Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Tôi Mang Thai Đứa Con Của Chị Gái

TÔI MANG THAI ĐỨA CON CỦA CHỊ GÁI

TẠ THỊ HÀ

I

Chị Cả

Nhà tôi có ba chị em gái.

Bố mẹ tôi đã qua đời trong một tai nạn lao động.

Lúc đó, chị Cả tôi mười lăm tuổi, chị Hai mười

tuổi, và tôi gần ba tuổi. Những gì chúng tôi còn

sau đám tang bố mẹ là một ít tiền mà những người

lao động nghèo cùng làm với bố tôi đến chia buồn và

chút tiền do ông chủ thầu bồi thường.

Bố mẹ tôi chỉ là những người phụ xây, ông chủ nào

thuê thì đi. Tôi nghe kể lại rằng, bố mẹ tôi cùng

một người nữa bị tai nạn sập giàn giáo. Bố tôi gãy

sống cổ, tử vong ngay tại đó. Mẹ tôi và người đàn

1

ông kia được đưa lên viện bằng cáng giữa hai cái xe

đạp. Chưa tới bệnh viện thì họ đã qua đời. Nhưng,

những bi thương về cái chết của họ không có trong

trí nhớ ngây thơ của tôi. Ngày đó, tôi quá nhỏ, chị

Cả không thích ai kể lại chuyện đó cho tôi nghe.

Chúng tôi sống gần nhà bà ngoại, nhưng bà ở với

cậu mợ nên không đón chúng tôi về cùng. Nhà bên nội

tôi chỉ còn chú thím, song chú thím cũng đông con.

Thế nên, ba chị em tôi vẫn sống trong căn nhà của

bố mẹ và tự đìu ríu nuôi nhau, nói đúng ra là chị

Cả kiêm nhiệm việc nuôi chúng tôi. Bà ngoại và chú

thím thường xuyên ghé qua xem chị em chúng tôi sống

như thế nào.

Trong kí ức của tôi, chị Cả giống như mẹ. Hàng

ngày, chị tắm rửa, bón cơm cho tôi, dỗ dành tôi

2

ngủ. Có những ngày trời nóng, tôi không ngủ được,

tôi khóc lóc bậm bịch rồi lột cả quần áo ra, chị Cả

lại gãi lưng và lấy cái khăn mặt thấm nước lau

khắp người tôi. Tôi tự cho mình cái quyền nũng nịu

chị như nũng nịu mẹ. Còn chị Hai đưa tôi đi lớp và

đón tôi về. Khi muốn gì thì tôi ăn vạ chị Cả. Nhìn

đám trẻ nít cùng tuổi đòi quà bố mẹ, tôi cũng đòi

chị Cả. Có lẽ ngày ấy, trong suy nghĩ của tôi, chị

chính là mẹ, chỉ có điều bọn trẻ kia gọi bằng danh

xưng “mẹ”, còn tôi, đặc biệt hơn, gọi là “chị”.

Lúc bốn, năm tuổi, tôi không biết rằng chị em tôi

rất nghèo, nghèo hơn tất cả những gia đình khác.

Tôi vẫn thường thấy mình có quần áo mới, có cơm ăn

với thịt. Quần áo của tôi thường may ở nhà cô Nụ

hàng xóm. Thỉnh thoảng, thấy lâu lâu không có quần

3

áo mới, tôi lăn ra sân ăn vạ, không chịu ăn cơm.

Chị Cả lại bế tôi sang nhà cô Nụ rồi bảo, “Cô may

quần áo cho em cháu chưa?”. Sau này lớn hơn tôi mới

biết, quần áo của tôi là những miếng vải thừa, cô

Nụ may cho vì thương chị em tôi. Đôi khi là vì cô

trả công cho những buổi tối rảnh rỗi, chị Cả thường

sang cắt chỉ giúp cô. Đến khi đi học thì tôi lại

thường có quần áo mới vì mỗi lần đạt thành tích gì,

nhà trường lại tặng vải, rồi cô Nụ sẽ may không

công cho tôi. Cơm có thịt là bởi chị Cả hay mua

thịt ế của chú Thọ đồ tể lúc chợ đã vãn, giá rất

rẻ. Chị thái thịt nhỏ rồi rim khô với đường, cho

vào lọ, chị em tôi ăn mấy ngày liền. Mỗi bữa cơm,

chị lấy ra mấy miếng thịt cho tôi và chị Hai ăn,

còn chị thường chỉ mút chút nước đường chảy ra. Ở

4

làng quê ba mươi năm về trước thì cơm có thịt là cả

một chiến tích rồi.

Tôi không hiểu vì sao chị Cả không bao giờ nói với

tôi rằng “nhà mình nghèo lắm”, cho tới khi tôi

lớn. Về sau, tôi hiểu, đơn giản vì chị không muốn

hằn vào tuổi thơ của tôi thêm bất cứ nỗi thê lương

nào nữa.

Chúng tôi lớn lên nhờ vào mấy sào ruộng Bắc Bộ.

Mỗi năm quê tôi chỉ có hai vụ lúa và một vụ đông.

Nhưng vụ đông ở quê tôi không làm đại trà, chỉ một

số ruộng đủ điều kiện để trồng luống ngô, luống

khoai, luống rau. Ngoài vụ mùa ra, người thì làm

rợ, người thì đan nón, nhưng kiếm thêm cũng chẳng

là bao. Bởi thế, nhà nào không có đàn ông đi làm

thuê bên ngoài thì nghèo túng lắm. Nhà tôi không có

5

đàn ông, lại không còn bố mẹ, chị Cả tôi cũng

chẳng biết làm rợ hay đan nón, vì thú thực chị

không tỉ mỉ khéo léo được.

Nhưng chị Cả không chịu để chúng tôi nghèo theo

quy luật ấy. Chị đi học cách người ta cày bừa để

không phải thuê người cày. Cả cánh đồng mênh mông

ấy, có độc chị tôi là con gái đi kéo cày. Hết vụ

mùa, chị xin đi phụ xây. Nhưng quanh làng quanh xã

thì chẳng có mấy, mà phụ xây xa thì chị tôi không

đi được, bởi tôi và chị Hai biết bỏ cho ai chăm.

Cuối cùng, chị Cả tôi học người ta đi buôn đường

mía hoặc đi buôn đồng nát. Những việc ấy kiếm chẳng

nhiều nhặn gì, song cũng hơn đan nón, làm rợ. Rồi

những ngày mùa đông mưa rét, nếu không buôn bán

được gì, thì hôm đó thay vì đi chợ mua thức ăn, chị

6

sẽ dẫn tôi ra đồng bòn những ngọn rau sót lại trên

các khoảnh ruộng bỏ không. Mùa đông rau muống cằn

cỗi, chỉ nẩy li ti ngọn nhỏ như tăm và ngắn bằng

ngón tay. Chị lội chân trần xuống hái rất lâu mới

được một nắm. May mắn thì chị có thể bắt thêm được

con cá, con cua. Thế là chúng tôi có thức ăn mà chị

không phải chi tiền ra chợ. Hái được nắm rau rồi

cũng là lúc hai tay chị tê cóng tím tái.

Với tôi, những kí ức ấy, cho đến giờ, vẫn lạnh

buốt, và chẳng thể nào phai mờ được.

Khi lên mười, tôi biết chị em tôi không nghèo nhất

làng nữa. Chị Cả tôi rất biết cách tiết kiệm,

khoản tiền chị kiếm được cũng đủ chia thành tấm

thành món và dư ra một ít để gửi tiết kiệm. Nhưng

lúc ấy chị Cả lại bảo với tôi rằng “nhà mình nghèo

7

lắm”. Sau này tôi mới hiểu, chị nói thế bởi tôi đã

đi học rồi, đã biết chút ít rồi, nghe vậy thì tôi

sẽ chăm chỉ học hành hơn. Và quả thực, ở ngôi

trường quê ấy, tôi luôn đạt thành tích nhất lớp,

nhất trường.

Mỗi lần cô giáo gửi sổ liên lạc về, chị phê vào sổ

cho tôi y như mẹ vậy. Có lần, chị đi họp phụ huynh

cho tôi, cô giáo nhầm tưởng chị là mẹ tôi. Đến lúc

biết chị là chị Cả và chúng tôi không còn bố mẹ,

cô rất thương. Lúc ở lớp cô thường nói với tôi

rằng, chị Cả tôi rất giỏi, rất đáng được trân

trọng. Từng lời cô khắc ghi vào tâm khảm tôi hình

ảnh một chị Cả đẹp lắm, yêu lắm, to lớn lắm.

Khi tôi bước vào cấp hai, những buổi tối, ở nhà

tôi rất đông khách. Tôi học ở trong buồng nhưng

8

toàn qua khe cửa dòm ra. Các bạn của chị Cả tôi,

trai, gái có cả, nhưng tôi chỉ hay để ý người con

trai về muộn nhất thôi. Đó là bạn trai của chị.

Người ấy thường về sau cùng và chị tôi tiễn anh ở

cửa rất lâu. Một thời gian sau, không thấy người ấy

đâu thì có người khác. Nhưng tôi không biết vì sao

chị tôi mãi không lấy chồng. Con gái thời ấy,

chừng hai ba, hai tư chưa chồng đã bị gọi là ế

chỏng ế chơ rồi. Chị không bao giờ nói với chúng

tôi về những người bạn trai ấy.

Sau này, tôi hiểu, chị sợ đi lấy chồng rồi thì

không còn ai lo cho chị Hai và tôi nữa. Chị Hai đã

nghỉ học sau khi hết lớp chín vì chị bệnh, còn tôi

vẫn đi học. Chị Hai yếu đuối, ốm đau suốt nên chị

Cả không yên tâm để hai chị em tôi ở lại.

9

Năm chị Cả ba mươi tuổi thì tôi đang học lớp mười

hai. Bởi nghe người thiên hạ nói nhiều đến chuyện

chồng con, vả lại cũng đã đến lúc chị nhiều tuổi

quá rồi nên chị quyết định lấy chồng. Nhưng lúc ấy

thì chị lấy ai? Tuổi ba mươi, bạn chị có con lớn đi

học rồi. Những buổi tối đông khách ở nhà tôi đã

chấm dứt từ nhiều năm trước, không còn ai đợi chị

ngoài ngõ nữa.

Cuối cùng, chị nhờ người mai mối. Anh rể tôi bằng

tuổi chị, đã qua một đời vợ. Vợ anh mất khi sinh

đứa con đầu. Đứa bé cũng không ở lại với anh lâu.

Vì thế ở làng, người ta bảo anh cao số, anh cũng

chẳng giàu có gì nên sau khi vợ mất đã lâu, anh

cũng khó tái hôn. Anh còn có dấu hiệu tâm thần sau

khi vợ mất, có lẽ bởi quá căng thẳng với sự mất mát

10

lẫn lời dị nghị của xóm làng. Chị chủ động nhờ

người ta làm mối cho. Ngày chị gặp anh là ngày anh

vừa ở viện tâm thần về. Anh chẳng nói gì, chỉ ngồi

im, chị hỏi gì nói nấy. Chị quyết định lấy anh dù

chẳng biết yêu là gì. Sau này, khi tôi lớn hơn, chị

thường bảo tôi rằng, “nhìn vào mắt anh, chị nghĩ

anh ấy tử tế”.

Ngày đi lấy chồng, chị khóc nhiều lắm, không phải

như những cô dâu khác, sợ xa bố mẹ đẻ. Chị tôi khóc

vì ngày mai không biết có còn lo được cho hai đứa

em không. Tôi và chị Hai cũng khóc. Tôi nghĩ mình

đã khóc như khóc mẹ đi lấy chồng. Tôi thấy mình mất

mát điều gì to lớn lắm. Chú thím tôi cũng khóc.

Sau khi rước dâu xong, tôi và chị Hai đạp xe về,

chị Cả níu áo dặn: “Dì út nhớ phải đỗ đại học”.

11

Vào lúc ấy, hai từ “đại học” với tôi xa vời quá,

làm thế nào để tôi có tiền đi học bây giờ. Trong

giây phút chị nói câu ấy, tôi cứ ngỡ như chị sẽ đi

mãi không về nữa, tôi cứ nghĩ đi làm dâu rồi, chị

sẽ chẳng về quan tâm tới chúng tôi được nữa.

Nhưng chị Cả đã không để tôi phải lo về điều ấy.

Trước khi đi lấy chồng, chị Cả đã đưa vào tay chị

Hai một ít vàng và một cuốn sổ tiết kiệm. Số tiền

không nhiều nhưng có thể cho tôi học một, hai năm

đầu đại học. Chị Cả dặn chị Hai rất kĩ rằng, số

tiền đó phải để cho tôi đi học, nhất định tôi phải

được đi học.

Những ngày đầu sau khi chị Cả đi lấy chồng, tôi

không muốn đi học nữa, luôn buồn bã tự hỏi, rồi

ngày mai tôi sẽ nương nhờ vào ai.

12

Nhưng rồi, tôi thấy anh chị hay đạp xe về thăm

chúng tôi. Lần nào về, chị cũng mở nồi kiểm tra xem

chúng tôi ăn gì. Đến lúc ra ngõ chị lại nhìn lại,

lần nào cũng như lần cuối cùng. Những ngày đó,

chúng tôi chẳng nói gì với anh rể, và anh cũng

chẳng nói gì với chúng tôi.

Anh rể tôi chỉ trở nên gần gũi hơn với chúng tôi

khi vào vụ mùa, anh lên cắt lúa cho chị em tôi. Anh

thường xuyên chở chị Cả về trên chiếc xe đạp cũ,

đi gần mười cây số, vì anh bảo: “Không yên tâm về

các dì”. Anh vẫn vài lần nữa phải đi lấy thuốc điều

trị tâm thần nên chúng tôi cũng sờ sợ. Trong ý

nghĩ của tôi ngày ấy, người tâm thần là những người

có thể nổi khùng bất cứ lúc nào. Nhưng sau đó, anh

dứt hẳn triệu chứng bất thường. Người ta bảo, là

13

bởi sau khi lấy chị Cả tôi, cuộc sống của anh chị

ổn định hơn, có người chia sẻ nên anh trở lại bình

thường.

Rồi tôi cũng đỗ đại học như chị Cả mong muốn. Ngày

tôi báo đỗ, chị Cả đạp xe lên hỏi đi hỏi lại hai

chữ “thật không”. Đến lúc nhìn thấy tờ giấy báo

nhập học, chị mới thực sự tin. Chị thắp hương lên

bàn thờ của bố mẹ tôi, có lẽ để báo với họ rằng chị

đã yên tâm.

Những năm tôi học đại học, anh rể vẫn thường cho

tiền, dù lúc ấy anh chị cũng chưa dư dả gì. Ngay cả

lúc tôi đã kiếm được việc làm thêm, anh vẫn cho.

Khi chị Cả tôi sinh con, anh tự tay chăm vợ chăm

con, không nề hà việc gì, vì tôi và chị Hai không

giúp đỡ được nhiều. Buổi tối, anh lại đạp xe lên

14

thăm hai chị em tôi, để về báo cáo lại với chị Cả

xem chúng tôi có ổn không.

Bây giờ, mười năm sau kể từ ngày đó, anh chị tôi

đã có hai cậu con trai, có nhà cửa khang trang với

mức sống tương đối khá ở quê, anh không còn phải

vào viện vì những triệu chứng bất thường nữa. Nhiều

người bảo, chị Cả tôi gặp hậu vận về sau. Nhưng,

dù kinh tế đã khá giả hơn, song chị Cả tôi vẫn

không bỏ được thói quen xưa – thói quen nhặt cơm

rơi. Bây giờ, còn thừa cả cơm cho mèo cho chó,

nhưng hễ hạt cơm nào rơi khỏi bát, chị vẫn nhặt

lên. Nhiều lúc, chị xấu hổ, nhặt lên rồi lại bỏ đi,

và cười. Nhìn cảnh ấy, tôi vừa xót lòng vừa

thương.

Thầm cảm ơn chị.

15

Với tôi, chị thật sự vẫn như mẹ.

16

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát