẹ bảo là màu gì cơ?”.

Tôi cười, bê chậu nước đỏ lên, đổ nước từ từ vào

bình, vừa đổ vừa nói: “Con xem, nước trong suốt,

không có màu gì cả, đúng không?”. Nghe tôi nói vậy,

Viên Viên hiếu kỳ đặt một ngón tay xuống hứng, để

nước chảy qua ngón tay. Nước chảy xuống hết rồi, cô

bé ngẩng đầu lên trầm trồ: “Nước không có màu gì

cả!”. Vẻ như đã hiểu ra vấn đề. Tôi nói, con nói

đúng rồi, và lại quay về với chủ đề chính, đưa cô

bé trở lại với bức tranh của mình.

10

Tôi bế cô bé lên, cầm bức tranh lên, hỏi, thế con

bảo, dòng sông nên vẽ màu gì? Viên Viên không nghĩ

ngợi gì mà trả lời ngay: “Vẽ không có màu gì cả”.

Tôi hỏi: “Thế con nên dùng cây bút nào để vẽ?”. Cô

bé đang định nói, nhưng lập tức lại ngắc ngứ, không

trả lời được.

Tôi cười, “Không có cây bút nào là không có màu

cả, đúng không con?”. Viên Viên gật đầu. Tôi tiếp

tục hỏi, “Thế con bảo, rốt cục nên vẽ dòng sông như

thế nào?”. Viên Viên chớp chớp mắt, nhìn tôi với

vẻ khó hiểu, không biết phải trả lời như thế nào.

Đến đây, không thể vẽ dòng sông được nữa. Thấy cô

bé ngơ ngác như vậy, tôi bèn thơm lên má con.

Để trả lại cho con màu sắc của dòng sông, tôi buộc

phải xóa đi màu của dòng sông trước. Thế là tôi

11

lại chậm rãi nói với Viên Viên rằng: Không ai có

thể quy định dòng sông buộc phải vẽ màu xanh, bản

thân dòng sông không có màu. Nhưng khi vẽ dòng

sông, chúng ta luôn muốn dùng một màu gì đó để vẽ.

Nếu vẽ tranh chỉ có thể vẽ màu sắc chân thực, thì

chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ tìm được một cây

bút có thể vẽ dòng sông, đúng không con? Viên Viên

gật đầu.

Tôi tiếp tục nói: Và còn rất nhiều thứ khác nữa,

không thể tìm ra được màu sắc của chúng trong hộp

bút màu của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn có thể vẽ

ra được chúng. Chính vì thế con nên nhớ rằng, một

bức tranh chỉ có đẹp hay không đẹp mà thôi, không

có đúng hay sai đâu. Con có thể mạnh dạn sử dụng

các loại màu sắc - dòng sông có thể vẽ màu hồng,

12

chỉ cần con thích, nó có thể được vẽ bằng bất cứ

màu gì.

Giải thích xong vấn đề màu sắc của dòng sông, Viên

Viên vui vẻ quay ra chơi. Trong lòng tôi vừa lo

lắng vừa cảm thấy bất lực, tôi muốn dùng quan niệm

này để gây ảnh hưởng cho con gái, bảo vệ trí tưởng

tượng của cô bé. Nhưng tôi đâu dám dẫn một đứa trẻ

non nớt đi nghênh chiến với những điều bất cập

trong giáo dục. Đơn giản nhất là vấn đề sau này có

để cho con tiếp tục theo học lớp học vẽ này nữa hay

không.

Nếu tiếp tục học, thì phải nghe lời cô giáo, không

thể vẽ dòng sông thành màu hồng. Mỗi lần lên lớp,

cô giáo đều ra một cái khung cho con trẻ, trí tưởng

tượng của trẻ sẽ bị bóp nghẹt dần dần. Những lớp

13

học vẽ như thế này, chỉ có thể khiến trí tưởng

tượng của trẻ ngày càng trở nên nghèo nàn. Nếu

không học nữa, khi các bạn nhỏ khác đều được học

giờ năng khiếu, con gái ngồi trên ghế thèm thuồng

nhìn các bạn đi ra, chắc chắn cô bé sẽ rất tủi

thân, làm sao cô bé có thể hiểu được lý do tự nhiên

lại bắt cô bé nghỉ học giữa chừng? Làm sao có thể

giải thích cho cô bé hiểu sự lo lắng này của tôi?

Tôi than thầm, trong lòng chỉ muốn trường mầm non

xóa lớp học vẽ, nếu như thế, dù cho có phải nộp

thêm ba trăm tệ nữa tôi cũng sẵn lòng.

Lưu ý đặc biệt

Không ai có thể quy định dòng sông buộc phải vẽ

màu xanh, bản thân dòng sông không có màu. Nhưng

khi vẽ dòng sông, chúng ta luôn muốn dùng một màu

14

gì đó để vẽ. Nếu vẽ tranh chỉ có thể vẽ màu sắc

chân thực, thì chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ

tìm được một cây bút có thể vẽ dòng sông.

Một bức tranh chỉ có đẹp hay không đẹp mà thôi,

không có đúng hay sai đâu. Con có thể mạnh dạn sử

dụng các loại màu sắc - dòng sông có thể vẽ màu

hồng, chỉ cần con thích, nó có thể được vẽ bằng bất

cứ màu gì.

Không vào lớp tiền tiểu học

Lớp học tiền tiểu học phát triển đến ngày hôm nay,

sự tồn tại của nó đã biến thành chứng “tăng sinh

xương” trong chương trình giáo dục bình thường.

Nhưng cái thừa này hiện tại lại được nhiều người

cho là đôi cánh trên lưng thiên thần, cho rằng cái

“nhiều” này tốt hơn là “ít”, đây thực sự là một sai

15

lầm!

Một người bà con gọi điện thoại cho tôi, chị đang

phải đối mặt với sự lựa chọn có nên cho con học lớp

tiền tiểu học hay không.

Con chị chỉ còn thiếu một tháng tuổi nữa là có thể

vào lớp một1), nhà trường gợi ý rằng, nếu nộp một

khoản tiền thì con chị có thể vào lớp một, nếu

không sẽ phải học lớp tiền tiểu học. Mọi người xung

quanh chị nói nên học lớp một, có người lại nói

nếu phải nộp tiền thì thà đi học lớp tiền tiểu học

còn hơn, con trẻ còn được học thêm một năm. Chị

không biết quyết định như thế nào. Tôi biết con chị

rất thông minh, với trình độ như cháu, học lớp một

hoàn toàn không có vấn đề gì. Tôi liền nói với

chị, học được lớp một là tốt nhất, nếu không được

16

thì tiếp tục ở lại trường mầm non, đừng đi học lớp

tiền tiểu học.

Tôi luôn phản đối cho trẻ đi học lớp tiền tiểu

học.

Hầu hết phụ huynh đều không biết được nguồn gốc

của lớp tiền tiểu học, thực ra chỉ cần tìm hiểu một

chút nguyên nhân ra đời của nó, sẽ phát hiện ra

rằng sự tồn tại của nó trong xã hội hiện nay là bất

hợp lý.

Lớp tiền tiểu học là một sản phẩm của thời bao cấp

ở Trung Quốc.

Nó xuất hiện sớm nhất vào thập niên 1980. Lúc đó

tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đi mẫu giáo ở thành phố

đang bùng nổ, nhưng lúc đó trường mầm non tư thục

rất ít, nhu cầu đi học mầm non của trẻ không được

17

giải quyết, vì thế đã áp dụng biện pháp để trường

tiểu học mở ra một số lớp tiền tiểu học để giải

quyết vấn đề giáo dục tiền tiểu học cho một số học

sinh - có thể thấy sự xuất hiện của lớp tiền tiểu

học chủ yếu là xuất phát từ nhu cầu giải quyết vấn

đề học hành cho học sinh ở độ tuổi mầm non, không

phải là sự kế tiếp mang ý nghĩa giáo dục.

Những năm qua kinh tế Trung Quốc đã phát triển khá

mạnh, tỉ lệ sinh thấp, hàng loạt trường mầm non tư

thục xuất hiện. Vấn đề học sinh đi học trường mầm

non không còn gì khó khăn, nhưng lớp tiền tiểu học

đã tồn tại hơn hai mươi năm, và từ thành phố lan

rộng ra nông thôn, ngày càng danh chính ngôn thuận,

dường như là một sự thiết kế hợp lý căn cứ vào nhu

cầu học tập của trẻ em. Cá biệt còn có một số địa

18

phương thậm chí là do cơ quan chủ quản giáo dục quy

định, tất cả học sinh trước khi vào trường tiểu

học đều phải học lớp tiền tiểu học.

Tại sao lại xuất hiện hiện tượng đáng lẽ phải biến

mất nhưng lại không biến mất này? Điều này cho

thấy nó có nền tảng để tồn tại. Nền tảng này chính

là: Nhà trường muốn mở lớp tiền tiểu học, phụ huynh

muốn cho con vào học các lớp kiểu này.

Nhà trường mở lớp là do có mục đích rất rõ ràng.

Lớp tiền tiểu học không nằm trong chương trình giáo

dục bắt buộc của quốc gia, có thể tự chủ trong

việc thu tiền học phí, sinh hoạt phí. Năm 1985, mức

giá quy định của thành phố Bắc Kinh là mỗi em ba

mươi tệ một tháng, thời kỳ đó mức giá này không hề

rẻ. Mấy năm nay giá cả leo thang, đã lên tới vài

19

trăm tệ thậm chí hàng nghìn tệ, cộng với các loại

tiền khác, nguồn thu rất khả quan. Cũng có nghĩa là

nó là một nguồn thu nhập của trường, là một “miếng

thịt béo”. Mặc dù vài năm gần đây một số chính

quyền địa phương đã ý thức được sự không cần thiết

của lớp tiền tiểu học, ra công văn yêu cầu không

được mở mô hình lớp học này, nhưng vì không mạnh

tay, các trường tiểu học vẫn được lén lút mở.

Đứng trên góc độ của phụ huynh, phụ huynh muốn cho

con vào học lớp tiền tiểu học, phần lớn là do a

dua theo phong trào. Một là lầm tưởng rằng lớp tiền

tiểu học là bước đệm nối liền trường mầm non và

trường tiểu học, như muốn vào lớp ba thì phải học

lớp hai vậy; hai là xuất phát từ sự lo lắng về

thành tích học tập sau này của con, cho rằng học

20

lớp tiền tiểu học là được “đặt nền móng trước”, là

đi trước một bước trong việc học. Điều này giống

như việc mà người bà con này của tôi băn khoăn, chị

nói, mọi người xung quanh đều cho con học lớp tiền

tiểu học, đến khi vào lớp một, đã học hết phiên âm

và phép cộng, trừ trong phạm vi một trăm rồi. Nếu

con chị không vào lớp tiền tiểu học, nền tảng sẽ

không vững bằng các bạn, như thế không phải là tụt

hậu một bước so với người ta hay sao.

Suy nghĩ “đặt nền móng” này của người bà con của

tôi là khá tiêu biểu, nhưng đây là một sự ngộ nhận

của bố mẹ. Một là không hiểu rõ con trẻ cần phải

đặt “nền móng” gì, hai là không nắm được tình hình

chung về lớp tiền tiểu học.

Tôi nói với chị rằng, nếu bố mẹ bỏ tiền, nhà

21

trường thu tiền, và kết quả là con trẻ tạo được nền

móng tốt sau khi học lớp tiền tiểu học, vượt được

bạn bè thì cũng rất đáng để làm. Nhưng qua thực tế

của mấy năm gần đây thì thấy rằng, kết quả hoàn

toàn ngược lại, đúng là giáo dục tiền tiểu học đã

tạo được một “nền móng” cho trẻ, nhưng thường là

nền móng xấu.

Qua điện thoại tôi có thể cảm nhận được sự kinh

ngạc của người bà con, có thể đây là lần đầu tiên

chị nghe thấy cách nói “nền móng xấu”. Chị không

thể ngờ rằng, cho con theo học lớp tiền tiểu học

lại đem lại kết quả xấu. Thực tế những điều mà chị

không nghĩ tới cũng là điều mà hầu hết các bậc phụ

huynh đều không nghĩ tới, vì thông thường họ không

nắm được tình hình sau:

22

Hiện nay Bộ giáo dục Trung Quốc chỉ đưa ra ý kiến

mang tính chỉ đạo đối với lớp tiền tiểu học, không

thống nhất khung chương trình và giáo trình giảng

dạy đối với các lớp này. Chính vì thế, lớp tiền

tiểu học dạy thế nào, hoàn toàn là do trường tiểu

học tự quyết định, hoặc là dựa vào cảm nhận của

giáo viên. Mặc dù lớp tiền tiểu học đem lại lợi ích

kinh tế cho trường tiểu học, nhưng do tính chất

không phải là giáo dục bắt buộc của nó, thành tích

dạy học của lớp tiền tiểu học không cần phải tính

vào thành tích dạy học chung của cả trường, thông

thường nhà trường không coi trọng mảng giáo dục

này.

Trong quá trình quảng cáo tuyển sinh, gần như tất

cả các lớp tiền tiểu học đều nói, nhà trường sẽ bố

23

trí một đội ngũ giáo viên giỏi, giàu kinh nghiệm

cho lớp tiền tiểu học. Nhưng trên thực tế, lớp tiền

tiểu học “ăn nhờ ở đậu” trong trường tiểu học

thường bị gạt ra rìa. Ngoài việc thiết bị dạy học

khá đơn giản, điều quan trọng hơn là, nhà trường sẽ

không bố trí giáo viên giỏi cho các lớp này. Theo

những gì mà tôi đã từng chứng kiến, từng được nghe

nói, những giáo viên mà nhà trường cử ra để dạy lớp

tiền tiểu học thường là những người dạy không tốt,

hoặc quan hệ với lãnh đạo không ra gì. Hiệu trưởng

không thể cho họ nghỉ việc, thế là liền giao cho

họ dạy lớp tiền tiểu học.

Cũng có trường thiếu giáo viên, liền thuê một số

giáo viên đã nghỉ hưu ở ngoài. Thông thường người

ta cho rằng, giáo viên nghỉ hưu “giàu kinh nghiệm”.

24

Nhưng trên thực tế, họ không có nghiên cứu gì

nhiều về phương pháp giáo dục dành cho trẻ em trước

độ tuổi đi học. Cái gọi là “kinh nghiệm” chỉ là

một số phương pháp dạy học sinh tiểu học năm xưa.

Hơn nữa mấy chục năm qua, do yêu cầu của Bộ giáo

dục đối với giáo viên tiểu học không cao, rất nhiều

giáo viên có tố chất văn hóa hoặc tố chất giáo dục

khá thấp. Tuổi nghề của họ có thể là bốn mươi năm,

nhưng không có nghĩa là có “bốn mươi năm kinh

nghiệm dạy học”. Những kinh nghiệm đó vốn không

thích hợp lắm với học sinh tiểu học, càng không

thích hợp với các em trước độ tuổi đi học.

Chính vì thế “lớp tiền tiểu học” hiện nay không

phải là “giáo dục tiền tiểu học” theo ý nghĩa của

giáo dục học, về cơ bản nó chính là bản thu nhỏ của

25

lớp một. Mặc dù số giờ học của lớp tiền tiểu học

ít hơn lớp một một chút, thời gian trẻ chơi đùa

chiếm nhiều hơn, thời gian đi học và tan học cũng

tự do hơn các em lớp một, nhưng mô hình giáo dục

tổng thể và khuynh hướng lựa chọn giá trị lại giống

như lớp một.

Xét về hình thức lên lớp, mỗi em học sinh đều có

một bàn học cố định của mình, có bài tập; xét về

nội dung, chủ yếu là học phiên âm, viết chữ, từ

tiếng Anh, phép cộng trừ trong phạm vi một trăm…

Giáo viên luôn yêu cầu học sinh phải ngoan ngoãn

ngồi đúng vị trí, nghiêm túc nghe giảng, hàng ngày

yêu cầu học sinh phải viết chữ mới và phiên âm vào

vở, đồng thời chấm điểm cho học sinh, thậm chí còn

bố trí bài tập về nhà. Mục tiêu của giáo viên là

26

rèn cho trẻ biết nghe lời, nhận được một số mặt

chữ, viết bài tập thẳng hàng. Điều này khiến giáo

viên cảm thấy mình đã đạt được một số thành tích,

những “thành tích” này thường cũng được lãnh đạo

nhà trường và phụ huynh công nhận. Đặc biệt là phụ

huynh, cảm thấy trước khi vào lớp một con mình đã

nhận được mặt chữ và biết làm bài tập, cho rằng con

mình không “thua trên vạch xuất phát”.

Nhưng tất cả những điều này là “thắng” hay sao?

Cách học máy móc, không hề có tính sáng tạo và

phát hiện niềm hứng thú của lớp học tiền tiểu học,

kể cả áp dụng vào các lớp cao của khối tiểu học,

cũng rất cứng nhắc, huống chi là áp dụng vào các em

chưa đi học. Lớp học tiền tiểu học có lên lớp, có

kỷ luật, có bài tập, nhưng lại không có hoạt động

27

trí tuệ. Hoạt động dạy học của lớp tiền tiểu học

chủ yếu bắt học sinh phải lao động trí óc một cách

biến dạng, tiêu cực. Nhà giáo dục người Liên Xô

Vasyl Olexandrovych Sukhomlynsky nói: “Phàm là

những nơi không để trẻ em hàng ngày phát hiện ra

mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng trong thế

giới xung quanh, tính hiếu kỳ và lòng ham hiểu biết

của trẻ sẽ bị dập tắt”(1) - mất đi tính hiếu kỳ và

lòng ham hiểu biết là điều cực kỳ nguy hiểm đối

với việc học tập của trẻ.

__________________

(1) Theo quy định, tuổi đi học lớp một của học

sinh Trung Quốc là tròn sáu tuổi (tính đến ngày 1-9

của năm em đó đi học). Cũng có nghĩa là, những em

sinh trước 1- 9 mới được vào lớp một của năm đó,

28

những em sinh sau 1-9 phải lùi lại một năm (ND).

Cũng có nghĩa là, xét về tình hình chung của “lớp

tiền tiểu học” của Trung Quốc hiện nay, không những

không căn cứ vào tình hình phát triển tâm sinh lý

của trẻ để chúng tiến thêm một bước về trí tuệ,

thói quen, tính sáng tạo, mà còn gây trở ngại cho

các vấn đề này. Chính vì vậy, lớp tiền tiểu học

phát triển đến ngày hôm nay, sự tồn tại của nó đã

biến thành chứng “tăng sinh xương” trong chương

trình giáo dục bình thường. Nhưng cái thừa này hiện

tại lại được nhiều người cho là đôi cánh trên lưng

thiên thần, cho rằng cái “nhiều” này tốt hơn là

“ít”, đây thực sự là một sai lầm!

Mong con trẻ thắng trên vạch xuất phát, thực tế là

trói chặt đôi chân của trẻ đến mức tê liệt trên

29

vạch xuất phát.

Tôi nói sơ qua với người bà con những điều trên,

chị có phần hiểu, nhưng vẫn hơi lo lắng. Chị nói:

Chị cũng đã từng đọc một số sách, nói giáo dục trẻ

em giai đoạn sớm rất quan trọng, nói là nếu không

làm tốt giáo dục vỡ lòng, sau này con trẻ học hành

sẽ rất chật vật.

Tôi hiểu ý chị, bèn nói, chị nói đúng, giáo dục

trẻ em giai đoạn sớm rất quan trọng, một người được

giáo dục vỡ lòng ngay từ sớm hay không, trình độ

trí tuệ của anh ta sẽ có sự khác biệt rất lớn. Giáo

dục vỡ lòng bắt đầu càng sớm càng tốt, thậm chí có

người từng nói rằng, nếu bạn bắt đầu giáo dục trẻ

từ ngày thứ ba sau khi trẻ chào đời thì bạn cũng đã

chậm hai ngày rồi. Vasyl Olexandrovych

30

Sukhomlynsky nói, “Huấn luyện trí tuệ bắt đầu từ

thời điểm càng xa với thời gian chào đời của trẻ,

thì đứa trẻ này càng khó giáo dục”(1). “Huấn luyện

trí tuệ” mà ông nói tới ở đây đồng nghĩa với “giáo

dục vỡ lòng”.

________________

(1) Vasyl Olexandrovych Sukhomlynsky, Lời kiến

nghị với các nhà giáo, Đỗ Điện Khôn dịch, NXB Khoa

học giáo dục, tái bản lần thứ nhất tháng 6-1984,

tr.323.Hiện giờ điều mà chúng ta cần phải thảo

luận là, học ở lớp tiền tiểu học là “giáo dục vỡ

lòng” ư?

Về mặt hình thức, giáo dục vỡ lòng tốt phải mang

tính trò chơi, không có gì trói buộc, phong phú,

liên quan với cuộc sống. Trong nội hàm cần có hàng

31

loạt chức năng khai sáng trí tuệ như huấn luyện kỹ

năng, phát triển ngôn ngữ, gợi mở trí tưởng tượng…

Nhưng công tác dạy học ở lớp tiền tiểu học hiện nay

nóng vội trong việc muốn trẻ nắm được các kiến

thức trong sách vở và kiến thức thi cử. Bàn học đã

hạn chế sự tự do của trẻ, nội dung học mang tính

khép kín đã trói buộc trí tưởng tượng của trẻ,

phương thức dạy học đã đi ngược lại với bản tính

của trẻ, những bài tập vô vị đã làm trẻ mất đi lòng

nhiệt tình đối với việc học - đó là một cách học

mang tính vụ lợi, mang tính nô dịch, nó khiến trẻ

cách xa huấn luyện trí tuệ, đi về mặt trái của

“giáo dục trí tuệ”, là hành vi phản giáo dục trí

tuệ, cùng lắm nó chỉ được gọi là “học trước”, chứ

không thể gọi là “giáo dục vỡ lòng”.

32

Người họ hàng của tôi im lặng ở đầu bên kia điện

thoại, có lẽ chị đang suy nghĩ điều gì. Một lát

sau, chị nói, lần đầu tiên chị được nghe thấy cách

phân tích như thế này, chị cần phải được tiêu hóa

từ từ. Chỉ có điều vẫn còn một vấn đề - chị ngập

ngừng một lát, sau đó nói: Không chỉ là nghe người

khác nói, bản thân chị cũng được tận mắt nhìn thấy

một số em đã từng học lớp tiền tiểu học, sau khi

vào học, các em vẫn giỏi hơn những em không đi học.

Đúng là có chuyện như vậy, đây chính là điều mà

tôi chuẩn bị nói với chị.

Tôi nói, em hiểu cái “giỏi” mà chị nói ở đây là

nhận biết mặt chữ, tính toán và thi, nhưng sự phán

đoán này rất phiến diện. Hiện nay vấn đề lớn nhất

33

tồn tại trong giáo dục tiểu học là mô hình dạy học

và khuynh hướng lựa chọn giá trị. Từ nhà trường đến

giáo viên và cuối cùng là phụ huynh, mọi người đều

không hiểu rõ phương pháp và mục đích, lý giải một

cách bề mặt các vấn đề giáo dục, hình thành nên

một số cách phán đoán giá trị dị dạng và nông cạn

trong giáo dục trẻ em. Và công tác dạy học ở lớp

tiền tiểu học đã hùa theo khuynh hướng lựa chọn giá

trị sai lầm này, để trẻ sớm tỏ ra “thành thạo”

trong việc làm bài tập, thi cử hoặc giữ kỷ luật.

Nhưng đó là “giỏi” ư?

Tạm thời không nói trong sự “thành thạo” này bao

hàm bao nhiêu hành vi phản giáo dục, để lại bao

nhiêu hậu họa, chỉ riêng những cái gọi là “thế mạnh

trong học hành” mà trẻ biểu hiện ra cũng ngắn

34

ngủi, trạng trái không duy trì được bao lâu. Chiến

lược bồi dưỡng cả đời một con người cũng như chiến

lược chạy dài, người lúc đầu chạy trước không có

nghĩa sẽ mãi mãi dẫn đầu. Nếu không tin có thể vào

các lớp ba, lớp bốn để điều tra, sự khác biệt về

thành tích học tập của các em có mối quan hệ nhân

quả với vấn đề có tham gia lớp học tiền tiểu học

hay không.

Những lời phân tích của tôi có thể đã làm chị động

lòng, chị nói, ừ, hình như đúng là như vậy, tại

sao lại như thế nhỉ?

Tôi nói, trong giáo dục đã có phát hiện như thế

này từ lâu, nếu trong quá trình học, trẻ em không

thông qua sự nỗ lực của mình để giải quyết một số

vấn đề, không cảm nhận được niềm vui của việc khắc

35

phục khó khăn, mà chỉ nhai đi nhai lại những cái đã

biết, sẽ khiến chúng trở nên lãnh đạm và có thái

độ khinh miệt đối với tri thức. Những em đã từng

học “lớp tiền tiểu học” sẽ nắm trước được một số

kiến thức so với các em khác; vậy thì các em sẽ

không có cảm giác mới mẻ, hứng thú phát hiện cái

mới, khắc phục khó khăn. Các em rất dễ trở nên nông

nổi, không chăm chỉ trong học tập. Người lớn tưởng

rằng học lại một lần những cái đã học, cái gốc của

con trẻ sẽ chắc hơn, thực tế lại thường không như

vậy.

Hơn nữa, do trình độ của đội ngũ giáo viên ở các

lớp tiền tiểu học khá kém, hầu hết giáo viên có tố

chất không cao, phương pháp dạy học không phù hợp,

dễ gây ảnh hưởng tiêu cực cho con trẻ, khiến trẻ

36

chán học, dễ khiến trẻ mất hứng thú đối với chuyện

học, thậm chí nảy sinh tâm lý sợ hãi. “Hứng thú

chính là thiên tài”, trong học tập có sự “thông

minh” hoặc “chạy trước” nào địch được với hai chữ

“hứng thú” này? Chính vì vậy, “thái độ học tập” và

“hứng thú học tập” mới là những thứ quý giá nhất,

mới là “nền móng” quan trọng nhất, tiềm năng và trí

tuệ mà trẻ thể hiện trong tương lai cũng bắt nguồn

từ hai phương diện này; và cách giáo dục muốn mau

chóng thành công lại biến trẻ thành một quả pháo

hoa, chỉ có thể rực rỡ trong thời gian rất ngắn.

Xem ra những gì tôi nói đã ảnh hưởng thực sự đến

người bà con, chị nói, lúc đầu suy nghĩ của chị

cũng rất đơn giản, không có ý định để cho con học

được bao nhiêu kiến thức trong lớp tiền tiểu học,

37

chỉ có điều học ở trường mầm non là chơi, ở lớp

tiền tiểu học cũng là chơi, lớp tiền tiểu học ít

nhiều gì thì cũng còn học được một số thứ, học được

bao nhiêu hay bấy nhiêu. Hiện giờ xem ra, kể cả là

nghĩ như vậy, cũng không cần thiết phải cho con

theo học ở lớp tiền tiểu học nữa ư?

Suy nghĩ ban đầu này của chị quả thực rất phổ

biến. Có lẽ rất nhiều phụ huynh cũng nghĩ như vậy.

Cho rằng lớp tiền tiểu học “ít nhiều cũng học được

một số thứ”. Suy nghĩ này bao hàm một sự ngộ nhận

rất điển hình trong giáo dục hiện nay, đó chính là

coi nhẹ quyền chơi đùa của trẻ. Coi chơi đùa là cái

vô giá trị, cho rằng chơi đùa có thể ít có thể

nhiều, có thể có có thể không, cho rằng “học kiến

thức” là có giá trị, học bao giờ cũng tốt hơn là

38

không học. Những bậc phụ huynh có quan điểm này

không biết rằng, đối với những đứa trẻ đang còn non

nớt, sự trưởng thành về trí tuệ không phải được

tiến hành trước bàn học, mà nằm trong quá trình

chơi.

Trong cuốn sách Emile của mình, Jean-Jacques

Rousseau đã đề ra một nguyên tắc giáo dục “táo bạo

nhất, quan trọng nhất và hữu dụng nhất”, tức trong

việc học tập của trẻ giai đoạn đầu, “Không những

không nên tranh thủ thời gian, mà còn buộc phải để

thời gian trôi qua một cách thoải mái”(1). Điều mà

ông nhấn mạnh là, cần phải để con trẻ được chơi trò

chơi một cách thoải mái, phản đối việc dùng thời

gian học để lấp kín thời gian chơi trò chơi của

trẻ. Đối với việc dạy học ở lớp tiền tiểu học hiện

39

nay, cho dù bạn có đặt ra yêu cầu học tập đối với

trẻ hay không, chỉ cần đưa trẻ vào lớp tiền tiểu

học, môi trường này sẽ tước đoạt quyền chơi đùa của

trẻ.

__________________

(1) Vasyl Olexandrovych Sukhomlynsky, Lời kiến

nghị với các nhà giáo, Đỗ Điện Khôn dịch, NXB Khoa

học giáo dục, tái bản lần thứ nhất tháng 6-1984,

tr.323.Trẻ em tuổi càng nhỏ, tính cấp bách của

giáo dục vỡ lòng càng lớn, càng cần phải có một môi

trường phát triển trí tuệ tốt. Thời gian vàng phát

triển trí tuệ của trẻ bị cướp đi một năm, sau này

không biết sẽ có bao nhiêu tổn thất. Tâm lý học cho

rằng thời kỳ tốt nhất để phát triển trí tuệ của

trẻ em là trước sáu tuổi, xét về ý nghĩa này “thời

40

gian thực sự là vàng là bạc”, làm sao chúng ta có

thể biến quãng thời gian quý như vàng này thành một

thanh sắt rỉ. Cho dù chỉ là chơi đùa thuần túy

không phải học gì hết, cũng tốt hơn là việc “học

trước” đi ngược lại với bản tính của trẻ.

Trên thực tế, vấn đề tồn tại ở các lớp tiền tiểu

học hiện nay đã bắt đầu được mọi người chú ý, vài

năm gần đây các địa phương thi nhau xóa bỏ lớp tiền

tiểu học. Thành phố Bắc Kinh đã ra công văn, quyết

định sẽ từng bước xóa bỏ lớp tiền tiểu học trước

năm 2010. Quyết định này rất tốt, nhưng không hiểu

sao phải tiến hành chậm như vậy, có lẽ là do có quá

nhiều vấn đề lợi ích dính dáng vào chăng.

Đầu năm 2008, một tờ báo ở Bắc Kinh đã phối hợp

với một kênh giáo dục Internet nổi tiếng tiến hành

41

một cuộc điều tra, kết qua cho thấy, trong vấn đề

có nên học lớp tiền tiểu học hay không, chỉ có mười

tám phần trăm phụ huynh cho rằng “không cần thiết

phải học”, và trên năm mươi phần trăm phụ huynh cho

rằng nên cho con theo học lớp tiền tiểu học - con

số này quả là rất lớn, có thể tưởng tượng, đằng sau

nó, là một thị trường béo bở biết bao.

Hiện tại không chỉ mỗi trường tiểu học mới mở lớp

tiền tiểu học, một số nơi khác như cung thiếu nhi,

cơ sở dạy thêm tư thục cũng tổ chức. Tiểu học hóa

trường mầm non, đây thậm chí đã trở thành “nét đặc

sắc” của rất nhiều trường mầm non, những trường mầm

non này, khi nói đến thế mạnh của trường mình, sẽ

lấy các nội dung như “dạy học song ngữ”, dạy nhận

biết mặt chữ, toán học... làm trọng điểm để tuyên

42

truyền.

Mệnh lệnh hành chính có thể khiến lớp tiền tiểu

học hiện nay biến mất, nhưng có thị trường như thế

này, chắc chắn nó sẽ xuất hiện những biến chủng

mới, diện mạo mới. Trong lúc chính quyền thành phố

Bắc Kinh quyết định từng bước xóa bỏ lớp tiền tiểu

học, trường dạy thêm nổi tiếng của thành phố

“Trường học Vĩ Nhân” lại bắt đầu quảng cáo tuyển

sinh “lớp tiền tiểu học bán trú”, qua danh mục các

môn học mà họ cung cấp có thể thấy, cũng là lấy

việc học văn hóa làm nội dung chính. Kế hoạch PR

của trường học này thực hiện rất tốt, họ luôn nắm

bắt được trái tim của phụ huynh.

Giáo dục vỡ lòng có thể khiến con trẻ trở thành

thiên tài, trong khi việc “học trước” không thích

43

hợp chỉ có thể biến trẻ thành kẻ bất tài. Mục đích

của việc phản đối “lớp tiền tiểu học”, là muốn trả

lại cho trẻ chương trình giáo dục tốt trước khi đi

học.

Sau cuộc nói chuyện dài qua điện thoại với người

họ hàng, cuối cùng đã khiến chị tin rằng không nên

cho con theo học lớp tiền tiểu học, tôi cảm nhận

được sự hài lòng của chị, tâm trạng rất vui, điều

này cũng khiến tôi rất vui.

Vừa cúp máy, tôi lại nhận được một cú điện thoại

của một người bà con khác.

Người bà con này gọi điện đến để trách tôi.

Hồi đầu tôi cũng tư vấn cho chị vấn đề không nên

cho con theo học lớp tiền tiểu học, tôi nói với chị

rằng không nên học, đồng thời khuyên chị nên mua

44

nhiều sách, bồi dưỡng cho con niềm say mê đọc sách.

Hiện giờ con chị đã lên lớp ba. Nghe chị nói cậu

bé này chữ viết không đẹp, làm bài tập cẩu thả;

suốt ngày chỉ thích đọc sách. Giọng chị tỏ ý phàn

nàn vì không cho con theo học lớp tiền tiểu học,

không học viết chữ trước; nói con hàng xóm nhà chị

học lớp tiền tiểu học, tạo được nền móng tốt, chữ

viết đẹp hơn chữ con chữ, học giỏi hơn con chị.

Tôi hỏi kỹ lưỡng tình hình của con chị và hỏi cả

vấn đề chị gần gũi, chuyện trò với con như thế nào,

trong lòng về cơ bản đã hiểu ra vấn đề.

Phụ huynh hễ sốt ruột là liền quy kết không đúng,

giống như một người không may giẫm chân xuống một

rãnh nước, nhưng lại trách tất đi không đúng màu.

Tôi rất hiểu sự sốt ruột của chị, cũng muốn giúp

45

chị thật lòng, chính vì thế buộc phải phê bình chị.

Tôi nói, hiện giờ con trẻ không thích học, làm bài

tập không cẩn thận, đây không phải là vì không

theo học lớp tiền tiểu học, mà vì kể từ khi cháu

vào lớp một, chị đã quá coi trọng chuyện làm bài

tập, thi cử. Chị quá căng thẳng trong những vấn đề

này, luôn nghiêm khắc phê bình con, khiến con cảm

thấy gánh nặng về tinh thần quá lớn, nảy sinh tâm

lý phản kháng. Điểm này chị cần phải thay đổi.

Người họ hàng này vẫn nói với giọng đầy trách móc

rằng, tôi cảm thấy nó không được đặt nền móng tốt,

không hào hứng với việc học, từ sáng đến tối chỉ

thích đọc sách linh tinh, kiếm được một tờ báo cũng

đọc cả nửa ngày. Trước đây chị nói với tôi rằng,

46

những đứa trẻ thích đọc sách sẽ làm văn hay; nhưng

nó không thích làm văn, cũng không thích viết nhật

ký, nói chung là không thích viết chữ.

Tôi nói, con trẻ có niềm say mê đọc sách và cái

gốc như vậy, đáng lẽ phải thích làm văn, biết cách

làm văn, hiện giờ chỉ là quá sợ vì những lời chỉ

trích thường xuyên của chị. Hơn nữa chị không hiểu

được giá trị của việc đọc sách, khi nói đến chuyện

con thích đọc sách, giọng chị tỏ ra chán chường và

bất lực. Trên thực tế, con trẻ thích đọc sách, sẽ

tốt hơn rất nhiều so với việc học ba lớp tiền tiểu

học, đáng lẽ chị phải thấy may mắn vì điều đó mới

phải.

Người bà con nói, thành tích học tập của nó không

bằng những đứa đã từng theo học lớp tiền tiểu học,

47

đây là thực tế rất rõ ràng.

Tôi hỏi, chị đã bao giờ điều tra chưa, trong lớp

cháu có bao nhiêu em đã từng học lớp tiền tiểu học,

có bao nhiêu em không học; có phải là tất cả những

em đã từng học đều có thành tích tốt hơn những em

không học không? Những em đi học lớp tiền tiểu học

mà thành tích tụt hậu là vì sao? Những em không đi

học mà học vẫn giỏi là vì sao?

Chị không trả lời được.

Tôi nói, thành tích cao hay thấp là một vấn đề khá

phức tạp, không thể do một nhân tố đơn lẻ nào đó

gây ra. Hiện nay con chị đã học lớp ba, tôi có thể

khẳng định, nếu con chị trước đó có đi học lớp tiền

tiểu học, trong khi các nhân tố giáo dục khác xung

quanh trẻ không thay đổi, thì tình hình của cháu

48

cũng sẽ vẫn như hiện nay thôi. Cũng còn may là cháu

thích đọc sách, có được nền móng như vậy, chỉ cần

bố mẹ và giáo viên không làm cháu mất tự tin, không

ngăn cản việc đọc sách của cháu, thế mạnh của cháu

dần dần sẽ bộc lộ ra.

Tôi lại phân tích thêm rằng, vấn đề hiện nay của

con trẻ rõ ràng là thiếu hứng thú học tập và thiếu

sự tự tin. Chính vì thế, muốn thay đổi tình hình

này chỉ có thể bắt tay từ việc tạo cho trẻ niềm

hứng thú và sự tự tin, phương pháp quan trọng nhất

là, bố mẹ không nên suốt ngày chỉ phê bình, càu

nhàu và can thiệp vào việc học của con trẻ, cần

khích lệ và khen ngợi trẻ.

Thấy tôi nói như vậy, người bà con này cuối cùng

đã nói từ nay sẽ phải chú ý phương pháp giáo dục

49

con, không nên thô bạo như vậy nữa. Nhưng tôi cũng

cảm nhận được rằng chị không tự tin vào mình và

con. Nghĩ đến việc muốn cải thiện phương pháp giáo

dục, bố mẹ phải bắt đầu từ những việc cụ thể và các

chi tiết nhỏ, tôi dặn đi dặn lại người bà con này

rằng, gặp vấn đề cụ thể nếu không biết phải làm thế

nào, chị cứ gọi điện thoại cho em để bàn bạc. Tôi

nghĩ đây là biện pháp trực tiếp nhất mà mình có thể

giúp chị.

Tôi rất muốn đưa ra những lời kiến nghị cho các

bậc phụ huynh khác, tuy nhiên, có rất nhiều cái,

buộc phải để bố mẹ tự mình suy nghĩ, lý giải. Ví dụ

chuyện có nên theo học lớp tiền tiểu học hay

không.

Lưu ý đặc biệt

50

Bàn học đã hạn chế sự tự do của trẻ, nội dung học

mang tính khép kín đã trói buộc trí tưởng tượng của

trẻ, phương thức dạy học đã đi ngược lại với bản

tính của trẻ, những bài tập vô vị đã làm trẻ mất đi

lòng nhiệt tình đối với việc học - đó là một cách

học mang tính vụ lợi, mang tính nô dịch, nó khiến

trẻ cách xa huấn luyện trí tuệ, đi về mặt trái của

“giáo dục trí tuệ”, là hành vi phản giáo dục trí

tuệ, cùng lắm nó chỉ được gọi là “học trước”, chứ

không thể gọi là “giáo dục vỡ lòng”.

Cho rằng lớp tiền tiểu học “ít nhiều cũng học được

một số thứ”. Suy nghĩ này bao hàm một sự ngộ nhận

rất điển hình trong giáo dục hiện nay, đó chính là

coi nhẹ quyền chơi đùa của trẻ. Coi chơi đùa là cái

vô giá trị, cho rằng chơi đùa có thể ít có thể

51

nhiều, có thể có có thể không, cho rằng “học kiến

thức” là có giá trị, học bao giờ cũng tốt hơn là

không học. Những bậc phụ huynh có quan điểm này

không biết rằng, đối với những đứa trẻ đang còn non

nớt, sự trưởng thành về trí tuệ không phải được

tiến hành trước bàn học, mà nằm trong quá trình

chơi.

Giáo dục vỡ lòng có thể khiến con trẻ trở thành

thiên tài, trong khi việc “học trước” không thích

hợp chỉ có thể biến trẻ thành kẻ bất tài. Mục đích

của việc phản đối “lớp tiền tiểu học” là muốn trả

lại cho trẻ chương trình giáo dục tốt trước khi đi

học.

Bài tập bạo lực chính là “tai nạn giáo dục”

Bài tập bạo lực có ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tự

52

tin, ý chí, phẩm chất đạo đức của trẻ em. Tác dụng

xấu của nó không đơn giản như mặc thừa một chiếc áo

thì hơi nóng, ăn thêm một cái bánh thì quá no. Nó

có thể làm thay đổi trạng thái của sự việc, khiến

con trẻ mắc một căn bệnh mãn tính gọi là “chán

học”, làm chúng mất đi chí tiến thủ, nuốt chửng

tính sáng tạo, xóa đi cảm giác hạnh phúc của chúng,

trong đó “tính bạo lực” thậm chí còn có thể phá

hoại đạo đức của trẻ.

Người ta luôn cho rằng, bài tập mà giáo viên bố

trí đều là đúng đắn, đều cần thiết cho việc học,

học sinh đều phải hoàn thành nghiêm túc. Thực tế

là, hiện nay con trẻ phải làm quá nhiều bài tập

không hiệu quả. Đâu chỉ mỗi không hiệu quả, mà còn

phản tác dụng. Những bài tập này thật sự vô vị, nó

53

làm trẻ mất hứng thú trong việc học, gây trở ngại

cho sự phát triển trí tuệ của trẻ, trở thành những

thứ phản giáo dục. Tôi gọi loại bài tập này là “bài

tập bạo lực”.

Bài tập bạo lực chủ yếu gồm ba loại sau.

Loại thứ nhất là số lượng lớn.

Xin hãy nhìn một lần bài tập ngữ văn rất bình

thường của một em học sinh lớp một. Năm chữ mới

cộng với phiên âm, mỗi chữ viết hai mươi lần, vở A,

B mỗi cuốn viết một lần, tổng cộng phải viết hai

trăm phiên âm, hai trăm chữ Hán. Ngoài ra còn đặt

ba câu. Nếu ngày đầu tiên trong vở viết chữ mới có

chữ viết sai, lại phải viết ba dòng chữ viết sai đó

nữa, tức là viết sai một chữ sẽ phải viết thêm ba

mươi phiên âm, ba mươi chữ Hán, ngày đầu tiên sai

54

hai chữ, thì phải viết sáu mươi phiên âm, sáu mươi

chữ Hán - đây chỉ là bài tập môn ngữ văn. Bài tập

môn toán, tiếng Anh cũng không ít, về số lượng

không hề kém chút nào. Thử nghĩ xem một buổi tối

trẻ phải viết bao nhiêu thời gian trong khi trẻ mới

học lớp một.

Loại thứ hai là mang tính trừng phạt.

Tôi đã từng nhìn thấy bài kiểm tra môn ngữ văn của

một em học sinh lớp tám, trên đó có một số chỗ

sai, bài tập của ngày hôm đó là sửa lại cho đúng

tất cả những chỗ sai trong bài kiểm tra, mỗi đáp án

đúng phải viết hai mươi lần. Ví dụ một chữ viết

không đúng, phải viết lại hai mươi lần chữ này, thế

vẫn còn là tốt, nếu giải thích sai một thành ngữ,

thì phải viết lại thành ngữ này hai mươi lần. Ví dụ

55

trong một đoạn văn mà giáo viên đọc cho học sinh

chép có hai câu trở lên không viết đúng, hoặc viết

sai năm chữ trở lên, thì bị coi là sai toàn bộ,

phải chép lại đoạn văn này hai mươi lần.

Lượng bài tập của những học sinh có điểm cao và

học sinh có điểm thấp cách biệt nhau rất lớn. Rõ

ràng, dụng ý của giáo viên là để học sinh biết, làm

bài không tốt, sẽ không được yên thân.

Thứ ba là sự đánh giá ác ý.

Khi Viên Viên học cấp hai, một cô giáo tiếng Anh

của cô bé, mỗi lần kiểm tra từ mới, chỉ cần học

sinh viết sai một từ, liền cho “0” điểm. Viên Viên

cũng không ít lần bị điểm 0. Có thể cô giáo muốn

thông qua cách này để học sinh biết rằng, nếu không

muốn ăn điểm 0 thì chỉ có thể giành 100 điểm. Đây

56

lẽ nào không phải là một lối tư duy rất nực cười

hay sao? Nhà giáo dục người Liên Xô Vasyl

Olexandrovych Sukhomlynsky nói: “Chỉ khi mối quan

hệ giữa giáo viên và học sinh được xây dựng trên

nền tảng tin tưởng lẫn nhau và có ý tốt, việc cho

điểm mới có thể trở thành yếu tố kích thích, thúc

đẩy học sinh tích cực lao động trí óc”(1). Kiểu

đánh giá ác ý này chỉ khiến cho học sinh càng không

nghiêm túc trong bài kiểm tra. Học sinh phát hiện

ra rằng, bài kiểm tra kiểu này, viết sai một từ mới

và chỉ viết đúng một từ mới có số điểm như nhau,

mọi người cũng không còn quan tâm đến việc đúng mấy

từ hoặc sai mấy từ nữa.

_________________

(1) Jean-Jacques Rousseau, Emile, Lý Bình Âu dịch,

57

NXB Giáo dục nhân dân, tái bản lần thứ nhất tháng

5-2001, tr.93 (Bản dịch tiếng Việt Jean-Jacques

Rousseau, Emile hay là về giáo dục Lê Hồng Sâm,

Trần Quốc Dương dịch, Bùi Văn Nam Sơn giới thiệu,

NXB Tri thức, xuất bản tháng 7 -2008, 692 trang).

Ba kiểu bài tập bạo lực này thường đi liền với

nhau, giống như ba thói tham lam, ích kỷ, đố kỵ

thường song hành với nhau vậy. Nó không những khiến

trẻ đau khổ trong cuộc sống hiện tại, mà còn phá

hoại niềm hứng thú và ý chí học tập của trẻ, ảnh

hưởng tiêu cực đến tình cảm, thái độ học tập của

trẻ trong suốt cuộc đời.

Mỗi đứa trẻ trong giai đoạn mới đi học đều vô cùng

mong đợi cuộc sống nhà trường, đầy sự hiếu kỳ và

khát vọng đối với việc học, bạn hãy nhìn xem, giai

58

đoạn đầu, khi mới tiếp xúc với từ “bài tập”, chúng

tỏ ra phấn chấn và tự hào biết bao, người lớn không

cho chúng viết cũng không được. Tuy nhiên, chẳng

mấy chốc, chúng bắt đầu tỏ ra chán ghét - một số

chữ đã biết cách viết từ lâu, nhưng vẫn phải viết

hết lần này đến lần khác, vừa không có thời gian

chơi, cũng không được đi ngủ sớm. Dù viết cẩn thận

đến đâu, cũng vẫn phải có chỗ sai, sai rồi thì bị

cô giáo phạt viết nhiều hơn, một chữ thậm chí phải

viết một trăm lần… Cái gọi là “học tập” dường như

lúc nào cũng cố tình gây khó dễ cho chúng. Trái tim

nhỏ bé của chúng bắt đầu oán hận học tập, chúng

bắt đầu chán ghét học hành.

Chán ghét là kẻ thù hung ác nhất, đáng sợ nhất gặp

phải trong quá trình học tập, bài tập bạo lực

59

chính là phương tiện giao thông nhanh nhất đưa kẻ

thù này đến với con trẻ. Một thực tế khiến người ta

phải đau lòng là, rất nhiều giáo viên đã vận dụng

rất thành thạo “phương tiện giao thông” này, họ

tưởng rằng mình đang vận chuyển tri thức đến với

con trẻ mà không biết trên cỗ xe đó đang chở “kẻ

thù”. Và lúc này lại có không ít phụ huynh đứng ở

bên để giúp đỡ, bắt ép con trẻ tiếp nhận các loại

bài tập bạo lực này, khiến con trẻ càng thêm chán

học.

Có hai nguyên nhân trực tiếp khiến một số giáo

viên và phụ huynh yêu thích bài tập bạo lực.

Một là trong đầu óc họ có một kiểu logic, ở đây

tôi không hề khách khí mà gọi kiểu logic này là

“logic ngớ ngẩn” - cho rằng viết nhiều sẽ học được

60

nhiều kiến thức. Họ cho rằng một chữ nếu viết hai

mươi lần sẽ tốt hơn là viết hai lần, một câu làm

năm lần sẽ tốt hơn là làm một lần. Đây thật sự là

coi học tập - một hoạt động trí tuệ phức tạp như

việc mài kim vậy. Họ không biết rằng, nhận thức của

đại não là một quá trình kỳ diệu, có quy luật

riêng của nó, trong đó sự tham gia của tình cảm có

một vai trò vô cùng quan trọng. Chính vì thế làm

bài tập không phải càng nhiều càng tốt, mà là phù

hợp mới tốt. Chắc chắn chúng ta từng có có trải

nghiệm rằng, một chữ viết ba lần vẫn chưa nhớ, viết

đến ba mươi lần có thể sẽ cảm thấy càng viết càng

không đúng.

Những giáo viên và phụ huynh mang theo kiểu logic

ngớ ngẩn đó đều không hiểu rằng phải dùng các

61

phương pháp khác nhau để kích thích niềm hứng thú

học tập của trẻ, chỉ biết dùng một khối lượng bài

tập nặng nhọc để cố định cơ thể trẻ vào bàn ghế; họ

không biết hậu quả của việc làm này là trong lòng

trẻ sẽ xảy ra một phản ứng hóa học, sẽ sinh ra một

chất gọi là “chán học”.

Nguyên nhân thứ hai là tâm lý muốn nhanh chóng gặt

hái được thành công của giáo viên. Tôi đã từng

được tiếp xúc với một số giáo viên dạy ngữ văn ở

trường tiểu học nọ. Một cô giáo khi bố trí bài tập

viết chữ mới cho học sinh, luôn bắt học sinh phải

tách một chữ hoàn chỉnh ra thành mấy phần để viết,

ví dụ chữ “语” (ngữ), trước hết là viết một dòng “讠”

(ngôn), sau đó là viết một dòng “五” (ngũ), cuối

cùng là viết một dòng “口” (khẩu), cuối cùng ghép

62

thành một chữ “语”, viết hai dòng. Phiên âm cũng

tách thành ba phần thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu,

sau đó lại gộp lại để viết - chỉ một chữ này mà

tổng cộng viết thành chín dòng. Cô làm như vậy,

thực sự trong thời gian ngắn có thể khiến cho học

sinh nhớ được những chữ mà mình viết, trong bài

kiểm tra sẽ đạt thành tích tốt, khiến phụ huynh rất

phấn khởi. Trong khi một cô giáo khác lại tổ chức

hoạt động đọc sách trong lớp, hàng ngày giao rất ít

bài tập, để học sinh về nhà đọc sách, trong quá

trình đọc, học sinh vừa nâng cao được trình độ ngữ

văn, đồng thời lại cảm thấy vui vẻ. Cách làm của cô

cho dù là bảo vệ niềm hứng thú của học sinh, hay

nâng cao lực học, đều có ảnh hưởng tốt và lâu dài.

Nhưng vì đề thi mà nhà trường ra đều chỉ kiểm tra

63

nội dung trong sách, về cơ bản đều là những kiến

thức học thuộc lòng, điểm thi của học sinh lớp “cô

giáo chú trọng đọc sách” thường kém hơn “cô giáo

tách chữ”. Ngoài sức ép từ phía nhà trường, còn có

sức ép từ phía phụ huynh.

Một số phụ huynh đã đóng góp ý kiến với “cô giáo

chú trọng đọc sách” là giao bài tập quá ít và để

học sinh về nhà đọc nhiều sách lãng phí thời gian.

Cô giáo này vẫn cố gắng chịu sức ép và tiếp tục làm

như vậy. Học sinh của cô ở giai đoạn đầu của bậc

tiểu học không thấy được điểm gì nổi bật, đến những

năm trên của tiểu học, đặc biệt là trong các bài

kiểm tra kiến thức từ cấp một lên cấp hai, vượt

trội hơn hẳn so với những học sinh chỉ chúi đầu vào

học sách giáo khoa. Cô nói đã tiến hành cuộc điều

64

tra với một số học sinh của mình, những học sinh mà

cô dạy đều có lực học khá tốt trong giai đoạn học

trung học cơ sở, gần như không có cái gọi là “học

sinh cá biệt”. Trong khi thành tích của các học

sinh do “cô giáo tách chữ” dạy lại rất mông lung,

sau này gặp rất nhiều vấn đề, không ít học sinh lên

đến khối lớp lớn của bậc tiểu học đã tỏ ra chán

học, sau khi vào trung học cơ sở, các yếu tố như

thành tích học tập, phẩm chất đạo đức, sự phát

triển về tâm lý đều xuất hiện không ít vấn đề. Kết

quả điều tra càng khiến cô vững tin hơn. Tuy nhiên

cô cũng phải than thở rằng, sau khi bước vào trung

học cơ sở, thành tích học tập của học sinh cao hay

thấp, có hứng thú với việc học hay không, ai quy

công cho cô giáo tiểu học? Người ta chỉ nói một đứa

65

trẻ nào đó càng ngày càng hiểu biết hoặc càng ngày

càng không hiểu biết. Người ta chỉ có thể nghĩ

rằng, sau khi vào trung học cơ sở trẻ gặp được cô

giáo tốt, hoặc gặp phải cô giáo kém.

Tôi cũng đã từng nói chuyện với “cô giáo tách

chữ”, không phải cô giáo này không biết những mặt

xấu khi cô làm như vậy. Cô nói, đằng nào thì tôi

cũng chỉ dạy các em mấy năm mà thôi, những năm đó

thành tích học tập của các em cao hơn lớp khác là

được rồi, sau này thế nào, đó không phải là việc

của tôi nữa. Cô giáo bắt học sinh uống thuốc độc

giải khát trong quá trình giảng dạy này là “giáo

viên giỏi” của trường, phụ huynh luôn thi nhau tìm

đủ mọi cách để đưa con vào lớp cô. Cái mà mọi người

nhìn thấy là, trong thời gian cô giảng dạy, số học

66

sinh trong lớp đạt 100 điểm môn ngữ văn thường

vượt quá nửa lớp.

Hai nguyên nhân gây ra bài tập bạo lực đã phản ánh

lên hai vấn đề vĩ mô trong giáo dục hiện nay ở

Trung Quốc, một là vấn đề định hướng đánh giá giảng

dạy; hai là vấn đề tố chất giáo viên. Tôi cho rằng

đây là hai vấn đề then chốt trong công tác cải

cách giáo dục hiện nay ở Trung Quốc để giải quyết

hàng loạt vấn đề. Nhưng hiện nay mọi trách nhiệm

đều đổ cho “thi đại học”, thi đại học đã trở thành

tội đồ gây ra mọi vấn đề trong giáo dục; và mọi cái

gọi là “cải cách giáo dục” đều chỉ là bình mới

rượu cũ, hoặc là đau đâu chữa đó - đây là một chủ

đề rất lớn, không thể mang ra bàn luận ở đây.

Nếu con trẻ gặp phải bài tập bạo lực, nhưng lại

67

không nói với phụ huynh, không tìm kiếm sự giúp đỡ

từ phía phụ huynh, thì vẫn cần tìm nguyên nhân từ

phía phụ huynh.

Có một học sinh lớp bảy vì nghịch ngợm trong giờ

học, bị cô giáo phạt chép bài khóa mười lần, cậu bé

này liền chép mười lần bài khóa trong một buổi

tối. Con trẻ thà chịu phạt còn hơn là nói với bố

mẹ, đây có thể là do trẻ linh cảm trước được thái

độ của bố mẹ. Nếu bình thường gặp chuyện gì đó, bố

mẹ không tỏ ra thông cảm, thấu hiểu con trẻ, phê

bình trẻ một cách tùy ý, tôn sùng một cách mù quáng

phương pháp giảng dạy của nhà trường, vậy thì dựa

vào trực giác của mình, trẻ sẽ nghĩ rằng, nói với

bố mẹ cũng bằng không, không những không giải quyết

được vấn đề, mà có thể còn bị ăn mắng, chết trâu

68

lại mẻ thêm rìu. Con trẻ phải chịu đựng bài tập bạo

lực, một buổi tối trẻ phải chép xong mười lần bài

khóa, ngày hôm sau vẫn đi học bình thường, dường

như không có chuyện gì xảy ra, không bị thiếu cái

gì cả. Thậm chí có bậc phụ huynh sau khi biết được

chuyện này còn thấy mừng, tưởng rằng con mình chép

nhiều bài khóa tức là được học nhiều hơn người

khác. Họ không nhìn thấy con trẻ đã bị tổn thương ở

bên trong, thậm chí suốt đời vết thương không bao

giờ lành được.

Bài tập bạo lực có ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tự

tin, ý chí, phẩm chất đạo đức của trẻ em. Tác dụng

xấu của nó không đơn giản như mặc thừa một chiếc áo

thì hơi nóng, ăn thêm một cái bánh thì quá no. Nó

có thể làm thay đổi cả trạng thái của sự việc,

69

khiến con trẻ mắc một căn bệnh mãn tính gọi là

“chán học”, làm chúng mất đi chí tiến thủ, nuốt

chửng tính sáng tạo, xóa đi cảm giác hạnh phúc của

chúng, trong đó “tính bạo lực” thậm chí còn có thể

phá hoại đạo đức của chúng. Chính vì thế nó không

phải là chuyện nhỏ, mà là “tai nạn giáo dục”.

Một điều khiến người ta đau lòng là những tai nạn

này đang ngày ngày xảy ra trên khắp cả nước. Chỉ

cần nói chuyện với các em học sinh cấp bậc phổ

thông và phụ huynh của chúng, sẽ phát hiện ra rằng

“tai nạn” không những nhiều, mà nguyên nhân để xảy

ra tai nạn cũng rất đa dạng, thực sự khiến người ta

phải hãi hùng.

Nhiều năm trở lại đây, trẻ em có gặp bài tập bạo

lực hay không, hoàn toàn dựa vào sự may mắn, xem

70

trẻ gặp phải những giáo viên như thế nào. Chỉ cần

các giáo viên này không thích bài tập bạo lực cũng

đã là may mắn lắm rồi.

Hàng năm chính phủ Trung Quốc rót nguồn kinh phí

khổng lồ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học giáo

dục. Các trường sư phạm, viện nghiên cứu khoa học

giáo dục không ngừng triển khai các đề tài nghiên

cứu khoa học, hiện giờ các trường tiểu học và trung

học cũng “nghiên cứu khoa học”, dường như giới

giáo dục đều đang chuyên tâm nghiên cứu các vấn đề.

Tại sao lại không có ai quan tâm đến sự việc cụ

thể, bức xúc như vậy? Một người bạn thời trung học

phổ thông của tôi là giáo viên dạy giỏi ở một

trường tiểu học, từng đạt danh hiệu nhà giáo ưu tú

cấp quốc gia nói rằng, kinh nghiệm công tác bao năm

71

của tôi cho thấy, con trẻ viết chữ mới, mỗi chữ

viết ba lần là hiệu quả nhất. Một kinh nghiệm đơn

giản và hữu hiệu biết bao - tôi cho rằng đây mới là

“thành quả học thuật” - nếu được phổ biến rộng ra,

cả nước sẽ có bao nhiêu học sinh được giảm bớt

gánh nặng bài tập về nhà, thậm chí từ đó mà trở nên

thích học. Dường như nó đơn giản đến mức không có

bất kỳ hàm lượng kỹ thuật nào, nhưng trên thực tế

lại bao hàm một hệ thống lý luận giáo dục học, tâm

lý học và khoa học nhận thức rất hoàn thiện. So với

những “thành quả nghiên cứu khoa học” hoàn toàn

không có quan hệ gì với cuộc sống nhà trường được

in trong những cuốn sách dày, kinh nghiệm của nhà

giáo ưu tú này thật đơn giản, bình dị, nhưng lại

giá trị biết bao. Chỉ tiếc rằng, thành quả không

72

được phổ biến rộng rãi, người được hưởng lợi quá

ít.

Còn cơ quan hành chính giáo dục luôn dùng “tư

tưởng hành chính” để quản lý nhà trường, rất ít khi

xem xét đến việc dùng “phương châm khoa học giáo

dục” để phục vụ nhà trường. Điều này khiến cho một

số biện pháp hành chính giáo dục không những không

đạt được kết quả gì, mà còn trở thành gánh nặng mới

cho giáo viên và học sinh. Năm 2007 tôi đọc trên

báo thấy nói rằng một cơ quan hành chính giáo dục

nọ đã cho ra đời phương án “giảm bớt gánh nặng” cho

học sinh tiểu học, yêu cầu cặp sách, ba lô đi học

của học sinh tiểu học không được vượt quá ba

kilôgam. Họ đưa thông báo đến nhà trường, đồng thời

cử nhân viên xuống các trường để kiểm tra. Điều

73

này khiến học sinh đành phải nghĩ cách đối phó,

trước hết là đeo chiếc cặp nặng hai kilôgam vào lớp

rồi đặt xuống, sau đó lại ra cổng trường đón lấy

một chiếc ba lô nặng hai phảy năm kilôgam vào nữa.

Thực ra “giảm bớt trọng lượng cặp sách cho học

sinh” là một cách nói mang tính ví von, “cặp sách”

ở đây chỉ là một sự tượng trưng cho học tập. Trọng

lượng thực tế của cặp sách và gánh nặng bài tập của

học sinh có một số mối liên hệ bề ngoài, nhưng

không có nghĩa là tương đương. Cần dùng suy nghĩ và

phương châm để thực hiện chương trình “giảm bớt

gánh nặng”, làm sao có thể dùng cái cân để thực

hiện? “Nếu giáo viên chỉ nghĩ đến việc làm thế nào

để bắt ép học sinh dành nhiều thời gian hơn cho

việc ngồi gặm sách giáo khoa, làm thế nào để có thể

74

kéo học sinh từ bỏ các hoạt động khác và chúi mũi

vào việc học, thì không thể tránh khỏi hiện tượng

gánh nặng quá nặng”(1). Câu nói này của Vasyl

Olexandrovych Sukhomlynsky đã cho chúng ta thấy

nguồn gốc và phương án giải quyết vấn đề gánh nặng

của học sinh quá nặng, tại sao không suy nghĩ vấn

đề từ đây.

_________________

(1) Vasyl Olexandrovych Sukhomlynsky, Lời kiến

nghị với các nhà giáo, Đỗ Điện Khôn dịch, NXB Khoa

học giáo dục, tái bản lần thứ nhất tháng 6-1984,

tr.37.

Ngăn ngừa và chấm dứt hiện tượng bài tập bạo lực ở

các mức độ khác nhau mới là hành động giảm bớt

gánh nặng quan trọng nhất. Coi bài tập bạo lực là

75

“tai nạn”, có thể khiến cho người ta nhìn thấy sức

phá hoại của nó, để mọi người đề cao cảnh giác.

Để ngăn chặn và chấm dứt tình trạng tai nạn lao

động xảy ra ở các ngành nghề khác nhau, chính phủ

Trung Quốc đã không ngừng xây dựng và ban hành các

tiêu chuẩn quản lý và thực thi những biện pháp

tương ứng như không được phép khai man tai nạn hầm

mỏ, đồng thời sẽ truy cứu trách nhiệm của những

người có liên quan. Nhưng hàng ngày cả nước xảy ra

bao nhiêu vụ tai nạn bài tập bạo lực, lại vẫn được

tồn tại một cách hợp lý, bình thường.

Ai sẽ là người vạch trần ra sự việc này, có bao

nhiêu người nghe thấy tiếng rên rỉ của hàng triệu

trẻ em? Nói nhẹ đi một chút, là nó sẽ phá hoại vĩnh

viễn lòng nhiệt tình và niềm hứng thú đối với học

76

tập của rất nhiều học sinh; nếu nói nặng hơn, là nó

đang ăn mòn và bóp méo tương lai của dân tộc và

quốc gia. Bao giờ mới có thể ban hành một bộ “biện

pháp” khoa học như thế này, để các em không phải

chịu sự bức hại của bài tập bạo lực?

Lưu ý đặc biệt

Dùng một khối lượng bài tập nặng để cố định cơ thể

trẻ vào bàn ghế. Hậu quả của việc làm này là trong

lòng trẻ sẽ xảy ra một phản ứng hóa học, sẽ sinh

ra một chất gọi là “chán học”.

Điều mà người phụ huynh tốt và người giáo viên tốt

cần chú ý nhất là tránh không để trẻ gặp kẻ thù

“chán ghét” này, chính vì thế điều họ dốc toàn bộ

công sức để làm là bảo vệ niềm hứng thú học tập cho

con trẻ.

77

Điều quan trọng nhất là bản thân phụ huynh phải có

nhận thức đúng đắn về bài tập bạo lực, nếu bạn

thường xuyên có ý thức, dày công bảo vệ niềm say mê

học tập của con trẻ, thì đương nhiên sẽ có biện

pháp đối phó với loại bài tập này.

Ngăn ngừa và chấm dứt hiện tượng bài tập bạo lực ở

các mức độ khác nhau mới là hành động giảm bớt

gánh nặng quan trọng nhất.

Không phải lỗi của trò chơi điện tử

Nếu một đứa trẻ chúi đầu vào trò chơi điện tử một

thời gian dài không chịu thoát ra, đến nỗi trở

thành bệnh hoạn, đó là vì thế giới bên ngoài trò

chơi điện tử khiến trẻ cảm thấy vô vị, không hấp

dẫn hoặc tự ti. Nếu một đứa trẻ vì trò chơi điện tử

mà để lỡ mất tiền đồ của mình, thì kể cả trẻ sống

78

trong thời đại không có máy tính điện tử cũng sẽ có

những thứ khác cám dỗ em. Tôi tin rằng cái khiến

người ta trở nên sa đọa không phải là bản thân trò

chơi điện tử, mà là sự trống trải trong tâm hồn,

hoặc thiếu một số tố chất nào đó. Những người sa

đọa trong trò chơi điện tử kể cả không có trò chơi

điện tử cũng sẽ có những cái khác khiến họ lún sâu

vào và không thể thoát ra.

Năm mười tuổi học lớp bảy, Viên Viên bắt đầu chơi

trò chơi điện tử trong máy tính, thường chơi đến

mức quên ăn quên ngủ, mỗi lần đến cuối tuần, chơi

mỗi lần bốn, năm tiếng đồng hồ, đến dịp nghỉ hè

nghỉ đông, mỗi lần có thể chơi liền bảy, tám tiếng

đồng hồ. Hai năm đó, tạp chí mà cô bé mua hầu hết

đều liên quan đến trò chơi điện tử, nói chuyện điện

79

thoại với bạn bè, cũng thường là những nội dung

liên quan đến trò chơi điện tử.

Cô bé chơi điện tử là do tôi xúi giục.

Khi còn đang học tiểu học ở Diêm Đài, bạn bè Viên

Viên chưa rộ lên phong trào chơi điện tử, cũng có

thể là do hồi đó số gia đình có máy tính chưa

nhiều, có thể do lúc đó các em còn quá nhỏ. Cô bé

biết chuyện này nhưng không hào hứng lắm. Đến khi

chuyển về Bắc Kinh học trung học cơ sở, phong trào

chơi điện tử bắt đầu rộ lên trong giới học sinh.

Một mặt, qua lời bạn bè Viên Viên biết trò chơi

điện tử rất thú vị, mặt khác lại nghe thấy quá

nhiều lời phê bình, chỉ trích trò chơi điện tử từ

phía báo chí, các bậc phụ huynh và nhà trường. Có

thể cô bé cũng có phần băn khoăn, cảm thấy mâu

80

thuẫn, nên không chủ động đòi chơi. Đến học kỳ hai

năm lớp bảy, tôi hỏi con gái rằng, có phải trong

lớp con có bạn đang chơi trò chơi điện tử không,

nếu con muốn con cũng có thể chơi. Cô bé hơi bất

ngờ, nhưng rồi vui vẻ đồng ý ngay, lập tức đi mua

đĩa trò chơi điện tử.

Suy nghĩ của tôi là, nếu trò chơi điện tử có thể

làm cho trẻ em say mê đến như vậy, chắc chắn trong

đó cũng chứa đựng niềm vui lớn. Con trẻ cũng cần

phải chơi gì đó, tôi muốn con gái tôi được vui vẻ,

có được niềm vui mà mỗi giai đoạn cần phải có. Bởi

hiện nay trẻ em rất ít bạn chơi, trò chơi cũng

nghèo nàn, đơn điệu, nếu không có chuyện gì thú vị

cho chúng làm, chắc chắn chúng sẽ đốt thời gian vào

việc xem ti vi. Thà để Viên Viên lãng phí thời

81

gian vào việc chơi điện tử, còn hơn là để cô bé

chúi đầu vào ti vi. Có quá ít chương trình thích

hợp với cô bé, xem ti vi lại hoàn toàn là sự tiếp

nhận bị động, xem thường xuyên sẽ khiến đại não con

người trì trệ; trò chơi điện tử lại là sự tham gia

chủ động, trong quá trình chơi mình phải đầu tư

trí tuệ; hơn nữa trò chơi điện tử có thể giúp cô bé

làm quen với máy tính. Một vấn đề khác nữa là, bạn

bè cùng trang lứa với Viên Viên đều đang chơi, nếu

cô bé không chơi, sẽ thiếu một chủ đề quan trọng

để giao lưu. Còn về chuyện có bé có nghiện hay

không, không phải là tôi không lo lắng, nhưng không

muốn vì sợ nghẹn mà bỏ cả bữa ăn. Nói tóm lại là

tôi có lòng tin, lòng tin này bắt nguồn từ sự nhận

thức của tôi đối với trò chơi điện tử và những gì

82

mà tôi hiểu về con gái.

Trò chơi điện tử cũng chính là trò chơi, không

phải là ma túy, về bản chất, nó không có gì khác

những trò chơi mà chúng ta chơi hồi nhỏ, chỉ có

điều trò chơi này thú vị hơn, phức tạp hơn. Thử

nghĩ mà xem, có trẻ em nào không nghiện trò chơi?

Hồi nhỏ chúng ta cùng bạn bè chơi đánh trận hoặc

chơi trốn tìm, thường xuyên mải chơi đến mức quên

về nhà ăn cơm, quên đi ngủ, mãi cho đến khi người

lớn đến, lôi cổ chúng ta về. Lúc đó chúng ta cũng

không muốn giải tán, thậm chí bị ăn một trận đòn

mới chịu về. Trong khi hiện nay con em chúng ta

không thể tìm được nhiều bạn bè để chơi ở dưới sân

khu chung cư, đành phải chơi với các bạn chơi ảo

trên máy tính. Chúng cũng sẽ thường chơi say sưa

83

đến mức quên thời gian, luôn cảm thấy chơi không

đủ. Hai cách chơi này không có gì khác nhau. Niềm

say mê trò chơi và “cơn nghiện” bệnh hoạn là hai

trạng thái khác nhau. Tôi tin rằng hầu hết chỉ là

say mê trò chơi, chỉ có một số ít trẻ sẽ phát triển

thành trạng thái nghiện. Nghe nói Diêu Minh(1)

cũng thích chơi game, ngoài ra còn có một số thanh

niên trẻ tuổi rất thành đạt trong sự nghiệp và học

hành cũng thích chơi game. Chính vì thế không phải

là bản thân trò chơi điện tử có vấn đề, mà do con

trẻ thiếu khả năng làm chủ mình, khiến sự việc trở

nên tồi tệ. Đây là một quan niệm mà trước hết bố mẹ

cần phải xác định.

________________

(1) Vasyl Olexandrovych Sukhomlynsky, Lời kiến

84

nghị với các nhà giáo, Đỗ Điện Khôn dịch, NXB Khoa

học giáo dục, tái bản lần thứ nhất tháng 6-1984,

tr.67.Nghiện trò chơi điện tử thực ra còn phản ánh

một vấn đề khác của con trẻ nằm ngoài trò chơi.

Nếu một đứa trẻ chúi đầu vào trò chơi điện tử một

thời gian dài không chịu thoát ra, đến nỗi trở

thành bệnh hoạn, đó là vì thế giới bên ngoài trò

chơi điện tử khiến trẻ cảm thấy vô vị, không hấp

dẫn hoặc tự ti. Một đứa trẻ nếu vì trò chơi điện tử

mà để lỡ mất tiền đồ của mình, thì kể cả trẻ sống

trong thời đại không có máy tính điện tử, cũng sẽ

có những thứ khác cám dỗ trẻ. Tôi tin rằng cái

khiến người ta trở nên sa đọa không phải là bản

thân trò chơi điện tử, mà là sự trống trải trong

tâm hồn, hoặc thiếu một số tố chất nào đó. Những

85

người sa đọa trong trò chơi điện tử kể cả không có

trò chơi điện tử cũng sẽ có những cái khác khiến họ

lún sâu vào và không thể thoát ra.

Trên thực tế, trò chơi điện tử đã trở thành một

phần không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ em

đương đại. Cho dù phụ huynh có thích hay không,

cuối cùng chúng vẫn sẽ chơi, chính vì thế, trong

vấn đề có nên cho trẻ chơi trò chơi điện tử hay

không, về cơ bản phụ huynh đã không cần phải đưa ra

quyết sách nữa. Trào lưu chung muốn ngăn cũng

không ngăn được. Cái mà phụ huynh cần phải suy nghĩ

là làm thế nào để trẻ vừa được chơi điện tử lại

vừa biết cách làm chủ mình, làm thế nào mới có thể

vừa được vui vẻ, vừa được trưởng thành?

Thật là “vạn sự khởi đầu nan”. Sau khi Viên Viên

86

bắt đầu chơi điện tử, cũng giống như những đứa trẻ

khác, cô bé rất say mê. Gần như không có thời gian

đọc sách, đến giờ luyện đàn nhị cũng không muốn tắt

máy, vẫn cứ muốn chơi tiếp; gọi cô bé ăn cơm, mãi

cho đến khi tôi và ông xã ăn xong hết, cơm nguội

hết rồi vẫn không chịu ra. Những biểu hiện này của

cô bé khiến tôi cũng sốt ruột, nhắc vài lần, nhưng

sau khi phát hiện thấy không ăn thua gì, tôi nói

với con rằng nên sắp xếp hợp lý thời gian, làm hết

những việc cần phải làm, sau đó không nói gì nữa.

Mấy lần con ra ăn cơm, chúng tôi đều đã ăn xong,

bàn ăn cũng dọn rồi, tôi nói với rằng cơm ở trong

bếp, muốn ăn thì tự đi mà hâm nóng. Khi nói những

điều này tôi vẫn tỏ ra vui vẻ, không hề tỏ ý trách

móc.

87

Trong lòng càng sốt ruột lại càng không thể hầm

hầm quát mắng con, càng phải đứng về phía con,

tuyệt đối không được đứng về phía đối lập với con.

Chúng tôi thường vui vẻ hỏi con gái một số chuyện

liên quan đến trò chơi điện tử, chia sẻ với con một

cách chân thành niềm vui khi con chơi; lễ Noel

chúng tôi còn tặng cô bé đĩa trò chơi mới. Tôi biết

can thiệp sẽ chỉ khiến cô bé chơi càng vô độ hơn,

cái mà cô bé cần là phải học được cách làm chủ bản

thân. Chính vì thế tôi có đủ kiên nhẫn để cô bé

trải nghiệm các cảm giác khác nhau trong quá trình

tự mình phân bổ thời gian.

Vì bình thường Viên Viên ở nội trú trong trường,

chỉ đến cuối tuần mới về nhà luyện đàn nhị. Ngày

thứ nhất làm bài tập xong cô bé liền chơi điện tử,

88

chơi quên hết trời đất, quên luyện đàn nhị, liền

nói ngày thứ hai sẽ luyện thêm một lúc. Ngày thứ

hai đến khi buộc phải tắt máy mới nhớ ra, lại quên

luyện đàn nhị, thế là đành phải đợi đến tuần sau để

luyện. Lúc này cô bé cũng tỏ ra áy náy - đây thực

ra là thời điểm bắt đầu tự điều chỉnh của một đứa

trẻ. Tuần thứ hai quả nhiên có nhớ luyện, nhưng

thời gian rất ngắn, kết quả đến nhà cô giáo học,

chơi rất tệ, lúc ra khỏi nhà cô giáo, cô bé tỏ ra

rất rầu rĩ, nói xem ra phải cố gắng luyện cho tốt.

Tôi không trách con, chỉ hùa theo nói, cố gắng

luyện cho tốt. Tiếp sau đó, về cơ bản Viên Viên đã

có thể dành thời gian cho việc luyện đàn như trước

kia. Để có thời gian chơi điện tử, cô bé chú ý

nhiều hơn đến năng suất công việc. Đương nhiên cũng

89

có lúc tái phạm, thỉnh thoảng có một, hai ngày

phân bổ thời gian rất tệ, nhưng tôi vẫn không gây

xung đột với con, có lúc bình tĩnh nói với cô bé

chuyện này, đưa ra niềm mong mỏi của tôi.

Thời gian mới bắt đầu chơi điện tử, cũng có một số

ảnh hưởng đến thành tích học tập của cô bé, nhưng

tôi tin rằng, con trẻ phải được chơi; tin rằng

trong lòng con gái mình biết rất rõ học và chơi cái

nào quan trọng hơn, chỉ cần tôi không can thiệp

linh tinh, không càu nhàu, chắc chắn cô bé sẽ dần

dần điều chỉnh được mình. Hơn nữa, cũng chưa đến

gần thời gian thi đại học, thành tích của cô bé lên

xuống một chút cũng không có gì đáng ngại. Chỉ cần

không để trò chơi điện tử xung đột với việc học,

không để cô bé mất hứng thú đối với việc học, tôi

90

tin rằng lúc cần phải học chắc chắn cô bé sẽ biết

cách học một cách chuyên tâm.

Hơn một năm sau khi chơi điện tử, Viên Viên vẫn

rất say mê những trò chơi này, nhưng dần dần cô bé

đã học được cách tự kiểm soát mình, làm hết những

việc cần phải làm, hơn nữa năng suất cũng cao hơn -

tôi cho rằng, đây là thu hoạch quan trọng nhất của

cô bé, quan trọng hơn cả việc chỉ đơn thuần là thi

được điểm cao.

Những năm trung học cơ sở, Viên Viên chỉ chơi trò

chơi điện tử trong máy tính, không chơi game

online. Sau khi lên lớp chín, việc học hành trở nên

căng thẳng hơn. Một ngày nọ của năm lớp chín, cô

bé cho tất cả các đĩa điện tử vào một hộp giấy, nói

trước khi thi vào cấp ba sẽ không chơi nữa. Tôi

91

không nói gì, mặc dù đây là hành động mà tôi mong

chờ từ lâu, nhưng tôi không tỏ ra xúc động, cũng

không khen ngợi con, chỉ tỏ ra đồng tình, giúp con

vui vẻ dùng băng dính dán hộp giấy lại, đặt dưới

gầm giường.

Sau khi kỳ thi vào cấp ba kết thúc, đáng lẽ Viên

Viên đặt ra rất nhiều kế hoạch: đọc tiểu thuyết,

luyện chữ, luyện đàn. Nhưng sau khi hộp đựng đĩa

trò chơi điện tử được mở ra, cô bé lại dành nhiều

thời gian nhất cho việc chơi điện tử, kết quả kế

hoạch ban đầu về cơ bản không được thực hiện.

Mặc dù tôi thấy hơi tiếc vì con gái “lãng phí”

thời gian như vậy, nhưng cũng không nói gì. Tôi

nghĩ kỳ thi vào cấp ba đã gây áp lực lớn cho con

trẻ, tiếp sau đó lại là giai đoạn học cấp ba còn

92

căng thẳng hơn, chính vì vậy kỳ nghỉ này nên để cho

cô bé chơi thoả thích, tại sao tôi lại phải bắt

con tôi học trong kỳ nghỉ chứ.

Chỉ khi kỳ nghỉ kết thúc, tôi đã có một cuộc

chuyện trò với Viên Viên, ôn lại kế hoạch đặt ra

lúc đầu hè, hỏi con có cảm thấy chơi trò chơi điện

tử lãng phí thời gian hay không, sẽ phá vỡ hoàn

toàn kế hoạch của một người hay không. Tôi lại phân

tích với con rằng, quỹ thời gian chỉ có như vậy,

làm việc này sẽ không thể làm được việc khác. Ba

năm học cấp ba tới là ba năm quan trọng nhất trong

cuộc đời con người, chính vì thế chúng ta nên sử

dụng tốt ba năm này, đây thực ra cũng là để tương

lai có điều kiện chơi tốt hơn.

Một kỳ nghỉ trôi qua, thấy mình không thực hiện

93

được theo kế hoạch, Viên Viên cũng tỏ ra rất hẫng

hụt, hơn nữa cơn nghiện chơi điện tử cũng đã vơi đi

khá nhiều, lúc này cô bé đã hiểu được lời của bố

mẹ, không cãi lại tôi nữa. Nói lên trung học phổ

thông chắc chắn học hành sẽ rất bận, nên sẽ phải

chơi ít thôi. Đúng là cô bé đã nói là làm, lên

trung học phổ thông cô bé có chơi mấy lần, chúng

tôi cũng không nói gì. Đến năm lớp mười một, Viên

Viên liền cho tất cả các đĩa điện tử vào hộp, nói

thi đại học xong sẽ chơi. Hai năm sau đó không động

gì đến trò chơi điện tử nữa.

Đợi đến khi kỳ thi đại học kết thúc, hầu hết thời

gian Viên Viên dành cho việc đọc sách, xem đĩa, lên

mạng chat với bạn bè, đi chơi cùng bạn bè. Thỉnh

thoảng có chơi điện tử một lát, là những trò chơi

94

mới mượn được của bạn bè. Hộp giấy đó cũng không mở

ra nữa, có lẽ cô bé thấy những trò chơi đó đã quá

cũ hoặc quá trẻ con. Hiện giờ trong trường đại học,

ngoài việc học tập căng thẳng, Viên Viên còn tham

gia hai câu lạc bộ, không bỏ bê việc đọc sách, cuộc

sống rất phong phú cũng rất bận rộn, nghe nói thời

gian lên mạng chat với bạn cũng rất ít. Thỉnh

thoảng cũng có chơi điện tử, nhưng nếu bắt cô bé

chơi điện tử triền miên, cô cũng không chịu.

Có thể có phụ huynh sẽ nói, con chị tự giác, lúc

nào không nên chơi sẽ không chơi nữa. Con tôi nếu

quả thực mà thả lỏng như vậy, nó sẽ không chịu làm

gì cả, mãi mãi không bao giờ chịu dừng lại.

Giả thiết này sẽ không thành lập.

Sở dĩ sự “thả lỏng” của các bậc phụ huynh này

95

không có tác dụng. Nguyên nhân thứ nhất là bình

thường bố mẹ đã quen với việc “quản” con trẻ trong

rất nhiều chuyện, chỉ riêng chuyện chơi điện tử

không biết đã nói bao nhiêu lần, xảy ra bao nhiêu

cuộc xung đột. Vậy thì một ngày nào đó đột nhiên

bạn thả lỏng (thực ra chủ yếu là nấp ở một góc làm

trinh thám), đương nhiên là trẻ sẽ chơi cho thật đã

rồi. Đột nhiên vắng chủ nhà, gà không vọc niêu tôm

hay sao; cảnh sát nghỉ việc hết, kẻ trộm không

hoành hành hay sao? Tốt nhất giữa bố mẹ và con

không nên hình thành nên mối quan hệ quản thúc và

bị quản thúc này, thời gian thiết lập mối quan hệ

này càng dài, càng vững chãi, tính tự giác của trẻ

sẽ càng kém.

Nguyên nhân thứ hai là phụ huynh thiếu kiên nhẫn,

96

chỉ mong mình vừa thay đổi, con trẻ cũng sẽ thành

anh hùng ngay, chỉ cần mấy ngày là mọi chuyện sẽ

tốt đẹp; nếu trong một thời gian con trẻ không chịu

thay đổi, phụ huynh sẽ không chịu nổi nữa. Tật xấu

cũng là “bệnh”, bệnh đến như núi đổ, bệnh đi như

kéo tơ(1). Chỉ cần mất một ngày là có thể nhiễm tật

xấu, nhưng để sửa có thể sẽ phải mất ba ngày,

huống chi trẻ đã nhiễm tật xấu trong mấy năm, làm

sao bạn thả lỏng ba ngày là trẻ đã thay đổi ngay

được.

_________________

(1) Ý nói rằng bệnh đến sẽ rất nhanh, quá trình

khỏi bệnh lại diễn ra rất chậm (ND).

Giống như cách ví von của học giả Đào Hành Tri, có

người bắt đầu tiếp nhận một quan niệm, biết chim

97

chóc sẽ phát triển tốt hơn trong môi trường tự

nhiên, liền kiếm một ít hoa cỏ, cành cây đặt vào

lồng chim, tưởng làm như vậy chính là tạo môi

trường tự nhiên cho chim. Tại sao lại không mở lồng

chim ra? Bố mẹ muốn sửa một tật xấu nào đó của

con, thứ nhất phải có thành ý, thứ hai phải có lòng

kiên nhẫn.

Còn có một số phụ huynh, bình thường quản con rất

chặt, không cho lên mạng Internet, đến khi trẻ đạt

được điểm cao hoặc làm tốt một việc gì đó, thấy vui

quá, bố mẹ liền lấy việc cho trẻ lên mạng hoặc lên

mạng quá giờ làm phần thưởng - một mặt phụ huynh

rất căm hận game online, một mặt lại coi việc lên

mạng Internet là “phần thưởng” để tặng cho con. Và

những thứ được coi là “phần thưởng”, làm sao có thể

98

là đồ xấu được - và thế là con trẻ đã bị đảo lộn

trong nhận thức, niềm hứng thú chơi game của chúng

càng được kích thích mạnh hơn.

Tôi thường nghĩ, sự việc có thể làm ngược lại, coi

lên mạng là “nhiệm vụ” hoặc “biện pháp trừng

phạt”, chứ không nên coi là “phần thưởng” để tặng

cho trẻ, phải chăng sẽ đạt được hiệu quả khống chế

tốt hơn? Ví dụ, con trẻ rất thích chơi điện tử, vậy

thì mỗi lần con trẻ làm sai một chuyện gì đó, bố

mẹ liền nói sẽ trừng phạt trẻ, lên mạng đi, buộc

phải chơi đủ mười tiếng đồng hồ, không đủ sẽ phạt

tiếp mười tiếng nữa, cho đến khi nào trẻ mệt quá

xin tha. Như thế, dần dần trẻ sẽ cảm thấy lên mạng

không còn là một thú vui, mà là một sự trừng phạt.

Nhiều lần như vậy, có thể sẽ khiến trẻ nảy sinh tâm

99

lý đối nghịch với mạng Internet.

Hiện nay game online dường như đã trở thành một

vấn đề xã hội, các cơ quan chuyên cai nghiện mạng

Internet đang mọc lên như nấm. Có bệnh viện đã mở

dịch vụ chữa trị bệnh “nghiện mạng Internet”, coi

con trẻ như bệnh nhân bình thường và phải nằm viện,

điều trị bằng phương pháp uống thuốc, tiêm. Cũng

có nơi tổ chức “trường quân sự” hoặc “trại huấn

luyện”, không thiếu thủ đoạn nào - đây thực sự là

phương pháp đau đâu chữa đó. Tiêu chuẩn “chữa

nghiện thành công” mà các cơ quan này tuyên truyền

là một tiêu chuẩn như thế nào? Rốt cục là game chứ

không phải là ma túy, họ đã theo dõi những đứa trẻ

này bao nhiêu thời gian, những đứa trẻ này sau này

thế nào? Những cơ quan hoặc sản phẩm này khiến bố

100

mẹ phải mất tiền oan còn là chuyện nhỏ, nghiêm

trọng hơn là không những không giải quyết được vấn

đề gì, mà còn gây tổn thương cho con trẻ.

Năm 2007 báo chí phanh phui vụ việc “trường Đại

Đông Phương” của Tứ Xuyên tuyên truyền có thể giúp

trẻ cai được chứng nghiện Internet. Nhưng nó đâu

phải là trường học, mà chẳng khác gì một “lò gạch

đen”. Nhân viên có tố chất thấp, hành vi “giáo dục”

khiến người ta vô cùng phẫn nộ; “giáo viên” của họ

tùy ý đánh chửi, sỉ nhục học sinh, biến nhà trường

thành trại tập trung, cuối cùng buộc học sinh phải

nhảy lầu tự tử. Nó không những gây tổn thương về

mặt thể xác cho con trẻ, mà còn làm tổn thương về

mặt tinh thần. Sự việc này có tính chất hoàn toàn

giống với “vụ việc lò gạch đen”(1) mà báo chí phanh

101

phui thời điểm đó, cuối cùng cũng vẫn bị làm ngơ

cho qua chuyện, không thấy người nào bị xử phạt. Sự

thờ ơ này, có thể là do những người bị hại này đều

là các “thiếu niên hư hỏng”, họ không thể được

người khác cảm thông, thương xót như các công nhân

đáng thương trong “lò gạch đen”.

_________________

(1) Vận động viên bóng rổ nổi tiếng nhất Trung

Quốc (ND).

Có người nâng “vụ việc lò gạch đen” lên tầm cao

của an ninh quốc gia, nhưng không có ai phát hiện

ra những hành vi như “trường Đại Đông Phương” mới

là sự kiện an ninh quốc gia thực sự - sự ngu dốt

của bố mẹ, hành vi bạo lực của giáo viên đã gieo

mầm thù hận trong lòng con trẻ, tâm lý của chúng bị

102

bóp méo. Những đứa trẻ học từ trường này ra ngày

càng đắm mình vào game online, và còn có em thề sẽ

giết vị “hiệu trưởng” đó - đây mới là quả bom hẹn

giờ, thực sự khiến người ta phải lo lắng.

Bố mẹ tuyệt đối không nên nhẹ dạ cả tin vào các

quảng cáo chữa trị bệnh nghiện game online, cái gọi

là “nghiện mạng Internet” là một vấn đề giáo dục,

không thể giải quyết ở bề nổi như vậy.

Chúng ta thường xuyên đọc được những bài báo nói

về thanh thiếu niên say sưa với trò chơi điện tử

không thể dứt ra được. Nhìn từ bề ngoài vấn đề đều

nằm ở thanh thiếu niên và các trò game, nhưng qua

mỗi bài báo đều có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận thấy

những khiếm khuyết trong giáo dục gia đình. Các

“hành động tích cực” mà rất nhiều bậc phụ huynh áp

103

dụng cho thấy họ hết lòng với con cái biết bao, chỉ

tiếc rằng các biện pháp này chứa đầy yếu tố phản

giáo dục, phản khoa học - tức là những hành vi phản

giáo dục, phản khoa học này không những khiến sự

cố gắng của bố mẹ không đạt được kết quả gì (cùng

lắm chỉ đạt được hiệu quả tạm thời, bề ngoài), lại

còn khiến trẻ càng lún càng sâu.

Tôi cho rằng, muốn giải quyết một cách căn bản vấn

đề “nghiện mạng Internet” của trẻ, chỉ có thể bắt

đầu từ giáo dục gia đình. Đòi hỏi bố mẹ phải thay

đổi phương châm giáo dục và phương pháp giáo dục

của mình một cách căn bản. Không có sự thay đổi của

bố mẹ, sẽ không thể có sự cải thiện của con trẻ.

Một là bố mẹ phải có thái độ đúng đắn với game

online, bình thản tiếp nhận nó chỉ là một trò chơi

104

của con trẻ, là một phương thức vui chơi giải trí.

Không nên để trẻ cảm thấy có tội hoặc áy náy khi

chơi game, không nên để thái độ của bạn kích động

tâm lý đối nghịch ở trẻ. Tâm lý đối nghịch chỉ

khiến trẻ càng ham chơi hơn.

Hai là để trẻ có hoạt động đọc sách ngoài giờ học

phong phú. Cho dù là trẻ em hay người lớn, bất kỳ

sự buông thả nào đều có liên quan với sự trống trải

trong tâm hồn và suy đồi trong đạo đức. Chỉ ở

những đứa trẻ có tinh thần trống rỗng, game online

mới biến thành liều thuốc phiện. Hoạt động đọc sách

ngoài giờ phong phú sẽ khiến thế giới tinh thần

của trẻ trở nên phong phú, chúng sẽ trở thành những

đứa trẻ thông minh hơn, lý trí hơn, hình thành nên

ý thức đạo đức tốt hơn, sức mạnh dữ dội của nó sẽ

105

chiếm lĩnh mặt trận, không để lại nhiều không gian

cho game. Một đứa trẻ ngay từ nhỏ đã có thói quen

đọc sách tốt, đối với trẻ, hoạt động đọc sách có

sức hấp dẫn vô cùng, sẽ làm chúng thờ ơ với game.

Ba là để trẻ học được cách tự quản lý mình. Đây là

điều then chốt, cũng là điều khó nhất. Hầu hết

những đứa trẻ nghiện game online, đặc điểm chung

của bố mẹ chúng là thường xuyên đi “quản” con trẻ,

không ngừng đưa ra những yêu cầu mang tính hạn chế

đối với trẻ. Mục đích của họ cũng là muốn để cho

trẻ học được cách tự quản lý mình, liền thường

xuyên nói với trẻ rằng con nên như thế này, như thế

kia. Nhìn những điều mà bố mẹ sắp xếp cho con,

đúng là rất tốt, rất hợp lý. Chính vì bố mẹ tin

rằng những cái mà mình sắp xếp sẽ biến thành sự sắp

106

xếp của trẻ, chính vì thế không ngừng nhắc nhở đến

lúc làm việc này rồi, đến lúc làm việc kia rồi.

Thực tế là, nếu bạn gánh vác hết mọi sự “quản lý”,

làm sao con trẻ còn cơ hội nào để học cách tự quản

lý mình nữa.

Bốn là trong các hành động, lời nói cụ thể nên vận

dụng nhiều lối tư duy theo chiều ngược, ví dụ ở

trên tôi đã nói đến, coi lên mạng là “nhiệm vụ”

hoặc “biện pháp trừng phạt”, chứ không phải là biện

pháp khen thưởng để vận dụng. Đây được coi là một

kỹ xảo nhỏ.

Mấy điều trên rất dễ hiểu. Trong quá trình thao

tác cụ thể, phụ huynh cần lưu ý mấy điểm sau:

Mỗi câu nói, mỗi hành động của bạn sẽ ảnh hưởng

đến hiệu quả của phương pháp. Ví dụ, bạn muốn con

107

đọc nhiều sách ngoài giờ học, liền kéo trẻ ra khỏi

máy tính, nhét vào tay trẻ một quyển sách, nói với

trẻ rằng phải đọc sách nhiều, chơi game ít - làm

như thế thực ra càng phá hoại niềm hứng thú đọc

sách của trẻ hơn, càng khiến trẻ ham chơi game hơn.

Còn có những bậc phụ huynh nóng lòng muốn con học

được cách tự quản lý mình, quy định nghiêm khắc

thời gian học tập và nghỉ ngơi của trẻ, đặc biệt là

thời gian chơi game, đến khi trẻ sắp xếp không ổn,

liền phê bình trẻ không biết tự quản lý mình - như

thế sẽ cướp đi cơ hội để trẻ học cách tự quản lý

mình. Nếu chỉ để “quản chặt” con trẻ, bạn hoàn toàn

có thể làm như vậy, và thực hiện cũng rất đơn

giản; nếu muốn “giáo dục” trẻ, để trẻ học được cách

tự quản lý mình, thì bố mẹ phải động não rất

108

nhiều.

Bố mẹ nên cố gắng ngăn trẻ đang trong độ tuổi vị

thành niên chơi những trò game đầy yếu tố bạo lực

và tình dục. Đồng thời định hướng đúng cho trẻ, để

trẻ lựa chọn một số trò chơi có nội dung lành mạnh.

Bạo lực và tình dục không phải là thuộc tính bản

chất của game, giống như có những loại sách vở cũng

chứa đầy nội dung bạo lực và tình dục, nhưng đây

không phải là thuộc tính bản chất của sách vở.

Chúng ta không cho phép trẻ đọc những cuốn sách có

nội dung xấu, nhưng không thể vì thế mà không cho

trẻ đọc sách.

Lưu ý đặc biệt

Can thiệp sẽ chỉ khiến con trẻ chơi game càng vô

độ hơn, cái mà trẻ cần là phải học được cách làm

109

chủ bản thân. Bố mẹ cần có đủ kiên nhẫn để trẻ trải

nghiệm các cảm giác khác nhau trong quá trình tự

mình phân bổ thời gian.

Tốt nhất giữa bố mẹ và con không nên hình thành

nên mối quan hệ quản thúc và bị quản thúc này, thời

gian thiết lập mối quan hệ này càng dài, càng vững

chãi, tính tự giác của trẻ sẽ càng kém.

Khi trẻ đạt được điểm cao hoặc làm tốt một việc gì

đó, bố mẹ vui quá, liền lấy việc cho trẻ lên mạng

hoặc lên mạng quá giờ làm phần thưởng - một mặt phụ

huynh rất căm hận game online, một mặt lại coi

việc lên mạng Internet là “phần thưởng” để tặng cho

con. Và những thứ được coi là “phần thưởng” làm

sao có thể là đồ xấu được - và thế là con trẻ đã bị

đảo lộn trong nhận thức, niềm hứng thú chơi game

110

của chúng càng bị kích thích mạnh hơn.

Mỗi lần con trẻ làm sai một chuyện gì đó, bố mẹ

liền nói sẽ trừng phạt trẻ, lên mạng đi, buộc phải

chơi đủ mười tiếng đồng hồ, không đủ sẽ phạt tiếp

mười tiếng nữa, cho đến khi nào trẻ mệt quá xin

tha. Như thế, dần dần trẻ sẽ cảm thấy lên mạng

không còn là một thú vui, mà là một sự trừng phạt.

Nhiều lần như vậy, có thể sẽ khiến trẻ nảy sinh tâm

lý đối nghịch với mạng Internet.

“Bệnh tăng động ở trẻ em” là một lời dối trá

“Bảng điểm chẩn đoán bệnh tăng động”, cái liên

quan đến số phận và sức khỏe của hàng triệu trẻ em

này đã ra đời như thế nào, ai đã lập ra nó, nó đã

được kiểm nghiệm và luận chứng như thế nào? Cái thứ

thô thiển, ngu xuẩn này lại được coi là công cụ

111

kiểm tra chủ yếu để sử dụng cho trẻ em. Nó đâu chỉ

là một bảng điểm, mà thực sự là cái bẫy chẩn đoán.

Chính vì vậy “nguyên nhân gây bệnh” thực sự của

“bệnh tăng động” là hai sai lầm mà người lớn mắc

phải: quan niệm sai lầm về trẻ em và phương pháp

giáo dục sai lầm.

Vài năm gần đây, “bệnh tăng động ở trẻ em” dường

như đã trở thành một căn bệnh phổ biến. Chỉ riêng ở

xung quanh tôi, đã có không ít trẻ tự nhiên lại

mắc căn bệnh này, trong đó có một số em bắt đầu

uống thuốc để chữa bệnh.

Tuy nhiên, rõ ràng là tôi đã được nhìn thấy xuất

xứ của các “triệu chứng” ở những đứa trẻ này - bố

mẹ chúng hoặc là quá nghiêm khắc hoặc là quá nuông

chiều, phương pháp giáo dục bộc lộ rõ những sai

112

lầm. Chính vì những sai lầm này, đã gây sức ép tâm

lý cực lớn cho trẻ. Các “triệu chứng” ở con trẻ gần

như đều là những biểu hiện của sự phản kháng

phương pháp giáo dục không đúng cách. Đồng thời,

tôi không nhìn thấy đứa trẻ nào chỉ dựa vào việc

uống thuốc mà chữa khỏi “bệnh tăng động”, ngược

lại, có không ít trẻ sau khi uống thuốc càng ngày

càng giống bệnh nhân, “bệnh tình” ngày càng nặng

hơn.

Cụm từ “bệnh tăng động ở trẻ em” ngày càng giống

như một cái gai đâm vào tôi, thôi thúc tôi phải

quan tâm đến vấn đề này.

Mấy năm trước tôi được tiếp xúc với một em học

sinh nam ở một trường tiểu học. Lúc đó cậu bé này

đang học lớp hai, bị coi là mắc chứng “bệnh tăng

113

động” nặng.

Trước đây cậu bé này học ở một trường tiểu học

khác, ngay từ khi học lớp một đã bắt đầu tỏ ra

không yên phận. Ở lớp thì chạy lung tung khắp lớp,

không ai quản được cậu, lớp học thường xuyên bị cậu

làm cho náo loạn, khiến giáo viên không thể giảng

bài. Cậu luôn tấn công bạn bè một cách vô cớ, tệ

đến mức ấn đầu bạn vào bồn cầu, châm hương muỗi vào

bạn. Còn những chuyện cào cấu bạn bị trầy da xước

thịt là chuyện thường ngày. Sự việc này đã vấp phải

sự phản đối của rất nhiều phụ huynh, trường tiểu

học đầu tiên thực sự không có cách nào khác, yêu

cầu cậu phải chuyển trường. Lên lớp hai cậu liền bị

chuyển đến trường tiểu học hiện nay.

Nhưng sau khi chuyển trường tình hình vẫn không có

114

gì thay đổi, trường học mới cũng không có biện

pháp nào, đành phải để cho người nhà cậu bé đi học

cùng cậu. Hàng ngày bà nội cậu bé theo sát cậu như

hình với bóng, không rời nửa bước. Trên lớp ngồi

cùng bàn với cậu, ấn chặt không cho cậu đứng dậy

gây mất trật tự; hết giờ túm chặt tay cậu đứng ở

hành lang, không cho cậu chơi với bạn bè cùng lớp,

sợ cậu gây chuyện với bạn. Ở trường cậu bé này rất

nổi tiếng, ngay cả hiệu trưởng cũng rất rầu rĩ,

không biết phải làm gì với cậu.

Lần đầu tiên tôi gặp cậu bé này là ở ngoài hành

lang lớp học, sau khi đến giờ giải lao, các bạn đều

túm năm tụm ba tung tăng vui đùa. Chỉ có cậu, hai

tay bị bà nội kìm chặt, không được làm gì cả. Nhìn

cậu lúc nào như cũng muốn giãy ra, nhưng lại không

115

giãy được; ánh mắt nhìn bạn bè vừa tỏ ra thèm muốn

lại vừa tỏ ra bất lực, kèm cả sự đối địch, giống

như một tù nhân nhỏ.

Cô giáo chủ nhiệm lớp cậu bé nói một cách quả

quyết rằng học sinh này mắc bệnh tăng động, cô nói

với tôi rằng, người nhà cậu bé đã đưa cậu đến khoa

tâm thần của bệnh viện để khám bệnh và được bác sĩ

chẩn đoán như vậy. Bác sĩ yêu cầu cậu phải uống

thuốc, đồng thời nói ít nhất phải uống ba năm. Cậu

uống được ba tháng, không có kết quả gì, và thuốc

lại rất đắt, có lẽ ông bà nội cậu suy nghĩ đến vấn

đề kinh tế nên đã cho cậu ngừng uống thuốc. Hai ông

bà chỉ có một người có lương hưu.

Sau khi nói chuyện vài câu đơn giản với bà nội của

cậu bé, không hiểu sao, trực giác mách bảo tôi

116

rằng cậu bé này hoàn toàn là một đứa trẻ bình

thường. Sau khi tìm hiểu một chút về hoàn cảnh gia

đình cậu, về cơ bản tôi có thể khẳng định được

rằng, “nguyên nhân gây bệnh” chính là vấn đề giáo

dục gia đình của cậu.

Bố mẹ cậu bé sống chung với nhau khi chưa kết hôn,

sau khi cậu chào đời họ liền chia tay. Mẹ cậu bé

là một cô gái người miền Nam đi làm thuê, sau khi

quay lại miền Nam thì không có tin tức gì nữa; bố

cậu không biết lang thang ở đâu, không cho gia đình

biết địa chỉ, nửa năm hoặc một năm mới về nhà một

lần, không hề quan tâm đến con. Ông nội cậu bé là

người tính tình nóng nảy, năm xưa thường xuyên đánh

chửi con trai, hiện giờ lại áp dụng phương pháp

dạy dỗ con trai vào “giáo dục” cháu, đặc biệt là

117

thường xuyên trút lên đầu cháu sự bất mãn của mình

đối với con trai. Bà nội cậu thì suốt ngày làm thay

cho cháu tất cả mọi việc, đồng thời lại muốn sớm

gặt hái được thành quả, chỉ muốn nuôi dạy cháu nên

người, để bù đắp lại những nỗi xấu hổ mà con trai

đem lại cho gia đình, chính vì thế suốt ngày yêu

cầu cậu bé phải như thế này như thế kia, còn thường

xuyên quở trách cậu.

Đứa trẻ lớn lên trong “môi trường hoang dại” này,

làm sao có thể không là một người rừng? Nhìn thấy

cậu bé nhỏ như vậy mà đã phải sống như một kẻ xấu

và tội phạm, tôi rất lo, cảm thấy nếu không nghĩ

cách cải thiện, tương lai cậu chỉ có thể có hai nơi

để đi, nhà tù hoặc bệnh viện tâm thần. Và thế là

tôi liền tiến hành công tác trị liệu tâm lý kéo dài

118

gần một năm cho cậu.

Nhưng tôi không làm “công tác tư tưởng” trực tiếp

cho cậu bé, mà bắt đầu từ việc xóa bỏ “nguồn gốc

căn bệnh”, tập trung công sức vào việc cải thiện

môi trường sống cho cậu bé. Người giám hộ và nuôi

dưỡng cậu bé là ông bà nội cậu, chính vì thế đối

tượng công tác chủ yếu của tôi cũng là hai cụ già

này. Thời gian đầu, tôi thường xuyên nói chuyện với

hai cụ, sau đó định kỳ tiếp xúc với hai cụ. Thực

ra mục đích của tôi rất đơn giản, là yêu cầu họ

không đánh chửi cháu, tôn trọng cháu, không gây sức

ép cho cháu. Yêu cầu nhìn thì rất đơn giản, nhưng

thực tế là hai cụ già này rất khó thực hiện được,

họ đã quen với phương pháp giáo dục trước đây. Tôi

nói đi nói lại rất nhiều lần với họ, để họ hiểu

119

rằng phương pháp giáo dục thô bạo có mối liên hệ

nhân quả với hành vi giáo dục trẻ, đồng thời bằng

hình thức quy tắc đưa ra một số nguyên tắc hành vi

cơ bản. Đồng thời hướng dẫn tỉ mỉ cho họ cách gần

gũi với con trẻ, nói chuyện với con trẻ như thế

nào.

Thay đổi người lớn khó khăn hơn nhiều so với việc

thay đổi trẻ em, nhưng nếu không thay đổi người

lớn, con trẻ sẽ không thể thay đổi. Trong cả quá

trình, tôi đặc biệt chú ý đến việc nắm bắt tinh

thần của họ, trước hết là để họ chấp nhận tôi,

không có thành kiến với tôi, tiếp đó là chấp nhận

quan điểm của tôi. Dần dần hai cụ bắt đầu tin tưởng

tôi, cộng với công việc mà tôi đã làm, cuối cùng

đã khiến họ tin rằng phương pháp giáo dục của mình

120

có mối quan hệ nhân quả tất yếu với vấn đề của con

trẻ, dần dần thay đổi quan niệm giáo dục, từ bỏ

phương pháp thô bạo ban đầu, không còn chửi đánh

cháu nữa, sau đó cậu bé đã có sự thay đổi rất lớn.

Đồng thời, tôi cũng thường xuyên tìm đến cô giáo

chủ nhiệm của cậu bé, cố gắng làm thay đổi cách

nhìn của cô giáo chủ nhiệm đối với cậu bé, để cô

chủ nhiệm tin rằng cậu không có bệnh mà là một đứa

trẻ bình thường. Tôi và cô giáo chủ nhiệm đã cùng

nhau nghĩ cách, để cậu bé được làm một số việc cho

lớp, giúp cậu cảm thấy mình là một người có ích,

gặt hái được nhiều thành công, tạo nên sự khích lệ

và khẳng định đối với cậu. Khi cô giáo chủ nhiệm

không nhìn cậu với ánh mắt khác lạ nữa, các bạn

cùng lớp cậu bé cũng bắt đầu thay đổi thái độ.

121

Tôi cũng đã có mấy lần nói chuyện với cậu bé này,

nội dung của các cuộc nói chuyện giữa tôi và cậu bé

chủ yếu là phim hoạt hình và vẽ tranh, bởi cậu

thích hai thứ này; ngoài ra còn kể chuyện. Tôi còn

mời cậu và bà nội cậu đến nhà tôi chơi, đồng thời

dán tranh mà cậu vẽ lên tường nhà tôi. Chỉ cần đến

nhà tôi, tôi liền để cậu bé cảm thấy mình là một

đứa trẻ hết sức bình thường, để tinh thần cậu vui

vẻ và thoải mái. Cứ như thế, sau vài lần nói

chuyện, gần gũi với tôi, cậu bé không những không

còn tỏ vẻ đối địch, mà thậm chí còn tỏ ra dựa dẫm

về mặt tình cảm. Khi tôi tin rằng giữa tôi và cậu

bé đã xây dựng được mối quan hệ thân thiện, tin

tưởng, tôi liền lựa chọn thời điểm thích hợp và đưa

ra yêu cầu không được đánh bạn, trong giờ học

122

không được rời khỏi chỗ ngồi. Khi chấp nhận ý kiến

của tôi, cậu bé không hề tỏ ra miễn cưỡng, ánh mắt

cậu lộ rõ vẻ vui vẻ và hạnh phúc.

Công tác của tôi đã đạt được hiệu quả rất rõ rệt.

Bốn tháng sau, cậu bé không còn cần người đi học

cùng nữa, cậu bắt đầu làm chủ được mình, không chủ

động tấn công người khác nữa. Một năm sau, cậu bé

không còn đánh nhau nữa. Mặc dù cậu bé khỏe hơn

người khác, nhưng dường như cậu có ý thức né tránh

xung đột hơn các em học sinh khác. Có hai lần có

học sinh khác đánh cậu, cậu lại có thể ngồi thụp

xuống đất ôm chặt đầu.

Tôi phân tích sức chịu đựng của cậu bé có thể bắt

nguồn từ việc cậu rất trân trọng mình “là một đứa

trẻ bình thường, chứ không phải là một đứa trẻ bị

123

bệnh”; kể cả thỉnh thoảng bị đánh, cũng còn tốt hơn

so với việc bị người khác nhìn mình bằng ánh mắt

khác. Hiện nay cậu bé này đã sắp lên lớp năm, thành

tích học tập ở mức trung bình, trong các phương

diện khác như kỷ luật đều hoàn toàn bình thường.

Đôi tay nhỏ của cậu cũng không bị người khác kìm

kẹp nữa, cậu đã có được tự do, có được bạn bè thực

sự.

Cậu bé mắc “bệnh tăng động” nặng này đã được chữa

khỏi như vậy, điều này khiến tôi càng nghi ngờ về

“bệnh tăng động”.

Mùa hè năm 2007, một trong những tờ báo lớn của

Trung Quốc -báo Thanh niên Trung Quốc đã đăng tải

bài báo có tên Mùa hè, số trẻ mắc bệnh tăng động

đến khám bệnh đã tăng 30% của nhà báo Triệu Tân

124

Bồi. Bài viết đã trích lời của giáo sư Trịnh Nghị -

Chủ nhiệm khoa tâm thần trẻ em bệnh viện An Định

Bắc Kinh: “Hiện nay tỉ lệ phát bệnh của trẻ em mắc

chứng tăng động ở Bắc Kinh đã lên tới 4%-5%”. Ngày

7-10-2007, cũng trên tờ báo này còn có một bài viết

của tác giả Chu Châu nói rằng: “Theo kết quả điều

tra đáng tin cậy, hiện nay tỉ lệ mắc bệnh tăng động

ở trẻ em Trung Quốc lên tới 4,31%-5,83%”. Theo tỉ

lệ này, ước tính cả nước có gần hai triệu trẻ em

mắc bệnh. Tôi lại lên mạng Internet tìm một số tài

liệu, nói rằng vài năm gần đây các nước trên thế

giới đều có số liệu thống kê về số trẻ em mắc bệnh

tăng động, chiếm khoảng từ 4%-14%, ví dụ tỉ lệ phát

bệnh của Mỹ là 10%-20%, có một số quốc gia thậm

chí con số thống kê lên tới 40% - tỉ lệ phát bệnh

125

của bệnh gì mà lại cao như vậy, bệnh truyền nhiễm

cũng không đến nỗi như thế. Căn bệnh chung mang

tính toàn cầu xảy ra trên diện rộng này rốt cục là

một loại bệnh như thế nào?

Lúc này tôi đọc được hai cuốn sách, một cuốn là

Người phát minh bệnh tật của Jorg Blech - nhà khoa

học tự nhiên, phóng viên nổi tiếng của Đức; một

cuốn nữa là Lời nói dối trăm năm của phóng viên nổi

tiếng người Mỹ Randall Fitzgerald, hai cuốn sách

này đều dùng những tài liệu tường tận, xác thực và

cách phân tích triệt để, vạch trần ra những “cái

bẫy” và “màn tối” xuất hiện trong y học hiện đại.

Họ đều tỏ ra nghi ngờ đối với “bệnh tăng động ở trẻ

em”, cho rằng đây là một loại “bệnh” bị thổi phồng

một cách vô cớ.

126

________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006,

tr.88-91.Sau khi đọc xong hai cuốn sách này, tôi

lại lên mạng Internet và tra cứu một số tài liệu,

đồng thời đọc lại tác phẩm giáo dục của nhà giáo

dục học, tiến sĩ tâm thần học nổi tiếng người

Italia Maria Montessori, tổng hợp tất cả các tài

liệu lại, về cơ bản đã có thể có được một nhận thức

rõ ràng - có lẽ không thể nói một cách tuyệt đối

rằng căn bệnh “tăng động” này không tồn tại, bởi

cho đến nay nó vẫn là một chuyện vẫn treo ở đó chưa

được giải quyết; nhưng với khái niệm chẩn đoán

hiện nay, nó không chân thực. Hiện nay những lời

chẩn đoán đối với căn bệnh này vô lý như việc kết

127

luận tất cả những người ho vài tiếng đều là bệnh

nhân mắc bệnh ung thư phổi - xét về ý nghĩa này,

“bệnh tăng động ở trẻ em” là một lời dối trá.

1. Từ cách thay đổi tên gọi đánh giá sự bịa đặt

căn bệnh

Sự phát triển của y học hiện đại đã khiến người ta

rất muốn dùng y học để giải thích tất cả các hiện

tượng muốn cải thiện và chữa trị. Từ xưa đến nay sự

“không ngoan” của trẻ em đã khiến rất nhiều người

đau đầu, và thế là vấn đề này liền lọt vào tầm quan

sát của các bác sĩ. Ngay từ năm 1845, bác sĩ tâm

thần người Đức Heinrich Hoffmann đã viết tác phẩm

Peter tóc rối, miêu tả một đứa trẻ quá mức hiếu

động, điều này đã nhắc nhở người ta quan tâm đến

hiện tượng hiếu động, bất an ở trẻ em. Một thế kỷ

128

sau, năm 1947, có chuyên gia dự đoán rằng một số

trẻ em hoạt động quá độ là do sự tổn thương ở não

gây nên, vì thế đã đặt tên cho hiện tượng này là

“hội chứng tổn thương não”. Do cách định nghĩa này

không đủ để giải thích những biểu hiện hiếu động ở

những trẻ mà đại não chưa bao giờ bị tổn thương,

thuyết tổn thương não đã không được thành lập, liền

có người đưa ra đây là kết quả của việc “não bị

tổn thương nhẹ”. Tuy nhiên, thuyết “não bị tổn

thương nhẹ” không tìm thấy trong quá trình kiểm tra

sinh lý ở rất nhiều trẻ em, trong quá trình trưởng

thành cũng không có dấu vết gì, cách đặt tên này

cũng không khả thi. Và thế là mọi người liền bỏ đại

não và đề ra cách gọi “trở ngại chức năng hành vi”

- tên gọi này đã tránh đi sự bất tiện do không tìm

129

được nguyên nhân gây bệnh, dùng chính những “biểu

hiện” để đặt tên. Do tên gọi này có khái niệm quá

mơ hồ, nên đã bị Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm

và dược phẩm Mỹ nghiêm cấm. Nhưng hành vi không

ngoan ở trẻ em đã được giới y học nhận định là một

căn bệnh cần phải chữa trị. Năm 1962, một hội nghị

công tác khoa học thần kinh trẻ em quốc tế đã quyết

định trước khi căn bệnh này được làm rõ, tạm thời

đặt tên là “rối loạn chức năng não nhẹ” (Minimal

Brain Dysfunction, gọi tắt là MBD). Năm 1980, trong

cuốn Sổ tay chẩn đoán và thống kê trở ngại tâm

thần do Mỹ công bố, đặt tên cho bệnh này là “Trở

ngại thiếu chú ý” (Attention Deficit Disorder, gọi

tắt là ADD). Cuối cùng, năm 1987, bác sĩ khoa tâm

thần của Mỹ đã phát minh ra cách gọi phổ biến nhất

130

hiện nay “Chứng tăng động thiếu chú ý” (Attention

Deficit - Hyperactivity Disorder, gọi tắt là

ADHD)(1).

__________________

(1) Tháng 5-2007, cảnh sát Sơn Tây phá được một vụ

án ngược đãi công nhân trong lò gạch đen, giải cứu

ba mươi mốt công nhân, trong đó có một số là trẻ

em. Sau đó, hàng trăm vị phụ huynh có con bị thất

lạc đã lên mạng Internet để thông báo tìm con (ND).

Những diễn biến của tên gọi này đã thực hiện được

hai mục đích, thứ nhất là thoát khỏi những trở ngại

trong chẩn đoán học; thứ hai là trở thành một căn

bệnh phổ biến.

Do bản thân căn bệnh vẫn còn nằm trong dự đoán,

131

làm thế nào để chẩn đoán đã trở thành một vấn đề.

Nhưng thực tế là, rất nhiều trẻ em bị chẩn đoán là

mắc “bệnh tăng động thiếu chú ý” (ADHD). Vậy thì,

chúng ta hãy xem xem căn bệnh này đã được chẩn đoán

như thế nào.

2. Sự thiếu suy nghĩ và giản đơn trong chẩn đoán

Qua các tài liệu có thể thấy, việc kiểm tra “bệnh

tăng động” về cơ bản đều là những phán đoán về mặt

chủ quan, có rất ít căn cứ khách quan. Có bác sĩ

cũng sẽ kiểm tra thần kinh não và xét nghiệm chỉ số

sinh hóa, nhưng những điều này không có ý nghĩa gì

nhiều đối với hầu hết những trẻ em không có biểu

hiện gì rõ nét về mặt sức khỏe, hơn nữa mối quan hệ

giữa các chỉ số sinh hóa và sự hình thành bệnh tật

cũng chỉ là dự đoán, không có ý nghĩa chẩn đoán

132

lâm sàng thiết thực.

Tôi đã hỏi phụ huynh của một số em bị chẩn đoán là

mắc bệnh tăng động, có cả người Trung Quốc và

người nước ngoài. Phương pháp chẩn đoán gần giống

nhau, chủ yếu là bác sĩ hỏi phụ huynh các vấn đề,

nói chuyện với trẻ, đồng thời quan sát hành vi của

trẻ; ngoài ra còn sử dụng “bảng điểm chẩn đoán”,

căn cứ vào số điểm có được, phán đoán trẻ có mắc

chứng tăng động hay không.

Ba bảng điểm dưới đây được nhiều bệnh viện trong

nước và các website y tế như website Sức khỏe trẻ

em Trung Quốc, website Nuôi con Trung Hoa… sử dụng.

Để nói rõ vấn đề, xin hãy tha lỗi cho tôi đã liệt

kê dài dòng ra ở đây.

Bảng điểm hành vi của trẻ mắc bệnh tăng động của

133

trường đại học Cornell ở Mỹ (mỗi câu dựa vào mức độ

khác nhau và cho điểm từ 0 đến 10, bảng dưới cũng

giống như vậy).

1. Hoạt động quá nhiều, không nghỉ phút nào ( )

2. Hoạt động hưng phấn, dễ phấn khích ( )

3. Gây sự với các trẻ khác ( )

4. Làm việc không thể có đầu có cuối ( )

5. Đứng ngồi không yên ( )

6. Không tập trung chú ý, dễ phân tâm ( )

7. Đòi lập tức được thoả mãn yêu cầu, dễ chán nản

( )

8. Hay khóc, dễ khóc ( )

9. Tâm trạng thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ ( )

10. Dễ có những hành vi nổi khùng hoặc không thể

134

lường trước

Chẩn đoán: Cách tính điểm: Không có - không điểm;

có một chút - một điểm; khá nhiều - hai điểm; rất

nhiều - ba điểm; tổng số điểm trên mười điểm là

dương tính, tức mắc bệnh tăng động.

Bảng điểm hành vi của trẻ mắc bệnh tăng động do

nhóm nghiên cứu bệnh tăng động ở thành phố Thượng

Hải xây dựng

1. Trong giờ học đứng ngồi không yên ( )

2. Trong giờ học thường xuyên nói chuyện ( )

3. Trong giờ học thường làm việc riêng ( )

4. Phát biểu không giơ tay ( )

5. Không tập trung, nhìn ngó xung quanh, dễ bị

phân tâm bởi các yếu tố bên ngoài ( )

6. Tâm trạng nhanh thay đổi, dễ tranh cãi với

135

người khác ( )

7. Thường làm ảnh hưởng đến người khác ( )

8. Không thể tĩnh tâm để chơi đùa ( )

9. Thường làm việc theo cảm hứng, muốn làm gì thì

làm, thường không có đầu có cuối ( )

10. Khi làm việc không tính đến hậu quả ( )

11. Tùy tiện lấy tiền của bố mẹ hoặc ăn cắp ở

ngoài ( )

12. Đãng trí, hay quên ( )

13. Thành tích học tập kém ( )

14. Nói dối, đánh chửi người khác ( )

Chẩn đoán: Cách tính điểm: Không có - không điểm;

có một chút - một điểm; khá nhiều - hai điểm; rất

nhiều - ba điểm; tổng số điểm trên mười điểm là

dương tính, tức mắc bệnh tăng động.

136

Tiêu chuẩn chẩn đoán do Hiệp hội bệnh tâm thần của

Mỹ đưa ra

1. Tay chân thường xuyên hoạt động không ngừng

hoặc liên tục ngọ ngoạy trên ghế ngồi (thiếu niên

có thể chỉ biểu hiện ở sự đứng ngồi không yên về

mặt chủ quan) ( )

2. Dễ bị yếu tố bên ngoài kích thích và phân tán

tư tưởng ( )

3. Khi bị yêu cầu phải ngồi yên thì rất khó ngồi

yên ( )

4. Trong trò chơi hoặc các hoạt động tập thể không

thể kiên nhẫn xếp hàng chờ đến lượt mình ( )

5. Thường xuyên người khác chưa hỏi xong câu hỏi

đã tranh trả lời ( )

6. Rất khó làm theo chỉ thị của người khác, không

137

phải do chống đối hoặc không hiểu, như không làm

việc nhà ( )

7. Khi làm bài tập hoặc chơi trò chơi rất khó tập

trung chú ý ( )

8. Thường xuyên một việc chưa làm xong lại đòi làm

việc khác ( )

9. Rất khó chơi đùa một cách yên tĩnh ( )

10. Nói nhiều ( )

11. Thường xuyên ngắt lời hoặc làm ảnh hưởng đến

hoạt động của người khác, ví dụ phá rối trò chơi

của các em nhỏ khác ( )

12. Khi người khác nói chuyện với em, em tỏ ra rất

lơ là ( )

13. Thường xuyên để mất đồ dùng học tập hoặc các

vật dụng khác, như đồ chơi, sách, vở bài tập… ( )

138

14. Thường xuyên tham gia vào các trò chơi nguy

hiểm và không nghĩ đến hậu quả, ví dụ chạy lung

tung trên đường mà không nhìn xung quanh ( )

Chẩn đoán: Mắc bệnh trước năm bảy tuổi, bệnh sử từ

nửa năm trở lên, đồng thời có tám triệu chứng nói

trên trở lên là dương tính, tức mắc bệnh tăng động.

Gần như tất cả mọi hành vi bình thường của trẻ em

đều trở thành “biểu hiện lâm sàng”!

Theo kết luận của những tấm bảng này, “bệnh tăng

động ở trẻ em” đâu chỉ có tỉ lệ mắc bệnh đề cập ở

trên, gần như tất cả các trẻ em đều trở thành “bệnh

nhân”, trong đó đương nhiên cũng bao gồm cả con

gái tôi - Nếu dùng mấy tấm bảng này để chấm điểm

139

cho cô bé thời còn nhỏ, mỗi nội dung đều không

nghiêm trọng, nhưng đều có một chút, trung bình mỗi

nội dung được “một” điểm, vậy thì cũng được chẩn

đoán là “dương tính” rồi.

Vậy thì, có trẻ em nào không là “bệnh nhân” đâu?

Tác giả của cuốn Người phát minh bệnh tật đã vạch

trần và chỉ trích hiện tượng chẩn đoán quá độ, lạm

dụng thuốc men của giới y học hiện nay, gọi hiện

tượng này là “phát minh bệnh tật”. Trong đó, “bệnh

tăng động” là một “căn bệnh bị phát minh” điển

hình. Ông nói: “Bác sĩ thường xuyên không hiểu rõ,

vì thế thường xuyên sử dụng những công cụ hỗ trợ

chẩn đoán gây tranh cãi một cách sai lầm. Ngay cả

những người ủng hộ bệnh tăng động đều dự đoán, một

phần ba số trẻ bị chẩn đoán mắc bệnh tăng động là

140

vật hy sinh của mô hình chẩn đoán. So sánh các nước

cũng có thể phát hiện ra rằng, việc gắn mác bệnh

tăng động cho trẻ thật là chuyện tùy ý biết bao.

Theo nghiên cứu, Brazil có 5,8% trẻ em mắc bệnh

tăng động, Phần Lan 7,1%, Ả rập Xê-út 14,9%. Tại

sao lại có sự khác biệt lớn như vậy? Ai biết? Hàng

ngày trẻ em phải uống thuốc một cách mù quáng như

vậy, nhưng người ta tỏ ra rất mơ hồ, không biết

mình đang chống chọi với căn bệnh nào. Cái mác

“bệnh tăng động” nặng nề thường căn cứ vào ấn tượng

chủ quan của bác sĩ; một số nguyên tắc chẩn đoán

hành vi tăng động cũng có thể được tìm thấy ở đa số

những trẻ em khỏe mạnh, ví dụ thường không thể tập

trung lắng nghe người khác nói, làm bài tập và tổ

chức hoạt động thường xuyên gặp khó khăn, trả lời

141

câu hỏi thường không suy nghĩ. Đây là những triệu

chứng ư? Hoặc chỉ là hành vi khiến (một số) người

lớn khó chịu?”(1).

_________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006,

tr.94-95.“Bảng điểm chẩn đoán bệnh tăng động”, cái

liên quan đến số phận và sức khỏe của hàng triệu

trẻ em này đã ra đời như thế nào, ai đã lập ra nó,

nó đã được kiểm nghiệm và luận chứng như thế nào?

Cái thứ thô thiển, ngu xuẩn này lại được coi là

công cụ kiểm tra chủ yếu để sử dụng cho trẻ em. Nó

đâu chỉ là một bảng điểm, mà thực sự là cái bẫy

chẩn đoán!

3. “Nguyên nhân gây bệnh” khiến người ta hoa mắt

142

Thực ra đằng sau sự chẩn đoán vô trách nhiệm có ẩn

chứa một thực tế khó nói, một căn bệnh chung “phổ

biến này”, cơ chế hình thành của nó rốt cục là như

thế nào, nguyên nhân nào khiến trẻ mắc bệnh? Sau

hơn một trăm năm “nghiên cứu”, ngày càng có nhiều

cách giải thích, nhưng cho đến nay không ai có thể

nói rõ được.

Từ những tài liệu hiện có, có mấy thuyết nói về

nguyên nhân gây bệnh như sau:

Thứ nhất, tổn thương nhẹ ở tổ chức não - điểm này

chủ yếu tập trung xung quanh cách chào đời của trẻ

để dự đoán. Trước khi sinh mổ phổ biến thì người ta

cho rằng do trong quá trình sinh, não bộ của trẻ

bị chèn ép; sau khi hình thức sinh mổ phổ biến thì

người ta lại nói rằng do sinh mổ gây ra. Ngoài ra

143

còn một cách giải thích nữa là trong quá trình mang

bầu, người mẹ bị mắc bệnh truyền nhiễm, cao huyết

áp, hoặc quá trình cho bú và các hoạt động khác

khiến não bộ bị tổn thương. Tóm lại, mỗi tình huống

trong thời kỳ mang bầu, trong quá trình trưởng

thành đều bị dự đoán là khả năng gây bệnh, dường

như chỉ cần con người đã từng “chào đời”, trải qua

thời kỳ thai nhi và thời kỳ sơ sinh, não của trẻ

đều bị tổn thương. Một điều rất khéo là, những sự

“tổn thương” này về cơ bản đều là không thể dự

đoán.

Thứ hai, hiện tượng trúng độc chì do tình trạng ô

nhiễm môi trường trong thành phố gây ra - nguyên

nhân này nghe thì có vẻ rất có lý. Nhưng trong đó

có mấy điểm đáng ngờ: Điểm đáng ngờ thứ nhất là,

144

hơn một trăm sáu mươi năm trước khi vấn đề được đưa

ra, vấn đề ô nhiễm môi trường thành phố chắc là

chưa tồn tại; điều đáng ngờ thứ hai là, trẻ em ở

mỗi thành phố đều hít thở nguồn không khí chung,

tại sao chỉ có một số em mắc bệnh; điều đáng ngờ

thứ ba là, những em sống ở các làng quê xa xôi

không mắc căn bệnh này ư?

Thứ ba, nhân tố sinh lý di truyền - cách nói này

dường như là rất chuyên ngành, nhưng sau khi phân

tích có thể thấy, dưới tiền đề không có được chứng

cứ đầy đủ, lấy một sự khác biệt nhỏ về một chỉ tiêu

sinh hóa nào đó của đại não để giải thích một

nguyên nhân gây bệnh, đây chẳng qua chỉ là dự đoán

mà thôi. Giữa con người với con người vốn có một số

điểm khác biệt trong chỉ tiêu sinh lý, điều này

145

rất bình thường; cùng là một người sống trong các

điều kiện khí hậu, môi trường, có tâm trạng, độ

tuổi, điều kiện ăn uống khác nhau, rất nhiều chỉ

tiêu sinh lý sẽ khác nhau. Vì không có được lý do

thuyết phục nên đành phải lấy điều này làm lý do.

Thứ tư, thiếu vitamin, dị ứng thực phẩm, thiếu

nguyên tố vi lượng, môi trường ô nhiễm, chất bảo

quản thực phẩm… gây ra bệnh - có rất nhiều lời dự

đoán như thế này, khiến người ta hoa cả mắt. Gần

như trong cuộc sống của xã hội đương đại có vấn đề

gì, thì đó đều trở thành nguyên nhân gây bệnh. Nếu

những nhân tố này đều có thể khiến trẻ mắc bệnh

tăng động, thì câu hỏi duy nhất còn sót lại là: Sau

này có còn trẻ em khỏe mạnh nữa hay không?

Thứ năm, nhân tố giáo dục trong gia đình hoặc nhà

146

trường, khiến tâm lý trẻ bị tổn thương - đây là

nguyên nhân duy nhất thông qua quan sát trực tiếp,

dựa trên cơ sở của rất nhiều ví dụ để rút ra, chứ

không phải rút ra thông qua dự đoán. Nguyên nhân

này có sức thuyết phục nhất, nhưng luôn bị đặt ở vị

trí không quan trọng nhất. Tất cả các tài liệu nói

về bệnh tăng động trước hết đều muốn nói nguyên

nhân gây ra căn bệnh này là do vấn đề của não bộ,

là một vấn đề sinh lý, còn vấn đề giáo dục, nguyên

nhân tâm lý lại chỉ thỉnh thoảng mới được các tài

liệu nhắc đến rất sơ sài.

Nhưng dưới nguyên nhân bị nhắc đến một cách sơ sài

này, không ai có thể giải thích, một vấn đề hình

thành trên cơ sở giáo dục, tại sao lại bắt trẻ phải

uống thuốc chữa bệnh. Vài năm gần đây tỉ lệ ly hôn

147

gia tăng khiến tỉ lệ “trẻ em mắc bệnh tăng động”

cũng tăng lên dường như đã trở thành một bằng

chứng, người ta phát hiện ra rằng, trẻ sinh ra

trong gia đình đơn thân dễ “mắc bệnh” hơn trẻ sinh

ra trong một gia đình đầy đủ cả bố lẫn mẹ - nhưng

vết thương tâm lý mà vấn đề ly hôn của bố mẹ gây ra

cho trẻ, uống thuốc có thể giải quyết được hay

không? Các trận cãi vã giữa bố mẹ đã khiến trẻ bị

tổn thương trong lòng, sau đó trẻ lại được thông

báo rằng chúng mắc bệnh, đây lẽ nào không phải là

họa vô đơn chí ư?

Tạp chí Y học nhi khoa của Đức do Tập đoàn y dược

Novartis tài trợ đã xuất bản một chuyên san Hội

chứng thiếu chú ý và tăng động, trong đó thậm chí

còn suy đoán rằng, bệnh tăng động là di sản của

148

thời kỳ đồ đá. Đồng thời nói với mọi người rằng

“bệnh tăng động có thể là một công cụ hành vi có

ích (do di truyền quyết định) trong thời kỳ đầu của

nhân loại, trong xã hội hiện đại lại trở thành

khuyết điểm, đe dọa đến sự phát triển và tính thích

ứng xã hội của trẻ”(1) - ngay cả đặc điểm di

truyền được giữ gìn từ hàng triệu năm nay của nhân

loại cũng đã biến thành bệnh.

________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006, tr.97.

4. Mối quan hệ giữa hậu quả bệnh tật và logic

hoang đường

Mặc dù không rõ nguyên nhân gây bệnh, trong khi

hậu quả của căn bệnh này luôn được miêu tả rất rõ

149

ràng, nghe rất đáng lo. Các tài liệu khác nhau đều

nói rằng, nếu trẻ mắc bệnh tăng động không được

điều trị kịp thời, hầu hết sẽ phạm tội trong độ

tuổi dậy thì, khả năng tự làm chủ kém, xốc nổi,

thích ngồi mát ăn bát vàng, hình thành nên nhân

cách phản xã hội, sau khi trưởng thành trở thành

người dễ lạm dụng cồn và các chất ma túy, tỉ lệ

phạm tội cao. Tóm lại, tương lai của chúng đều rất

tối tăm, thậm chí là tội ác.

Một căn bệnh cuối cùng lại phát triển thành một

vấn đề đạo đức!

Mối quan hệ nhân quả giữa bệnh tăng động và nhân

cách phản xã hội đã hình thành như thế nào, mối

quan hệ logic giữa “bệnh tật” và “phạm tội” đã được

suy đoán như thế nào, cơ chế chuyển biến giữa

150

chúng là gì, không ai có thể giải thích được. Tuy

nhiên, những thông tin y tế có liên quan đều nói

như vậy.

Một trạng thái tinh thần của con người có thể sẽ

ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh lý, đồng thời

một số thay đổi về sinh lý cũng có thể sẽ gây ra

những thay đổi trong trạng thái tinh thần. Tuy

nhiên bệnh tật sinh lý và đạo đức nhân cách có thể

hình thành nên mối quan hệ nhân quả trực tiếp ư,

chúng ta có thể nói những người mắc bệnh cao huyết

áp và giãn phế nang cuối cùng hầu hết đều biến

thành kẻ xấu ư? Thực tế là những bệnh nhân từng mắc

bệnh về não như viêm màng não, u não, teo não…, sự

phát triển về đạo đức của họ không hề liên quan

đến bệnh tật, tại sao chỉ mỗi căn bệnh tăng động

151

lại gây ra sự biến dị trong đạo đức?

Lùi một bước nói, giả dụ những điều này đều là sự

thật, một căn bệnh bắt nguồn từ yếu tố di truyền

hoặc môi trường xuất hiện ở thời kỳ thơ ấu, cuối

cùng lại chuyển hóa thành một diện mạo đạo đức sau

khi trưởng thành, vậy thì phải chăng người bệnh

không cần phải chịu trách nhiệm về hành vi phản xã

hội của anh ta sau khi trưởng thành, vì bản thân

anh ta chính là một người bị hại của bệnh tật.

Không phải những người mắc bệnh tâm thần nếu giết

người đều bị miễn tội chết đó sao? Nếu suy luận như

vậy, một tên tội phạm chỉ cần chứng minh được

rằng, thời ấu thơ mắc “bệnh tăng động”, phải chăng

có thể miễn giảm trách nhiệm hình sự?

5. Tại sao ngày càng có nhiều người được chẩn đoán

152

là mắc bệnh

Cho đến nay, vẫn chưa có cách giải thích nào đáng

tin cậy về nguyên nhân gây bệnh tăng động, vậy thì

rốt cục là nguyên nhân nào khiến số người mắc bệnh

tăng động càng ngày càng nhiều. Lẽ nào chỉ là sự

chẩn đoán sai ư?

Thực ra hơn một thế kỷ kể từ khi Heinrich Hoffmann

“phát hiện” cho đến nay, “bệnh tăng động” không

được mọi người đặc biệt quan tâm, chú ý, mãi cho

đến khi Methylphenidate (hay còn gọi là Ritalin)

xuất hiện. Sắp xếp lại lịch sử phát triển của

Methylphenidate, về cơ bản có thể hiểu được sự thật

tại sao “bệnh nhân” càng ngày càng đông.

Năm 1944, công ty Ciba (cũng chính là nhà sản xuất

Methylphenidate hiện nay) đã sản xuất ra

153

Methylphenidate. Thời gian đầu, loại thuốc này chỉ

kê đơn cho người lớn, chuyên trị các chứng bệnh như

mệt mỏi quá độ, tâm trạng ức chế, rối loạn sinh lý

ở người cao tuổi. Hơn hai mươi năm đầu, loại thuốc

này không nổi tiếng, lượng tiêu thụ cũng không

nhiều, vì chứng bệnh thích ứng cụ thể của nó không

rõ ràng. Năm 1961, Cơ quan quản lý an toàn thực

phẩm và dược phẩm Mỹ cho phép sử dụng

Methylphenidate để chữa trị cho những trẻ em có vấn

đề trong hành vi. Loại thuốc này đã từng được đưa

đến hai ngôi trường của trẻ em da đen ở bang

Maryland, sau khi học sinh uống, hiện tượng chen

lấn ồn ào trong trường đã giảm đi đôi chút. Điều

này đã khuyến khích một nhóm bác sĩ Mỹ sử dụng rộng

rãi loại thuốc này cho trẻ em, để phát hiện ra

154

những người nào cần phải uống thuốc. Thời gian đầu

sử dụng thuốc là để kiểm tra trẻ có mắc bệnh hay

không. Nếu uống vào, hành vi có nhiều thay đổi tức

là có bệnh, ngược lại, những em nào không có phản

ứng gì với thuốc tức là khỏe mạnh. Sau đó được coi

là một loại thuốc trị bệnh được sử dụng trên diện

rộng ở trẻ em. Năm 1970 Mỹ có khoảng hai trăm nghìn

đến ba trăm nghìn trẻ em uống Methylphenidate(1);

đến giữa thập kỷ tám mươi thế kỷ XX, có một triệu

trẻ em uống Methylphenidate; đến đầu thế kỷ XXI, số

trẻ em Mỹ uống loại thuốc này lên tới sáu phảy sáu

triệu em, trong đó có gần một nửa dùng nó để chữa

bệnh tăng động thiếu chú ý(2).

_________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

155

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006, tr.89.

(2) Randall Fitzgerald, Thực phẩm và dược phẩm gây

tổn hại đến sức khỏe của bạn như thế nào, Mộ Dịch

dịch, NXB Đại học Sư phạm Bắc Kinh, tháng 6-2007,

tr.151.Nếu rất nhiều năm về trước vì trẻ không

ngoan nên bắt chúng uống thuốc, thì đó chắc chắn là

một điều không thể tưởng tượng, Methylphenidate đã

biến không ngoan thành một căn bệnh cần phải điều

trị bằng thuốc.

Hiện nay có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh

tăng động, có thể chia thành thuốc kích thích trung

khu thần kinh, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống

bệnh tâm thần, thuốc chống động kinh, nhưng

Methylphenidate vẫn được sử dụng nhiều nhất. Một

điều cần lưu ý là giá bán của các loại thuốc này

156

đều không rẻ.

Tài liệu cho thấy, thị trường dược phẩm và điều

trị cho trẻ em mắc bệnh tăng động ở Mỹ lên tới ba

tỉ USD mỗi năm. Đến năm 2012, thị trường dược phẩm

và điều trị cho trẻ em mắc bệnh tăng động ở Anh

cũng sẽ lên tới một trăm lẻ một triệu Euro. Và mỗi

năm, các công ty sản xuất thuốc lớn còn đầu tư một

lượng kinh phí lớn cho đội ngũ vận động hành lang,

yêu cầu chính phủ nới lỏng quản lý đối với thuốc

chữa bệnh tăng động ở trẻ em.

Hiện nay thuốc chữa bệnh tăng động ở trẻ em còn

được tiêu thụ sang các nước trên thế giới, bệnh

ADHD cũng bắt đầu phổ biến ở Trung Quốc. Một

website y tế nọ ở Trung Quốc đã viết như sau:

“Methylphenidate điều trị bệnh tăng động ở trẻ em

157

rất có hiệu quả, khuyết điểm duy nhất của

Methylphenidate là không thể điều trị tận gốc căn

bệnh này, chỉ có thể uống trong thời gian dài”.

Trên mạng Internet bán mỗi lọ từ ba trăm bảy mươi

tệ đến ba nghìn bốn trăm tệ. Ở nước ngoài, nếu

trong nhà có trẻ phải uống thuốc, đây cũng là một

khoản chi không nhỏ.

Bánh ngon ai cũng muốn cắt một miếng. Công ty dược

phẩm nổi tiếng có vốn đầu tư nước ngoài tại Trung

Quốc là Yangsen ở Tây An tuyên bố họ đã nghiên cứu

và chế tạo ra một loại thuốc có hiệu quả lâu dài

trong việc điều trị bệnh tăng động -

Methylphenidate Hydrochloride Controlled Release,

cách tuyên truyền của họ cũng rất đi vào lòng

người. Mùa hè năm 2007, hai tờ báo có ảnh hưởng lớn

158

nhất ở Bắc Kinh là Bắc Kinh buổi tối và Thanh niên

Bắc Kinh đều đưa tin, thuốc kích thích trung khu

thần kinh do công ty Eli Lilly của Mỹ sản xuất

Atomoxetine Hydrochloride chính thức có mặt ở thị

trường Trung Quốc. Các bài báo này tuyên truyền

rằng, “Chữa bệnh bằng thuốc là sự lựa chọn hàng

đầu” để điều trị bệnh tăng động ở trẻ em. Sang đến

mùa đông, lại xuất hiện một bài báo tuyên truyền

khác, ngày 30-11, tờ Thanh niên Bắc Kinh lại đăng

tải bài viết Bệnh tăng động ở trẻ em nếu không kịp

thời điều trị sẽ ảnh hưởng đến suốt đời, nhắc nhở

bố mẹ không nên thờ ơ đối với căn bệnh này, nhất

thiết phải điều trị, “chữa bệnh bằng thuốc là sự

lựa chọn hàng đầu”, sau đó nói với mọi người có một

loại thuốc tên là Atomoxetine Hydrochloride, “mỗi

159

ngày uống một viên có thể kiểm soát bệnh tật không

gián đoạn trong cả ngày, thích hợp cho việc uống

lâu dài nhưng lại không lệ thuộc vào thuốc”.

Ngày 5-7-2008, tờ báo này lại đăng tải bài viết

Khả năng tập trung của con trẻ, bố mẹ đã chú ý hay

chưa?, nhắc nhở bố mẹ không chịu tập trung chính là

mắc bệnh tăng động ADHD, nếu không kịp thời chữa

trị, ngoài việc sẽ gặp nhiều khó khăn trong học

tập, 50%-65% số người mắc bệnh tương lai sẽ gặp một

số vấn đề: Có những biểu hiện không như ý trong

công việc, khái niệm thời gian kém, khả năng giao

tiếp kém, dễ nổi cáu, tính tình nóng nảy, nghiện

rượu hoặc thuốc men, tỉ lệ phạm tội cao… Sau đó cực

lực giới thiệu rằng: “Gần đây, Hiệp hội Thần kinh

trẻ em Trung Hoa, Hiệp hội Bảo vệ sức khỏe trẻ em

160

Trung Hoa và Hiệp hội Tâm thần trẻ em Trung Hoa đã

phối hợp và đưa ra phương án điều trị bệnh ADHD ở

Trung Quốc. Trong phương án này, Methylphenidate

được coi là loại thuốc điều trị được lựa chọn ở

tuyến đầu, có các đặc điểm như hiệu quả tốt, ít tác

dụng phụ, dần dần được các bệnh viện coi là sự lựa

chọn hàng đầu trong việc điều trị bệnh tăng động,

đã được đưa vào danh mục bảo hiểm y tế trẻ em của

quốc gia”. Những bài tuyên truyền tương tự còn xuất

hiện trên các tờ báo như Dương Thành buổi tối, Bắc

Kinh buổi sáng... hồi tháng sáu, tháng bảy, các

bài báo này đều nhắc đến ba “Hiệp hội” này và loại

thuốc này. Nhưng ngoài ba cái tên được nhắc tới

trong các bài viết này, trên mạng Internet không

tìm thấy website của ba “Hiệp hội” này và các thông

161

tin có liên quan. Tôi đã hỏi mấy người bạn trong

ngành y, họ bảo chưa bao giờ nghe thấy tên của

những “Hiệp hội” này.

Hiện nay có một loại quảng cáo tên là “quảng cáo

mềm”, đây là chuyện mà mọi người trong giới quảng

cáo biết rất rõ, tức là nhà sản xuất quảng cáo sản

phẩm bằng hình thức đưa tin, đưa bài. Đương nhiên,

chỉ cần là quảng cáo, bất luận xuất hiện dưới hình

thức nào, đều phải trả tiền cho các phương tiện

truyền thông.

Một bác sĩ người Mỹ đã từng nói một câu rất kinh

điển rằng: “Biện pháp marketing thuốc men tốt nhất

chính là mở rộng độ ảnh hưởng của bệnh tật”, đây

thực chất là một bí mật trong ngành sản xuất thuốc.

Do mỗi năm chỉ có một lượng ít thuốc mới có thành

162

phần mới được đưa vào thị trường, để các thuốc cũ

hoặc thuốc có lượng tiêu thụ kém cũng được bán đi,

các nhà sản xuất thuốc buộc phải tạo ra bệnh

tật(1).

________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006, tr.109.

Một căn bệnh có “tiền đồ” lớn như vậy, không phát

triển thành phong trào cũng khó.

6. Tác dụng phụ đáng sợ của thuốc chữa bệnh tăng

động

Những loại thuốc này có thật là không có tác dụng

phụ giống như quảng cáo nói hay không?

Về tác dụng phụ của các loại thuốc kích thích

trung khu thần kinh dành cho trẻ em như

163

Methylphenidate và các loại thuốc khác, thường bao

gồm: Giảm cảm giác thèm ăn, mất ngủ, đau đầu chóng

mặt, giảm trọng lượng, ngoài ra còn có thể xuất

hiện các triệu chứng như dị ứng, thần kinh hưng

phấn mang tính vận động, ảo giác sợ hãi và bị theo

dõi, đôi khi đau bụng. Những tác dụng phụ này

thường chỉ được viết trong tờ đơn giới thiệu thuốc,

đây chưa phải là những tác dụng phụ xấu nhất,

nghiêm trọng hơn cả là những tác dụng không được

ghi trên đơn giới thiệu:

Thuốc kích thích trung khu thần kinh ức chế sự

tăng trưởng về thể trọng và chiều cao, những đứa

trẻ uống liên tục hai năm loại thuốc thần kinh này,

chiều cao trung bình thấp hơn so với trẻ cùng tuổi

một phẩy năm centimet(1), uống thuốc trong thời

164

gian dài có thể khiến cơ thể thấp bé.

_________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006, tr.99.

Viện Nghiên cứu sức khỏe tâm lý quốc gia của Mỹ đã

công bố một kết quả nghiên cứu về thần kinh học,

những trẻ không uống thuốc điều trị bệnh tăng động

thiếu chú ý, đến năm bảy tuổi rưỡi, lớp vỏ đại não

ở não phải đạt tới mức dày nhất, trong khi đó, ở

những trẻ uống thuốc, thời gian để lớp vỏ đại não ở

não phải đạt tới mức dày nhất muộn hơn trẻ không

uống thuốc ba năm. Cũng có nghĩa là, uống thuốc

Methylphenidate sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí

tuệ của trẻ.

Trọng lượng của trẻ em tương đối nhẹ, chúng đang ở

165

trong giai đoạn phát triển, các cơ quan trong cơ

thể vẫn chưa hoàn thiện, sức đề kháng của chúng đối

với các chất hóa học rất yếu, sử dụng lâu dài loại

thuốc này sẽ có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển

của các cơ quan, thậm chí để lại hậu họa.

Ngày 22-2-2007, diễn đàn Sohu đã trích tin từ tờ

Luật pháp buổi tối và viết rằng, Cơ quan Quản lý an

toàn thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) thông báo, từ

năm 1999 đến năm 2003, trong số các bệnh nhân sử

dụng thuốc chữa bệnh ADHD, có hai mươi lăm người tử

vong, trong đó có mười chín trẻ em; đồng thời, một

bản báo cáo của FDA cho thấy, xác suất nguy hiểm

đối với những người sử dụng thuốc chữa bệnh ADHD

xuất hiện các triệu chứng về bệnh tâm thần lên tới

một phần nghìn, ví dụ những người sử dụng thuốc sẽ

166

xuất hiện các vấn đề về bệnh tâm thần như ảo giác

thính giác, nghi ngờ vô cớ, nôn nóng bất an. FDA

kiến nghị, Methylphenidate cần bổ sung thêm những

lời cảnh cáo đen trong tờ đơn giới thiệu thuốc,

nhắc nhở mọi người loại thuốc này có thể gia tăng

nguy hiểm cho người sử dụng như gây thiệt mạng hoặc

gây ra các tổn thương về mặt tinh thần.

Ngoài những tác dụng phụ đáng sợ nói trên, tôi cho

rằng, tác hại lớn nhất của loại thuốc này đối với

trẻ em là về tâm lý. Ngày nào cũng uống một viên

thuốc tức là ngày nào cũng nhắc nhở rằng: Em là

người mang bệnh, em phải uống thuốc.

Tuổi thơ trôi qua sẽ không bao giờ trở lại, những

thuốc đã từng uống cũng sẽ để lại vết tích trong cơ

thể; bị gắn cái mác “bệnh tăng động” cũng sẽ để

167

lại dấu vết trong tâm hồn. Tôi đã từng gặp một số

em, sau khi uống thuốc một giai đoạn, các em không

chịu dừng thuốc, sợ rằng nếu dừng thuốc mình sẽ

càng trở nên tồi tệ hơn. Thuốc không những gây hại

cho sức khỏe của trẻ, mà còn hủy hoại lòng tự tin

của em - lẽ nào tác dụng phụ này không phải là đáng

sợ nhất hay sao?

7. Phụ huynh và giáo viên trở thành “tay sai” gây

rắc rối

Những thông tin về “bệnh tăng động ở trẻ em” càng

ngày càng nhiều, nó khiến cho rất nhiều người tin

rằng, đúng là có một loại bệnh đang đe dọa đến sức

khỏe của trẻ em, và hơn nữa đang có chiều hướng lây

lan rộng, ngay cả trẻ trong trường mầm non “không

giữ kỷ luật, không ngủ trưa” cũng bị nói là triệu

168

chứng của bệnh tăng động. Tôi đã từng gặp không ít

phụ huynh, nói đến chuyện con họ không chịu nghe

lời, liền lo lắng và nói rằng có thể con mình mắc

bệnh tăng động. Bởi những “triệu chứng” của bệnh

tăng động rất dễ khiến phụ huynh gắn con mình với

căn bệnh này.

Hầu hết những vị phụ huynh tin vào “bệnh tăng

động” lại không hiểu nhiều về căn bệnh này, thậm

chí chưa từng tìm hiểu qua các tài liệu, thông tin

của họ chủ yếu bắt nguồn từ bác sĩ, báo chí hoặc

nghe người nọ người kia nói. Rất nhiều phụ huynh

đưa con đi khám bệnh tăng động sau khi được giáo

viên gợi ý hoặc đề nghị. Bởi hành vi của trẻ ở

trường hoặc trường mầm non không phù hợp với yêu

cầu, gây phiền hà cho giáo viên. Giáo viên không

169

muốn bị một số học sinh gây phiền hà quá nhiều,

không muốn hoặc không đủ khả năng tìm kiếm mấu chốt

của vấn đề trong giáo dục, và thế là liền tìm biện

pháp giải quyết đơn giản nhất là để cho phụ huynh

đưa con đi khám bác sĩ. Chỉ cần đưa trẻ đến bác sĩ

để kiểm tra, rất nhiều trẻ liền trở thành “bệnh

nhân”, chúng phải uống thuốc hàng ngày. Như thế

giáo viên liền có thể được giải thoát một cách nhẹ

nhàng trước sự quấy rối của một số học sinh.

Không ít phụ huynh cũng muốn quy kết một số “vấn

đề” của con trẻ cho nguyên nhân khách quan, lối suy

nghĩ này không đòi hỏi bố mẹ phải tự trách mình,

thực hiện cũng giản tiện nhất. Thậm chí tôi còn gặp

phụ huynh của một em học sinh cấp ba, con chị

không chịu học hành chăm chỉ, không thích ngồi

170

trước bàn học, chỉ muốn đi đá bóng hoặc xem ti vi,

chị cho rằng con mình mắc bệnh tăng động, liền bắt

con đi khám bác sĩ khoa tâm thần, ngày ngày bắt con

uống thuốc. Và với tư cách là phụ huynh, chị không

hề muốn kiểm điểm lại những sai lầm trong phương

pháp giáo dục của mình bao nhiêu năm qua, càng

không muốn thay đổi phương pháp giáo dục của chính

bản thân mình.

Những phụ huynh hoặc giáo viên có con hoặc học

sinh mắc “bệnh tăng động”, nếu biết quan tâm và

thấu hiểu con trẻ, chăm chú lắng nghe “ngôn ngữ

hành vi” của trẻ, mọi thứ của trẻ đều trở nên bình

thường. Trên lớp trẻ không chú ý nghe giảng là vì

không thích cách giảng bài của giáo viên hoặc không

có hứng thú với nội dung bài giảng; thành tích học

171

tập kém, là vì trẻ không học các nội dung trong

bài thi; tấn công bạn bè, là vì trẻ muốn bảo vệ

mình hoặc cảm nhận được niềm vui ở trong đó; có

những hành động nguy hiểm, là vì chúng muốn thể

hiện mình hoặc không biết nguy hiểm là gì - hàng

triệu trẻ em khác nhau sẽ có hàng triệu ý thức về

mình khác nhau, hành vi của chúng cũng có những

biểu hiện khác nhau. Chúng vẫn chưa có được quan

niệm đạo đức, quan niệm giá trị, khả năng chịu đựng

và khả năng dự đoán được hậu quả như người lớn,

chính vì thế chúng rất khó dùng những cái này để

kiểm soát mình.

Người lớn tiếp nhận một đứa trẻ ở mức độ như thế

nào, được quyết định bởi anh ta hiểu được “lời tâm

sự” của đứa trẻ ra sao.

172

Phụ huynh và giáo viên đều yêu trẻ, nhưng chỉ có

tình yêu thôi thì chưa đủ. Sự khác biệt trong

phương châm giáo dục, cách xử lý vấn đề sẽ dẫn đến

sự khác biệt lớn của chất lượng của tình yêu. Chỉ

khi hiểu con trẻ, mới có thể giáo dục tốt trẻ, mới

có thể yêu trẻ một cách có chất lượng.

8. Rốt cục trẻ mang “bệnh tăng động” đã mắc chứng

bệnh gì?

Nếu nói quả thật con trẻ biểu hiện ra một số vấn

đề trong hành vi hoặc phẩm chất nhân cách, về cơ

bản những vấn đề này đều có thể dùng giáo dục học

để giải thích.

Một phần do phụ huynh hoặc giáo viên coi sự hiếu

động, hoạt bát bình thường của trẻ là có vấn đề,

không có chuyện gì mà gây chuyện. Phần lớn do trong

173

cuộc sống gia đình trẻ phải chịu sức ép tâm lý

lớn, khi chống lại sức ép, trẻ đã để nảy sinh và

phát triển ra nhiều hành vi dị dạng. Đương nhiên

những hành vi dị dạng này sẽ khiến người ta cảm

thấy khó chịu, muốn tìm nguyên nhân gây ra nó, buộc

phải quay trở về với môi trường trưởng thành trong

gia đình.

Ngày càng có nhiều trẻ mắc “bệnh tăng động” chỉ có

thể chứng minh một điều rằng, ngày càng có nhiều

vấn đề tồn tại trong giáo dục gia đình hiện nay.

Sự theo đuổi đối với sự tiêu chuẩn hóa của xã hội

hiện đại khiến xã hội nảy sinh tâm lý a dua trong

mọi phương diện. Bố mẹ luôn mong con mình phát

triển theo hướng “tấm gương”, chứ không phát triển

theo hướng mà trẻ muốn. Người lớn đã đặt ra quá

174

nhiều tiêu chuẩn cho con trẻ, cho rằng đào tạo trẻ

trong khuôn mẫu tiêu chuẩn, tương lai mới có thể

thành công. Ví dụ “ham học”, “lễ phép”, “giữ kỷ

luật”, “đa tài đa nghệ”… Trẻ tỏ ra “nghe lời” trong

những phương diện này, làm theo yêu cầu của phụ

huynh, tức là tốt, nếu chúng không nghe lời, không

đạt theo yêu cầu của người lớn, liền bị trách mắng,

nghiêm trọng hơn là chửi đánh. Có bậc phụ huynh

gặp phải những cảnh ngộ không được như mong muốn

hoặc có khiếm khuyết về mặt nhân cách, thường đổ sự

không như ý của mình vào con trẻ, giao “lý tưởng”

của mình cho con trẻ thực hiện.

Thái độ của những người lớn này đối với trẻ đã thể

hiện cảm giác lo lắng và không an toàn của người

lớn. Nó ắt sẽ phát triển thành mối xung đột xảy ra

175

liên tục giữa người lớn và trẻ em. Bố mẹ của những

em mắc “bệnh tăng động” thường có nhân cách quá

khích, một mặt họ đã dùng mô hình tư duy của mình

để can thiệp một cách lâu dài, không tốt vào đặc

tính tự nhiên của trẻ, lấy danh nghĩa “tình yêu” để

không ngừng đảo lộn nhịp điệu sinh trưởng vốn có ở

trẻ, khiến chúng sa vào nỗi buồn khổ và sợ hãi;

mặt khác ý thức bảo vệ cái tôi của họ rất mạnh,

người lớn muốn vừa vấp phải thử thách, liền đưa ra

phản ứng ngay, thường đối xử với trẻ một cách hà

khắc. Phương pháp giáo dục này có lợi cho việc giúp

người lớn trút bỏ tâm trạng, nhưng không có lợi

cho sự phát triển của trẻ, gây tổn thương về mặt

tâm lý cho trẻ.

Phân tích mọi “triệu chứng” trong bảng điểm chẩn

176

đoán, đều phản ánh sự điều chỉnh của trẻ em đối với

mối quan hệ giữa bản thân chúng và thế giới. Chúng

dùng các “triệu chứng” khác nhau để trút bày những

trải nghiệm tự ti, bất an, chán ghét, thất vọng,

thờ ơ, căm hận, nghi ngờ… sau khi không ngừng bị

tổn thương về mặt tâm lý. Vết thương tâm lý sẽ

khiến trẻ chịu sức ép lớn về mặt tinh thần, hành vi

trở nên biến thái, hoặc là trở thành một đứa trẻ

ngang ngạnh, khó bảo; hoặc là trở thành một kẻ bù

nhìn hoàn toàn đánh mất chính mình; hoặc sẽ trở

thành một con người cô độc, quá khích, không thể

sống chung với người khác - đằng sau tất cả những

điều này đều là do trẻ mất cảm giác an toàn, mất tự

tin.

Con người là sinh vật nhạy cảm biết bao, ngay từ

177

khi còn rất nhỏ trẻ em đã có cảm nhận mạnh mẽ về

tình yêu và sự tôn trọng. Bất kỳ cảnh ngộ nào trong

cuộc sống đều có thể tạo nên những thay đổi trong

các chỉ tiêu sinh hóa trên cơ thể trẻ, kể cả trong

đại não của những trẻ được gọi là mắc “bệnh tăng

động” có thiếu Dopamine làm cho trẻ yên tĩnh, ai có

thể nói rõ đây là nguyên nhân hay kết quả? Chính

vì vậy “nguyên nhân gây bệnh” thực sự của “bệnh

tăng động” là hai sai lầm mà người lớn mắc phải:

Quan niệm sai lầm về trẻ em và phương pháp giáo dục

sai lầm.

Nói như thế này khiến rất nhiều phụ huynh và giáo

viên cảm thấy không vui, thậm chí phản cảm. Họ đã

quen quy kết vấn đề cho một nguyên nhân khách quan,

đồng thời đi tìm phương án giải quyết khách quan.

178

Lời chẩn đoán của bác sĩ đã giảm nhẹ cảm giác có

tội đối với sự thất bại trong giáo dục của phụ

huynh và giáo viên, giữ thể diện cho họ. Đồng thời,

so với việc lưu tâm quan sát, hạ quyết tâm tự thay

đổi mình, uống thuốc là biện pháp đơn giản nhất,

ít đòi hỏi bố mẹ và giáo viên phải mất công sức

nhất - nó rất phù hợp với hành vi của những phụ

huynh vốn thiếu quan tâm, thấu hiểu con trẻ, coi

mình là nhất. Những phụ huynh và giáo viên tự coi

mình là nhất tin vào thuốc hơn là tin vào giáo dục.

Sai lầm mà người lớn mắc phải, lại trút toàn bộ

lên đầu trẻ, bắt trẻ phải gánh chịu. Bị chẩn đoán

là “có bệnh” đã gỡ tội cho bố mẹ và giáo viên,

nhưng nó lại vĩnh viễn làm tổn thương con trẻ.

Hiện nay những căn bệnh phổ biến trong trẻ em còn

179

có bệnh hội chứng Tourette(1), Rối loạn khả năng

điều hòa ngũ quan(2) triệu chứng của chúng khá

giống với bệnh tăng động. Có người đã đưa hai loại

bệnh này vào nội hàm của bệnh tăng động, có người

thì xếp chúng ngang hàng với bệnh tăng động. Sử

dụng thuốc cũng đều là những loại thuốc kiểm soát

trung khu thần kinh.

_________________

(1) Hội chứng Tourette là chứng rối loạn hệ thần

kinh có những biểu hiện như có những động tác co

giật không tự chủ, cứng nhắc, gặp trở ngại trong

ngôn ngữ, hành vi, như liên tục chớp mắt, làm trò

hề, lắc đầu, nhún vai, hắng giọng, phát tiếng ho…

(2 Rối loạn khả năng điều hòa ngũ quan (Sensory

integration dy sfunction) là chỉ tín hiệu kích

180

thích cảm giác bên ngoài không thể được tổ hợp một

cách có hiệu quả trong hệ thống thần kinh đại não ở

trẻ em, khiến cho cơ thể không thể vận động một

cách hài hòa, dần dần hình thành nên các bệnh về

tâm lý. Trẻ có những đặc điểm như không chịu tập

trung, trí nhớ kém, hay quên, thành tích học tập

kém, làm bài tập lề mề, xốc nổi, mạo hiểm, gặp khó

khăn trong những công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ

mỉ, nói lắp, không diễn đạt được ý của mình; có

trẻ lại dễ căng thẳng, nhút nhát, hay khóc, không

hòa đồng, kén ăn hoặc ăn uống vô độ…, (ND).

Thực ra, điều bất hạnh thực sự của những em mắc

“bệnh tăng động”, “Hội chứng Tourette” hoặc “Rối

loạn khả năng điều hòa ngũ quan” đều là sau khi

chào đời, mọi bản tính bình thường của trẻ đều bị

181

tước đoạt. Có một vị phụ huynh khi con học đi, sợ

con làm bẩn quần áo, sợ con bị ngã nên bế trên tay

suốt ngày, không cho con xuống đất. Còn rất nhiều

sự hạn chế tương tự như thế, không cho phép trẻ làm

việc này hay việc khác. So với những trẻ cùng

trang lứa, động tác của con chị không hài hòa, năm

mười tuổi buộc phải vào “lớp trị liệu Rối loạn khả

năng điều hòa ngũ quan”. Cũng giống như vậy, rất

nhiều tài liệu và kinh nghiệm có thể chứng minh

được rằng, những đứa trẻ thường xuyên bị đánh mắng,

do sức ép quá lớn, cũng sẽ xuất hiện hiện tượng co

giật ở tứ chi hoặc ngũ quan, tức cái gọi là “hội

chứng Tourette”.

Những đứa trẻ này đã “ốm” rồi, nhưng uống thuốc có

giải quyết được vấn đề gì không? “Lớp trị liệu” có

182

trị liệu được không? Tôi đã từng gặp một số em

tham gia “lớp trị liệu Rối loạn khả năng điều hòa

ngũ quan”, bố mẹ của các em đã bỏ ra rất nhiều

tiền, nhưng tình trạng của các em không có gì cải

thiện.

9. Các bác sĩ đại diện cho khoa học và sự quyền uy

Đứng trên góc độ của bác sĩ để xem xét vấn đề. Từ

trước đến nay, giới y học luôn tranh cãi về căn

bệnh này, có rất nhiều bác sĩ cho rằng đây là căn

bệnh do người ta phát minh ra, là bệnh giả. Tuy

nhiên nhiều bác sĩ tâm thần không phản đối việc kê

thuốc cho trẻ.

Một mặt bác sĩ không đứng trên góc độ giáo dục để

suy nghĩ vấn đề, mặt khác thông thường bác sĩ không

183

muốn nói với người đến khám bệnh rằng anh không có

bệnh, không kê thuốc mà cho bệnh nhân về. Người

bệnh có bệnh, không chẩn đoán ra được bệnh, bác sĩ

sẽ phải gánh trách nhiệm; nhưng người bệnh không có

bệnh, bị nghi ngờ là có bệnh và tiến hành điều

trị, kể cả cuối cùng được chẩn đoán chính xác là

không có bệnh, bác sĩ cũng sẽ không gặp rắc rối gì.

Những bác sĩ có thể tóm bắt được những triệu chứng

mơ hồ và đưa ra lời chẩn đoán, mới được người ta

tôn trọng hơn. Đây là nguyên nhân đầu tiên. Nguyên

nhân thứ hai là, xét về nghiên cứu y học, bác sĩ

phải không ngừng đưa ra thành quả nghiên cứu học

thuật của mình, nhưng không phải mọi thành quả đều

từ nghiên cứu mà ra. Trong cuốn Người phát minh

bệnh tật có một đoạn rất hay, xin trích ra như sau:

184

“Sự ra đời của một căn bệnh thường bắt nguồn từ

việc một bác sĩ nào đó tuyên bố đã quan sát được

một tình trạng bất thường. Lúc đầu chỉ có một số ít

bác sĩ tin vào triệu chứng của bệnh mới, tiếp theo

đó những người này tham gia một hội nghị nào đó,

trong cuộc hội nghị giao cho một nhóm chuyên gia

phụ trách công tác xuất bản kỷ yếu, dựa vào các bài

viết trong kỷ yếu để mở rộng độ ảnh hưởng của căn

bệnh mới đồng thời gây hứng thú cho người khác. Đến

đây, các bác sĩ khác cũng chú ý tới hiện tượng

mới, sau đó cố gắng tìm kiếm những bệnh nhân có

triệu chứng tương tự. Trong quá trình khám bệnh

mang tính lựa chọn này, đã có thể xuất hiện một

dịch bệnh mới. Tiếp sau đó rất nhiều bài viết và

báo cáo nghiên cứu bắt đầu khiến người ta nảy sinh

185

một ấn tượng: Bác sĩ đã phát hiện ra căn bệnh mới

thật. Nhóm bác sĩ này tự xuất bản chuyên san phát

biểu kết quả nghiên cứu của mình - trong đó cam

đoan là không có những báo cáo mang tính phê

bình”(1).

________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006, tr.55.

Nguyên nhân quan trọng thứ ba là mối quan hệ tế

nhị giữa bác sĩ và nhà sản xuất thuốc. Rất nhiều

quốc gia, trong đó bao gồm Mỹ, Anh, Đức, hiện tượng

các nhà sản xuất thuốc tài trợ cho các tạp chí y

học thanh thiếu niên, các cuộc hội thảo khoa học là

rất phổ biến. Nhà sản xuất thuốc tài trợ cho hội

thảo y học, sau khi các cuộc hội thảo kết thúc liền

186

tổ chức tiệc chiêu đãi mời các bác sĩ tham gia, tổ

chức các buổi du lịch. Hiện nay công tác tu nghiệp

của bác sĩ theo luật định ở Đức, phần lớn là do

các nhà sản xuất thuốc sắp xếp. Sau khi kiếm được

một khoản tiền lớn từ nhà sản xuất thuốc, giáo sư y

học và bác sĩ tư nhân liền phát biểu trong cuộc

họp báo. Biện pháp hiệu quả nhất, ghê gớm nhất của

các nhà sản xuất thuốc là tài trợ cho các tạp chí y

học, phát biểu công trình nghiên cứu khoa học trên

tạp chí, những báo cáo này rất chặt chẽ, không thể

phản bác, không những thường xuyên đối chiếu xem

thuốc mới có phát huy được tác dụng quan trọng hay

không, mà còn ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc và

phạm vi sử dụng thuốc của các bác sĩ sau này(1).

________________

187

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006,

tr.26-34.Vài năm gần đây, không ít nhà sản xuất

thuốc nổi tiếng quốc tế đã tiến quân mạnh mẽ vào

thị trường Trung Quốc, ngành sản xuất thuốc trong

nước cũng phát triển nhanh chóng. Cùng với đó, mô

hình marketing y dược phổ biến trên thế giới không

những bén rễ ở Trung Quốc, mà còn phát triển rất

mạnh. Đội ngũ dược sĩ khổng lồ mới nổi, giống như

những nút thắt dày đặc, gắn kết doanh nghiệp sản

xuất với bác sĩ. Một số nhà sản xuất thuốc có thực

lực đã mời bác sĩ thông qua việc kê đơn hoặc tuyên

truyền để tiếp thị sản phẩm của mình, đây là chuyện

không hề khó khăn.

Từ lâu nay, lời nói của ai cũng có thể nghi ngờ,

188

nhưng chúng ta không nghi ngờ lời của bác sĩ. Vì họ

là những người đại diện cho khoa học, là bậc quyền

uy quan tâm đến sức khỏe và số phận của con người.

Nhưng sự thôi thúc của lợi ích giống như dòng nước

lũ có thể thay đổi và hủy hoại rất nhiều thứ.

Giới y học Australia đã tổng kết ra năm phương

thức bán triệu chứng bệnh trên lâm sàng:

Coi quá trình sinh mệnh bình thường là vấn đề y

tế;

Coi vấn đề cá nhân và vấn đề xã giao là vấn đề y

tế;

Coi rủi ro gây bệnh là triệu chứng của bệnh;

Coi những triệu chứng hiếm gặp là bệnh dịch lây

lan khắp nơi;

Coi những triệu chứng nhẹ là điềm báo của căn bệnh

189

nặng(1).

________________

(1) Jorg Blech, Người phát minh bệnh tật, Trương

Chí Thành dịch, NXB Hải Nam, tháng 6-2006, tr.3.

10. Vứt thuốc vào thùng rác là khởi đầu để chữa

khỏi bệnh

Nhà giáo dục học nổi tiếng người Italia Maria

Montessori là một tiến sĩ y học, bà từng là bác sĩ

thần kinh trẻ em. Trong quá trình tiếp xúc với các

bệnh nhân khác nhau, càng ngày bà càng cảm thấy

rằng, thuốc không thể giải quyết được vấn đề, vấn

đề nằm ở giáo dục, giáo dục mới là biện pháp hiệu

quả nhất để giải quyết vấn đề tinh thần và hành vi

của trẻ. Sau nhiều năm nghiên cứu thực tiễn, bà đã

rút ra được kết luận sau: “Những khiếm khuyết về

190

mặt tâm lý và bệnh tinh thần ở trẻ chủ yếu là vấn

đề giáo dục chứ không phải là vấn đề y học, huấn

luyện giáo dục sẽ có hiệu quả hơn là huấn luyện y

tế”(2). Kết luận này đã làm thay đổi số phận của vô

số trẻ em.

__________________

(2) Montessori, Phương pháp giáo dục trẻ em khoa

học của Montessori, Nhậm Đại Văn dịch, NXB Giáo dục

nhân dân, tái bản lần thứ nhất tháng 5-2001, tr.4.

Bà đã thành lập “ngôi nhà tuổi thơ” chuyên chữa

trị vết thương tâm lý cho trẻ em, chủ yếu chữa trị

cho những em có vấn đề về mặt tinh thần, trí tuệ và

trẻ em lang thang cơ nhỡ. Bà đã phát minh ra rất

nhiều phương pháp dạy học và đồ dùng dạy học để cải

191

thiện trí tuệ và tinh thần của trẻ, huấn luyện một

cách có hiệu quả đối với học sinh. Bà đã coi những

đứa trẻ này như những đứa trẻ bình thường và gần

gũi với chúng, dành cho chúng sự quan tâm và phương

pháp giáo dục phù hợp với bản tính tự nhiên của

con người. Montessori đã rất thành công khi giúp

được những em bước vào “ngôi nhà tuổi thơ” thoát

khỏi những khó khăn và tương lai đen tối, các

phương diện như phát triển ngôn ngữ, động tác hài

hòa, quan hệ với mọi người, học hành đều như trẻ

bình thường, dưới sự giám sát của chính phủ, vượt

qua được các kỳ thi về đọc, viết, tính toán cùng

trình độ với các em cùng trang lứa trong trường

công lập. Thành quả giáo dục của bà đã gây chấn

động trong giới giáo dục toàn cầu.

192

Nguyên tắc cơ bản của lý luận và phương pháp giáo

dục của Montessori là “cố gắng giảm thiểu sự can

thiệp vào tính chủ động của trẻ”(1), tức là tạo cho

trẻ sự tự do lớn nhất, tôn trọng trẻ, phát triển

tiềm năng của trẻ, để trẻ học được cách làm việc,

phán đoán một cách độc lập. Giáo sư trường đại học

Havard, nhà giáo dục E.G.Holmes nói: “Cái tinh hoa

trong hệ thống lý luận của Montessori là có sự nhận

định đúng đắn về chân lý dưới đây: Trừ phi trong

bầu không khí tự do, trẻ em vừa không thể phát

triển được mình, cũng không nhận được sự nghiên cứu

có ích!”.

__________________

(1) Montessori, Phương pháp giáo dục trẻ em khoa

học của Montessori, Nhậm Đại Văn dịch, NXB Giáo dục

193

nhân dân, tái bản lần thứ nhất tháng 5-2001,

tr.12.

“Giảm thiểu can thiệp”, tạo cho trẻ “bầu không khí

tự do” mới có thể bồi dưỡng ra những đứa trẻ khỏe

mạnh về mặt thể xác và tâm hồn, hài hòa, điều này

về logic là trùng khớp với vấn đề hầu hết trẻ em

mắc “bệnh tăng động” đều sinh ra trong một gia đình

có sự quản giáo nghiêm khắc nói đến ở trên. Nếu

nói thật sự có một loại thuốc có thể chữa được bệnh

cho trẻ, thì có lẽ “giảm thiểu can thiệp” và “bầu

không khí tự do” là hai loại thuốc tốt nhất.

Trong cuốn Tâm hồn mang tính hấp thu, Montessori

nói: Con người là một loài động vật có trí tuệ, vì

thế nhu cầu đối với nguồn lương thực tâm lý gần như

lớn hơn nhu cầu đối với nguồn lương thực vật chất.

194

Không cần phải dọa nạt hoặc dỗ dành, chỉ cần làm

cho điều kiện sinh hoạt của trẻ được “bình thường

hóa”, bệnh tật của chúng sẽ tiêu tan, cơn ác mộng

của chúng sẽ tuyệt tích, chức năng tiêu hóa của

chúng sẽ trở lại bình thường, tính tham lam của

chúng sẽ giảm đi. Sức khỏe của chúng được bình

phục, bởi tâm lý của chúng đã trở lại bình thường.

Cuộc sống xã hội trở nên tinh tế như vậy, biết

sinh con không đồng nghĩa với việc biết làm bố mẹ,

phụ huynh thời hiện đại cần phải học một cách ngoan

đạo cách làm bố mẹ. Nếu trong gia đình bạn có một

đứa trẻ mắc “bệnh tăng động”, muốn thay đổi con

trẻ, trước hết và quan trọng nhất là phải thay đổi

bố mẹ. Bước thứ nhất là kiên quyết vứt ngay thuốc

vào thùng rác, dũng cảm thừa nhận với con trẻ rằng,

195

bố mẹ đã sai. Ngày này chính là khởi đầu mới cho

cuộc sống của bố mẹ, cũng là khởi đầu mới cho cuộc

sống của con trẻ!

Lưu ý đặc biệt

Tuổi thơ trôi qua sẽ không bao giờ trở lại, những

thuốc đã từng uống cũng sẽ để lại vết tích trong cơ

thể; bị gắn cái mác “bệnh tăng động” cũng sẽ để

lại dấu vết trong tâm hồn trẻ.

Những khiếm khuyết về mặt tâm lý và bệnh tinh thần

ở trẻ chủ yếu là vấn đề giáo dục chứ không phải là

vấn đề y học, huấn luyện giáo dục sẽ có hiệu quả

hơn là huấn luyện y tế.

Vết thương tâm lý sẽ khiến trẻ chịu sức ép lớn về

mặt tinh thần, hành vi trở nên biến thái, hoặc là

trở thành một đứa trẻ ngang ngạnh, khó bảo; hoặc là

196

trở thành một kẻ bù nhìn hoàn toàn đánh mất chính

mình; hoặc sẽ trở thành một con người cô độc, quá

khích không thể sống chung với người khác - đằng

sau tất cả những điều này đều là do trẻ mất cảm

giác an toàn, mất tự tin.

Nếu nói thật sự có một loại thuốc có thể chữa được

bệnh cho trẻ, thì có lẽ “giảm thiểu can thiệp” và

“bầu không khí tự do” là hai loại thuốc tốt nhất.

197

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát