Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Sự Tích Làng Quậy

SỰ TÍCH LÀNG QUẬY

Sau khi đánh tan năm mươi vạn quân Tần do tướng Đồ

Thư chỉ huy, Thục Phán An Dương Vương đã lập nước

Âu Lạc và dời đô từ Phong Châu, Bạch Hạc, Việt Trì

xuống đất Phong Khê (Cổ Loa ngày nay) để xây dựng

kinh đô mới của nước Âu Lạc.

Nơi nhà vua chọn đất xây thành Cổ Loa gọi là Chạ

Chủ (còn gọi là Chạ Cả), để có đất xây dựng kinh

thành, vua Thục đã ra lệnh cho dân sở tại, dời đi

nơi khác. Dân Chạ Chủ không muốn đi nhưng vẫn phải

tuân theo phép nước. Khi nhà Vua cho họ chọn đất để

định cư, họ đã chỉ tay về phía Đông Bắc, mênh mông

đầm nước mà thưa rằng: “Cứ cho dân chúng tôi xuống

khu đất trũng kia để ở, dẫu khổ cũng cam lòng”.

Nghe lời tâu có vẻ ấm ức của dân Chạ Chủ, nhà Vua

1

cười bảo “Đúng là dân Cả Quẫy”, và chấp nhận cho

dân đến nới đất trũng ở phía Đông Bắc của kinh

thành.

Theo truyền thuyết dân gian, ở vùng trũng thấp

này, trước đây đã có dòng họ Vũ đến lập nghiệp gọi

là ngõ Nguyên Hương. Sau đó các dòng họ Lê, Nguyễn,

Ngô, Phạm, Dương, Trần từ Chạ Chủ (Cổ Loa) di cư

xuống, lập thành một làng lớn. Theo thời gian, chữ

Quẫy được đọc thành chữ Quậy. Đây là nơi đầu tiên

hình thành làng Quậy nên gọi là Quậy Cả (tên chữ là

Đại Vĩ).

Theo thời gian, làng Quậy Cả phát triển trở nên

đất chật, người đông. Ở phía Tây Nam, cách làng

Quậy Cả một cánh đồng, có một bãi đất cao. Những

người họ Phạm đã tách sang lập ấp, rồi phát triển

2

thành làng, gọi là Quậy Sau (tên chữ là Châu Phong)

Dân càng ngày càng đông, làng vẫn chật chội, nên

một số gia đình họ Lê lại tách ra lập trại ở phía

Nam làng Quậy Cả rồi thành một làng mới gọi là làng

Quậy Rào (tên chữ là Giao Tác).

Năm 1428, một gia đình quan lại họ Đỗ ở Thanh Hóa

chuyển ra lập trại ở giữa Giao Tác và Đại Vĩ thành

một làng gọi là Quậy Tác Vĩ. Năm 1518, đời Vua Lê

Chiêu Tông, một người thuộc đời thứ tư của họ Đỗ,

tên là Đỗ Túc Khang đỗ tiến sỹ, làm quan to trong

triều, được nhà vua cấp ruộng đất và lập ra làng

mới gọi là Quậy Trại.

Như vậy, từ một ngõ Nguyên Hương nhỏ bé thời xa

xưa, do việc di dân của Chạ Chủ để lấy đất cho vua

3

Thục xây dựng thành Cổ Loa, nơi này đã phát triển

thành một làng Quậy rất lớn gồm năm làng: Quậy Cả

(tên chữ là Đại Vĩ), Quậy Sau (tên chữ là Châu

Phong), Quậy Rào (tên chữ là Giao Tác), Quậy Tác

Vĩ, Quậy Trại. Cả năm làng này tuy ở trên một vùng

đất khá rộng lớn nhưng vẫn chung một ngôi Đình, thờ

chung Thành Hoàng và vẫn được gọi chung là làng

Quậy. Về sau, làng Quậy được đổi thành xã Hà Vĩ

thuộc tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn

Kinh Bắc. Đến năm 1949, xã Hà Vĩ sáp nhập với xã

Ngũ Hà, thành xã Liên Hà thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh

Bắc Ninh.

Năm 1961 tới nay, xã Liên Hà sáp nhập về Huyện

Đông Anh thành phố Hà Nội.

Chính vì lịch sử hình thành và phát triển của làng

4

Quậy như vậy, mà từ xưa đến nay, theo ý chí của

vua Thục Phán, hằng năm vào ngày hội Cổ Loa mùng 6

tháng giêng, làng Quậy đều được cử một đoàn bô lão

ra làm lễ vua An Dương Vương. Đoàn được nhân dân sở

tại thôn Cổ Loa đón tiếp ân cần như anh em ruột

thịt, được vinh dự làm lễ đầu tiên, được đọc mật

khẩu của đức vua An Dương Vương trao truyền trên

hai ngàn năm để lại trước anh linh của ngài. Đoàn

các cụ làng Quậy trong hội Cổ Loa được ngồi chiếu

Nhất.

Do địa hình làng Quậy ở vào nơi đồng sâu, đất

trũng, nên vào những năm mưa nhiều là bị mất mùa,

trong khi đất Cổ Loa, mưa nhiều lại tốt lúa, bội

thu. Ngược lại, những năm hạn hán, dân làng Quậy

lại được mùa, Cổ Loa lại mất mùa. Vì thế mà có câu

5

tục ngữ “Quậy ủ chủ tươi, Quậy cười, chủ khóc”.

Ngày nay với óc sáng tạo, tài năng của những bàn

tay người làng Quậy đã phát triển thành một làng

nghề với rất nhiều nghề thủ công, đặc biệt là nghề

chế biến gỗ công nghiệp, sơn, trạm…Vì vậy, mà làng

Quậy úng lụt ngày xưa, nay đã trở thành một làng

nghề trù phú nổi tiếng của huyện Đông Anh, thành

phố Hà Nội.

Giang Văn Hồi

6

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát