Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Phần 2 - 5000 Năm Lịch Sử Trung Quốc

5000 NĂM LỊCH SỬ TRUNG QUỐC (Phần 2)

Tác giả: Hồ Ngật

CHƯƠNG III. TẤN – NAM – BẮC TRIỀU

VỆ THANH THIỆN CHIẾN

Vệ Thanh (?, mất năm 106 TCN), tự Trọng Khanh, cha

là Trịnh Quý, người Hà Đông - Bình Dương (phía Tây

Nam Lâm Phần, Sơn Tây ngày nay), từng làm quan sai

cho nhà Bình Dương Hầu Tào Thọ. Trịnh Quý tư tình

với người hầu của nhà chủ là Vệ Âu nên sinh hạ Vệ

Thanh. Thời niên thiếu, Vệ Thanh ở nhà chăn dê,

từng chịu nhiều điều sỉ nhục cũng như sự thờ ơ của

mọi người. Lớn lên, ông làm gia nhân cho Bình Dương

Hầu. Năm Kiện Nguyên thứ 2 (năm 139 TCN), chị của

Vệ Thanh là Vệ Tử Phu được triệu vào cung và được

Hán Vũ Đế yêu mến. Vệ Thanh theo chị đến Trường An,

1

làm việc trong cung Kiện Chương. Do giỏi cưỡi

ngựa, bắn tên nên ông thường được theo hầu Hán Vũ

Đế đi săn. Nhờ thường xuyên tiếp cận nhà vua nên Vệ

Thanh rất được Hán Vũ Đế yêu mến.

Năm Nguyên Quang thứ sáu, quân Hung Nô tấn công

Cốc Quận. Hán Vũ Đế cử Vệ Thanh làm Xa kỵ tướng

quân, cùng với Kỵ tướng quân Công Tôn Ngao, Khinh

xa tướng quân Công Tôn Hạ, Phiêu kỵ tướng quân Lý

Quảng, mỗi người thống lãnh một vạn kỵ binh, chia

thành bốn hướng: Thượng Cốc, Đại, Vân Trung, Nhạn

Môn để tập kích quân Hung Nô. Ba đạo quân của Công

Tôn Ngao, Công Tôn Hạ, Lý Quảng đều bị quân Hung Nô

đánh bại, duy chỉ có Vệ Thanh lần đầu xuất chinh

đã giành chiến thắng, mã đáo thành công, chiếm được

thánh địa của quân Hung Nô dùng để tế tổ tiên là

2

Long Thành và giết hơn 700 tướng sĩ của địch. Nhờ

lập được chiến công, Hán Vũ Đế đã thăng ông lên

chức quan Nội hầu.

Năm Nguyên Sóc thứ nhất (năm 128 TCN), Hán Vũ Đế

lại lệnh cho Vệ Thanh thống lĩnh ba vạn kỵ binh

tiến về phía Nhạn Môn Quan để đánh Hung Nô, Tướng

quân Lý Tức xuất binh đến Đại Quận để phối hợp

cùng. Vệ Thanh giao chiến ác liệt với đại quân Hung

Nô, giết và bắt sống hàng ngàn tù binh, đại thắng

trở về. Hai lần xuất binh đánh quân Hung Nô đều

giành chiến thắng, Vệ Thanh đã chứng tỏ mình là một

nhân tài quân sự kiệt xuất.

Mùa xuân năm Nguyên Sóc thứ hai (năm 127 TCN),

quân Hung Nô lại tập kết nhiều kỵ binh xâm phạm,

quấy nhiễu vùng Thượng Cốc, Ngư Dương của nhà Hán,

3

chỉ để lại một ít binh lực ở Lão Sào, Hà Nam. Hán

Vũ Đế đã áp dụng cách đánh “hạn chế sở trường của

địch hòng làm chúng yếu đi”, ông lệnh cho Vệ Thanh,

Lý Tức thống lĩnh bốn vạn tinh binh, tấn công vùng

Hà Nam của Hung Nô. Vệ Thanh áp dụng sách lược

chiến thuật tập kích đánh “thọc sườn”, trước tiên

ông thống lĩnh mấy vạn kỵ binh xuất phát từ Vân

Trung, đi đường vòng đón đầu quân địch, đánh chiếm

được hai cửa ải hiểm yếu là Thạch Môn Thủy và Cao

Khuyết, cắt đứt đường rút lui của quân Hung Nô.

Tiếp theo, ông dẫn quân tiến về Nam, qua mấy ngàn

dặm hành quân tác chiến, cuối cùng đoàn quân đến

được Lũng Tây, bao vây vùng đất Hà Nam của Lâu

Phiền Vương và Bạch Dương Vương của Hung Nô. Hai vị

vương này thấy tình thế không ổn, vội vàng thống

4

lĩnh quân đội tiến về phía Tây, vượt sông Hoàng Hà,

tháo chạy bằng đường núi đến vùng gần Kê Lộc Tái.

Vệ Thanh thống lĩnh đại quân truy kích quân Hung

Nô, giết chết hơn hai ngàn ba trăm quân lính, bắt

sống mấy ngàn tù binh, đoạt được hơn một triệu bò,

dê, thu hồi vùng đất Hà Nam. Sau đấy, ông đã lập

nên quận Sóc Phương thuộc quyền cai quản của Hán

triều. Hán Vũ Đế đã phong Vệ Thanh làm Trường Bình

Hầu, ban cho bổng lộc ba ngàn tám trăm hộ.

Năm Nguyên Sóc thứ 5 (năm 124 TCN), Hán Vũ Đế phát

động cuộc công kích với Hữu Hiền Vương của quân

Hung Nô, điều động binh lực hơn mười vạn người. Vua

lệnh cho Vệ Thanh thống lĩnh ba vạn kỵ binh đến

Cao Khuyết. Hán Vũ Đế lại phái Vệ úy Tô Kiện làm Du

kích tướng quân, Tả nội sử Lý Tữ làm Cường nỗ

5

tướng quân, Thái Bộc Công Tôn Hạ làm Kỵ tướng quân,

Đại tướng Lý Thái làm Khinh xa tướng quân, các đại

quân này đều do Vệ Thanh chỉ huy, tiến về Sóc

Phương. Ngoài ra ông còn phái Đại hình Lý Tức, Ngạn

Đầu Hầu Trương Thứ Công làm Tướng quân, cả hai dẫn

binh đến Hữu Bắc Bình để kiềm chế binh lực của Hữu

Hiền Vương, cắt đứt sự liên lạc giữa ông ta với

Thiền Vu, phối hợp tác chiến cùng Vệ Thanh, tấn

công trực diện. Hữu Hiền Vương của quân Hung Nô

biết tin quân Hán xuất chinh tỏ vẻ khinh địch, nghĩ

rằng sa mạc hoang vắng, đường sá lại xa xôi, quân

Hán sẽ không dám tấn công, nên lơ là cảnh giác,

toàn quân chỉ lo vui say yến tiệc. Vệ Thanh nhân cơ

hội đó đã phát động cuộc tập kích bất ngờ “xuất kỳ

bất ý, công kỳ bất bị” (đánh thẳng vào điểm yếu

6

của địch, vào lúc chúng không kịp đề phòng) và bao

vây doanh trại của Hữu Hiền Vương. Hữu Hiền Vương

đang trong cơn say, giật mình tỉnh giấc, hốt hoảng

mang theo ái thiếp cùng 800 kỵ binh chạy về phía

Bắc trốn vào đồng hoang. Vệ Thanh lệnh cho Khinh kỵ

Hiệu úy Quách Thành đuổi theo hơn trăm dặm nhưng

đã không kịp. Lần xuất quân này đã bắt sống được

hơn năm mươi người nhà của Tỷ Vương Hung Nô, hơn

một vạn năm trăm binh lính và mười vạn gia súc. Đại

quân của Hữu Hiền Vương gần như tan rã, để lại nỗi

căm hận rất lớn cho Thiền Vu. Vệ Thanh dẫn đại

quân toàn thắng trở về, Hán Vũ Đế phái sứ giả mang

ấn Đại tướng quân đến biên cương để nghinh đón và

giao cho Vệ Thanh, phong ông chức Tướng quân thống

lĩnh ba quân.

7

Năm Nguyên Sóc thứ sáu (năm 123 TCN), Vệ Thanh lại

dẫn binh từ Định Tương tấn công quân Hung Nô. Hợp

Kị Hầu Ngao làm Trung tướng quân, Thái Bộc Hạ làm

Tả tướng quân, Hấp Hầu Triệu Tín làm Tiền tướng

quân, Vệ úy Tô Kiện làm Hữu tướng quân, Lang Trung

Lệnh Lý Quảng làm Hậu tướng quân, Tả nội sử Lý Tữ

làm Cường nỗ tướng quân, nghe theo sự chỉ huy của

Đại tướng Vệ Thanh, đã chém được đầu hơn 1.000 quân

Hung Nô mới dẫn binh quay về. Đến cuối tháng, đại

quân lại xuất phát từ Định Tương đã giết và bắt

sống hơn vạn quân địch.

Năm Nguyên Thú thứ 4 (năm 119 TCN), Hán Vũ Đế

triệu tập mười vạn kỵ binh hùng dũng tiến quân về

Mạc Bắc, chuẩn bị tiêu diệt hoàn toàn quân chủ lực

của Hung Nô. Để bảo đảm cho việc cung cấp quân nhu

8

tác chiến, nhà vua đã thành lập mười bốn vạn xe

ngựa chiến, mười vạn bộ binh để vận chuyển lương

thảo. Hán Vũ Đế sai Hoắc Khứ Bệnh xuất binh từ Đại

quận, Hữu Bắc Bình tấn công vào đội quân chủ lực

của Thiền Vu Hung Nô ở núi Lang Cư Tư, Vệ Thanh

xuất binh từ Định Tương, tấn công vào quân của Tả

Hiền Vương. Hoắc Khứ Bệnh và Vệ Thanh mỗi người dẫn

theo năm vạn kỵ binh, quân Hoắc Khứ Bệnh đóng vai

trò chủ lực, quân của Vệ Thanh sẽ kiềm giữ quân

Hung Nô từ hai bên.

Hoắc Khứ Bệnh thống lĩnh quân khinh kỵ truy đuổi

hơn 2000 dặm về Mạc Bắc, tìm cánh quân chủ lực của

Hung Nô, nhưng chúng đã chuyển hướng về phía Tây.

Thế là, Hoắc Khứ Bệnh dẫn binh phát động cuộc tấn

công mãnh liệt vào vùng núi Lang Cư Tư của Hung Nô,

9

nhanh chóng giành được thắng lợi.

Vệ Thanh dẫn binh xuất phát từ Định Tương, lặn lội

đường xa hơn ngàn dặm, đến được vùng đất gần thành

Triệu Tín và gặp được quân chủ lực của Thiền Vu.

Vệ Thanh bình tĩnh chỉ huy, quyết đấu một trận anh

dũng ngoan cường với quân địch. Trận chiến kéo dài

đến khi hoàng hôn, thì đột nhiên trời nổi gió to,

cát bay mù mịt, mọi người không nhìn rõ mặt nhau.

Vệ Thanh chỉ huy quân đội bao vây quân Hung Nô từ

hai cánh. Thiền Vu thấy khó giành thắng lợi, bèn

nhân lúc hỗn loạn dẫn theo mấy trăm kỵ binh quay

đầu bỏ chạy. Quân Hán và Hung Nô đánh nhau đến tận

nửa đêm, đến khi trận đấu sắp kết thúc, quân Hán

mới biết được tin tức từ một tù binh Hung Nô rằng,

Thiền Vu đã sớm chạy trốn về phía Tây Bắc. Vệ Thanh

10

vội cử mấy trăm khinh kỵ binh ngày đêm truy đuổi,

đuổi đến hơn 200 dặm, nhưng cũng không gặp được

Thiền Vu. Lần ấy, quân Hán đã đánh tan được quân

chủ lực của Hung Nô, giết hơn một vạn chín ngàn tù

binh. Vệ Thanh thống lĩnh đại quân tiến vào thành

Triệu Tín, thu được rất nhiều lương thực của giặc,

sau đó mới lui quân về triều.

Bị quân Hán tấn công quá mạnh, từ đó quân Hung Nô

không thể gượng dậy được nữa, đành phải lui về Mạc

Bắc, ở Mạc Nam đã không còn kinh đô của chúng nữa.

Vệ Thanh - người xuất thân từ nô lệ - đã trở thành

nhà quân sự kiệt xuất vào thời Hán. Từ năm 129 TCN

~ năm 119 TCN, trước sau ông đã lần lượt xuất binh

đánh Hung Nô bảy lần, tiêu diệt hơn năm vạn binh

lính. Trong cuộc chiến này, Vệ Thanh đã lập được

11

nhiều chiến tích bất hủ, có cống hiến vô cùng to

lớn đối với việc an định kinh tế xã hội và cuộc

sống của nhân dân ở phương Bắc, thống nhất quốc

gia, thúc đẩy lịch sử nước nhà phát triển.

VƯƠNG CHIÊU QUÂN MỘT LÒNG VÌ MỐI GIA HẢO VỚI HUNG

NÔHán Tuyên Đế Lưu Tuần khi trị vì đã tăng cường

thống trị về mọi mặt, nên triều Hán trở nên cường

thịnh. Năm Ngũ Phụng Nguyên Niên thời Hán Tuyên Đế

(năm 57 TCN), nội bộ quân Hung Nô xảy ra chuyện

tranh giành quyền thống trị của năm vị Thiền Vu,

khiến đất nước ngày càng suy yếu. Do cứ mãi tranh

giành, nên đã tạo ra cục diện đối đầu giữa Thiền Vu

Chất Tri và Thiền Vu Hô Hàn Gia ở hai phía Nam –

Bắc. Cuối cùng Thiền Vu Chất Tri đã đánh bại Thiền

Vu Hô Hàn Gia. Để tìm đường sống cho bộ lạc của

12

mình, Thiền Vu Hô Hàn Gia dẫn binh dời về phía Nam,

sau khi thương lượng cùng đại thần họ quyết định

đầu hàng nhà Hán.

Năm Cam Lộ thứ ba (năm 51 TCN), Thiền Vu Hô Hàn

Gia đã đến Trường An triệu kiến Hán Tuyên Đế. Hô

Hàn Gia là vị Thiền Vu đầu tiên đến Trung Nguyên

triệu kiến, nên Hán Tuyên Đế rất mực xem trọng, đối

đãi ông như khách quý, tự mình dẫn văn võ bá quan

ra ngoài thành Trường An nghênh tiếp, và còn cho tổ

chức buổi yến tiệc thịnh soạn ở đại điện.

Hô Hàn Gia vô cùng cảm động trước sự tiếp đãi nồng

hậu của Hán Tuyên Đế, ông ở lại Trường An một

tháng và nhờ Hán Tuyên Đế đưa giúp mình về nước.

Hán Tuyên Đế đã nhận lời.

Khi đưa ông trở về, Hán Tuyên Đế đã cử Trường Lạc

13

Vệ úy Đổng Trung, Xa kỵ Đô úy Hàn Xương dẫn theo

một vạn sáu ngàn kỵ binh hộ tống Thiền Vu về nước.

Ông còn sai người tặng cho 340 triệu hộc (đơn vị đo

lường thời xưa) lương thực để tiếp tế cho người

Hung Nô, giúp họ vượt qua vụ mùa thất bát, để bộ

lạc của Hô Hàn Gia hùng mạnh trở lại. Các nước khác

thấy vậy cũng tranh nhau kết giao hòa hảo với nhà

Hán.

Sau khi Hán Tuyên Đế mất đi, con của ông là Nguyên

Đế lên ngôi kế vị. Trong vòng mấy năm, Thiền Vu

Chất Tri của Hung Nô đã xâm lược các nước ở Tây Vực

và giết chết sứ giả của nhà Hán. Để chống lại khí

thế hung hang của Thiền Vu Chất Tri, nhà Hán đã

liên kết với các nước ở Tây Vực, cùng xuất binh

đánh chiếm các thành quách và giết chết Thiền Vu

14

Chất Tri.

Thiền Vu Chất Tri không còn, địa vị của Thiền Vu

Hô Hàn Gia càng trở nên vững mạnh. Vào tháng giêng

năm Cánh Ninh Nguyên Niên thời Hán Vương Đế (năm 33

TCN), Thiền Vu Hô Hàn Gia lần nữa đến Trường An.

Để biểu thị sự giao hảo muôn đời với nhà Hán, ông

mong Hán Nguyên Đế nhận lời cầu thân của mình, vua

đã đồng ý lời thỉnh cầu đấy. Trước đây, khi giao

hảo với quân Hung Nô, nhà Hán đều chọn Công chúa

hoặc con gái nhà dòng dõi để gả đi. Lần này, Hán

Nguyên Đế quyết định chọn một cung nữ để thay mặt

Công chúa, gả cho Thiền Vu Hô Hàn Gia. Ông dặn dò

Thái giám đến hậu cung truyền chỉ rằng: “Ai bằng

lòng gả sang Hung Nô, Hoàng thượng sẽ phong chức và

đối đãi như Công chúa.”

15

Các cung nữ trong hậu cung đều được tuyển từ dân

thường. Khi vừa tiến cung, họ đã mất hết tự do, họ

luôn mong mỏi có ngày Hoàng đế khai ân cho họ xuất

cung. Nhưng nghe gả cho Hung Nô đến một nơi xa xôi,

thời tiết giá 1ạnh, ngôn ngữ bất đồng, phong tục

tập quán khác biệt, ai cũng do dự không muốn nhận

lời.

Trong số đấy có cung nữ tên gọi Vương Tường, xuất

thân từ một gia đình trung lưu, tướng mạo xinh đẹp

lại có học vấn, thuở nhỏ, nàng có đi học mấy năm

nên còn có tên gọi là Chiêu Quân. Chiêu Quân vừa

mới vào cung không lâu, cũng chưa từng gặp mặt

Hoàng đế. Lần này nghe nói người Hung Nô đến cầu

thân với Hán triều, tuy trong lòng không muốn bị gả

đi, nhưng biết đây là đại sự giữa hai nước, nên đã

16

nhận lời. Vị quan cai quản chuyện này vội vàng bẩm

báo lên Nguyên Đế. Nhà vua dặn dò mọi người chuẩn

bị áo cưới cho nàng, còn cho tìm một cô gái Hung Nô

để giúp nàng hiểu rõ phong tục tập quán của họ.

Ngoài ra, họ còn dạy nàng ngôn ngữ, cách chơi các

loại nhạc khí của Tây Vực như: đàn tỳ bà, hồ cầm …

Vương Chiêu Quân thông minh hiếu học, không lâu sau

đã lĩnh hội được những gì được truyền dạy. Hán

Nguyên Đế lại dặn dò đại thần chọn ngày lành tháng

tốt để Thiền Vu Hô Hàn Gia thành thân với Chiêu

Quân ở Trường An.

Đến ngày cử hành hôn lễ, Thiền Vu Hô Hàn Gia theo

phong tục tập quán của nhà Hán, đích thân đến

Trường An để đón Vương Chiêu Quân. Vừa nhìn thấy

nàng, Thiền Vu đã si mê trước vẻ đẹp của nàng, cả

17

hai cảm thấy tâm đầu ý hợp ngay từ cái nhìn đầu

tiên, chỉ tiếc là đã gặp nhau muộn thế này. Cả hai

cùng bái kiến Hán Nguyên Đế, nhà vua ban tặng thật

nhiều của cải và cho mở tiệc để đưa tiễn họ về Hung

Nô. Khi cả hai rời thành Trường An, văn võ bá quan

đưa tiễn xa đến 10 dặm đường. Vương Chiêu Quân ôm

đàn tỳ bà, cưỡi trên lưng ngựa vọng về cố quốc,

lòng buồn vui lẫn lộn. Nàng ngồi trên lưng ngựa,

trầm tư một hồi, rồi nhanh chóng nghĩ ra khúc nhạc

nói lên tâm sự của mình, nàng vừa đi vừa dạo khúc

nhạc đó. Mọi người gọi khúc nhạc này là “Chiêu Quân

oán”, dù nội dung của khúc nhạc không hoàn toàn

nói lên tâm tư ưu sầu oán hận của Chiêu Quân. Về

sau, có người gọi nàng là Hàn Minh Phi, “Chiêu Quân

oán” còn được mọi người gọi là “Minh Phi khúc”.

18

Thiền Vu Hô Hàn Gia cưới được người vợ xinh đẹp

như Vương Chiêu Quân, trong lòng ông vui mừng và

cảm phục không ngớt.

Khi Thiền Vu Hô Hàn Gia và Chiêu Quân đến bái tạ

hoàng ân của Hán Nguyên Đế, nhà vua vừa nhìn thấy

nhan sắc xinh đẹp của Chiêu Quân đã hết sức kinh

ngạc, vì không ngờ trong hậu cung của mình lại có

một người con gái xinh đẹp như thế mà mình không hề

hay biết, vua hối hận sao trước đây mình không gặp

mặt nàng. Trong lòng nhà vua có chút tiếc nuối khi

gả Chiêu Quân đến Hung Nô, muốn giữ chân nàng lại

cũng đã quá muộn màng.

Tương truyền khi Hán Nguyên Đế về đến hậu cung,

càng nghĩ ông càng phiền muộn. Nhà vua sai người

mang bức họa của nàng đến để xem. Tuy tướng mạo có

19

phần giống, nhưng người trong tranh vẫn không xinh

xắn đáng yêu bằng người thật.

Sau khi các cung nữ được tiến cung, thông thường

họ không được gặp mặt Hoàng đế, mà có họa sĩ vẽ

chân dung họ, dâng lên cho vua chọn lựa. Lúc đó, có

một họa sĩ tên Mao Diên Thọ, khi vẽ chân dung cho

các cung nữ, nếu như ai chịu đút lót, hắn sẽ vẽ cho

đẹp hơn người thật. Vì Chiêu Quân không hối lộ cho

hắn, nên hắn đã không vẽ đúng dung mạo xinh đẹp

của nàng.

Hán Nguyên Đế sau khi biết chuyện đã ra lệnh giết

chết Mao Diên Thọ.

Khi rời xa cố hương, Vương Chiêu Quân một lòng một

dạ giúp chồng phát triển cuộc sống của người dân

Hung Nô, nàng còn thay đổi một vài tập quán của dân

20

du mục. Chiêu Quân cư xử thân thiện với mọi người,

nên ai cũng yêu mến và tôn trọng nàng. Từ khi

Chiêu Quân đến Hung Nô, người dân ở đây đã học được

cách sử dụng các công cụ sản xuất nông nghiệp của

nhà Hán, giúp họ phát triển nền nông nghiệp, giải

quyết được vấn đề lương thực, có thể tự cung tự cấp

cho bộ tộc của mình. Nông nghiệp phát triển, chăn

nuôi cũng trở nên thuận lợi, cuộc sống của người

dân đã có sự cải thiện rõ rệt, đời sống người dân

Hung Nô phồn thịnh hơn bai giờ.

Vì là vợ của Thiền Vu Hung Nô nên địa vị của Chiêu

Quân cũng không thua kém gì Hoàng hậu nhà Hán. Một

mặt nàng hết lòng hầu hạ, thương yêu Thiền Vu; một

mặt nàng yêu mến chăm sóc nhân dân, luôn lấy mình

ra làm gương, khiến cho mối quan hệ giữa người Hán

21

và Hung Nô thân thiết như anh em một nhà. Nhờ vào

phẩm chất đạo đức, tri thức và trí tuệ của mình,

Chiêu Quân đã tạo được mối thiện cảm với mọi người.

Sau khi đến Hung Nô, Chiêu Quân biết mình không dễ

dàng có thể về lại Hán triều. Vì nhớ nhung đất

nước của mình, nàng thường sai người mang thư cho

cha mẹ, có lúc còn xin Thiền Vu phái sứ giả dâng

tặng cho Hoàng đế nhà Hán rất nhiều đặc sản của

Hung Nô. Vua nhà Hán cũng tặng cho nàng rất nhiều

tơ lụa và vàng bạc.

Khi về già, Chiêu Quân lập di chúc, mong khi chết

sẽ được an táng tại ngoại ô Quy Hóa (thành phố Hô

Hòa Hạo Đặc, thuộc khu tự trị Nội Mông Cổ ngày

nay), phần mộ phải ở hướng Bắc và hướng về Nam để

nàng có thể vọng về cố hương của mình. Sau khi

22

Chiêu Quân mất đi, các con cái của nàng đã chọn một

vùng đất cao luôn hướng về mặt trời, quanh năm cỏ

cây xanh tốt ở ngoại ô Quy Hóa để xây mộ cho mẹ.

Thời tiết ở sa mạc vừa lạnh vừa khô, cỏ thường chỉ

mọc vào mùa hạ ngắn ngủi, nhưng phần mộ của Chiêu

Quân lại xanh cỏ quanh năm. Vì thế mọi người gọi mộ

của Chiêu Quân là “Thanh chủng”, nghĩa là “ngôi mộ

xanh”.

Vì sự hữu nghị giữa nhà Hán và Hung Nô, Chiêu Quân

đã đồng ý đến sinh sống ở một nơi xa xôi. Vương

Chiêu Quân rời thành Trường An không bao lâu thì

Hán Nguyên Đế qua đời, con của ông là Lưu Ngạo lên

ngôi kế vị, xưng là Thành Đế. Hai vai Chiêu Quân

gánh trọng trách giao hảo giữa hai nước láng giềng,

nàng không những thường khuyên Thiền Vu Hô Hàn Gia

23

không nên phát động chiến tranh, mà còn ra sức

truyền bá nền văn hoá Trung Nguyên đến Hung Nô. Sau

khi Thiền Vu chết đi, con của Yên Thị (danh xưng

vợ cả của Thiền Vu) lên ngôi, Hán Thành Đế lại lệnh

cho Chiêu Quân phải tuân theo phong tục Hung Nô mà

giữ chức Yên Thị của vị Thiền Vu kế vị sau này

(Theo phong tục của người Hung Nô, khi vua cha mất,

con lên nối ngôi thì những người vợ của cha sẽ trở

thành vợ của con, trừ người mẹ ruột sinh ra mình).

Từ đó trở đi, mối quan hệ Hung Nô và triều Hán đã

diễn ra thật tốt đẹp và lâu dài, hơn 60 năm không

hề có chiến tranh. Chiêu Quân có cống hiến to lớn

cho sự đoàn kết dân tộc, tinh thần tự nguyện hy

sinh của nàng được người đời sau ca ngợi. Câu

chuyện của Chiêu Quân còn được đưa vào thơ từ, hý

24

khúc, tiểu thuyết và lưu truyền rộng rãi.

HÁN VŨ ĐẾ GIẾT HẬU LẬP TỬ

Hán Vũ Đế (156 TCN ~ 87 TCN) tên Triệt, là con của

Hán Cảnh Đế. Năm 141 TCN, ông kế vị ngai vàng nhà

Hán. Đến năm sau, ông đổi niên hiệu là Kiện Nguyên,

tức năm bắt đầu cho một nguyên triều mới. Trị vì

được 54 năm, ông đã thực hành rất nhiều biện pháp

mới khiến vương triều Tây Hán phồn vinh chưa từng

có. Hán Vũ Đế là vị Hoàng đế văn võ song toàn của

xã hội phong kiến Trung Quốc.

Kế vị khi còn rất nhỏ tuổi, nhưng Hán Vũ Đế đã

biết cách trị nước. Sau khi lên ngôi không lâu, ông

đã ra chiếu chỉ rằng, sẽ để cho các Thừa tướng,

Ngự sử, Quận thú, Chư hầu v.v, tiến cử người tài

đức chính trực. Chiếu chỉ vừa được ban ra, mọi

25

người đã nô nức tiến cử, trong đó nhân tài được

chọn vào làm việc ở trung ương có hơn trăm người.

Nhà vua đã đích thân hỏi han cách trị nước của họ.

Khi lên ngôi Hán Vũ Đế chỉ mới 16 tuổi, sau khi

thành hôn mà mãi vẫn không có con. Một đất nước nếu

như không có kẻ nối dõi sẽ là nguyên nhân chủ yếu

tạo thành cục diện chính trị bất an vào thời phong

kiến. Vì có liên quan đến giang san xã tắc của nhà

Hán nên việc mong muốn có con nối dõi của nhà vua

là vô cùng cấp thiết.

Chớp mắt 9 năm trôi qua, Hoàng hậu Vệ Tử Phu đã

mang thai. Sau 10 tháng mang nặng đẻ đau, bà đã

sinh hạ cho nhà vua một người con trai tên gọi Lưu

Cứ.Lưu Cứ vô cùng đáng yêu, đôi mắt to tròn rất có

thần, hai má ửng đỏ, làn da lại trắng hồng. Hán Vũ

26

Đế rất vui mừng, lập Lưu Cứ làm Thái tử.

Thái tử ngày một khôn lớn, vua âm thầm quan sát,

nhận thấy Thái tử làm việc và nói năng quá nhẹ

nhàng, cẩn thận, tính tình lại nhân từ độ lượng,

không quyết đoán, tài năng lại kém xa mình. Hán Vũ

Đế than: “Không biết đứa con này mai sau có thể

gánh lấy trọng trách hay không?”

Nững chỉ mấy năm sau đó, Hán Vũ Đế đã có rất nhiều

con. Vương phu nhân mà ông yêu mến đã sinh được

một người con trai là Lưu Mẫn; Lý Cơ sanh con trai

là Lưu Đán và Lưu Tư; Lý phu nhân sinh con trai là

Lưu Bác. Chính vì thế mà hai mẹ con Thái tử không

còn được Hán Vũ Đế yêu thương như xưa, vua không

còn để ý gì đến họ.

Tình cảm của Hán Vũ Đế đối với các con đã có sự

27

thay đổi, một hôm do không cẩn thẩn, ông đã tiết lộ

ra.

Có một Tiệp dư (tên gọi một nữ quan chuyên hầu hạ

cho nhà vua) họ Triệu được Hán Vũ Đế sủng ái, sau

đó nàng sinh một người con tên gọi là Lưu Phất

Lăng. Tương truyền nàng Tiệp dư họ Triệu này mang

thai 14 tháng mới hạ sinh, trước đây mẹ của vua

Nghiêu cũng mang thai lâu như vậy. Hán Vũ Đế cho

rằng đứa con này có cùng mạng với vua Nghiêu, ngày

sau ắt thông minh tài giỏi hơn người, sẽ làm nên

đại sự. Vua bèn hạ thánh chỉ, đổi cung Câu Dặc mà

Triệu Tiệp dư đang ở thành cung Nghiêu Mẫu.

Trong các đại thần có những kẻ tiểu nhân chuyên

đoán mò ẩn ý của Hoàng đế, để dựa dẫm leo cao. Từ

chuyện này, chúng đã nhìn thấy được ẩn ý của vua

28

rằng muốn lập Thái tử khác. Sau khi biết chuyện,

bọn tiểu nhân thừa cơ hành động, chúng đã gây ra

bao rắc rối cho Thái tử. Trong đám tiểu nhân này,

kẻ nhanh nhạy lợi hại nhất phải kể đến Giang Sung.

Giang Sung vốn là môn khách của Triệu Vương, vì

đắc tội với Triệu Thái tử nên đành phải trốn đến

Trường An. Hắn nhân thời cơ vạch tội Thái tử để

được tiếp kiến Vũ Đế. Nhà vua thấy hắn tướng mạo

đường hoàng, cử chỉ bất phàm, tuy là môn khách

nhưng không sợ quyền uy, ăn ngay nói thẳng, dám tố

cáo Thái tử liền cho rằng Giang Sung là nhân tài

hiếm thấy. Nghĩ vậy, nên vua phong hắn làm sứ giả

trực chỉ, chuyên phụ trách việc giám sát các thân

thích, quý tộc, đại thần.

Khi vừa nhậm chức, Giang Sung đã ra sức vạch tội

29

bừa bãi, hãm hại không biết bao nhiêu người tốt.

Hán Vũ Đế không hiểu nội tình, lại cho rằng hắn một

lòng trung can nên thường để Giang Sung bên cạnh

làm bầu bạn.

Một hôm, Giang Sung có việc đến cung Cam Tuyền để

gặp mặt vua. Trên đường đi, hắn bắt gặp người nhà

của Thái tử cưỡi ngựa đi vào “đạo trung”. Tiều đình

vốn có quy tắc: con đường ở giữa chỉ giành cho

Hoàng đế, gọi là “đạo trung” hay “ngự đạo”. Hắn

nghĩ ngay đây là cơ hội tốt để hãm hại Thái tử, lấy

lòng nhà vua, bèn tiến lên phía trước, chặn xe

ngựa lại. Sau khi biết tin, Thái tử Lưu Cứ vội vàng

sai người đi giải quyết, cầu xin Giang Sung đừng

nói cho vua biết. Nhưng Giang Sung không thèm để

mắt đến mà nhất mực thượng tấu lên vua. Hán Vũ Đế

30

cho rằng Giang Sung làm đúng, còn thăng cho Giang

Sung làm Thủy Hoành đô úy. Nhờ vậy, thế lực của

Giang Sung ngày một lớn mạnh.

Khi Hán Vũ Đế về già, những chuyện mê tín lại lan

tràn khắp nơi. Có một số thầy bói thường tụ tập ở

kinh đô, giả thần giả quỷ để gạt tiền bá tánh.

Những phi tần thất sủng trong hậu cung vì quá nhàn

rỗi, trong lòng lại buồn bã trống trải, nên thích

sinh chuyện thị phi. Họ sai hoạn quan mời các thầy

cúng vào cung, không chỉ nhờ họ giải trừ tai nạn

cho mình, mà còn muốn ám hại người khác. Đám phi

tần đó nhờ các thầy cúng dùng gỗ khắc thành hình

nhân, tượng trưng cho những người mà mình căm ghét

để chôn xuống dưới đất làm bùa chú. Bọn họ đã hãm

hại nhiều người nên khó tránh khỏi sự việc bị bại

31

lộ, dẫn đến việc tố cáo lẫn nhau. Trong lúc tố cáo

sẽ khó tránh khỏi việc dặm mắm thêm muối, nên cuối

cùng lại sinh ra chuyện ám hại Hoàng thượng. Hán Vũ

Đế biết được tin này tỏ ra vô cùng buồn bực, ông

hạ lệnh giết hơn 100 người có liên quan.

Hán Vũ Đế tuổi càng cao, sức càng yếu, lại thêm

mỗi ngày phải thiết triều để xử lý việc triều

chính, nên sức khỏe của ông ngày càng suy nhược,

sinh ra bệnh. Giang Sung biết rằng mình đã đắc tội

với Thái tử, vua sức đã yếu lại nhiều bệnh, sợ rằng

một khi vua qua đời, Thái tử lên ngôi kế vị sẽ

giết chết mình, nên hắn nghĩ ra một gian kế. Giang

Sung mua chuộc một thầy bói tên Đàn Kha, tìm cơ hội

để hắn nói những lời nhảm nhí trước mặt vua như:

“Trong hoàng cung chướng khí đằng đằng, nếu như

32

không diệt trừ thì bệnh của Hoàng đế sẽ không khỏi,

long thể khó mà an khang.” Hán Vũ Đế tin là thật,

ông bèn phong cho Giang Sung làm Chuyên sứ, toàn

quyền phụ trách xử lý việc này.

Sau khi nhận thánh chỉ, Giang Sung liền dẫn theo

ngàn người khí thế hùng hổ như lang sói, vô cớ đi

bắt người, rồi dùng nhục hình để tra khảo. Chẳng

bao lâu sau, những người chết oan do bị tra tấn bức

cung lên đến vạn người. Giang Sung lại xông vào

hậu cung, tiến hành lục soát để hãm hại những vị

phi tần bị thất sủng. Hắn cho người lục soát moi

móc, cuối cùng tìm đến cung Hoàng hậu và Thái tử.

Hắn cho đào bới hai cung như ruộng vừa mới bị cày

xới, tuy không tìm thấy gì nhưng Giang Sung lại ra

ngoài rêu rao rằng: “Tìm được nhiều hình nhân bằng

33

gỗ trong cung Thái tử, không những thế, còn tìm

thấy một quyển sách bằng lụa, trong đó toàn là bút

tích của Thái tử với những lời đại nghịch bất đạo,

chống đối triều đình.”

Biết Giang Sung có ý hại mình, Thái tử nghe theo

lời khuyên của sư phụ, lập tức bí mật điều động võ

sĩ, giết chết Giang Sung và đám thầy bói. Hán Vũ Đế

nghe báo liền nổi giận, lập tức hạ lệnh bắt Thái

tử. Thái tử và quân của Thừa tướng giao chiến với

nhau đến mấy ngày vẫn không phân thắng bại. Về sau,

Vệ hoàng hậu ngậm hờn tự sát, Thái tử Lưu Cứ bại

trận phải chạy đến huyện Hồ. Các quan lại địa

phương ở đây truy lùng ráo riết khiến Thái tử không

còn đường thoát thân, ông đành thắt cổ tự sát.

Trước khi Hán Vũ Đế mất một năm (năm 88 TCN), cảm

34

thấy mình khó qua khỏi, ông cho rằng đây là lúc nên

lập Thái tử. Một hôm, chỉ vì một chuyện nhỏ mà nhà

vua đã nổi giận và trách mắng Triệu Tiệp dư, sau

đó sai người chém đầu bà ta.

Mấy ngày sau, Hán Vũ Đế hỏi những người bên cạnh

rằng: “Những kẻ bên ngoài có bàn tán gì về chuyện

này không?” Mọi người đáp rằng: “Hoàng thượng đã

sắp lập con của Triệu Tiệp dư làm Thái tử, sao lại

còn giết bà ta?” Hán Vũ Đế thở dài và nói: “Trong

lịch sử có rất nhiều quốc gia sở dĩ không diệt trừ

được loạn là vì Thái tử còn quá nhỏ mà Thái hậu lại

trẻ tuổi. Nhưng đàn bà vốn không hiểu chuyện quốc

gia đại sự, mà lại làm chuyện xằng bậy, độc đoán

chuyên quyền thì không ai ngăn cấm được. Các ngươi

có nghe qua chuyện của Lữ Hậu chưa? Vì thế ta đành

35

phải nhẫn tâm giết chết Triệu Tiệp dư vậy”.

Năm thứ hai, Hán Vũ Đế sau khi sắp xếp xong chuyện

hậu sự thì qua đời. Trước khi chết, ông lập Lưu

Phất Lăng lên làm Thái tử. Đó chính là Hán Chiêu

Đế.TRỌNG TRÁCH TRÊN VAI HOẮC QUANG

Vì để đánh bại quân Hung Nô, chiếm vùng Tây Vực,

lại thêm sự xa xỉ, thích phô trương lãng phí, mê

tín quỷ thần của Hán Vũ Đế, nên ông đã cho xây dựng

liên tiếp nhiều công trình, điều động rất nhiều

sức người sức của trong nhân dân. Nhiều năm trôi

qua, ông đã tiêu sạch tất cả tiền bạc và lương thực

mà hai thời Văn Đế, Cảnh Đế tích luỹ được.

Để kiếm thật nhiều tiền, vua đã trọng dụng bọn

quan lại độc ác, gia tăng sưu thuế, thậm chí còn

bán chức quan cho những kẻ có tiền. Đám người này

36

sau khi được làm quan đã ra sức bóc lột dân chúng,

lại thêm nạn lụt và nạn châu chấu nên đời sống nhân

dân vô cùng khốn khó, nông dân các nơi đều nổi dậy

chống lại quan phủ.

Vào những năm cuối khi còn trị vì, Hán Vũ Đế mới

quyết tâm ngưng điều động binh, hơn nữa còn đề

xướng việc cải cách công cụ lao động, đổi mới kỹ

thuật canh tác. Ông còn tự mình cày ruộng, làm

những việc của nhà nông, dặn dò quan lại trong nước

khuyến khích người dân tăng gia sản xuất. Nhờ thế,

tình hình trong nước mới dần được ổn định.

Năm 87 TCN, Hán Vũ Đế qua đời, người con Lưu Phất

Lăng của ông mới 8 tuổi đã lên ngôi kế vị, xưng là

Hán Chiêu Đế. Theo di chiếu của Hán Vũ Đế, Đại

tướng quân Hoắc Quang sẽ phò tá vua lo việc triều

37

chính.

Hoắc Quang tự Tử Mạnh, là em cùng cha khác mẹ với

Tiền phiêu kỵ tướng quân Hoắc Khứ Bệnh. Sau khi

được anh đưa đến Trường An, lúc đầu ông làm chức

Lang quan, dần dần được phong là Phụng xa đô úy,

Quan lộc đại phu. Ông điềm đạm tinh tế, công chính

vô tư, thưởng phạt công minh, nên đã giúp bao

chuyện quốc gia đại sự dần đi vào nề nếp.

Sau khi có được quyền lực triều chính trong tay,

Hoắc Quang đã giúp Hán Chiêu Đế thực hành chính

sách tăng gia sản xuất. Ông ra sức phát triển sản

xuất nông nghiệp, giảm thiểu tô thuế và lao dịch

cho nhân dân, để mọi người chăm lo tăng gia sản

xuất. Từ đó, quốc gia đã dần ổn định và trở nên

giàu có, uy danh của ông nhờ thế cũng ngày một lớn.

38

Chỉ cần nhắc đến tên Tướng quân Hoắc Quang là mọi

người đều phải khâm phục, nhưng những kẻ trong

triều muốn tranh quyền đoạt lợi với ông lại xem

Hoắc Quang như gai trong mắt, bởi cho rằng ông đã

ngăn cản đường tiến của họ, khiến họ không thể tự

do tác quái. Họ lúc nào cũng muốn trừ khử Hoắc

Quang.

Tả tướng quân Thượng Quan Kiệt là người đầu tiên

muốn đối đầu với ông. Hắn muốn tiến cung cháu gái

mới 6 tuổi của mình, gả cho Chiêu Đế làm Hoàng hậu,

nhưng Hoắc Quang đã không tán thành. Về sau,

Thượng Quan Kiệt dựa vào sự giúp đỡ của chị nhà vua

là Cái Trường công chúa nên đã đưa được cháu mình

vào cung làm Hoàng hậu. Vì có mối quan hệ với nhà

vua nên hắn được phong làm An Dương Hầu, con trai

39

ông là Thượng Quan Thân được phong làm Tang Lạc

Hầu. Thượng Quan Kiệt phút chốc đã trở thành người

của hoàng thân quốc thích, không chỉ địa vị được

nâng cao, mà còn có nhiều cơ hội gặp gỡ vua hơn.

Để đền ơn Công chúa, nghe nói Công chúa có người

tình tên gọi Đinh Ngoại Nhân, thế là Thượng Quan

Kiệt bèn chạy đến nhờ Hoắc Quang phong chức cho

hắn. Hoắc Quang nói thẳng với hắn: “Năm xưa khi Cao

Tổ còn tại vị đã từng đặt ra quy tắc: vô công bất

đắc phong hầu. Đinh Ngoại Nhân chỉ là kẻ hầu hạ

dưới trướng Công chúa, lại chẳng có công lao gì, ta

không có lý do gì để phong chức cho hắn.” Khi bị

cự tuyệt, Thượng Quan Kiệt trở về, “dặm mắm thêm

muối” để kể lại với Công chúa, nhằm hãm hại vu oan

Hoắc Quang đã không biết nể mặt. Chuyện này đã

40

khiến Công chúa rất căm hận Hoắc Quang.

Khi đấy, đại thần Tang Hoằng Dương muốn ỷ vào công

lao của mình để tìm một chức quan trong triều, nên

cũng rất căm ghét Hoắc Quang. Nhìn thấy đám người

của Thượng Quan Kiệt đều là hoàng thân quốc thích,

lại có Công chúa làm chỗ dựa, hắn nghĩ nếu liên kết

lại có thể sẽ đánh bại Hoắc Quang, vì thế cũng cố

hùa theo. Bọn họ âm thầm cấu kết, ngấm ngầm bày

mưu, tìm cơ hội để loại trừ đại họa của chúng.

Khi Hán Chiêu Đế được 14 tuổi, một hôm Hoắc Quang

đi kiểm tra ngự lâm quân (cấm vệ quân của Hoàng

đế), ông đã điều một vị Hiệu úy đến phủ tướng quân

của mình. Cho rằng đây là cơ hội tốt, Thượng Quan

Kiệt bèn giả một phong thư của Yên Vương và phái

tâm phúc của mình giả làm Sứ giả để tố cáo với Hán

41

Chiêu Đế, hòng hãm hại Hoắc Quang.

Bức thư tố cáo có ý nói: Khi Đại tướng quân Hoắc

Quang đi kiểm tra ngự lâm quân, ông đã ngồi xe

giống như Hoàng đế ngồi, và còn tự tiện điều động

Hiệu úy đến, có vẻ như muốn mưu đồ làm phản. Tôi

đồng ý giao đại ấn, rời bỏ vùng đất được phong đến

Trường An để bảo vệ nhà vua, tránh cho kẻ xấu muốn

làm loạn mà phạm thượng.

Nhưng sau khi nhận được bức thư vu cáo, vua xem

xong, gác qua một bên không thèm để ý đến. Hôm sau,

Hoắc Quang vào cung tiếp kiến Hoàng đế để bàn bạc

chính sự. Ông nghe nói Yên Vương Lưu Đán dâng thư

tố cáo để hãm hại mình, nên sợ đến nỗi không dám tự

tiện vào cung. Hán Chiêu Đế dặn dò nội thị triệu

Hoắc Quang vào. Vừa bước vào, Hoắc Quang đã cởi mũ

42

nón, quỳ xuống thỉnh tội với nhà vua.

Hán Chiêu Đế nói: “Đại tướng quân cứ việc đội mũ

vào, ta biết bức thư đó là giả, làm sao có thể tin

lời họ nói được chứ? Đó là vì có người muốn hãm hại

ngài.”

Hoắc Quang dập đầu tạ ơn và hỏi: “Vì sao bệ hạ

biết?”Hán Chiêu Đế đáp: “Chuyện không phải là rõ

ràng rồi sao? Đại tướng quân đi kiểm tra đội ngự

lâm quân ở gần Trường An, điều động Hiệu úy là việc

vừa mới xảy ra, từ đó đến nay không quá 10 ngày.

Yên Vương ở phương Bắc xa xôi, làm sao ông ta biết

việc này. Cứ cho là ông ta biết và lập tức viết thư

cũng không kịp mang tới đây. Hơn nữa, nếu như

Tướng quân thật sự muốn làm phản, chắc không chỉ

dựa vào một tên Hiệu úy nhỏ nhoi. Đây có thể nói

43

bức thư của Yên Vương là giả, nhưng có người muốn

hãm hại ngài là thật.”

Hoắc Quang và các đại thần nghe xong, ai cũng khâm

phục sự thông minh tài trí và khả năng phân biệt

thị phi của vị vua trẻ Hán Chiêu Đế.

Hán Chiêu Đế có vẻ trầm tư, nói với các đại thần:

“Các khanh phải mau bắt tên đưa thư giả này ra tra

xét kĩ càng.” Sợ Hán Chiêu Đế truy sát gắt gao sẽ

bại lộ âm mưu, Thượng Quan Kiệt vội vàng bẩm với

vua: “Chút chuyện nhỏ nhoi này, bệ hạ không cần

truy cứu nữa làm gì.”

Nhưng kể từ đó, Hán Chiêu Đế đã bắt đầu hoài nghi

Thượng Quan Kiệt.

Bè phái Thượng Quan Kiệt vẫn chưa chịu dừng tay,

thấy mưu kế đấy không thành chúng liền bày ra mưu

44

kế khác: bọn chúng nhờ Công chúa Cái Trường ra mặt,

mời Hoắc Quang đến nội cung dự tiệc. Mọi người sẽ

bố trí mai phục, thích khách Hoắc Quang. Sau đó,

chúng lại phái người thông báo cho Yên Vương Lưu

Đán đến kinh thành. Cha con Thượng Quan Kiệt định

sau khi thích khách Hoắc Quang, sẽ giết chết Chiêu

Đế, đưa Thượng Quan Kiệt lên làm Hoàng đế. Đương

nhiên Công chúa không hề biết ý định này của hắn.

Thượng Quan Kiệt không ngờ gian kế này đã bị người

của phủ Thượng Quan biết được, truyền đến tai Hoắc

Quang.

Sau khi biết tin, Hoắc Quang liền vội vàng bẩm tấu

lên Chiêu Đế. Nhà vua nổi giận, liền lệnh cho Thừa

tướng Điền Thiên Thu cấp tốc dẫn binh bắt đám

Thượng Quan Kiệt xử tử.

45

Hoắc Quang tận tâm với chức trách của mình, luôn

hết lòng tận tụy phò tá Hán Chiêu Đế suốt 13 năm.

Nhưng vua đã qua đời khi chỉ mới được 21 tuổi. Vì

vua không có con, nên sau khi vua mất, Hoắc Quang

đã thương lượng với Thái hậu quyết định lập Xương

Ấp Vương Lưu Hạ – cháu của Hán Vũ Đế lên làm Hoàng

đế. Không ngờ Xương Ấp Vương Lưu Hạ là kẻ hoang dâm

vô đạo, vừa kế vị được 27 ngày ông đã làm nhiều

chuyện bất nghĩa. Ông cùng bè đảng của mình cả ngày

vui say hưởng lạc, khiến hoàng cung trở nên hỗn

loạn. Kẻ bạo ngược như vậy không đáng làm Hoàng đế,

vì thế Hoắc Quang, Thừa tướng Dương Thưởng, Xa kỵ

tướng quân Trương An Thế, Ngự sử đại phu Thái Nghị

và văn võ đại thần đã liên tục họp bàn, thảo luận,

sau đó cùng dâng thư xin Hoàng thái hậu phê chuẩn

46

phế bỏ hôn quân Lưu Hạ, lập chắt trai của Hán Vũ Đế

là Lưu Tuần lên ngôi. Đó chính là Hán Tuyên Đế.

Khi kế vị, Hán Tuyên Đế chỉ mới 18 tuổi, Hoắc

Quang lại ra sức phò tá nhà vua đến 6 – 7 năm, dạy

ông cách trị nước, cách làm một vị Hoàng đế tốt.

Năm 68 TCN, Hoắc Quang lâm bệnh qua đời. Hán Tuyên

Đế và Hoàng thái hậu đã đích thân chủ trì tang lễ,

hơn nữa còn dùng nghi lễ vô cùng long trọng để an

táng ông bên cạnh lăng mộ của Hán Vũ Đế.

SỬ KÝ TƯ MÃ THIÊN

Tư Mã Thiên (145 TCN ~ ?), tự Tử Trường, người Hạ

Dương (huyện Hàn Thành, Thiểm Tây ngày nay). Phía

bắc Hạ Dương có ngọn núi Long Môn, nên Tư Mã Thiên

tự xưng mình là “Thiên sinh Long Môn, canh mục Hà

Sơn chi Dương” (sinh ra ở Long Môn, chăn dê trồng

47

lúa ở vùng Hạ Dương, Hà Sơn ). Ông là nhà sử học vĩ

đại của Trung Quốc vào thời cổ đại.

Tổ tiên của Tư Mã Thiên cũng là quan viết sử. Cha

ông là Tư Mã Đàm, từng làm chức Thái sử lệnh từ năm

Kiện Nguyên đến năm Nguyên Phong thời Hán Vũ Đế

(từ năm 140 TCN ~ năm 135 TCN). Tư Mã Đàm rất am

hiểu thiên văn, lịch pháp, lại thông hiểu các học

thuyết kinh điển của Chư Tử, ông còn là một học giả

nổi tiếng vào thời sơ Hán. Tư Mã Đàm từng thu thập

các tư liệu văn hiến cổ xưa, lập chí viết sách sử

và đã cho ra đời luận văn “Luận lục gia yếu chỉ”.

Tác phẩm này lần lượt chỉ ra ưu và khuyết điểm,

bình luận công lao và tội lỗi của các dòng tư tưởng

học thuật chủ yếu vào thời Chiến Quốc như:

Âm dương, Nho, Mặc, Danh, Pháp, Đạo; đến nay vẫn

48

không hổ danh là nền văn hiến rất có giá trị học

thuật, nghiên cứu tư tưởng lịch sử thời tiên Tần.

Tư Mã Đàm là người chính trực, nghiên cứu học thuật

chặt chẽ và là người có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân

cách của Tư Mã Thiên.

Lúc 6 tuổi, Tư Mã Thiên đã theo cha dời nhà đến

Hiển Vũ Lí, Mậu Lăng gần kinh đô Trường An. Nhờ sự

dạy dỗ của cha, ông ngày đêm chuyên cần đọc sách,

đến 10 tuổi đã làu thuộc những sách lịch sử văn

hiến như: “Tả truyện”, “Quốc ngữ”, “Thế bản” v.v.

Lớn lên, Tư Mã Thiên theo thầy Đổng Trọng Thư để

học “Công dương Xuân Thu”, sau đó ông lại theo thầy

Khổng An Quốc để học “Cổ văn thượng thư”. Đồng

thời, Tư Mã Thiên đã thỉnh giáo rất nhiều học giả

nổi tiếng đương thời, tiếp thu được nhiều tri thức

49

quý báu, đặt nền móng vững chắc cho thành tựu lớn

lao của mình sau này.

Lúc còn trẻ, Tư Mã Thiên đã có chí hướng rất lớn.

Ông đọc rất nhiều sách, thuộc làu kinh truyện. Khi

20 tuổi, Tư Mã Thiên rời kinh đô, bắt tay thực hiện

những việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn như khảo

sát những di tích lịch sử, học hỏi các bậc tiền

nhân, tìm hiểu phong tục tập quán ở khắp nơi. Trước

tiên ông xuống phía Nam, đến Giang Hoài, đứng

nghiêm trang bên bờ sông Mịch La để tưởng niệm nhà

thơ yêu nước vĩ đại Khuất Nguyên. Tư Mã Thiên lại

vượt Trường Sa, tìm thăm di tích của Giả Nghị - nhà

chính trị kiệt xuất thời Tây Hán. Ông đánh xe đến

dưới chân núi Cửu Nghi để chiêm ngưỡng mộ của vua

Thuấn. Tiếp đó, Tư Mã Thiên đi dọc theo hạ lưu dòng

50

Đại Giang đến Chiết Giang, lên Cối Kê thăm mộ của

vua Vũ. Sau đó ông vượt sông Bắc Thượng, đến quê

hương Hoài Âm của Hàn Tín, một trong “Hán sơ tam

kiệt”, và góp nhặt những câu chuyện dân gian còn

sót lại như “Phiêu mẫu phạn Tín” (câu chuyện kể về

một người đàn bà nghèo khó, chuyên đi giặt đồ thuê.

Thấy Hàn Tín nhà nghèo nhưng hiếu học, bà đã nuôi

ông ăn học một thời gian. Sau này thành tài, ông đã

đi tìm gặp người xưa để tạ ơn), “Hàn Tín chịu

nhục” (thuở Hàn Tín còn rất nghèo, người khác sỉ

nhục bắt ông phải chui dưới chân họ, nhưng ông đã

nhẫn nhịn để sau này làm nên nghiệp lớn.) v.v, và

ghi chép tất cả trong cuốn “Hoài Âm Hầu liệt

truyện”. Sau cùng, ông đi về phía bắc Vấn – Tứ, qua

kinh đô của Tề Lỗ để đến Khúc Phụ, Sơn Đông – quê

51

hương của Khổng Tử, nơi mà trước đây Tư Mã Thiên đã

từng đến thăm viếng để thể nghiệm và quan sát

phong khí xưa cùng những câu chuyện còn lưu lại của

Khổng Tử. Tư Mã Thiên trông thấy có rất nhiều kẻ

sĩ ở Tề Lỗ nườm nượp kéo đến để tế lễ Khổng Tử, tỏ

ra vô cùng kính trọng ông. Ông lại từ Dịch Sơn đến

Tiết huyện, đây chính là vùng đất được phong của

Mạnh Thường Quân – một trong bốn vị quân tử thời

Chiến Quốc. Tư Mã Thiên rất yêu mến phong cảnh và

con người nơi đây. Ông chú ý thu nhặt những tư liệu

lịch sử thời Chiến Quốc đã được chôn dấu như “Hiếu

khách dưỡng sĩ”, để cho ra đời quyển “Mạnh Thường

Quân liệt truyện”. Từ Tiết huyện đi về phía Nam đến

Bành Thành – là vùng đất giao tranh giữa hai nước

Hán – Sở, Tư Mã Thiên khiêm tốn học hỏi, hỏi thăm

52

các bô lão và đã biết được những tư liệu lịch sử vô

cùng phong phú trong cuộc chiến giữa Hán – Sở.

Sau khi lưu lại đây mấy ngày và đã gặt hái được

nhiều kết quả, ông liền trở về kinh sư. Lần du

ngoạn khắp nơi này đã khiến Tư Mã Thiên biết thêm

nhiều kiến thức, bổ sung cho nguồn tư liệu phong

phú độc đáo để viết nên bộ “Sử ký” nổi tiếng sau

này.

Khi về đến Trường An, Tư Mã Thiên đã nhậm chức

Lang trung, chuyên ở trong cung hầu hạ Vũ Đế, ông

đã nhiều lần cùng vua xuất cung đi bái tế sông núi.

Tư Mã Thiên không lúc nào quên việc viết sử, mỗi

khi đến một nơi nào mới, ông đều cẩn thận thu thập

những tư liệu lịch sử nơi đấy. Năm 111 TCN (năm

Nguyên Đỉnh nguyên niên), Tư Mã Thiên phụng mệnh đi

53

sứ sang Ba Thục, Cùng Trách, Côn Minh ở phía Nam.

Ông đã thu phục được các dân tộc thiểu số ở Tây

Nam, mở rộng thêm quyền thống trị của Vương triều

nhà Hán. Vũ Đế xưa nay vốn thích làm lớn, thích

công to. Đến năm sau (Nguyên Phong nguyên niên),

nhà vua đã cử hành lễ “phong thiền” thật long

trọng. Cha ông là Tư Mã Đàm đã theo hầu Vũ Đế đến

Thái Sơn, giữa đường lâm trọng bệnh, đành phải ở

lại Lạc Dương. Lúc đó, vừa đúng lúc Tư Mã Thiên

chinh Tây khải hoàn trở về. Khi biết tin cha, lòng

như lửa đốt, ông ngày đêm lên đường thẳng đến Lạc

Dương. Cha con gặp nhau, lòng ngổn ngang trăm mối.

Tư Mã Đàm nắm tay con mà lệ rơi không dứt, ông tha

thiết dặn dò: “Khi ta mất, con nhất định phải làm

Thái sử. Khi làm Thái sử, con đừng quên những tác

54

phẩm của ta!” Tư Mã Thiên chắp tay vâng lời, lệ

tuôn như suối, đáp lời: “Con nhất định làm theo lời

dạy của cha, không dám sai lời!” Không lâu sau Tư

Mã Đàm qua đời. Tư Mã Thiên lập tức đến Thái Sơn

tham gia đại lễ “phong thiền”. Năm đó ông 39 tuổi.

Năm 108 TCN (Nguyên Phong tam niên), Tư Mã Thiên

kế thừa chức vị của cha làm Thái sử lệnh, ông bắt

đầu thu thập tư liệu để viết nên bộ “Sử ký”. Không

lâu sau, ông lại phụng mệnh chủ trì cải cách lịch

pháp. Nguyên do đến thời sơ Hán, mọi người vẫn còn

dùng loại “lịch Chuyên Húc” của thời Tần. Loại cổ

lịch này có rất nhiều hiện tượng thiên nhiên không

còn phù hợp nữa, hơn nữa lại có nhiều chỗ sai sót.

Vào năm Nguyên Phong thứ bảy, Tư Mã Thiên đã chỉ

định Lạc Hạ Hoằng, Đặng Bình tạo ra lịch mới. Nửa

55

năm sau bộ lịch mới đã hoàn thành, bộ lịch được

mang tên “Thái sơ lịch” – tức là hạ lịch (âm lịch)

ngày nay. “Thái sơ lịch” là bộ lịch tương đối hoàn

chỉnh đầu tiên của lịch sử Trung Quốc, đó cũng là

lần cải cách lớn của lịch sử lịch pháp. Lần đầu

tiên người ta đã đưa 24 tiết khí vào lịch pháp,

điều này đã tạo ra nhiều ích lợi cho việc sản xuất

nông nghiệp. Từ đó, Tư Mã thiên bèn dốc hết sức lực

để viết nên bộ “Sử ký”.

Năm năm sau, tức năm 99 trước Công nguyên (năm

Thiên Hán thứ hai), Tư Mã Thiên bị “mối họa Lý

Lăng” nên bộ “Sử ký” đã bị gián đoạn. Lý Lăng –

cháu của Phi tướng quân Lý Quảng vốn có sức khỏe

hơn người và giỏi tài săn bắn. Ông phụng mệnh phò

Lý Quảng Lợi – anh của Lý phu nhân (vốn là phi tử

56

rất được Hán Vũ Đế yêu mến) để nghênh chiến với

quân Hung Nô. Ông đích thân thống lĩnh năm ngàn kỵ

binh, đánh nhanh tiến thẳng. Quân Hung Nô ở phương

Bắc đại bại, tin thắng trận này đã được truyền đến

kinh thành. Hán Vũ Đế rất vui mừng, ông bèn bày

tiệc chúc mừng thật long trọng ở đại điện. Không

lâu sau, quân chủ lực của Hung Nô đã xuất binh đến

núi Tuấn Kê, giao chiến với quân của Lý Lăng hơn 10

ngày. Quân Lý Lăng vì sức yếu nên chống cự khó

khăn, vũ khí và lương thảo cũng đã cạn, viện binh

thì không đến kịp. Ông bại trận và bị bắt làm tù

binh, sau đó Lý Lăng đã quy hàng Hung Nô. Khi nghe

tin này, nhà vua đã “ăn không ngon, thiết triều

không vui”. Trong đám quần thần có một số kẻ nhân

thời cơ đả kích Lý Lăng, chúng đã mặc tình công

57

kích. Vốn không phải là mối thâm giao cùng Lý Lăng,

nhưng ngày thường khi luận thế sự cùng nhau, Tư Mã

Thiên đã vô cùng khâm phục ông ta. Trước việc

không may xảy ra này, Tư Mã Thiên tỏ chút lòng cảm

thông. Khi bị nhà vua tra hỏi, ông đã dám lên tiếng

vì chính nghĩa và nói rằng việc Lý Lăng đầu hàng

Hung nô, tuy bản thân không muốn nhưng cũng vì

nguyên nhân khách quan. Vũ Đế nghe vậy liền nổi

giận, cho rằng những lời Tư Mã Thiên nói đều là

những lời biện hộ nên lập tức giam ông vào ngục để

trị tội. Một năm sau, nghe đồn Lý Lăng rất được tín

nhiệm ở Hung nô nên nhà vua đã ra lệnh xử chém cả

nhà ông. Tư Mã Thiên cũng bị định tội “bưng bít,

che dấu nhà vua”, nên phải chịu xử hủ hình. Hủ hình

là loại hình phạt tàn nhẫn và nhục nhã nhất trong

58

các loại hình phạt. Tư Mã Thiên không chịu được

nhục nhã nên đã lấy cái chết để thề thốt. Nhưng vì

được khích lệ bởi tinh thần quyết tâm trong các tác

phẩm của Khổng Tử, Khuất Nguyên, Tả Khâu Minh, nên

ông đã quyết tâm “tuy chịu cực hình nhưng cũng

không oán giận” để ngoan cường sống sót. Tuân theo

di huấn của cha cùng với nghị lực phi thường, Tư Mã

Thiên đã tiếp tục viết nên tác phẩm “Sử ký”. Năm

96 trước Công nguyên (Thái Thủy Nguyên niên), ông

đã thoát khỏi ngục tù và được đảm nhiệm chức Trung

thư lệnh. Vào năm 91 trước Công nguyên (Trưng Hoà

nhị niên) khi Tư Mã Thiên được 55 tuổi, trải qua

khoảng 10 năm phấn đấu gian khổ, cuối cùng ông cũng

hoàn thành tác phẩm “Sử ký” nổi tiếng từ cổ chí

kim.

59

“Sử ký” là một tác phẩm lịch sử bách khoa toàn thư

nổi tiếng đầu tiên của Trung Quốc, một tác phẩm mở

đầu cho thể kỷ truyện lịch sử.

“Sử ký” không những là tác phẩm sử học kiệt xuất

mà còn là tác phẩm văn học ưu tú của Trung Quốc vào

thời cổ đại, chính nó đã khơi dòng cho nền văn học

truyện ký. Bắt đầu từ “Tùy thư – Kinh tịch chí”,

“Sử ký” là cuốn chính sử đầu tiên.

“Sử ký” lấy triều đại hoặc các bậc Đế vương làm

nội dung chính, lấy năm tháng làm trật tự để ghi

chép những sự kiện lịch sử trọng đại, làm cương

lĩnh chung cho toàn bộ cuốn “Sử ký”. Tư Mã Thiên

làm theo đúng nguyên tắc sự thật, căn cứ vào tư

liệu lịch sử để ghi chép lại. Ông rất coi trọng

lịch sử cận đại, đặt biệt là tư tưởng sử học của

60

lịch sử hiện đại. “Sử ký” có tất cả 130 chương với

hơn 52 vạn chữ, bao gồm 12 thiên “Bản ký”, 10 thiên

“Niên biểu”, 8 thiên “Thư chí”, 30 thiên “Thế

gia”, 70 thiên “Liệt truyện”. Trong đó, ông chuyên

ghi chép lịch sử của đời Hán (trước thời Vũ Đế) và

dành 75 thiên nói về những nhân vật thời Hán. “Sử

ký” đã ghi chép những sự kiện trong 3000 năm lịch

sử, nhưng Hán sử chỉ kéo dài khoảng 100 năm. Biểu –

là bảng biểu tổng kết về các niên đại rất đơn giản

và rõ ràng, phản ánh những sự kiện lịch sử đan xen

phức tạp và những hoạt động của các nhân vật lịch

sử để bù đắp cho những chỗ thiếu hụt trong Bản ký,

Thế gia, Liệt truyện; tổng cộng được chia thành Thế

biểu (bảng biểu theo thế kỷ), Niên biểu (bảng biểu

theo năm), Nguyệt biểu (bảng biểu theo tháng) v.v.

61

Thư – chuyên ghi chép về các mặt chính trị, kinh

tế, thiên văn, địa lý v.v của các thời kỳ; sự phát

triển biến hoá, hung thịnh hay suy bại của những

quy chế văn vật. Thế gia – chuyên ghi chép những

hoạt động của các chư hầu; Liệt truyện lại ghi chép

về các quan lại, đại phu và hoạt động của những

nhân vật quan trọng trong các phương diện xã hội,

cũng có phần liên quan đến lịch sử của các nước lân

cận và các dân tộc ở vùng biên cương. Có truyện

chỉ nói đến một người, có truyện lại nhắc đến nhiều

người nhưng cũng có truyện nói đến cả nhóm người,

nên được gọi là “loại truyện”.

Tư Mã Thiên là một nhà sử học có tri thức và lòng

cam cảm hiếm thấy trong lịch sử Trung Quốc. Trong

“Sử ký”, ông đã ghi chép những sự kiện lịch sử

62

trong hơn 3000 năm từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ

Đế, cung cấp cho chúng ta những tư liệu lịch sử vô

cùng phong phú và rất có hệ thống.

Trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên, không thể thiếu

những lời ca ngợi các bậc đế vương, nhưng ông cũng

mạnh dạn vạch trần sự tham lam và tàn bạo của họ.

Dù cho đó là thời minh quân Vũ Đế, Tư Mã Thiên cũng

không ngần ngại phê phán nhà vua là “mê tín phương

thuật, tin dùng các quan lại tàn ác”. Ông còn khơi

bày hiện thực xã hội hủ bại vào thời Vũ Đế (nhà

quyền quý thì có đất riêng, từ công hầu khanh tước

và đại phu trở xuống đều sống rất xa xỉ). Đối với

Hoàng đế khai quốc Lưu Bang vào thời Hán, ông đã

ghi chép rằng: “Khi làm Đình trưởng ở Tị Thủy, luôn

say mê rượu chè, chỉ là kẻ vô lại.” Đối với những

63

người mà các nhà sử học thời phong kiến cho là đại

nghịch bất đạo, những cuộc khởi nghĩa nông dân chứa

chất đầy căm phẫn, thì Tư Mã Thiên lại tán dương

bội phần, khẳng định đầy đủ tác dụng khiến cho lịch

sử tiến bộ. Ông đã phá cách xem Trần Thắng, lãnh

tụ khởi nghĩa nông dân vào những năm cuối thời Tần,

là Thế gia.

Điều đặc biệt đáng quý là trong thời kỳ coi trọng

sự hưng thịnh của các đời chính trị, “Sử ký” đã bắt

đầu chú ý đến kinh tế xã hội. Trong “Hóa thực liệt

truyện”, Tư Mã Thiên đã ghi chép tường tận cuộc

sống và tình hình kinh tế trong nước thời Vũ Đế.

Trong “Bình chuẩn thư”, ông đã vạch trần sự áp bức

bóc lột nhân dân của những kẻ thống trị vào đầu

thời Hán một cách rất sâu sắc. Qua đó cho thấy tác

64

giả đã sơ bộ nhận thức được tác dụng quyết định của

nền kinh tế trong quá trình nghiên cứu thảo luận

quy luật phát triển của lịch sử.

Để nhận định đầy đủ về Tư Mã Thiên và bộ “Sử ký”

của ông, chúng ta cần xét đến hoàn cảnh xã hội thời

đấy, suy cho cùng ông vẫn là nhà sử học thời phong

kiến. Trong “Sử ký” toàn thư, ông vẫn kiên trì

quan điểm lịch sử “vua là trung tâm”, nhưng đã sai

lầm khi cho rằng, chính họ đã sáng tạo ra lịch sử.

Cho dù “Sử ký” từng nhắc đến Trần Thắng – lãnh tụ

khởi nghĩa nông dân, nhưng mục đích chẳng qua chỉ

là để tìm kiếm căn cứ lịch sử có tính hợp pháp cho

những kẻ thống trị của vương triều Tây Hán, muốn họ

“lấy Tần làm gương”. Điều này không thể xem nhẹ.

Trải qua 2000 năm, “Sử ký” vẫn là bộ sách sử vĩ

65

đại rất được nhân dân Trung Quốc cũng như khắp thế

giới yêu thích. Điều này không chỉ vì mọi người có

thể biết được một cách có hệ thống những tri thức

lịch sử của Trung Quốc thời cổ đại, có thể đạt được

sự cảm thụ nghệ thuật tuyệt diệu, mà còn vì bộ tác

phẩm vĩ đại này là tâm huyết cả đời của Tư Mã

Thiên.

VƯƠNG MÃNG CẢI CHẾ PHỤC CỔ

Hán Thành Đế Lưu Ngạo là vị vua hoang dâm vô đạo,

sau khi kế vị ông đã bị hai chị em Triệu Phi Yến và

Triệu Hợp Đức mê hoặc, cả ngày chỉ vui say hưởng

lạc không lo việc triều chính, không màng quốc sự,

quyền lực triều đình dần rơi vào tay ngoại thích

(tức họ hàng thân thích của Thái hậu hoặc Hoàng

hậu). Hoàng thái hậu Vương Chính Quân – mẹ của

66

Thành Đế có 8 người anh em, ngoài một người chết

sớm ra, bảy người còn lại đều được phong hầu. Trong

đó Vương Phụng được làm tới chức Đại tư mã, Đại

tướng quân, mọi việc chính sự đều do ông ta cân

nhắc quyết định.

Vương Phụng nắm được quyền lực trong tay, các anh

em và cháu chắt của hắn tỏ ra vô cùng kiêu ngạo,

sống hết mực xa xỉ, ngông nghênh và càn rỡ. Duy chỉ

có người cháu là Vương Mãng vì cha mất sớm, lại

hiểu biết chuyện đời nên tính tình không giống với

bọn họ. Ông cũng như những học trò khác, làm việc

cẩn thận và tỉ mỉ, sống rất tiết kiệm. Mọi người

đều bàn tán rằng: “Con cháu nhà họ Vương chỉ có

Vương Mãng là tốt nhất.”

Sau khi Vương Phụng mất, hai người anh em đã lần

67

lượt thay ông nhậm chức Tư mã, về sau truyền lại

cho Vương Mãng nắm quyền quản lý mọi việc. Khi đấy,

Vương Mãng rất chú trọng đến việc chiêu nạp nhân

tài, những học trò vốn ngưỡng mộ danh tiếng của ông

từ bốn phương xa xôi đến cậy nhờ, ông đều thu

nhận.

Hán Thành Đế hoang dâm vô độ, cả ngày chỉ biết đắm

chìm trong tửu sắc, nên sức khỏe nhanh chóng suy

giảm, vị Hoàng đế lên ngôi chỉ mới được 18 năm này

rốt cuộc cũng qua đời. Sau khi vua mất, không đến

10 năm nhà Hán đã phải thay hai đời vua là Ai Đế và

Bình Đế. Khi Bình Đế kế vị, lúc đó ông chỉ mới 9

tuổi, chuyện quốc gia đại sự đều do Đại tư mã Vương

Mãng quyết định. Những kẻ thích tâng bốc đều nói

Vương Mãng là đại thần có công an định Hán triều,

68

họ liên kết với nhau thượng tấu lên Thái hoàng thái

hậu Vương Chính Quân phong Vương Mãng làm An Hán

Công, nhưng ông ta một mực từ chối tước hiệu và đất

đai được phong. Về sau, vì các đại thần hết lời

khuyên can, ông không tiện chối từ mãi, nên phải

nhận phong hiệu, nhưng đã trả lại tất cả đất đai

mình được ban cho.

Năm Công nguyên thứ hai, vùng đất Trung Nguyên

phát sinh hạn hán và nạn châu chấu. Các quý tộc

cường hào không ngừng thôn tính đất đai, ra sức bóc

lột, đàn áp nhân dân rất tàn khốc, khiến cuộc sống

mọi người hết sức khó khăn, lại thêm thiên tai

liên tiếp, họ đành phải làm phản để bày tỏ sự bất

mãn đối với triều đình.

Để xoa dịu sự bất mãn của nhân dân đối với triều

69

đình và quan lại, Vương Mãng yêu cầu các quan nên

ra sức tiết kiệm lương thực và vải vóc để cứu tế

cho bá tánh. Trước tiên, ông ủng hộ 100 vạn quan

tiền, 30 mảnh đất để làm chi phí cứu tế nhân dân.

Việc làm này của ông khiến các quý tộc đại thần

cũng phải giao nộp một ít đất đai và tiền bạc.

Thái hoàng thái hậu rất hài lòng với cách làm của

Vương Mãng, nên đã chuẩn bị hơn hai vạn khoảnh đất

ở Tân Dã (Tân Dã, Hà Nam ngày nay) để thưởng cho

Vương Mãng, nhưng ông kiên quyết chối từ.

Vương Mãng còn phái tám vị đại thần thân tín đi

khắp nơi để xem xét cuộc sống của nhân dân, quan

sát các phong tục tập quán. Mọi người nhân cơ hội

này bèn lan truyền khắp nơi việc Vương Mãng không

tiếp nhận vùng đất Tân Dã được phong, rằng: “Vương

70

Mãng rất khiêm tốn và nhún nhường, lại chí công vô

tư”. Lúc đó, giai cấp địa chủ vừa và nhỏ đều căm

hận bọn quý tộc cường hào chuyên thôn tính đất đai,

nên nghe tin An Hán Công Vương Mãng ngay cả triều

đình phong cho một vùng đất rộng lớn, mà ông cũng

không nhận, thì mọi người hết lòng kính phục.

Nhưng, Vương Mãng càng từ chối việc được phong,

thì càng có nhiều người yêu cầu Thái hoàng thái hậu

phong chức và ban đất cho ông. Tương truyền có đến

hơn 48 vạn người bao gồm nhân dân, các quan lại

địa phương và đại thần của triều đình dâng thư yêu

cầu phong chức cho Vương Mãng. Có người còn thu

thập những bài văn để ca tụng công đức của ông,

những lời khen ngợi đó có đến hơn 3 vạn từ, uy danh

của Vương Mãng ở triều đình ngày một cao.

71

Ai ai cũng lo tâng bốc Vương Mãng, khiến Hán Bình

Đế cảm thấy Vương Mãn vừa đáng sợ và đáng giận. Vì

không muốn thân mẫu của Bình Đế ở bên cạnh ông ấy,

Vương Mãng đã giết sạch người nhà cậu của Bình Đế.

Hán Bình Đế ngày một lớn và hiểu được lý lẽ, nên

khó tránh khỏi việc ông có những lời trách móc sau

lưng Vương Mãng.

Một hôm, các đại thần đang làm lễ chúc thọ cho

vua, Vương Mãng đích thân dâng lên co vua một ly

rượu độc. Hán Bình Đế không hề hoài nghi, cầm lấy

ly rượu uống cạn. Do Vương Mãng sớm nghe việc vua

bất mãn với mình, thế nên ông ghi hận trong lòng,

chờ dịp cho thuốc độc vào ly rượu, mong sát hại Hán

Bình Đế. Hành động của Vương Mãng cho thấy ông ta

là người rất lợi hại và hiểm độc vô cùng.

72

Sáng sớm hôm sau, từ trong cung có lời đồn Hán

Bình Đế đã lâm trọng bệnh. Chỉ mấy ngày sau, nhà

vua đột ngột qua đời, Vương Mãng vờ khóc thương

thảm thiết. Hán Bình Đế qua đời lúc mới 14 tuổi,

nên ông không có con cái để kế vị. Vương Mãng đã

chọn trong tôn thất nhà họ Lưu một đứa bé chỉ mới 2

tuổi, lập làm Thái tử, gọi là Nhũ Tử Anh. Vương

Mãng tự xưng mình là “Giả Hoàng đế” (“Giả” ở đây có

nghĩa là “thay thế”).

Một số văn võ đại thần muốn trở thành “người có

công khai quốc”, muốn xu nịnh để lấy lòng Vương

Mãng, nên ra sức khuyên ông lên ngôi Hoàng đế.

Vương Mãng là người có dã tâm rất lớn, ông cũng cảm

thấy rằng làm “Giả Hoàng đế” chi bằng tự mình lên

ngôi Hoàng đế. Ông bố trí thân tín để tạo dư luận,

73

hòng đưa mình lên ngôi Hoàng đế. Thế là, những kẻ

xu nịnh thi nhau tạo ra nhiều điều mê tín để lừa

gạt mọi người. Nào là những thư tịch cổ được phát

hiện có ghi rằng “Vương Mãng là chân mạng thiên

tử”; những hộp đồng có khắc chữ “Hán Cao Tổ nhường

ngôi cho Vương Mãng” được phát hiện trong miếu Cao

Tổ v.v.

Từ đó, một con người luôn khiêm tốn lễ độ trong

Vương Mãn đã không còn nữa. Nhận thấy thời cơ đã

đến, ông đến hậu cung gặp Thái hoàng thái hậu để

lấy ngọc tỉ của nhà Hán. Vương Chính Quân lúc này

mới giật mình “tỉnh mộng”, nhìn thấy rõ dã tâm của

Vương Mãng, nên không chịu giao ngọc tỉ. Về sau, do

bị ép đến đường cùng , Thái hoàng thái hậu tức

giận luôn ném ngọc tỉ xuống đất.

74

Năm Công nguyên thứ 8, Vương Mãng chính thức lên

ngôi xưng Đế, ông đổi lại quốc hiệu là “Tân”, kinh

đô vẫn đặt ở Trường An. Từ lúc Hán Cao Tổ xưng Đế,

khởi đầu cho vương triều Tây Hán cho đến nay đã

được hơn 200 năm, xem như đã kết thúc.

Sau khi soán ngôi, Vương Mãng đã giương cờ hiệu

“phục cổ cải chế” (đổi mới chế độ) và hạ lệnh biến

pháp. Trước tiên ông đổi tất cả ruộng đất thành

“vương điền”, không cho phép tự do buôn bán. Tiếp

theo, ông gọi nô lệ là “Tư thuộc” và cũng không cho

phép buôn bán. Sau cùng, ông ổn định lại vật giá,

cải cách chế độ tiền tệ.

Những cải cách này nghe qua rất hay, nhưng không

có việc nào làm đến nơi đến chốn. Chế độ thay đổi

ruộng đất và quyền sở hữu nô lệ gặp phải sự phản

75

đối mạnh mẽ của quý tộc và cường hào, khi vừa mới

bắt đầu đã không thể thực hiện được. Quyền ổn định

vật giá đều nằm trong tay các quý tộc quan liêu,

bọn họ nhân cơ hội cải cách này, lợi dụng chức

quyền của mình để đầu cơ trục lợi trắng trợn, tham

ô vơ vét, gây thêm sự thống khổ cho nhân dân. Kết

quả là những người giàu mất đi tài sản vốn có,

người nghèo thì không còn đường để sống. Chế độ

tiền tệ được cải cách nhiều lần, đồng tiền càng trở

nên mất giá, vật giá càng đổi càng cao, vô hình

trung đã vơ vét của nhân dân rất nhiều tiền.

Chế độ “cải chế phục cổ” này của Vương Mãng không

những chịu sự phản đối của đa số dân nghèo, mà ngay

cả rất nhiều địa chủ vừa và nhỏ cũng không ủng hộ

ông. Ba năm sau, Vương Mãng đành phải hạ lệnh cho

76

phép tự do buôn bán vương điền và nô lệ. Ông còn

phế bỏ tông miếu của nhà Hán, lập nên 9 tòa miếu

cho họ Vương, giáng chức các vương tôn, chư hầu,

tôn thất nhà Hán thành thứ dân, chỉ cho con cháu họ

Lưu làm chức quan thật nhỏ. Việc làm này của ông

đã dấy lên sự dị nghị trong khắp thiên hạ, tiếng

oán than vang trời, điềm báo trước cho sự thất bại

của Vương Mãng.

Vương Mãng còn định mượn việc phát động cuộc chiến

xâm lược các nước khác để xoa dịu sự mâu thuẫn

trong nước đang ngày một tăng cao, nhưng vô tình

làm dấy lên sự phản đối của quân Hung Nô, Tây Vực

và các bộ tộc ở phía Tây Nam. Vương Mãng nhiều lần

điều động dân phu, gia tăng các loại thuế vốn đã

quá nhiều, thu dụng những quan lại hủ bại tàn ác,

77

chuyên áp dụng nhục hình với nhân dân. Đã đến lúc

dân chúng không thể nào chịu thêm nổi những áp bức

khốn khổ, họ phải đứng lên, phản kháng sự thống trị

tàn bạo của Vương Mãng.

CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA QUÂN LỤC LÂM – XÍCH MI

Sau khi chiếm đoạt ngôi báu, Vương Mãng ra sức bóc

lột nhân dân một cách tàn khốc, lại thêm thiên tai

liên tiếp xảy ra, khiến bá tánh lâm vào cảnh cửa

nát nhà tan, không còn đường sống, nên quyết tâm

đứng lên khởi nghĩa. Ở phía Đông và phía Nam đã có

rất nhiều nông dân nổi dậy chống lại quan binh.

Năm Công nguyên thứ 17, vùng Kinh Châu ở phía Nam

gặp phải nạn hạn hán, mất mùa, người dân đành phải

đến đầm lầy đào củ mài dại ăn cho qua cơn đói. Vì

củ dại có hạn mà người đào lại đông, nên xảy ra

78

tình trạng mọi người giành giật lẫn nhau. Khi đấy,

ở Tân Thị (phía Đông Bắc Kinh Sơn, Hồ Bắc ngày nay)

có hai người rất có tiếng tăm là Vương Khuông và

Vương Phụng. Trông thấy tình trạng đó, cả hai đã

đứng ra hòa giải cho dân chúng nên rất được mọi

người ủng hộ. Nhân dân bèn tôn họ làm thủ lĩnh.

Vương Khuông - Vương Phụng đã tập hợp những người

dân nghèo khổ này lại và lập nên một đội quân đông

đến mấy trăm người, một số tội phạm bỏ trốn nghe

tin cũng đến cậy nhờ hai ông.

Cả hai ông nhanh chóng chiếm lĩnh vùng núi Lục Lâm

(núi Đai Hồng, Hồ Bắc ngày nay) làm căn cứ địa và

liên tiếp đánh chiếm các vùng lân cận. Chỉ vài

tháng sau, đội quân khởi nghĩa này đã trở nên lớn

mạnh, số quân lên đến 7 – 8 ngàn người. Do quân

79

khởi nghĩa ẩn trong núi Lục Lâm, nên mọi người gọi

họ là “quân Lục Lâm”.

Quân Lục Lâm ngày một phát triển mạnh, tạo thành

mối uy hiếp cho triều đình. Vương Mãng phái hai vạn

quan binh truy quét quân khởi nghĩa, nhưng đã bị

quân Lục Lâm đánh cho tơi tả. Quân Lục Lâm thừa thế

tấn công, hạ được mấy huyện thành, đánh thẳng vào

ngục để phóng thích tội phạm. Họ còn cướp kho lương

ở phủ các quan chia đều cho những người nghèo khổ,

phần còn lại mang về căn cứ của mình. Chính vì

thế, những người nghèo đến đầu quân ngày một đông,

chẳng mấy chốc đội quân khởi nghĩa đã có đến hơn 5

vạn người.

Đến năm sau, trên núi Lục Lâm không may đã xảy ra

dịch bệnh, rất nhiều binh sĩ mắc phải căn bệnh này,

80

nên hơn 5 vạn người chỉ còn lại phân nửa. Những

người còn sống đành phải rời khỏi nơi đấy, về sau

họ phân thành ba nhóm: quân Tân Thị, quân Bình Lâm

(phía Đông Bắc Tùy Huyện, Hồ Bắc ngày nay), và quân

Hạ Giang (phần sông Trường Giang ở phía tây Hồ Bắc

được gọi là Hạ Giang). Ba nhóm quân này đều giương

cờ tạo phản, chiếm lĩnh một vùng địa bàn, không

ngừng chống đối quan binh, đội quân này cũng ngày

càng trở nên hùng mạnh.

Khi quân Lục Lâm ở phương Nam thuộc vùng Kinh Châu

đánh thắng quân triều đình và liên tiếp giành

thắng lợi, thì quân khởi nghĩa ở phía Đông cũng

ngày một phát triển mạnh hơn. Vùng biển Lang Nha

(huyện Nhật Chiếu, Sơn Đông ngày nay) có người đàn

bà họ Lữ, con trai bà làm quan sai trong huyện. Vì

81

không đồng ý với mệnh mệnh độc ác của quan huyện để

tra khảo người dân không có tiền nộp thuế, nên vị

quan sai này đã bị quan huyện giết chết. Sự tàn ác

của quan huyện càng dấy lên lòng căm phẫn trong

nhân dân. Hơn 100 người dân nghèo khổ đã tập hợp

lại giết chết quan huyện, thiêu rụi nha môn để rửa

thù cho người con của Lữ Mẫu. Về sau, những người

này đã theo Lữ Mẫu đến Hoàng Hải nhằm trốn tránh sự

truy bắt của quan binh. Khi có được cơ hội, họ lập

tức đánh quan binh đến trở tay không kịp.

Lúc này, một thủ lĩnh của nghĩa quân khác là Phàn

Sùng, củng là người Lang Nha, đã dựng cờ khởi nghĩa

ở Cử Huyện, Sơn Đông, dẫn dắt mấy trăm người chiếm

lĩnh Thái Sơn. Sau khi Lữ Mẫu chết đi, thuộc hạ

của bà đã đến đầu quân Phàn Sùng. Chưa đến một năm

82

sau, quân khởi nghĩa đã có đến hơn một vạn người,

nghĩa quân rất dũng cảm thiện chiến, thường xuất

hiện ở vùng giữa Thanh Châu và Từ Châu để tấn công

quan phủ và bọn địa chủ.

Quân khởi nghĩa của Phàn Sùng rất có kỷ luật, ai

giết hại bá tánh sẽ bị xử tội chết, ai làm hại nhân

dân đều phải bị trừng phạt, nên mọi người hết lòng

ủng hộ nghĩa quân.

Năm Công nguyên thứ 22, Vương Mãng phái Thái sư

Vương Khuông (không phải Vương Khuông của Lục Lâm

quân) và Tướng quân Liêm Đan thống lĩnh 10 vạn đại

quân đi trấn áp quân của Phàn Sùng. Vì có sự chuẩn

bị từ trước nên nghĩa quân đã cùng giao chiến với

quan quân. Để tránh lẫn lộn, Phàn Sùng cho quân

khởi nghĩa của mình bôi màu đỏ lên lông mày để làm

83

kí hiệu phân biệt địch và ta. Do đó, nghĩa quân của

Phàn Sùng còn có tên là “quân Xích Mi”, tức “đội

quân lông mày đỏ”.

Quân Xích Mi giao chiến với quân của Vương Mãng đã

đại thắng, lũ quan binh bại trận bỏ chạy hơn phân

nửa. Thái sư Vương Khuông bị Phàn Sùng đâm một nhát

vào đùi, đánh cho tơi tả đành phải lui quân, tướng

quân Liêm Pha đã bị giết chết trong đám tàn binh.

Quân Xích Mi càng đánh càng mạnh, càng đấu càng

hăng, quân số nhanh chóng đã lên đến hơn 10 vạn

người.

Tin tức hai đội nghĩa quân Lục Lâm, Xích Mi lần

lượt đánh thắng quân của Vương Mãng ở phía Đông và

phía Nam vừa được lan truyền, nông dân khắp nơi sôi

nổi hẳn lên, vùng bình nguyên rộng lớn ở hai bên

84

bờ sông Hoàng Hà đã có đến mấy mươi đạo nghĩa quân

lớn nhỏ. Một số địa chủ, cường hào, quý tộc sa sút

cũng nhân thời cơ khởi binh để phản đối Vương Mãng.

Hai anh em Lưu Diễn – Lưu Tú là cường hào của thôn

Thung Lăng, quận Nam Dương (phía bắc Ninh Viễn, Hồ

Nam ngày nay), vì bị Vương Mãng bãi bỏ phong hiệu

tôn thất nhà Hán của mình, phong cho người họ Lưu

làm quan, nên trong lòng vô cùng căm hận, đã phát

động 7 – 8 ngàn người trong họ và các môn khách

khởi binh ở thôn Thung Lăng. Họ liên kết cùng hai

đạo nghĩa quân Lục Lâm, Xích Mi liên tiếp đánh bại

mấy đại tướng của Vương Mãng, vì vậy tiếng tăm của

họ ngày càng trở nên lớn mạnh.

Do các đạo quân của Lục Lâm vốn không có mệnh lệnh

85

thống nhất, nên các tướng sĩ cho rằng: “Binh đông

nên phải có thủ lĩnh mới có thể thống nhất hiệu

lệnh.” Một số quý tộc địa chủ vốn xuất thân từ nhà

trường đã lợi dụng một số người mang quan niệm

chính thống, nên cho rằng nhất định phải chọn một

người họ Lưu làm thủ lĩnh mới có thể thu phục nhân

tâm.

Người mang họ Lưu trong quân Lục Lâm thì rất

nhiều, nên chọn ai làm thủ lĩnh đây? Quân Thung

Lăng vốn tiến cử Lưu Diễn nhưng quân Tân Thị và

Bình Lâm lại sợ thế lực của Lưu Diễn quá mạnh, nên

họ nhất định chọn một quý tộc sa sút là Lưu Huyền

làm Hoàng đế. Lưu Diễn đề xuất: “Đợi khi tiêu diệt

Vương Mãng, thu phục quân Xích Mi xong mới lập

Hoàng đế”, nhưng ý kiến này của ông lại bị phản

86

đối. Cảm thấy lực lượng mình chưa đủ mạnh, Lưu Diễn

đành phải đồng ý.

Năm Công nguyên thứ 23, các tướng sĩ trong quân

Lục Lâm đã chính thức lập Lưu Huyền làm Hoàng đế,

khôi phục quốc hiệu nhà Hán, lấy niên hiệu là “Canh

Thủy” (tức “thay cũ đổi mới”), vì thế Lưu Huyền

cũng xưng là Canh Thủy Đế. Vua Canh Thủy phong

Vương Khuông, Vương Phụng làm Thượng công; Lưu Diễn

làm Đại tư đồ; Lưu Tú làm Thái Thường Thiên tướng

quân, những tướng lĩnh khác cũng đều được phong

hiệu.

Quân Lục Lâm trải qua nhiều cuộc chiến gian khổ

mới đánh vào đô thành Trường An, giết chết Vương

Mãng.Sau khi Lưu Tú thống lĩnh quân đội đến vùng

đất được phong ở phía Bắc sông Hoàng Hà, ông đã cho

87

kiểm tra các quan lại trong huyện, bãi bõ nền

chính trị hà khắc của Vương Mãng, khôi phục các

chức quan của nhà Hán, nên nhân dân vô cùng yêu mến

ông. Có lần, Đặng Vũ, người ở Nam Dương, cưỡi ngựa

đuổi theo Lưu Tú đến Nghiệp Thành, Lưu Tú hỏi: “Ta

chuyên phụ trách bổ nhiệm quan lại, ngươi từ xa

đến đây lẽ nào là muốn làm quan?” Đặng Vũ đáp: “Tôi

không muốn làm quan mà chỉ mong tiếng tăm của ngài

lan truyền bốn biển. Tôi có thể cống hiến sức lực

nhỏ nhoi của mình để mong lưu danh sử sách mà

thôi”. Lưu Tú cười to và thu nhận ông. Đặng Vũ có

lời khuyên: “Ngày nay vùng Sơn Đông chưa an định,

nghĩa quân Xích Mi, Thanh Độc đều có hàng vạn

người, vua Canh Thủy chỉ là kẻ tầm thường, tướng

lĩnh cũng không có ai xuất chúng, suốt ngày chỉ lo

88

chuyện tiền bạc, vợ con mà không có chí hướng. Việc

gấp trước mắt ngài nên làm là chiêu nạp nhân tài,

lấy lòng muôn dân, dựng lại nghiệp lớn của Cao Tổ,

cứu giúp bá tánh. Như vậy thiên hạ nhất định sẽ bền

vững.” Lưu Tú cảm thấy Đặng Vũ là người có mưu

lược, nên thường bàn chuyện đại sự cùng ông.

Trong thời gian này, vua Canh Thủy phái sứ giả lập

Lưu Tú lên làm Tiêu Vương.

Sau khi dời đô đến Trường An, vua Canh Thủy sống

đời sống hoang dâm vô độ, giao hết quyền lực triều

chính cho Triệu Manh. Quân Xích Mi nhân cơ hội này

dẫn binh tiến đánh Trường An. Để danh chính ngôn

thuận, họ cũng bàn bạc và lập một vị thủ lĩnh mới

vốn cũng là con cháu đời sau của nhà Hán để thảo

phạt vua Canh Thủy. Trước đây, quân Xích Mi có bắt

89

được Lưu Bồn Tử – con trai của Cố thức hầu Lưu

Manh. Họ để Lưu Bồn Tử chăn dê trong quân đội,

người thanh niên chỉ mới 15 tuổi này đã phải “cả

ngày tóc xõa rối bời, chân trần áo vải”. Lúc này,

quân Xích Mi chợt nhớ đến “người chăn dê”, vội cho

ông làm Thượng tướng quân. Bỗng dưng thấy nhiều

người đến bái kiến mình, Lưu Bồn Tử sợ hãi, khóc

òa. Về sau, quân Xích Mi tiến đến Hồng Nông, vua

Canh Thủy cho quân đi nghênh chiến nhưng lại bị

đánh bại. Quân Xích Mi tiến vào Trường An, vua Canh

Thủy phải trốn đến Cao Lăng, những binh sĩ còn lại

đều đầu hàng. Vua Canh Thủy phái Lưu Cung đi xin

hàng, quân Xích Mi phong cho ông làm Trường Sa

Vương. Người dân vốn đã chịu thống khổ vì sự bạo

ngược của quân Xích Mi, nên thấy thương cảm cho vua

90

Canh Thủy, họ quyết định cứu ông. Nhưng Trương

Cùng lại phái Tả Lộc đi bức chết nhà vua, Lưu Cung

nhân lúc đêm tối đã lén mang thi thể của ông về.

Vua Canh Thủy trị vì được hai năm đã qua đời.

Năm Công nguyên thứ 25, Lưu Tú xưng Đế, ông chính

là Quan Vũ hoàng đế, người cho định đô ở Lạc Dương.

Về sau Lưu Tú lệnh cho Đặng Vũ dẫn binh đóng ở

Trường An để tiêu diệt quân Xích Mi. Quân Xích Mi

định lui về phía Tây đến Thượng Lũng, nhưng đã bị

quân Hán đánh bại, lại gặp phải trận tuyết lớn nên

đa số quân lính chết vì rét. Thế là họ lui về

Trường An, đào mộ để trộm kho báu và lăng nhục thi

thể của Lữ Hậu. Đặng Vũ dẫn binh tấn công quân Xích

Mi nhưng không giành được thắng lợi, ông bèn rời

khỏi Trường An để đến Vân Dương. Quân Xích Mi lại

91

tiến vào Trường An. Vua Quan Vũ thấy Đặng Vũ nhiều

lần thất bại, uy tín giảm sút bèn phái Phùng Dị

thay thế ông. Đặng Vũ cảm thấy xấu hổ, nên xin

Phùng Dị cho mình theo để cùng lãnh binh đánh giặc.

Phùng Dị cho rằng: “Quân Xích Mi vô cùng lớn mạnh,

chỉ có thể dùng ân huệ để mua chuộc chứ không thể

dùng vũ lực mà giành được phần thắng”. Đặng Vũ

không nghe lời khuyên, chỉ muốn giao chiến với quân

Xích Mi, nên kết quả lại thảm bại. Phùng Dị chỉnh

đốn lại đội quân và nghĩ kế, ông hẹn thời gian để

giao chiến với quân Xích Mi. Đặng Vũ lệnh cho các

tướng sĩ ăn mặc giống như quân Xích Mi và mai phục

sẵn hai bên đường. Khi trời sáng, quân Xích Mi đã

tấn công quân của Phùng Dị, đôi bên giao tranh cả

ngày. Đến khi trời tối, quân Xích Mi đã sức cùng

92

lực kiệt, phục binh của Phùng Dị đột nhiên xuất

hiện, y phục của hai bên đều giống nhau nên không

phân biệt được đâu là ta, đâu là địch. Quân Xích Mi

hoang mang, tự tàn sát và dẫm đạp lẫn nhau. Phùng

Dị dẫn binh truy kích và đánh bại được quân Xích

Mi. Quân Xích Mi bỏ chạy đến Nghi Dương, vua Quan

Vũ đích thân thống lĩnh lục quân, bày sẵn thế trận

chờ địch đến. Ba mặt Nghi Dương giáp núi, địa thế

hiểm yếu, quân Xích Mi lâm vào đường cùng, trở nên

hốt hoảng, bèn phái Lưu Cung đi xin hàng để mong

Lưu Tú miễn tội chết cho Lưu Bồn Tử.

Quân Xích Mi đầu hàng, áo giáp và vũ khí chất đống

ở thành tây Nghi Dương cao như núi, binh sĩ quy

hàng có đến hơn 10 vạn người, vua Quan Vũ đã cho

người phân phát lương thực cho họ. Về sau, Phàn

93

Sùng, Phùng An mưu phản nên bị xử tử. Cuộc khởi

nghĩa oanh liệt của quân Xích Mi đã thất bại hoàn

toàn.

Khởi nghĩa của quân Lục Lâm và quân Xích Mi đã lật

đổ được Tân triều của Vương Mãng, lịch sử bắt đầu

sang trang.

94

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát