Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Trước Lúc Làng Chìm

LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

Chương 1

Văn phòng huyện ủy huyện Cái Bưng khi giải phóng

mới được xây dựng. Lẽ ra phải tập trung lại một khu

thì những người lãnh đạo ở đây lại chia nhỏ ra

từng khu một. Khu cho lãnh đạo làm việc. Khu cho

các ban có liên quan. Vì thế, tuy là văn phòng làm

việc nhưng nó lại giống như một khu ở cho các gia

đình. Đất rộng rinh rang mà. Chỉ khổ cho những anh

nhân viên văn phòng, có việc là chạy vòng vo mỏi

1

rệu chân.

Đối diện văn phòng huyện ủy ở phía bên kia con lộ

chính của huyện là văn phòng ủy ban. Văn phòng ủy

ban có diện tích đất ít hơn, nên người ta có cất

một căn nhà lầu. Không hết bao nhiêu đất. Đất còn

lại được trồng một vườn cây kiểng và đắp một hòn

non bộ lớn, hình sông thế núi đủ cả trên ấy.

Đúng lẽ thì mọi công việc phải được giải quyết

nhiều hơn bên văn phòng ủy ban, nhưng ở huyện Cái

Bưng này lâu nay đã có một cái lệ, việc gì cũng

phải được bàn bạc thống nhất bên huyện ủy trước.

Tất cả mọi việc, từ mổ trâu giết bò, dến làm đường,

xây trường… nhất nhất đều phải được thông qua

huyện ủy trước.

Cách đây hơn ba năm, Huyện uỷ Cái Bưng có một cuộc

2

họp rất quan trọng. Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh đã

quyết định thực hiện xây dựng hồ nước Sông Tràm.

Sông Tràm là con sông chảy dọc tỉnh Tây Nam. Nó trổ

ra từ đâu đó trên miệt xứ Campuchia. Con sông luồn

lách không biết bao nhiêu giải rừng già rồi mới

trổ vào đất Tây Nam. Dòng sông tưởng như không

chảy. Chỉ ở khúc cuối sông mới thấy con nước hối hả

xuôi dòng từ những mảng lúc bình trôi hối hả. Nước

ròng, những mảng lục bình trôi xuôi. Nước lên, lục

bình trôi ngược. Con sông khúc cuối như không có

bờ. Mặt nước chỉ khi rút xuống theo thủy triều mới

lộ ra được bờ sông. Còn khi nước lên, mặt nước

ngang với mặt ruộng phía trên.

Nơi định ngăn lại thành hồ nước có cái tên Sông

Tràm được dự kiến nằm phần lớn trên diện tích huyện

3

Cái Bưng. Ở đây dòng sông được coi là hẹp nhất. Nó

sẽ được ngăn bằng một hệ thống đê kéo dài vài chục

cây số phía huyện Cái Bưng. Còn bên kia dựa vào

một vách núi có cái tên thơ mộng: núi Long Vĩ.

Người ta nói núi này là cái đuôi của một con rồng.

Tương truyền, ngày xưa nơi đây là một vùng đất rất

cao. Quanh năm đất này không một giọt nước. Trời có

làm mưa thì nước cũng chỉ dội xuống rồi trôi tuột

đi không giữ lại được. Vì thế dân ở đây quanh năm

đói kém. Một hôm vua biển Long Vương vi hành qua

đất này. Ông ngạc nhiên thấy có một vùng đất không

được hưởng sự ban phát ơn huệ của mình. Long Vương

bèn bay vọt lên trời. Lấy hết sức bình sinh luồn

cái đuôi của mình xuống lòng đất, ngoáy mạnh. Dân

tình phải một phen khủng khiếp. Nhưng chỉ trong

4

chốc lát, thấy đất nơi mình được hạ thấp xuống. Ao

hồ hiện ra khắp nơi. Chỗ nào cũng thấy tràn trề

nước ngọt. Long Vương còn quệt đuôi một cái nữa,

thế là hiện ra một con suối nhỏ. Nước chảy róc rách

vui tai. Con suối chạy dọc qua nơi dân ở. Hai bên

bờ cây lá xum xuê, hoa nở thơm lừng. Vận dụng hết

công lực, Long Vương cũng không thể vặn mình bay

lên được nữa. Long Vương bèn rút thanh bảo kiếm bên

mình cắt phăng cái đuôi mình để lại. Cái đuôi của

Long Vương thành dãy núi đến bây giờ. Thế là dân ở

đây đặt luôn tên núi là Long Vĩ. Đời này qua đời

khác, bao nhiêu lần đổi dòng, khi bên này lở, bên

kia bồi, bên này bồi bên kia lở, con suối mà Long

vương ban cho dân nơi này biến thành dòng sông Tràm

bây giờ. Hồ nước Sông Tràm sẽ dựa vào dãy núi. Lấy

5

dãy núi làm bờ chắn một phía.

Chủ trì cuộc họp ở huyện Cái Bưng cách đây ba năm,

có hai người. Một người đàn ông cao, ốm, mặt thỏn.

Đó là bí thư huyện uỷ Ba Thiệt. Ông chừng bốn mươi

tuổi. Cả con người ông toát ra vẻ khắc khổ. Chỉ có

hai con mắt là lúc nào cũng vằn lên, giống như

đang hằn học với ai.

Người thứ hai là một người đàn bà. Cô có một gương

mặt tròn, đôn hậu. Mái tóc dài, đen thả buông

trước ngực. Đó là cô Út, chủ tịch huyện. Hai người

ngồi cạnh nhau tạo ra một sự tương phản khá rõ nét.

Nếu cô Út thung dung, hiền hậu bao nhiêu thì ông

Ba Thiệt lại tỏ ra như người lúc nào cũng nóng vội.

Ông cầm cây viết trên tay xoay hoài, xoay hoài,

mắt nhìn hết người này sang người khác. Còn cô Út,

6

chăm chú lắng nghe, mắt không rời tập tài liệu có

trong tay, mặc dù có đã đọc đi đọc lại mấy lần rồi.

Sau lưng hai người có một tấm bản đồ huyện Cái

Bưng. Tấm bản đồ lớn bằng cả bức tường, ghi rõ từng

xã, ấp, chi tiết từng con sông, con suối.

Mở đầu cuộc họp là một bản thuyết trình khá dài

của anh cán bộ trưởng phòng xây dựng của huyện. Cứ

như trình bày của anh ta thì chỉ nay mai thôi, tại

huyện Cái Bưng này sẽ có một hồ nước lớn. Mặt hồ

nước rộng mênh mông. Trong hồ sẽ nhung nhúc cá.

Nước lòng hồ sẽ làm thay đổi tất cả cuộc sống của

nhân dân ở đây. Hồ sẽ mở ra cho Cái Bưng một nguồn

lợi thủy sản vô cùng lớn, một tài nguyên nước hiếm

có ở Việt Nam, một khu du lịch tuyệt vời . Ông Ba

7

Thiệt vừa nghe vừa cau mày. Toàn là một lũ bốc

đồng. Làm như hái ra tiền nhờ cái hồ nước còn nằm

trên giấy kia.

Cô Út đứng dậy tiếp:

- Thưa các đồng chí. Nhờ vào địa thế đất đai mà

huyện chúng ta đảm nhận nhiệm vụ quan trọng này.

Đây là một công trình lớn mang ý nghĩa cách mạng

trên quê hương chúng ta. Tôi nói là cuộc cách mạng

vì công việc sẽ rất nhiều. Tất cả các ban ngành đều

phải vào cuộc. Các đoàn thể quần chúng sẽ bắt đầu

một cuộc vận động sâu rộng trong nhân dân nhằm huy

động lực lượng trong dân tham gia công trình. Vận

động nhân dân hiến đất cho công trình đi qua.

Sao mà giống dàn quân đánh trận khi xưa thế. Ông

Ba Thiệt lại nghĩ. Không khí phòng họp bỗng căng

8

thẳng khi ông Ba Thiệt đứng dậy phát biểu ý kiến

cuối cùng.

Bàn ghế kê ngay hàng thẳng lối. Người ngồi ngay

ngắn. Mặt ai cũng đăm chiêu. Ông Ba Thiệt đứng dậy

ngay sau khi nghe cô Út nói xong:

- Thưa các anh, các chị. Các anh là người của xứ

sở này mà, sao các anh có thể quên được chớ. Chiến

tranh mới qua đi có vài năm thôi, mà các anh coi nó

đã là dĩ vãng, là quá khứ rồi hay sao. Nào, các

anh hãy trở lại với chính quê mình đi. Có vùng quê

nào lành lặn không. Hố bom chưa kịp mọc cỏ mà.

Người bị thương chưa lành vết thương mà. Mồ liệt sĩ

còn chưa xanh mà. Sao các anh các chị, chóng quên

đến thế. Ngay các anh ngồi đây, thử hỏi có anh nào

trong gia đình mình lại không có người đã hy sinh

9

trong chiến tranh. Tôi nói chuyện này phải trừ cô

Út ra. Chỉ có gia đình cô hình như chiến tranh bỏ

xót không đụng chạm đến ai. Gia đình cô qua chiến

tranh mà không thấy máu chảy, không ai rơi nước mắt

vì sự mất mát, cho nên cô có thể quên nhanh chóng

mọi chuyện. Còn chúng tôi, không ai quên cả. Tôi

phải nhắc đến chuyện đau lòng này để nhắc các anh,

các chị một điều, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn còn.

Kẻ thù của chúng ta vẫn còn. Không phải chốc lát mà

chúng quên rằng chúng đã thua đau đớn trên mảnh

đất này đâu.. Trước khi các anh, các chị đưa dự án

ra thực hiện, tôi phải nhắc đến chuyện này. Ba chục

ngàn héc ta sẽ bị ngập nước khi thực hiện dự án.

Mỗi tấc đất của quê hương chúng ta là một tấc máu

đó. Các anh các chị không hiểu điều đó sao. Chiến

10

tranh, các anh, các chị có biết chúng ta phải làm

thế nào để giành lấy một tấc đất không. Bằng máu

thịt đó. Vậy mà ba chục ngàn héc ta. Ba mươi ngàn

héc ta đâu có là con số nhỏ. Tôi thương đồng bào

vừa mới qua chiến tranh. Điều mà họ thèm khát, đó

là đất đai. Nay mới có đất đai lại phải cống hiến

cho cách mạng. Cách mạng nào đòi hỏi sự hy sinh quá

nhiều như thế của nhân dân. Còn điều này tôi cũng

phải nói ra để các anh, các chị rõ quan điểm. Đất

nước vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh. Tiền của

đâu mà làm những công trình đồ sộ như vậy. Tôi

biết, các anh bảo tiền do ngân hàng thế giới cho

vay lãi xuất thấp và dài hạn. Ngân hàng thế giới là

ai vậy? Có phải của Liên Xô, của Trung Quốc, của

Triều Tiên không? Không phải chớ gì. Vậy thì của

11

ai? Của thằng Tây, thằng Mỹ. Những thằng đế quốc,

tư bản cả đó. Mình vừa đánh thắng nó, không lẽ nó

tốt với mình như vậy sao? Không. Không. Ngàn lần

không. Trong chiến tranh, chỉ cần một đồng chí

chúng ta ăn đạn bọc đường thôi là đội ngũ chúng ta

mất mát như thế nào rồi. Vậy mà bây giờ, nhận tiền

của chúng, liệu chúng ta có thoát khỏi sự lệ thuộc

chúng không. Chúng ta không chỉ mất đi một vài đồng

chí đâu, mà chúng ta mất cả quê hương đất nước đó.

Không lẽ chúng ta phải làm lại cuộc kháng chiến

nữa. Mất mát, hy sinh quá nhiều rồi, các đồng chí

ơi. Chúng ta qúa mệt mỏi vì chiến tranh rồi, chúng

ta không thể đi theo vết xe đổ cõng rắn cắn gà nhà

nữa …

Bài nói hơn một giờ đồng hồ của ông ta đã sang

12

sảng vang lên trong phòng họp. Không ai nói lại lời

nào hết. Hình như mọi người đều hiểu rằng không ai

có thể nói lại ông ta. Từ ngày xưa, trong chiến

tranh cả mặt trận đã biết đến ông bởi những bài

giảng chính trị sôi nổi, khúc triết và lôi cuốn

người nghe. Có điều mà người ta phục ông ta nhất

là: Ông không cần phải qua một khóa chính trị dài

hạn nào hết. Tất cả điều ông nói đều có trong sách

vở. Mà ông lại là người đọc sách không mệt mỏi.

Những cuốn sách của nhà xuất bản Sự thật từ miền

Bắc lội không biết bao nhiêu đường đất, đội không

biết bao nhiêu bom đạn mới vào được đến đây, gặp

ông thực là may mắn. Ông đọc và ghi chép cẩn thận.

Tất cả kiến thức của các bậc tiền bối nhập vào ông

rất nhanh. Con người ta mỗi người có một thiên chức

13

riêng mà. Có người nhìn thấy đống sách của ông chỉ

biết có lắc đầu ngao ngán. Còn ông thì chỉ có loại

sách đó ông mới đọc. Những loại sách khác ông đều

cho là nhảm nhí hết. Mấy cha nhà văn hay bịa

chuyện, không tin được. Ông giải thích với mọi

người như vậy. Những loại sách gối đầu giường của

thanh niên lúc bấy giờ như Thép đã tôi thế đấy, hay

Ruồi Trâu ông không đọc được lấy chục trang. Nhà

văn bịa chuyện đã ám ảnh ông. Chỉ những nhà lý luận

mới chinh phục được ông ta. Họ viết từ trong trí

tuệ và khoa học. Theo ông là như vậy.

Tiếng ông cứ sang sảng vang lên. Từng tiếng, từng

tiếng một. Người ngồi nghe không muốn nghe cũng

buộc phải nghe. Cũng lạ, khi công bố thực hiện dự

án hồ nước Sông Tràm trên tỉnh, sao không thấy ông

14

phát biểu như hôm nay. Hôm ấy, chỉ thấy ông giơ tay

xin phát biểu rất ngắn. Đại khái là đề nghị các

đồng chí cấp trên xem xét lại quyết định này. Thế

mà hôm nay ông phát biểu hùng hồn đến thế. Cứ như

ông nghĩ thì công trình này là đi ngược lại ý

nguyện của nhân dân. Thực hiện công trình sẽ là một

bước thất bại làm ảnh hưởng đến việc xây dựng quê

hương trong hoà bình. Theo ông, một số cán bộ từ

trên trung ương đã bị kẻ thù mua chuộc, hoặc đã hữu

khuynh, hoặc đã xét lại, đã nhanh chóng bắt tay

với kẻ thù. Cô Út lại đứng lên:

- Thưa các đồng chí. Chúng ta là cấp huyện. Cấp

huyện chỉ có thể bàn nên hay không nên thực hiện

các dự án của cấp chúng ta thôi. Còn công trình

này, chúng ta không được phép bàn. Riêng với đồng

15

chí Ba Thiệt, tôi xin có ý kiến thế này. Đề nghị

đồng chí không nên chỉ trích ai. Gia đình tôi theo

kháng chiến như thế nào tất cả các đồng chí đều

biết. Tôi cũng không cần phải lý giải vì sao cả gia

đình tôi không có ai là thương binh, là liệt sĩ.

Có gì nghi hoặc về tôi trong chiến tranh đồng chí

Ba Thiệt có thể cho thẩm tra lại. Cuộc họp này

không phải bàn đến chuyện đó. Chúng ta càng không

có quyền chỉ trích tỉnh ủy, ủy ban tỉnh và các đồng

chí trên trung ương. Cái gì đáng làm, cái gì không

đáng làm. Quan hệ với ai, không quan hệ với ai

trên trường quốc tế, không phải là chuyện của chúng

ta. Ở đây, tôi xin phép được nói thêm một điều này

thôi. Giữa tôi và đồng chí bí thư huyện ủy có thể

có những bất đồng trong việc giải quyết chuyện của

16

huyện. Nhưng việc xây dựng hồ nước Sông Tràm, chúng

ta không có quyền bất đồng ý kiến. Bây giờ với tư

cách là chủ tịch huyện tôi tuyên bố chính thức bắt

tay vào việc chuẩn bị thực hiện xây dựng công trình

hồ nước Sông Tràm. Việc đầu tiên là khai thác

trắng vùng làng Bàu Cày. Đó là cái rốn của hồ nước

Sông Tràm.

Không ai nói thêm nên cuộc họp giải tán. Tất cả

đứng dậy xô ghế ra khỏi phòng. Ông Ba Thiệt gọi một

người:

- Cậu. Vào phòng với tôi.

Người đàn ông mà ông ta gọi đã vào tuổi trung

niên. Anh ta to, cao, khoẻ mạnh. Dáng đi cung cúc

như người nông dân đi trên bờ ruộng. Bù lại, anh ta

có gương mặt khá sáng sủa. Hai mắt to. Lông mày

17

rậm rịt quắp xuống đuôi mắt. Miệng thì luôn có vẻ

cười , hiền lành. Nhưng với cặp mắt với cặp lông

mày kia khiến những người đối diện phải trờn trợn.

Anh ta là chánh văn phòng huyện ủy. Anh ta đối lập

với Ba Thiệt bên cạnh. Gầy gò, nhưng cao. Mặt

choắt lại, hàm râu nhọn có những sợi râu lưa thưa.

Trên đầu lưa thưa có vài sợi tóc. Không ra sói,

cũng không ra trọc. Hai mắt được che bởi cặp kiếng

trắng, cỡ vài ba đi-ốp.

Phòng làm việc của ông ta, ngoài chiếc bàn ngập

giấy tờ, có thêm một chiếc ghế bố dành để ông ta

nghỉ trưa. Nhà ông cách đây vài chục cây số, nhưng

cuối tuần ông mới về. Một chiếc bàn uống nước thấp

, kê sát bên cạnh một chiếc bàn đá dài có thể cho

bảy tám người ngồi họp. Còn lại là sách. Sách bao

18

quanh tất cả những bức tường. Tập nào cũng dày cộp.

Hình như sau ngày giải phóng ông ta đã sưu tập

được hết tất cả các bộ sách kinh điển của các bậc

thày triết học trên thế giới này. Ông chỉ một chiếc

ghế:

- Cậu ngồi đi .

- Dạ.

- Cậu thấy thế nào về cuộc họp hôm nay.

- Chú … cháu thấy có cái gì không ổn…

- Thế nào là không ổn?

- Cháu có cảm giác, mọi chuyện đã được định đoạt

rồi. - Định đoạt? Ai định đoạt?

Ông Ba hỏi một câu mà biết rằng người ngồi đối

diện không thể trả lời được. Ai định đoạt thì ông

biết rõ rồi. Nhưng quả thực ông không tin được lại

19

có thể ngăn được Sông Tràm. Nghe người ta trình bày

khi cái hồ xây xong phải chứa cả tỷ mét khối

nước. Cả tỷ mét khối nước được khoanh lại trong một

cái đê, cái đập gì đó liệu có bục oà một cái dìm

cả tỉnh Tây Nam này trong cơn đại hồng thủy hay

không? Ông với tay kéo cái ấm chuyên. Cái ấm lạnh

ngắt và nhẹ tênh. Từ sáng đến giờ, ông chưa vào

phòng làm việc. Ông thường dặn cô văn phòng khi nào

ông vào phòng mới pha nước cho ông. Pha trước nó

nguội, phí đi. Khác với cánh dân Nam bộ, ông không

dùng trà đá, mà uống nước trà nóng. Thói quen từ

ngày còn ở trong rừng. Ngày ấy, ông xin lên làm văn

phòng của căn cứ T. Hằng ngày tiếp khách, mà khách

phần lớn là người Bắc vào. Toàn là những cán bộ

cao cấp. Ông nào cũng có cần vụ theo. Mà việc đầu

20

tiên của cần vụ là phải lo ăn uống cho thủ trưởng.

Trong rừng không có nước đá, nên chỉ có hai thứ

nước uống thôi. Nước sâm rừng và trà. Các ông

tướng, những cán bộ cao cấp, thương ông ở cái nết

làm việc nghiêm túc, khoa học, nên lần nào vào đến

cứ, cũng kèm theo cho ông một vài lạng chè Bắc.

Uống riết thành quen. Từ ngày giải phóng, việc có

chè Bắc để uống không khó khăn gì, nên lúc nào ông

cũng vài bình, vài bọc trong phòng làm việc. Hôm

nay, khi cô văn phòng bước vào , ông xua tay ra

hiệu không cần. Ông tự tay pha ấm trà cho mình.

- Cậu tiếp tục đi .

Ông nhắc người ngồi trước mặt.

- Theo như cháu được biết thì việc xây dựng hồ

nước Sông Tràm đã được trung ương quyết kia mà.

21

- Trung ương nào? Đây là Cái Bưng. Đất Cái Bưng là

của người Cái Bưng. Khi không một ông nào đó lại

quyết định vận mệnh của Cái Bưng là sao. Ngày mai

tôi phải lên tỉnh. Nếu cần tôi sẽ ra thẳng Hà Nội.

Bây giờ không phải cái thời lệnh trên rót xuống

phải tăm tắp nghe nữa rồi.

- Chú lên tỉnh? Ra Hà Nội?

- Làm cái gì mà cậu tròn mắt nhìn tôi vậy. Lên

tỉnh, ra Hà Nội chớ phải vào cứ điểm Trảng Tròn hồi

Mỹ còn đóng quân đâu mà cậu…Mà sao cậu lại hỏi tôi

như vậy?

- Dạ. Không phải vậy. Nhưng từ ngày giải phóng đến

giờ chú có đi đâu bất ưng thế này ? Vả lại, chú …

- Thì bây giờ đi. Có sao đâu.

- Dạ, không sao. Nhưng …

22

- Thôi đi đừng dài dòng. Cậu chuẩn bị cho tôi

đi…Tôi có danh sách này. Ngay sau đây cậu điện cho

họ, biểu họ chiều nay, chạy xuống nhà tôi dưới An

Bình để bàn công chuyện. Rõ chưa?

Ông nổi nóng quát lên với người đối diện. Ly nước

trà nóng đưa lên miệng, khiến môi ông phỏng rát.

Nuốt không nuốt được, ông phun cái phèo trên mặt

bàn. Nước bắn tung toé, văng cả lên mặt ngừơi đối

diện. Có lẽ thấy mình hơi quá đáng, ông dịu giọng:

- Bây giờ chút chút là kêu khó. Chút chút là kêu

khó. Ngày xưa trong rừng, ba lô trên lưng cuốc thấy

bà. Không đi hả. Máy bay nó bắn chết mẹ luôn. Chớ

ở đó mà chọn…

Bao giờ có thời gian, chuyện trong rừng ông kể

hoài không hết. Thời bây giờ làm ăn sướng thấy mẹ

23

còn so bì. Ra đường thì sênh sang áo mũ, xe lớn, xe

nhỏ. Về nhà thì vợ đẹp con khôn. Làm việc trong

phòng, quạt từ chân quạt lên. Mát đến từng sợi

lông. Ra đường thì xe đưa xe rước. Bước đi là nhà

nước lo hết trơn. Thanh toán đủ thứ. Tháng nào cũng

kê công lệnh đòi tiền nhà nước. Còn ngày xưa hả.

Ngủ chẳng ra ngủ. Thức không ra thức. Đói không

gạo, ăn đậu phọng, đậu xanh, chẳng thằng nào dám

ngủ gần thằng nào, đánh địt thối rùm cả rừng. Ăn

rau tàu bay đến đái ra máu. Được cục mắm ruốc coi

như đại tiệc rồi. Ngày ấy chỉ mơ có được một đêm

ngủ trên giường cho ngon. Hết chui hầm lại treo

võng. Người không ra hồn người.

Ông ta quên mất rằng chỉ có số ít người tại cơ

quan lớn như thế này còn trẻ, chưa biết thế nào là

24

rừng, là cứ. Số còn lại cũng chẳng khác gì ông.

Không rừng này cũng ở cứ kia thôi. Mà đã ở rừng, ở

cứ thì ai chẳng giống ai. Nhưng hình như đời những

người tham gia cuộc chiến chỉ có ông là người chịu

đựng gian khổ nhất. Cũng theo ông, những ngày ở

rừng, ở cứ là những ngày toàn những lo âu. Không có

lấy một chút thời gian để mà thư giãn. Ông thường

phàn nàn với mọi người như vậy.

Chuyện ngày xưa, không nhắc đến nữa, chỉ biết đến

lúc này ông đang là một trong những người quan

trọng quyết định vận mệnh của dân đất một huyện.

Ông không muốn ai qua mặt ông hết. Ông nói với

người trước mặt:

- Thôi bây giờ thế này. Trong đêm nay, cậu phải

chuẩn bị cho tôi những tài liệu liên quan đến cái

25

hồ chết tiệt kia nghe. Chết tôi cũng không để làm

ăn kiểu đó được. Mẹ kiếp. Tưởng ngon ăn hả. Làm

được cái hồ đó tôi bú c. trừ …

Anh chàng ngồi trước mặt ông trố mắt nhìn. Chưa

bao giờ anh lại nghe từ miệng con người chuyên nói

chuyện lý luận kia một câu nói tục đến như thế.

Chiều ấy ông về nhà. Nhà ông vẫn ở An Bình đất của

quê vợ. Vợ ông, vốn cũng là một cán bộ văn phòng

huyện ủy của cái huyện phía nam tỉnh Tây Nam này.

Sau khi lấy chồng, bà biết có tham gia công tác

hoài thì cũng chỉ làm được đến cán bộ phụ nữ là

cùng. Thôi thì về nhà, coi sóc con cái, làm thêm

việc đồng áng, tập trung cho chồng tiếp tục sự

nghiệp. Ngôi nhà được cất ngay sau khi giải phóng.

Ban đầu, ông cũng tính đưa vợ con về Phú Mỹ quê ông

26

sống. Nhưng ngẫm đi, ngẫm lại, đưa vợ con về huyện

mình, có những cái bất lợi. Nên ông lại thôi. Vả

lại bên vợ đất đai nhiều, ông lại là một cán bộ cốt

cán, có thế lực, với dân chưa biết là sao, nhưng

với gia đình bên vợ, ông được kính trọng bậc nhất.

Vì thế khi nghe ông ngỏ ý xin đất cất nhà, bên vợ

tán thành ngay. Không những thế, anh em bên vợ còn

xúm lại lo cất nhà phụ ông. Bao giờ mà chả thế, một

người làm quan, cả họ được nhờ. Ngôi nhà được xây

theo kiểu chữ đinh. Một dãy nhà ngang, thông với

một dãy dọc. Gian trước rộng rinh . Gian sau cũng

rộng rinh , mà nhà chỉ có bốn người. Hai đứa con

còn nhỏ, một đứa vẫn ở chung với mẹ. Đứa kia chiếm

cả cái gian ngòai. Nhưng khi ông về, vợ chồng hủ hỉ

với nhau ở gian nhà dọc, cất kín đáo phía gần bếp

27

ăn.

Quê ông ở chính huyện Cái Bưng nơi ông làm bí thư

huyện ủy. Đây là vùng quê dành riêng cho những

người phu đồn điền cao su. Thằng Tây đúng là thằng

nổi tiếng về việc nghiên cứu đất đai thổ nhưỡng

vùng Đông Nam Á này. Ở tận đẩu, tận đâu nó cũng

biết vùng Phú Mỹ là vùng đất hợp với việc trồng cao

su. Vì thế, ngay từ khi đặt chân lên xứ xở của

người Việt Nam, bọn Tây đã biến Phú Mỹ thành một

vùng bạt ngàn cao su. Công thì tuyển từ Bắc Kỳ. Cai

quản thì có cả một hệ thống cai, đội từ trên xuống

dưới. Gia đình Ba Thiệt lọt thỏm vào giữa vùng dân

toàn Bắc kỳ. Lấy dân địa phương cai quản dân ngụ

cư là chính sách của mấy thằng chủ đồn điền. Ông

già Ba Thiệt được chủ Tây tin cậy và giao cho coi

28

sóc mười lô cao su trong đó có mấy chục phu cao su.

Vì thế mà gia đình Ba Thiệt có của ăn của để, Ba

Thiệt mới được đi học. Ngày giải phóng có một

nguyên nhân nữa Ba Thiệt không đưa vợ con về Phú Mỹ

vì ông rất ghét phải sống với dân ngụ cư. Với ông

cái dân ngụ cư là thứ dân không tin được. Ông không

muốn vợ con mình nhập vào sống với dân ngụ cư đó.

Ngay khi về làm bí thư huyện ủy huyện Cái Bưng, một

trong những công việc đầu tiên ông làm đó là đưa

ngay người địa phương xuống nắm chính quyền ở những

nơi có dân ngụ cư sống. Chính chủ trương này của

ông đã làm xáo trộn cả công tác điều phối cán bộ

trong huyện. Có người trách ông cục bộ địa phương.

Ông tuyên bố: đây không phải là vấn đề cục bộ mà là

công việc phải làm để củng cố chính quyền địa

29

phương. Chính chúng ta phải lo cho chúng ta, không

thể dựa vào bất cứ ai . Ngay cả bộ đội cũng vậy

thôi. Bộ đội miền Bắc đã hoàn thành việc giải phóng

miền Nam rồi thì về Bắc sống. Việc miền Nam để

người miền Nam định đoạt.

Cả nhà bất ngờ khi thấy ông về vào một ngày bình

thường trong tuần. Bà vợ luống cuống khi nhìn thấy

ông:- Ông bệnh hay sao mà về hôm nay.

- Bệnh. Phải, tôi đang bệnh.

- Vậy thuốc men gì chưa. Đi khám chưa?

- Khám xét cái gì chớ. Tôi nói bệnh là bệnh trong

đầu tôi nè. Thôi đừng hỏi nhiều. Chuẩn bị đi, lát

tôi có khách đó. Rượu chè gì. Tôi có việc. Mà thôi

cũng làm mấy thứ để tôi lai rai với họ. Chừng năm

sáu người gì đó…

30

Ông chui vào nhà tắm và ở miết trong cả tiếng đồng

hồ. Thói quen của ông là như vậy. Ở cơ quan, chỉ

mười phút. Nhưng về nhà phải cả giờ đồng hồ cho nó

thoả. Cái hồi trong cứ, điều mà ông thích nhất,

khoái nhất đó là những lúc trời nóng được đằm mình

xuống suối. Không gì sướng bằng cứ trần như nhộng,

nằm ngửa tênh hênh trên mặt nước. Để nước chảy mơn

man dưới lưng và lắng nghe tiếng róc rách vui tai.

Trong cứ có một con suối nhỏ. Chỉ vào mùa mưa, với

những cơn mưa kéo dài con suối mới đục. Còn cứ

ngưng mưa chừng vài giờ là con suối lại trong veo.

Con suối dược anh em trong cứ đặt cho cái tên rất

đẹp: Suối Nàng. Ai hiểu cái tên ấy như thế nào cũng

được. Nó đẹp như xứ tiên đó là một cách hiểu. Con

suối nhỏ thôi. Nước bao giờ cũng cạn, trừ lúc trời

31

mưa. Nước suối trong veo. Lòng suối nhấp nhô những

viên đá muôn hình vạn trạng. Có những hòn đá đen

bóng và có cả những hòn đá trắng tươi. Có những hòn

vàng khè bên cạnh những hòn đá xám, đục. Khi nước

cạn cùng với những bọt nước trắng phau, lòng suối

giống như một vườn hoa đá. Phía trên mặt nước là

những tán lá xanh phủ xuống. Những dây leo đan qua,

đan lại , trên ấy treo toòng teng những chùm tầm

gởi. Trên bờ là hàng cây thưa thớt. những cây bằng

lăng loại lá nhuyễn mọc dọc theo con suối, cứ vào

mùa lại trổ bông tím ngắt . Hễ rảnh là những cô,

những cậu lính trẻ lại ra suối, để được ngồi bên

nhau dưới tán bông bằng lăng tím mà tán dóc, mà mơ

đến tương lai. Thêm những tiếng cười ròn tan nữa,

con suối càng xứng đáng gọi là Suối Nàng. Có một

32

cách hiểu khác, đó là cách hiểu của cánh trai trẻ.

Dọc suối có một khu vực bị coi là bất khả xâm phạm.

Đó là khu dành cho các cô gái tắm. Ngỡ đàn ông

quậy phá mới có những quy định quái chiêu. Ai dè,

cánh con gái còn quái chiêu hơn. Ai muốn tắm ở khúc

suối ấy thì phải lột hết mọi thứ trên người ra

trước khi bước xuống suối. Chẳng biết các cô quy

định từ lúc nào, nhưng đã thành một quy ước không

thành văn rồi. Đừng nghĩ là con gái hay mắc cỡ mà

lầm. Ban đầu nhiều cô, nhất là những cô lần đầu

được điều về cứ công tác nghe quy định lắc đầu: “

Chuyện gì thấy mà ghê”. Nhưng khốn nỗi, không đến

đó tắm, thì chỉ có nước tắm chung với đàn ông thôi.

Cánh đàn ông thì khỏi nói rồi. Chỗ nào mà họ tắm

chẳng được. Tiện là lột đồ lội ào xuống, vẫy vùng

33

một hồi rồi lên. Chỉ cánh con gái là cực. Cho nên

đành phải chấp nhận quy định thôi. Ban đầu mắc cỡ

thì đã có các chị lo cho. Đừng có mà xuống nước còn

đeo trên người ba cái thứ che che đậy đậy. Lột hết

ra, nào lột hết ra đi. E thẹn hả. Các chị xúm lại

tháo gỡ dùm cho. Thế là tiếng cười ré lên. Tiếng

cười ấy làm mềm đi không khí lúc nào cũng căng

thẳng vì những tiếng máy bay gầm gào, những tiếng

bom nổ xa xa, những tiếng súng nổ ì đùng đâu đó.

Các chị lý sự ngang ngang: “ Ê nè. Người con gái

đẹp nhất là thân xác mình. Chiến tranh thế này biết

sống lúc nào, chết lúc nào. Không lẽ đến chết

không được khoe mình hay sao. Khoe được phút nào

thì khoe đi. Dấu làm chi chớ”. Có chị còn ghé tai

thì thầm: “nhất là khoe được với cánh đàn ông được

34

thì càng sướng, rõ chưa”. Nói thì nói thế. Có anh

đàn ông nào léng phéng đến khúc suối đó mà nhìn

trộm thì coi chừng. Có một anh rồi đó. Cũng vì tò

mò thôi, lén lén, lút lút nấp bụi cây thích thú

ngắm các cô. Ai dè, bị phát hiện. Chạy đâu cho

thoát. Một bầy mấy cô, nhảy lên bờ, dí theo anh ta,

bắt được lôi xuống suối vật anh ta xuống nhấn

nước. Trong lúc anh ta tối tăm mặt mày vì sặc nước

thì các cô lột đồ anh ta ra. Lát sau, bộ tam sự của

anh chàng không còn lấy một cọng lông. Thoát khỏi

bàn tay các cô, anh ta như thoát khỏi tử thần, cứ

thế nhồng nhộng chạy tháo thân, để lại phía sau

tiếng cười váng cả một khúc suối. Người ta gọi đây

là Suối Nàng còn vì lý do đó. Chẳng ai trách các cô

gái có trò tinh nghịch. Chiến tranh ác liệt như

35

thế có dược một chút thời gian hiếm hoi thư giãn,

giống như trong đêm lẻ loi bỗng nghe được một tiếng

hò hay một câu ca cổ mùi mẫn vậy.

Ông cũng đã từng đằm mình trong dòng suối ấy. Cho

đến tận bây giờ ông vẫn còn cái cảm giác sảng khoái

rất riêng. Riêng vì ông đã tạo ra cho mình một

khoái cảm mà có lẽ không ai biết. Ông cũng không kể

với ai ngay cả với vợ mình. Hồi trong rừng, ông

thường lánh đi tắm một mình. Nơi ông tắm có một

tảng đá lớn chắn ngang dòng suối. Con nước tràn qua

những kẽ đá tạo thành những vòi nước xối mạnh

xuống. Mỗi lần nhìn thấy vòi nước là ông rạo rực

khắp người. Một lần bất ngờ ông đã được vòi nước ấy

cho sự choáng ngợp khoái cảm. Ngày ấy, ông chưa có

vợ. Hình như tất cả những người con gái dưới quê

36

không hấp dẫn được ông. Nhất là ở đó toàn là những

người nói tiếng Bắc , trộn tiếng Nam nghe bắt ghét.

Những ngày trên cứ, những cô gái xứ lạ ngày ngày

qua lại trước mặt ông, khiến ông xao xuyến. Nhưng

ông không dám ngỏ lời với bất cứ ai. Ông chỉ ham

đọc sách. Có một cái dễ làm cho đám đàn ông ham

muốn hơn, đó là đàn bà thì ông không dám. Hễ thấy

người con gái nào đến kế bên là ông ngây người ra.

Từ gương mặt đến thân xác, tất cả cứng ngắc như một

khuôn gỗ. Những cô gái đã từng đặt cho ông biệt

danh người gỗ là như vậy. Cũng một lần tắm ở suối.

Vòi nước vọt ra từ khe đá đã xói trúng vào cái chỗ

mẫn cảm của đàn ông trên người ông. Ông thấy nhột

nhột, thích thú. Khí thế đàn ông trong người ông

phừng phừng bốc lên. Ông để mặc sức cho vòi nước

37

xối vào đó, cho đến khi miệng ông phải thốt lên một

tiếng kêu khoái cảm. Trò đó diễn đi diễn lại khá

lâu trong những ngày tháng sống trong rừng. Chỉ đến

khi ông lấy vợ, những khoái cảm khi cọ sát với đàn

bà, ông mới thấy những trò trước đó của mình thực

nhảm nhí. Vì thế mà ông không hé răng kể chuyện đó

cho ai nghe.

Trong lúc ông tắm trong nhà tắm, vợ ông ngoài này

tủm tỉm cười hoài. Tay bà thoăn thoắt làm những

công việc của người đàn bà. Nhưng trong đầu thì

loạn xạ những suy nghĩ đâu đâu. Gần mười năm làm

vợ, lúc nào bà cũng có cái cảm giác này mỗi khi

thấy bóng ông về. Không được sống gần nhau. Bao giờ

cũng mỗi người mỗi nơi. Ngày xưa, bà làm công tác

văn phòng của huyện phía Nam, ở khúc cuối Sông

38

Tràm. Hồi đó bà nhận lệnh lên cứ nhận tài liệu tập

huấn. Bà gặp ông tại nơi ông làm việc. Không hiểu

sao, bà bỗng thấy xốn xang khi thấy trước mặt mình

một người đàn ông lạnh như tiền. Họ trao đổi với

nhau toàn là những chuyện cần phải làm. Khi ngồi ở

cái bàn kết bằng cây le rất khéo, bàn chân ông bỗng

đụng bàn chân bà. Cả hai người cùng giật mình. Mặt

mũi ai cũng đỏ gay. Miệng ông cứng lại, không nói

được nữa. Khi đưa tập giấy tờ cho bà một lần nữa,

bàn tay ông chạm vào tay bà. Lần này thì cả hai

thảng thốt. Bà vội vàng cầm xấp giấy tờ nhảy lên

khỏi cái hầm thùng chạy phăm phăm theo con đường

mòn. Còn ông thì ngớ người đứng lên nhìn theo.

Lần thứ hai họ gặp nhau tình cờ hơn. Ông xuống

phía nam công tác. Xứ này không là xứ ông. Trên cứ,

39

ông không biết đến một số đặc thù của từng xứ.

Trong đó có xứ ông phải xuống công tác đợt đó. Đây

là một vùng đệm. Địch phản công liên miên. Một số

nơi cơ sở bể chưa kịp tạo dựng cơ sở mới, phải dọn

ra trảng ở. Mỗi cán bộ nằm vùng là một hầm bí mật

riêng ngoài trảng. Căn hầm ấy chỉ có những giao

liên của xứ mới biết. Ai lạ lớ ngớ qua lại đó,

không may nhìn thấy một căn hầm coi như chết chắc.

Bà cũng có một căn hầm như thế.

Ông chủ quan. Nghĩ rằng đó vùng ta quản lý chẳng

đáng phải lo, nên ông cứ ung dung đi mà không cần

đến giao liên đưa đường. Ông sui. Nhưng lại hên.

Khi ông đang ngang qua trảng Dừa, bỗng thấy một

người từ trong lòng đất chui lên. Ngay lập tức, một

phát súng nổ bay xẹt qua tai ông. Ông giật mình

40

nằm vội xuống. Thêm một phát súng nữa nổ ngay sát

ông. Bỗng ông thấy như có ai nắm chân ông kéo mạnh.

Mặt ông cà xuống đất đau rát. Bỗng hẫng người một

cái, ông chui tọt xuống một cái hố. Đất trời bỗng

tối xầm ngay trước mắt ông. Ông ngỡ mình đã bị lôi

xuống địa ngục. Miệng ông há hoác. Nhưng tiếng la

chưa kịp bật ra thì một bàn tay đã bóp miệng ông

lại. Một tiếng thì thào:

- Điên hả? Sao đi vào đây?

- Ai đó?

- Em thấy anh từ xa rồi. Hồi hộp muốn chết. Ai

biểu đi vào đây mà không có người dẫn đường. Ngu

thế… - Nhưng cô là ai?

- Người lên nhận tài liệu trên cứ hôm rồi đó…

- Trời đất…

41

Ông quên luôn cảm giác kinh hoàng. Bởi chuyện này

còn kinh hoàng hơn. Bàn chân ông còn bỏng rát. Bàn

tay ông cũng còn bỏng rát cái cảm giác đụng chạm

hôm nào. Hôm nay không phải là đụng chạm nữa mà

đang ép sát vào nhau trong một căn hầm bí mật chật

chội.

- Em mà không biết anh trước thì em thây kệ. Bây

giờ ở dưới này căng lắm. Chúng bố ráp liên miên.

Cái sống cái chết kề bên nhau… Ai cũng phải tự bảo

vệ mình. Anh tính vào cứ huyện ủy phải không? Ở đây

một lát đi, rồi em đưa đi. Em cứu anh thế này là

anh em người ta biết anh là người của mình rồi đừng

lo.

Ông run lẩy bẩy. Lần đầu tiên ông gần đàn bà đến

như thế này. Ông cố lựa mình quay lại để không phải

42

áp mặt vào mặt người đàn bà đối diện. Ông đã hình

dung ra gương mặt gặp hôm trước. Tròn trịa. Lông

mày dài, đen. Mắt to sáng. Cằm chẻ. Một bên lúm

đồng tiền. Nhưng đen. Không thể nào trắng được giữa

một vùng nắng cháy xứ này. Ông biết là như thế.

Hầm chật quá, chỉ chứa một người nay chứa đến hai,

nên dù né thế nào cũng không được. Lần đầu tiên

trong đời ông gần đàn bà đến như thế. Hơi thở từ

người đàn bà phả ra nóng hổi trên mặt ông. Mái tóc

thơm thơm như mùi của lá thơm trên rừng. Nhất là

mùi da thịt đàn bà khác lạ hơn tất cả những mùi

khác, khiến trong ông trỗi dậy một thứ tình cảm lạ

lùng. Một khuôn ngực với cặp vú căng như trái bưởi

đáng áp vào ngực ông. Cùng với nhịp tim nữa làm cho

cả ngực ông cũng phồng phồng, tẹt tẹt, khiến nhịp

43

thở của ông như tắc nghẽn lại. Thế là ông run bắn

lên. Còn bà thì cười:

- Yên tâm đi. Giờ này không ai biết anh ở đâu

đâu. Sao mà nhát thế…

- …

- Sao rung hoài vậy cà…

Ông không biết nói sao về những nhịp run trên

thân xác ông. Đàn bà. Đàn bà đó… Trời ơi. Rồi bà

cũng biết ông đang run vì cái gì. Bà thấy cộm cộm

một cái gì đó ngay dưới bụng bà. Nó áp sát người bà

và nóng hổi. Bây giờ thì đến lượt bà nóng ran

khuôn mặt. Bà đẩy ông ra. Nhưng đẩy đi đâu được khi

căn hầm chật cứng như vậy. Không ngờ, trong giây

phút hiểm nguy như thế mà ông ta nhậy cảm đến như

vậy. Mà chẳng việc gì phải đẩy. Bà cũng đã ngoài

44

hai mươi rồi . Bà cũng đã từng biết những chuyện

đàn ông, đàn bà người ta làm gì với nhau trong bóng

tối rồi. Biết qua chững chuyện phiếm của những

người lớn tuổi thôi. Đã có lúc bà muốn thử chuyện

ấy xem sao rồi. Nhất là sau những ngày hành kinh.

Chừng mươi bữa gì đó, bà đã từng rạo rực khắp người

và thèm thuồng một cái gì đó rất mơ hồ. Những hôm

đó, bà cảm thấy ngực bà căng lên. Căng đến mức bà

phải dùng hai tay xoa bóp cho bớt căng. Nhưng càng

xoa bóp thì nó lại càng căng. Cùng với căng ngực là

cái khác nữa cứ râm ran. Một dòng chảy trong huyết

quản rần rần từ đầu xuống đến chân, khiến bà cứ

muốn nằm xuống thư giãn. Đã có lần bà phải nằm

xuống thật. Lúc đó hai chân bà phải khép thật chặt.

Tay bà phải luồn xuồng vuốt ve nơi thầm kín kia

45

cho dịu bớt lại. Cho đến khi một thứ gì đó ứa ra

khiến bà uể oải cả người thì sự thèm khát thần kín

kia mới chịu dịu xuống. Còn hôm nay, cái phần người

của ông đang áp vào bà. Ông không điều khiển được

mình. Càng run, thì phần thân xác nhỏ bé kia càng

phồng lên khó chịu.

- Anh sẽ báo cáo với tổ chức…

- Chi vậy?

- Để xin cưới em làm vợ.

- Trời đất…

Trời đất nào biết lúc đó. Tổ chức nào biết lúc

đó. Không còn chịu nổi nữa. Ông luồn bàn tay vào

ngực bà. Bà ôm xiết lấy ông, cà má vào má ông. Ưỡn

ngực ra đón bàn tay ông. Xoạc cả hai chân ra để ông

ôm gọn bà trong một tay còn lại. Ông không còn

46

biết mình là ai nữa. Ông luồn tay xuống bên dưới.

Chúa sinh ra con người ta đã cho người ta cái bản

năng đó rồi. Như không thể chịu nổi những thứ đang

làm vướng bàn tay. Ông giật mạnh cái giây lưng

mình, giật mạnh luôn cả cái quần bà ba của bà. Bây

giờ căn hầm lại trở thành quá rộng, khi bà nằm

xuống cho ông phủ lên trên. Bà chờ. Bà chờ hoài.

Nhưng ông không biết làm cái việc mà người đàn ông

phải làm. Không trách được, lần đầu tiên ngỡ ngàng.

Bà không được gì hết, vì bỗng nhiên bà chợt thấy

ngay dưới bụng mình một dòng nước thật ấm và ông

thì rùng mình. Bà đẩy ông ra và khóc thút thít. Ông

không biết bà khóc vì cái gì. Ôm nhẹ bà trong tay,

ông nói:

- Anh sẽ báo cáo tổ chức…

47

- Tổ chức cái con khỉ … Làm gì mà cứ phải tổ

chức… Ông ngượng chín người. Còn bà thì bắt đầu

đòi hỏi cái thứ mà mình cần. Bà đã cho mà ông không

biết nhận. Thì đến lượt bà đòi. Sức trẻ trong con

người ông còn nguyên vẹn. Nên chỉ một lúc sau, ông

lại bắt đầu thèm muốn. Bây giờ thì ông biết mình

thèm muốn gì rồi. Ông có cảm giác vú bà căng hơn

trước. Hai chân bà xoạc rộng hơn trước. Phần dưới

của ông căng hơn trước. Lần thứ hai thôi bà đã biết

giúp ông đi vào người bà. Đau và rát. Nhưng đau và

rát không làm bà bớt đi những thèm khát. Sau một

tiếng rên khe khẽ, bà lắc nhẹ để tận hưởng phần xác

thịt ông đã nằm trong người bà. Còn ông, ông nhớ

đến cái vòi nước trên Suối Nàng. Nó đã từng giúp

ông khoái cảm. Nhưng dầu sao, nước ở suối lạnh lắm.

48

Còn trong bà nó ấm áp và rạo rực hơn nhiều. Ông

cựa mạnh. Thêm một lần nữa tất cả tinh lực của ông

chồm dậy và bắn ra khỏi người ông đúng vào lúc bà

choáng ngợp vì khoái cảm. Hai tay bà xiết mạnh ông

hơn. Bà muốn nhận cho cạn kiệt những gì của ông.

Họ nằm nghỉ ngơi trong căn hầm chật hẹp. Bà nép

hẳn vào người ông.

- Em dễ dãi quá, phải không anh?

- Không… Không mà. Tại anh. Anh không chịu được..

- Tại cả em nữa. Em cũng không nhịn được. Mà có

sao đâu. Chiến tranh. Bom đạn. Biết đâu ngày mai em

chết…

Ông đưa tay bịt miệng bà lại:

- Bậy nào. Khi không nói chuyện chết chóc …

- Thiệt chớ bộ. Lỡ có chết, em cũng biết được một

49

chuyện mà người con gái cần. Anh mệt không?

- Không.

- Thôi ở đây luôn đi. Chiều em đưa anh vào cứ. Em

còn muốn…

- Em không sợ hả?

- Sợ gì?

- Tổ chức.

- Trời đất. Sao anh nhắc hoài đến tổ chức làm gì.

Tổ chức nào người ta quan tâm đến chuyện này chớ.

Bà vừa nói vừa đưa tay xuống vuốt ve ngay dưới

háng ông. Bàn tay bà tưng tiu cái vật vừa làm cho

bà rên lên vì sung sướng.

Bà theo anh em trong nhà đi kháng chiến vì sống

trong vùng tạm chiếm bức bối khó chịu. Trong nhà bà

ít nhất cũng hai thế hệ tham gia kháng chiến rồi.

50

Cha và hai anh lớn. Ở nhà bà má, các em và ngay bản

thân bà không yên ổn được vì có những kẻ rình rập

tối ngày. Không rình rập thì xét hỏi, hù dọa. Bà

ghét, xin với má cho vào rừng, bỏ luôn cả chuyện

học hành. Cũng giống ông, bà có được ít chữ nên

được bố trí làm ở văn phòng huyện ủy. Công việc

nhàn nhã và ít khi dính dấp đến bom đạn. Khi địch

khủng bố mạnh, trong vùng địch nhiều cơ sở bị lộ,

huyện ủy chỉ đạo mỗi cán bộ phải tìm cách xây dựng

lại cơ sở của mình trong vùng địch chiếm để chuẩn

bị cho những trận đánh tiếp theo, bà mới rời văn

phòng huyện ủy để về khu tạm chiếm. Ngày xưa ở nhà,

hằng ngày tiếp xúc với lính, với cảnh sát, với đám

xã trưởng, dân vệ bà coi như chuyện bình thường.

Nay đã lên rừng, trở về, lúc nào bà cũng thấy mình

51

lồ lộ ra trước mặt kẻ thù. Bà có cảm giác chúng

theo bà từng bước. Hễ bà lộ ra là có thể bị bắt

ngay. Vì thế, cho đến lúc gặp ông, bà mới chỉ biết

đến nhà mình mà chưa xây dựng được thêm một cơ sở

nào. Nhưng ở nhà thì ít, mà ở ngoài hầm bí mật thì

nhiều. Có việc là bà tranh thủ vào cứ. Vào cứ là

thời gian bà thấy an toàn nhất. Lúc nào bà cũng

nghĩ đến những chuyện rủi ro. Máy bay lượn trên đầu

làm bà nôn nao. Tiếng đề- pa của pháo lớn làm bà

giật thột. Tiếng xe nhà binh khiến bà hoảng loạn.

Với bà tất cả những thứ âm thanh ấy giống như đang

vây bọc lấy bà, cứ tìm đến bà mà đe doạ. Bà muốn

thay đổi cuộc sống, nhưng chẳng biết thay đổi bằng

cách nào. Về nhà thì không thể thoát tay kẻ thù.

Trốn đi thì thành kẻ phản bội, chiêu hồi. Mà ở lại

52

thì phấp phỏng lo âu. Bà giữ tất cả những suy nghĩ

ấy trong lòng, ráng không để lộ ra ngoài. Và cao

hơn cả là bà tiếc cho tuổi xuân của mình. Bà đã

chứng kiến những người phụ nữ khô đét người trong

những ngày hoạt động. Chứng kiến những người cằn

cỗi vì hoạt động mà không thể có chồng con. Đã từng

thấy những người phụ nữ bị những cơn khao khát làm

cho ngây dại. Không nhiều, nhưng không hiểu sao cứ

đập vào mắt bà. Bà bị những cơn khao khát dày vò

sớm hơn những người phụ nữ kia. Ngay vào lúc mới

gần hai chục tuổi. Cũng bởi bà dậy thì sớm. Mọi cái

trên cơ thể bà nảy nở sớm. Con gái thường thích

ngắm mình, nhưng chỉ ngắm eo, dáng, gương mặt.

Riêng bà, bà thích ngắm sự thay đổi từng nét trên

cơ thể. Những cơn thèm khát đến với bà ngày một

53

dày hơn, mạnh hơn. Hôm nay có ông, cơn thèm khát

kia dịu lắng đi chút ít. Nhưng bà đã nghe người ta

biểu: thà không biết. Biết một lần càng thèm khát

nhiều hơn. Nên ngay lúc này, bà không muốn mất ông.

Vòng tay lúc này đáng lẽ lơi ra, nhưng không, bà

càng ghì sát hơn, mạnh hơn. Bàn tay kia không rời

vật đã làm bà đỡ cơn khao khát. Bà đã đánh thức

trong người ông những cái ông có mà chưa biết dùng

vào đâu ngoài dưới vòi nước trong khe đá. Họ cứ thế

cho nhận, nhận cho đến tận khi mệt mỏi rã rời. Cơn

đói kéo đến và trời cũng đã chiều. Bà kéo ông lên

khỏi mặt đất và đưa ông về cứ. Sau công việc, ngay

hôm ấy, ông báo cáo với đồng chí bí thư huyện ủy

xin cưới bà làm vợ.

Mới đó mà đã gần mười năm làm vợ. Bà không cần

54

biết ông bao nhiêu tuổi . Bà chụp được ông nhanh

hơn bà tưởng. Đã có lần bà muốn dâng hiến cái bà có

cho một người. Người ấy là một anh nuôi trong cứ.

Anh ta là một nông dân chính hiệu. Ban đầu anh ta

cũng tham gia lực lượng vũ trang huyện, nhưng thực

không may trong một trận đánh anh bị thương. Sau

khi điều trị, huyện ủy giữ anh lại cứ làm anh nuôi.

Mỗi lần xuống bếp là mỗi lần bà tìm cách gặp anh

ta. Lúc nào cũng thấy anh ta cởi trần trùng trục.

Chỉ một chiếc xà lỏn trên người. Những múi thịt vâm

váp trên mình anh ta khiến bà mê mệt. Hôm ấy trăng

sáng. Bà tìm đến hầm anh ta. Cũng tại đêm ấy bà

lại thèm khát. Bà đã cắn răng làm hết mọi cách mà

không sao dừng lại được. Anh ta thấy bà đến thì

ngạc nhiên. Ánh mắt bà lúc đó chắc là long lanh

55

lắm. Khi nghe bà rủ ra bờ sông ngắm trăng anh chàng

cũng không từ chối. Họ ngồi bên nhau trên một vạt

cỏ dưới trăng. Ánh trăng nhễ nhại. Sương rơi mát

lạnh bờ vai. Bà run lên, ngả đầu vào vai anh chàng.

Anh chàng khẽ đẩy bà ra. Nhưng bà lại hiểu ngược

lại. Bà dang rộng vòng tay ôm lấy anh ta. Lần này

thì anh ta hoảng. Miệng anh ta lắp bắp nói chẳng

nên lời. Bà lại ngỡ anh đang xúc động, đang khao

khát như bà. Bà hôn anh ta say đắm. Bà lùa tay

xuống. Thì hỡi ơi. Nơi đó trống trơn. Bà kinh hoàng

bỏ chạy. Anh ta không phải là đàn ông. Bà đâu có

biết, anh chàng đã ngồi lại bờ sông khóc tức tưởi.

Mảnh đạn quái ác đã tiện cụt cái thứ mà bà cần rồi.

Một tháng bà không xuống bếp ăn. Một tháng bà mắc

cỡ không dám gặp ai. Rồi bà hay tin, ngay sau cái

56

đêm trăng sáng kia, anh chàng đã xin bằng được

xuống đơn vị chiến đấu. Cũng từ đó, bà sợ ánh

trăng. Bà tưởng như trăng đã thấy hết được chuyện

cắc cớ của bà.

Anh bí thư huyện ủy hỏi bà: anh ấy tính lấy bà

làm vợ , bà có đồng ý không. Bà cười bẽn lãn. Cười

bẽn lẽn là đồng ý rồi. Một thời gian sau một đám

cưới rất đơn giản đã diễn ra. Mấy bình trà, mấy cái

kẹo. Mấy tấm giấy có dán chữ: vui duyên mới không

quên nhiệm vụ. Có mấy cô, mấy cậu trẻ tuổi vác cây

đàn ghi ta đến hát mừng. Mấy bản tân nhạc, mấy bản

cổ nhạc. Đến khuya. Người ta lấy đám cưới của ông

bà tạo cớ mà vui. Còn bà thì sốt ruột chỉ mong mọi

người sơm sớm về cho. Căn hầm của mấy chị em văn

phòng đã dọn dẹp lại thành phòng hạnh phúc cho hai

57

người. Mấy cái sạp nằm đã chuyển đi nơi khác. Cái

sạp nằm của bà được chị em phụ nới rộng thêm ra.

Rồi cuối cùng cũng đến lúc chỉ có hai người. Từ hôm

ở dưới hầm bí mật đến hôm cưới cả tháng trời. Cả

tháng trời bà mong ngày này. Lần này thì chẳng cần

phải giữ gìn gì nữa. Nếu trên trời hôm đó không có

tiếng máy bay trinh thám của địch, nếu xa xa không

có những tiếng nổ ùng oàng. Nếu lâu lâu không có

những chùm pháo sáng làm sáng rực góc trời nào đó,

thì đêm ấy là đêm tuyệt nhất trong đời bà. Cả hai

không ngủ suốt đêm. Họ xoay trở nhau cho đến lúc

không còn sức mà xoay trở nữa mới thôi.

Chỉ ở với nhau được ba ngày. Ông lại lên căn cứ

phía bắc tỉnh. Bà ở lại căn cứ phía nam tỉnh. Lâu

lâu, bà lại cất gánh lên thăm ông. Lâu lâu ông cõng

58

ba lô về gặp bà. Hai người hai đầu, lâu lâu mới

gặp nhau vì thế lần nào cũng còn như mới. Họ cứ

quấn lấy nhau như sam, mỗi lần gặp gỡ. Và rồi những

đứa con ra đời. Đứa thứ nhất con trai, rồi đứa thứ

hai con gái, trong vòng chưa đầy ba năm. Bà xin

nghỉ ra cất nhà ở một góc rừng ven sông Sài Gòn. Lý

do hoàn toàn chính đáng. Bây giờ bà chỉ còn có

việc phát rẫy trỉa lúa, nuôi con lớn lên và chờ đợi

ông về.

Hết chiến tranh vẫn vậy. Ông làm việc huyện Cái

Bưng. Bà về quê, dựng nhà nuôi con chờ chồng. Và

vẫn như ngày nào, vẫn như ngày xưa…ông về là mang

về niềm say mê cho bà. Nên bà cứ tủm tỉm cười, vừa

làm việc, vừa mong trời sớm tối.

Rồi trời cũng tối. Những người có trong danh sách

59

ông lập giao cho cậu chánh văn phòng điện mời lần

lượt đến nhà ông. Cậu trưởng ban xây dựng, người

báo cáo dự án quy hoạch hồ nước Sông Tràm. Cậu

trưởng ban tổ chức huyện ủy. Cậu trưởng công an

huyện. Cậu phò chủ tịch huyện. Thêm cậu huyện đội

trưởng. Cuối cùng không thiếu cậu chánh văn phòng.

Chưa bao giờ họ được gọi đến nhà ông bí thư huyện

ủy như thế này. Với họ đây là một điều khá đặc

biệt, khiến họ có một cái gì đó không yên tâm trừ

cậu chánh văn phòng. Mâm rượu được bày ra. Những

người đến dự mâm tiệc có cảm giác được dự một bữa

tiệc vua ban. Bình thường đến gần được Bảy Thiệt đã

khó. Người ta ít dám gần ông không phải vì ông khó

tính, mà họ ngại những bài thuyết giảng của ông.

Những bài thuyết giảng đầy ắp những lý sự, khó tiếp

60

thu nhưng trước mặt ông cứ phải làm như đã được

cải tạo tư tưởng. Nhưng hôm nay không đến không

được. Ông mời đích danh từng người, chối làm sao

được. Ông cầm ly rượu lên:

- Hôm nay tôi mời các đồng chí đến đây, đương

nhiên là phải có công việc. Nhưng trước khi vào

công việc đề nghị các đồng chí uống với tôi một ly

rượu này.

Chiếc ly truyền tay nhau cho đến hết vòng. Rượu

trong miệng ai cũng đắng nghét. Ông tiếp:

- Các đồng chí đều biết tôi là người phản đối xây

dựng hồ nước Sông Tràm. Phản đối vì ai, các đồng

chí biết rồi: vì nhân dân. Các đồng chí thử hình

dung xem, khi công trình mở ra, không chỉ mất đất

đai sản xuất của nhân dân. Chúng ta còn mất rừng.

61

Người dân lại phải lao động khó nhọc mà kết quả còn

ở đâu xa lơ, xa lắc. Tôi không muốn như vậy. Vì

thế tôi mới mời các đồng chí đến đây để tìm cho

được người đồng cảm. Ngày mai tôi sẽ lên tỉnh gặp

đồng chí bí thư tỉnh ủy để khiếu nại về chuyện xây

dựng hồ nước Sông Tràm.

Những người ngồi nghe im phắng phắc, chiếc ly

quay vòng ngưng lại từ vòng đầu tiên. Mâm nhậu còn

đầy nguyên. Họ biết, họ đang bị đẩy vào thế kẹt khó

nói. Nhưng dù không nói cũng phải nghe.

62

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát