Đầu chương Trang trước Trang tiếp Cuối chương Thoát
Vua Quang Trung Ra Thăng Long

VUA QUANG TRUNG RA THĂNG

LONGĐem quân Tây Sơn từ miền Nam ra Bắc, chẳng mấy

ngày, Bắc bình vương Nguyễn Huệ đã lật đổ cơ đồ

mấy trăm năm của họ Trịnh. Chiến công của ông chói

lọi, uy thế của ông lẫy lừng. nói như một cung nhân

Tràng An (trong sách Hoàng Lê nhất thống chí), ai

thấy cũng khiếp sợ. Chỉ cần ông đưa mắt trỏ tay là

mọi người cũng phải kinh hoàng. Bọn quan lại nhà Lê

tất nhiên càng thấy hoảng hồn hơn. Một số đã bỏ

trốn. Triều đình xơ xác, chẳng mấy người còn khí

thế như xưa.

Song Nguyễn Huệ vẫn riêng dành cho nhà Lê một cảm

tình đặc biệt. Ông tuyên bố phò Lê diệt Trịnh, vì

công ơn Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, giành độc lập tự

do cho dân tộc vẫn phải được trân trọng ngàn đời.

1

Nguyễn Huệ đã giữ đúng chủ trương ấy. Đuổi được họ

Trịnh rồi, ông yêu cầu lấy lễ vào yết kiến vua Lê

lúc bấy giơ là Hiển Tông.

Lễ tiếp đón được tổ chức ngay giữa sân rồng, quan

lại triều đình còn lèo tèo mươi lăm người đều len

lét đứng nhìn vị anh hùng chiến thắng mà thấp thỏm

lo sợ. Nguyễn Huệ đường hoàng từ ngoài bước vào,

mặc nhung phục (quần áo ra trận), bên hông dắt

thanh bảo kiếm. Một số tướng tả hữu đi theo ông.

Các quan chức, tướng tá nhà Lê nép mình cúi rạp

xuống chào, có người không dám ngẩng đầu lên. Bỗng

một người đứng đầu đội quân thị vệ ngang nhiên bước

ra trước mặt Nguyễn Huệ, cản bước đi của ông, vòng

tay cung kính nói:

Dám thưa tướng quân, theo phép nước, khi lên điện

2

chầu vua, không được phép mang gươm. Xin tướng quân

cởi kiếm cho.

Nguyễn Huệ bị cản, dừng chân một giây và trừng mắt

nhìn người mới nói. Mọi người đứng xung quanh đều

tái xanh mặt, sợ một cơn thịnh nộ nổi lên. Nhưng

viên tướng thị vệ vẫn giữ thái độ điềm nhiên, kiên

quyết không hề thay đổi sắc mặt. Một phút im lặng

hãi hùng. Những viên tướng Tây Sơn đi theo Nguyễn

Huệ bước dấn lên, đều một loạt cầm tay vào chuôi

gươm lăm lăm chờ lệnh nguyên soái để tuốt vỏ.

Nguyễn Huệ nhìn quanh một lúc rồi...lặng lẽ tháo

gươm đưa cho người hầu cận của mình. Ông cũng giơ

tay ra hiệu cho các tả hữu đều bỏ khí giới ra một

lượt. Viên tướng thị vệ kia cúi rạp xuống chào ông

một lần nữa rồi cùng quân sĩ lui ra, cho phái đoàn

3

quân Tây Sơn bước vào.

Sau này, khi đã kết hôn với Ngọc Hân công chúa,

Quang Trung Nguyễn Huệ thường trò chuyện với vợ, có

khi bình luận về các nhân vật Bắc Hà. Ngoài một vị

quan tương đối có vị trí cao trong triều là Trần

Công Sán được ông tỏ ý kính trọng, Nguyễn Huệ còn

nhắc đến viên tướng chỉ huy đội thị vệ đã ngăn cản

hôm ông vào yết kiến nhà vua.

Giữa cảnh hoang tàn, triều đình đổ nát như thế mà

có viên tướng nhỏ biết tự trọng, giữ gìn thể diện

quốc gia, bắt cả người chiến thắng phải tuân theo

phép tắc thì thật là đáng trọng. Ngọc Hân công chúa

đã cho chồng biết viên tướng ấy là Phương Đình

Pháp, người ở Quán La, ngay sát kinh thành Thăng

Long.

4

Quân đội Tây Sơn tiến ra Bắc Hà diệt Trịnh. Trong

khi thừa thắng đánh tan bọn tướng tá họ Trịnh, quân

đội lùng sục các nơi, dẹp những nhóm phản loạn

chống đối. Mặc dầu quân lệnh rất nghiêm, nhưng cũng

không thể tránh khỏi những hành động quyết liệt,

nhất là khi tiêu diệt những bọn ẩn nấp vào những

đền chùa, làng xóm. Khu Văn miếu là nơi đã diễn ra

những cuộc truy lùng ấy, và vì vậy có những lầu

gác, nhà cửa đã bị phá phách, trong đó có nhiềm tấm

bia tiến sĩ. Nhân dân kinh đô Thăng Long rất không

yên tâm về những sự thiệt thòi này. Không những

người ta tiếc vì công trình hư hỏng, mà còn bị xúc

phạm đến tình cảm thiêng liêng đối với nền văn hóa

lâu đời của dân tộc. Họ nhất quyết phải bộc bạch

nỗi niềm, nguyện vọng lên tận vị chủ soát Tây Sơn

5

để khiếu nại.

Nhưng thế lực quân Tây Sơn lớn mạnh, tướng tá đều

nghiêm khắc. Vị chủ soái Nguyễn Huệ lại là người ai

cũng sợ. Nhất là kết tội quân lính Tây Sơn thì lúc

này không một ai dám có can đảm.

Tuy vậy, dân làng Văn Chương vẫn không nhụt chí.

Họ cố gắng chờ cơ hội cho đến khi vua Quang Trung

lên ngôi được ít lâu, chính lệnh đã ban hành rõ

ràng, họ mới tìm cách dâng sớ lên. Họ tìm được một

nhà nho, nhờ viết một bài sớ bằng chữ nôm như sau:

Chúng tôi một lũ dân cấy hái

Trái mùa, sinh vào trại Văn Chương

Trong khi cày ruộng cuốc mương

Vành ngoài trông vọng cung tường miếu Văn

Có một thứ băn khoăn trong dạ

6

Mượn thầy nho phô tả ra tờ

Dám mong lọt cửa quân cơ

Gió nam đưa tới dưới cờ ngài Quang Trung

Bia tiến sĩ dựng trong Văn Miếu

Khởi từ năm Đại Bảo thứ ba (1442)

Xí vào Nhâm tuất hội khoa

Thái Tông ngự trị thuộc nhà Hậu Lê

Rồi từ đó lệ về Quốc giám

Trải ba trăm ba mươi tám năm ròng

Đến năm thứ bốn mươi hiệu Cảnh Hưng vua Hiển Tông

(1779)Là khoa Kỷ hợi (1779) cuối cùng hết bia

Tính gần lại số bia trong Giám

Cả trước sau là tám mươi ba

Dựng theo thứ tự từng khoa

Bia kia sáu thước cách xa bia này

7

Nhà bia đủ đông tây mười nóc,

Vuông bốn bề ngang dọc bằng nhau.

Mỗi bề hai chục thước Tàu,,

Cột cao mười thước, có lầu chồng diêm

Coi thể thế tôn nghiêm có một

Cửa vào ra then chốt quan phòng.

Bốn quan nhất phẩm giám phòng

Ba cơ, bảy vệ canh trong, quét ngoài.

Bia mới dựng đầy hai nóc trước.

Tám nóc sau còn gác lưu không

Năm năm chờ đợi bảng rồng

Các quan bộ Lễ, bộ Công chiếu hành.

Kề cửa Khổng, sân Trình gang tấc

Đào tạo nên nhiều bậc anh tài

Một nền văn hiến lâu dài

8

Tiếc thay chưa được đón Người ngự thăm.

Bốn năm trước, giữa năm Bính Ngọ (1786)

Ngài đem quân ra thú Bắc Hà

Oai trời sấm sét thoảng qua,

Cơ đồ họ Trinh bỗng ra tro tàn.

Bia tiến sĩ, vô can vô tội,

Mà vạ lây vì nỗi cháy thành;

Bia thì đạp đổ tung hoành,

Nhà bia thì đốt tan tành ra gio.

Có kẻ nói:

Tội ác ấy là do Trịnh Khải,

Lúc xa cơ hắn phải trốn ra

Cho vời các bậc đại khoa

Trước sau chẳng thấy ai qua theo mình.

Sau có một nghè Canh ứng tiếp

9

Lại đưa nhầm vào mép hổ lang.

Đến khi việc đã nhỡ nhàng,

Giận người khoa giáp lại càng tím gan

Nhân có cháu là Lan trốn lủi,

Khải trao cho một túi vàng kho,

Dặn về thuê kẻ côn đồ,

Phá bia tiến sĩ để cho bõ hờn.

Trịnh Lan cũng đang cơn giận bực.

Trốn được về, tức tốc làm ngay,

Dân nghèo mộ được nhiều tay,

Mấy trăm lính cũ cùng thầy tớ thân

Cho tiền bạc, cho ăn, cho uống.

Cho cuốc vồ, mai, thuổng, búa, dao.

Thừa cơ binh lửa ồn ào,

Phá bia, đốt Giám, lửa cao lưng trời.

10

Có kẻ nói:

Những lời trước là lời bịa tạc,

Nào có ai đích xác mắt tai,

Hay chăng quân lính nhà Ngài,

Trong khi sung sát ra oai thi hùng.

Bia tiến sĩ bỗng không mà đổ,

Chẳng qua vì khí số xui nên.

Xét xoi nhờ ở lượng trên,

Phá đi rồi lại dựng đền nay mai

Chúng tôi chiếu lại hai lời ấy,

Sự thực hư chưa thấy rạch ròi,

Song le việc đã qua rồi,

Chẳng chi bới móc tìm tòi uổng công.

Chỉ xin được ngài trông vì nước.

Dựng lại bia cùng nhà bia cho được y nguyên.

11

Trước là giáo dục kẻ hiền,

Sau là văn mạch rồi truyền dài lâu.

Nấn ná nữa, mưa dầm, nắng dãi,

Dùng dằng rồi, ngày lại, tháng qua.

Cát vùi, rêu phủ, chữ nhòa.

Tay sờ không thấy, lệ sa bằng thừa.

Muốn tìm lại dấu xưa, vết cũ,

Ai là người khảo cổ cho hay?

Vậy nên mong ở ngày nay,

Một giờ nào sớm, càng hay một giờ.

Chúng tôi kíp chờ chiếu ngọc,

Mong Ngài trông vào nhà Quốc học ngay cho.

Chúng tôi mừng vận làng nho,

Mừng hơn cày cấy mà trời cho được mùa.

Chúng tôi chúc nhà vua muôn tuổi,

12

Vì nước ngày mở hội hà thanh,

Còn bia tiến sĩ đề danh,

Vẫn còn bàn thạch triều đình non Tây

Bài sớ quả là tài tình, khéo léo. Lời lẽ nôm na mà

chân thành, xúc động. Tác giả bịa ra câu chuyện đồ

đảng Trịnh Khải phá bia và Văn miếu và kể lể dài

dòng, chỉ cốt làm cho những lời trách móc quân Tây

Sơn ngắn hơn, nhẹ hơn, song lại đanh thép hơn. Cuối

cùng chỉ nêu một thực tế rõ ràng và yêu cầu cấp

thiết xin nhà vua cho gấp tu bổ lại. có thế thì dân

chúng còn “mừng hơn cày cấy trời cho được mùa”

Vua Quang Trung là người thông minh và phục thiện.

Nhà vua đọc lá sớ và thấy ngay sự không ngoan,

khéo léo của tác giả thay mặt cho đám dân chúng hóm

hỉnh và sâu sắc này. Ông hiểu rõ chính đám quân

13

lính hùng hổ của ông trên đà càn quét bọn địch,

không biết tự kiềm chế, nên đã gây thiệt hại. điều

tất nhiên có thể xảy ra, đã xảy ra rồi, và chính

ông, vị chủ soái phải chịu trách nhiệm. Ông mỉm

cười một mình về chuyện tác giả bịa đặt ra thủ đoạn

trả thù của Trịnh Khải. Khôn ngoan đấy, nhưng cũng

buồn cười. Họ tưởng vua mà không dám nhận lỗi

chăng? Mẹo nhà nho Bắc Hà “hóm lắm”! thôi được, ta

sẽ đùa với họ cho vui.

Nghĩ thế rồi, nhân đà cao hứng, Quang Trung cầm

bút son phê ngay vào đơn. Điều thú vị là nhà vua

cũng tỏ ra là một tâm hồn thi sĩ và một nhân vật

giỏi khoa trào lộng! Ông viết:

Ta không trách nông phu

Ta chỉ gớm thầy nho

14

Cả gan to mật dám kêu vua bằng ngài!

Thầy nho là ai?

Sắc cho bộ hỏi, dân khai...

Rồi tiếp đó, nhà vua lại ghi luôn ý kiến giải

quyết vấn đề nhà bia bị phá:

Thôi! Thôi việc đã rồi

Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta

Nay mai dọn lại nước nhà

Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian...

Được lời vua phê vào sớ, dân trại Văn Chương sướng

rơn. Họ trầm trồ thán phục Quang Trung là người

phục thiện, dám đường hoàng nhận lỗi, và đã hứa hẹn

“dựng lại bia nghè trên toàn muôn gian”. Và nhất

là, qua lời phê thì khoảng cách vua và dân đã rút

ngắn lại rất nhiều. Không biết họ có khai rõ ràng

15

để trình nhà vua biết không. Nhưng chắc chắn họ đã

tổ chức tiệc mừng để cảm ơn nhà nho ấy. vì thế mà

bây giờ trong quyển sách: “Tam nông truyện biểu” ,

có chép bài sớ này, cho biết tác giả bài sớ tên là

Hà Năng Ngôn, có hiệu là Tam Nông tiên sinh.

Đỗ Thị Hảo

16

Hướng dẫn: - Về trang chủ: - Đọc tiếp: Phím hoặc nút Trang tiếp- Mở lại: Phím hoặc nút Trang trước- Đầu chương: Đầu chương- Cuối chương: Cuối chương- Thoát: Thoát